- Itivuttaka 80
- Tikanipāta
- Catutthavagga
Bản dịch
ITI 80 — Kinh Suy Tầm
Vitakkasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba suy tầm bất thiện. Ba suy tầm nào? Sự suy tầm liên quan đến việc không bị khi dễ, sự suy tầm liên quan đến lợi lộc, tôn vinh, và tiếng tăm, sự suy tầm liên quan đến việc quan tâm về người khác. Này các tỳ khưu, ba pháp này là suy tầm bất thiện.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Vị gắn bó với việc không bị khi dễ, có sự sùng kính về lợi lộc và sự tôn vinh, có sự vui mừng với các đồng sự, thì cách xa sự diệt trừ các ràng buộc.
3. Và vị nào từ bỏ con cái, đàn gia súc, các đám rước dâu, và những sự gom góp (vật dụng), vị tỳ khưu như thế ấy có khả năng chạm đến phẩm vị giác ngộ tối thượng.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 80
- The Book of the Threes
- Chapter Four
Thoughts
1. Kinh Tầm
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
80. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vậy:
“Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā. Katame tayo? Anavaññattipaṭisaṁyutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaṁyutto vitakko, parānuddayatāpaṭisaṁyutto vitakko. Ime kho, bhikkhave, tayo akusalavitakkā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three unskillful thoughts. What three? The thought of status; of getting material things, honor, and popularity; and of fondness for others. These are the three unskillful thoughts.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỷ kheo, có ba loại tầm bất thiện này. Thế nào là ba? Tầm liên quan đến việc không bị khinh thường, tầm liên quan đến lợi lộc, cung kính, danh tiếng, và tầm liên quan đến sự luyến ái người khác. Này các Tỷ kheo, đây là ba loại tầm bất thiện. Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về vấn đề này, có lời dạy như sau:
“Anavaññattisaṁyutto, lābhasakkāragāravo; Sahanandī amaccehi, ārā saṁyojanakkhayā.
“One concerned with being looked up to, with possessions, honor, and respect, with sharing joys with friends, is far from the ending of fetters.
Người liên quan đến việc không bị khinh thường, người xem trọng lợi lộc và cung kính, người vui thích cùng với các cận sự, thì xa lìa sự đoạn tận các kiết sử.
Yo ca puttapasuṁ hitvā, Vivāhe saṁharāni ca; Bhabbo so tādiso bhikkhu, Phuṭṭhuṁ sambodhimuttaman”ti.
But one who gives up children and herds, marriage and acquisitions—such a mendicant is capable of experiencing the highest awakening.”
Vị nào từ bỏ con cái và gia súc, từ bỏ hôn nhân và các tài sản, vị Tỷ kheo như vậy có khả năng chứng ngộ Vô Thượng Chánh Giác.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ nhất.