- Itivuttaka 69
- Tikanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 69 — Kinh Luyến Ái - Thứ Nhì
Dutiyarāgasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào luyến ái chưa được dứt bỏ, sân hận chưa được dứt bỏ, si mê chưa được dứt bỏ, này các tỳ khưu, vị này được gọi là chưa vượt qua biển cả có sóng, có sóng dữ, có dòng nước xoáy, có cá sấu, có quỷ sứ.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào luyến ái đã được dứt bỏ, sân hận đã được dứt bỏ, si mê đã được dứt bỏ, này các tỳ khưu, vị này được gọi là đã vượt qua biển cả có sóng, có sóng dữ, có dòng nước xoáy, có cá sấu, có quỷ sứ, đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, đã đứng ở đất liền, là vị Bà-la-môn.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Đối với vị nào, luyến ái, sân hận, và vô minh đã được xa lìa, vị ấy đã vượt qua biển cả có cá sấu, có quỷ sứ, có sóng ghê rợn, khó vượt qua được.
Là người đã vượt qua sự dính mắc, đã từ bỏ Tử Thần, không còn mầm tái sanh, đã dứt bỏ khổ đau cùng với việc không còn sự hiện hữu lại nữa, đã đi đến mục đích, vị ấy đi đến sự không là hạn lượng, Ta nói rằng: ‘Vị ấy đã làm cho Ma Vương mê muội.’”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Phẩm thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 69
- The Book of the Threes
- Chapter Two
Greed (2nd)
10. Kinh Tham Ái (thứ hai)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
69. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atiṇṇo samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ’. Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘atari samuddaṁ saūmiṁ savīciṁ sāvaṭṭaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Whoever has not given up greed, hate, and delusion is said to have not crossed over the ocean with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Whoever has given up greed, hate, and delusion is said to have crossed over the ocean with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over and gone to the far shore, that brahmin stands on solid ground.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, bất cứ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà tham chưa được đoạn tận, sân chưa được đoạn tận, si chưa được đoạn tận – vị này, này các Tỳ khưu, được gọi là ‘chưa vượt qua biển cả cùng với sóng, ba đào, xoáy nước, cá dữ, và la-sát’. Này các Tỳ khưu, bất cứ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào mà tham đã được đoạn tận, sân đã được đoạn tận, si đã được đoạn tận – vị này, này các Tỳ khưu, được gọi là ‘đã vượt qua biển cả cùng với sóng, ba đào, xoáy nước, cá dữ, và la-sát, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, là vị Bà-la-môn đứng trên đất liền’. Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về điều này, có lời kệ được nói như sau:
“Yassa rāgo ca doso ca, Avijjā ca virājitā; Somaṁ samuddaṁ sagahaṁ sarakkhasaṁ, Saūmibhayaṁ duttaraṁ accatāri.
“Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away, have crossed the ocean so hard to cross, with its saltwater crocodiles and monsters, <j>its waves and dangers.
Vị nào đã ly tham, sân, và vô minh, vị ấy đã vượt qua biển cả này, khó vượt qua, cùng với cá dữ, la-sát, và những con sóng đáng sợ.
Saṅgātigo maccujaho nirūpadhi, Pahāsi dukkhaṁ apunabbhavāya; Atthaṅgato so na pamāṇameti, Amohayi maccurājanti brūmī”ti.
They’ve slipped their chains, given up death, and have no attachments. They’ve given up suffering, <j>so there are no more future lives. They’ve disappeared and cannot be defined; they’ve confounded the King of Death, I say.”
Vượt qua chấp trước, từ bỏ tử thần, không còn chấp thủ, đã đoạn tận khổ đau để không còn tái sanh. Vị ấy đã đi đến tận cùng, không thể đo lường, đã làm cho tử vương phải bối rối, Ta nói vậy.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ mười.
Puññaṁ cakkhu atha indriyāni, Addhā ca caritaṁ duve soci; Muno atha rāgaduve, Puna vaggamāhu dutiyamuttamanti.
Phước báu, mắt, rồi các căn, thời gian và hành vi, hai (kinh) về sầu muộn; bậc ẩn sĩ, rồi hai (kinh) về tham ái, lại nữa, phẩm thứ hai này được gọi là cao thượng.