- Itivuttaka 68
- Tikanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 68 — Kinh Luyến Ái - Thứ Nhất
Paṭhamarāgasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đối với bất cứ người nào luyến ái chưa được dứt bỏ, sân hận chưa được dứt bỏ, si mê chưa được dứt bỏ, này các tỳ khưu, người này được gọi là bị trói buộc bởi Ma Vương, bẫy sập của Ma Vương đã được đóng lại đối với người này, và bị hành động theo như ý muốn của kẻ Ác Độc.
Này các tỳ khưu, đối với bất cứ người nào luyến ái đã được dứt bỏ, sân đã được dứt bỏ, si đã được dứt bỏ, này các tỳ khưu, người này được gọi là không bị trói buộc bởi Ma Vương, bẫy sập của Ma Vương đã được mở ra đối với người này, và không bị hành động theo như ý muốn của kẻ Ác Độc.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Đối với người nào, luyến ái, sân hận, và vô minh đã được xa lìa, người ấy đã được gọi là một vị khác nữa có bản thân đã được tu tập, đã trở nên cao thượng, đã đi đến như thế, đã được giác ngộ, đã vượt qua oán thù và sợ hãi, đã có sự dứt bỏ tất cả.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 68
- The Book of the Threes
- Chapter Two
Greed (1st)
9. Kinh Tham Ái (1)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
68. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo appahīno, doso appahīno, moho appahīno—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘baddho mārassa paṭimukkassa mārapāso yathākāmakaraṇīyo pāpimato’. Yassa kassaci, bhikkhave, rāgo pahīno, doso pahīno, moho pahīno—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘abaddho mārassa omukkassa mārapāso na yathākāmakaraṇīyo pāpimato’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Whoever has not given up greed, hate, and delusion is said to be trapped. They’re caught in Māra’s snare, and the Wicked One can do with them what he wants. Whoever has given up greed, hate, and delusion is said to be free. They’re released from Māra’s snare, and the Wicked One cannot do with them what he wants.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, bất cứ người nào chưa đoạn tận tham, chưa đoạn tận sân, chưa đoạn tận si – này các Tỳ khưu, người này được gọi là ‘bị Ác ma trói buộc, bị vướng vào bẫy của Ác ma, bị kẻ Ác tâm chi phối theo ý muốn.’ Này các Tỳ khưu, bất cứ người nào đã đoạn tận tham, đã đoạn tận sân, đã đoạn tận si – này các Tỳ khưu, người này được gọi là ‘không bị Ác ma trói buộc, đã thoát khỏi bẫy của Ác ma, không bị kẻ Ác tâm chi phối theo ý muốn.’ Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về vấn đề này, có lời dạy như sau:
“Yassa rāgo ca doso ca, avijjā ca virājitā; Taṁ bhāvitattaññataraṁ, brahmabhūtaṁ tathāgataṁ; Buddhaṁ verabhayātītaṁ, āhu sabbappahāyinan”ti.
“Those in whom greed, hate, and ignorance have faded away, belong with those who are evolved; A manifestation of divinity, realized, awakened, beyond enmities and fears, they’ve given up everything, they say.”
Người nào đã làm cho tham, sân, và vô minh phai nhạt; vị ấy, một trong những bậc đã tu tập tự thân, đã trở thành Phạm thiên, bậc Như Lai, bậc Giác Ngộ, đã vượt qua sợ hãi và hiểm nguy, được gọi là người đã từ bỏ tất cả.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Navamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ chín.