- Itivuttaka 53
- Tikanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 53 — Kinh Thọ - Thứ Nhì
Dutiyavedanāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba thọ. Ba thọ nào? Thọ lạc, thọ khổ, thọ bất khổ bất lạc.
Này các tỳ khưu, thọ lạc nên được nhìn thấy là khổ. Thọ khổ nên được nhìn thấy là mũi tên. Thọ không khổ không lạc nên được nhìn thấy là vô thường. Này các tỳ khưu, bởi vì với vị tỳ khưu thọ lạc đã được nhìn thấy là khổ, thọ khổ đã được nhìn thấy là mũi tên, thọ không khổ không lạc đã được nhìn thấy là vô thường, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là Thánh nhân, có cái nhìn đúng đắn, đã cắt đứt tham ái, đã bứng gốc sự trói buộc, nhờ vào sự lĩnh hội về ngã mạn một cách đúng đắn đã thực hiện việc chấm dứt khổ.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Vị nào đã nhìn thấy lạc là khổ, đã nhìn thấy khổ là mũi tên, đã nhìn thấy không khổ không lạc, an tịnh ấy là vô thường ...
3. ... vị tỳ khưu ấy, thật vậy, với việc nhìn thấy đúng đắn, nhờ thế được giải thoát khỏi nơi ấy, được hoàn mãn về thắng trí, được an tịnh, vị hiền trí ấy quả thật đã vượt qua các sự ràng buộc.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 53
- The Book of the Threes
- Chapter One
Feelings (2nd)
4. Kinh Cảm Thọ (2)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
53. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau –
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā. Katamā tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā; dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā; adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā. Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti; ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ariyo, sammaddaso, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, there are these three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling. Pleasant feeling should be seen as suffering. Painful feeling should be seen as a dart. Neutral feeling should be seen as impermanent. When a mendicant has seen these three feelings in this way, they’re called a noble mendicant who sees rightly, has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
– Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, lạc thọ cần phải được xem là khổ; khổ thọ cần phải được xem là mũi tên; bất khổ bất lạc thọ cần phải được xem là vô thường. Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đã thấy lạc thọ là khổ, đã thấy khổ thọ là mũi tên, đã thấy bất khổ bất lạc thọ là vô thường, vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là ‘bậc Thánh có chánh kiến, đã cắt đứt khát ái, đã tháo bỏ các kiết sử, đã chấm dứt khổ đau do chơn chánh thắng tri ngã mạn.’ Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, có lời nói như sau –
“Yo sukhaṁ dukkhato adda, Dukkhamaddakkhi sallato; Adukkhamasukhaṁ santaṁ, Adakkhi naṁ aniccato.
“A mendicant who sees pleasure as pain, and suffering as a dart, and that peaceful, neutral feeling as impermanent
Người nào thấy lạc là khổ, thấy khổ là mũi tên, thấy bất khổ bất lạc thọ, vốn yên tịnh, là vô thường.
Sa ve sammaddaso bhikkhu, yato tattha vimuccati; Abhiññāvosito santo, sa ve yogātigo munī”ti.
sees rightly. And when freed in regards to that, that peaceful sage, with perfect insight, has truly slipped their yokes.”
Vị Tỷ-kheo ấy thật có chánh kiến, do đó được giải thoát ở nơi ấy. Bậc hiền nhân ấy, bậc yên tịnh, đã hoàn tất các thắng trí, thật sự đã vượt qua các ách縛.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ tư.