- Itivuttaka 52
- Tikanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 52 — Kinh Thọ - Thứ Nhất
Paṭhamavedanāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là ba thọ. Ba thọ nào? Thọ lạc, thọ khổ, thọ bất khổ bất lạc. Này các tỳ khưu, đây là ba thọ.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Vị đệ tử của đức Phật, định tĩnh, có sự nhận biết đúng đắn, có niệm, và nhận biết về thọ, sự phát sanh của các thọ, ...
3. ... nơi các thọ được diệt tận, và đạo lộ dẫn đến sự diệt trừ. Do sự diệt trừ các thọ, vị tỳ khưu không còn khao khát, được tịch tịnh.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 52
- The Book of the Threes
- Chapter One
Feelings (1st)
3. Kinh Cảm Thọ (1)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
52. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau –
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā. Katamā tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
“Mendicants, there are these three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling.
– Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỷ-kheo, đây là ba cảm thọ. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, có lời nói như sau –
“Samāhito sampajāno, sato buddhassa sāvako; Vedanā ca pajānāti, vedanānañca sambhavaṁ.
“Stilled, aware, a mindful disciple of the Buddha understands feelings, the cause of feelings,
Vị đệ tử của Phật, có định tĩnh, có tỉnh giác, có chánh niệm, liễu tri các cảm thọ và sự sanh khởi của các cảm thọ.
Yattha cetā nirujjhanti, maggañca khayagāminaṁ; Vedanānaṁ khayā bhikkhu, nicchāto parinibbuto”ti.
where they cease, and the path that leads to their ending. With the ending of feelings, a mendicant is hungerless, quenched.”
(Vị ấy liễu tri) nơi chúng đoạn diệt, và con đường đưa đến sự chấm dứt. Vị Tỷ-kheo, do đoạn tận các cảm thọ, không còn khao khát, được tịch tịnh hoàn toàn.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ ba.