- Itivuttaka 44
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 44 — Kinh Bản Thể Niết Bàn
Nibbānadhātusutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đây là hai bản thể của Niết Bàn. Hai bản thể nào? Bản thể Niết bàn còn dư sót và bản thể Niết Bàn không còn dư sót.
2. Và này các tỳ khưu, cái nào là bản thể Niết bàn còn dư sót?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát. Đối với vị ấy, năm giác quan vẫn tồn tại, thông qua trạng thái không bị hủy hoại của chúng vị ấy tiếp nhận đối tượng thích ý hoặc không thích ý, và cảm thọ hạnh phúc hay khổ đau. Cái có cho vị ấy là sự diệt trừ tham, sự diệt trừ sân, sự diệt trừ si. Này các tỳ khưu, cái này gọi là bản thể Niết bàn còn dư sót.
3. Và này các tỳ khưu, cái nào là bản thể Niết bàn không còn dư sót?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, đối với vị ấy, ngay ở nơi đây tất cả những gì được cảm thọ là không được thích thú, sẽ trở thành mát lạnh. Này các tỳ khưu, cái này gọi là bản thể Niết bàn không còn dư sót. Này các tỳ khưu, đây là hai bản thể của Niết Bàn.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Hai bản thể Niết bàn này đã được giảng giải bởi đấng Hữu Nhãn, bậc không bị lệ thuộc, bậc tự tại: Một bản thể, tại đây, ở thời hiện tại, còn dư sót, có sự diệt tận lối dẫn đến các hữu, hơn nữa là (bản thể Niết bàn) không còn dư sót ở thời vị lai, lúc các hữu được diệt tận toàn bộ.
3. Các vị nào biết được vị thế không còn tạo tác này, có tâm đã được giải thoát, có sự diệt tận lối dẫn đến hữu, có sự chứng đắc về cốt lõi của Giáo Pháp, các vị ấy thích thú ở sự diệt trừ, các vị như thế ấy đã dứt bỏ tất cả các hữu.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 44
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Elements of Extinguishment
7. Kinh Giới Niết Bàn
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
44. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Dvemā, bhikkhave, nibbānadhātuyo. Katamā dve? Saupādisesā ca nibbānadhātu, anupādisesā ca nibbānadhātu.
“There are, mendicants, these two elements of extinguishment. What two? The element of extinguishment with residue, and the element of extinguishment with no residue.
Này các Tỳ khưu, có hai giới Niết-bàn này. Hai giới nào? Hữu dư y Niết-bàn giới và Vô dư y Niết-bàn giới.
Katamā ca, bhikkhave, saupādisesā nibbānadhātu? Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. Tassa tiṭṭhanteva pañcindriyāni yesaṁ avighātattā manāpāmanāpaṁ paccanubhoti, sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedeti. Tassa yo rāgakkhayo, dosakkhayo, mohakkhayo—ayaṁ vuccati, bhikkhave, saupādisesā nibbānadhātu.
And what is the element of extinguishment with residue? It’s when a mendicant is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment. Their five sense faculties still remain. So long as their senses have not gone they continue to experience the agreeable and disagreeable, to feel pleasure and pain. The ending of greed, hate, and delusion in them is called the element of extinguishment with residue.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Hữu dư y Niết-bàn giới? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. Năm căn của vị ấy vẫn còn tồn tại, và vì chúng chưa bị hoại diệt, vị ấy kinh nghiệm các đối tượng khả ý và không khả ý, cảm nhận lạc và khổ. Sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si của vị ấy — này các Tỳ khưu, đây được gọi là Hữu dư y Niết-bàn giới.
Katamā ca, bhikkhave, anupādisesā nibbānadhātu? Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. Tassa idheva, bhikkhave, sabbavedayitāni anabhinanditāni sīti bhavissanti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, anupādisesā nibbānadhātu. Imā kho, bhikkhave, dve nibbānadhātuyo”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
And what is the element of extinguishment with no residue? It’s when a mendicant is a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment. For them, everything that’s felt, being no longer relished, will become cool right here. This is called the element of extinguishment with no residue. These are the two elements of extinguishment.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Vô dư y Niết-bàn giới? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. Ngay trong đời này, này các Tỳ khưu, tất cả những gì được cảm thọ, vì không được hoan hỷ, sẽ trở nên nguội lạnh. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Vô dư y Niết-bàn giới. Này các Tỳ khưu, đây là hai giới Niết-bàn. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, có lời kệ được nói như sau:
“Duve imā cakkhumatā pakāsitā, Nibbānadhātū anissitena tādinā; Ekā hi dhātu idha diṭṭhadhammikā, Saupādisesā bhavanettisaṅkhayā; Anupādisesā pana samparāyikā, Yamhi nirujjhanti bhavāni sabbaso.
“These two elements of extinguishment <j>have been revealed by the Clear-eyed One, <j>the unattached, the unaffected. One element pertains to this life—that with residue <j>though the leash to existence has ended; and that with no residue, <j>which pertains to what follows this life, where all states of existence cease.
Hai giới Niết-bàn này đã được bậc Hữu Nhãn, bậc Như Nhiên, bậc không nương tựa, tuyên thuyết. Một giới là Hữu dư y, thuộc về hiện tại, do sự đoạn tận của ái dẫn đến tái sanh. Còn giới Vô dư y thuộc về tương lai, nơi mà tất cả các hữu đều chấm dứt hoàn toàn.
Ye etadaññāya padaṁ asaṅkhataṁ, Vimuttacittā bhavanettisaṅkhayā; Te dhammasārādhigamā khaye ratā, Pahaṁsu te sabbabhavāni tādino”ti.
Those who have fully understood <j>the unconditioned state—their minds freed, the leash to existence ended—attained to the heart of the Dhamma, <j>they delight in ending, the unaffected ones have given up <j>all states of existence.”
Những ai, sau khi biết được trạng thái vô vi này, có tâm giải thoát do sự đoạn tận của ái dẫn đến tái sanh, họ đã đạt đến cốt lõi của Pháp, hoan hỷ trong sự đoạn tận, những bậc Như Nhiên ấy đã từ bỏ tất cả các hữu.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ bảy.