- Itivuttaka 43
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Ajātasutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Ajātasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra—không tạo tác. Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra—không tạo tác ấy thì ở đây việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu—làm ra—tạo tác không được biết đến. Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra—không tạo tác, cho nên việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu—làm ra—tạo tác được biết đến.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Cái sanh—hiện hữu—phát khởi—làm ra—tạo tác là không bền vững, gắn liền với già và chết, cái ổ của bệnh tật, dễ tiêu hoại, có thức ăn và tham ái là nguồn sanh khởi, không xứng đáng để thích thú.
3. Sự ra khỏi cái ấy là an tịnh, vượt ngoài suy luận, bền vững, không sanh, không phát khởi, không sầu, xa lìa luyến ái, là chỗ tựa, sự tịch diệt các pháp khổ, sự yên lặng các pháp tạo tác, an lạc.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
43. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Atthi, bhikkhave, ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ. No cetaṁ, bhikkhave, abhavissa ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, nayidha jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyetha. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyatī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“There is, mendicants, freedom from rebirth, freedom from what has been produced, made, and conditioned. If there were no freedom from rebirth, freedom from what has been produced, made, and conditioned, then you would find no escape here from rebirth, from what has been produced, made, and conditioned. But since there is freedom from rebirth, freedom from what has been produced, made, and conditioned, an escape is found from rebirth, from what has been produced, made, and conditioned.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, có cái không sanh, không hiện hữu, không được làm, không hữu vi. Này các Tỳ khưu, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không được làm, không hữu vi ấy, thì ở đây không thể nào biết được sự xuất ly khỏi cái đã sanh, đã hiện hữu, đã được làm, đã hữu vi. Nhưng này các Tỳ khưu, vì có cái không sanh, không hiện hữu, không được làm, không hữu vi, nên sự xuất ly khỏi cái đã sanh, đã hiện hữu, đã được làm, đã hữu vi mới có thể được biết đến. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, có lời kệ được nói như sau:
“Jātaṁ bhūtaṁ samuppannaṁ, kataṁ saṅkhatamaddhuvaṁ; Jarāmaraṇasaṅghāṭaṁ, roganīḷaṁ pabhaṅguraṁ.
“What’s reborn, produced, and arisen, made, conditioned, not lasting, wrapped in old age and death, frail, a nest of disease,
Cái đã sanh, đã hiện hữu, đã khởi lên, đã được làm, đã hữu vi, không thường còn, bị già và chết cấu thành, là ổ bệnh, mong manh.
Āhāranettippabhavaṁ, nālaṁ tadabhinandituṁ; Tassa nissaraṇaṁ santaṁ, atakkāvacaraṁ dhuvaṁ.
whose inception is the leash to food: that’s not fit to delight in. The escape from that is peaceful, beyond the scope of logic, everlasting,
Phát sanh từ thức ăn và ái dục, không đáng để hoan hỷ trong đó. Sự xuất ly khỏi nó là tịch tịnh, vượt ngoài tầm tư duy, thường hằng.
Ajātaṁ asamuppannaṁ, asokaṁ virajaṁ padaṁ; Nirodho dukkhadhammānaṁ, saṅkhārūpasamo sukho”ti.
where nothing is reborn or arisen, the sorrowless, stainless state, the cessation of all painful things, the blissful stilling of conditions.”
Cái không sanh, không khởi lên, trạng thái vô ưu, vô nhiễm, sự chấm dứt các pháp khổ, sự lắng dịu các hành, là an lạc.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ sáu.