- Itivuttaka 42
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 42 — Kinh Pháp Trắng
Sukkadhammasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, hai pháp trắng này hộ trì thế gian. Hai pháp nào? Hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi). Này các tỳ khưu, nếu hai pháp trắng này không hộ trì thế gian, ở đây không được nhận biết là ‘Mẹ,’ hoặc là ‘Dì,’ hoặc là ‘Mợ,’ hoặc là ‘Vợ của thầy,’ hoặc là ‘Vợ của các bậc đáng kính.’ Thế gian hỗn độn như là dê và cừu, gà và heo, chó nhà và chó rừng. Này các tỳ khưu, bởi vì hai pháp trắng này hộ trì thế gian, cho nên được nhận biết là ‘Mẹ,’ hoặc là ‘Dì,’ hoặc là ‘Mợ,’ hoặc là ‘Vợ của thầy,’ hoặc là ‘Vợ của các bậc đáng kính.’”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Đối với những người nào hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi) thường xuyên không được biết đến, những người ấy, bị lệch khỏi gốc rễ trắng, đi đến sanh và tử.
3. Còn đối những người nào hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi) luôn luôn được thiết lập đúng đắn, Phạm hạnh được tăng tiến, những người ấy được an tịnh, đã được cạn kiệt sự hiện hữu lại nữa.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 42
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Bright Things
5. Kinh Các Pháp Trong Sạch
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
42. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Dveme, bhikkhave, sukkā dhammā lokaṁ pālenti. Katame dve? Hirī ca, ottappañca. Ime ce, bhikkhave, dve sukkā dhammā lokaṁ na pāleyyuṁ, nayidha paññāyetha mātāti vā mātucchāti vā mātulānīti vā ācariyabhariyāti vā garūnaṁ dārāti vā. Sambhedaṁ loko agamissa yathā ajeḷakā kukkuṭasūkarā soṇasiṅgālā. Yasmā ca kho, bhikkhave, ime dve sukkā dhammā lokaṁ pālenti tasmā paññāyati mātāti vā mātucchāti vā mātulānīti vā ācariyabhariyāti vā garūnaṁ dārāti vā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“These two bright things, mendicants, protect the world. What two? Conscience and prudence. If these two bright things did not protect the world, there would be no recognition of the status of mother, aunts, or wives and partners of tutors and respected people. The world would become dissolute, like goats and sheep, chickens and pigs, and hounds and jackals. But because the two bright things protect the world, there is recognition of the status of mother, aunts, and wives and partners of tutors and respected people.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, có hai pháp trong sạch này bảo hộ thế gian. Hai pháp nào? Tàm và quý. Này các Tỳ khưu, nếu hai pháp trong sạch này không bảo hộ thế gian, thì ở đây sẽ không có sự phân biệt là mẹ, hay dì, hay vợ của cậu, hay vợ của thầy, hay vợ của các bậc tôn trưởng. Thế gian sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, giống như loài dê cừu, gà heo, chó và chó rừng. Nhưng này các Tỳ khưu, vì hai pháp trong sạch này bảo hộ thế gian, nên có sự phân biệt là mẹ, hay dì, hay vợ của cậu, hay vợ của thầy, hay vợ của các bậc tôn trưởng. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều này, có lời kệ được nói như sau:
“Yesañce hiriottappaṁ, sabbadā ca na vijjati; Vokkantā sukkamūlā te, jātimaraṇagāmino.
“Those in whom conscience and prudence are never found at all, have lost their bright roots, and fare on in birth and death.
Những ai không bao giờ có tàm và quý, họ đã lìa xa gốc rễ của các pháp trong sạch, là những người đi đến sanh và tử.
Yesañca hiriottappaṁ, sadā sammā upaṭṭhitā; Virūḷhabrahmacariyā te, santo khīṇapunabbhavā”ti.
Those in whom conscience and prudence are always rightly established, thrive in the spiritual life; being at peace, they will not be reborn again.”
Còn những ai luôn luôn an lập vững chắc tàm và quý, họ phát triển phạm hạnh, là những bậc hiền thiện, đã đoạn tận tái sanh.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Pañcamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ năm.