- Itivuttaka 41
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 41 — Kinh Thấp Kém Về Tuệ
Paññāparihīnasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, các chúng sinh ấy vô cùng thấp kém, là những người thấp kém về tuệ cao thượng. Những người ấy ngay trong đời hiện tại sống khổ sở, có sự buồn phiền, thất vọng, bực bội, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, khổ cảnh là điều chờ đợi. Này các tỳ khưu, các chúng sinh ấy không thấp kém, là những người không thấp kém về tuệ cao thượng. Những người ấy ngay trong đời hiện tại sống không có buồn phiền, không có thất vọng, không có bực bội, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, nhàn cảnh là điều chờ đợi.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Do sự thấp kém về tuệ, hãy nhìn thế gian luôn cả chư Thiên đã được xác lập ở danh và sắc, nghĩ rằng: ‘Đây là sự thật.’
3. Bởi vì tuệ là tối thượng ở thế gian, cái này dẫn đến sự thấu triệt, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt tận của sanh và hữu.
4. Chư Thiên và nhân loại yêu mến các vị ấy, các bậc Chánh Đẳng Giác, có niệm, có tuệ vi tiếu, mang thân xác cuối cùng.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 41
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Bereft of Wisdom
4. Kinh Paññāparihīna (Suy Giảm Trí Tuệ)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
41. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Te, bhikkhave, sattā suparihīnā ye ariyāya paññāya parihīnā. Te diṭṭheva dhamme dukkhaṁ viharanti savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā. Te, bhikkhave, sattā aparihīnā ye ariyāya paññāya aparihīnā. Te diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharanti avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Those sentient beings are truly bereft, mendicants, who are bereft of noble wisdom. They live unhappily in this very life—with distress, anguish, and fever—and when the body breaks up, after death, they can expect a bad rebirth. Those sentient beings are not bereft who are not bereft of noble wisdom. In this very life they’re happy—free of distress, anguish, and fever—and when the body breaks up, after death, they can expect a good rebirth.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, những chúng sanh nào bị suy giảm về trí tuệ bậc Thánh thì họ là những chúng sanh đã bị suy giảm hoàn toàn. Ngay trong hiện tại, họ sống trong đau khổ, với phiền não, tuyệt vọng, và nóng nảy; sau khi thân hoại mạng chung, một ác thú có thể được chờ đợi. Này các Tỳ khưu, những chúng sanh nào không bị suy giảm về trí tuệ bậc Thánh thì họ là những chúng sanh không bị suy giảm. Ngay trong hiện tại, họ sống trong an lạc, không phiền não, không tuyệt vọng, không nóng nảy; sau khi thân hoại mạng chung, một thiện thú có thể được chờ đợi. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều đó, được nói như sau:
“Paññāya parihānena, passa lokaṁ sadevakaṁ; Niviṭṭhaṁ nāmarūpasmiṁ, idaṁ saccanti maññati.
“See the world with its gods, bereft of wisdom, habituated to name and form, imagining this is truth.
Hãy nhìn thế gian cùng với chư thiên: do sự suy giảm của trí tuệ, họ bị chìm đắm trong danh và sắc, và nghĩ rằng: ‘Đây là sự thật.’
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṁ, yāyaṁ nibbedhagāminī; Yāya sammā pajānāti, jātibhavaparikkhayaṁ.
Wisdom is best in the world, as it leads to penetration, through which one rightly understands the ending of rebirth and continued existence.
Thật vậy, trí tuệ là tối thượng ở đời, là phương diện đưa đến sự thấu triệt (Niết-bàn); nhờ trí tuệ ấy, người ta hiểu biết đúng đắn về sự đoạn tận của sanh và hữu.
Tesaṁ devā manussā ca, sambuddhānaṁ satīmataṁ; Pihayanti hāsapaññānaṁ, sarīrantimadhārinan”ti.
Gods and humans envy them, the Buddhas, ever mindful, of laughing wisdom, bearing their final body.”
Chư thiên và nhân loại ái mộ các bậc Chánh Giác ấy, là những vị có chánh niệm, có trí tuệ hân hoan, và đang mang thân cuối cùng.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. Kinh thứ tư.