- Itivuttaka 40
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Vijjāsutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Vijjāsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, vô minh đi trước trong việc thành tựu các pháp bất thiện, theo sau là không hổ thẹn (tội lỗi), không sợ hãi (tội lỗi). Này các tỳ khưu, minh đi trước trong việc thành tựu các pháp thiện, theo sau là hổ thẹn (tội lỗi), sợ hãi (tội lỗi).”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Bất cứ những khổ cảnh nào ở đời này hoặc đời sau, tất cả đều có gốc rễ ở vô minh, với sự tích lũy bởi ước muốn và tham lam.
3. Bởi vì có ước muốn xấu xa, không hổ thẹn (tội lỗi), không có sự tôn trọng, cho nên người tạo ra việc ác; do việc ấy đi đến đọa xứ.
4. Vì thế, trong khi xa lìa sự mong muốn, tham lam, và vô minh, trong khi làm sanh khởi minh, vị tỳ khưu từ bỏ mọi cảnh giới khổ đau.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Tụng Phẩm thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
40. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Avijjā, bhikkhave, pubbaṅgamā akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā anvadeva ahirikaṁ anottappaṁ; vijjā ca kho, bhikkhave, pubbaṅgamā kusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā anvadeva hirottappan”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, ignorance leads the attainment of unskillful qualities, with lack of conscience and prudence following along. Knowledge leads the attainment of skillful qualities, with conscience and prudence following along.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, vô minh đi trước trong việc thành tựu các pháp bất thiện, theo sau là vô tàm và vô quý. Và này các Tỳ khưu, minh đi trước trong việc thành tựu các pháp thiện, theo sau là tàm và quý. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều đó, được nói như sau:
“Yā kācimā duggatiyo, asmiṁ loke paramhi ca; Avijjāmūlikā sabbā, icchālobhasamussayā.
“Bad destinies of whatever kind, in this world or the next, are all rooted in ignorance, compounded of greed and desire.
Bất cứ ác thú nào, ở đời này hay đời sau; tất cả đều có gốc rễ từ vô minh, được vun bồi bởi dục và tham.
Yato ca hoti pāpiccho, ahirīko anādaro; Tato pāpaṁ pasavati, apāyaṁ tena gacchati.
Since one of corrupt wishes is unconscientious, lacking regard for others, they brim with much wickedness, which sends them to a place of loss.
Khi một người có ước muốn xấu xa, không biết hổ thẹn, không biết tôn trọng; từ đó, điều ác sanh khởi, và do đó, người ấy đi đến đọa xứ.
Tasmā chandañca lobhañca, avijjañca virājayaṁ; Vijjaṁ uppādayaṁ bhikkhu, sabbā duggatiyo jahe”ti.
Therefore, dispelling desire and greed and ignorance, a mendicant arousing knowledge would abandon all bad destinies.”
Do đó, vị Tỳ khưu, bằng cách ly tham khỏi dục, tham, và vô minh, và bằng cách làm cho minh sanh khởi, có thể từ bỏ tất cả các ác thú.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
Paṭhamabhāṇavāro.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, tôi đã nghe như vậy. Hết kinh thứ ba.