- Itivuttaka 38
- Dukanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 38 — Kinh Suy Tầm
Vitakkasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, ở đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, có hai suy tầm thường xuyên khởi lên là: sự an toàn và sự tách ly. Này các tỳ khưu, đức Như Lai, bậc có sự ưa thích không hãm hại, thích thú không hãm hại. Này các tỳ khưu, ở đức Như Lai ấy đấy, bậc có sự thích thú không hãm hại, thích thú không hãm hại, chính sự suy tầm này thường xuyên khởi lên: ‘Với oai nghi này, ta không hãm hại bất cứ vật gì, dầu là di động hay bất động.’ Này các tỳ khưu, đức Như Lai, bậc có sự ưa thích việc tách ly, thích thú việc tách ly. Này các tỳ khưu, ở đức Như Lai ấy đấy, bậc có sự ưa thích việc tách ly, thích thú việc tách ly, chính sự suy tầm này thường xuyên khởi lên rằng: ‘Cái gì bất thiện, cái ấy được dứt bỏ.’
2. Này các tỳ khưu, bởi thế chính các ngươi hãy sống có sự ưa thích không hãm hại, thích thú không hãm hại. Này các tỳ khưu, khi các ngươi đây sống có sự ưa thích không hãm hại, thích thú không hãm hại, chính sự suy tầm này sẽ thường xuyên khởi lên cho các ngươi: ‘Với oai nghi này, chúng ta không hãm hại bất cứ vật gì, dầu là di động hay bất động.’ Này các tỳ khưu, hãy sống có sự ưa thích việc tách ly, thích thú việc tách ly. Này các tỳ khưu, khi các ngươi đây sống có sự ưa thích việc tách ly, thích thú việc tách ly, chính sự suy tầm này sẽ thường xuyên khởi lên cho các ngươi: ‘Cái gì bất thiện, cái ấy được dứt bỏ.’”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
3. “Ở đức Như Lai, bậc Giác Ngộ có sự chịu đựng điều không thể chịu đựng, có hai suy tầm khởi lên ở Ngài: an toàn là suy tầm thứ nhất đã được nói lên, kế đó tách ly là thứ nhì đã được giảng giải.
4. Bậc Đại ẩn sĩ, vị xua tan bóng tối, đã đi đến bờ kia, vị ấy đã đạt đến sự thành đạt, có quyền lực, không còn lậu hoặc, vượt qua sự bất bình đẳng, đã được giải thoát trong việc diệt trừ tham ái, vị ấy quả thật là bậc hiền trí, mang thân mạng cuối cùng, từ bỏ Ma Vương, Ta nói đã đi đến bờ kia của sự già.
5. Giống như người đứng ở đỉnh đầu của ngọn núi đá, cũng giống như người có thể nhìn thấy dân chúng ở xung quanh, tương tự như thế ấy sau khi bước lên tòa lâu đài làm bằng Giáo Pháp, bậc Trí Tuệ, đấng Toàn Nhãn, bậc đã xa lìa sầu muộn quan sát dân chúng bị rơi vào sầu muộn, bị ngự trị bởi sanh và già.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 38
- The Book of the Twos
- Chapter Two
Thoughts
1. Kinh Vitakka (Tầm)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
38. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Tathāgataṁ, bhikkhave, arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dve vitakkā bahulaṁ samudācaranti—khemo ca vitakko, paviveko ca. Abyāpajjhārāmo, bhikkhave, tathāgato abyāpajjharato. Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ abyāpajjhārāmaṁ abyāpajjharataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati: ‘imāyāhaṁ iriyāya na kañci byābādhemi tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
“Two thoughts, mendicants, often occur to the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha: the thought of sanctuary, and that of seclusion. The Realized One loves kindness and delights in it, so this thought often occurs to him: ‘Through this behavior, I shall not hurt any creature firm or frail.’
Này các Tỳ khưu, đối với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, có hai loại tầm thường xuyên khởi lên: tầm về sự an ổn và tầm về sự viễn ly. Này các Tỳ khưu, Như Lai an trú trong sự vô hại, ưa thích sự vô hại. Này các Tỳ khưu, đối với Như Lai, người an trú trong sự vô hại, ưa thích sự vô hại, chính tầm này thường xuyên khởi lên: ‘Với oai nghi này, ta không làm hại bất cứ chúng sanh nào, dù là loài động hay bất động.’
Pavivekārāmo, bhikkhave, tathāgato pavivekarato. Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ pavivekārāmaṁ pavivekarataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati: ‘yaṁ akusalaṁ taṁ pahīnan’ti.
The Realized One loves seclusion and delights in it, so this thought often occurs to him: ‘What is unskillful has been given up.’
Này các Tỳ khưu, Như Lai an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự viễn ly. Này các Tỳ khưu, đối với Như Lai, người an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự viễn ly, chính tầm này thường xuyên khởi lên: ‘Pháp nào bất thiện, pháp ấy đã được đoạn trừ.’
Tasmātiha, bhikkhave, tumhepi abyāpajjhārāmā viharatha abyāpajjharatā. Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ abyāpajjhārāmānaṁ viharataṁ abyāpajjharatānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati: ‘imāya mayaṁ iriyāya na kañci byābādhema tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
So, mendicants, you too should love kindness and delight in it, then this thought will often occur to you: ‘Through this behavior, I shall not hurt any creature firm or frail.’
Do đó, này các Tỳ khưu, các con cũng hãy an trú trong sự vô hại, ưa thích sự vô hại. Này các Tỳ khưu, đối với các con, những người an trú trong sự vô hại, ưa thích sự vô hại, chính tầm này sẽ thường xuyên khởi lên: ‘Với oai nghi này, chúng ta không làm hại bất cứ chúng sanh nào, dù là loài động hay bất động.’
Pavivekārāmā, bhikkhave, viharatha pavivekaratā. Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ pavivekārāmānaṁ viharataṁ pavivekaratānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati: ‘kiṁ akusalaṁ, kiṁ appahīnaṁ, kiṁ pajahāmā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
You too should love seclusion and delight in it, then this thought will often occur to you: ‘What is unskillful? What is not given up? What should I give up?’”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
Này các Tỳ khưu, hãy an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự viễn ly. Này các Tỳ khưu, đối với các con, những người an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự viễn ly, chính tầm này sẽ thường xuyên khởi lên: ‘Cái gì là bất thiện? Cái gì chưa được đoạn trừ? Chúng ta nên đoạn trừ cái gì?’ Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Về điều đó, được nói như sau:
“Tathāgataṁ buddhamasayhasāhinaṁ, Duve vitakkā samudācaranti naṁ; Khemo vitakko paṭhamo udīrito, Tato viveko dutiyo pakāsito.
“Two thoughts occur to him, the Realized One, the bearer of the unbearable: first mentioned was thought of sanctuary, then the second made clear was seclusion.
Đối với Như Lai, bậc Giác Ngộ, người chinh phục điều khó chinh phục, hai loại tầm khởi lên nơi ngài. Tầm thứ nhất được gọi là an ổn, sau đó tầm thứ hai được tuyên bố là viễn ly.
Tamonudaṁ pāragataṁ mahesiṁ, Taṁ pattipattaṁ vasimaṁ anāsavaṁ; Visantaraṁ taṇhakkhaye vimuttaṁ, Taṁ ve muniṁ antimadehadhāriṁ; Mārañjahaṁ brūmi jarāya pāraguṁ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedho, Pāsādamāruyha samantacakkhu; Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhati jātijarābhibhūtan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
Dispeller of darkness, the great seer has crossed over: the attained, the master, the undefiled. In the midst of it all, <j>he is freed in the ending of craving; that sage bears his final body. He has disposed of Māra, I declare, <j>and gone beyond old age.
Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, the All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth, rid of sorrow, looks upon the people swamped with sorrow, <j>overcome by rebirth and old age.”
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Bậc xua tan bóng tối, đã đến bờ kia, bậc Đại sĩ, bậc đã đạt đến thành tựu, bậc tự tại, bậc vô lậu; bậc đã vượt qua, được giải thoát nơi sự đoạn tận ái dục, bậc Thánh nhân mang thân cuối cùng; Ta tuyên bố rằng ngài là bậc đã từ bỏ Ma vương, đã vượt qua sự già nua.