- Itivuttaka 37
- Dukanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 37 — Kinh Tâm Hỷ
Somanassasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu hai pháp, ngay trong đời hiện tại sống có nhiều an lạc và tâm hỷ, và động lực của vị này được khởi sự nhằm diệt trừ các lậu hoặc. Với hai pháp nào? Với sự chấn động ở các trường hợp đáng bị chấn động và với sự nỗ lực đúng đường lối khi đã bị chấn động. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu hai pháp này, ngay trong đời hiện tại sống có nhiều an lạc và tâm hỷ, và động lực của vị này được khởi sự nhằm diệt trừ các lậu hoặc.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Và bậc sáng suốt bị chấn động ở các trường hợp đáng bị chấn động. Vị tỳ khưu có nhiệt tâm, chín chắn, nên quán xét đúng đắn bằng trí tuệ.
3. Vị có sự an trú như vậy, có nhiệt tâm, có hành vi an tịnh, không kiêu căng, được gắn bó với sự vắng lặng của tâm, có thể đạt được sự diệt trừ khổ.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Phẩm thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 37
- The Book of the Twos
- Chapter One
Happiness
10. Kinh Hân Hoan
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
37. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāya. Katamehi dvīhi? Saṁvejanīyesu ṭhānesu saṁvejanena, saṁviggassa ca yoniso padhānena. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, when a mendicant has two qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements. What two? Being inspired at inspiring places, and making a suitable effort when inspired. When a mendicant possesses these two qualities they’re full of joy and happiness in this very life, and they have laid the groundwork for ending the defilements.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thành tựu hai pháp thì sống ngay trong hiện tại với nhiều lạc và hỷ, và vị ấy đã khởi sự nền tảng để đoạn tận các lậu hoặc. Hai pháp ấy là gì? Đó là sự xúc động ở những nơi đáng xúc động, và sự tinh tấn như lý của người đã xúc động. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thành tựu hai pháp này thì sống ngay trong hiện tại với nhiều lạc và hỷ, và vị ấy đã khởi sự nền tảng để đoạn tận các lậu hoặc.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về điều đó, được nói như sau:
“Saṁvejanīyaṭṭhānesu, saṁvijjetheva paṇḍito; Ātāpī nipako bhikkhu, paññāya samavekkhiya.
“At inspiring places an astute person should be inspired; a keen and alert mendicant should examine with wisdom.
“Ở những nơi đáng xúc động, bậc trí tuệ nên xúc động. Vị Tỳ khưu nhiệt tâm, thận trọng, sau khi quán xét bằng trí tuệ.”
Evaṁ vihārī ātāpī, santavutti anuddhato; Cetosamathamanuyutto, khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
A mendicant living like this, with keen energy, peaceful not restless, devoted to serenity of heart, attains the ending of suffering.”
“Vị Tỳ khưu sống như vậy, nhiệt tâm, có hạnh kiểm an tịnh, không trạo cử, chuyên tâm vào định, có thể đạt đến sự đoạn tận khổ đau.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ mười).
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Phẩm thứ nhất đã kết thúc.
Dve ca bhikkhū tapanīyā, tapanīyā paratthehi; Ātāpī nakuhanā dve, somanassena te dasāti.
Hai kinh về Tỳ Khưu, kinh Tapanīya, kinh Tapanīya với Parattha, kinh Ātāpī, hai kinh Nakuhanā, và kinh Somanassa, đó là mười kinh.