- Itivuttaka 34
- Dukanipāta
- Paṭhamavagga
Ātāpīsutta
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
Bản dịch
Ātāpīsutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu không có nhiệt tâm, không có ghê sợ tội lỗi không có khả năng về việc giác ngộ, không có khả năng về Niết Bàn, không có khả năng về việc chứng đắc sự an toàn vô thượng đối với các trói buộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có nhiệt tâm, có ghê sợ tội lỗi có khả năng về việc giác ngộ, có khả năng về Niết Bàn, có khả năng về việc chứng đắc sự an toàn vô thượng đối với các trói buộc.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Người không có nhiệt tâm, không có ghê sợ tội lỗi, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp kém, nhiều dã dượi buồn ngủ, người vô liêm sỉ, không có sự tôn trọng, vị tỳ khưu như thế ấy không có khả năng chạm đến phẩm vị giác ngộ tối thượng.
3. Và người có niệm, chín chắn, có thiền, có nhiệt tâm, có ghê sợ tội lỗi, và không xao lãng, sau khi cắt đứt sự trói buộc với sanh và lão có thể chạm đến phẩm vị giác ngộ tối thượng ngay tại nơi đây.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
34. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như sau:
“Anātāpī, bhikkhave, bhikkhu anottāpī abhabbo sambodhāya, abhabbo nibbānāya, abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya. Ātāpī ca kho, bhikkhave, bhikkhu ottāpī bhabbo sambodhāya, bhabbo nibbānāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, without being keen and prudent a mendicant can’t achieve awakening, extinguishment, and the supreme sanctuary from the yoke. But if a mendicant is keen and prudent they can achieve awakening, extinguishment, and the supreme sanctuary from the yoke.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu không nhiệt tâm, không tàm quý, thì không có khả năng giác ngộ, không có khả năng đạt đến Niết-bàn, không có khả năng chứng đắc sự an ổn vô thượng thoát khỏi các ách缚. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có nhiệt tâm, có tàm quý, thì có khả năng giác ngộ, có khả năng đạt đến Niết-bàn, có khả năng chứng đắc sự an ổn vô thượng thoát khỏi các ách缚.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về điều đó, được nói như sau:
“Anātāpī anottāpī, kusīto hīnavīriyo; Yo thinamiddhabahulo, ahirīko anādaro; Abhabbo tādiso bhikkhu, phuṭṭhuṁ sambodhimuttamaṁ.
“Neither keen nor prudent, lazy, lacking energy, full of dullness and drowsiness, unconscientious, lacking regard for others, such a mendicant is incapable of experiencing the highest awakening.
“Vị Tỳ khưu không nhiệt tâm, không tàm quý, lười biếng, tinh tấn thấp kém; người nhiều hôn trầm thụy miên, không hổ thẹn, không kính trọng; vị Tỳ khưu như vậy không có khả năng chứng đắc chánh giác vô thượng.”
Yo ca satimā nipako jhāyī, Ātāpī ottāpī ca appamatto; Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā, Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.
One who is mindful, alert, meditative, keen, prudent, and diligent, having cut the fetter of birth and old age, would experience supreme awakening <j>in this very life.”
“Còn người có chánh niệm, thận trọng, thiền định, nhiệt tâm, tàm quý, và không buông lung; sau khi chặt đứt kiết sử của sanh và già, ngay tại đây có thể chứng đắc chánh giác vô thượng.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy. (Kinh thứ bảy).