- Itivuttaka 30
- Dukanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 30 — Kinh Làm Cho Bứt Rứt
Tapanīyasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, có hai pháp làm cho bứt rứt. Hai pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây có người đã không làm việc tốt, đã không làm việc thiện, đã không che chở cho kẻ bị sợ hãi, đã làm điều ác, đã làm việc tàn bạo, đã làm việc sái quấy. Người ấy bị bứt rứt (nghĩ rằng): ‘Ta đã không làm việc tốt,’ bị bứt rứt (nghĩ rằng): ‘Ta đã làm điều ác.’ Này các tỳ khưu, hai pháp này làm cho bứt rứt.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Sau khi làm uế hạnh do thân và các uế hạnh do khẩu, sau khi làm uế hạnh do ý và điều nào khác liên quan đến tội lỗi, ...
3. ... sau khi không làm hành động thiện, sau khi làm nhiều việc bất thiện, do sự hoại rã của thân, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 30
- The Book of the Twos
- Chapter One
Mortifying
3. Kinh Dằn Vặt
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
30. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vầy:
“Dveme, bhikkhave, dhammā tapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekacco akatakalyāṇo hoti, akatakusalo, akatabhīruttāṇo, katapāpo, kataluddo, katakibbiso. So ‘akataṁ me kalyāṇan’tipi tappati, ‘kataṁ me pāpan’tipi tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā tapanīyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“These two things, mendicants, are mortifying. What two? It’s when someone hasn’t done good and skillful things that keep them safe, but has done bad things, violence and sin. Thinking, ‘I haven’t done good things’, they’re mortified. Thinking, ‘I have done bad things’, they’re mortified. These are the two things that are mortifying.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có hai pháp này gây dằn vặt. Hai pháp nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người không làm điều lành, không làm điều thiện, không tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi, lại làm điều ác, làm điều hung dữ, làm điều tội lỗi. Người ấy bị dằn vặt: ‘Ta đã không làm điều lành’, và bị dằn vặt: ‘Ta đã làm điều ác’. Này các Tỳ khưu, đây là hai pháp gây dằn vặt.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến:
“Kāyaduccaritaṁ katvā, vacīduccaritāni ca; Manoduccaritaṁ katvā, yañcaññaṁ dosasañhitaṁ.
“Having done bad things by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt;
“Sau khi làm thân ác hạnh, và các lời ác hạnh; sau khi làm ý ác hạnh, và bất cứ điều gì khác liên quan đến lỗi lầm.
Akatvā kusalaṁ kammaṁ, katvānākusalaṁ bahuṁ; Kāyassa bhedā duppañño, nirayaṁ sopapajjatī”ti.
not having done good deeds, and having done many bad, when their body breaks up, that witless person is reborn in hell.”
“Không làm nghiệp thiện, lại làm nhiều nghiệp bất thiện; sau khi thân hoại, kẻ ngu si ấy sanh vào địa ngục.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Tatiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ ba.