- Itivuttaka 31
- Dukanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 31 — Kinh Không Làm Cho Bứt Rứt
Atapanīyasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, có hai pháp không làm cho bứt rứt. Hai pháp nào? Này các tỳ khưu, ở đây có người đã làm việc tốt, đã làm việc thiện, đã che chở cho kẻ bị sợ hãi, đã không làm điều ác, đã không làm việc tàn bạo, đã không làm việc sái quấy. Người ấy không bị bứt rứt (nghĩ rằng): ‘Ta đã làm việc tốt,’ không bị bứt rứt (nghĩ rằng): ‘Ta đã không làm điều ác.’ Này các tỳ khưu, hai pháp này không làm cho bứt rứt.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Sau khi từ bỏ uế hạnh do thân và các uế hạnh do khẩu, sau khi từ bỏ uế hạnh do ý và điều nào khác liên quan đến tội lỗi, ...
3. ... sau khi không làm hành động bất thiện, sau khi làm nhiều việc thiện, do sự hoại rã của thân, người có trí tuệ ấy sanh vào cõi Trời.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 31
- The Book of the Twos
- Chapter One
Not Mortifying
4. Kinh Không Dằn Vặt
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
31. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vầy:
“Dveme, bhikkhave, dhammā atapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekacco katakalyāṇo hoti, katakusalo, katabhīruttāṇo, akatapāpo, akataluddo, akatakibbiso. So ‘kataṁ me kalyāṇan’tipi na tappati, ‘akataṁ me pāpan’tipi na tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā atapanīyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“These two things, mendicants, are not mortifying. What two? It’s when someone has done good and skillful things that keep them safe, but has not done bad things, violence and sin. Thinking, ‘I have done good things’, they’re not mortified. Thinking, ‘I haven’t done bad things’, they’re not mortified. These are the two things that are not mortifying.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, có hai pháp này không gây dằn vặt. Hai pháp nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người đã làm điều lành, đã làm điều thiện, đã tạo nơi nương tựa khỏi sợ hãi, không làm điều ác, không làm điều hung dữ, không làm điều tội lỗi. Người ấy không bị dằn vặt: ‘Ta đã làm điều lành’, và không bị dằn vặt: ‘Ta đã không làm điều ác’. Này các Tỳ khưu, đây là hai pháp không gây dằn vặt.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến:
“Kāyaduccaritaṁ hitvā, vacīduccaritāni ca; Manoduccaritaṁ hitvā, yañcaññaṁ dosasañhitaṁ.
“Having given up bad conduct by way of body, speech, and mind, and whatever else is corrupt;
“Sau khi từ bỏ thân ác hạnh, và các lời ác hạnh; sau khi từ bỏ ý ác hạnh, và bất cứ điều gì khác liên quan đến lỗi lầm.
Akatvākusalaṁ kammaṁ, katvāna kusalaṁ bahuṁ; Kāyassa bhedā sappañño, saggaṁ so upapajjatī”ti.
not having done bad deeds, and having done many good, when their body breaks up, that wise person is reborn in heaven.”
“Không làm nghiệp bất thiện, lại làm nhiều nghiệp thiện; sau khi thân hoại, người trí tuệ ấy sanh vào cõi trời.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Catutthaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ tư.