- Itivuttaka 29
- Dukanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
ITI 29 — Kinh Tỳ Khưu - Thứ Nhì
Sukhavihārasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu hai pháp, ngay trong đời hiện tại sống an lạc, không có buồn phiền, không có thất vọng, không có bực bội, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, nhàn cảnh là điều chờ đợi. Với hai pháp nào? Cửa vào các giác quan được canh phòng và biết chừng mực về vật thực. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu hai pháp, ngay trong đời hiện tại sống không có buồn phiền, không có thất vọng, không có bực bội, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, nhàn cảnh là điều chờ đợi.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý, ở đây các giác quan này của vị tỳ khưu nào là khéo được canh phòng, ...
3. ... vị biết chừng mực về vật thực, và thu thúc ở các giác quan, vị ấy đi đến an lạc, an lạc ở thân, an lạc ở tâm.
4. Với thân không bị đốt nóng, với tâm không bị đốt nóng, vị như thế ấy sống an lạc, dầu cho là ngày hay đêm.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 29
- The Book of the Twos
- Chapter One
Living in Happiness
2. Kinh Sống An Lạc
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
29. Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã nghe như vầy:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharati avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā. Katamehi dvīhi? Indriyesu guttadvāratāya ca, bhojane mattaññutāya ca. Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharati avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ; kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Mendicants, when a mendicant has two qualities they live happily in this very life—without distress, anguish, and fever—and when the body breaks up, after death, they can expect a good rebirth. What two? Guarding the sense doors and moderation in eating. When a mendicant possesses these two qualities they live happily in this very life—without distress, anguish, and fever—and when the body breaks up, after death, they can expect a good rebirth.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào sở hữu hai pháp thì sống an lạc, không phiền não, không tuyệt vọng, không nhiệt não ngay trong hiện tại; sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi thiện thú. Do hai pháp nào? Do phòng hộ các căn môn và biết tiết độ trong ăn uống. Này các Tỳ khưu, chính do hai pháp này mà vị Tỳ khưu sống an lạc, không phiền não, không tuyệt vọng, không nhiệt não ngay trong hiện tại; sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi thiện thú.” Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến:
“Cakkhu sotañca ghānañca, jivhā kāyo tathā mano; Etāni yassa dvārāni, suguttāni ca bhikkhuno.
“Eye, ear, nose, tongue, body, and likewise mind: a mendicant who makes these sense doors well guarded—
“Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý; vị Tỳ khưu nào ở đây có các căn môn này được phòng hộ tốt đẹp.
Bhojanamhi ca mattaññū, indriyesu ca saṁvuto; Kāyasukhaṁ cetosukhaṁ, sukhaṁ so adhigacchati.
eating in moderation, restrained in the sense faculties—reaps happiness both physical and mental.
“Biết tiết độ trong ăn uống, và thu thúc các căn, vị ấy đạt được lạc thân và lạc tâm.
Aḍayhamānena kāyena, Aḍayhamānena cetasā; Divā vā yadi vā rattiṁ, Sukhaṁ viharati tādiso”ti.
Not burning in body, not burning in mind, by day or by night such a person lives in happiness.”
“Với thân không bị thiêu đốt, với tâm không bị thiêu đốt, dù ngày hay đêm, người như vậy sống trong an lạc.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dutiyaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được Thế Tôn nói đến, và tôi đã nghe như vậy. (Kinh) thứ hai.