- Itivuttaka 16
- Ekakanipāta
- Dutiyavagga
Bản dịch
ITI 16 — Kinh Hữu Học - Thứ Nhất
Paṭhamasekhasutta
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu là bậc hữu học, còn chưa đạt được mục đích, đang sống, đang ước nguyện sự an toàn vô thượng đối với các trói buộc, Ta không nhận thấy một yếu tố nào khác sau khi tạo thành yếu tố ở nội phần có nhiều sự hỗ trợ như vầy, này các tỳ khưu như là tác ý đúng đường lối. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, trong khi tác ý đúng đường lối, dứt bỏ bất thiện, phát triển thiện.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Tác ý đúng đường lối là pháp của vị tỳ khưu hữu học, không có cái khác có nhiều sự ích lợi như vậy đối với việc đạt đến mục đích tối thượng. Trong khi nỗ lực đúng đường lối, vị tỳ khưu có thể đạt được sự diệt trừ khổ đau.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- So It Was Said 16
- The Book of the Ones
- Chapter Two
A Trainee (1st)
6. Kinh Hữu Học Thứ Nhất
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
This was said by the Buddha, the Perfected One: that is what I heard.
16. Điều này đã được Thế Tôn thuyết giảng, đã được bậc A-la-hán thuyết giảng, tôi đã nghe như vậy:
“Sekhassa, bhikkhave, bhikkhuno appattamānasassa anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānassa viharato ajjhattikaṁ aṅganti karitvā nāññaṁ ekaṅgampi samanupassāmi yaṁ evaṁ bahūpakāraṁ yathayidaṁ, bhikkhave, yoniso manasikāro. Yoniso, bhikkhave, bhikkhu manasi karonto akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāvetī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca. Tatthetaṁ iti vuccati:
“Taking into account interior factors, mendicants, I do not see a single one that is so very helpful as rational application of mind for a trainee mendicant who hasn’t achieved their heart’s desire, but lives aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. A mendicant rationally applying the mind gives up the unskillful and develops the skillful.”
The Buddha spoke this matter. On this it is said:
“Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống với sự mong cầu an ổn vô thượng khỏi các ách phược, sau khi xem xét, Ta không thấy một yếu tố nội tại nào khác có nhiều lợi ích như là sự tác ý như lý này. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tác ý như lý sẽ từ bỏ điều bất thiện và tu tập điều thiện.” Thế Tôn đã thuyết giảng ý nghĩa này. Về điều ấy, được nói đến như sau:
“Yonisomanasikāro, dhammo sekhassa bhikkhuno; Natthañño evaṁ bahukāro, uttamatthassa pattiyā; Yoniso padahaṁ bhikkhu, khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
“There is nothing so helpful for a trainee mendicant aspiring for the ultimate goal as rational application of mind. Striving rationally, a mendicant attains the end of suffering.”
“Như lý tác ý, là pháp đối với vị tỳ khưu hữu học; không có pháp nào khác có nhiều sự hỗ trợ như vậy, để thành tựu mục đích tối thượng. Vị tỳ khưu nỗ lực một cách như lý, có thể đạt đến sự đoạn tận khổ đau.”
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Chaṭṭhaṁ.
This too is a matter that was spoken by the Blessed One: that is what I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, như vậy tôi đã nghe. (Kinh) thứ sáu.