- Dīgha Nikāya 6
Mahālisutta
1. Brāhmaṇadūtavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahālisutta
SC 1PTS cs 1 Như vậy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly) ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, một số đông sứ giả Bà-la-môn nước Kosala (Câu-tất-la) và nước Magadha (Ma-kiệt-đà), đang ở tại Vesālī vì một vài công việc. Những vị sứ giả ấy được nghe như sau: “Này các Tôn giả, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca hiện nay đang trú tại Vesālī, ở giảng đường Trùng Các, rừng Ðại Lâm. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh”. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”.
SC 2PTS cs 2 Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến giảng đường tại rừng Ðại Lâm. Lúc bấy giờ, đại đức Nāgita là thị giả đức Thế Tôn. Những vị sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và ở Magadha ấy đi đến chỗ đại đức Nāgita ở và thưa
SC 3—Tôn giả Nāgita, hiện nay Tôn giả Gotama ở tại đâu, chúng tôi muốn yết kiến Tôn giả Gotama.
SC 4- Các Hiền giả, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh. Những sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha liền ngồi xuống tại một bên và nói: “Sau khi được yết kiến Tôn giả Gotama, chúng tôi mới đi”.
SC 5PTS cs 3 Oṭṭhadda (Môi thỏ) người Licchavi cùng với một số đông dân chúng Licchavi cũng đi đến Trùng Các giảng đường, rừng Ðại Lâm gặp đại đức Nāgita, đảnh lễ vị này rồi đứng một bên. Oṭṭhadda người Licchavi thưa với đại đức Nāgita
SC 6—Hiện nay đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở tại đâu, chúng con muốn yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 7- Màhàli, nay không phải thời yết kiến đức Thế Tôn, Ðức Thế Tôn đang chỉ tịnh.
SC 8Oṭṭhadda người Licchavi liền ngồi xuống một bên tại chỗ ấy và nói
SC 9—Sau khi được yết kiến đức Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác con mới đi.
SC 10PTS cs 4 Khi ấy Sa-di Sìha đến đại đức Nāgita, đảnh lễ đại đức và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Sa-di Sìha nói với đại đức Nāgita
SC 11—Bạch Ðại đức Kassapa (Ca-diếp) một số đông sứ giả Bà-La-môn ở Kosala và Magadha đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn; Oṭṭhadda người Licchavi cũng đến đây với số đông dân chúng Licchavi để yết kiến đức Thế Tôn. Ðại đức Kassapa, lành thay, nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn.
SC 12- Vậy Sìha hãy thưa với đức Thế Tôn.
SC 13- Thưa vâng, bạch Ðại đức!
SC 14Sa-di Sìha vâng theo lời dạy của đại đức Nāgita, đến tại chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Sa-di Sìha sau khi đứng một bên liền bạch đức Thế Tôn
SC 15—Bạch đức Thế Tôn, một số đông sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Oṭṭhadda, người Licchavi cùng một số đông dân chúng Licchavi đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Lành thay nếu những vị này được yết kiến đức Thế Tôn!
SC 16- Nay Sìha, hãy dọn chỗ ngồi trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.
SC 17- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 18Sa-di Sìha vâng theo lời dạy đức Thế Tôn, sắp đặt một chỗ ngồi trong bóng mát trước mặt ngôi tịnh xá, và đức Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn trong bóng mát, trước mặt ngôi tịnh xá.
SC 19PTS cs 5 Rồi các sứ giả Bà-la-môn ở Kosala và Magadha đến tại chỗ đức Phật, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Oṭṭhadda người Licchavi cùng với một số lớn dân Licchavi cũng đến tại chỗ đức Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Oṭṭhadda người Licchavi thưa với Thế Tôn
SC 20—Bạch Ðại đức, hai ba ngày về trước, Sunakkhatta, dòng họ Licchavi đến chỗ con ở và nói với con: “Này Mahāli, từ khi tôi sống gần đức Phật, không lâu quá ba năm, tôi được thấy những thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không được nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi”. Bạch Thế Tôn, những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, không hiểu những thiên âm ấy có thật hay không có thật?
SC 21- Này Mahāli những thiên âm mà Sunakkhatta dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải không có.
SC 22PTS cs 6 - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, những thiên âm mà Sunakkhatta, dòng họ Licchavi không nghe, những thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.
SC 23- Này Mahāli, có Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Ðông các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahāli vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.
SC 24PTS cs 7 Lại nữa, này Mahāli, có vị Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam … về phía Tây … về phía Bắc … phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này thấy được về phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahāli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, chỉ với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.
SC 25PTS cs 8 Này Mahāli, có vị Tỷ-kheo tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhất hướng, hướng về phía Ðông với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được về phía Ðông các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahāli, vì vị Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Ðông, chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.
SC 26PTS cs 9 Lại nữa, này Mahāli, có Tỷ-kheo tu định nhứt hướng, hướng về phía Nam … hướng về phía Tây … hướng về phía Bắc … phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú phấn khởi. Vì vị này tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nên vị này nghe được, phía Trên, Dưới, Ngang, các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, nhưng không thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahāli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhứt hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang chỉ với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nhưng không với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.
SC 27PTS cs 10 Này Mahāli, có Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Ðông thấy được các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe được các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì sao vậy? Này Mahāli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Ðông với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm, mỹ diệu, thích thú, phấn khởi.
SC 28PTS cs 11 Này Mahāli, có vị Tỷ-kheo tu định nhị hướng, hướng về phía Nam … hướng Tây … hướng về phía Bắc … về phía Trên, Dưới, Ngang, với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì vị này tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi nên vị này hướng về phía Trên, Dưới, Ngang, thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi và nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Vì cớ sao? Này Mahāli, vì Tỷ-kheo này trong khi tu định nhị hướng, hướng về phía Trên, Dưới, Ngang với mục đích thấy các thiên sắc mỹ diệu, thích thú, phấn khởi, và với mục đích nghe các thiên âm mỹ diệu, thích thú, phấn khởi. Này Mahāli, do nhân này, do duyên này, những thiên âm ấy có thật, không phải là không có.
SC 29PTS cs 12 - Bạch Thế Tôn, như vậy có phải muốn chứng được các pháp định thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
SC 30- Này Mahāli, không phải muốn chứng được các pháp thiền định ấy mà các Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta. Này Mahāli, có những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì muốn chứng được những pháp ấy, các vị Tỷ-kheo sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.
SC 31PTS cs 13 - Bạch Thế Tôn, những pháp ấy, cao thượng hơn, thù thắng hơn là gì mà các vị Tỷ-kheo vì muốn chứng được những pháp ấy sống đời phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
SC 32- Này Mahāli, ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú, chắc chắn đạt quả Bồ-đề. Này Mahāli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn, vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.
SC 33Lại nữa, này Mahāli, Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhứt lai, còn phải sanh lại trong đời này một lần nữa trước khi diệt hẳn khổ đau. Này Mahāli, pháp này cao thượng hơn và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.
SC 34Lại nữa, này Mahāli, vị Tỷ-kheo đã đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành vị hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đây, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Này Mahāli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.
SC 35Này Mahāli, những pháp cao thượng và thù thắng này, vì muốn chứng được pháp ấy, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.
SC 36PTS cs 14 - Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?
SC 37- Này Mahāli, có con đường, có đạo lộ đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.
SC 38- Bạch Thế Tôn, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy?
SC 39- Ðó là con đường Thánh có tám ngành: Chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Mahāli, con đường này, đạo lộ này đưa đến sự chứng ngộ những pháp ấy.
SC 40PTS cs 15 Này Mahāli, một thời Ta ở Kosambi vườn Ghositārāma. Lúc bấy giờ có hai người xuất gia. Maṇḍisa một vị du sĩ và Jāliya đệ tử của Dārupattika, đến tại chỗ Ta ở, nói lên những lời chúc tụng thân hữu và xã giao với Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, hai vị xuất gia nói với Ta như sau
SC 41—Này Hiền giả, mạng căn và thân thể là một hay là khác?
SC 42- Này Hiền giả, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Vâng, Hiền giả!
SC 43Hai vị xuất gia trả lời Ta như thế và Ta nói như sau
SC 44PTS cs 16—Này Hiền giả, ở đây Như Lai sanh ra đời, vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác … (tương tự như kinh "Sa-môn quả", đoạn kinh 41–82) … Này Hiền giả, như vậy vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh … chứng và an trú Sơ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?
SC 45Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 46Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, nhưng Ta không nói: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 47PTS cs 17 Chứng và an trú đệ nhị thiền … đệ tam thiền … đệ tứ thiền. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay khác” không?
SC 48Này Hiền giả, Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 49Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 50PTS cs 18 Vị Tỷ-kheo ấy hướng tâm, dẫn tâm đến tri kiến. Này Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?
SC 51Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề: “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 52Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 53PTS cs 19 Vị ấy biết: “Sau đời này sẽ không có đời khác nữa”. Này Hiền giả, khi Tỷ-kheo biết như vậy, thấy như vậy, vị ấy có sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác” không?
SC 54Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo biết như vậy, vị ấy sẵn sàng đề cập đến vấn đề “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”. Này Hiền giả, tuy Ta biết như vậy, thấy như vậy, nhưng Ta không nói “Mạng căn và thân thể là một hay là khác”.
SC 55Ðức Thế Tôn thuyết như vậy. Oṭṭhadda người Licchavi hoan hỷ tín họ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 05/02/2003 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Câu chuyện về các sứ giả Bà-la-môn
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—is staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
359. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Lúc bấy giờ, có đông đảo sứ giả Bà-la-môn người Kosala và sứ giả Bà-la-môn người Māgadha đang ở tại Vesālī vì một vài công việc. Các sứ giả Bà-la-môn người Kosala và các sứ giả Bà-la-môn người Māgadha ấy nghe như sau: 'Này chư hiền, Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, hiện đang trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: 'Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ngài sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Ngài thuyết pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có nghĩa, có văn; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.'
Atha kho te kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkamiṁsu.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti. Atha kho te kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā yenāyasmā nāgito tenupasaṅkamiṁsu. upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgitaṁ etadavocuṁ: “kahaṁ nu kho, bho nāgita, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati? Dassanakāmā hi mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotaman”ti.
“Akālo kho, āvuso, bhagavantaṁ dassanāya, paṭisallīno bhagavā”ti.
Atha kho te kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā tattheva ekamantaṁ nisīdiṁsu: “disvāva mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotamaṁ gamissāmā”ti.
Then they went to the hall with the peaked roof in the Great Wood to see the Buddha.
Now, at that time Venerable Nāgita was the Buddha’s attendant. The brahmin emissaries went up to him and said, “Worthy Nāgita, where is the worthy Gotama at present? For we want to see him.”
“It’s the wrong time to see the Buddha; he is on retreat.”
So right there the brahmin emissaries sat down to one side, thinking, “We’ll go only after we’ve seen the worthy Gotama.”
360. Bấy giờ, các sứ giả Bà-la-môn người Kosala và các sứ giả Bà-la-môn người Māgadha ấy đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgita là thị giả của Thế Tôn. Bấy giờ, các sứ giả Bà-la-môn người Kosala và các sứ giả Bà-la-môn người Māgadha ấy đi đến chỗ Tôn giả Nāgita. Sau khi đến, họ nói với Tôn giả Nāgita điều này: 'Thưa Tôn giả Nāgita, hiện nay Tôn giả Gotama đang ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Tôn giả Gotama.' 'Này các hiền hữu, không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang độc cư.' Bấy giờ, các sứ giả Bà-la-môn người Kosala và các sứ giả Bà-la-môn người Māgadha ấy liền ngồi xuống một bên ngay tại chỗ đó, với ý nghĩ: 'Chúng ta sẽ chỉ ra về sau khi đã yết kiến Tôn giả Gotama.'
Câu chuyện về Oṭṭhaddha người Licchavī
Oṭṭhaddhopi licchavī mahatiyā licchavīparisāya saddhiṁ yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā yenāyasmā nāgito tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgitaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho oṭṭhaddhopi licchavī āyasmantaṁ nāgitaṁ etadavoca: “kahaṁ nu kho, bhante nāgita, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho, dassanakāmā hi mayaṁ taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Akālo kho, mahāli, bhagavantaṁ dassanāya, paṭisallīno bhagavā”ti.
Oṭṭhaddhopi licchavī tattheva ekamantaṁ nisīdi: “disvāva ahaṁ taṁ bhagavantaṁ gamissāmi arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
Oṭṭhaddha the Licchavi together with a large assembly of Licchavis also approached Nāgita at the hall with the peaked roof. He bowed, stood to one side, and said to Nāgita, “Honorable Nāgita, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha? For we want to see him.”
“It’s the wrong time to see the Buddha; he is on retreat.”
So right there Oṭṭhaddha also sat down to one side, thinking, “I’ll go only after I’ve seen the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha.”
361. Và Oṭṭhaddha người Licchavī, cùng với đông đảo đoàn tùy tùng Licchavī, đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường, đến chỗ Tôn giả Nāgita; sau khi đến, ông đảnh lễ Tôn giả Nāgita rồi đứng một bên. Đứng một bên, Oṭṭhaddha người Licchavī nói với Tôn giả Nāgita điều này: 'Thưa Tôn giả Nāgita, hiện nay vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy đang ở đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.' 'Này Mahāli, không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang độc cư.' Oṭṭhaddha người Licchavī cũng ngồi xuống một bên ngay tại chỗ đó, với ý nghĩ: 'Tôi sẽ chỉ ra về sau khi đã yết kiến vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.'
Atha kho sīho samaṇuddeso yenāyasmā nāgito tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgitaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sīho samaṇuddeso āyasmantaṁ nāgitaṁ etadavoca: “ete, bhante kassapa, sambahulā kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā idhūpasaṅkantā bhagavantaṁ dassanāya; oṭṭhaddhopi licchavī mahatiyā licchavīparisāya saddhiṁ idhūpasaṅkanto bhagavantaṁ dassanāya, sādhu, bhante kassapa, labhataṁ esā janatā bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
Then the novice Sīha approached Nāgita. He bowed, stood to one side, and said to Nāgita, “Honorable Kassapa, these several brahmin emissaries from Kosala and Magadha, and also Oṭṭhaddha the Licchavi together with a large assembly of Licchavis, have come here to see the Buddha. It’d be good if these people got to see the Buddha.”
362. Bấy giờ, Sa-di Sīha đi đến chỗ Tôn giả Nāgita; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nāgita rồi đứng một bên. Đứng một bên, Sa-di Sīha nói với Tôn giả Nāgita điều này: 'Thưa Tôn giả Kassapa, có đông đảo các sứ giả Bà-la-môn người Kosala và người Māgadha này đã đến đây để yết kiến Thế Tôn; và Oṭṭhaddha người Licchavī cùng với đông đảo đoàn tùy tùng Licchavī cũng đã đến đây để yết kiến Thế Tôn. Lành thay, thưa Tôn giả Kassapa, mong rằng chúng dân này được phép yết kiến Thế Tôn.'
“Tena hi, sīha, tvaññeva bhagavato ārocehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sīho samaṇuddeso āyasmato nāgitassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sīho samaṇuddeso bhagavantaṁ etadavoca: “ete, bhante, sambahulā kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā idhūpasaṅkantā bhagavantaṁ dassanāya, oṭṭhaddhopi licchavī mahatiyā licchavīparisāya saddhiṁ idhūpasaṅkanto bhagavantaṁ dassanāya. Sādhu, bhante, labhataṁ esā janatā bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Tena hi, sīha, vihārapacchāyāyaṁ āsanaṁ paññapehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sīho samaṇuddeso bhagavato paṭissutvā vihārapacchāyāyaṁ āsanaṁ paññapesi.
“Well then, Sīha, tell the Buddha yourself.”
“Yes, sir,” replied Sīha. He went to the Buddha, bowed, stood to one side, and told him of the people waiting to see him, adding: “Sir, it’d be good if these people got to see the Buddha.”
“Well then, Sīha, spread out a seat in the shade of the dwelling.”
“Yes, sir,” replied Sīha, and he did so.
“Này Sīha, nếu vậy, chính ngươi hãy đi trình báo với đức Thế Tôn.” “Vâng, thưa Tôn giả.” Sa-di Sīha sau khi vâng lời Tôn giả Nāgita, đã đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, sa-di Sīha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch đức Thế Tôn, có rất nhiều sứ giả Bà-la-môn người xứ Kosala và sứ giả Bà-la-môn người xứ Māgadha đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Và Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đông đảo đoàn tùy tùng Licchavi cũng đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng chúng dân này được phép yết kiến đức Thế Tôn.” “Này Sīha, nếu vậy, ngươi hãy đi dọn chỗ ngồi trong bóng mát của tịnh xá.” “Vâng, bạch đức Thế Tôn.” Sa-di Sīha sau khi vâng lời đức Thế Tôn, đã dọn chỗ ngồi trong bóng mát của tịnh xá.
Atha kho bhagavā vihārā nikkhamma vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi. Atha kho te kosalakā ca brāhmaṇadūtā māgadhakā ca brāhmaṇadūtā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Oṭṭhaddhopi licchavī mahatiyā licchavīparisāya saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho oṭṭhaddho licchavī bhagavantaṁ etadavoca: “purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca:
Then the Buddha left his dwelling and sat in the shade of the dwelling on the seat spread out. Then the brahmin emissaries went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side.
Oṭṭhaddha the Licchavi together with a large assembly of Licchavis also went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Oṭṭhaddha said to the Buddha, “Sir, a few days ago Sunakkhatta the Licchavi came to me and said:
363. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được dọn sẵn trong bóng mát của tịnh xá. Bấy giờ, các sứ giả Bà-la-môn người xứ Kosala và các sứ giả Bà-la-môn người xứ Māgadha ấy đã đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đã cùng đức Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời chào mừng thân hữu đáng ghi nhớ, họ đã ngồi xuống một bên. Oṭṭhaddha người Licchavi cùng với đông đảo đoàn tùy tùng Licchavi cũng đã đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
364. Sau khi ngồi xuống một bên, Oṭṭhaddha người Licchavi đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch đức Thế Tôn, vào những ngày trước đây, Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã đến chỗ của con; sau khi đến, đã nói với con điều này: ‘Này Mahāli, kể từ khi tôi sống nương tựa vào đức Thế Tôn, thời gian không lâu, chỉ mới ba năm, tôi quả thật thấy được các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng tôi lại không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ.’ Bạch đức Thế Tôn, có phải Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ ấy trong khi chúng thật sự hiện hữu, hay là vì chúng không hiện hữu?”
Định được tu tập theo một chiều
“Santāneva kho, mahāli, sunakkhatto licchaviputto dibbāni saddāni nāssosi piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no asantānī”ti.
“Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena santāneva sunakkhatto licchaviputto dibbāni saddāni nāssosi piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no asantānī”ti?
“Such sounds really do exist, but Sunakkhatta cannot hear them.”
“What is the cause, sir, what is the reason why Sunakkhatta cannot hear them, even though they really do exist?”
365. “Này Mahāli, Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ ấy trong khi chúng thật sự hiện hữu, chứ không phải vì chúng không hiện hữu.” “Bạch đức Thế Tôn, vậy đâu là nhân, đâu là duyên, do nhân duyên nào mà Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ ấy trong khi chúng thật sự hiện hữu, chứ không phải vì chúng không hiện hữu?”
“Idha, mahāli, bhikkhuno puratthimāya disāya ekaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So puratthimāya disāya ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Puratthimāya disāya dibbāni rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no ca kho dibbāni saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno puratthimāya disāya ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
“Mahāli, take a mendicant who has developed immersion to the eastern quarter in one aspect: so as to see heavenly sights but not to hear heavenly sounds. When they have developed immersion for that purpose, they see heavenly sights but don’t hear heavenly sounds. Why is that? Because that is how it is for a mendicant who develops immersion in that way.
366. “Này Mahāli, ở đây, vị tỳ khưu tu tập định theo một chiều về phương đông để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Vị ấy, với định được tu tập theo một chiều về phương đông để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, vị ấy thấy được các sắc cảnh cõi trời ở phương đông khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, là do vị tỳ khưu ấy đã tu tập định theo một chiều về phương đông để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ.”
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhuno dakkhiṇāya disāya …pe… pacchimāya disāya … uttarāya disāya … uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Uddhamadho tiriyaṁ dibbāni rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no ca kho dibbāni saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who has developed immersion to the southern quarter in one aspect … western quarter … northern quarter … above, below, across … That is how it is for a mendicant who develops immersion in that way.
367. “Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu tu tập định theo một chiều về phương nam... về phương tây... về phương bắc... về phương trên, phương dưới, phương ngang để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Vị ấy, với định được tu tập theo một chiều về phương trên, phương dưới, phương ngang để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, vị ấy thấy được các sắc cảnh cõi trời ở phương trên, phương dưới, phương ngang khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không nghe được các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, là do vị tỳ khưu ấy đã tu tập định theo một chiều về phương trên, phương dưới, phương ngang để thấy các sắc cảnh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ, nhưng lại không tu tập để nghe các âm thanh cõi trời khả ái, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ.”
Idha, mahāli, bhikkhuno puratthimāya disāya ekaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So puratthimāya disāya ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Puratthimāya disāya dibbāni saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no ca kho dibbāni rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno puratthimāya disāya ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Take a mendicant who has developed immersion to the eastern quarter in one aspect: so as to hear heavenly sounds but not to see heavenly sights. When they have developed immersion for that purpose, they hear heavenly sounds but don’t see heavenly sights. Why is that? Because that is how it is for a mendicant who develops immersion in that way.
368. “Này Mahāli, ở đây, vị tỳ khưu tu tập định theo một chiều hướng ở phương đông là để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vị ấy, với định được tu tập theo một chiều hướng ở phương đông để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, vị ấy nghe được các âm thanh của chư thiên ở phương đông, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không thấy được các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, vì vị tỳ khưu đã tu tập định theo một chiều hướng ở phương đông để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái.”
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhuno dakkhiṇāya disāya …pe… pacchimāya disāya … uttarāya disāya … uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Uddhamadho tiriyaṁ dibbāni saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no ca kho dibbāni rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno uddhamadho tiriyaṁ ekaṁsabhāvite samādhimhi dibbānaṁ saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, no ca kho dibbānaṁ rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Furthermore, take a mendicant who has developed immersion to the southern quarter in one aspect … western quarter … northern quarter … above, below, across … That is how it is for a mendicant who develops immersion in that way.
369. “Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu tu tập định theo một chiều hướng ở phương nam... (như trên)... ở phương tây... ở phương bắc... ở trên, dưới, ngang là để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vị ấy, với định được tu tập theo một chiều hướng ở trên, dưới, ngang để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, vị ấy nghe được các âm thanh của chư thiên ở trên, dưới, ngang, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không thấy được các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, vì vị tỳ khưu đã tu tập định theo một chiều hướng ở trên, dưới, ngang để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, chứ không phải để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái.”
Idha, mahāli, bhikkhuno puratthimāya disāya ubhayaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So puratthimāya disāya ubhayaṁsabhāvite samādhimhi dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Puratthimāya disāya dibbāni ca rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, dibbāni ca saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno puratthimāya disāya ubhayaṁsabhāvite samādhimhi dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Take a mendicant who has developed immersion to the eastern quarter in both aspects: so as to hear heavenly sounds and see heavenly sights. When they have developed immersion for that purpose, they see heavenly sights and hear heavenly sounds. Why is that? Because that is how it is for a mendicant who develops immersion in that way.
370. “Này Mahāli, ở đây, vị tỳ khưu tu tập định theo hai chiều hướng ở phương đông là để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vị ấy, với định được tu tập theo hai chiều hướng ở phương đông để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, vị ấy thấy được các sắc của chư thiên ở phương đông, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và nghe được các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, vì vị tỳ khưu đã tu tập định theo hai chiều hướng ở phương đông để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái.”
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhuno dakkhiṇāya disāya …pe… pacchimāya disāya … uttarāya disāya … uddhamadho tiriyaṁ ubhayaṁsabhāvito samādhi hoti dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. So uddhamadho tiriyaṁ ubhayaṁsabhāvite samādhimhi dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Uddhamadho tiriyaṁ dibbāni ca rūpāni passati piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, dibbāni ca saddāni suṇāti piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, mahāli, hoti bhikkhuno uddhamadho tiriyaṁ ubhayaṁsabhāvite samādhimhi dibbānañca rūpānaṁ dassanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ, dibbānañca saddānaṁ savanāya piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ. Ayaṁ kho, mahāli, hetu ayaṁ paccayo, yena santāneva sunakkhatto licchaviputto dibbāni saddāni nāssosi piyarūpāni kāmūpasaṁhitāni rajanīyāni, no asantānī”ti.
Furthermore, take a mendicant who has developed immersion to the southern quarter in both aspects … western quarter … northern quarter … above, below, across … That is how it is for a mendicant who develops immersion in that way. This is the cause, Mahāli, this is the reason why Sunakkhatta cannot hear heavenly sounds that are pleasant, sensual, and arousing, even though they really do exist.”
371. “Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu tu tập định theo hai chiều hướng ở phương nam... (như trên)... ở phương tây... ở phương bắc... ở trên, dưới, ngang là để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vị ấy, với định được tu tập theo hai chiều hướng ở trên, dưới, ngang để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, vị ấy thấy được các sắc của chư thiên ở trên, dưới, ngang, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và nghe được các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Vì sao vậy? Này Mahāli, sự việc là như vậy, vì vị tỳ khưu đã tu tập định theo hai chiều hướng ở trên, dưới, ngang để thấy các sắc của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, và để nghe các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái. Này Mahāli, đây chính là nguyên nhân, đây chính là duyên, do đó mà Sunakkhatta, con trai của Licchavi, đã không nghe được các âm thanh của chư thiên, khả ái, liên quan đến dục, làm phát sinh tham ái, trong khi chúng đang hiện hữu, chứ không phải là chúng không hiện hữu.”
“Etāsaṁ nūna, bhante, samādhibhāvanānaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ carantī”ti.
“Na kho, mahāli, etāsaṁ samādhibhāvanānaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti. Atthi kho, mahāli, aññeva dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca, yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ carantī”ti.
“Surely the mendicants must lead the spiritual life under the Buddha for the sake of realizing such a development of immersion?”
“No, Mahāli, the mendicants don’t lead the spiritual life under me for the sake of realizing such a development of immersion. There are other things that are finer, for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.”
372. “Bạch Thế Tôn, có phải vì mục đích chứng ngộ các pháp tu tập định này mà các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn không?” “Này Mahāli, không phải vì mục đích chứng ngộ các pháp tu tập định này mà các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta. Này Mahāli, còn có những pháp khác, cao thượng hơn và vi diệu hơn, vì mục đích chứng ngộ các pháp ấy mà các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.”
Bốn Thánh Quả
“Katame pana te, bhante, dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca, yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ carantī”ti?
“Idha, mahāli, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo. Ayampi kho, mahāli, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca, yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
“But sir, what are those finer things?”
“Firstly, Mahāli, with the ending of three fetters a mendicant is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. This is one of the finer things for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.
373. "Bạch ngài, vậy những pháp nào là cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ chúng, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?" "Này Mahāli, ở đây, vị tỳ khưu do đoạn trừ ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này Mahāli, đây cũng là một pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ pháp ấy, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti. Ayampi kho, mahāli, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca, yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
Furthermore, a mendicant—with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion—is a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This too is one of the finer things.
"Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu do đoạn trừ ba kiết sử, do làm muội lược tham, sân, si, trở thành bậc Nhất lai, chỉ trở lại thế gian này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau. Này Mahāli, đây cũng là một pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ pháp ấy, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī, anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, mahāli, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca, yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
Furthermore, with the ending of the five lower fetters, a mendicant is reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world. This too is one of the finer things.
"Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu do đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa. Này Mahāli, đây cũng là một pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ pháp ấy, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta.
Puna caparaṁ, mahāli, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayampi kho, mahāli, dhammo uttaritaro ca paṇītataro ca, yassa sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ caranti.
Ime kho te, mahāli, dhammā uttaritarā ca paṇītatarā ca, yesaṁ sacchikiriyāhetu bhikkhū mayi brahmacariyaṁ carantī”ti.
Furthermore, a mendicant has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This too is one of the finer things.
These are the finer things, for the sake of which the mendicants lead the spiritual life under me.”
"Lại nữa, này Mahāli, vị tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Mahāli, đây cũng là một pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ pháp ấy, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta. Này Mahāli, đây chính là những pháp cao thượng hơn, vi diệu hơn, mà vì để chứng ngộ chúng, các vị tỳ khưu sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của ta."
Thánh đạo Tám ngành
“Atthi pana, bhante, maggo atthi paṭipadā etesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāyā”ti?
“Atthi kho, mahāli, maggo atthi paṭipadā etesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāyā”ti.
“But, sir, is there a path and a practice for realizing these things?”
“There is, Mahāli.”
374. "Bạch ngài, có con đường nào, có pháp hành nào để chứng ngộ những pháp ấy không?" "Này Mahāli, có con đường, có pháp hành để chứng ngộ những pháp ấy."
“Katamo pana, bhante, maggo katamā paṭipadā etesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāyā”ti?
“Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṁ kho, mahāli, maggo ayaṁ paṭipadā etesaṁ dhammānaṁ sacchikiriyāya.
“Well, what is it?”
“It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is the path and the practice for realizing these things.
375. "Bạch ngài, con đường ấy là gì, pháp hành ấy là gì để chứng ngộ những pháp ấy?" "Chính là Thánh đạo Tám ngành này. Tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Mahāli, đây chính là con đường, đây chính là pháp hành để chứng ngộ những pháp ấy.
Câu chuyện về hai vị xuất gia
Ekamidāhaṁ, mahāli, samayaṁ kosambiyaṁ viharāmi ghositārāme. Atha kho dve pabbajitā—muṇḍiyo ca paribbājako jāliyo ca dārupattikantevāsī yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu. upasaṅkamitvā mayā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho te dve pabbajitā maṁ etadavocuṁ: ‘kiṁ nu kho, āvuso gotama, taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ, udāhu aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti?
This one time, Mahāli, I was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then two renunciates—the wanderer Muṇḍiya and Jāliya, the pupil of the wood-bowl ascetic—came and exchanged greetings with me. When the greetings and polite conversation were over, they stood to one side and said to me: ‘Reverend Gotama, are the soul and the body one and the same, or is the soul one thing, the body another?’
376. "Này Mahāli, một thời ta ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Bấy giờ có hai vị xuất gia – du sĩ Muṇḍiya và Jāliya, đệ tử của Dārupattika – đi đến chỗ ta. Sau khi đến, họ cùng ta trao đổi lời chào hỏi thân tình. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, họ đứng sang một bên. Đứng một bên, hai vị xuất gia ấy hỏi ta rằng: 'Thưa hiền giả Gotama, có phải sinh mạng chính là thân thể, hay sinh mạng là khác, thân thể là khác?'"
‘Tena hāvuso, suṇātha sādhukaṁ manasi karotha bhāsissāmī’ti.
‘Evamāvuso’ti kho te dve pabbajitā mama paccassosuṁ.
Ahaṁ etadavocaṁ: ‘idhāvuso tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu sīlasampanno hoti.
…pe… Paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Yo kho, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ nu kho tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti?
Yo so, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti.
Ahaṁ kho panetaṁ, āvuso, evaṁ jānāmi evaṁ passāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā …pe…
dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Yo kho, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ nu kho tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti?
Yo so, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti.
Ahaṁ kho panetaṁ, āvuso, evaṁ jānāmi evaṁ passāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā …pe…
ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti … yo kho, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ nu kho tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti? …pe…
‘Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.’
‘Yes, reverend,’ they replied.
I said this: ‘Take the case when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. …
They enter and remain in the first absorption. When a mendicant knows and sees like this, would it be appropriate to say of them: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”?’
‘It would, reverend.’
‘But reverends, I know and see like this. Nevertheless, I do not say: “The soul and the body are one and the same” or “The soul and the body are different things”. …
They enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. When a mendicant knows and sees like this, would it be appropriate to say of them: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”?’
‘It would, reverend.’
‘But reverends, I know and see like this. Nevertheless, I do not say: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”. …
They project and extend the mind toward knowledge and vision … When a mendicant knows and sees like this, would it be appropriate to say of them: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”?’
377. “‘Này các hiền hữu, vậy thì hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.’ ‘Thưa hiền hữu, vâng ạ.’ Hai vị xuất gia ấy đã vâng đáp Ta như vậy. Ta đã nói điều này: ‘Này các hiền hữu, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (nên được trình bày chi tiết như trong các đoạn 190-212)... Này các hiền hữu, như vậy vị tỳ khưu là người có giới hạnh đầy đủ... (tóm tắt)... chứng và trú thiền thứ nhất. Này các hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’ chăng?’ ‘Thưa hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, là thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.’ ‘Này các hiền hữu, còn Ta, Ta biết như vậy, Ta thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (tóm tắt)... thiền thứ hai... (tóm tắt)... thiền thứ ba... (tóm tắt)... chứng và trú thiền thứ tư. Này các hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’ chăng?’ ‘Thưa hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, là thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.’ ‘Này các hiền hữu, còn Ta, Ta biết như vậy, Ta thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (tóm tắt)... hướng tâm, dẫn tâm đến trí và kiến... (tóm tắt)... Này các hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’ chăng?’ ‘Thưa hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, là thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.’ ‘Này các hiền hữu, còn Ta, Ta biết như vậy, Ta thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (tóm tắt)... vị ấy tuệ tri: ‘... không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này các hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, có thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’ chăng?’ ‘Thưa hiền hữu, đối với vị tỳ khưu biết như vậy, thấy như vậy, là không thích hợp để nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.’ ‘Này các hiền hữu, còn Ta, Ta biết như vậy, Ta thấy như vậy. Tuy nhiên, Ta không nói rằng: ‘sinh mạng tức là thân thể’ hay ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.’” Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Oṭṭhaddha người Licchavi hoan hỷ, tín thọ lời Đức Thế Tôn đã dạy.
Yo so, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti.
Ahaṁ kho panetaṁ, āvuso, evaṁ jānāmi evaṁ passāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā. …pe…
‘It would, reverend.’
‘But reverends, I know and see like this. Nevertheless, I do not say: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”. …
379. “Này chư hiền, vậy thì hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” “Thưa vâng, hiền giả.” Hai vị du sĩ ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này: “Này chư hiền, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (nên được triển khai như trong các đoạn 190-212)... Này chư hiền, như vậy, vị tỳ khưu có giới đầy đủ... (lược)... chứng và trú thiền thứ nhất. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này có thích hợp chăng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’? Này hiền giả, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này là thích hợp: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’. Này chư hiền, quả thật ta biết điều này như vậy, thấy điều này như vậy. Tuy nhiên, ta không nói rằng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (lược)... thiền thứ hai... (lược)... thiền thứ ba... (lược)... chứng và trú thiền thứ tư. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này có thích hợp chăng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’? Này hiền giả, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này là thích hợp: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’. Này chư hiền, quả thật ta biết điều này như vậy, thấy điều này như vậy. Tuy nhiên, ta không nói rằng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (lược)... hướng tâm, dẫn tâm đến trí kiến... (lược)... Này chư hiền, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này có thích hợp chăng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’? Này hiền giả, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này là thích hợp: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’. Này chư hiền, quả thật ta biết điều này như vậy, thấy điều này như vậy. Tuy nhiên, ta không nói rằng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’... (lược)...”
Nāparaṁ itthattāyāti pajānāti. Yo kho, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati, kallaṁ nu kho tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti?
Yo so, āvuso, bhikkhu evaṁ jānāti evaṁ passati na kallaṁ tassetaṁ vacanāya: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vāti.
Ahaṁ kho panetaṁ, āvuso, evaṁ jānāmi evaṁ passāmi. Atha ca panāhaṁ na vadāmi: ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamano oṭṭhaddho licchavī bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
They understand: “… there is nothing further for this place.” When a mendicant knows and sees like this, would it be appropriate to say of them: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”?’
‘It would not, reverend.’
‘But reverends, I know and see like this. Nevertheless, I do not say: “The soul and the body are one and the same” or “The soul is one thing, the body another”.’”
That is what the Buddha said. Satisfied, Oṭṭhaddha the Licchavi approved what the Buddha said.
380. …(lược)… vị ấy biết rõ: ‘không còn một trạng thái nào khác sau đời này nữa’. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này có thích hợp chăng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’? Này hiền giả, vị tỳ khưu nào biết như vậy, thấy như vậy, đối với vị ấy, lời nói này là không thích hợp: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’. Này chư hiền, quả thật ta biết điều này như vậy, thấy điều này như vậy. Tuy nhiên, ta không nói rằng: ‘sinh mạng chính là thân thể’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’.” Thế Tôn đã nói như vậy. Hai vị du sĩ ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Mahālisuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Jāliya, kinh thứ bảy, chấm dứt.