- Dīgha Nikāya 5
Bản dịch
DN 5 — Kinh Kūṭadanta
Kūṭadantasutta
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là Khānumata (Khứ—nậu-bà-đế). Và tại đây, đức Thế Tôn trú tại vườn Ambalatthikà ở Khānumata. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kūṭadanta ở tại Khānumata, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Bimbisāra (Tần-bà-ta-la) vua nước Magadha cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp. Lúc bấy giờ, một đàn tế lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Kūṭadanta, bảy trăm con trâu đực, bảy trăm con nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu đã được dắt đến trụ tế lễ, cho đàn tế.
SC 2PTS cs 2 Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata được nghe: “Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Khānumata và trú tại vườn Ambalatthikà ở Khānumata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, … Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, và giới thiệu đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”. Rồi các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khānumata và đến tại Ambalatthikà.
SC 3PTS cs 3 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà-la-môn Kūṭadanta thấy các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khānumata và đến tại Ambalatthikà. Thấy vậy (Bà-la-môn Kūṭadanta) liền gọi người gác cửa
SC 4—Này người gác cửa, vì sao các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khānumata và đến tại Ambalatthikà?
SC 5- Tôn giả, có Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đến tại Khānumata, và tại đấy trú ở Ambalatthikà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama.
SC 6PTS cs 4 Bà-la-môn Kūṭadanta liền suy nghĩ như sau: “Ta nghe nói: “Sa-môn Gotama am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp”. Ta không biết ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp, và ta muốn cử hành lễ đại tế. Vậy ta hãy đến hỏi Sa-môn Gotama ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp”.
SC 7Rồi Bà-la-môn Kūṭadanta gọi người giữ cửa kia
SC 8—Này người giữ cửa, hãy đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata, khi đến nơi, hãy nói với những Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata như sau: “Bà-la-môn Kūṭadanta có nói: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi, Bà-la-môn Kūṭadanta sẽ thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama”.
- Dạ vâng.
SC 9Người gác cửa ấy vâng theo lời bảo của Bà-la-môn Kūṭadanta, đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata: “Bà-la-môn Kūṭadanta có nói như vầy: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi Bà-la-môn Kūṭadanta sẽ tự thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama”.
SC 10PTS cs 5 Lúc bấy giờ có khoảng vài trăm Bà-la-môn ở Khānumata với ý định: “Chúng tôi sẽ dự lễ Ðại tế đàn của Bà-la-môn Kūṭadanta”. Khi các vị Bà-la-môn này nghe: “Bà-la-môn Kūṭadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama”, những Bà-la-môn này đến Bà-la-môn Kūṭadanta, khi đến nơi liền nói với Bà-la-môn Kūṭadanta
SC 11—Có phải Tôn giả Kūṭadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama?
SC 12- Này các Hiền Giả, đó là ý định của ta, ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 13PTS cs 6 - Tôn giả Kūṭadanta chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho Tôn giả Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu Tôn giả Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, thì danh tiếng của Tôn giả Kūṭadanta bị hao tổn, danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng. Vì danh tiếng của Tôn giả Kūṭadanta bị hao tổn và danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kūṭadanta.
SC 14- Lại Tôn giả Kūṭadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì Tôn giả Kūṭadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sinh; do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kūṭadanta.
SC 15Lại Tôn giả Kūṭadanta là nhà giàu có, đại phú, sung túc …
SC 16Lại Tôn giả Kūṭadanta là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân.
SC 17Lại Tôn giả Kūṭadanta đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng.
SC 18Lại Tôn giả Kūṭadanta có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày.
SC 19Lại Tôn giả Kūṭadanta thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác.
SC 20Lại Tôn giả Kūṭadanta là bậc tôn sư trong các hàng tôn sư của nhiều người, dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn tụng đọc chú thuật, thanh niên Bà-la-môn từ nhiều phương, từ nhiều nước, thiết tha với chú thuật, đến với Tôn giả Kūṭadanta để học thuộc lòng các chú thuật.
SC 21Tôn giả Kūṭadanta niên cao lạp lớn, bậc lão thành, đến tuổi trưởng thượng, còn Sa-môn Gotama thì trẻ tuổi, xuất gia chưa được nhiều năm.
SC 22Tôn giả Kūṭadanta được vua Seniya Bimbisāra (Tần bà ta la) xứ Mangadha (Ma kiệt đà) kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
SC 23Tôn giả Kūṭadanta được Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
SC 24Tôn giả Kūṭadanta sống ở Khānumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha. Vì Tôn giả Kūṭadanta sống ở Khānumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kūṭadanta.
SC 25PTS cs 7 Nghe nói vậy, Bà-la-môn Kūṭadanta nói với những vị Bà-la-môn ấy
SC 26—Các Hiền giả, hãy nghe ta giải thích vì sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Này các Hiền giả, vì Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì điểm này, thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 27Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama xuất gia từ bỏ rất nhiều vàng bạc cả loại đang chôn dưới đất lẫn loại trên mặt đất.
SC 28Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama trong tuổi thanh niên tóc còn đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đã xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình.
SC 29Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama, dầu song thân không đồng ý, khóc than nước mắt thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 30Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng.
SC 31Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đức hạnh, gìn giữ giới của bậc thánh, có thiện đức, dạy đủ thiện đức.
SC 32Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác.
SC 33Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là bậc tôn sư các hàng tôn sư của nhiều người.
SC 34Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã diệt trừ tham dục, đã dứt bỏ mọi xao động của tâm.
SC 35Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn.
SC 36Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quý, từ dòng họ Sát-đế-lỵ thanh tịnh.
SC 37Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản sung mãn.
SC 38Này các Hiền giả, thật vậy, dân chúng băng ngàn vượt biển (băng qua nhiều địa phương, băng qua nhiều quốc độ) đến hỏi đạo Sa-môn Gotama.
SC 39Này các Hiền giả, thật vậy, có hàng ngàn thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama.
SC 40Này các Hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền bá đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
SC 41Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.
SC 42Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama nói lời chào đón, thân thiện, tao nhã, trang trọng, chân thực, thẳng thắn, lời nói có dẫn chứng.
SC 43Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.
SC 44Này các Hiền giả, rất nhiều thiên nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama.
SC 45Này các Hiền giả, thật vậy ở tại làng nào, thôn ấp nào, Sa-môn Gotama cư trú, tại làng ấy, tại thôn ấp ấy, các loài phi nhân không làm hại loài người.
SC 46Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là giáo hội chủ, giáo phái chủ, giáo phái sư, được tôn là tối thượng trong các giáo tổ.
SC 47Này các Hiền giả, danh tiếng của một số Sa-môn, Bà-la-môn dựa trên những bằng chứng không đâu, danh tiếng của Sa-môn Gotama dựa trên trí đức vô thượng của Ngài.
SC 48Này các Hiền giả, thật vậy, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha, cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, đại thần đều quy y Sa-môn Gotama.
SC 49Này các Hiền giả, thật vậy, vua Pasenadi nước Kosala cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.
SC 50Này các Hiền giả, thật vậy, Bà-la-môn Pokkharasāti cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.
SC 51Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Seniya Bimbisāra nước Magadha kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
SC 52Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Pasenadi nước Kosala kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
SC 53Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.
SC 54Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã đến Khānumata và đang ở tại Ambalatthikà. Những Sa-môn, những Bà-la-môn nào đến ruộng làng chúng ta đều là khách của chúng ta. Ðối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
SC 55Này các Hiền giả, nay Gotama đã đến Khānumata đang ở tại Ambalatthikà, như vậy Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và đã là khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm, mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả Gotama có đến vô lượng ưu điểm.
SC 56PTS cs 8 Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn ấy nói với Bà-la-môn Kūṭadanta
SC 57—Tôn giả Kūṭadanta đã tán thán Sa-môn Gotama như vậy, dầu cho ai ở xa Tôn giả Gotama đến một trăm do tuần cũng đủ cho người ấy cùng gia tộc đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, dầu phải đem theo lương thực. Vì vậy tất cả chúng tôi sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 58Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kūṭadanta cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Ambalatthikà, đến tại chỗ đức Thế Tôn ở, khi đi đến, liền nói lời thân ái, chào đón, chúc tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Khānumata, có người đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói lời thân ái chào đón, chúc tụng với Sa-môn Gotama, rồi ngồi xuống một bên, có người chấp tay vái chào Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên, có người yên lặng ngồi xuống một bên.
SC 59PTS cs 9 Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kūṭadanta bạch đức Thế Tôn
SC 60—Tôn giả Gotama, tôi được nghe như sau: “Sa-môn am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật”. Tôi không biết đến ba tế tự và mười sáu tế vật và tôi muốn cử hành đại tế tự. Tốt đẹp thay nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật.
SC 61- Này Bà-la-môn, vậy người hãy nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói
—Dạ vâng.
SC 62Bà-la-môn Kūṭadanta trả lời đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn thuyết như sau
SC 63PTS cs 10—Này Bà-la-môn, thuở xưa có vị vua tên là Mahāvijita, giàu có, đại phú, tài sản sung mãn, có nhiều vàng bạc, có nhiều vật dụng, có nhiều tài vật ngũ cốc, kho tàng sung mãn. Này Bà-la-môn, một hôm trong khi vua Mahāvijita đang ngồi yên lặng tại một tịnh xứ, sự suy tư sau đây được khởi lên: “Ta nay đặng vô lượng tài sản thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hãy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ hưởng được hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Này Bà-la-môn, vua Mahāvijita liền cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: “Này Bà-la-môn, trong khi ta đang ngồi yên lặng tại một tinh xứ, sự suy tư sau đây khởi lên: “Ta nay đặng vô lượng tài bảo thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hãy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?”
SC 64PTS cs 11 Này Bà-la-môn, khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahāvijita như sau: “Ðại vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng, đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy Tôn vương có ý nghĩ: “Ta hãy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử hình, hoặc bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất”. Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn còn lại không bị hình phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu theo phương pháp sau đây bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng”. “Vâng, Tôn giả”.
SC 65- Này Bà-la-môn, vua Mahāvijita vâng theo lời khuyên của vị Bà-la-môn chủ tế: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương Mahāvijita cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương Mahāvijita cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương Mahāvijita cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm về nghề của mình không còn nhiễu hại quốc độ nhà vua; ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp không có tai ương ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng.
SC 66PTS cs 12 Rồi này Bà-la-môn, vua Mahāvijita cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: “Này khanh, ta đã trừ diệt bọn giặc cỏ nhờ áp dụng phương pháp này, ngân quỹ của ta được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương ách nạn, và dân chúng hoan hỷ, vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng. Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?”: “Vậy Tôn vương hãy cho mời tất cả những vị Sát-đế-lỵ trong quốc độ nhà vua cùng với các chư hầu cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành và nói: “Này các khanh, ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. Ðối với tất cả những đại thần trong quốc độ nhà vua, cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành … tất cả những gia chủ phú hào cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, Tôn vương hãy mời những vị ấy và nói: “Này các khanh, Ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng an lạc hạnh phúc lâu dài”.
SC 67Này Bà-la-môn, vua Mahāvijita nghe theo vị Bà-la-môn chủ tế cho mời tất cả những vị Sát-đế-lỵ trong quốc độ nhà vua cùng với các chư hầu cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành và nói: “Này các khanh, ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. “Tôn vương hãy tổ chức tế đàn. Ðại vương, tế đàn này là hợp thời”.
SC 68Ðối với tất cả những đại thần trong quốc độ nhà vua cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành … tất cả những vị Bà-la-môn và đại gia chủ cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành … tất cả những gia chủ phú hào cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, vua Mahāvijita mời những vị ấy và nói: “Này các khanh ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày”. “Ðại vương hãy tổ chức tế đàn, Ðại vương, tế đàn này là hợp thời”.
SC 69Như vậy bốn đại chúng đã thừa nhận tế đàn trở thành những yếu kiện cho lễ tế đàn này.
SC 70PTS cs 13 Vua Mahāvijita có tám đức tánh sau đây: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Ðẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản, đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy sản nghiệp, ngũ cốc, thương khố sung mãn. Có uy lực, đầy đủ bốn loại quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh (của mình). Một vị có tín tâm, có từ tâm, một thí chủ, cửa nhà mở rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn bần cùng nghèo khó, khất sĩ, một vị làm các công đức. Một vị bác học trong mọi vấn đề. Thông hiểu ý nghĩa của lời nói: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩ của lời nói này”. Một nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt và có thể suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại. Vua Mahāvijita có đầy đủ tám đặc tánh này. Chính tám đặc tánh này làm những yếu kiện cho tế đàn ấy.
SC 71PTS cs 14 Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy đủ bốn đức tánh: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào, về vấn đề huyết thống thọ sanh—là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân, có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày—một vị bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy đủ bốn đức tánh này, chính bốn đức tánh này làm những yếu kiện cho tế đàn ấy.
SC 72PTS cs 15 Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahāvijita: “Trước khi muốn làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của ta sẽ bị tiêu hao”, Tôn vương không nên có sự hối tiếc này. Trong khi đang làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của ta bị tiêu hao”. Tôn vương không nên có sự hối tiếc này. Khi đã làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: “Thật vậy, một phần lớn tài sản của Ta bị tiêu hao”. Tôn vương không nên có sự hối tiếc này”.
SC 73Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahāvijita.
SC 74PTS cs 16 Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước lễ tế đàn để ngăn chặn sự hối tiếc theo mười cách có thể khởi lên đối với người tham dự (lễ tế đàn) đã nói với vua Mahāvijita: “Tôn vương, có những người sát sanh đến tại lễ tế đàn và có những người không sát sanh. Ở đây, đối với những người sát sanh, hãy để cho chúng yên. Ở đây, đối với những người không sát sanh, hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm của chúng được an vui hoan hỷ. Tôn vương, có những người lấy của không cho đến tại lễ tế đàn và có những người không lấy của không cho … có những người tà dâm và có những người không tà dâm, có những người nói láo và có những người không nói láo, có những người nói hai lưỡi, và có những người không nói hai lưỡi, có những người nói lời độc ác và có những người không nói lời độc ác, có những người nói lời phù phiếm và có những người không nói lời phù phiếm, có những người có lòng tham và có những người không có lòng tham, có những người có lòng sân và có những người không có lòng sân, có những người có tà kiến và có những người có chánh kiến. Ở đây, đối với những người có tà kiến hãy để chúng yên. Ðối với những người có chánh kiến, hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm của chúng được an vui, hoan hỷ”.
SC 75Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế trước lễ tế đàn đã ngăn chận sự hối tiếc theo mười cách có thể khởi lên đối với những người tham dự (lễ tế đàn).
SC 76PTS cs 17 Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế khi vua đang làm lễ tế đàn, đã khuyên giáo, tưởng lệ, … kích thích và làm tâm (của vua) hoan hỷ với mười sáu phương pháp: “Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn nhưng không mời các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành; Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành. Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không mời các vị đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành … Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành … cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành. Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành; Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức lễ tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn nhưng không đẹp trai khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng … không phải là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản, đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy sản nghiệp ngũ cốc, thương khố sung mãn … không có uy lực, đầy đủ bốn loại quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh của mình … không có tín tâm, không có từ tâm, không phải một thí chủ, cửa nhà mở rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn, bần cùng, nghèo khó, khất sĩ, một vị làm các công đức … không phải là vị bác học trong mọi vấn đề … không thông hiểu ý nghĩa của lời nói: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này … không phải là nhà bác học tinh luyện, sáng suốt và có thể suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại … Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Tôn vương là nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt, và có thể suy tư về vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại … Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ”. Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói: “Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy. “Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh”. Do vậy, Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ” … Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn … Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không phải là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân … Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không có đức hạnh, không có đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày … Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không phải vị bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai, Tôn vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy”. Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua là nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Do vậy Tôn vương nên biết: “Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui hoan hỷ”.
SC 77Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ tế, khi vua đang làm lễ tế đàn đã khuyến giáo, tưởng lệ, kích thích và làm tâm (của vua) được hoan hỷ bằng mười sáu phương pháp.
SC 78PTS cs 18 Này Bà-la-môn, trong lễ tế đàn này, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sinh vật nào khác vị sát thương, không có cây cối bị chặt để làm trụ cột tế lễ, không có loại cỏ dabba (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh đàn tế. Và những người gia bộc hay … người đem tin hay những người làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng làm những gì chúng muốn. Tế đàn nay được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.
SC 79PTS cs 19 Này Bà-la-môn, các Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành, các Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đem theo nhiều tiền bạc của cải đến Mahāvijita và thưa: “Ðại vương, tiền bạc của cải rất nhiều này được đem đến để Ðại vương dùng, Ðại vương hãy lấy dùng”. “Này các khanh, tiền bạc của cải rất nhiều được súc tích một cách chính đáng này đối với ta đã vừa đủ. Các khanh hãy giữ các của cải ấy cho các khanh; các khanh có thể đem theo nhiều hơn thế nữa!”.
SC 80Các vị bị vua từ khước như vậy đứng qua một bên và bàn luận như sau: “Tài sản này của chúng ta, nếu chúng ta đem về nhà lại, thật không phải. Vua Mahāvijita tổ chức đại tế đàn. Chúng ta hãy tổ chức một hậu tế đàn”.
SC 81PTS cs 20 Này Bà-la-môn, khi các vị Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Ðông hố tế đàn; các đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Nam hố tế đàn; các Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Tây hố tế đàn; các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Bắc hố tế đàn. Này Bà-la-môn, trong tế đàn của những vị này cũng vậy, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có loại sinh vật nào khác bị sát thương, không có cây cối bị chặt để làm cột trụ tế lễ, không có loại cỏ dabba (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh đàn tế. Và những người gia bộc hay những người đưa tin, hay những người làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng không muốn thì chúng không làm, chúng làm những gì chúng muốn, chúng không làm những gì chúng không muốn. Những tế đàn này được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.
SC 82Như vậy là bốn sự chấp thuận, vua Mahāvijita thành tựu tám pháp, Bà-la-môn chủ tế thành tựu bốn pháp và cả ba tế pháp. Này Bà-la-môn như vậy gọi là ba tế pháp và mười sáu tế vật.
SC 83PTS cs 21 Khi nghe nói như vậy những Bà-la-môn ấy la to hét lớn: “Cao quý thay lễ tế đàn, vẻ vang thay sự thành tựu của lễ tế đàn!”. Nhưng Bà-la-môn Kūṭadanta ngồi yên lặng. Các vị Bà-la-môn ấy hỏi Bà-la-môn Kūṭadanta: “Vì sao Tôn giả Kūṭadanta không tán thánh là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama?”: “Không phải ta không tán thán là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama. Nếu ai không tán thán là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama thì đầu người ấy sẽ bị tan nát. Nhưng ta hiện đang suy nghĩ: Sa-môn Gotama không nói: “Như vậy ta nghe” hay “Như vậy đáng phải là thế”. Nhưng ngài chỉ nói: “Khi sự việc xảy ra như vậy?”. “Khi ấy sự việc xảy ra như thế”. Và ta nghĩ: Chắc chắn lúc bấy giờ, Sa-môn Gotama là vua Mahāvijita chủ nhân của lễ tế đàn, hay là vị Bà-la-môn chủ tế lễ tế đàn”. Tôn giả Gotama có công nhận là mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế đàn và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú cõi trời, ở đời này?”
SC 84Này Bà-la-môn, ta công nhận tự mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế đàn, và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú, cõi trời ở đời này. Lúc bấy giờ ta là vị Bà-la-môn chủ tế đã đứng ra chủ lễ tế đàn này.
SC 85PTS cs 22 - Này Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
SC 86- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
SC 87- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
SC 88- Này Bà-la-môn, chính là những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức. Tế đàn ấy, này Bà-la-môn ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
SC 89PTS cs 23 Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, tế đàn ấy lại ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn, tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
SC 90- Này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán không đi đến tế đàn như vậy. Vì cớ sao?
SC 91Này Bà-la-môn, vì tại đấy có thấy những sự đánh đập bằng roi gậy, có những sự túm cổ lôi kéo. Do vậy các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán không đi đến tế đàn như vậy. Những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán đi đến những tế đàn như vậy. Vì cớ sao? Này Bà-la-môn vì tại đấy không thấy những sự đánh đập bằng roi gậy, không có những sự tóm cổ lôi kéo. Do vậy các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán đi đến tế đàn như vậy. Này Bà-la-môn, do nhân ấy, do duyên ấy, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
SC 92PTS cs 24 - Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên những tế đàn thuận lợi này?
SC 93- Này Bà-la-môn có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.
SC 94- Này Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này?
SC 95- Này Bà-la-môn, chính là sự xây dựng tinh xá cho bốn phương Tăng. Tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.
SC 96PTS cs 25 Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?
SC 97- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.
SC 98- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?
SC 99- Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, này Bà-la-môn, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, đàn thí thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.
SC 100PTS cs 26 Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này?
SC 101- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.
SC 102- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật ấy, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y ấy?
SC 103- Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành thọ trì những giới luật không sát sanh, không thâu đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.
SC 104Này Bà-la-môn tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.
SC 105PTS cs 27 - Này Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y và những giới luật này?
SC 106- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y, những giới luật này.
SC 107- Tôn giả Gotama, tế đàn ấy là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá, những sự quy y và những giới luật này?
SC 108- Này Bà-la-môn, ở đây đức Như Lai sanh ra đời, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác … [tương tự như kinh "Sa-môn quả", đoạn kinh 40–98]. Như vậy, này Bà-la-môn, vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh.
SC 109… chứng và an trú sơ thiền. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước.
SC 110… nhị thiền … tam thiền … chứng và an trú tứ thiền. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước …. không còn một đời sống khác. Vị ấy biết như vậy. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước. Này Bà-la-môn, không có một lễ tế đàn nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn lễ tế đàn này.
SC 111PTS cs 28 Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Kūṭadanta thưa với đức Thế Tôn
SC 112—Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng Tôn giả Gotama, con xin trả tự do và sự sống cho bảy trăm con bò đực, bảy trăm con bò cái, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu. Mong chúng được ăn cỏ xanh và uống nước mát, mong chúng được hưởng gió mát.
SC 113PTS cs 29 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Kūṭadanta như là thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Kùtadanda đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính chỗ ngồi này pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Kūṭadanta: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”.
SC 114PTS cs 30 Khi ấy Bà-la-môn Kūṭadanta thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch đức Thế Tôn: “Mong Tôn giả Gotama ngày mai cùng chúng Tỷ-kheo nhận lời mời đến dùng cơm do con mời”.
SC 115Ðức Thế Tôn im lặng nhận lời. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kūṭadanta được biết đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thân phía hữu hướng về đức Phật và từ biệt … Rồi Bà-la-môn Kūṭadanta khi đêm vừa tàn, liền làm cho sẵn sàng tại nhà các món thượng vị loại cứng và loại mềm, rồi báo thì giờ cho đức Thế Tôn: “Giờ đã đến, Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng”.
SC 116Khi ấy đức Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Kūṭadanta, khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã được soạn sẵn. Bà-la-môn Kūṭadanta tự tay làm cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn với những món thượng vị, loại cứng và loại mềm. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kūṭadanta, sau khi được biết đức Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi Bà-la-môn Kūṭadanta ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn với một thời thuyết pháp giảng dạy, khích lệ, kích thích và làm cho Bà-la-môn Kūṭadanta hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–04–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 5
With Kūṭadanta
5. Kinh Kūṭadanta
1. Khāṇumatakabrāhmaṇagahapatikā
Evaṁ me sutaṁ—
1. The Brahmins and Householders of Khāṇumata
So I have heard.
Các Bà la môn và gia chủ ở Khāṇumata
Tena kho pana samayena kūṭadanto brāhmaṇo khāṇumataṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ. Tena kho pana samayena kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyañño upakkhaṭo hoti. Satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya.
Now at that time the brahmin Kūṭadanta was living in Khāṇumata. It was a crown property given by King Seniya Bimbisāra of Magadha, teeming with living creatures, full of hay, wood, water, and grain, a royal park endowed to a brahmin. Now at that time Kūṭadanta had prepared a great sacrifice. Bulls, bullocks, heifers, goats and rams—seven hundred of each—had been led to the post for the sacrifice.
323. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Magadha cùng với đại chúng Tỳ khưu, khoảng năm trăm vị, rồi đi đến một làng Bà la môn của người Magadha tên là Khāṇumata. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Ambalaṭṭhikā, trong làng Khāṇumata. Bấy giờ, Bà la môn Kūṭadanta đang cư ngụ tại Khāṇumata, một nơi đông đúc chúng sanh, có cỏ, củi, và nước, có nhiều lúa gạo, là tài sản của vua, một món quà của vua, một tặng phẩm cao quý do vua Bimbisāra xứ Magadha, thuộc dòng Seniya, ban cho. Và bấy giờ, một cuộc đại tế lễ đã được Bà la môn Kūṭadanta chuẩn bị. Bảy trăm con bò đực, bảy trăm con bò tơ đực, bảy trăm con bò tơ cái, bảy trăm con dê, và bảy trăm con cừu đã được dẫn đến cột tế lễ để làm vật hiến tế.
Assosuṁ kho khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito magadhesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi khāṇumataṁ anuppatto khāṇumate viharati ambalaṭṭhikāyaṁ. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
The brahmins and householders of Khāṇumata heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Khāṇumata and is staying at Ambalaṭṭhikā. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
324. Các Bà la môn và gia chủ ở Khāṇumata nghe như sau: “Này các bạn, nghe nói Sa môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, đang du hành ở xứ Magadha cùng với đại chúng Tỳ khưu, khoảng năm trăm vị, đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā ở Khāṇumata. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa môn, Bà la môn, cùng với loài người và chư Thiên. Ngài thuyết pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Thật tốt thay khi được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.”
Atha kho khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamanti.
Then, exiting Khāṇumata, they formed into companies and headed to Ambalaṭṭhikā.
325. Bấy giờ, các Bà la môn và gia chủ ở Khāṇumata, sau khi ra khỏi Khāṇumata, họ đi từng đoàn, từng nhóm, đến nơi có Ambalaṭṭhikā.
Tena kho pana samayena kūṭadanto brāhmaṇo uparipāsāde divāseyyaṁ upagato hoti. Addasā kho kūṭadanto brāhmaṇo khāṇumatake brāhmaṇagahapatike khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūte yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamante. Disvā khattaṁ āmantesi: “kiṁ nu kho, bho khatte, khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamantī”ti?
Now at that time the brahmin Kūṭadanta had retired to the upper floor of his stilt longhouse for his midday nap. He saw the brahmins and householders heading for Ambalaṭṭhikā, and addressed his butler, “My butler, why are the brahmins and householders headed for Ambalaṭṭhikā?”
326. Bấy giờ, Bà la môn Kūṭadanta đang nghỉ trưa trên lầu cao. Bà la môn Kūṭadanta thấy các Bà la môn và gia chủ ở Khāṇumata, sau khi ra khỏi Khāṇumata, đi từng đoàn, từng nhóm, đến nơi có Ambalaṭṭhikā. Thấy vậy, ông gọi người hầu và hỏi: “Này người hầu, tại sao các Bà la môn và gia chủ ở Khāṇumata, sau khi ra khỏi Khāṇumata, lại đi từng đoàn, từng nhóm, đến nơi có Ambalaṭṭhikā vậy?”
“Atthi kho, bho, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito magadhesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi khāṇumataṁ anuppatto, khāṇumate viharati ambalaṭṭhikāyaṁ. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Tamete bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamantī”ti.
“The ascetic Gotama has arrived at Khāṇumata and is staying at Ambalaṭṭhikā. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They’re going to see that worthy Gotama.”
327. ‘Thưa ngài, có Sa-môn Gotama, là một Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở xứ Magadha cùng với đại chúng Tỳ-khưu, với khoảng năm trăm vị Tỳ-khưu, đã đến làng Khāṇumata, và đang trú tại vườn xoài Ambalaṭṭhikā ở Khāṇumata. Tiếng đồn tốt đẹp về Tôn giả Gotama đã được lan truyền như sau: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Và những người này đang đến để yết kiến Tôn giả Gotama.’
Atha kho kūṭadantassa brāhmaṇassa etadahosi: “sutaṁ kho pana metaṁ: ‘samaṇo gotamo tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ jānātī’ti. Na kho panāhaṁ jānāmi tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ. Icchāmi cāhaṁ mahāyaññaṁ yajituṁ. Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ puccheyyan”ti.
Then Kūṭadanta thought, “I’ve heard that the ascetic Gotama knows how to accomplish the sacrifice with three modes and sixteen accessories. I don’t know about that, but I wish to perform a great sacrifice. Why don’t I ask him how to accomplish the sacrifice with three modes and sixteen accessories?”
328. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta đã khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta đã từng nghe rằng: “Sa-môn Gotama biết rõ về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và mười sáu vật dụng.” Nhưng ta lại không biết về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và mười sáu vật dụng. Và ta lại muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Vậy, ta nên đến gặp Sa-môn Gotama và hỏi về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và mười sáu vật dụng.’
Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo khattaṁ āmantesi: “tena hi, bho khatte, yena khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkama. upasaṅkamitvā khāṇumatake brāhmaṇagahapatike evaṁ vadehi: ‘kūṭadanto, bho, brāhmaṇo evamāha—āgamentu kira bhavanto, kūṭadantopi brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho so khattā kūṭadantassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā khāṇumatake brāhmaṇagahapatike etadavoca: “kūṭadanto, bho, brāhmaṇo evamāha: ‘āgamentu kira bhonto, kūṭadantopi brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti.
Then Kūṭadanta addressed his butler, “Well then, go to the brahmins and householders and say to them: ‘Sirs, the brahmin Kūṭadanta asks you to wait, as he will also go to see the ascetic Gotama.’”
“Yes, worthy sir,” replied the butler, and did as he was asked.
329. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta gọi người hầu cận và bảo rằng: ‘Này người hầu cận, hãy đi đến chỗ các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata. Sau khi đến, hãy nói với các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata như sau: “Thưa các ngài, Bà-la-môn Kūṭadanta có lời nhắn rằng: ‘Xin các ngài vui lòng chờ đợi, Bà-la-môn Kūṭadanta cũng sẽ đến để yết kiến Sa-môn Gotama.’”’ Người hầu cận ấy vâng lời: ‘Thưa vâng, thưa ngài,’ rồi đi đến chỗ các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata. Sau khi đến, người ấy đã nói với các vị Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata như sau: ‘Thưa các ngài, Bà-la-môn Kūṭadanta có lời nhắn rằng: “Xin các ngài vui lòng chờ đợi, Bà-la-môn Kūṭadanta cũng sẽ đến để yết kiến Sa-môn Gotama.”’
2. Kūṭadantaguṇakathā
2. The Qualities of Kūṭadanta
Lời kể về các phẩm chất của Kūṭadanta
Tena kho pana samayena anekāni brāhmaṇasatāni khāṇumate paṭivasanti: “kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyaññaṁ anubhavissāmā”ti. Assosuṁ kho te brāhmaṇā: “kūṭadanto kira brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti. Atha kho te brāhmaṇā yena kūṭadanto brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu. upasaṅkamitvā kūṭadantaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ:
Now at that time several hundred brahmins were residing in Khāṇumata thinking to participate in Kūṭadanta’s sacrifice. They heard that Kūṭadanta was going to see the ascetic Gotama. They approached Kūṭadanta and said to him:
330. Vào lúc bấy giờ, có nhiều trăm vị Bà-la-môn đang cư ngụ tại Khāṇumata với ý định: ‘Chúng ta sẽ tham dự đại lễ tế đàn của Bà-la-môn Kūṭadanta.’ Các vị Bà-la-môn ấy đã nghe rằng: ‘Nghe nói Bà-la-môn Kūṭadanta sẽ đến để yết kiến Sa-môn Gotama.’ Lúc bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy đã đi đến chỗ của Bà-la-môn Kūṭadanta.
“saccaṁ kira bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti?
“Evaṁ kho me, bho, hoti: ‘ahampi samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissāmī’”ti.
“Is it really true that you are going to see the ascetic Gotama?”
“Yes, worthy sir, it is true.”
331. Sau khi đến, họ đã nói với Bà-la-môn Kūṭadanta như sau: ‘Thưa ngài Kūṭadanta, có thật là ngài sẽ đến để yết kiến Sa-môn Gotama không?’ ‘Thưa các ngài, quả thật tôi đang có ý định rằng: “Tôi cũng sẽ đến để yết kiến Sa-môn Gotama.”’
“Mā bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkami. Na arahati bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Sace bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissati, bhoto kūṭadantassa yaso hāyissati, samaṇassa gotamassa yaso abhivaḍḍhissati. Yampi bhoto kūṭadantassa yaso hāyissati, samaṇassa gotamassa yaso abhivaḍḍhissati, imināpaṅgena na arahati bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo tveva gotamo arahati bhavantaṁ kūṭadantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
“Please don’t! It’s not appropriate for you to go to see the ascetic Gotama. For if you do so, your reputation will diminish and his will increase. For this reason it’s not appropriate for you to go to see the ascetic Gotama; it’s appropriate that he comes to see you.
‘Xin ngài Kūṭadanta đừng đến yết kiến Sa-môn Gotama. Ngài Kūṭadanta không nên đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu ngài Kūṭadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, danh tiếng của ngài Kūṭadanta sẽ bị suy giảm, còn danh tiếng của Sa-môn Gotama sẽ được tăng trưởng. Chính vì danh tiếng của ngài Kūṭadanta sẽ bị suy giảm và danh tiếng của Sa-môn Gotama sẽ được tăng trưởng, vì lý do này mà ngài Kūṭadanta không nên đến yết kiến Sa-môn Gotama. Chỉ có Sa-môn Gotama mới nên đến yết kiến ngài Kūṭadanta.
Bhavañhi kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi bhavaṁ kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo tveva gotamo arahati bhavantaṁ kūṭadantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
You are well born on both your mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation. For this reason it’s not appropriate for you to go to see the ascetic Gotama; it’s appropriate that he comes to see you.
‘Vì ngài Kūṭadanta có dòng dõi trong sạch từ cả hai phía, từ bên mẹ lẫn bên cha, có mẫu hệ thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt xuất thân. Chính vì ngài Kūṭadanta có dòng dõi trong sạch từ cả hai phía, từ bên mẹ lẫn bên cha, có mẫu hệ thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt xuất thân, vì lý do này mà ngài Kūṭadanta không nên đến yết kiến Sa-môn Gotama. Chỉ có Sa-môn Gotama mới nên đến yết kiến ngài Kūṭadanta.
Bhavañhi kūṭadanto aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtavittūpakaraṇo pahūtajātarūparajato …pe…
You’re rich, affluent, and wealthy, with lots of property and assets, and lots of money and grain …
‘Vì ngài Kūṭadanta là người giàu có, có nhiều tài sản, có nhiều của cải, có nhiều vật dụng và phương tiện, có nhiều vàng bạc… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo …pe…
You recite and remember the hymns, and have mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. You know them word-by-word, and their grammar. You are well versed in cosmology and the marks of a great man. …
‘Vì ngài Kūṭadanta là người học rộng, thuộc lòng các thánh chú, thông suốt ba tập Vệ-đà cùng với từ vựng (nighaṇḍu), nghi thức (keṭubha), ngữ pháp (akkhara-ppabheda), và lịch sử (itihāsa) là thứ năm; là người tinh thông cú pháp (padaka), ngữ nguyên (veyyākaraṇa), và hoàn toàn thành thạo về thuận thế luận (lokāyata) và tướng của bậc đại nhân… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya …pe…
You are attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. You have divine looks and lustre, remarkable to behold. …
‘Vì ngài Kūṭadanta có dung mạo đẹp đẽ, ưa nhìn, đáng kính, sở hữu vẻ đẹp toàn hảo, có nước da như Phạm thiên, có thân hình như Phạm thiên, dáng vẻ oai nghiêm đáng chiêm ngưỡng… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto sīlavā vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato …pe…
You are ethical, mature in ethical conduct. …
‘Vì ngài Kūṭadanta là người có giới hạnh, có giới hạnh đã phát triển, và đã thành tựu giới hạnh phát triển… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā …pe…
You’re a good speaker who enunciates well, with a polished, clear, and articulate voice that expresses the meaning. …
‘Vì ngài Kūṭadanta có lời nói tốt đẹp, có cách diễn đạt tốt đẹp, sở hữu lời nói tao nhã, rõ ràng, không ngọng nghịu, có khả năng làm cho ý nghĩa được sáng tỏ… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto bahūnaṁ ācariyapācariyo tīṇi māṇavakasatāni mante vāceti, bahū kho pana nānādisā nānājanapadā māṇavakā āgacchanti bhoto kūṭadantassa santike mantatthikā mante adhiyitukāmā …pe…
You’re the tutor of tutors for many, and teach three hundred young students to recite the hymns. Many students come from various districts and countries for the sake of the hymns, wishing to learn the hymns. …
‘Vì ngài Kūṭadanta là thầy của nhiều người, là thầy của các vị thầy, đang dạy các thánh chú cho ba trăm thanh niên. Và có nhiều thanh niên từ nhiều phương hướng, nhiều xứ sở khác nhau đến chỗ ngài Kūṭadanta, mong muốn học thánh chú, có ý muốn nghiên cứu thánh chú… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto. Samaṇo gotamo taruṇo ceva taruṇapabbajito ca …pe…
You’re old, elderly and senior, advanced in years, and have reached the final stage of life. The ascetic Gotama is young, and has newly gone forth. …
‘Vì ngài Kūṭadanta là người già cả, cao niên, lớn tuổi, đã đi hết quãng đường đời, đã đến tuổi xế chiều. Còn Sa-môn Gotama thì còn trẻ tuổi và mới xuất gia… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
You’re honored, respected, revered, venerated, and esteemed by King Bimbisāra of Magadha …
‘Vì ngài Kūṭadanta được vua Bimbisāra Seniya xứ Magadha tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, và đảnh lễ… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto brāhmaṇassa pokkharasātissa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
and the brahmin Pokkharasāti. …
‘Vì ngài Kūṭadanta được Bà-la-môn Pokkharasāti tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, và đảnh lễ… vân vân…
Bhavañhi kūṭadanto khāṇumataṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ. Yampi bhavaṁ kūṭadanto khāṇumataṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ, raññā māgadhena seniyena bimbisārena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ, imināpaṅgena na arahati bhavaṁ kūṭadanto samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo tveva gotamo arahati bhavantaṁ kūṭadantaṁ dassanāya upasaṅkamitun”ti.
You live in Khāṇumata, a crown property given by King Seniya Bimbisāra of Magadha, teeming with living creatures, full of hay, wood, water, and grain, a royal park endowed to a brahmin. For this reason it’s not appropriate for you to go to see the ascetic Gotama; it’s appropriate that he comes to see you.”
“Tôn giả Kūṭadanta đang cai quản làng Khāṇumata, một ngôi làng đông dân, có nhiều cỏ, củi và nước, nhiều lúa gạo, là tài sản của vua, do vua Bimbisāra của xứ Māgadha, hiệu là Seniya, ban tặng, là món quà của vua, một món quà cao quý. Vì Tôn giả Kūṭadanta đang cai quản làng Khāṇumata, một ngôi làng đông dân, có nhiều cỏ, củi và nước, nhiều lúa gạo, là tài sản của vua, do vua Bimbisāra của xứ Māgadha, hiệu là Seniya, ban tặng, là món quà của vua, một món quà cao quý, vì lý do này, Tôn giả Kūṭadanta không đáng đến yết kiến Sa-môn Gotama. Chính Sa-môn Gotama mới đáng đến yết kiến Tôn giả Kūṭadanta.”
3. Buddhaguṇakathā
3. The Qualities of the Buddha
Câu chuyện về các phẩm hạnh của Đức Phật
Evaṁ vutte, kūṭadanto brāhmaṇo te brāhmaṇe etadavoca:
When they had spoken, Kūṭadanta said to those brahmins:
332. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Kūṭadanta nói với các Bà-la-môn ấy rằng:
“Tena hi, bho, mamapi suṇātha, yathā mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ, na tveva arahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo khalu, bho, gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi, bho, samaṇo gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Atha kho mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
“Well then, gentlemen, listen to why it’s appropriate for me to go to see the ascetic Gotama, and it’s not appropriate for him to come to see me. He is well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation. For this reason it’s not appropriate for the ascetic Gotama to come to see me; rather, it’s appropriate for me to go to see him.
“Này các ông, nếu vậy, hãy nghe lời của tôi, về lý do tại sao chính chúng ta mới đáng đến yết kiến Tôn giả Gotama, chứ Tôn giả Gotama không đáng đến yết kiến chúng ta. Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama sinh ra trong dòng dõi trong sạch cả hai bên, từ mẹ và từ cha, có thai tạng thanh tịnh cho đến bảy đời tổ tiên, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt dòng dõi. Này các ông, vì Sa-môn Gotama sinh ra trong dòng dõi trong sạch cả hai bên, từ mẹ và từ cha, có thai tạng thanh tịnh cho đến bảy đời tổ tiên, không bị chê bai, không bị chỉ trích về mặt dòng dõi, vì lý do này, Tôn giả Gotama không đáng đến yết kiến chúng ta. Mà chính chúng ta mới đáng đến yết kiến Tôn giả Gotama.”
Samaṇo khalu, bho, gotamo mahantaṁ ñātisaṅghaṁ ohāya pabbajito …pe…
When he went forth he abandoned a large family circle. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama đã từ bỏ đại gia tộc quyến thuộc mà xuất gia... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ ohāya pabbajito bhūmigatañca vehāsaṭṭhaṁ ca …pe…
When he went forth he abandoned abundant gold, both coined and uncoined, stored above and below ground. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama đã từ bỏ nhiều vàng bạc, cả tài sản chôn dưới đất và để trên không, mà xuất gia... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo daharova samāno yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito …pe…
He went forth from the lay life to homelessness while still a youth, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama, khi còn trẻ, là một thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời kỳ đầu của cuộc đời, đã từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito …pe…
Though his mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces, he shaved off his hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama, trong khi cha mẹ không muốn, mặt đẫm nước mắt, đang khóc lóc, đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya …pe…
He is attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. He has divine looks and lustre, remarkable to behold. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, khả ái, có được vẻ đẹp hình thể tối thượng, có màu da như Phạm thiên, có thân hình như Phạm thiên, không có chỗ nào nhỏ bé để nhìn... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo sīlavā ariyasīlī kusalasīlī kusalasīlena samannāgato …pe…
He is ethical, possessing ethical conduct that is noble and skillful. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama có giới hạnh, có giới hạnh của bậc Thánh, có giới hạnh thiện, có được giới hạnh thiện... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā …pe…
He’s a good speaker who enunciates well, with a polished, clear, and articulate voice that expresses the meaning. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama có lời nói tốt đẹp, có cách nói tốt đẹp, có được lời nói tao nhã, rõ ràng, không ngọng nghịu, có khả năng làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo bahūnaṁ ācariyapācariyo …pe…
He’s a tutor of tutors. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama là thầy của các vị thầy của nhiều người... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo khīṇakāmarāgo vigatacāpallo …pe…
He has ended sensual desire, and is rid of caprice. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama đã đoạn tận tham ái, đã hết sự phù phiếm... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo kammavādī kiriyavādī apāpapurekkhāro brahmaññāya pajāya …pe…
He teaches the efficacy of deeds and action. He doesn’t wish any harm upon the community of brahmins. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama là người chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, là người hướng đến điều không tội lỗi cho chúng sanh cao quý... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo uccā kulā pabbajito asambhinnakhattiyakulā …pe…
He went forth from an eminent family of unbroken aristocratic lineage. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama đã xuất gia từ một dòng họ cao quý, từ một dòng họ Sát-đế-lỵ không bị pha tạp... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo aḍḍhā kulā pabbajito mahaddhanā mahābhogā …pe…
He went forth from a rich, affluent, and wealthy family. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama đã xuất gia từ một dòng họ giàu có, có nhiều của cải, có nhiều tài sản... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ tiroraṭṭhā tirojanapadā pañhaṁ pucchituṁ āgacchanti …pe…
People come from distant lands and distant countries to question him. …
“Này các ông, quả thật, người ta từ các xứ khác, từ các quận khác đến để hỏi các câu hỏi với Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ anekāni devatāsahassāni pāṇehi saraṇaṁ gatāni …pe…
Many thousands of deities have gone for refuge for life to him. …
“Này các ông, quả thật, nhiều ngàn chư thiên đã hết lòng quy y Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti …pe…
He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ …
“Này các ông, quả thật, tiếng tăm tốt đẹp về Sa-môn Gotama đã được lan truyền như sau: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato …pe…
He has the thirty-two marks of a great man. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama có được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo ehisvāgatavādī sakhilo sammodako abbhākuṭiko uttānamukho pubbabhāsī …pe…
He is welcoming, congenial, polite, smiling, open, the first to speak. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama là người nói 'Hãy đến, chào mừng', có lời nói mềm mỏng, vui vẻ, không cau mày, có khuôn mặt rạng rỡ, là người nói trước... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo catunnaṁ parisānaṁ sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
He’s honored, respected, revered, venerated, and esteemed by the four assemblies. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama được bốn chúng đảnh lễ, kính trọng, tôn kính, cúng dường, tôn thờ... vân vân...
Samaṇe khalu, bho, gotame bahū devā ca manussā ca abhippasannā …pe…
Many gods and humans are devoted to him. …
“Này các ông, quả thật, nhiều chư thiên và loài người rất tín thành với Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo yasmiṁ gāme vā nigame vā paṭivasati na tasmiṁ gāme vā nigame vā amanussā manusse viheṭhenti …pe…
While he is residing in a village or town, non-human entities do not harass them. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama, ở trong làng nào hay thị trấn nào, thì trong làng đó hay thị trấn đó, các phi nhân không làm hại loài người... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo saṅghī gaṇī gaṇācariyo puthutitthakarānaṁ aggamakkhāyati, yathā kho pana, bho, etesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ yathā vā tathā vā yaso samudāgacchati, na hevaṁ samaṇassa gotamassa yaso samudāgato. Atha kho anuttarāya vijjācaraṇasampadāya samaṇassa gotamassa yaso samudāgato …pe…
He leads an order and a community, and tutors a community, and is said to be the best of the various religious founders. He didn’t come by his fame in the same ways as those other ascetics and brahmins. Rather, he came by his fame due to his supreme knowledge and conduct. …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama có Tăng chúng, có giáo đoàn, là thầy của giáo đoàn, được xem là bậc tối thượng trong số nhiều người sáng lập các giáo phái. Này các ông, danh tiếng của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy phát sinh do bất kỳ lý do nào, danh tiếng của Sa-môn Gotama không phát sinh như vậy. Mà danh tiếng của Sa-môn Gotama phát sinh do sự thành tựu vô thượng về minh và hạnh... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ rājā māgadho seniyo bimbisāro saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṁ gato …pe…
King Seniya Bimbisāra of Magadha and his wives and children have gone for refuge for life to the ascetic Gotama. …
“Này các ông, quả thật, vua Bimbisāra của xứ Māgadha, hiệu là Seniya, cùng với con trai, vợ, tùy tùng, và các quan đại thần, đã hết lòng quy y Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ rājā pasenadi kosalo saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṁ gato …pe…
King Pasenadi of Kosala and his wives and children have gone for refuge for life to the ascetic Gotama. …
“Này các ông, quả thật, vua Pasenadi của xứ Kosala, cùng với con trai, vợ, tùy tùng, và các quan đại thần, đã hết lòng quy y Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ brāhmaṇo pokkharasāti saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṁ gato …pe…
The brahmin Pokkharasāti and his wives and children have gone for refuge for life to the ascetic Gotama. …
“Này các ông, quả thật, Bà-la-môn Pokkharasāti, cùng với con trai, vợ, tùy tùng, và các quan đại thần, đã hết lòng quy y Sa-môn Gotama... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
He’s honored, respected, revered, venerated, and esteemed by King Bimbisāra of Magadha …
“Này các ông, quả thật, Sa-môn Gotama được vua Bimbisāra của xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đảnh lễ, kính trọng, tôn kính, cúng dường, tôn thờ... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo rañño pasenadissa kosalassa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
King Pasenadi of Kosala …
Thưa quý vị, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Pasenadi nước Kosala cung kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường, và tôn kính... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo brāhmaṇassa pokkharasātissa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe…
and the brahmin Pokkharasāti.
Thưa quý vị, thật vậy, Sa-môn Gotama được Bà-la-môn Pokkharasāti cung kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường, và tôn kính... vân vân...
Samaṇo khalu, bho, gotamo khāṇumataṁ anuppatto khāṇumate viharati ambalaṭṭhikāyaṁ. Ye kho pana, bho, keci samaṇā vā brāhmaṇā vā amhākaṁ gāmakhettaṁ āgacchanti, atithī no te honti. Atithī kho panamhehi sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā apacetabbā. Yampi, bho, samaṇo gotamo khāṇumataṁ anuppatto khāṇumate viharati ambalaṭṭhikāyaṁ, atithimhākaṁ samaṇo gotamo. Atithi kho panamhehi sakkātabbo garukātabbo mānetabbo pūjetabbo apacetabbo. Imināpaṅgena nārahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Atha kho mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Ettake kho ahaṁ, bho, tassa bhoto gotamassa vaṇṇe pariyāpuṇāmi, no ca kho so bhavaṁ gotamo ettakavaṇṇo. Aparimāṇavaṇṇo hi so bhavaṁ gotamo”ti.
The ascetic Gotama has arrived at Khāṇumata and is staying at Ambalaṭṭhikā. Any ascetic or brahmin who comes to stay in our village district is our guest, and should be honored and respected as such. For this reason, too, it’s not appropriate for Worthy Gotama to come to see me; rather, it’s appropriate for me to go to see him. This is the extent of the worthy Gotama’s praise that I have memorized. But his praises are not confined to this, for the praise of the worthy Gotama is limitless.”
Thưa quý vị, thật vậy, Sa-môn Gotama đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā ở Khāṇumata. Thưa quý vị, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến địa phận làng của chúng ta, họ là khách của chúng ta. Và khách thì phải được chúng ta cung kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường, và tôn kính. Thưa quý vị, vì Sa-môn Gotama đã đến Khāṇumata và đang trú tại Ambalaṭṭhikā ở Khāṇumata, Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và khách thì phải được chúng ta cung kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường, và tôn kính. Vì lý do này, Tôn giả Gotama không đáng phải đến thăm chúng ta. Trái lại, chính chúng ta mới đáng đến thăm Tôn giả Gotama. Thưa quý vị, tôi chỉ biết được chừng ấy phẩm hạnh của Tôn giả Gotama, nhưng Tôn giả Gotama không phải chỉ có chừng ấy phẩm hạnh. Thật vậy, Tôn giả Gotama có vô lượng phẩm hạnh.
Evaṁ vutte, te brāhmaṇā kūṭadantaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ: “yathā kho bhavaṁ kūṭadanto samaṇassa gotamassa vaṇṇe bhāsati, ito cepi so bhavaṁ gotamo yojanasate viharati, alameva saddhena kulaputtena dassanāya upasaṅkamituṁ api puṭosenā”ti.
“Tena hi, bho, sabbeva mayaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā”ti.
When he had spoken, those brahmins said to him, “According to Kūṭadanta’s praises, if the worthy Gotama were staying within a hundred leagues, it’d be worthwhile for a faithful gentleman to go to see him, even if he had to carry his own provisions in a knapsack.”
“Well then, gentlemen, let’s all go to see the ascetic Gotama.”
333. Khi được nói như vậy, các vị Bà-la-môn ấy đã nói với Bà-la-môn Kūṭadanta rằng: 'Thưa Tôn giả Kūṭadanta, theo như cách ngài tán thán các phẩm hạnh của Sa-môn Gotama, thì cho dù Tôn giả Gotama có trú ngụ cách đây một trăm do-tuần, một người thiện nam tử có đức tin cũng đáng để đến thăm, dù phải mang theo lương thực.' 'Vậy thì, thưa quý vị, tất cả chúng ta hãy cùng đến yết kiến Sa-môn Gotama.'
4. Mahāvijitarājayaññakathā
4. The Story of King Mahāvijita’s Sacrifice
Câu chuyện về lễ tế đàn của vua Mahāvijita
Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ yena ambalaṭṭhikā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Khāṇumatakāpi kho brāhmaṇagahapatikā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Then Kūṭadanta together with a large group of brahmins went to Ambalaṭṭhikā, approached the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. Before sitting down to one side, some of the brahmins and householders of Khāṇumata bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent.
334. Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta cùng với một đại chúng Bà-la-môn đi đến Ambalaṭṭhikā, nơi Thế Tôn đang ngự. Sau khi đến, ông đã cùng Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Một số Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số khác cùng Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, sau khi trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên; một số khác chắp tay vái về phía Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số khác xưng tên và họ của mình rồi ngồi xuống một bên; một số khác giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho kūṭadanto brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho gotama: ‘samaṇo gotamo tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ jānātī’ti. Na kho panāhaṁ jānāmi tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ. Icchāmi cāhaṁ mahāyaññaṁ yajituṁ. Sādhu me bhavaṁ gotamo tividhaṁ yaññasampadaṁ soḷasaparikkhāraṁ desetū”ti.
Kūṭadanta said to the Buddha, “Worthy Gotama, I’ve heard that you know how to accomplish the sacrifice with three modes and sixteen accessories. I don’t know about that, but I wish to perform a great sacrifice. Please teach me how to accomplish the sacrifice with three modes and sixteen accessories.”
335. Khi đã ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kūṭadanta bạch với Thế Tôn rằng: 'Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe rằng: 'Sa-môn Gotama biết về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và có mười sáu vật phụ tùng.' Nhưng con không biết về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và có mười sáu vật phụ tùng. Con lại muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Lành thay, xin Tôn giả Gotama hãy giảng cho con về sự thành tựu của lễ tế đàn theo ba phương diện và có mười sáu vật phụ tùng.'
“Tena hi, brāhmaṇa, suṇāhi sādhukaṁ manasikarohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho kūṭadanto brāhmaṇo bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca: “bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, rājā mahāvijito nāma ahosi aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro. Atha kho, brāhmaṇa, rañño mahāvijitassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā, mahantaṁ pathavimaṇḍalaṁ abhivijiya ajjhāvasāmi, yannūnāhaṁ mahāyaññaṁ yajeyyaṁ, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
“Well then, brahmin, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” Kūṭadanta replied. The Buddha said this: “Once upon a time, brahmin, there was a king named Mahāvijita. He was rich, affluent, and wealthy, with lots of gold and silver, lots of property and assets, lots of money and grain, and a full treasury and storehouses. Then as King Mahāvijita was in private retreat this thought came to his mind: ‘I have achieved human wealth, and reign after conquering this vast territory. Why don’t I hold a large sacrifice? That will be for my lasting welfare and happiness.’
336. ‘Vậy thì, này Bà-la-môn, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.’ ‘Vâng, thưa Tôn giả,’ Bà-la-môn Kūṭadanta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: ‘Này Bà-la-môn, thuở xưa, có một vị vua tên là Mahāvijita, giàu có, tài sản lớn, sở hữu lớn, có nhiều vàng bạc, nhiều của cải vật dụng, nhiều tiền của và ngũ cốc, kho tàng và vựa lẫm đều sung mãn. Bấy giờ, này Bà-la-môn, khi vua Mahāvijita ở nơi kín đáo, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: ‘Ta đã có được những tài sản to lớn của con người, ta đang cai trị sau khi đã chinh phục một lãnh thổ rộng lớn. Sẽ thật tốt nếu ta thực hiện một đại lễ tế đàn, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho ta trong một thời gian dài.’’
Atha kho, brāhmaṇa, rājā mahāvijito purohitaṁ brāhmaṇaṁ āmantetvā etadavoca: ‘idha mayhaṁ, brāhmaṇa, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā, mahantaṁ pathavimaṇḍalaṁ abhivijiya ajjhāvasāmi. Yannūnāhaṁ mahāyaññaṁ yajeyyaṁ yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Icchāmahaṁ, brāhmaṇa, mahāyaññaṁ yajituṁ. Anusāsatu maṁ bhavaṁ yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
Then he summoned the brahmin high priest and said to him: ‘Just now, brahmin, as I was in private retreat this thought came to mind, “I have achieved human wealth, and reign after conquering this vast territory. Why don’t I perform a great sacrifice? That will be for my lasting welfare and happiness.” Brahmin, I wish to perform a great sacrifice. Please instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.’
337. ‘Bấy giờ, này Bà-la-môn, vua Mahāvijita cho gọi vị Bà-la-môn tế tự và nói điều này: ‘Này Bà-la-môn, khi ta ở nơi kín đáo, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: ‘Ta đã có được những tài sản to lớn của con người, ta đang cai trị sau khi đã chinh phục một lãnh thổ rộng lớn. Sẽ thật tốt nếu ta thực hiện một đại lễ tế đàn, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho ta trong một thời gian dài.’ Này Bà-la-môn, ta muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin ngài hãy chỉ giáo cho ta, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc cho ta trong một thời gian dài.’’
Evaṁ vutte, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rājānaṁ mahāvijitaṁ etadavoca: ‘bhoto kho rañño janapado sakaṇṭako sauppīḷo, gāmaghātāpi dissanti, nigamaghātāpi dissanti, nagaraghātāpi dissanti, panthaduhanāpi dissanti. Bhavaṁ kho pana rājā evaṁ sakaṇṭake janapade sauppīḷe balimuddhareyya, akiccakārī assa tena bhavaṁ rājā.
Siyā kho pana bhoto rañño evamassa: “ahametaṁ dassukhīlaṁ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā samūhanissāmī”ti, na kho panetassa dassukhīlassa evaṁ sammā samugghāto hoti. Ye te hatāvasesakā bhavissanti, te pacchā rañño janapadaṁ viheṭhessanti.
Api ca kho idaṁ saṁvidhānaṁ āgamma evametassa dassukhīlassa sammā samugghāto hoti. Tena hi bhavaṁ rājā ye bhoto rañño janapade ussahanti kasigorakkhe, tesaṁ bhavaṁ rājā bījabhattaṁ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti vāṇijjāya, tesaṁ bhavaṁ rājā pābhataṁ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti rājaporise, tesaṁ bhavaṁ rājā bhattavetanaṁ pakappetu. Te ca manussā sakammapasutā rañño janapadaṁ na viheṭhessanti; mahā ca rañño rāsiko bhavissati. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā. Manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe viharissantī’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, brāhmaṇa, rājā mahāvijito purohitassa brāhmaṇassa paṭissutvā ye rañño janapade ussahiṁsu kasigorakkhe, tesaṁ rājā mahāvijito bījabhattaṁ anuppadāsi. Ye ca rañño janapade ussahiṁsu vāṇijjāya, tesaṁ rājā mahāvijito pābhataṁ anuppadāsi. Ye ca rañño janapade ussahiṁsu rājaporise, tesaṁ rājā mahāvijito bhattavetanaṁ pakappesi. Te ca manussā sakammapasutā rañño janapadaṁ na viheṭhiṁsu, mahā ca rañño rāsiko ahosi. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe vihariṁsu.
Atha kho, brāhmaṇa, rājā mahāvijito purohitaṁ brāhmaṇaṁ āmantetvā etadavoca: ‘samūhato kho me bhoto dassukhīlo, bhoto saṁvidhānaṁ āgamma mahā ca me rāsiko. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe viharanti. Icchāmahaṁ brāhmaṇa mahāyaññaṁ yajituṁ. Anusāsatu maṁ bhavaṁ yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
When he had spoken, the brahmin high priest said to him: ‘Sir, the king’s realm is harried and oppressed. Raiding of villages, towns, and cities has been seen, and infesting of highways. But if the king were to extract more taxes while his realm is thus harried and oppressed, he would not be doing his duty.
Now the king might think, “I’ll eradicate this plague of savages by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment!” But that’s not the right way to eradicate this plague of savages. Those who remain after the killing will return to harass the king’s realm.
Rather, here is a plan, relying on which the plague of savages will be properly uprooted. So let the king provide seed and fodder for those in the realm who work in growing crops and raising cattle. Let the king provide funding for those who work in trade. Let the king guarantee food and wages for those in government service. Then the people, occupied with their own work, will not harass the realm. The king’s revenues will be great. When the country is secured as a sanctuary, free of being harried and oppressed, the happy people, with joy in their hearts, dancing with children at their breast, will dwell as if their houses were wide open.’
The king agreed with the high priest’s advice and followed his recommendation.
Then the king summoned the brahmin high priest and said to him: ‘I have eradicated the plague of savages. And relying on your plan my revenue is now great. Since the country is secured as a sanctuary, free of being harried and oppressed, the happy people, with joy in their hearts, dancing with children at their breast, dwell as if their houses were wide open. Brahmin, I wish to perform a great sacrifice. Please instruct me. It will be for my lasting welfare and happiness.’
338. “Này Bà-la-môn, khi được nói như vậy, vị tế sư Bà-la-môn đã tâu với đức vua Mahāvijita rằng: ‘Thưa đức vua, vương quốc của ngài đang có gai góc, đang bị áp bức; các cuộc tàn sát làng mạc, thị trấn, thành phố, và cướp bóc trên đường đều được thấy rõ. Nếu đức vua lại còn đánh thuế trong một vương quốc có gai góc và bị áp bức như vậy, thì ngài sẽ làm một việc không nên làm. Có thể đức vua sẽ nghĩ rằng: ‘Ta sẽ nhổ bỏ cái gai giặc cướp này bằng cách giết chóc, trói buộc, phạt tiền, khiển trách, hoặc trục xuất.’ Nhưng này, cái gai giặc cướp này không thể được nhổ bỏ hoàn toàn bằng cách đó. Những kẻ sống sót sau khi bị tiêu diệt sau này sẽ lại quấy nhiễu vương quốc của đức vua. Tuy nhiên, bằng cách áp dụng phương pháp này, cái gai giặc cướp này có thể được nhổ bỏ hoàn toàn. Vậy thì, thưa đức vua, đối với những người trong vương quốc của ngài chuyên tâm vào nông nghiệp và chăn nuôi, xin ngài hãy cấp cho họ hạt giống và lương thực. Đối với những người trong vương quốc của ngài chuyên tâm vào thương mại, xin ngài hãy cấp cho họ vốn liếng. Đối với những người trong vương quốc của ngài chuyên tâm vào việc phục vụ hoàng gia, xin ngài hãy sắp đặt lương bổng cho họ. Khi những người ấy chuyên tâm vào công việc của mình, họ sẽ không quấy nhiễu vương quốc của đức vua; và ngân khố của đức vua sẽ trở nên dồi dào. Vương quốc sẽ được an ổn, không còn gai góc, không còn bị áp bức. Dân chúng sẽ vui vẻ, hân hoan, bồng con múa hát trên ngực, và tôi nghĩ họ sẽ sống trong những ngôi nhà không cần đóng cửa.’ ‘Thưa ngài, xin vâng.’ Này Bà-la-môn, đức vua Mahāvijita đã đáp lời vị tế sư Bà-la-môn. Sau khi chấp thuận, đối với những người trong vương quốc chuyên tâm vào nông nghiệp và chăn nuôi, đức vua Mahāvijita đã cấp cho họ hạt giống và lương thực. Đối với những người trong vương quốc chuyên tâm vào thương mại, đức vua Mahāvijita đã cấp cho họ vốn liếng. Đối với những người trong vương quốc chuyên tâm vào việc phục vụ hoàng gia, đức vua Mahāvijita đã sắp đặt lương bổng cho họ. Khi những người ấy chuyên tâm vào công việc của mình, họ đã không quấy nhiễu vương quốc của đức vua, và ngân khố của đức vua đã trở nên dồi dào. Vương quốc được an ổn, không còn gai góc, không còn bị áp bức. Dân chúng vui vẻ, hân hoan, bồng con múa hát trên ngực, và tôi nghĩ họ đã sống trong những ngôi nhà không cần đóng cửa. Bấy giờ, này Bà-la-môn, đức vua Mahāvijita cho gọi vị tế sư Bà-la-môn và nói rằng: ‘Thưa ngài, nhờ vào phương pháp của ngài, cái gai giặc cướp của tôi đã được nhổ bỏ. Ngân khố của tôi đã trở nên dồi dào. Vương quốc được an ổn, không còn gai góc, không còn bị áp bức. Dân chúng vui vẻ, hân hoan, bồng con múa hát trên ngực, và tôi nghĩ họ đang sống trong những ngôi nhà không cần đóng cửa. Này Bà-la-môn, tôi muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin ngài hãy chỉ giáo cho tôi điều gì sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi.’”
4.1. Catuparikkhāra
4.1. The Four Accessories
Bốn Yếu Tố Phụ Trợ
Tena hi bhavaṁ rājā ye bhoto rañño janapade khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca te bhavaṁ rājā āmantayataṁ: ‘icchāmahaṁ, bho, mahāyaññaṁ yajituṁ, anujānantu me bhavanto yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti. Ye bhoto rañño janapade amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca …pe… brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca …pe… gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca, te bhavaṁ rājā āmantayataṁ: ‘icchāmahaṁ, bho, mahāyaññaṁ yajituṁ, anujānantu me bhavanto yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, brāhmaṇa, rājā mahāvijito purohitassa brāhmaṇassa paṭissutvā ye rañño janapade khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca, te rājā mahāvijito āmantesi: ‘icchāmahaṁ, bho, mahāyaññaṁ yajituṁ, anujānantu me bhavanto yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti. ‘Yajataṁ bhavaṁ rājā yaññaṁ, yaññakālo, mahārājā’ti. Ye rañño janapade amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca …pe… brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca …pe… gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca, te rājā mahāvijito āmantesi: ‘icchāmahaṁ, bho, mahāyaññaṁ yajituṁ. Anujānantu me bhavanto yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā’ti. ‘Yajataṁ bhavaṁ rājā yaññaṁ, yaññakālo, mahārājā’ti. Itime cattāro anumatipakkhā tasseva yaññassa parikkhārā bhavanti.
‘In that case, let the king announce this throughout the realm to the aristocrat vassals of both town and country; the ministers and councillors of both town and country; the well-to-do brahmins of both town and country; and the well-off householders of both town and country. “I wish to perform a great sacrifice. Please grant your approval, worthy sirs; it will be for my lasting welfare and happiness.”’
The king agreed with the high priest’s advice and followed his recommendation. And all of the people who were thus informed responded by saying: ‘May the king perform a sacrifice! It is time for a sacrifice, Great King.’ And so these four consenting factions became accessories to the sacrifice.
339. “Vậy thì, xin đức vua hãy cho mời các vị Sát-đế-lỵ chư hầu, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài và nói rằng: ‘Thưa các ngài, tôi muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin các ngài hãy chấp thuận cho tôi, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi.’ Các vị đại thần và cận thần, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài... các vị Bà-la-môn đại phú, cả ở thành thị lẫn nông thôn... các vị gia chủ giàu có, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài, xin đức vua hãy cho mời họ và nói rằng: ‘Thưa các ngài, tôi muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin các ngài hãy chấp thuận cho tôi, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi.’ ‘Thưa ngài, xin vâng.’ Này Bà-la-môn, đức vua Mahāvijita đã đáp lời vị tế sư Bà-la-môn. Sau khi chấp thuận, đức vua Mahāvijita đã cho mời các vị Sát-đế-lỵ chư hầu, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài và nói rằng: ‘Thưa các ngài, tôi muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin các ngài hãy chấp thuận cho tôi, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi.’ (Họ đáp:) ‘Xin đức vua hãy cử hành lễ tế đàn! Thưa đại vương, đây là thời điểm thích hợp cho lễ tế đàn!’ Các vị đại thần và cận thần, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài... các vị Bà-la-môn đại phú, cả ở thành thị lẫn nông thôn... các vị gia chủ giàu có, cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong vương quốc của ngài, đức vua Mahāvijita đã cho mời họ và nói rằng: ‘Thưa các ngài, tôi muốn thực hiện một đại lễ tế đàn. Xin các ngài hãy chấp thuận cho tôi, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tôi.’ (Họ đáp:) ‘Xin đức vua hãy cử hành lễ tế đàn! Thưa đại vương, đây là thời điểm thích hợp cho lễ tế đàn!’ Như vậy, bốn phe nhóm đồng thuận này trở thành những yếu tố phụ trợ cho chính lễ tế đàn ấy.
4.2. Aṭṭhaparikkhāra
4.2. The Eight Accessories
Tám Yếu Tố Phụ Trợ
Rājā mahāvijito aṭṭhahaṅgehi samannāgato—
ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena;
abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya;
aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro;
balavā caturaṅginiyā senāya samannāgato assavāya ovādapaṭikarāya sahati maññe paccatthike yasasā;
saddho dāyako dānapati anāvaṭadvāro samaṇabrāhmaṇakapaṇaddhikavaṇibbakayācakānaṁ opānabhūto puññāni karoti;
bahussuto tassa tassa sutajātassa, tassa tasseva kho pana bhāsitassa atthaṁ jānāti: ‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti;
paṇḍito, viyatto, medhāvī, paṭibalo, atītānāgatapaccuppanne atthe cintetuṁ.
Rājā mahāvijito imehi aṭṭhahaṅgehi samannāgato. Iti imānipi aṭṭhaṅgāni tasseva yaññassa parikkhārā bhavanti.
King Mahāvijita possessed eight factors.
He was well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation.
He was attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. He had divine looks and lustre, remarkable to behold.
He was rich, affluent, and wealthy, with lots of gold and silver, lots of property and assets, lots of money and grain, and a full treasury and storehouses.
He was powerful, having an army of four divisions that was obedient and carried out instructions. He’d probably prevail over his enemies just with his reputation.
He was faithful, generous, a donor, his door always open. He was a well-spring of support, making merit with ascetics and brahmins, for paupers, vagrants, supplicants, and beggars.
He was very learned in diverse fields of learning. He understood the meaning of diverse statements, saying: ‘This is what that statement means; that is what this statement means.’
He was astute, competent, and intelligent, able to think issues through as they bear upon the past, future, and present.
These are the eight factors that King Mahāvijita possessed. And so these eight factors also became accessories to the sacrifice.
340. “Đại vương Mahāvijita thành tựu tám chi phần: (1) Sanh ra tốt đẹp từ cả hai phía, từ mẹ và từ cha, có bào thai trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về dòng dõi. (2) Có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, ưa nhìn, thành tựu vẻ đẹp dung sắc tối thượng, có nước da như Phạm thiên, có thân thể như Phạm thiên, có vóc dáng oai nghiêm để chiêm ngưỡng. (3) Giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, nhiều vàng bạc, nhiều vật dụng tài sản, nhiều tiền của lúa gạo, kho tàng và vựa lúa đầy đủ. (4) Có sức mạnh, thành tựu bốn binh chủng biết vâng lời, biết tuân theo lời giáo huấn, dường như chế ngự được kẻ thù bằng uy danh. (5) Có đức tin, là người cho, là thí chủ, có cửa nhà rộng mở, là nơi nương tựa như giếng nước cho Sa-môn, Bà-la-môn, người nghèo khổ, khách lữ hành, và người ăn xin, làm các việc phước thiện. (6) Có học thức sâu rộng về những điều đã được nghe. (7) Vị ấy biết được ý nghĩa của những lời đã được nói rằng: ‘Đây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này’. (8) Là bậc hiền trí, thông thái, có trí tuệ, có khả năng suy xét các việc trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Đại vương Mahāvijita thành tựu tám chi phần này. Như vậy, tám chi phần này cũng là những vật phụ trợ cho cuộc tế lễ ấy.
4.3. Catuparikkhāra
4.3. Four More Accessories
Bốn vật phụ trợ
Purohito brāhmaṇo catūhaṅgehi samannāgato,
ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena;
ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo;
sīlavā vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato;
And the brahmin high priest had four factors.
He was well born on both his mother’s and father’s side, stemming from a clean vessel, with irrefutable and impeccable genealogy back to the seventh paternal generation.
He recited and remembered the hymns, and had mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knew them word-by-word, and their grammar. He was well versed in cosmology and the marks of a great man.
He was ethical, mature in ethical conduct.
Như vậy, có bốn phe đồng thuận, vua Mahāvijita hội đủ tám yếu tố, vị Bà-la-môn tế chủ hội đủ bốn yếu tố, và có ba phương thức. Này Bà-la-môn, đây được gọi là sự thành tựu tế đàn theo ba phương thức và có mười sáu vật phụ tùng.
paṇḍito viyatto medhāvī paṭhamo vā dutiyo vā sujaṁ paggaṇhantānaṁ.
Purohito brāhmaṇo imehi catūhaṅgehi samannāgato. Iti imānipi cattāri aṅgāni tasseva yaññassa parikkhārā bhavanti.
4.4. Tissovidhā
He was astute, competent, and intelligent, being the first or second to hold the sacrificial ladle.
These are the four factors that the brahmin high priest possessed. And so these four factors also became accessories to the sacrifice.
4.4. The Three Modes
341. “Vị Bà-la-môn tế tự thành tựu bốn chi phần: (1) Sanh ra tốt đẹp từ cả hai phía, từ mẹ và từ cha, có bào thai trong sạch cho đến bảy đời tổ phụ, không bị chê bai, không bị chỉ trích về dòng dõi. (2) Là người tụng đọc và ghi nhớ các câu thần chú, thông suốt ba tập Vệ-đà cùng với các sách Nighaṇḍu (từ vựng), Keṭubha (nghi lễ), Akkharappabheda (ngữ âm và ngữ pháp), và Itihāsa (sử thi) là thứ năm; thông thạo Padaka (phân tích từ) và Veyyākaraṇa (ngữ pháp); không thiếu sót trong các sách Lokāyata (thế gian luận) và tướng của bậc đại nhân. (3) Có giới hạnh, có giới hạnh tăng trưởng, thành tựu giới hạnh đã tăng trưởng. (4) Là bậc hiền trí, thông thái, có trí tuệ, là người thứ nhất hoặc thứ hai trong số những người cầm muỗng tế lễ. Vị Bà-la-môn tế tự thành tựu bốn chi phần này. Như vậy, bốn chi phần này cũng là những vật phụ trợ cho cuộc tế lễ ấy.
Atha kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā tisso vidhā desesi. Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yiṭṭhukāmassa kocideva vippaṭisāro: ‘“mahā vata me bhogakkhandho vigacchissatī”ti, so bhotā raññā vippaṭisāro na karaṇīyo. Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yajamānassa kocideva vippaṭisāro: “mahā vata me bhogakkhandho vigacchatī”ti, so bhotā raññā vippaṭisāro na karaṇīyo. Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yiṭṭhassa kocideva vippaṭisāro: “mahā vata me bhogakkhandho vigato”ti, so bhotā raññā vippaṭisāro na karaṇīyo’ti.
Imā kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā tisso vidhā desesi.
4.5. Dasaākāra
Next, before the sacrifice, the brahmin high priest taught the three modes to the king. ‘Now, though the king wants to perform a great sacrifice, he might have certain regrets, thinking: “I shall lose a great fortune,” or “I am losing a great fortune,” or “I have lost a great fortune.” But the king should not harbor such regrets.’
These are the three modes that the brahmin high priest taught to the king before the sacrifice.
4.5. The Ten Respects
342. “Này Bà-la-môn, khi ấy vị Bà-la-môn tế tự đã chỉ dạy ba tâm thái này cho vua Mahāvijita ngay trước cuộc tế lễ. Có thể đối với đức vua, khi có ý muốn thực hiện đại tế lễ, có sự hối tiếc nào đó khởi lên rằng: ‘Than ôi, khối tài sản lớn của ta sẽ bị tiêu tan!’. Sự hối tiếc ấy đức vua không nên có. Có thể đối với đức vua, trong khi đang thực hiện đại tế lễ, có sự hối tiếc nào đó khởi lên rằng: ‘Than ôi, khối tài sản lớn của ta đang bị tiêu tan!’. Sự hối tiếc ấy đức vua không nên có. Có thể đối với đức vua, sau khi đã thực hiện đại tế lễ, có sự hối tiếc nào đó khởi lên rằng: ‘Than ôi, khối tài sản lớn của ta đã bị tiêu tan!’. Sự hối tiếc ấy đức vua không nên có. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn tế tự đã chỉ dạy ba tâm thái này cho vua Mahāvijita ngay trước cuộc tế lễ.
Atha kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā dasahākārehi paṭiggāhakesu vippaṭisāraṁ paṭivinesi.
‘Āgamissanti kho bhoto yaññaṁ pāṇātipātinopi pāṇātipātā paṭiviratāpi. Ye tattha pāṇātipātino, tesaññeva tena. Ye tattha pāṇātipātā paṭiviratā, te ārabbha yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetu.
Āgamissanti kho bhoto yaññaṁ adinnādāyinopi adinnādānā paṭiviratāpi …pe… kāmesu micchācārinopi kāmesumicchācārā paṭiviratāpi … musāvādinopi musāvādā paṭiviratāpi … pisuṇavācinopi pisuṇāya vācāya paṭiviratāpi … pharusavācinopi pharusāya vācāya paṭiviratāpi … samphappalāpinopi samphappalāpā paṭiviratāpi … abhijjhālunopi anabhijjhālunopi … byāpannacittāpi abyāpannacittāpi … micchādiṭṭhikāpi sammādiṭṭhikāpi …. Ye tattha micchādiṭṭhikā, tesaññeva tena. Ye tattha sammādiṭṭhikā, te ārabbha yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetū’ti.
Imehi kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā dasahākārehi paṭiggāhakesu vippaṭisāraṁ paṭivinesi.
4.6. Soḷasākāra
Next, before the sacrifice, the brahmin high priest dispelled the king’s regret regarding the recipients in ten respects:
‘There will come to the sacrifice those who kill living creatures and those who refrain from killing living creatures. As to those who kill living creatures, the outcome of that is theirs alone. But as to those who refrain from killing living creatures, it is for their sakes that the king should sacrifice, relinquish, rejoice, and gain confidence in his heart.
There will come to the sacrifice those who steal … commit sexual misconduct … lie … use backbiting … use harsh speech … talk nonsense … are covetous … have ill will … have wrong view and those who have right view. As to those who have wrong view, the outcome of that is theirs alone. But as to those who have right view, it is for their sakes that the king should sacrifice, relinquish, rejoice, and gain confidence in his heart.’
These are the ten respects in which the high priest dispelled the king’s regret regarding the recipients before the sacrifice.
4.6. The Sixteen Respects
343. “Này Bà-la-môn, khi ấy vị Bà-la-môn tế tự đã loại trừ sự hối tiếc đối với những người nhận lễ vật cho vua Mahāvijita bằng mười phương diện này ngay trước cuộc tế lễ: ‘Sẽ có những người đến dự lễ tế của ngài, cả những người sát sanh và những người từ bỏ sát sanh. Trong số đó, những ai sát sanh, thì việc ấy chỉ liên quan đến họ mà thôi. Trong số đó, những ai từ bỏ sát sanh, hãy hướng tâm đến họ mà ngài hãy tế lễ, ngài hãy bố thí, ngài hãy hoan hỷ, ngài hãy làm cho nội tâm của mình được trong sạch. Sẽ có những người đến dự lễ tế của ngài, cả những người lấy của không cho và những người từ bỏ lấy của không cho... cả những người tà dâm trong các dục và những người từ bỏ tà dâm trong các dục... cả những người nói dối và những người từ bỏ nói dối... cả những người nói lời đâm thọc và những người từ bỏ nói lời đâm thọc... cả những người nói lời thô ác và những người từ bỏ nói lời thô ác... cả những người nói lời vô ích và những người từ bỏ nói lời vô ích... cả những người có lòng tham lam và những người không có lòng tham lam... cả những người có tâm sân hận và những người không có tâm sân hận... cả những người có tà kiến và những người có chánh kiến... Trong số đó, những ai có tà kiến, thì việc ấy chỉ liên quan đến họ mà thôi. Trong số đó, những ai có chánh kiến, hãy hướng tâm đến họ mà ngài hãy tế lễ, ngài hãy bố thí, ngài hãy hoan hỷ, ngài hãy làm cho nội tâm của mình được trong sạch’. Này Bà-la-môn, bằng mười phương diện này, vị Bà-la-môn tế tự đã loại trừ sự hối tiếc đối với những người nhận lễ vật cho vua Mahāvijita ngay trước cuộc tế lễ.
Atha kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa mahāyaññaṁ yajamānassa soḷasahākārehi cittaṁ sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi
siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yajamānassa kocideva vattā: ‘rājā kho mahāvijito mahāyaññaṁ yajati, no ca kho tassa āmantitā khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca; atha ca pana bhavaṁ rājā evarūpaṁ mahāyaññaṁ yajatī’ti. Evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhotā kho pana raññā āmantitā khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca. Imināpetaṁ bhavaṁ rājā jānātu, yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetu.
Next, while the king was performing the great sacrifice, the brahmin high priest educated, encouraged, fired up, and inspired the king’s mind in sixteen respects:
‘Now, while the king is performing the great sacrifice, someone might say, “King Mahāvijita performs a great sacrifice, but he did not announce it to the aristocrat vassals of town and country. That’s the kind of great sacrifice that this king performs.” Those who speak against the king in this way have no legitimacy. For the king did indeed announce it to the aristocrat vassals of town and country. Let the king know this as a reason to sacrifice, relinquish, rejoice, and gain confidence in his heart.
344. “Này Bà-la-môn, khi ấy vị Bà-la-môn tế tự, trong khi vua Mahāvijita đang thực hiện đại tế lễ, đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi tâm của vua bằng mười sáu phương diện. Có thể có người nói với đức vua trong khi ngài đang thực hiện đại tế lễ rằng: ‘Vua Mahāvijita đang thực hiện đại tế lễ, nhưng ngài đã không mời các vị vua chư hầu, các người dân ở thị trấn và thôn quê; thế mà đức vua lại thực hiện một đại tế lễ như vậy’. Dù có người nói như vậy với đức vua, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì đức vua đã mời các vị vua chư hầu, các người dân ở thị trấn và thôn quê. Do lý do này, mong đức vua hãy biết điều đó. Ngài hãy tế lễ, ngài hãy bố thí, ngài hãy hoan hỷ, ngài hãy làm cho nội tâm của mình được trong sạch.
Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yajamānassa kocideva vattā: ‘rājā kho mahāvijito mahāyaññaṁ yajati, no ca kho tassa āmantitā amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca …pe… brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca …pe… gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca, atha ca pana bhavaṁ rājā evarūpaṁ mahāyaññaṁ yajatī’ti. Evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhotā kho pana raññā āmantitā gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca. Imināpetaṁ bhavaṁ rājā jānātu, yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetu.
While the king is performing the great sacrifice, someone might say, “King Mahāvijita performs a great sacrifice, but he did not announce it to the aristocrat vassals; the ministers and councillors; the well-to-do brahmins; and the well-off householders. That’s the kind of great sacrifice that this king performs.” Those who speak against the king in this way have no legitimacy. For the king did indeed announce it to all these people. Let the king know this too as a reason to sacrifice, relinquish, rejoice, and gain confidence in his heart.
‘Tâu Đại vương, trong khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn, có thể có người nói rằng: ‘Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, nhưng ngài đã không mời các vị đại thần, các vị cận thần, dân chúng ở thành thị và thôn quê... các vị Bà-la-môn đại phú... các vị gia chủ giàu có ở thành thị và thôn quê, thế mà đức vua lại cử hành đại lễ tế đàn như vậy’. Dù có người nói như vậy, tâu đại vương, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì rằng, đại vương đã mời các vị gia chủ giàu có ở thành thị và thôn quê. Do lý do này, mong đại vương hãy biết điều ấy. Mong đại vương hãy tế lễ, mong đại vương hãy bố thí, mong đại vương hãy hoan hỷ, mong đại vương hãy làm cho nội tâm được trong sạch.
Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yajamānassa kocideva vattā: ‘rājā kho mahāvijito mahāyaññaṁ yajati, no ca kho ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, atha ca pana bhavaṁ rājā evarūpaṁ mahāyaññaṁ yajatī’ti. Evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhavaṁ kho pana rājā ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Imināpetaṁ bhavaṁ rājā jānātu, yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetu.
While the king is performing the great sacrifice, someone might say that he does not possess the eight factors.
‘Tâu Đại vương, trong khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn, có thể có người nói rằng: ‘Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, nhưng ngài không có dòng dõi trong sạch từ cả hai bên cha và mẹ, dòng dõi bên mẹ của ngài không trong sạch cho đến bảy đời tổ tiên, ngài bị chê bai và chỉ trích về mặt dòng dõi, thế mà đức vua lại cử hành đại lễ tế đàn như vậy’. Dù có người nói như vậy, tâu đại vương, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì rằng, đại vương có dòng dõi trong sạch từ cả hai bên cha và mẹ, dòng dõi bên mẹ của ngài trong sạch cho đến bảy đời tổ tiên, ngài không bị chê bai và chỉ trích về mặt dòng dõi. Do lý do này, mong đại vương hãy biết điều ấy. Mong đại vương hãy tế lễ, mong đại vương hãy bố thí, mong đại vương hãy hoan hỷ, mong đại vương hãy làm cho nội tâm được trong sạch.
‘Tâu Đại vương, trong khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn, có thể có người nói rằng: ‘Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, nhưng ngài không có dung sắc, không đáng chiêm ngưỡng, không đáng kính, không có dung mạo và hình dáng tuyệt vời, không có dung sắc như Phạm thiên, không có thân thể như Phạm thiên, thân hình nhỏ bé không oai nghiêm... không giàu có, không có nhiều của cải, không có nhiều tài sản, không có nhiều vàng bạc, không có nhiều vật dụng đáng ưa thích, không có nhiều của cải và lúa gạo, kho tàng và vựa lúa không đầy đủ... không có binh lực, không có bốn binh chủng tuân theo mệnh lệnh một cách trung thành, không thể dùng uy thế để áp đảo quân thù... không có đức tin, không bố thí, không phải là chủ của sự bố thí, không có cửa nhà rộng mở cho Sa-môn, Bà-la-môn, người cô độc, khách lữ hành, và người ăn xin, không phải là nguồn nước cho họ, không làm các công đức... không có học thức sâu rộng... không biết ý nghĩa của lời nói này, lời nói kia... không có trí tuệ, không lanh lợi, không có trí tuệ sắc bén, không có khả năng suy xét các việc trong quá khứ, hiện tại, và vị lai, thế mà đức vua lại cử hành đại lễ tế đàn như vậy’. Dù có người nói như vậy, tâu đại vương, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì rằng, đại vương có trí tuệ, lanh lợi, có trí tuệ sắc bén, có khả năng suy xét các việc trong quá khứ, hiện tại, và vị lai. Do lý do này, mong đại vương hãy biết điều ấy. Mong đại vương hãy tế lễ, mong đại vương hãy bố thí, mong đại vương hãy hoan hỷ, mong đại vương hãy làm cho nội tâm được trong sạch.
Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṁ yajamānassa kocideva vattā: ‘rājā kho mahāvijito mahāyaññaṁ yajati. No ca khvassa purohito brāhmaṇo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena; atha ca pana bhavaṁ rājā evarūpaṁ mahāyaññaṁ yajatī’ti. Evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhoto kho pana rañño purohito brāhmaṇo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Imināpetaṁ bhavaṁ rājā jānātu, yajataṁ bhavaṁ, sajjataṁ bhavaṁ, modataṁ bhavaṁ, cittameva bhavaṁ antaraṁ pasādetu.
While the king is performing the great sacrifice, someone might say that the high priest does not possess the four factors.
‘Tâu Đại vương, trong khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn, có thể có người nói rằng: ‘Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, nhưng vị Bà-la-môn tế tự của ngài không có dòng dõi trong sạch từ cả hai bên cha và mẹ, dòng dõi bên mẹ của vị ấy không trong sạch cho đến bảy đời tổ tiên, vị ấy bị chê bai và chỉ trích về mặt dòng dõi, thế mà đức vua lại cử hành đại lễ tế đàn như vậy’. Dù có người nói như vậy, tâu đại vương, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì rằng, vị Bà-la-môn tế tự của đại vương có dòng dõi trong sạch từ cả hai bên cha và mẹ, dòng dõi bên mẹ của vị ấy trong sạch cho đến bảy đời tổ tiên, vị ấy không bị chê bai và chỉ trích về mặt dòng dõi. Do lý do này, mong đại vương hãy biết điều ấy. Mong đại vương hãy tế lễ, mong đại vương hãy bố thí, mong đại vương hãy hoan hỷ, mong đại vương hãy làm cho nội tâm được trong sạch.
Imehi kho, brāhmaṇa, purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa mahāyaññaṁ yajamānassa soḷasahi ākārehi cittaṁ sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
These are the sixteen respects in which the high priest educated, encouraged, fired up, and inspired the king’s mind while he was performing the sacrifice.
‘Tâu Đại vương, trong khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn, có thể có người nói rằng: ‘Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, nhưng vị Bà-la-môn tế tự của ngài không thuộc các bài kệ trong kinh Vệ-đà, không am tường kinh Vệ-đà, không thông thạo ba bộ kinh Vệ-đà cùng với các sách chú giải (Nighaṇḍu, Keṭubha), sách ngữ pháp (Akkharappabheda), và sách lịch sử (Itihāsa) là bộ thứ năm; không giỏi về từ vựng (padako), không giỏi về ngữ pháp (veyyākaraṇo), không thông thạo triết học thế gian (Lokāyata) và tướng pháp của bậc đại nhân... vị Bà-la-môn tế tự của ngài không có giới hạnh, không có giới hạnh đã phát triển... vị Bà-la-môn tế tự của ngài không có trí tuệ, không lanh lợi, không có trí tuệ sắc bén, không phải là người thứ nhất hay thứ hai trong số những người cầm muỗng tế lễ, thế mà đức vua lại cử hành đại lễ tế đàn như vậy’. Dù có người nói như vậy, tâu đại vương, lời nói ấy cũng không đúng với sự thật. Vì rằng, vị Bà-la-môn tế tự của đại vương có trí tuệ, lanh lợi, có trí tuệ sắc bén, và là người thứ nhất hay thứ hai trong số những người cầm muỗng tế lễ. Do lý do này, mong đại vương hãy biết điều ấy. Mong đại vương hãy tế lễ, mong đại vương hãy bố thí, mong đại vương hãy hoan hỷ, mong đại vương hãy làm cho nội tâm được trong sạch. Này Bà-la-môn, chính bằng mười sáu phương diện này mà vị Bà-la-môn tế tự đã chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ, và làm hoan hỷ tâm của vua Mahāvijita khi ngài đang cử hành đại lễ tế đàn.
Tasmiṁ kho, brāhmaṇa, yaññe neva gāvo haññiṁsu, na ajeḷakā haññiṁsu, na kukkuṭasūkarā haññiṁsu, na vividhā pāṇā saṅghātaṁ āpajjiṁsu, na rukkhā chijjiṁsu yūpatthāya, na dabbhā lūyiṁsu barihisatthāya. Yepissa ahesuṁ dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na daṇḍatajjitā na bhayatajjitā na assumukhā rudamānā parikammāni akaṁsu. Atha kho ye icchiṁsu, te akaṁsu, ye na icchiṁsu, na te akaṁsu; yaṁ icchiṁsu, taṁ akaṁsu, yaṁ na icchiṁsu, na taṁ akaṁsu. Sappitelanavanītadadhimadhuphāṇitena ceva so yañño niṭṭhānamagamāsi.
And brahmin, in that sacrifice no cattle were killed, no goats or sheep were killed, and no chickens or pigs were killed. There was no slaughter of various kinds of creatures. No trees were felled for the sacrificial post. No grass was reaped to strew over the place of sacrifice. No bondservants, servants, or workers did their jobs under threat of punishment and danger, weeping with tearful faces. Those who wished to work did so, while those who did not wish to did not. They did the work they wanted to, and did not do what they didn’t want to. The sacrifice was completed with just ghee, oil, butter, curds, honey, and molasses.
345. Này Bà-la-môn, trong lễ tế đàn ấy, không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loài sinh vật khác bị sát hại, không có cây cối bị đốn để làm trụ tế, không có cỏ tranh bị cắt để làm vật trải. Và những người là tôi tớ, hay người đưa tin, hay người làm công của vua, họ cũng không bị roi vọt hăm dọa, không bị sợ hãi hăm dọa, không phải vừa khóc lóc mặt đẫm lệ mà làm các công việc. Mà này, những ai muốn làm thì làm, những ai không muốn làm thì không làm; việc gì họ muốn làm thì làm, việc gì họ không muốn làm thì không làm. Lễ tế đàn ấy chỉ được hoàn tất với bơ, dầu, bơ sữa, sữa đông, mật ong, và đường phèn.
Atha kho, brāhmaṇa, khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca, amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca, brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca, gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca pahūtaṁ sāpateyyaṁ ādāya rājānaṁ mahāvijitaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘idaṁ, deva, pahūtaṁ sāpateyyaṁ devaññeva uddissābhataṁ, taṁ devo paṭiggaṇhātū’ti.
‘Alaṁ, bho, mamāpidaṁ pahūtaṁ sāpateyyaṁ dhammikena balinā abhisaṅkhataṁ; tañca vo hotu, ito ca bhiyyo harathā’ti.
Te raññā paṭikkhittā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: ‘na kho etaṁ amhākaṁ patirūpaṁ, yaṁ mayaṁ imāni sāpateyyāni punadeva sakāni gharāni paṭihareyyāma. Rājā kho mahāvijito mahāyaññaṁ yajati, handassa mayaṁ anuyāgino homā’ti.
Then the aristocrat vassals, ministers and councillors, well-to-do brahmins, and well-off householders came to the king bringing abundant wealth and said, ‘Your Majesty, this abundant wealth is specially for you alone; may Your Majesty accept it!’
‘There’s enough raised for me through regular taxes. Let this be for you; and here, take even more!’
When the king turned them down, they withdrew to one side to think up a plan, ‘It wouldn’t be proper for us to take this abundant wealth back to our own homes. King Mahāvijita is performing a great sacrifice. Let us make an offering as an auxiliary sacrifice.’
346. Này Bà-la-môn, khi ấy, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu ở các thị trấn và thôn quê, các vị đại thần và cận thần ở các thị trấn và thôn quê, các vị Bà-la-môn đại phú ở các thị trấn và thôn quê, và các vị gia chủ giàu có ở các thị trấn và thôn quê, đã mang theo nhiều của cải đến yết kiến vua Mahāvijita và tâu rằng: ‘Tâu Thiên tử, đây là nhiều của cải được mang đến dâng lên chính Thiên tử, xin Thiên tử hãy nhận lấy.’ (Vua đáp): ‘Thôi, các khanh, ta đã có đủ của cải này được thu góp từ thuế má đúng pháp; của cải ấy hãy là của các khanh, và hãy mang thêm từ đây nữa.’ Bị vua từ chối, họ lui ra một nơi và cùng nhau suy nghĩ rằng: ‘Thật không xứng đáng cho chúng ta nếu chúng ta lại mang những của cải này trở về nhà mình. Vua Mahāvijita đang cử hành đại lễ tế đàn, thôi thì chúng ta hãy là những người tế đàn theo sau ngài.’
Atha kho, brāhmaṇa, puratthimena yaññavāṭassa khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṁ. Dakkhiṇena yaññavāṭassa amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṁ. Pacchimena yaññavāṭassa brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṁ. Uttarena yaññavāṭassa gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṁ.
Then the aristocrat vassals of town and country set up gifts to the east of the sacrificial enclosure. The ministers and councillors of town and country set up gifts to the south of the sacrificial enclosure. The well-to-do brahmins of town and country set up gifts to the west of the sacrificial enclosure. The well-off householders of town and country set up gifts to the north of the sacrificial enclosure.
347. Này Bà-la-môn, khi ấy, ở phía đông của khu vực tế đàn, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu ở các thị trấn và thôn quê đã thiết lập các cuộc bố thí. Ở phía nam của khu vực tế đàn, các vị đại thần và cận thần ở các thị trấn và thôn quê đã thiết lập các cuộc bố thí. Ở phía tây của khu vực tế đàn, các vị Bà-la-môn đại phú ở các thị trấn và thôn quê đã thiết lập các cuộc bố thí. Ở phía bắc của khu vực tế đàn, các vị gia chủ giàu có ở các thị trấn và thôn quê đã thiết lập các cuộc bố thí.
Tesupi kho, brāhmaṇa, yaññesu neva gāvo haññiṁsu, na ajeḷakā haññiṁsu, na kukkuṭasūkarā haññiṁsu, na vividhā pāṇā saṅghātaṁ āpajjiṁsu, na rukkhā chijjiṁsu yūpatthāya, na dabbhā lūyiṁsu barihisatthāya. Yepi nesaṁ ahesuṁ dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na daṇḍatajjitā na bhayatajjitā na assumukhā rudamānā parikammāni akaṁsu. Atha kho ye icchiṁsu, te akaṁsu, ye na icchiṁsu, na te akaṁsu; yaṁ icchiṁsu, taṁ akaṁsu, yaṁ na icchiṁsu na taṁ akaṁsu. Sappitelanavanītadadhimadhuphāṇitena ceva te yaññā niṭṭhānamagamaṁsu.
Iti cattāro ca anumatipakkhā, rājā mahāvijito aṭṭhahaṅgehi samannāgato, purohito brāhmaṇo catūhaṅgehi samannāgato; tisso ca vidhā. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, tividhā yaññasampadā soḷasaparikkhārā”ti.
And brahmin, in that sacrifice too no cattle were killed, no goats were killed, and no chickens or pigs were killed. There was no slaughter of various kinds of creatures. No trees were felled for the sacrificial post. No grass was reaped to strew over the place of sacrifice. No bondservants, servants, or workers did their jobs under threat of punishment and danger, weeping with tearful faces. Those who wished to work did so, while those who did not wish to did not. They did the work they wanted to, and did not do what they didn’t want to. The sacrifice was completed with just ghee, oil, butter, curds, honey, and molasses.
And so there were four consenting factions, eight factors possessed by King Mahāvijita, four factors possessed by the high priest, and three modes. Brahmin, this is called the sacrifice accomplished with three modes and sixteen accessories.”
Này Bà-la-môn, trong các lễ tế đàn ấy cũng vậy, không có bò bị giết, không có dê cừu bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loài sinh vật khác bị sát hại, không có cây cối bị đốn để làm trụ tế, không có cỏ tranh bị cắt để làm vật trải. Và những người là tôi tớ, hay người đưa tin, hay người làm công của họ, họ cũng không bị roi vọt hăm dọa, không bị sợ hãi hăm dọa, không phải vừa khóc lóc mặt đẫm lệ mà làm các công việc. Mà này, những ai muốn làm thì làm, những ai không muốn làm thì không làm; việc gì họ muốn làm thì làm, việc gì họ không muốn làm thì không làm. Các lễ tế đàn ấy chỉ được hoàn tất với bơ, dầu, bơ sữa, sữa đông, mật ong, và đường phèn.
Evaṁ vutte, te brāhmaṇā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṁ: “aho yañño, aho yaññasampadā”ti.
Kūṭadanto pana brāhmaṇo tūṇhībhūtova nisinno hoti. Atha kho te brāhmaṇā kūṭadantaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ: “kasmā pana bhavaṁ kūṭadanto samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodatī”ti?
“Nāhaṁ, bho, samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodāmi. Muddhāpi tassa vipateyya, yo samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyya.
Api ca me, bho, evaṁ hoti—samaṇo gotamo na evamāha: ‘evaṁ me sutan’ti vā ‘evaṁ arahati bhavitun’ti vā; api ca samaṇo gotamo: ‘evaṁ tadā āsi, itthaṁ tadā āsi’ tveva bhāsati.
Tassa mayhaṁ bho evaṁ hoti: ‘addhā samaṇo gotamo tena samayena rājā vā ahosi mahāvijito yaññassāmi purohito vā brāhmaṇo tassa yaññassa yājetā’ti.
Abhijānāti pana bhavaṁ gotamo evarūpaṁ yaññaṁ yajitvā vā yājetvā vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, brāhmaṇa, evarūpaṁ yaññaṁ yajitvā vā yājetvā vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjitā, ahaṁ tena samayena purohito brāhmaṇo ahosiṁ tassa yaññassa yājetā”ti.
When he said this, those brahmins made an uproar, “Hooray for such sacrifice! Hooray for the accomplishment of such sacrifice!”
But the brahmin Kūṭadanta sat in silence. So those brahmins said to him, “How can you not applaud the ascetic Gotama’s fine words?”
“It’s not that I don’t applaud what he said. If anyone didn’t applaud such fine words, their head would explode!
But, gentlemen, it occurs to me that the ascetic Gotama does not say: ‘So I have heard’ or ‘It ought to be like this.’ Rather, he just says: ‘So it was then, this is how it was then.’
It occurs to me that the ascetic Gotama at that time must have been King Mahāvijita, the owner of the sacrifice, or else the brahmin high priest who facilitated the sacrifice for him.
Does the worthy Gotama recall having performed such a sacrifice, or having facilitated it, and then, when his body broke up, after death, being reborn in a good place, a heavenly realm?”
“I do recall that, brahmin. For I myself was the brahmin high priest at that time who facilitated the sacrifice.”
348. Khi được nói như vậy, các vị Bà-la-môn ấy đã la lên, cất tiếng lớn, tiếng reo hò: ‘Ôi, lễ tế đàn! Ôi, sự thành tựu của lễ tế đàn!’ Nhưng Bà-la-môn Kūṭadanta vẫn ngồi im lặng. Bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy nói với Bà-la-môn Kūṭadanta rằng: ‘Tại sao Tôn giả Kūṭadanta lại không hoan hỷ tán thán lời nói khéo nói của Sa-môn Gotama?’ (Kūṭadanta đáp): ‘Thưa các Tôn giả, không phải tôi không hoan hỷ tán thán lời nói khéo nói của Sa-môn Gotama. Ai mà không hoan hỷ tán thán lời nói khéo nói của Sa-môn Gotama, đầu của người ấy có thể bị vỡ ra. Nhưng thưa các Tôn giả, tôi nghĩ như thế này: Sa-môn Gotama không nói rằng: ‘Tôi đã nghe như vậy,’ hay ‘Việc ấy có thể đã xảy ra như vậy,’ mà Sa-môn Gotama chỉ nói rằng: ‘Khi ấy đã là như vậy, khi ấy đã xảy ra như thế.’ Thưa các Tôn giả, do đó tôi nghĩ rằng: ‘Chắc chắn Sa-môn Gotama vào thời ấy hoặc là vua Mahāvijita, chủ nhân của lễ tế đàn, hoặc là vị Bà-la-môn tế chủ đã cử hành lễ tế đàn ấy.’ Vậy Tôn giả Gotama có nhớ rằng sau khi đã cử hành hoặc cho cử hành một lễ tế đàn như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh vào cõi thiện thú, thiên giới chăng?’ (Đức Phật đáp): ‘Này Bà-la-môn, Ta nhớ rằng sau khi đã cử hành hoặc cho cử hành một lễ tế đàn như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh vào cõi thiện thú, thiên giới. Vào thời ấy, Ta chính là vị Bà-la-môn tế chủ đã cử hành lễ tế đàn ấy.’
5. Niccadānaanukulayañña
5. A Regular Gift as a Propitious Sacrifice.
Lễ tế đàn bố thí thường xuyên, hợp với truyền thống gia tộc
“Atthi pana, bho gotama, añño yañño imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But Worthy Gotama, apart from that sacrifice accomplished with three modes and sixteen accessories, is there any other sacrifice that has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
349. Thưa Tôn giả Gotama, có lễ tế đàn nào khác, so với lễ tế đàn thành tựu theo ba phương thức và có mười sáu vật phụ tùng này, lại ít phiền phức hơn, ít công phu hơn, nhưng lại có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn không?
“Atthi kho, brāhmaṇa, añño yañño imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“There is, brahmin.”
Này Bà-la-môn, có lễ tế đàn khác, so với lễ tế đàn thành tựu theo ba phương thức và có mười sáu vật phụ tùng này, lại ít phiền phức hơn, ít công phu hơn, nhưng lại có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn.
“Katamo pana so, bho gotama, yañño imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But what is it?”
Thưa Tôn giả Gotama, vậy lễ tế đàn ấy là gì, mà so với lễ tế đàn thành tựu theo ba phương thức và có mười sáu vật phụ tùng này, lại ít phiền phức hơn, ít công phu hơn, nhưng lại có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn?
“Yāni kho pana tāni, brāhmaṇa, niccadānāni anukulayaññāni sīlavante pabbajite uddissa diyyanti; ayaṁ kho, brāhmaṇa, yañño imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“The regular gifts as propitious sacrifice given specially to ethical renunciates; this sacrifice, brahmin, has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial.”
Này Bà-la-môn, lại nữa, những sự bố thí thường xuyên, những lễ tế theo truyền thống gia tộc, được dâng cúng đến các vị xuất gia có giới đức; này Bà-la-môn, lễ tế này so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc kia thì ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo, yena taṁ niccadānaṁ anukulayaññaṁ imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhatarañca appasamārambhatarañca mahapphalatarañca mahānisaṁsatarañcā”ti?
“What is the cause, Worthy Gotama, what is the reason why those regular gifts as propitious sacrifice have fewer obligations and undertakings, yet are more fruitful and beneficial, compared with the sacrifice accomplished with three modes and sixteen accessories?”
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân nào, do duyên nào mà sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc ấy, so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc kia, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn?
“Na kho, brāhmaṇa, evarūpaṁ yaññaṁ upasaṅkamanti arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā. Taṁ kissa hetu? Dissanti hettha, brāhmaṇa, daṇḍappahārāpi galaggahāpi, tasmā evarūpaṁ yaññaṁ na upasaṅkamanti arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā.
Yāni kho pana tāni, brāhmaṇa, niccadānāni anukulayaññāni sīlavante pabbajite uddissa diyyanti; evarūpaṁ kho, brāhmaṇa, yaññaṁ upasaṅkamanti arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā. Taṁ kissa hetu? Na hettha, brāhmaṇa, dissanti daṇḍappahārāpi galaggahāpi, tasmā evarūpaṁ yaññaṁ upasaṅkamanti arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā.
Ayaṁ kho, brāhmaṇa, hetu ayaṁ paccayo, yena taṁ niccadānaṁ anukulayaññaṁ imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhatarañca appasamārambhatarañca mahapphalatarañca mahānisaṁsatarañcā”ti.
“Because neither perfected ones nor those who are on the path to perfection will attend such a sacrifice. Why is that? Because beatings and throttlings are seen there.
But the regular gifts as propitious sacrifice given specially to ethical renunciates; perfected ones and those who are on the path to perfection will attend such a sacrifice. Why is that? Because no beatings and throttlings are seen there.
This is the cause, brahmin, this is the reason why those regular gifts as propitious sacrifice have fewer obligations and undertakings, yet are more fruitful and beneficial, compared with the sacrifice accomplished with three modes and sixteen accessories.”
Này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã đạt đến A-la-hán đạo không đến gần lễ tế như vậy. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, ở đó người ta thấy có cảnh dùng gậy đánh đập, có cảnh nắm cổ lôi kéo. Do đó, các vị A-la-hán hay những vị đã đạt đến A-la-hán đạo không đến gần lễ tế như vậy. Lại nữa, này Bà-la-môn, những sự bố thí thường xuyên, những lễ tế theo truyền thống gia tộc, được dâng cúng đến các vị xuất gia có giới đức; này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã đạt đến A-la-hán đạo đến gần lễ tế như vậy. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, ở đó người ta không thấy có cảnh dùng gậy đánh đập, không có cảnh nắm cổ lôi kéo. Do đó, các vị A-la-hán hay những vị đã đạt đến A-la-hán đạo đến gần lễ tế như vậy. Này Bà-la-môn, đây là nhân, đây là duyên, do đó mà sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc ấy, so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc kia, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Atthi pana, bho gotama, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But Worthy Gotama, apart from that sacrifice accomplished with three modes and sixteen accessories and those regular gifts as propitious sacrifice, is there any other sacrifice that has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
350. Thưa Tôn giả Gotama, có lễ tế nào khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, và so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn không?
“Atthi kho, brāhmaṇa, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“There is, brahmin.”
Này Bà-la-môn, có lễ tế khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, và so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Katamo pana so, bho gotama, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But what is it?”
Thưa Tôn giả Gotama, lễ tế ấy là gì, mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, và so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn?
“Yo kho, brāhmaṇa, cātuddisaṁ saṅghaṁ uddissa vihāraṁ karoti, ayaṁ kho, brāhmaṇa, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“When someone gives a dwelling specially for the Saṅgha of the four quarters.”
Này Bà-la-môn, người nào xây dựng một ngôi tịnh xá dâng cúng đến chư Tăng bốn phương, này Bà-la-môn, lễ tế này so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc kia, và so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc kia, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Atthi pana, bho gotama, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But is there any other sacrifice that has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
351. Thưa Tôn giả Gotama, có lễ tế nào khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, và so với việc cúng dường tịnh xá này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn không?
“Atthi kho, brāhmaṇa, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
Này Bà-la-môn, có lễ tế khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, và so với việc cúng dường tịnh xá này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Katamo pana so, bho gotama, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
Thưa Tôn giả Gotama, lễ tế ấy là gì, mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, và so với việc cúng dường tịnh xá này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn?
“Yo kho, brāhmaṇa, pasannacitto buddhaṁ saraṇaṁ gacchati, dhammaṁ saraṇaṁ gacchati, saṅghaṁ saraṇaṁ gacchati; ayaṁ kho, brāhmaṇa, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“When someone with confident heart goes for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.”
Này Bà-la-môn, người nào với tâm tịnh tín quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng; này Bà-la-môn, lễ tế này so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc kia, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc kia, và so với việc cúng dường tịnh xá kia, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Atthi pana, bho gotama, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But is there any other sacrifice that has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
352. Thưa Tôn giả Gotama, có lễ tế nào khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, so với việc cúng dường tịnh xá này, và so với việc quy y Tam Bảo này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn không?
“Atthi kho, brāhmaṇa, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
Này Bà-la-môn, có lễ tế khác mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, so với việc cúng dường tịnh xá này, và so với việc quy y Tam Bảo này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn.
“Katamo pana so, bho gotama, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
Thưa Tôn giả Gotama, lễ tế ấy là gì, mà so với lễ tế viên mãn với ba phương diện và mười sáu vật phụ thuộc này, so với sự bố thí thường xuyên, lễ tế theo truyền thống gia tộc này, so với việc cúng dường tịnh xá này, và so với việc quy y Tam Bảo này, lại ít phiền phức hơn, ít tốn công sức hơn, có quả lớn hơn, và có lợi ích lớn hơn?
“Yo kho, brāhmaṇa, pasannacitto sikkhāpadāni samādiyati—pāṇātipātā veramaṇiṁ, adinnādānā veramaṇiṁ, kāmesumicchācārā veramaṇiṁ, musāvādā veramaṇiṁ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṁ. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“When someone with a confident heart undertakes the training rules to refrain from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor.”
Này Bà-la-môn, người nào với tâm tịnh tín thọ trì các học giới – từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng các loại rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dễ duôi. Này Bà-la-môn, sự tế lễ này so với sự thành tựu tế đàn ba phương diện và mười sáu vật phụ tùng kia, so với sự bố thí thường xuyên, tế đàn theo truyền thống gia tộc kia, so với sự bố thí tịnh xá kia, và so với các sự quy y kia, thì ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn.
“Atthi pana, bho gotama, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
“But is there any other sacrifice that has fewer obligations and undertakings, yet is more fruitful and beneficial?”
353. Thưa Tôn giả Gotama, có sự tế lễ nào khác mà so với sự thành tựu tế đàn ba phương diện và mười sáu vật phụ tùng này, so với sự bố thí thường xuyên, tế đàn theo truyền thống gia tộc này, so với sự bố thí tịnh xá này, so với các sự quy y này, và so với các học giới này, lại ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn không?
“Atthi kho, brāhmaṇa, añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti.
“There is, brahmin.
Này Bà-la-môn, quả thật có sự tế lễ khác mà so với sự thành tựu tế đàn ba phương diện và mười sáu vật phụ tùng này, so với sự bố thí thường xuyên, tế đàn theo truyền thống gia tộc này, so với sự bố thí tịnh xá này, so với các sự quy y này, và so với các học giới này, lại ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn.
“Katamo pana so, bho gotama, yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cā”ti?
Thưa Tôn giả Gotama, sự tế lễ ấy là gì, mà so với sự thành tựu tế đàn ba phương diện và mười sáu vật phụ tùng này, so với sự bố thí thường xuyên, tế đàn theo truyền thống gia tộc này, so với sự bố thí tịnh xá này, so với các sự quy y này, và so với các học giới này, lại ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn?
“Idha, brāhmaṇa, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, brāhmaṇa, bhikkhu sīlasampanno hoti …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro ca …pe…
Dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, brāhmaṇa, yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro cāti. …pe…
Ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti … ayampi kho, brāhmaṇa, yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro ca …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti. Ayampi kho, brāhmaṇa, yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṁsataro ca. Imāya ca, brāhmaṇa, yaññasampadāya aññā yaññasampadā uttaritarā vā paṇītatarā vā natthī”ti.
It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. … They enter and remain in the first absorption … This sacrifice has fewer obligations and undertakings than the former, yet is more fruitful and beneficial. …
They enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This sacrifice has fewer obligations and undertakings than the former, yet is more fruitful and beneficial. …
They project and extend the mind toward knowledge and vision … This sacrifice has fewer obligations and undertakings than the former, yet is more fruitful and beneficial.
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’ This sacrifice has fewer obligations and undertakings than the former, yet is more fruitful and beneficial. And, brahmin, there is no other accomplishment of sacrifice which is better and finer than this.”
Này Bà-la-môn, ở đời này, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (nên được diễn giải chi tiết như trong các đoạn 190-212). Này Bà-la-môn, như vậy vị Tỳ-khưu thành tựu giới hạnh... (v.v)... chứng và trú Sơ thiền. Này Bà-la-môn, sự tế lễ này so với các sự tế lễ trước đây thì ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn... (v.v)... chứng và trú Nhị thiền... (v.v)... Tam thiền... (v.v)... chứng và trú Tứ thiền. Này Bà-la-môn, sự tế lễ này cũng so với các sự tế lễ trước đây thì ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn. Vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến trí kiến... (v.v)... Này Bà-la-môn, sự tế lễ này cũng so với các sự tế lễ trước đây thì ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn... (v.v)... vị ấy biết rõ: ‘...không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này Bà-la-môn, sự tế lễ này cũng so với các sự tế lễ trước đây thì ít công phu hơn, ít sát hại hơn, có quả lớn hơn, và có phước báu lớn hơn. Và này Bà-la-môn, ngoài sự thành tựu tế đàn này, không có sự thành tựu tế đàn nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.
6. Kūṭadantaupāsakattapaṭivedanā
6. Kūṭadanta Declares Himself a Lay Follower
Sự tuyên bố trở thành Cận sự nam của Kūṭadanta
Evaṁ vutte, kūṭadanto brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Esāhaṁ, bho gotama, satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni muñcāmi, jīvitaṁ demi, haritāni ceva tiṇāni khādantu, sītāni ca pānīyāni pivantu, sīto ca nesaṁ vāto upavāyatū”ti.
When he had spoken, Kūṭadanta said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
And these bulls, bullocks, heifers, goats, and rams—seven hundred of each—I release them, I grant them life! Let them eat green grass and drink cool water, and may a cool breeze blow upon them!”
354. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Kūṭadanta bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các hình sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama xem con là một cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và thưa Tôn giả Gotama, con xin phóng thích bảy trăm con bò đực, bảy trăm con bò con đực, bảy trăm con bò con cái, bảy trăm con dê, và bảy trăm con cừu. Con xin ban cho chúng sự sống. Mong chúng được ăn cỏ xanh, uống nước mát, và mong ngọn gió mát thổi đến cho chúng.’
7. Sotāpattiphalasacchikiriyā
7. The Realization of the Fruit of Stream-Entry
Sự chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn
Atha kho bhagavā kūṭadantassa brāhmaṇassa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ; kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi kūṭadantaṁ brāhmaṇaṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva kūṭadantassa brāhmaṇassa tasmiññeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Then the Buddha taught Kūṭadanta step by step, with a talk on giving, ethical conduct, and heaven. He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. And when he knew that Kūṭadanta’s mind was ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the brahmin Kūṭadanta: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
355. Bấy giờ, Đức Thế Tôn thuyết cho Bà-la-môn Kūṭadanta một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời; Ngài trình bày sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục, và lợi ích của sự xuất ly. Khi Đức Thế Tôn biết Bà-la-môn Kūṭadanta đã có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không chướng ngại, tâm phấn khởi, tâm tịnh tín, bấy giờ Ngài trình bày bài pháp đặc thù của chư Phật, đó là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Giống như tấm vải thuần tịnh, không còn vết đen, có thể thấm thuốc nhuộm một cách hoàn hảo; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không bụi, không uế nhiễm khởi lên trong Bà-la-môn Kūṭadanta: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.’
Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Then Kūṭadanta saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He said to the Buddha, “Would the worthy Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
356. Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta, đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Mong Tôn giả Gotama cùng với Tỳ-khưu Tăng nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng.
Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo tassā rattiyā accayena sake yaññavāṭe paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi: “kālo, bho gotama; niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, Kūṭadanta rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. And when the night had passed Kūṭadanta had delicious fresh and cooked foods prepared in his own sacrificial enclosure. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.”
357. Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta, biết được sự nhận lời của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo phía hữu rồi ra về. Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta, sau khi đêm ấy đã qua, tại nơi tế đàn của mình, cho dọn sẵn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho người báo thời giờ đến Thế Tôn: 'Tôn giả Gotama, đã đến giờ, cơm đã dọn xong.'
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena kūṭadantassa brāhmaṇassa yaññavāṭo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the sacrificial enclosure of Kūṭadanta together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out.
358. Bấy giờ, Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, cùng với chúng Tỳ-khưu, đi đến nơi tế đàn của Bà-la-môn Kūṭadanta; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho kūṭadanto brāhmaṇo bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho kūṭadantaṁ brāhmaṇaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti.
Then Kūṭadanta served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Kūṭadanta took a low seat and sat to one side. Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta tự tay dâng cúng chúng Tỳ-khưu với Đức Phật là vị đứng đầu các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi họ thỏa mãn và từ chối. Bấy giờ, Bà-la-môn Kūṭadanta, sau khi thấy Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, bèn lấy một chiếc ghế thấp khác, ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho Bà-la-môn Kūṭadanta đang ngồi một bên, làm cho ông thấy rõ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Kūṭadantasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Kūṭadanta, phẩm thứ năm, dứt.