- Dīgha Nikāya 33
Saṅgītisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Saṅgītisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1~1 Một thời Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại thành của dân chúng Mallà tên là Pàvà và trú tại đấy. Thế Tôn trú tại Pàvà trong rừng xoài của thợ rèn Cunda.
SC 2PTS cs 2~2 Lúc bấy giờ, một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà, trú ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú. Dân chúng Mallà ở Pàvà được nghe: “Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại Pàvà, trú tại đấy, trong rừng xoài của thợ rèn Cunda”. Rồi các vị Mallà ở Pàvà đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, ở đây một hội trường tên là Ubbhataka mới được dựng lên giữa dân chúng Mallà ở Pàvà, và hội trường này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn là người đến dùng hội trường này trước tiên. Nhờ Thế Tôn dùng trước tiên, dân chúng Mallà ở Pàvà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài.
SC 4Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 5PTS cs 3~3 Rồi các vị Mallà ở Pàvà, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng đến Ngài, từ tạ đi đến hội trường. Sau khi đến, liền dùng đệm trải khắp tất cả, sửa soạn các ghế ngồi, đặt sẵn một ghè nước, treo cây đèn dầu, rồi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, các vị này đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, các vị Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải nệm tất cả, các ghế ngồi đã được sửa soạn, ghè nước đã được đặt sẵn, cây đèn dầu đã được treo lên, Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời.
SC 7PTS cs 4~4 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại hội trường. Khi đến xong Ngài rửa chân và vào hội trường. Thế Tôn ngồi dựa trên cột chính giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, vào hội trường, ngồi dựa trên bức tường phía Tây, mặt hướng về phía Ðông, sau lưng Thế Tôn. Các vị Mallà ở Pàvà cũng rửa chân, đi vào hội trường, và ngồi xuống, dựa vào bức tường phía Ðông, mặt hướng phía Tây, trước mặt có Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, cho đến đêm thật khuya, thuyết pháp cho dân Mallà ở Pàvà, giảng dạy, giải thích, khích lệ, làm cho hứng khởi rồi bảo các vị ấy về
SC 8—Này Vàsetthà, đêm đã quá khuya. Các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi xem là phải thời.
SC 9- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 10Các vị Mallà ở Pàvà vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và ra đi.
SC 11PTS cs 5~5 Thế Tôn, khi dân Mallà đi chưa bao lâu, nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, rồi bảo tôn giả Sāriputta
SC 12—Này Sāriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sāriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Ta cảm thấy đau lưng! Ta muốn nằm nghỉ.
SC 13- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!—Tôn giả Sāriputta vâng lời Thế Tôn.
SC 14Rồi Thế Tôn, xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn và nằm xuống như cách nằm con sư tử, thân phía hữu, hai chân để trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, với tâm nghĩ đến lúc ngồi dậy.
SC 15PTS cs 6~6 Lúc bấy giờ, Niganthà Nātaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Niganthà chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: “Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ngươi có thể biết Pháp và Luật này? Người theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày đã bị đảo lộn. Quan niệm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được”. Hình như các đệ tử của Niganthà Nātaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm và phản đối các vị Nigaṇṭha, vì Pháp và Luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 16PTS cs 7~7 Rồi tôn giả Sāriputta bảo các Tỷ-kheo
SC 17—Này Hiền giả, Niganthà Nātaputta vừa mới từ trần không bao lâu. Sau khi vị này từ trần, các Nigaṇṭha (Ni-kiền-tử) chia làm hai phe … và không có chỗ y chỉ.
SC 18Nhưng với chúng ta, này các Hiền giả, pháp này được Thế Tôn khéo giảng dạy, khéo trình bày, một Chánh pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày. Ở đây, tất cả mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 19Này các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày? Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 20Này các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 21PTS cs 8~8 Thế nào là một pháp? Tất cả loài hữu tình do các món ăn (āhāra) mà an trú, tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà) mà an trú. Này các Hiền giả, đó là một pháp được Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng một cách chơn chánh. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 22PTS cs 9~9 Này các Hiền giả, có hai pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là hai pháp?
I) Danh và sắc.
Ii) Vô minh và hữu ái.
SC 23Iii) Hữu kiến và vô hữu kiến.
Iv) Vô tàm và vô quý.
V) Tàm và quý.
Vi) Ác ngôn và ác hữu.
SC 24Vii) Thiện ngôn và thiện hữu.
SC 25Viii) Nhập tội thiện xảo và xuất tội thiện xảo.
SC 26Ix) Ðẳng chí thiện xảo và xuất khởi đẳng chí thiện xảo.
SC 27X) Giới thiện xảo và tác ý thiện xảo.
SC 28Xi) Xứ thiện xảo và duyên khởi thiện xảo.
SC 29Xii) Thiện xảo về xứ và thiện xảo về phi xứ.
SC 30Xii) Chơn trực và tàm quý.
SC 31Xiv) Kham nhẫn và nhu hòa.
SC 32Xv) Lời nói nhu thuần và tiếp đón thân tình.
Xvi) Vô hại và từ ái.
SC 33Xvii) Thất niệm và bất chánh tri.
SC 34Xvii) Chánh niệm và tỉnh giác.
SC 35Xix) Các căn không được chế ngự và ăn uống không tiết độ.
SC 36Xx) Các căn được chế ngự và ăn uống có tiết độ.
SC 37Xxi) Tư duy lực và tu tập lực.
SC 38Xxii) Niệm lực và định lực.
Xxiii) Chỉ và quán.
SC 39Xxiv) Chỉ tướng và tinh cần tướng.
SC 40Xxv) Tinh cần và không dao động.
SC 41Xxvi) Giới thành tựu và kiến thành tựu.
SC 42Xxvii) Giới suy khuyết và kiến suy khuyết.
SC 43Xxxiii) Giới thanh tịnh và kiến thanh tịnh.
SC 44Xxix) Kiến thanh tịnh và tinh cần theo tri kiến ấy.
SC 45Xxx) Dao động đối với các pháp bị dao động và chánh tinh cần của người bị dao động ấy.
SC 46Xxxi) Không tri túc với các thiện pháp và không thối thất trong tinh cần.
SC 47Xxxii) Minh tri và giải thoát.
SC 48Xxxiii) Tận tri và vô sanh trí.
SC 49Này các Hiền giả, hai pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 50PTS cs 10~10 Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
SC 51I) Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn.
SC 52Ii) Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn.
SC 53Iii) Ba ác hạnh: Thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.
SC 54Iv) Ba thiện hạnh: Thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh.
SC 55V) Ba bất thiện tầm: Dục tầm, sân tầm, hại tầm.
SC 56Vi) Ba thiện tầm: Ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm.
SC 57Vii) Ba bất thiện tư duy: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.
SC 58Viii) Ba thiện tư duy: Ly dục tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy.
SC 59Ix) Ba bất thiện tưởng: Dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng.
SC 60X) Ba thiện tưởng: Ly dục tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng.
SC 61Xi) Ba bất thiện giới: Dục giới, sân giới, hại giới.
SC 62Xii) Ba thiện giới: Ly dục giới, vô sân giới, vô hại giới.
SC 63Xiii) Ba giới khác: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
SC 64Xiv) Ba giới khác: Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.
SC 65Xv) Ba giới khác: Liệt giới, trung giới, thắng giới.
SC 66Xvi) Ba ái: Dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
SC 67Xvii) Ba ái khác: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái.
SC 68Xviii) Ba ái khác: Sắc ái, vô sắc ái, diệt ái.
SC 69Xix) Ba kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.
SC 70Xx) Ba lậu: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
SC 71Xxi) Ba hữu: Dục hữu, sắc hữu, vô minh hữu.
SC 72Xxii) Ba cầu: Dục cầu, hữu cầu, phạm hạnh cầu.
SC 73Xxiii) Ba mạn: Thắng mạn, đẳng mạn, ty liệt mạn.
SC 74Xxiv) Ba thời: Quá khứ thời, vị lai thời, hiện tại thời.
SC 75Xxv) Ba biên: Hữu thân biên, hữu thân tập biên, hữu thân diệt biên.
SC 76Xvi) Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
SC 77Xvii) Ba khổ tánh: Khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.
SC 78Xxviii) Ba tụ: Tà định tụ, chánh định tụ, bất định tụ.
SC 79Xxix) Ba nghi: Ðối với vấn đề thuộc quá khứ nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề thuộc tương lai, nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề hiện tại nghi ngờ, do dự, không quyết định, không hài lòng.
SC 80Xxx) Ba điều Như Lai không cần gìn giữ: Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về thân. Như Lai không có ác về thân mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”. Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”. Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về ý. Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”.
SC 81xxxi) Ba chướng: Tham chướng, sân chướng, si chướng.
SC 82Xxxii) Ba loại lửa: Lửa tham, lửa sân, lửa si.
SC 83Xxxiii) Ba loại lửa khác: Lửa của người hiếu kính, lửa của người gia chủ, lửa của người cúng dường (cha mẹ, vợ con và các vị xuất gia).
SC 84xxxiv) Ba loại sắc tụ: Hữu kiến hữu đối sắc, vô kiến hữu đối sắc, vô kiến vô đối sắc.
SC 85Xxxv) Ba hành: Phước hành, phi phước hành, bất động hành.
SC 86Xxxvi) Ba loại người: Hữu học nhân, vô học nhân, phi hữu học phi vô học nhân.
SC 87Xxxvii) Ba vị trưởng lão: Sanh trưởng lão, pháp trưởng lão, nhập định trưởng lão.
SC 88Xxxviii) Ba phước nghiệp sự: Thí hành phước nghiệp sự, giới hành phước nghiệp sự, tu hành phước nghiệp sự.
SC 89Xxxix) Ba cử tội sự: Thấy, nghe và nghi.
SC 90Xl) Ba dục sanh: Này các Hiền giả, có những loại hữu tình do dục an trú. Ðối với các dục, họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài Người, một số chư Thiên, một số tái sanh trong đọa xứ. Ðó là loại dục sanh thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên Nimmāna-Rati (Hóa Lạc thiên). Ðó là loại dục sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loại khác tạo ra. Như các loài chư Thiên Para-nimittāva-sāvatthī (Tha Hóa Tự tại thiên). Ðó là hạng dục sanh thứ ba.
SC 91Xli) Ba loại lạc sanh: Này các Hiền giả, có những loài hữu tình (trong quá khứ) luôn luôn tạo ra (thiền định lạc) hay sống trong sự an lạc, như các vị Brahmā—Kàyikà (Phạm Chúng thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!”, như chư Thiên Abhassarà (Quang Âm thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Thiên Subhakinnà (Biến Tịnh thiên). Ðó là loại lạc sanh thứ ba.
SC 92Xlii) Ba tuệ: Hữu học tuệ, vô học tuệ, phi hữu học phi vô học tuệ.
SC 93Xliii) Lại ba tuệ khác: Tư sanh tuệ, văn sanh tuệ, tu sanh tuệ.
SC 94Xliv) Ba loại binh khí: Nghe, xả ly và tuệ.
SC 95Xlv) Ba căn: Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.
SC 96Xlvi) Ba nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn.
SC 97Xlvii) Ba học: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
SC 98Xlviii) Ba sự tu tập: Thân tu, tâm tu, tuệ tu.
SC 99Xlix) Ba vô thượng: Kiến vô thượng, hành vô thượng, giải thoát vô thượng.
SC 100L) Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định.
SC 101Li) Lại ba định khác: Không định, vô tướng định, vô nguyện định.
SC 102Lii) Ba thanh tịnh: Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh.
SC 103Liii) Ba tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc.
SC 104Liv) Ba thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo, phương tiện thiện xảo.
SC 105Lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu.
SC 106Lvi) Ba tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp tăng thượng.
SC 107Lvii) Ba luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: “Sự việc này xảy ra trong quá khứ”; luận bàn về vấn đề tương lai: “Sự việc này xảy ra trong tương lai”; luận bàn về vấn đề hiện tại: “Sự việc này xảy ra trong hiện tại”.
SC 108lvii) Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận trí minh.
SC 109Lix) Ba trú: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú.
SC 110Lx) Ba thần thông: Thần túc thần thông, tri tha tâm thần thông, giáo giới thần thông.
SC 111Này các Hiền giả, ba pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 112PTS cs 11~11 Này các Hiền giả, có bốn pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bốn?
SC 113I) Bốn niệm xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán các cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán các tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán các pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời.
SC 114Ii) Bốn chánh cần: Ở đây, này các Hiền giả vị Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các ác bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng cường, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm.
SC 115Iii) Bốn thần túc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với tinh tấn thực hiện Dục thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tâm thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tinh tấn thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tư duy thiền định (Dục như ý thần túc, Tâm như ý thần túc, Tinh tấn như ý thần túc, Tư duy như ý thần túc).
SC 116iv) Bốn thiền: Ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 117V) Bốn tu tập thiền định: Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Này các Hiền giả, có sự tu tập thiền định, nhờ sự tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.
SC 118Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, và trú thiền thứ nhất … thiền thứ hai … thiền thứ ba … chứng và trú thiền thứ tư. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.
SC 119Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến chứng đắc tri kiến? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo, tác ý quang minh tưởng, an trú tưởng ban ngày, ban ngày thế nào ban đêm như vậy, ban đêm thế nào ban ngày như vậy. Và như vậy với tâm mở rộng không có đóng kín, tạo ra một tâm có hào quang. Này các Hiền giả, như vậy là tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri kiến.
SC 120Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, hướng đến chánh niệm, tỉnh giác? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo biết được thọ khởi, biết được thọ trú, biết được thọ diệt, biết được tưởng khởi, biết được tưởng trú, biết được tưởng diệt, biết được tầm khởi, biết được tầm trú, biết được tầm diệt. Này các Hiền giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.
SC 121Này các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn—Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là hành … Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.
SC 122Vi) Bốn vô lượng tâm: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 123Lại nữa, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 124Vii) Bốn vô sắc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vượt lên mọi thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 125Viii) Bốn y chỉ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo sau khi suy nghĩ, thọ dụng; sau khi suy nghĩ, nhẫn thọ; sau khi suy nghĩ, viễn ly; sau khi suy nghĩ, khiển trừ.
SC 126Ix) Bốn Thánh chủng: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ loại y nào, không cố gắng tìm cầu y một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được y, nhưng khi được y, vị này, không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng y, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ loại y nào, vị ấy không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
SC 127Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, không cố gắng tìm cầu món ăn khất thực một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được món ăn khất thực. Nhưng khi được món ăn khất thực, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các món ăn khất thực, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ món ăn khất thực nào, vị này không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
SC 128Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, không cố gắng tìm cầu phòng xá một cách không xứng đáng, không có áo não nếu không được trú xứ. Nhưng khi được phòng xá, vị này không nhiễm trước, không say mê, không có phạm tội. Vị này dùng các phòng xá, thấy các nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ phòng xá nào, vị này không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
SC 129Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập. Nhờ ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập nên không khen mình chê người. Ở đây, vị Tỷ-kheo này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm. Này các Hiền giả, vị ấy được gọi là một vị đã trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
SC 130X) Bốn tinh cần: Chế ngự tinh cần, đoạn trừ tinh cần, tu tập tinh cần, hộ trì tinh cần.
SC 131Này các Hiền giả, thế nào là chế ngự tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự chế ngự ý căn. Này các Hiền giả, như vậy gọi là chế ngự tinh cần.
SC 132Này các Hiền giả, thế nào là đoạn trừ tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu; không chấp nhận sân tầm đã khởi lên … không chấp nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện hữu. Này các Hiền giả, như vậy gọi là đoạn trừ tinh cần.
SC 133Này các Hiền giả, thế nào là tu tập tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập Niệm Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ; tu tập Trạch pháp Giác chi … tu tập Tinh tấn Giác chi … tu tập Hỷ Giác chi … tu tập Khinh an Giác chi … tu tập Ðịnh Giác chi … tu tập Xả Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ. Này các Hiền giả, như vậy gọi là tu tập tinh cần.
SC 134Này các Hiền giả, thế nào là hộ trì tinh cần? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo hộ trì định tướng tốt đẹp đã khởi lên, cốt tưởng, trùng hám tưởng, thanh ứ tưởng, đoạn hoại tưởng, trương bành tưởng. Này các Hiền giả, như vậy gọi là hộ trì tinh cần.
SC 135Xi) Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.
SC 136Xii) Lại bốn trí khác: Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí.
SC 137Xiii) Bốn Dự lưu hướng chi: Thiện nhân thân cận, diệu pháp thính thọ, như lý tác ý, pháp tùy pháp hành.
SC 138Xiv) Bốn Dự lưu quả chi: Ở đây Thánh đệ tử thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới tự mình giác hiểu”. Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ diệu hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ như lý hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ chánh hạnh, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Vị ấy thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị hư hoại, không bị tỳ vết, được thực hành liên tục, không bị khiếm khuyết khiến con người tự tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng đến thiền định.
SC 139Xv) Bốn Sa môn quả: Dự lưu quả, Nhứt lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả.
SC 140Xvi) Bốn giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
SC 141Xvii) Bốn thực: Ðoàn thực, thô hay tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư.
SC 142Xviii) Bốn thức trú: Này các Hiền giả, khi duyên sắc, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy sắc làm cảnh, lấy sắc làm sở y, lấy sắc làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng. Này các Hiền giả, hay duyên thọ, thức … hay duyên tưởng … Này các Hiền giả, hay duyên hành, thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy hành làm cảnh, lấy hành làm sở y, lấy hành làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng.
SC 143Xix) Bốn bất hành xứ hạnh: Tham dục bất hành xứ hạnh, sân bất hành xứ hạnh, si bất hành xứ hạnh, bố úy bất hành xứ hạnh.
SC 144Xx) Bốn ái sanh: Này các Hiền giả, do nhơn y phục, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn đồ ăn khất thực, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn phòng xá, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn hữu và phi hữu, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái.
SC 145Xxi) Bốn hành: Khổ hành trì chứng, khổ hành tốc chứng, lạc hành trì chứng, lạc hành tốc chứng.
SC 146Xxvii) Bốn loại hành khác: Bất kham nhẫn hành, kham nhẫn hành, điều phục hành, tịch tịnh hành.
SC 147Xxiii) Bốn pháp túc: Vô tham pháp túc, vô sân pháp túc, chánh niệm pháp túc, chánh định pháp túc.
SC 148Xxiv) Bốn pháp thọ: Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo lạc. Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo lạc.
SC 149Xxy) Bốn pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, công đức uẩn, giải thoát uẩn.
SC 150Xxvi) Bốn lực: Tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
SC 151Xxvii) Bốn thắng xứ: Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, xả thắng xứ, chỉ tức thắng xứ (Bốn nguyện).
SC 152xxviii) Bốn cách trả lời câu hỏi: Trả lời câu hỏi một cách dứt khoát, trả lời câu hỏi bằng cách phân tích, trả lời câu hỏi bằng cách cật vấn, trả lời câu hỏi bằng cách giả lơ, bỏ qua.
SC 153Xxix) Bốn nghiệp: Này các Hiền giả, có hắc nghiệp hắc báo. Này các Hiền giả, có bạch nghiệp bạch báo. Này các Hiền giả, có hắc bạch nghiệp, hắc bạch báo. Này các Hiền giả, có phi hắc phi bạch nghiệp, phi hắc phi bạch báo, và đưa đến sự tận diệt các nghiệp.
SC 154Xxx) Bốn pháp cần phải chứng ngộ: Túc mạng cần phải chứng ngộ bởi niệm. Sanh tử cần phải chứng ngộ bởi nhãn. Tám giải thoát cần phải chứng ngộ bởi thân. Lậu tận cần phải chứng ngộ bởi Tuệ.
SC 155Xxxi) Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu.
SC 156Xxxii) Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.
SC 157Xxxiii) Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.
SC 158Xxxiv) Bốn hệ phược: Tham thân hệ, sân thân hệ, giới cấm thủ thân hệ, thử thực chấp thân hệ.
SC 159Xxxv) Bốn thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã thuyết thủ.
SC 160Xxxvi) Bốn sanh: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.
SC 161Xxxvii) Bốn nhập thai: Này các Hiền giả, ở đây, có loài không tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ nhất. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ hai. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ ba. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ tư.
SC 162Xxxviii) Bốn phương cách được tự thể mới: Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình, không do ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của người khác, không do ý chí của mình. Này các Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình và ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được không do ý chí của mình, không do ý chí của người khác.
SC 163Xxxix) Bốn sự cúng dường thanh tịnh: Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường thanh tịnh, người nhận cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người nhận cúng dường thanh tịnh, người cúng dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, cả người cúng dường và người nhận cúng dường đều không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường và người nhận sự cúng dường đều thanh tịnh.
SC 164Xl) Bốn nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
SC 165Xli) Bốn phi Thánh ngôn: Vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ.
SC 166Xlii) Bốn Thánh ngôn: Ly vọng ngữ, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ.
SC 167Xliii) Bốn phi Thánh ngôn khác: Không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết.
SC 168Xliv) Bốn Thánh ngôn khác: Không thấy nói không thấy, không nghe nói không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói không biết.
SC 169Xlv) Bốn phi Thánh ngôn khác: Thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói không biết.
SC 170Xlvi) Bốn Thánh ngôn khác: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói nghĩ, biết nói biết.
SC 171Xlvii) Bốn loại người: Này các Hiền giả, ở đây, có người tự làm khổ mình và siêng năng làm khổ mình. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ người khác, siêng năng làm khổ người khác. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người làm khổ mình, siêng năng làm khổ mình; làm khổ người, siêng năng làm khổ người. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người không làm khổ mình, không siêng năng làm khổ mình; không làm khổ người, không siêng năng làm khổ người. Vị này không làm khổ mình, không làm khổ người ngay trong hiện tại sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương, an lạc, thánh thiện.
SC 172Xlviii) Lại bốn loại người khác: Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi, không hành lợi tha. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành lợi tha, không hành tự lợi. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người, không hành tự lợi và không hành lợi tha. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người hành tự lợi và hành lợi tha.
SC 173Xlix) Lại bốn loại người khác: Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng, sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối, sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng.
SC 174L) Lại bốn loại người khác: Bất động Sa môn, Xích liên hoa Sa môn, Bạch liên hoa Sa môn, Diệu thiện Sa môn.
SC 175Này các Hiền giả, bốn Pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la Hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 176PTS cs 1~12 Này các Hiền giả, có năm Pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 177I) Năm uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
SC 178Ii) Năm thủ uẩn: Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
SC 179Iii) Năm dục công đức: Sắc do nhãn nhận thức. Sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Tiếng do tai nhận thức … Hương do mũi nhận thức … Vị do lưỡi nhận thức … Xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn.
SC 180Iv) Năm thú: Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, Người, chư Thiên.
SC 181V) Năm xan tham: Xan tham đối với trú xứ, xan tham đối với gia đình, xan tham đối với các vật thâu hoạch, xan tham đối với sắc, xan tham đối với pháp.
SC 182Vi) Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái.
SC 183Vii) Năm hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân.
SC 184Viii) Năm thượng phần kiết sử: Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh.
SC 185Ix) Năm học xứ: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngôn, không uống các loại rượu.
SC 186X) Năm bất năng xứ: Này các Hiền giả, một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố sát hại đời sống loài hữu tình. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý lấy của không cho gọi là trộm cắp. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý hành dâm. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý tự mình biết mà nói láo. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ.
SC 187Xi) Năm sự tổn thất: Thân thuộc tổn thất, tài sản tổn thất, tật bệnh tổn thất, giới tổn thất, kiến tổn thất. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc tổn thất, vì tài sản tổn thất, hay vì tật bệnh tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, vì giới tổn thất hay vì kiến tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 188Xii) Năm sự thành tựu: Thân thuộc thành tựu, tài sản thành tựu, vô bệnh thành tựu, giới thành tựu, kiến thành tựu. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc thành tựu, vì tài sản thành tựu hay vì vô bệnh thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này. Này các Hiền giả, có các loài hữu tình, vì giới thành tựu hay vì kiến thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này.
SC 189Xiii) Năm điều nguy hiểm của người ác giới, phạm giới: Này các Hiền giả, người ác giới, vì phạm giới luật, do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, tiếng xấu đồn khắp. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Bà la môn, hội chúng Cư sĩ hay hội chúng Sa môn, người ấy vào một cách sợ sệt và dao động. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi mệnh chung, chết một cách mê loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm của người ác giới, phạm ác giới.
SC 190Xiv) Năm điều lợi ích của người đủ giới, giữ giới: Này các Hiền giả, ở đây người đủ giới, giữ giới, nhờ không phóng dật nên được tài sản sung túc. Ðó là điều lợi ích thứ nhất cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới được tiếng tốt đồn khắp. Ðó là điều lợi ích thứ hai cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, với người đủ giới, giữ giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Ba la môn, hội chúng Cư sĩ, hội chúng Sa môn, vị ấy vào một cách đàng hoàng, không dao động. Ðó là điều lợi ích thứ ba cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới khi mệnh chung chết một cách không mê loạn. Ðó là điều lợi ích thứ tư cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy là điều lợi ích thứ năm cho người đủ giới, giữ giới.
SC 191Xv) Năm pháp nội tâm: Này các Hiền giả, năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác: “Tôi nói đúng thời, không phải phi thời. Tôi nói đúng sự thật, không sai sự thật. Tôi nói một cách từ tốn, không nói lời ác khẩu. Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời không có lợi ích. Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời sân hận”. Này các Hiền giả, như vậy là năm pháp nội tâm một vị Tỷ kheo cần phải có, nếu muốn chỉ trích một vị khác.
SC 192Xvi) Năm cần chi: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau.
SC 193Xvii) Năm tịnh cư: Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện thiên, Thiện Kiến thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.
SC 194Xviii) Năm bất hoàn: Trung gian Bát Niết bàn, Sanh Bát Niết bàn, Vô hành Bát Niết bàn, Hữu hành Bát Niết bàn, Thượng lưu thú A-ca-ni-sá.
SC 195Xix) Năm tâm hoang vu: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.
SC 196Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp … đối với Tăng … đối với học Pháp …
SC 197Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.
SC 198Xx) Năm tâm triền phược: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các dục vọng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với ác dục vọng, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, tâm không ly tham đối với các thân … Như vậy là tâm triền phược thứ hai … Ðối với các sắc, tâm không ly tham … Ðây là tâm triền phược thứ ba. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo không ăn quá sức bao tử có thể chịu nổi, hưởng thọ sự sung sướng về nằm ngủ, sự sung sướng về xúc chạm, sự sung sướng về thụy miên … Ðây là tâm triền phược thứ tư. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng mong được thành một loại chư Thiên: “Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay loại chư Thiên khác”. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng được thành một loại chư Thiên: “Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ năm.
SC 199Xxi) Năm căn: Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
SC 200Xxii) Lại năm căn khác: Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả căn.
SC 201Xxiii) Lại năm căn khác: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
SC 202Xxiv) Năm xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.
SC 203Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hoại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.
SC 204Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.
SC 205Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.
SC 206Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.
SC 207Xxv) Năm giải thoát xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.
SC 208Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.
SC 209Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.
SC 210Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.
SC 211Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.
SC 212Xxvi) Năm giải thoát thành thục tưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng.
SC 213Này các Hiền giả, năm pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 214PTS cs 2~13 Này các Hiền giả, có sáu pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là sáu?
SC 215I) Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.
SC 216Ii) Sáu ngoại xứ: Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.
SC 217Iii) Sáu thức thân: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
SC 218Iv) Sáu xúc thân: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
SC 219V) Sáu thọ thân: Nhãn xúc sở sanh thọ, nhĩ xúc sở sanh thọ, tỷ xúc sở sanh thọ, thiệt xúc sở sanh thọ, thân xúc sở sanh thọ, ý xúc sở sanh thọ.
SC 220Vi) Sáu tưởng thân: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
SC 221Vii) Sáu tư thân: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
SC 222Viii) Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.
SC 223Ix) Sáu không cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học Pháp; sống không cung kính bất phóng dật, không tùy thuận bất phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận sự lễ phép xã giao.
SC 224X) Sáu cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống cung kính, tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính, tùy thuận Pháp; sống cung kính, tùy thuận Tăng; sống cung kính tùy thuận học Pháp; sống cung kính, tùy thuận bất phóng dật; sống cung kính, tùy thuận lễ phép xã giao.
SC 225Xi) Sáu suy tư đến hỷ: Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng … Khi mũi ngửi hương … Khi lưỡi nếm vị … Khi thân chạm xúc … Khi ý nhận pháp, hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư.
SC 226Xii) Sáu suy tư đến ưu: Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng … Khi mũi ngửi hương … Khi lưỡi nếm vị … Khi thân chạm xúc … Khi ý nhận pháp, ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư.
SC 227Xiii) Sáu suy tư đến xả: Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc ấy được suy tư … Khi tai nghe tiếng … Khi mũi ngửi hương … Khi lưỡi nếm vị … Khi thân chạm xúc … Khi ý nhận pháp, xả khởi lên, pháp ấy được suy tư.
SC 228Xiv) Sáu hòa kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 229Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 230Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 231Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 232Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 233Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 234Xv) Sáu tránh căn: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo phẫn nộ, uất hận. Này các Hiền giả, vị này phẫn nộ, uất hận, sống không cung kính, không tùy thuận vị Ðạo Sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sống không cung kính không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, và khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là ngăn chặn nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.
SC 235Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo che dấu và giả dối … tật đố và xan tham … lừa đảo và lường gạt … ác dục và tà kiến …
SC 236Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích, khiến chư Thiên vào loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ ác tránh căn ấy, như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy trong tương lai.
SC 237Xvi) Sáu giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
SC 238Xvii) Sáu xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trí, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.
SC 239Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.
SC 240Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.
SC 241Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.
SC 242Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
SC 243Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.
SC 244Xviii) Sáu vô thượng: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng.
SC 245Xix) Sáu niệm xứ: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên.
SC 246Xx) Sáu hằng trú: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, giác tỉnh; tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
SC 247Xxi) Sáu sanh loại: Này các Hiền giả, ở đây có người hắc sanh và sống tạo hắc pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo bạch pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có người hắc sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo bạch pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo hắc pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch pháp.
SC 248Xxii) Sáu quyết trạch phần tưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, vô tham tưởng, diệt tưởng.
SC 249Này các Hiền giả, sáu pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 250PTS cs 8~14 Này các Hiền giả, có bảy pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là bảy?
SC 251I) Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
SC 252Ii) Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi.
SC 253Iii) Bảy định cụ: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm.
SC 254Iv) Bảy phi diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, liệt tuệ.
SC 255V) Bảy diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tín, có tàm, có quý, đa văn, tinh tấn, niệm được an trú, có trí tuệ.
SC 256Vi) Bảy thượng nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tự tri, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân.
SC 257Vii) Bảy thù diệu sự: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tư niệm và khát vọng quán sát tư niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.
SC 258Viii) Bảy tưởng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, hoạn nạn tưởng, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.
SC 259Ix) Bảy lực: Tín lực, tinh tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
SC 260X) Bảy thức trú: Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.
SC 261Xi) Bảy loại người đáng kính trọng: Câu phần giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín giải thoát, Tùy pháp hành, Tùy tín hành.
SC 262Xii) Bảy tùy miên: Dục ái tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên.
SC 263Xiii) Bảy kiết sử: Ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử, vô minh kiết sử.
SC 264Xiv) Bảy diệt tránh pháp: Có khả năng đình chỉ, trừ diệt các tránh pháp đang khởi lên: Ưng dữ hiện tiền tỳ ni, ưng dữ ức niệm tỳ ni, ưng dữ bất si tỳ ni, ưng dữ tự ngôn trị, đa mích tội tướng, đa nhơn mích tội, như thảo phú địa.
SC 265Này các Hiền giả, bảy pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 266PTS cs 1~15 “Này các Hiền giả, có tám pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là tám?
SC 267I) Tám tà: Tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
SC 268Ii) Tám chánh: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
SC 269Iii) Tám người đáng cung kính: Hạng Dự lưu, hạng đã thành tựu và chứng Dự lưu quả; hạng Nhất lai, hạng đã thành tựu và chứng Nhất lai quả; hạng Bất lai, hạng đã thành tựu và chứng Bất lai quả; hạng A la hán và hạng đã thành tựu A la hán quả.
SC 270Iv) Tám giải đãi sự: Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.
SC 271Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … như vậy là giải đãi sự thứ hai.
SC 272Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ ba.
SC 273Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ tư.
SC 274Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.
SC 275Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.
SC 276Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.
SC 277Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.
SC 278V) Tám tinh tấn sự: Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.
SC 279Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.
SC 280Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.
SC 281Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.
SC 282Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.
SC 283Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.
SC 284Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.
SC 285Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.
SC 286Vi) Tám bố thí sự: Có người đến, nên bố thí. Vì sợ, nên bố thí. Vì “người ấy cho tôi”, nên bố thí. Vì “người ấy sẽ cho tôi”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Bố thí là tốt lành”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Ta nấu, họ không nấu. Thật không phải, nếu ta nấu mà không cho gì những người không nấu”, nên bố thí. Vì suy nghĩ: “Nay ta bố thí, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được truyền đi”, nên bố thí. Vì muốn trang nghiêm tâm và tư trợ tâm, nên bố thí.
SC 287Vii) Tám thí sanh: Này các Hiền giả, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được bố thí trở lại. Người này thấy người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Ba la môn có nhiều tài sản, hay người gia chủ có nhiều tài sản, được sung mãn, cụ túc, thụ hưởng năm món dục lạc. Vị này nghĩ: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh là một trong những người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Bà la môn có nhiều tài sản hay người gia chủ có nhiều tài sản”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh. Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Tứ Ðại Thiên vương thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Tứ Ðại Thiên vương”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.
SC 288Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Chư Thiên Tam thập tam thiên … chư Thiên Dạ ma … chư Thiên Ðâu suất … chư Thiên Hóa Lạc … chư Thiên Tha Hóa Tự tại được sống lâu, đẹp trai, được nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng chư Thiên Tha Hóa Tự tại”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh. Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: “Chư Thiên Phạm Chúng thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc”. Vị này nghĩ: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Phạm Chúng thiên”. Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.
SC 289Viii) Tám chúng: Chúng Sát đế lỵ, chúng Bà la môn, chúng Gia chủ, chúng Sa môn, chúng Tứ Ðại Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng (Thiên) Ma, chúng Phạm thiên.
SC 290Ix) Tám thế gian pháp: Ðắc, bất đắc, danh văn, ác văn, phỉ báng, tán thán, lạc, khổ.
SC 291X) Tám thắng xứ: Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 292Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 293Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 294Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 295Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 296Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 297Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujĩvaka màu đỏ—như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 298Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.
SC 299Xi) Tám giải thoát: Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.
SC 300Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.
SC 301Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.
SC 302Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.
SC 303Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 304Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.
SC 305Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.
SC 306Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.
SC 307Này các Hiền giả, tám pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 308PTS cs 2~16 Này các Hiền giả, có chín pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là chín?
SC 309I) Chín xung đột sự: “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.
SC 310“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến” … “người ấy đang làm hại … ” … “người ấy sẽ làm hại … ”, xung đột khởi lên.
SC 311“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến” … “người ấy đang làm lợi … ” … ” người ấy sẽ làm lợi … ”, xung đột khởi lên.
SC 312Ii) Chín sự điều phục xung đột: “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.
SC 313“Người ấy đã làm hại người tôi thương … ”, … " người ấy đang làm hại … ", … ” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 314“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến … ”, … " người ấy đang làm lợi … ", … ” người ấy sẽ làm lợi … Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 315Iii) Chín chỗ an trú của loài hữu tình: Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.
SC 316Iv) Phạm hạnh trú, chín bất thời bất tiết: Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.
SC 317Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.
SC 318… sanh vào ngạ quỷ … bất thời bất tiết thứ ba.
SC 319… sanh vào hàng A tu la … bất thời bất tiết thứ tư.
SC 320… sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài … bất thời bất tiết thứ năm.
SC 321… sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.
SC 322Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.
SC 323Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.
SC 324Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ chín.
SC 325V) Chín thứ đệ trú: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.
SC 326Vi) Chín thứ đệ diệt: Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.
SC 327Này các Hiền giả, chín pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 328PTS cs 3~17 Này Hiền giả, có mười pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là mười?
SC 329I) Mười hộ trì nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 330Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.
SC 331Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn … khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 332Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 333Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn … nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 334Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh … vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 335Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp … vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 336Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng … Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 337Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng … nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 338Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 339Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí … chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 340Ii) Mười biến xứ: Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến … Một vị biết được hỏa biến … Một vị biết được phong biến … Một vị biết được thanh biến … Một vị biết được hoàng biến … Một vị biết được xích biến … Một vị biết được bạch biến … Một vị biết được hư không biến … Một vị biết được thức biến, trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
SC 341Iii) Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến.
SC 342Iv) Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, ly tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si.
SC 343V) Mười Thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.
SC 344Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.
SC 345Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.
SC 346Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.
SC 347Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.
SC 348Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.
SC 349Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.
SC 350Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.
SC 351Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ—kheo thân hành được khinh an.
SC 352Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ—kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ—kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoát.
SC 353Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ—kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.
SC 354Vi) Mười pháp vô học: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm, vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.
SC 355Này các Hiền giả, mười pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu dài, vì hạnh phúc cho mọi loài, vì an lạc cho mọi loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
SC 356PTS cs 4~18 Rồi Thế Tôn ngồi dậy và bảo tôn giả Sāriputta
SC 357—Lành thay, lành thay Sāriputta! Này Sāriputta, Ngươi đã khéo giảng, khéo tụng kinh này cho chúng Tỷ kheo.
SC 358Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp thuận. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sāriputta.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Saṅgīti (Kinh Phúng Tụng)
296. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ của dân Malla cùng với đại chúng tỳ khưu, khoảng năm trăm vị, và đã đi đến một thành phố của dân Malla tên là Pāvā. Tại đấy, Đức Thế Tôn trú trong vườn xoài của Cunda, con người thợ rèn.
Tena kho pana samayena pāveyyakānaṁ mallānaṁ ubbhatakaṁ nāma navaṁ sandhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena. Assosuṁ kho pāveyyakā mallā: “bhagavā kira mallesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi pāvaṁ anuppatto pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane”ti. Atha kho pāveyyakā mallā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho pāveyyakā mallā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha, bhante, pāveyyakānaṁ mallānaṁ ubbhatakaṁ nāma navaṁ sandhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena. Tañca kho, bhante, bhagavā paṭhamaṁ paribhuñjatu, bhagavatā paṭhamaṁ paribhuttaṁ pacchā pāveyyakā mallā paribhuñjissanti. Tadassa pāveyyakānaṁ mallānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Adhivāsesi kho bhagavā tuṇhībhāvena.
Now at that time a new town hall named Ubbhaṭaka had recently been constructed for the Mallas of Pāvā. It had not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all. The Mallas of Pāvā also heard that the Buddha had arrived and was staying in Cunda’s mango grove. Then they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, a new town hall named Ubbhaṭaka has recently been constructed for the Mallas of Pāvā. It has not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all. May the Buddha be the first to use it, and only then will the Mallas of Pāvā use it. That would be for the lasting welfare and happiness of the Mallas of Pāvā.” The Buddha consented in silence.
297. Vào lúc bấy giờ, dân Malla ở Pāvā có một hội trường mới tên là Ubbhataka, vừa mới được xây cất xong, chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn, hay bất cứ người nào sử dụng. Dân Malla ở Pāvā nghe tin: “Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ của dân Malla cùng với đại chúng tỳ khưu, khoảng năm trăm vị, đã đến Pāvā và đang trú trong vườn xoài của Cunda, con người thợ rèn.” Bấy giờ, dân Malla ở Pāvā đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, dân Malla ở Pāvā bạch Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, ở đây, dân Malla ở Pāvā có một hội trường mới tên là Ubbhataka, vừa mới được xây cất xong, chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn, hay bất cứ người nào sử dụng. Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hãy là người đầu tiên sử dụng hội trường ấy. Sau khi được Đức Thế Tôn sử dụng trước, dân Malla ở Pāvā sẽ sử dụng sau. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho dân Malla ở Pāvā.” Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời.
Atha kho pāveyyakā mallā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena sandhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ sandhāgāraṁ santharitvā bhagavato āsanāni paññāpetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhapetvā telapadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho te pāveyyakā mallā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sabbasantharisanthataṁ, bhante, sandhāgāraṁ, bhagavato āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telapadīpo āropito. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, the Mallas got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the new town hall, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha, bowed, stood to one side, and told him of their preparations, saying, “Please, sir, come at your convenience.”
298. Bấy giờ, dân Malla ở Pāvā, khi biết được sự nhận lời của Đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải, rồi đi đến hội trường. Sau khi đến, họ trải thảm khắp hội trường, chuẩn bị các chỗ ngồi, đặt một bình nước, và thắp đèn dầu. Rồi họ quay lại chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, dân Malla ở Pāvā ấy bạch Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải thảm khắp nơi, các chỗ ngồi đã được chuẩn bị, bình nước đã được đặt, và đèn dầu đã được thắp lên. Bạch Thế Tôn, nay Đức Thế Tôn hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.”
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā sandhāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi. Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā sandhāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Pāveyyakāpi kho mallā pāde pakkhāletvā sandhāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
Atha kho bhagavā pāveyyake malle bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi: “abhikkantā kho, vāseṭṭhā, ratti. Yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pāveyyakā mallā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the new town hall together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet, he entered the town hall and sat against the central column facing east. The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the town hall, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them. The Mallas of Pāvā also washed their feet, entered the town hall, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them.
The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the Mallas with a Dhamma talk. Then he sent them off, “The night is getting late, Vāseṭṭhas. Please go at your convenience.”
“Yes, sir,” replied the Mallas. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
299. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với chúng tỳ khưu đi đến hội trường. Sau khi đến, Ngài rửa chân, bước vào hội trường, và ngồi xuống dựa vào cột trụ ở giữa, mặt hướng về phía đông. Chúng tỳ khưu cũng rửa chân, bước vào hội trường, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với Đức Thế Tôn ở phía trước họ. Dân Malla ở Pāvā cũng rửa chân, bước vào hội trường, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với Đức Thế Tôn ở phía trước họ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ dân Malla ở Pāvā bằng một bài pháp thoại kéo dài đến khuya, rồi cho họ ra về: “Này các Vāseṭṭha, đêm đã khuya. Nay các ông hãy làm những gì các ông nghĩ là phải thời.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” dân Malla ở Pāvā đáp lời Đức Thế Tôn, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải, rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāveyyakesu mallesu tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi: “vigatathinamiddho kho, sāriputta, bhikkhusaṅgho. Paṭibhātu taṁ, sāriputta, bhikkhūnaṁ dhammīkathā. Piṭṭhi me āgilāyati. Tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Soon after they left, the Buddha looked around the Saṅgha of mendicants, who were so very silent. He addressed Venerable Sāriputta, “Sāriputta, the Saṅgha of mendicants is rid of dullness and drowsiness. Give them some Dhamma talk as you feel inspired. My back is sore, I’ll stretch it.”
“Yes, sir,” Sāriputta replied.
And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
300. Bấy giờ, không lâu sau khi dân Malla ở Pāvā đã ra về, Đức Thế Tôn nhìn quanh chúng tỳ khưu đang im lặng rồi nói với Tôn giả Sāriputta: “Này Sāriputta, chúng tỳ khưu đã hết buồn ngủ và hôn trầm. Này Sāriputta, hãy thuyết một bài pháp thoại cho các tỳ khưu. Lưng của Ta bị mỏi. Ta sẽ duỗi lưng.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Sāriputta đáp lời Đức Thế Tôn. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gấp tư y tăng-già-lê, trải ra, rồi nằm xuống trong tư thế con sư tử, nghiêng về phía bên phải, chân này gác lên chân kia một chút, chánh niệm, tỉnh giác, và tác ý đến lúc thức dậy.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: “na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi. Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti.
Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati. Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā, tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā, yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
Now at that time the Jain ascetic of the Ñātika clan had recently passed away at Pāvā. With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions, fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words: “You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!”
You’d think there was nothing but slaughter going on among the Jain ascetics. And the Jain Ñātika’s white-clothed lay disciples were disillusioned, dismayed, and disappointed in the Jain ascetics. They were equally disappointed with a teaching and training so poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha, with broken monument and without a refuge.
301. Vào lúc bấy giờ, Ni-kiền-tử Nāṭaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā. Do sự mệnh chung của vị ấy, các Ni-kiền-tử bị chia rẽ, phân thành hai phe, sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, đi đến tranh luận, sống với việc đả thương nhau bằng những ngọn giáo bằng miệng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Làm sao ngươi có thể biết được Pháp và Luật này! Ngươi đã thực hành sai lạc, ta đã thực hành đúng đắn. Lời của ta có lợi ích, lời của ngươi không có lợi ích. Điều đáng nói trước ngươi lại nói sau, điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Điều ngươi đã quen thực hành từ lâu đã bị đảo lộn. Luận thuyết của ngươi đã bị bác bỏ. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi đi để giải thoát khỏi luận thuyết, hoặc hãy gỡ rối nếu ngươi có thể.’ Dường như chỉ có sự tàn hại đang diễn ra giữa các Ni-kiền-tử, đệ tử của Nāṭaputta. Ngay cả những đệ tử tại gia của Ni-kiền-tử Nāṭaputta, những người mặc y trắng, cũng có thái độ chán ngán, ghê tởm, và quay lưng lại với các Ni-kiền-tử, đệ tử của Nāṭaputta, giống như đối với một giáo pháp và giới luật đã được giảng dạy tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không có khả năng hướng thượng, không đưa đến an tịnh, không do một bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, giống như một bảo tháp đã bị hư hoại, không có nơi nương tựa.
Atha kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “nigaṇṭho, āvuso, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato, tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe. Evañhetaṁ, āvuso, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite. Ayaṁ kho panāvuso, amhākaṁ bhagavatā dhammo svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Then Sāriputta told the mendicants about these things. He went on to say, “That’s what happens, reverends, when a teaching and training is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha. But this teaching is well explained and well propounded to us by the Blessed One, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha. You should all recite this in concert, without disputing, so that this spiritual path may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.
302. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ khưu: ‘Này chư Hiền, Ni-kiền-tử Nāṭaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā. Do sự mệnh chung của vị ấy, các Ni-kiền-tử bị chia rẽ, phân thành hai phe, ... giống như một bảo tháp đã bị hư hoại, không có nơi nương tựa.’ ‘Này chư Hiền, sự việc là như vậy, xảy ra trong một giáo pháp và giới luật đã được giảng dạy tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không có khả năng hướng thượng, không đưa đến an tịnh, không do một bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Còn Pháp này của chúng ta, này chư Hiền, đã được Đức Thế Tôn khéo giảng, khéo trình bày, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, do một bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau trùng tụng, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’
Katamo cāvuso, amhākaṁ bhagavatā dhammo svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito; yattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ?
And what is that teaching?
‘Và này chư Hiền, Pháp nào của chúng ta đã được Đức Thế Tôn khéo giảng, khéo trình bày, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, do một bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết; ở nơi ấy, tất cả chúng ta nên cùng nhau trùng tụng, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người?’
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena eko dhammo sammadakkhāto. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katamo eko dhammo?
Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā.
Sabbe sattā saṅkhāraṭṭhitikā.
Ayaṁ kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena eko dhammo sammadakkhāto. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
There are teachings grouped by one that have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. You should all recite these in concert, without disputing, so that this spiritual path may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. What are the teachings grouped by one?
All sentient beings are sustained by food.
All sentient beings are sustained by conditions.
These are the teachings grouped by one that have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. You should all recite these in concert, without disputing, so that this spiritual path may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.
303. ‘Này chư Hiền, có một pháp đã được Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo giảng dạy. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau trùng tụng, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người. Một pháp ấy là gì? Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ các hành. Này chư Hiền, đây là một pháp đã được Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo giảng dạy. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau trùng tụng, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dve dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame dve?
There are teachings grouped by two that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by two?
304. ‘Này chư Hiền, có hai pháp đã được Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo giảng dạy. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau trùng tụng, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người. Hai pháp ấy là gì?’
Nāmañca rūpañca.
Name and form.
‘Danh và sắc.’
Avijjā ca bhavataṇhā ca.
Ignorance and craving for continued existence.
‘Vô minh và hữu ái.’
Bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca.
Views favoring existence and views favoring nonexistence.
‘Thường kiến và đoạn kiến.’
Ahirikañca anottappañca.
Lack of conscience and prudence.
‘Vô tàm và vô quý.’
Hirī ca ottappañca.
Conscience and prudence.
‘Tàm và quý.’
Dovacassatā ca pāpamittatā ca.
Being hard to admonish and having bad friends.
‘Sự khó dạy và bạn bè xấu ác.’
Sovacassatā ca kalyāṇamittatā ca.
Being easy to admonish and having good friends.
‘Sự dễ dạy và bạn bè tốt lành.’
Āpattikusalatā ca āpattivuṭṭhānakusalatā ca.
Skill in offenses and skill in resolving offenses.
‘Thiện xảo về tội và thiện xảo về việc ra khỏi tội.’
Samāpattikusalatā ca samāpattivuṭṭhānakusalatā ca.
Skill in meditative attainments and skill in emerging from those attainments.
‘Sự thiện xảo về việc nhập định và sự thiện xảo về việc xuất định.’
Dhātukusalatā ca manasikārakusalatā ca.
Skill in the elements and skill in application of mind.
‘Sự thiện xảo về các giới và sự thiện xảo về tác ý.’
Āyatanakusalatā ca paṭiccasamuppādakusalatā ca.
Skill in the sense fields and skill in dependent origination.
‘Sự thiện xảo về các xứ và sự thiện xảo về duyên khởi.’
Ṭhānakusalatā ca aṭṭhānakusalatā ca.
Skill in what is possible and skill in what is impossible.
‘Thiện xảo về xứ và phi xứ.’
Ajjavañca lajjavañca.
Integrity and scrupulousness.
‘Sự ngay thẳng và sự nhu mì.’
Khanti ca soraccañca.
Patience and gentleness.
‘Sự nhẫn nại và sự hiền hòa.’
Sākhalyañca paṭisanthāro ca.
Camaraderie and hospitality.
‘Sự thân ái và sự tiếp đãi.’
Avihiṁsā ca soceyyañca.
Harmlessness and purity.
‘Sự bất hại và sự trong sạch.’
Muṭṭhassaccañca asampajaññañca.
Lack of mindfulness and lack of situational awareness.
‘Sự thất niệm và sự bất tỉnh giác.’
Sati ca sampajaññañca.
Mindfulness and situational awareness.
‘Niệm và tỉnh giác.’
Indriyesu aguttadvāratā ca bhojane amattaññutā ca.
Not guarding the sense doors and eating too much.
‘Sự không phòng hộ các căn và sự không biết tiết độ trong ăn uống.’
Indriyesu guttadvāratā ca bhojane mattaññutā ca.
Guarding the sense doors and moderation in eating.
‘Sự phòng hộ các căn và sự biết tiết độ trong ăn uống.’
Paṭisaṅkhānabalañca bhāvanābalañca.
The power of reflection and the power of development.
‘Sức mạnh của sự thẩm sát và sức mạnh của sự tu tập.’
Satibalañca samādhibalañca.
The power of mindfulness and the power of immersion.
‘Niệm lực và định lực.’
Samatho ca vipassanā ca.
Serenity and discernment.
‘Chỉ và quán.’
Samathanimittañca paggahanimittañca.
The basis of serenity and the basis of exertion.
Tướng tịnh chỉ và tướng sách tấn.
Paggaho ca avikkhepo ca.
Exertion, and not being scattered.
Sự sách tấn và sự không tán loạn.
Sīlavipatti ca diṭṭhivipatti ca.
Failure in ethics and failure in view.
Sự hư hỏng về giới và sự hư hỏng về tri kiến.
Sīlasampadā ca diṭṭhisampadā ca.
Accomplishment in ethics and accomplishment in view.
Sự đầy đủ về giới và sự đầy đủ về tri kiến.
Sīlavisuddhi ca diṭṭhivisuddhi ca.
Purification of ethics and purification of view.
Sự trong sạch về giới và sự trong sạch về tri kiến.
Diṭṭhivisuddhi kho pana yathā diṭṭhissa ca padhānaṁ.
Purification of view and making an effort in line with that view.
Sự trong sạch về tri kiến và sự tinh tấn của người có tri kiến như vậy.
Saṁvego ca saṁvejanīyesu ṭhānesu saṁviggassa ca yoniso padhānaṁ.
Inspiration, and making a suitable effort when inspired by inspiring places.
Sự xúc động ở các trạng thái đáng xúc động và sự tinh tấn như lý của người đã xúc động.
Asantuṭṭhitā ca kusalesu dhammesu appaṭivānitā ca padhānasmiṁ.
To never be content with skillful qualities, and to never stop trying.
Sự không thỏa mãn đối với các thiện pháp và sự không thối chuyển trong tinh tấn.
Vijjā ca vimutti ca.
Knowledge and freedom.
Minh và giải thoát.
Khayeñāṇaṁ anuppādeñāṇaṁ.
Knowledge of ending and knowledge of non-arising.
Trí về sự đoạn tận và trí về sự không sanh khởi.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dve dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by two that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, hai pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả nên cùng nhau tụng đọc, không nên tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, bền vững lâu dài; điều ấy là vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame tayo?
There are teachings grouped by three that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by three?
305. Này chư hiền, có ba pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả nên cùng nhau tụng đọc ... vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Ba pháp ấy là gì?
Tīṇi akusalamūlāni—lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ.
<em>Three unskillful roots:</em> greed, hate, and delusion.
Ba bất thiện căn: tham là bất thiện căn, sân là bất thiện căn, si là bất thiện căn.
Tīṇi kusalamūlāni—alobho kusalamūlaṁ, adoso kusalamūlaṁ, amoho kusalamūlaṁ.
<em>Three skillful roots:</em> contentment, love, and understanding.
Ba thiện căn: vô tham là thiện căn, vô sân là thiện căn, vô si là thiện căn.
Tīṇi duccaritāni—kāyaduccaritaṁ, vacīduccaritaṁ, manoduccaritaṁ.
<em>Three ways of performing bad conduct:</em> by body, speech, and mind.
Ba ác hạnh: thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.
Tīṇi sucaritāni—kāyasucaritaṁ, vacīsucaritaṁ, manosucaritaṁ.
<em>Three ways of performing good conduct:</em> by body, speech, and mind.
Ba thiện hạnh: thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh.
Tayo akusalavitakkā—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
<em>Three unskillful thoughts:</em> sensuality, malice, and cruelty.
Ba tầm bất thiện: dục tầm, sân tầm, hại tầm.
Tayo kusalavitakkā—nekkhammavitakko, abyāpādavitakko, avihiṁsāvitakko.
<em>Three skillful thoughts:</em> renunciation, good will, and harmlessness.
Ba tầm thiện: tầm xuất ly, tầm vô sân, tầm vô hại.
Tayo akusalasaṅkappā—kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo.
<em>Three unskillful intentions:</em> sensuality, malice, and cruelty.
Ba tư duy bất thiện: dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.
Tayo kusalasaṅkappā—nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo.
<em>Three skillful intentions:</em> renunciation, good will, and harmlessness.
Ba tư duy thiện: tư duy xuất ly, tư duy vô sân, tư duy vô hại.
Tisso akusalasaññā—kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṁsāsaññā.
<em>Three unskillful perceptions:</em> sensuality, malice, and cruelty.
Ba tưởng bất thiện: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng.
Tisso kusalasaññā—nekkhammasaññā, abyāpādasaññā, avihiṁsāsaññā.
<em>Three skillful perceptions:</em> renunciation, good will, and harmlessness.
Ba tưởng thiện: tưởng xuất ly, tưởng vô sân, tưởng vô hại.
Tisso akusaladhātuyo—kāmadhātu, byāpādadhātu, vihiṁsādhātu.
<em>Three unskillful elements:</em> sensuality, malice, and cruelty.
Ba giới bất thiện: dục giới, sân giới, hại giới.
Tisso kusaladhātuyo—nekkhammadhātu, abyāpādadhātu, avihiṁsādhātu.
<em>Three skillful elements:</em> renunciation, good will, and harmlessness.
Ba giới thiện: giới xuất ly, giới vô sân, giới vô hại.
Aparāpi tisso dhātuyo—kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu.
<em>Another three elements:</em> the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm.
Lại nữa, ba giới khác: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
Aparāpi tisso dhātuyo—rūpadhātu, arūpadhātu, nirodhadhātu.
<em>Another three elements:</em> the realm of luminous form, the formless realm, and cessation.
Lại nữa, ba giới khác: sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.
Aparāpi tisso dhātuyo—hīnadhātu, majjhimadhātu, paṇītadhātu.
Tisso taṇhā—
<em>Another three elements:</em> lower, middle, and higher.
<em>Three cravings:</em>
Lại nữa, ba giới khác: giới hạ liệt, giới trung bình, giới cao thượng.
Ba ái: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Aparāpi tisso taṇhā—kāmataṇhā, rūpataṇhā, arūpataṇhā.
<em>Another three cravings:</em> for the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm.
Lại nữa, ba ái khác: dục ái, sắc ái, vô sắc ái.
Aparāpi tisso taṇhā—rūpataṇhā, arūpataṇhā, nirodhataṇhā.
<em>Another three cravings:</em> for the realm of luminous form, and the formless realm, and cessation.
Lại nữa, có ba loại ái: sắc ái, vô sắc ái, và diệt ái.
Tīṇi saṁyojanāni—sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso.
Tayo āsavā—
<em>Three fetters:</em> substantialist view, doubt, and misapprehension of precepts and observances.
<em>Three defilements:</em>
Có ba kiết sử: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ.
Tayo bhavā—
<em>Three realms of existence:</em>
Có ba lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.
Tisso esanā—
<em>Three searches:</em>
Có ba cõi hữu: dục hữu, sắc hữu, và vô sắc hữu.
Tisso vidhā—
<em>Three kinds of discrimination:</em>
Có ba sự tìm cầu: tìm cầu dục lạc, tìm cầu sự hiện hữu, và tìm cầu phạm hạnh.
Tayo addhā—
<em>Three periods:</em>
Có ba loại ngã mạn: ngã mạn ‘ta hơn người’, ngã mạn ‘ta bằng người’, và ngã mạn ‘ta thua người’.
Tayo antā—
<em>Three extremes:</em>
Có ba thời: thời quá khứ, thời vị lai, và thời hiện tại.
Tisso vedanā—
<em>Three feelings:</em>
Có ba cực biên: thân kiến là một cực biên, sự tập khởi của thân kiến là một cực biên, và sự đoạn diệt của thân kiến là một cực biên.
Có ba loại thọ: lạc thọ, khổ thọ, và bất khổ bất lạc thọ.
Tisso dukkhatā—dukkhadukkhatā, saṅkhāradukkhatā, vipariṇāmadukkhatā.
Tayo rāsī—
<em>Three forms of suffering:</em> the suffering inherent in painful feeling, the suffering inherent in conditions, and the suffering inherent in perishing.
<em>Three heaps:</em>
Có ba loại khổ: khổ khổ, hành khổ, và hoại khổ.
Tayo tamā—
<em>Three darknesses:</em>
Có ba tụ: tà định tụ, chánh định tụ, và bất định tụ.
Có ba sự hoài nghi: đối với thời quá khứ mà sinh hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không tin chắc; đối với thời vị lai mà sinh hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không tin chắc; đối với thời hiện tại mà sinh hoài nghi, phân vân, không quyết đoán, không tin chắc.
Tīṇi tathāgatassa arakkheyyāni—parisuddhakāyasamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa kāyaduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya: ‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti. Parisuddhavacīsamācāro āvuso, tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya: ‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti. Parisuddhamanosamācāro, āvuso, tathāgato, natthi tathāgatassa manoduccaritaṁ yaṁ tathāgato rakkheyya: ‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Tayo kiñcanā—
<em>Three things a Realized One need not hide:</em> The Realized One’s behavior by way of body, speech, and mind is pure. He has no misconduct in these three ways that need be hidden, thinking: ‘Don’t let others find this out about me!’
<em>Three possessions:</em>
Có ba điều Như Lai không cần phòng hộ: Này chư hiền, Như Lai có thân hành thanh tịnh, Như Lai không có thân ác hạnh nào phải phòng hộ vì sợ rằng ‘mong rằng người khác đừng biết điều này của ta’. Này chư hiền, Như Lai có khẩu hành thanh tịnh, Như Lai không có khẩu ác hạnh nào phải phòng hộ vì sợ rằng ‘mong rằng người khác đừng biết điều này của ta’. Này chư hiền, Như Lai có ý hành thanh tịnh, Như Lai không có ý ác hạnh nào phải phòng hộ vì sợ rằng ‘mong rằng người khác đừng biết điều này của ta’.
Tayo aggī—
<em>Three fires:</em>
Có ba chướng ngại: tham là chướng ngại, sân là chướng ngại, si là chướng ngại.
Có ba ngọn lửa: lửa tham, lửa sân, và lửa si.
Aparepi tayo aggī—āhuneyyaggi, gahapataggi, dakkhiṇeyyaggi.
<em>Another three fires:</em> a fire for those worthy of offerings dedicated to the gods, a fire for householders, and a fire for those worthy of a religious donation.
Lại nữa, có ba ngọn lửa khác: lửa đáng được cúng dường, lửa của gia chủ, và lửa đáng được tôn kính.
Tividhena rūpasaṅgaho—sanidassanasappaṭighaṁ rūpaṁ, anidassanasappaṭighaṁ rūpaṁ, anidassanaappaṭighaṁ rūpaṁ.
<em>Threefold classification of the physical:</em> visible and resistant, invisible and resistant, and invisible and non-resistant.
Sự phân loại sắc pháp có ba loại: sắc hữu kiến hữu đối ngại, sắc vô kiến hữu đối ngại, và sắc vô kiến vô đối ngại.
Tayo saṅkhārā—puññābhisaṅkhāro, apuññābhisaṅkhāro, āneñjābhisaṅkhāro.
Tayo puggalā—
<em>Three choices:</em> good choices, bad choices, and imperturbable choices.
<em>Three individuals:</em>
Có ba loại hành: phước hành, phi phước hành, và bất động hành.
Tayo therā—
<em>Three seniors:</em>
Có ba hạng người: người hữu học, người vô học, và người phi hữu học phi vô học.
Có ba hạng trưởng lão: trưởng lão do sanh, trưởng lão do pháp, và trưởng lão do quy ước.
Tīṇi puññakiriyavatthūni—dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu.
<em>Three grounds for making merit:</em> giving, ethical conduct, and meditation.
Có ba phước sự: phước sự do bố thí, phước sự do trì giới, và phước sự do tu tập.
Tīṇi codanāvatthūni—diṭṭhena, sutena, parisaṅkāya.
<em>Three grounds for accusations:</em> what is seen, heard, and suspected.
Có ba cơ sở để khiển trách: do thấy, do nghe, và do nghi ngờ.
Tisso kāmūpapattiyo—santāvuso sattā paccupaṭṭhitakāmā, te paccupaṭṭhitesu kāmesu vasaṁ vattenti, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Ayaṁ paṭhamā kāmūpapatti. Santāvuso, sattā nimmitakāmā, te nimminitvā nimminitvā kāmesu vasaṁ vattenti, seyyathāpi devā nimmānaratī. Ayaṁ dutiyā kāmūpapatti. Santāvuso sattā paranimmitakāmā, te paranimmitesu kāmesu vasaṁ vattenti, seyyathāpi devā paranimmitavasavattī. Ayaṁ tatiyā kāmūpapatti.
<em>Three kinds of sensual rebirth:</em> There are sentient beings who desire what is present. They fall under the sway of presently arisen sensual pleasures. Namely, humans, some gods, and some beings in the underworld. This is the first kind of sensual rebirth. There are sentient beings who desire to create. Having repeatedly created, they fall under the sway of sensual pleasures. Namely, the gods who love to create. This is the second kind of sensual rebirth. There are sentient beings who desire what is created by others. They fall under the sway of sensual pleasures created by others. Namely, the gods who control what is created by others. This is the third kind of sensual rebirth.
Có ba sự hưởng thụ dục lạc: Này chư hiền, có những chúng sanh hưởng thụ các dục lạc hiện có, họ làm chủ các dục lạc hiện có ấy. Ví như loài người, một số chư thiên, và một số chúng sanh trong đọa xứ. Đây là sự hưởng thụ dục lạc thứ nhất. Này chư hiền, có những chúng sanh hưởng thụ các dục lạc do mình hóa hiện, họ hóa hiện rồi hóa hiện và làm chủ các dục lạc ấy. Ví như chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên. Đây là sự hưởng thụ dục lạc thứ hai. Này chư hiền, có những chúng sanh hưởng thụ các dục lạc do người khác hóa hiện, họ làm chủ các dục lạc do người khác hóa hiện ấy. Ví như chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên. Đây là sự hưởng thụ dục lạc thứ ba.
Tisso sukhūpapattiyo—santāvuso sattā uppādetvā uppādetvā sukhaṁ viharanti, seyyathāpi devā brahmakāyikā. Ayaṁ paṭhamā sukhūpapatti. Santāvuso, sattā sukhena abhisannā parisannā paripūrā paripphuṭā. Te kadāci karahaci udānaṁ udānenti: ‘aho sukhaṁ, aho sukhan’ti, seyyathāpi devā ābhassarā. Ayaṁ dutiyā sukhūpapatti. Santāvuso, sattā sukhena abhisannā parisannā paripūrā paripphuṭā. Te santaṁyeva tusitā sukhaṁ paṭisaṁvedenti, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Ayaṁ tatiyā sukhūpapatti.
Tisso paññā—
<em>Three kinds of pleasant rebirth:</em> There are sentient beings who, having repeatedly given rise to it, dwell in pleasure. Namely, the gods of the Divinity’s host. This is the first pleasant rebirth. There are sentient beings who are drenched, steeped, filled, and soaked with pleasure. Every so often they feel inspired to exclaim: ‘Oh, what bliss! Oh, what bliss!’ Namely, the gods of streaming radiance. This is the second pleasant rebirth. There are sentient beings who are drenched, steeped, filled, and soaked with pleasure. Since they’re truly content, they experience pleasure. Namely, the gods of universal beauty. This is the third pleasant rebirth.
<em>Three kinds of wisdom:</em>
Có ba sự hưởng thụ lạc thú: Này chư hiền, có những chúng sanh, sau khi làm cho lạc sanh khởi, họ an trú trong lạc ấy. Ví như chư thiên ở cõi Phạm Chúng Thiên. Đây là sự hưởng thụ lạc thú thứ nhất. Này chư hiền, có những chúng sanh được lạc thấm nhuần, tẩm ướt, sung mãn, tràn đầy. Thỉnh thoảng, họ thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, thật là lạc! Ôi, thật là lạc!’. Ví như chư thiên ở cõi Quang Âm Thiên. Đây là sự hưởng thụ lạc thú thứ hai. Này chư hiền, có những chúng sanh được lạc thấm nhuần, tẩm ướt, sung mãn, tràn đầy. Họ cảm nhận được niềm lạc vi diệu và hoan hỷ. Ví như chư thiên ở cõi Biến Tịnh Thiên. Đây là sự hưởng thụ lạc thú thứ ba.
Có ba loại tuệ: tuệ của bậc hữu học, tuệ của bậc vô học, và tuệ của bậc phi hữu học phi vô học.
Aparāpi tisso paññā—cintāmayā paññā, sutamayā paññā, bhāvanāmayā paññā.
Tīṇāvudhāni—
<em>Another three kinds of wisdom:</em> wisdom produced by thought, learning, and meditation.
<em>Three weapons:</em>
Lại nữa, có ba loại tuệ: tuệ do tư duy, tuệ do văn, và tuệ do tu.
Có ba vũ khí: vũ khí văn, vũ khí viễn ly, và vũ khí trí tuệ.
Tīṇindriyāni—anaññātaññassāmītindriyaṁ, aññindriyaṁ, aññātāvindriyaṁ.
<em>Three faculties:</em> the faculty of understanding that enlightenment is imminent, the faculty of enlightenment, and the faculty of one who is enlightened.
Có ba quyền: vị tri đương tri quyền, dĩ tri quyền, và cụ tri quyền.
Tīṇi cakkhūni—maṁsacakkhu, dibbacakkhu, paññācakkhu.
Tisso sikkhā—
<em>Three eyes:</em> the eye of the flesh, the eye of clairvoyance, and the eye of wisdom.
<em>Three trainings:</em>
Có ba loại mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, và tuệ nhãn.
Có ba môn học: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, và tăng thượng tuệ học.
Tisso bhāvanā—kāyabhāvanā, cittabhāvanā, paññābhāvanā.
<em>Three kinds of development:</em> the development of physical endurance, the development of the mind, and the development of wisdom.
Ba sự tu tập – tu tập về thân, tu tập về tâm, tu tập về tuệ.
Tīṇi anuttariyāni—dassanānuttariyaṁ, paṭipadānuttariyaṁ, vimuttānuttariyaṁ.
Tayo samādhī—
<em>Three unsurpassable qualities:</em> unsurpassable seeing, practice, and freedom.
<em>Three kinds of immersion:</em>
Ba pháp vô thượng – kiến vô thượng, đạo vô thượng, giải thoát vô thượng.
Ba loại định – định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ.
Aparepi tayo samādhī—suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi.
<em>Another three kinds of immersion:</em> emptiness, signless, and undirected.
Ba loại định khác nữa – không định, vô tướng định, vô nguyện định.
Tīṇi soceyyāni—kāyasoceyyaṁ, vacīsoceyyaṁ, manosoceyyaṁ.
<em>Three purities:</em> purity of body, speech, and mind.
Ba sự trong sạch – thân trong sạch, khẩu trong sạch, ý trong sạch.
Tīṇi moneyyāni—kāyamoneyyaṁ, vacīmoneyyaṁ, manomoneyyaṁ.
<em>Three kinds of sagacity:</em> sagacity of body, speech, and mind.
Ba sự mặc nhiên của bậc thánh – thân mặc nhiên, khẩu mặc nhiên, ý mặc nhiên.
Tīṇi kosallāni—āyakosallaṁ, apāyakosallaṁ, upāyakosallaṁ.
Tayo madā—
<em>Three skills:</em> skill in progress, skill in regress, and skill in means.
<em>Three vanities:</em>
Ba sự thiện xảo – thiện xảo về hưng thịnh, thiện xảo về suy vong, thiện xảo về phương tiện.
Ba sự kiêu mạn – kiêu mạn về sức khỏe, kiêu mạn về tuổi trẻ, kiêu mạn về sự sống.
Tīṇi ādhipateyyāni—attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ.
<em>Three ways of putting something in charge:</em> putting oneself, the world, or the teaching in charge.
Ba sự uy quyền – tự mình làm chủ, thế gian làm chủ, Chánh pháp làm chủ.
Tīṇi kathāvatthūni—atītaṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ ahosi atītamaddhānan’ti; anāgataṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ bhavissati anāgatamaddhānan’ti; etarahi vā paccuppannaṁ addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya: ‘evaṁ hoti etarahi paccuppannaṁ addhānan’ti.
Tisso vijjā—
<em>Three topics of discussion:</em> You might discuss the past: ‘That is how it was in the past.’ You might discuss the future: ‘That is how it will be in the future.’ Or you might discuss the present: ‘This is how it is at present.’
<em>Three knowledges:</em>
Ba cơ sở để nói chuyện – hoặc là nói chuyện liên quan đến thời quá khứ: ‘Trong thời quá khứ đã xảy ra như thế này’; hoặc là nói chuyện liên quan đến thời vị lai: ‘Trong thời vị lai sẽ xảy ra như thế này’; hoặc là nói chuyện liên quan đến thời hiện tại: ‘Trong thời hiện tại đang xảy ra như thế này’.
Tayo vihārā—
<em>Three meditative abidings:</em>
Ba minh – minh về trí tuệ nhớ lại các kiếp sống quá khứ, minh về trí tuệ đối với sự sinh tử của chúng sanh, minh về trí tuệ đối với sự đoạn tận các lậu hoặc.
Ba cách an trú – thiên trú, phạm trú, thánh trú.
Tīṇi pāṭihāriyāni—iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
<em>Three demonstrations:</em> The demonstration of psychic power, the demonstration of revealing, and the demonstration of instruction.
Ba loại thần thông – thần túc thông, tha tâm thông, giáo hóa thông.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by three that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, ba pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc tri giả, bậc kiến giả, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ, na vivaditabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame cattāro?
There are teachings grouped by four that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by four?
306. Này chư hiền, có bốn pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc tri giả, bậc kiến giả, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng, không được tranh cãi ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Bốn pháp ấy là gì?
Cattāro satipaṭṭhānā. Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī …pe… citte cittānupassī …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
<em>Four kinds of mindfulness meditation:</em> It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
Bốn niệm xứ. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các thọ ... sống quán tâm trên tâm ... sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời.
Cattāro sammappadhānā. Idhāvuso, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
<em>Four right efforts:</em> A mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed.
Bốn chánh cần. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn trừ, vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho băng hoại, làm cho tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn, vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Cattāro iddhipādā. Idhāvuso, bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti.
<em>Four bases of psychic power:</em> A mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort.
Bốn như ý túc. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu tu tập như ý túc, vốn bao gồm định do dục và các hành tinh cần. Vị ấy tu tập như ý túc, vốn bao gồm định do tâm và các hành tinh cần. Vị ấy tu tập như ý túc, vốn bao gồm định do tinh tấn và các hành tinh cần. Vị ấy tu tập như ý túc, vốn bao gồm định do thẩm sát và các hành tinh cần.
Cattāri jhānāni. Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
<em>Four absorptions:</em> A mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
Bốn thiền. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Catasso samādhibhāvanā. Atthāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṁvattati. Atthāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṁvattati. Atthāvuso samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṁvattati. Atthāvuso samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
<em>Four ways of developing immersion further:</em> There is a way of developing immersion further that leads to blissful meditation in this life. There is a way of developing immersion further that leads to gaining knowledge and vision. There is a way of developing immersion further that leads to mindfulness and awareness. There is a way of developing immersion further that leads to the ending of defilements.
307. Bốn sự tu tập định. Này chư hiền, có sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến hiện tại lạc trú. Này chư hiền, có sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự chứng đắc tri kiến. Này chư hiền, có sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Này chư hiền, có sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
Katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṁvattati? Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ … pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya saṁvattati.
And what is the way of developing immersion further that leads to blissful meditation in this life? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … fourth absorption. This is the way of developing immersion further that leads to blissful meditation in this life.
Và này chư hiền, thế nào là sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến hiện tại lạc trú? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly bất thiện pháp, có tầm... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư. Này chư hiền, đây là sự tu tập định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến hiện tại lạc trú.
Katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṁvattati? Idhāvuso, bhikkhu ālokasaññaṁ manasi karoti, divāsaññaṁ adhiṭṭhāti yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā. Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti. Ayaṁ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā ñāṇadassanapaṭilābhāya saṁvattati.
And what is the way of developing immersion further that leads to gaining knowledge and vision? A mendicant applies their mind to the perception of light, focusing on the perception of day regardless of whether it’s night or day. And so, with an open and unenveloped heart, they develop a mind that’s full of radiance. This is the way of developing immersion further that leads to gaining knowledge and vision.
Này chư hiền, thế nào là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng đắc trí và kiến? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu tác ý đến quang tưởng, an trú vào tưởng ban ngày; ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy; ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy. Như vậy, với tâm rộng mở, không bị bao phủ, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng. Này chư hiền, đây là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng đắc trí và kiến.
Katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṁvattati? Idhāvuso, bhikkhuno viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Ayaṁ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā satisampajaññāya saṁvattati.
And what is the way of developing immersion further that leads to mindfulness and awareness? A mendicant knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. They know perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. They know thoughts as they arise, as they remain, and as they go away. This is the way of developing immersion further that leads to mindfulness and awareness.
Này chư hiền, thế nào là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chánh niệm và tỉnh giác? Này chư hiền, ở đây, đối với vị tỳ khưu, các cảm thọ được biết rõ khi khởi lên, được biết rõ khi hiện hữu, được biết rõ khi đi đến hoại diệt. Các tưởng được biết rõ khi khởi lên, được biết rõ khi hiện hữu, được biết rõ khi đi đến hoại diệt. Các tầm được biết rõ khi khởi lên, được biết rõ khi hiện hữu, được biết rõ khi đi đến hoại diệt. Này chư hiền, đây là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chánh niệm và tỉnh giác.
Katamā cāvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattati? Idhāvuso, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati. Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo. Iti vedanā …pe… iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo. Ayaṁ, āvuso, samādhibhāvanā bhāvitā bahulīkatā āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
And what is the way of developing immersion further that leads to the ending of defilements? A mendicant meditates observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such are feelings … perceptions … choices … consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ This is the way of developing immersion further that leads to the ending of defilements.
Này chư hiền, thế nào là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống quán sự sinh diệt trong năm thủ uẩn: ‘Đây là sắc, đây là sự sinh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là sự sinh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Này chư hiền, đây là tu tập định, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
Catasso appamaññā. Idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
<em>Four limitless states:</em> A mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
308. Có bốn vô lượng tâm. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không sân, không hận. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú biến mãn một phương. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thế giới với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không sân, không hận.
Cattāro āruppā. Idhāvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
<em>Four formless states:</em> A mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception.
Có bốn thiền vô sắc. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu, do hoàn toàn vượt qua sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các tưởng sai biệt, nghĩ rằng ‘hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Do hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Do hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Do hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Cattāri apassenāni. Idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti.
<em>Four supports:</em> After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and dispels some things.
Có bốn sự nương tựa. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi suy xét, sử dụng một số thứ; sau khi suy xét, chịu đựng một số thứ; sau khi suy xét, tránh né một số thứ; sau khi suy xét, loại trừ một số thứ.
Cattāro ariyavaṁsā. Idhāvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca cīvarahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca cīvaraṁ na paritassati, laddhā ca cīvaraṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītaracīvarasantuṭṭhiyā nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṁse ṭhito’.
<em>Four noble customs:</em> A mendicant is content with any kind of robe, and praises such contentment. They don’t employ improper solicitation for the sake of a robe. They don’t worry if they don’t get a robe. And if they do get a robe, they use it untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawback, and understanding the escape. And on account of that they don’t glorify themselves or put others down. A mendicant who is deft, tireless, aware, and mindful in this is said to stand in the ancient, primordial noble custom.
309. Có bốn dòng dõi bậc Thánh. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu biết đủ với bất kỳ loại y nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ loại y nào; không vì y mà tìm kiếm không xứng đáng, không thích hợp; khi không được y thì không lo lắng; khi được y thì thọ dụng không tham đắm, không mê say, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly. Và do sự biết đủ với bất kỳ loại y nào ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không lười biếng, tỉnh giác, chánh niệm, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy được gọi là người an trú trong dòng dõi bậc Thánh xưa cũ, cao quý.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca piṇḍapātahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca piṇḍapātaṁ na paritassati, laddhā ca piṇḍapātaṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṁse ṭhito’.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of almsfood …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào; không vì vật thực khất thực mà tìm kiếm không xứng đáng, không thích hợp; khi không được vật thực khất thực thì không lo lắng; khi được vật thực khất thực thì thọ dụng không tham đắm, không mê say, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly. Và do sự biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không lười biếng, tỉnh giác, chánh niệm, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy được gọi là người an trú trong dòng dõi bậc Thánh xưa cũ, cao quý.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca senāsanahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca senāsanaṁ na paritassati, laddhā ca senāsanaṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato, ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṁse ṭhito’.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of lodgings …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào, và tán thán sự biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào; không vì sàng tọa mà tìm kiếm không xứng đáng, không thích hợp; khi không được sàng tọa thì không lo lắng; khi được sàng tọa thì thọ dụng không tham đắm, không mê say, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly. Và do sự biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không lười biếng, tỉnh giác, chánh niệm, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy được gọi là người an trú trong dòng dõi bậc Thánh xưa cũ, cao quý.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pahānārāmo hoti pahānarato, bhāvanārāmo hoti bhāvanārato; tāya ca pana pahānārāmatāya pahānaratiyā bhāvanārāmatāya bhāvanāratiyā nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato ayaṁ vuccatāvuso: ‘bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṁse ṭhito’.
Furthermore, a mendicant enjoys giving up and loves to give up. They enjoy meditation and love to meditate. But they don’t glorify themselves or put down others on account of their love for giving up and meditation. A mendicant who is deft, tireless, aware, and mindful in this is said to stand in the ancient, primordial noble custom.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu có sự từ bỏ làm niềm vui, ưa thích sự từ bỏ; có sự tu tập làm niềm vui, ưa thích sự tu tập. Và do vì có sự từ bỏ làm niềm vui, ưa thích sự từ bỏ, có sự tu tập làm niềm vui, ưa thích sự tu tập ấy, vị ấy không tự tán dương mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây là người khéo léo, không biếng nhác, có tỉnh giác, có chánh niệm, này chư hiền, vị tỳ khưu ấy được gọi là ‘người an trú trong dòng dõi Thánh xưa cũ, cao quý’.
Cattāri padhānāni. Saṁvarapadhānaṁ pahānapadhānaṁ bhāvanāpadhānaṁ anurakkhaṇāpadhānaṁ. Katamañcāvuso, saṁvarapadhānaṁ? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. Idaṁ vuccatāvuso, saṁvarapadhānaṁ.
<em>Four efforts:</em> The efforts to restrain, to give up, to develop, and to preserve. And what is the effort to restrain? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. This is called the effort to restrain.
310. Bốn sự tinh cần. Tinh cần phòng hộ, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần bảo hộ. Này chư hiền, thế nào là tinh cần phòng hộ? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu khi thấy sắc bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do vì nếu không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu bi có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành sự phòng hộ nhãn căn, bảo vệ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Khi nghe tiếng bằng tai… khi ngửi mùi bằng mũi… khi nếm vị bằng lưỡi… khi cảm xúc vật xúc chạm bằng thân… khi biết pháp bằng ý, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do vì nếu không phòng hộ ý căn, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu bi có thể xâm chiếm, vị ấy thực hành sự phòng hộ ý căn, bảo vệ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Này chư hiền, đây được gọi là tinh cần phòng hộ.
Katamañcāvuso, pahānapadhānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantiṁ karoti anabhāvaṁ gameti; uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantiṁ karoti anabhāvaṁ gameti. Idaṁ vuccatāvuso, pahānapadhānaṁ.
And what is the effort to give up? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that’s arisen, but gives it up, dispels it, eliminates it, and obliterates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. This is called the effort to give up.
Này chư hiền, thế nào là tinh cần đoạn tận? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu không dung chứa dục tầm đã khởi lên, từ bỏ nó, loại trừ nó, làm cho nó chấm dứt, đưa nó đến chỗ không còn hiện hữu. Không dung chứa sân tầm đã khởi lên… không dung chứa hại tầm đã khởi lên… không dung chứa các pháp ác, bất thiện đã khởi lên, từ bỏ chúng, loại trừ chúng, làm cho chúng chấm dứt, đưa chúng đến chỗ không còn hiện hữu. Này chư hiền, đây được gọi là tinh cần đoạn tận.
Katamañcāvuso, bhāvanāpadhānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ, dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti … vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Idaṁ vuccatāvuso, bhāvanāpadhānaṁ.
Katamañcāvuso, anurakkhaṇāpadhānaṁ?
And what is the effort to develop? It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. This is called the effort to develop.
And what is the effort to preserve?
Này chư hiền, thế nào là tinh cần tu tập? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Này chư hiền, đây được gọi là tinh cần tu tập.
Này chư hiền, thế nào là tinh cần bảo hộ? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu bảo hộ tướng định tốt đẹp đã khởi lên – tưởng xương, tưởng giòi bọ, tưởng xanh bầm, tưởng nứt nẻ, tưởng sình trương. Này chư hiền, đây được gọi là tinh cần bảo hộ.
Cattāri ñāṇāni—dhamme ñāṇaṁ, anvaye ñāṇaṁ, pariye ñāṇaṁ, sammutiyā ñāṇaṁ.
<em>Four knowledges:</em> knowledge of the teaching, inferential knowledge, knowledge of encompassing, and conventional knowledge.
Bốn loại trí: trí về pháp, trí về loại suy, trí về phân biệt tâm người, trí về quy ước.
Aparānipi cattāri ñāṇāni—dukkhe ñāṇaṁ, dukkhasamudaye ñāṇaṁ, dukkhanirodhe ñāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ.
<em>Another four knowledges:</em> knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.
Lại nữa, bốn loại trí khác: trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt.
Cattāri sotāpattiyaṅgāni—sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammappaṭipatti.
<em>Four factors for stream-entry:</em> associating with true persons, listening to the true teaching, rational application of mind, and practicing in line with the teaching.
311. Bốn chi phần của Dự lưu: thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp và tùy pháp.
Cattāri sotāpannassa aṅgāni. Idhāvuso, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho, bhagavā’ti. Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti. Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti. Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi.
<em>Four factors of a stream-enterer:</em> A noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ They have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’ And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.
Bốn chi phần của bậc Dự lưu. Này chư hiền, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Phật: ‘Như vậy, Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’. Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu’. Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng: ‘Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc trực hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc như lý hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc chánh hạnh; tức là bốn đôi, tám vị. Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn ấy đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời’. Vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái mộ, không bị phá hoại, không bị sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.
Cattāri sāmaññaphalāni—sotāpattiphalaṁ, sakadāgāmiphalaṁ, anāgāmiphalaṁ, arahattaphalaṁ.
<em>Four fruits of the ascetic life:</em> stream-entry, once-return, non-return, and perfection.
Bốn quả của Sa-môn: quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán.
Catasso dhātuyo—pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu.
<em>Four elements:</em> earth, water, fire, and air.
Bốn giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
Cattāro āhārā—kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ.
<em>Four foods:</em> edible food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth.
Bốn loại thức ăn: đoàn thực, dù thô hay tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư.
Catasso viññāṇaṭṭhitiyo. Rūpūpāyaṁ vā, āvuso, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭhati rūpārammaṇaṁ rūpappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjati; vedanūpāyaṁ vā āvuso … saññūpāyaṁ vā, āvuso …pe… saṅkhārūpāyaṁ vā, āvuso, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭhati saṅkhārārammaṇaṁ saṅkhārappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjati.
<em>Four establishings of consciousness:</em> As long as consciousness continues, it gets involved with form, supported by form, established on form. And with a sprinkle of relishing, it grows, increases, and matures. Or consciousness gets involved with feeling … Or consciousness gets involved with perception … Or as long as consciousness continues, it gets involved with choices, supported by choices, established on choices. And with a sprinkle of relishing, it grows, increases, and matures.
Bốn thức trú. Này chư hiền, thức khi tồn tại, nó tồn tại nương vào sắc, lấy sắc làm đối tượng, lấy sắc làm chỗ đứng, được hỷ tưới tẩm, đi đến tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển; hoặc này chư hiền, nương vào thọ… hoặc này chư hiền, nương vào tưởng… hoặc này chư hiền, thức khi tồn tại, nó tồn tại nương vào các hành, lấy các hành làm đối tượng, lấy các hành làm chỗ đứng, được hỷ tưới tẩm, đi đến tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển.
Cattāri agatigamanāni—chandāgatiṁ gacchati, dosāgatiṁ gacchati, mohāgatiṁ gacchati, bhayāgatiṁ gacchati.
<em>Four prejudices:</em> making decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice.
Bốn sự đi đến chỗ không nên đến: đi đến vì tham dục, đi đến vì sân hận, đi đến vì si mê, đi đến vì sợ hãi.
Cattāro taṇhuppādā—cīvarahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; piṇḍapātahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; senāsanahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati; itibhavābhavahetu vā, āvuso, bhikkhuno taṇhā uppajjamānā uppajjati.
<em>Four things that give rise to craving:</em> Craving arises in a mendicant for the sake of robes, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state.
Bốn sự sanh khởi của ái dục – Này chư hiền, do vì y phục, ái dục đang sanh khởi liền sanh khởi nơi vị tỳ khưu; hoặc này chư hiền, do vì vật thực khất thực, ái dục đang sanh khởi liền sanh khởi nơi vị tỳ khưu; hoặc này chư hiền, do vì sàng tọa, ái dục đang sanh khởi liền sanh khởi nơi vị tỳ khưu; hoặc này chư hiền, do vì sự hiện hữu thế này hay thế khác, ái dục đang sanh khởi liền sanh khởi nơi vị tỳ khưu.
Catasso paṭipadā—dukkhā paṭipadā dandhābhiññā, dukkhā paṭipadā khippābhiññā, sukhā paṭipadā dandhābhiññā, sukhā paṭipadā khippābhiññā.
<em>Four ways of practice:</em> painful practice with slow insight, painful practice with swift insight, pleasant practice with slow insight, and pleasant practice with swift insight.
Bốn pháp hành – pháp hành khổ với thắng trí chậm lụt, pháp hành khổ với thắng trí mau lẹ, pháp hành lạc với thắng trí chậm lụt, pháp hành lạc với thắng trí mau lẹ.
Aparāpi catasso paṭipadā—akkhamā paṭipadā, khamā paṭipadā, damā paṭipadā, samā paṭipadā.
<em>Another four ways of practice:</em> impatient practice, patient practice, taming practice, and calming practice.
Lại nữa, bốn pháp hành khác – pháp hành không kham nhẫn, pháp hành kham nhẫn, pháp hành điều phục, pháp hành an tịnh.
Cattāri dhammapadāni—anabhijjhā dhammapadaṁ, abyāpādo dhammapadaṁ, sammāsati dhammapadaṁ, sammāsamādhi dhammapadaṁ.
<em>Four footprints of the Dhamma:</em> contentment, good will, right mindfulness, and right immersion.
Bốn pháp mục – vô tham là pháp mục, vô sân là pháp mục, chánh niệm là pháp mục, chánh định là pháp mục.
Cattāri dhammasamādānāni—atthāvuso, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ. Atthāvuso, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ. Atthāvuso, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ. Atthāvuso, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ.
<em>Four ways of taking up practices:</em> There is a way of taking up practices that is painful now and results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure. There is a way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain. There is a way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure.
Bốn sự thực hành pháp – Này chư hiền, có sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả dị thục khổ trong tương lai. Này chư hiền, có sự thực hành pháp khổ trong hiện tại và có quả dị thục lạc trong tương lai. Này chư hiền, có sự thực hành pháp lạc trong hiện tại và có quả dị thục khổ trong tương lai. Này chư hiền, có sự thực hành pháp lạc trong hiện tại và có quả dị thục lạc trong tương lai.
Cattāro dhammakkhandhā—sīlakkhandho, samādhikkhandho, paññākkhandho, vimuttikkhandho.
<em>Four spectrums of the teaching:</em> ethics, immersion, wisdom, and freedom.
Bốn pháp uẩn – giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn.
Cattāri balāni—vīriyabalaṁ, satibalaṁ, samādhibalaṁ, paññābalaṁ.
<em>Four powers:</em> energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Bốn lực – tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
Cattāri adhiṭṭhānāni—paññādhiṭṭhānaṁ, saccādhiṭṭhānaṁ, cāgādhiṭṭhānaṁ, upasamādhiṭṭhānaṁ.
<em>Four foundations:</em> the foundations of wisdom, truth, generosity, and peace.
Bốn sự quyết định – trí tuệ quyết định, chân thật quyết định, xả ly quyết định, an tịnh quyết định.
Cattāri pañhabyākaraṇāni—ekaṁsabyākaraṇīyo pañho, paṭipucchābyākaraṇīyo pañho, vibhajjabyākaraṇīyo pañho, ṭhapanīyo pañho.
<em>Four ways of answering questions:</em> There is a question that should be answered categorically. There is a question that should be answered analytically. There is a question that should be answered with a counter-question. There is a question that should be set aside.
312. Bốn cách trả lời câu hỏi – câu hỏi cần được trả lời một cách dứt khoát, câu hỏi cần được trả lời bằng cách hỏi lại, câu hỏi cần được trả lời bằng cách phân tích, câu hỏi cần được gác lại.
Cattāri kammāni—atthāvuso, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ. Atthāvuso, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ. Atthāvuso, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ. Atthāvuso, kammaṁ akaṇhaasukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ kammakkhayāya saṁvattati.
<em>Four deeds:</em> There are deeds that are dark with dark result. There are deeds that are bright with bright result. There are deeds that are dark and bright with dark and bright result. There are neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds.
Bốn loại nghiệp – Này chư hiền, có nghiệp đen, quả đen; này chư hiền, có nghiệp trắng, quả trắng; này chư hiền, có nghiệp vừa đen vừa trắng, quả vừa đen vừa trắng; này chư hiền, có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến sự đoạn tận nghiệp.
Cattāro sacchikaraṇīyā dhammā—pubbenivāso satiyā sacchikaraṇīyo; sattānaṁ cutūpapāto cakkhunā sacchikaraṇīyo; aṭṭha vimokkhā kāyena sacchikaraṇīyā; āsavānaṁ khayo paññāya sacchikaraṇīyo.
Cattāro oghā—
<em>Four things to be realized:</em> Past lives are to be realized with recollection. The passing away and rebirth of sentient beings is to be realized with vision. The eight liberations are to be realized with direct meditative experience. The ending of defilements is to be realized with wisdom.
<em>Four floods:</em>
Bốn pháp cần được chứng ngộ – tiền kiếp cần được chứng ngộ bằng niệm; sự sanh tử của chúng sanh cần được chứng ngộ bằng thiên nhãn; tám giải thoát cần được chứng ngộ bằng thân; sự đoạn tận các lậu hoặc cần được chứng ngộ bằng trí tuệ.
Cattāro yogā—
<em>Four yokes:</em>
Bốn bộc lưu – dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu.
Bốn ách phược – dục ách phược, hữu ách phược, kiến ách phược, vô minh ách phược.
Cattāro visaññogā—kāmayogavisaññogo, bhavayogavisaññogo, diṭṭhiyogavisaññogo, avijjāyogavisaññogo.
<em>Four unyokings:</em> unyoking from the yokes of sensuality, desire for rebirth, views, and ignorance.
Bốn sự ly hệ – ly hệ khỏi dục ách phược, ly hệ khỏi hữu ách phược, ly hệ khỏi kiến ách phược, ly hệ khỏi vô minh ách phược.
Cattāro ganthā—abhijjhā kāyagantho, byāpādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso kāyagantho, idaṁsaccābhiniveso kāyagantho.
<em>Four ties:</em> the personal ties to covetousness, ill will, misapprehension of precepts and observances, and the insistence that this is the only truth.
Bốn triền phược nơi thân – tham ái là triền phược nơi thân, sân hận là triền phược nơi thân, giới cấm thủ là triền phược nơi thân, chấp thủ đây là sự thật là triền phược nơi thân.
Cattāri upādānāni—kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ.
<em>Four kinds of grasping:</em> grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self.
Bốn thủ – dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.
Catasso yoniyo—aṇḍajayoni, jalābujayoni, saṁsedajayoni, opapātikayoni.
<em>Four kinds of reproduction:</em> reproduction for creatures born from an egg, from a womb, from moisture, or spontaneously.
Bốn loại sanh – noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.
Catasso gabbhāvakkantiyo. Idhāvuso, ekacco asampajāno mātukucchiṁ okkamati, asampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṁ paṭhamā gabbhāvakkanti. Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati, asampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṁ dutiyā gabbhāvakkanti. Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati, sampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti, asampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṁ tatiyā gabbhāvakkanti. Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati, sampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti, sampajāno mātukucchimhā nikkhamati, ayaṁ catutthā gabbhāvakkanti.
<em>Four kinds of conception:</em> Someone is unaware when conceived in their mother’s womb, unaware as they remain there, and unaware as they emerge. This is the first kind of conception. Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, but unaware as they remain there, and unaware as they emerge. This is the second kind of conception. Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, aware as they remain there, but unaware as they emerge. This is the third kind of conception. Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, aware as they remain there, and aware as they emerge. This is the fourth kind of conception.
Bốn cách nhập thai. Này chư hiền, ở đây có người không tỉnh giác đi vào bụng mẹ, không tỉnh giác trú trong bụng mẹ, không tỉnh giác ra khỏi bụng mẹ, đây là cách nhập thai thứ nhất. Lại nữa, này chư hiền, ở đây có người tỉnh giác đi vào bụng mẹ, không tỉnh giác trú trong bụng mẹ, không tỉnh giác ra khỏi bụng mẹ, đây là cách nhập thai thứ hai. Lại nữa, này chư hiền, ở đây có người tỉnh giác đi vào bụng mẹ, tỉnh giác trú trong bụng mẹ, không tỉnh giác ra khỏi bụng mẹ, đây là cách nhập thai thứ ba. Lại nữa, này chư hiền, ở đây có người tỉnh giác đi vào bụng mẹ, tỉnh giác trú trong bụng mẹ, tỉnh giác ra khỏi bụng mẹ, đây là cách nhập thai thứ tư.
Cattāro attabhāvapaṭilābhā. Atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṁ attabhāvapaṭilābhe attasañcetanāyeva kamati, no parasañcetanā. Atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṁ attabhāvapaṭilābhe parasañcetanāyeva kamati, no attasañcetanā. Atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṁ attabhāvapaṭilābhe attasañcetanā ceva kamati parasañcetanā ca. Atthāvuso, attabhāvapaṭilābho, yasmiṁ attabhāvapaṭilābhe neva attasañcetanā kamati, no parasañcetanā.
<em>Four kinds of incarnation:</em> There is an incarnation where only one’s own intention is effective, not that of others. There is an incarnation where only the intention of others is effective, not one’s own. There is an incarnation where both one’s own and others’ intentions are effective. There is an incarnation where neither one’s own nor others’ intentions are effective.
Bốn cách thành tựu tự thể. Này chư hiền, có cách thành tựu tự thể mà trong đó chỉ có tự tư tác của mình có hiệu lực, không có tư tác của người khác. Này chư hiền, có cách thành tựu tự thể mà trong đó chỉ có tư tác của người khác có hiệu lực, không có tự tư tác của mình. Này chư hiền, có cách thành tựu tự thể mà trong đó cả tự tư tác của mình và tư tác của người khác đều có hiệu lực. Này chư hiền, có cách thành tựu tự thể mà trong đó cả tự tư tác của mình và tư tác của người khác đều không có hiệu lực.
Catasso dakkhiṇāvisuddhiyo. Atthāvuso, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthāvuso, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato. Atthāvuso, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthāvuso, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
<em>Four ways of purifying a religious donation:</em> There’s a religious donation that’s purified by the giver, not the recipient. There’s a religious donation that’s purified by the recipient, not the giver. There’s a religious donation that’s purified by neither the giver nor the recipient. There’s a religious donation that’s purified by both the giver and the recipient.
313. Bốn sự thanh tịnh của vật cúng dường. Này chư hiền, có vật cúng dường được thanh tịnh từ người cho, không phải từ người nhận. Này chư hiền, có vật cúng dường được thanh tịnh từ người nhận, không phải từ người cho. Này chư hiền, có vật cúng dường không được thanh tịnh từ người cho, cũng không từ người nhận. Này chư hiền, có vật cúng dường được thanh tịnh từ cả người cho lẫn người nhận.
Cattāri saṅgahavatthūni—dānaṁ, peyyavajjaṁ, atthacariyā, samānattatā.
<em>Four ways of being inclusive:</em> giving, kindly words, taking care, and equality.
Bốn nhiếp pháp – bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
Cattāro anariyavohārā—musāvādo, pisuṇāvācā, pharusāvācā, samphappalāpo.
<em>Four ignoble expressions:</em> speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical.
Bốn cách nói năng không của bậc Thánh – nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời vô ích.
Cattāro ariyavohārā—musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī.
<em>Four noble expressions:</em> refraining from speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical.
Bốn cách nói năng của bậc Thánh – từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích.
Aparepi cattāro anariyavohārā—adiṭṭhe diṭṭhavāditā, assute sutavāditā, amute mutavāditā, aviññāte viññātavāditā.
<em>Another four ignoble expressions:</em> saying you’ve seen, heard, thought, or known something, but you haven’t.
Lại nữa, bốn cách nói năng không của bậc Thánh khác – trong cái không thấy lại nói là đã thấy, trong cái không nghe lại nói là đã nghe, trong cái không cảm nhận lại nói là đã cảm nhận, trong cái không biết lại nói là đã biết.
Aparepi cattāro ariyavohārā—adiṭṭhe adiṭṭhavāditā, assute assutavāditā, amute amutavāditā, aviññāte aviññātavāditā.
<em>Another four noble expressions:</em> saying you haven’t seen, heard, thought, or known something, and you haven’t.
“Lại nữa, có bốn ngôn ngữ của bậc Thánh: đối với điều không thấy, nói là không thấy; đối với điều không nghe, nói là không nghe; đối với điều không cảm nhận, nói là không cảm nhận; đối với điều không biết, nói là không biết.
Aparepi cattāro anariyavohārā—diṭṭhe adiṭṭhavāditā, sute assutavāditā, mute amutavāditā, viññāte aviññātavāditā.
<em>Another four ignoble expressions:</em> saying you haven’t seen, heard, thought, or known something, and you have.
“Lại nữa, có bốn ngôn ngữ của người không phải bậc Thánh: đối với điều đã thấy, nói là không thấy; đối với điều đã nghe, nói là không nghe; đối với điều đã cảm nhận, nói là không cảm nhận; đối với điều đã biết, nói là không biết.
Aparepi cattāro ariyavohārā—diṭṭhe diṭṭhavāditā, sute sutavāditā, mute mutavāditā, viññāte viññātavāditā.
<em>Another four noble expressions:</em> saying you’ve seen, heard, thought, or known something, and you have.
“Lại nữa, có bốn ngôn ngữ của bậc Thánh: đối với điều đã thấy, nói là đã thấy; đối với điều đã nghe, nói là đã nghe; đối với điều đã cảm nhận, nói là đã cảm nhận; đối với điều đã biết, nói là đã biết.
Cattāro puggalā. Idhāvuso, ekacco puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto. Idhāvuso, ekacco puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto. Idhāvuso, ekacco puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto, parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto. Idhāvuso, ekacco puggalo neva attantapo hoti na attaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati.
<em>Four individuals:</em> One individual mortifies themselves, committed to the practice of mortifying themselves. One individual mortifies others, committed to the practice of mortifying others. One individual mortifies themselves and others, committed to the practice of mortifying themselves and others. One individual doesn’t mortify either themselves or others, committed to the practice of not mortifying themselves or others. They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.
314. “Có bốn hạng người. Này chư hiền, ở đây, có hạng người làm khổ mình, chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ mình. Này chư hiền, ở đây, có hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ người khác. Này chư hiền, ở đây, có hạng người vừa làm khổ mình, chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ mình, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ người khác. Này chư hiền, ở đây, có hạng người không làm khổ mình, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ mình, không làm khổ người khác, không chuyên tâm thực hành khổ hạnh làm khổ người khác. Vị ấy, người không làm khổ mình, không làm khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã mát mẻ, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên.
Aparepi cattāro puggalā. Idhāvuso, ekacco puggalo attahitāya paṭipanno hoti no parahitāya. Idhāvuso, ekacco puggalo parahitāya paṭipanno hoti no attahitāya. Idhāvuso, ekacco puggalo neva attahitāya paṭipanno hoti no parahitāya. Idhāvuso, ekacco puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca.
<em>Another four individuals:</em> One individual practices to benefit themselves, but not others. One individual practices to benefit others, but not themselves. One individual practices to benefit neither themselves nor others. One individual practices to benefit both themselves and others.
“Lại nữa, có bốn hạng người. Này chư hiền, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của mình, không vì lợi ích của người khác. Này chư hiền, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của người khác, không vì lợi ích của mình. Này chư hiền, ở đây, có hạng người không thực hành vì lợi ích của mình, cũng không vì lợi ích của người khác. Này chư hiền, ở đây, có hạng người thực hành vì lợi ích của mình và cũng vì lợi ích của người khác.
Aparepi cattāro puggalā—tamo tamaparāyano, tamo jotiparāyano, joti tamaparāyano, joti jotiparāyano.
<em>Another four individuals:</em> the dark bound for darkness, the dark bound for light, the light bound for darkness, and the light bound for light.
“Lại nữa, có bốn hạng người: người từ bóng tối đi vào bóng tối, người từ bóng tối đi ra ánh sáng, người từ ánh sáng đi vào bóng tối, người từ ánh sáng đi ra ánh sáng.
Aparepi cattāro puggalā—samaṇamacalo, samaṇapadumo, samaṇapuṇḍarīko, samaṇesu samaṇasukhumālo.
<em>Another four individuals:</em> the confirmed ascetic, the white lotus ascetic, the pink lotus ascetic, and the delicate ascetic of ascetics.
“Lại nữa, có bốn hạng người: sa-môn bất động, sa-môn như hoa sen hồng, sa-môn như hoa sen trắng, sa-môn tế nhị giữa các sa-môn.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by four that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
“Này chư hiền, bốn pháp này đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng; ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... vân vân... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first recitation section is complete.
Dứt phẩm tụng thứ nhất.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena pañca dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame pañca?
There are teachings grouped by five that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by five?
315. “Này chư hiền, có năm pháp đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... vân vân... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Năm pháp ấy là gì?
Pañcakkhandhā. Rūpakkhandho vedanākkhandho saññākkhandho saṅkhārakkhandho viññāṇakkhandho.
<em>Five aggregates:</em> form, feeling, perception, choices, and consciousness.
“Năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Pañcupādānakkhandhā. Rūpupādānakkhandho vedanupādānakkhandho saññupādānakkhandho saṅkhārupādānakkhandho viññāṇupādānakkhandho.
<em>Five grasping aggregates:</em> form, feeling, perception, choices, and consciousness.
“Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Pañca kāmaguṇā. Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā.
Pañca gatiyo—
<em>Five kinds of sensual stimulation:</em> Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
<em>Five destinations:</em>
“Năm dục trưởng dưỡng: các sắc được nhận biết bởi nhãn thức, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, có khả năng làm nhiễm ô; các tiếng được nhận biết bởi nhĩ thức... các hương được nhận biết bởi tỷ thức... các vị được nhận biết bởi thiệt thức... các xúc được nhận biết bởi thân thức, khả ái, khả hỷ, khả ý, đáng yêu, liên hệ đến dục, có khả năng làm nhiễm ô.
“Năm cõi: địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài người, chư thiên.
Pañca macchariyāni—āvāsamacchariyaṁ, kulamacchariyaṁ, lābhamacchariyaṁ, vaṇṇamacchariyaṁ, dhammamacchariyaṁ.
<em>Five kinds of stinginess:</em> stinginess with dwellings, families, material things, praise, and the teachings.
“Năm sự bỏn xẻn: bỏn xẻn về trú xứ, bỏn xẻn về gia đình, bỏn xẻn về lợi lộc, bỏn xẻn về dung sắc, bỏn xẻn về pháp.
Pañca nīvaraṇāni—kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ.
<em>Five hindrances:</em> sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt.
“Năm triền cái: triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm-thụy miên, triền cái trạo cử-hối quá, triền cái hoài nghi.
Pañca orambhāgiyāni saṁyojanāni—sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso, kāmacchando, byāpādo.
<em>Five lower fetters:</em> substantialist view, doubt, misapprehension of precepts and observances, sensual desire, and ill will.
“Năm hạ phần kiết sử: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận.
Pañca uddhambhāgiyāni saṁyojanāni—rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṁ, avijjā.
<em>Five higher fetters:</em> desire for rebirth in the realm of luminous form, desire for rebirth in the formless realm, conceit, restlessness, and ignorance.
“Năm thượng phần kiết sử: sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh.
Pañca sikkhāpadāni—pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī.
<em>Five precepts:</em> refraining from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and intoxicants of beer, wine, and liquor.
“Năm học giới: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng các chất say là rượu men rượu nấu là cơ sở của sự dễ duôi.
Pañca abhabbaṭṭhānāni. Abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ. Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyituṁ. Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ. Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ. Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto.
<em>Five things that can’t be done:</em> A mendicant with defilements ended can’t deliberately take the life of a living creature, take something with the intention to steal, have sex, tell a deliberate lie, or store up goods for their own enjoyment like they used to as a layperson.
316. “Năm điều không thể xảy ra. Này chư hiền, vị tỳ-khưu đã tận diệt các lậu hoặc không thể cố ý đoạt mạng sống của chúng sanh. Vị tỳ-khưu đã tận diệt các lậu hoặc không thể lấy của không cho được xem là trộm cắp. Vị tỳ-khưu đã tận diệt các lậu hoặc không thể thực hành dâm pháp. Vị tỳ-khưu đã tận diệt các lậu hoặc không thể cố ý nói dối. Vị tỳ-khưu đã tận diệt các lậu hoặc không thể tích trữ và hưởng thụ các dục như khi còn là người tại gia.
Pañca byasanāni—ñātibyasanaṁ, bhogabyasanaṁ, rogabyasanaṁ, sīlabyasanaṁ, diṭṭhibyasanaṁ. Nāvuso, sattā ñātibyasanahetu vā bhogabyasanahetu vā rogabyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Sīlabyasanahetu vā, āvuso, sattā diṭṭhibyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
<em>Five losses:</em> loss of relatives, wealth, health, ethics, and view. It is not because of loss of relatives, wealth, or health that sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. It is because of loss of ethics or view that sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
“Năm sự tổn thất: tổn thất về quyến thuộc, tổn thất về tài sản, tổn thất vì bệnh tật, tổn thất về giới, tổn thất về tri kiến. Này chư hiền, chúng sanh không vì lý do tổn thất về quyến thuộc, hay vì lý do tổn thất về tài sản, hay vì lý do tổn thất vì bệnh tật mà sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này chư hiền, chính vì lý do tổn thất về giới, hay vì lý do tổn thất về tri kiến mà chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Pañca sampadā—ñātisampadā, bhogasampadā, ārogyasampadā, sīlasampadā, diṭṭhisampadā. Nāvuso, sattā ñātisampadāhetu vā bhogasampadāhetu vā ārogyasampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. Sīlasampadāhetu vā, āvuso, sattā diṭṭhisampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
<em>Five endowments:</em> endowment with relatives, wealth, health, ethics, and view. It is not because of endowment with family, wealth, or health that sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a good place, a heavenly realm. It is because of endowment with ethics or view that sentient beings, when their body breaks up, after death, are reborn in a good place, a heavenly realm.
“Năm sự thành tựu: thành tựu về quyến thuộc, thành tựu về tài sản, thành tựu về sức khỏe, thành tựu về giới, thành tựu về tri kiến. Này chư hiền, chúng sanh không vì lý do thành tựu về quyến thuộc, hay vì lý do thành tựu về tài sản, hay vì lý do thành tựu về sức khỏe mà sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới. Này chư hiền, chính vì lý do thành tựu về giới, hay vì lý do thành tựu về tri kiến mà chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới.
Pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. Idhāvuso, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati, ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. Puna caparaṁ, āvuso, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati, ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. Puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ, avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto, ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. Puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti, ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. Puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
<em>Five drawbacks for an unethical person because of their failure in ethics:</em> Firstly, an unethical person loses great wealth on account of negligence. This is the first drawback. Furthermore, an unethical person gets a bad reputation. This is the second drawback. Furthermore, an unethical person enters any kind of assembly unconfident and embarrassed, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third drawback. Furthermore, an unethical person feels lost when they die. This is the fourth drawback. Furthermore, an unethical person, when their body breaks up, after death, is reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is the fifth drawback.
Năm sự nguy hại này cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Này các hiền hữu, ở đây, người ác giới, giới bị hư hoại, do sự phóng dật, đi đến sự tổn thất tài sản lớn lao. Đây là sự nguy hại thứ nhất cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các hiền hữu, đối với người ác giới, giới bị hư hoại, tiếng xấu đồn xa. Đây là sự nguy hại thứ hai cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các hiền hữu, người ác giới, giới bị hư hoại, khi đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn, người ấy đi đến với vẻ sợ sệt, rụt rè. Đây là sự nguy hại thứ ba cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các hiền hữu, người ác giới, giới bị hư hoại, làm thời mạng trong trạng thái mê muội. Đây là sự nguy hại thứ tư cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các hiền hữu, người ác giới, giới bị hư hoại, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là sự nguy hại thứ năm cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya. Idhāvuso, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati, ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, āvuso, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati, ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto, ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti, ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
<em>Five benefits for an ethical person because of their accomplishment in ethics:</em> Firstly, an ethical person gains great wealth on account of diligence. This is the first benefit. Furthermore, an ethical person gets a good reputation. This is the second benefit. Furthermore, an ethical person enters any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third benefit. Furthermore, an ethical person dies not feeling lost. This is the fourth benefit. Furthermore, when an ethical person’s body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is the fifth benefit.
Năm quả báu này cho người có giới, do giới được đầy đủ. Này các hiền hữu, ở đây, người có giới, giới được đầy đủ, do sự không phóng dật, đạt được khối tài sản lớn. Đây là quả báu thứ nhất cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các hiền hữu, đối với người có giới, giới được đầy đủ, tiếng tốt đồn xa. Đây là quả báu thứ hai cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các hiền hữu, người có giới, giới được đầy đủ, khi đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn, người ấy đi đến với vẻ tự tin, không rụt rè. Đây là quả báu thứ ba cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các hiền hữu, người có giới, giới được đầy đủ, làm thời mạng trong trạng thái không mê muội. Đây là quả báu thứ tư cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các hiền hữu, người có giới, giới được đầy đủ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, cõi trời. Đây là quả báu thứ năm cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhapetvā paro codetabbo. Kālena vakkhāmi no akālena, bhūtena vakkhāmi no abhūtena, saṇhena vakkhāmi no pharusena, atthasaṁhitena vakkhāmi no anatthasaṁhitena, mettacittena vakkhāmi no dosantarenāti. Codakena, āvuso, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhapetvā paro codetabbo.
<em>A mendicant who wants to accuse another should first establish five things in themselves:</em> I will speak at the right time, not at the wrong time. I will speak truthfully, not falsely. I will speak gently, not harshly. I will speak beneficially, not harmfully. I will speak lovingly, not from secret hate. A mendicant who wants to accuse another should first establish these five things in themselves.
Này các hiền hữu, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã thiết lập năm pháp này trong nội tâm, mới nên khiển trách người khác. (Nghĩ rằng:) ‘Tôi sẽ nói đúng thời, không nói phi thời; tôi sẽ nói điều thật, không nói điều không thật; tôi sẽ nói lời nhu hòa, không nói lời thô ác; tôi sẽ nói lời có lợi ích, không nói lời không có lợi ích; tôi sẽ nói với tâm từ, không nói với tâm sân.’ Này các hiền hữu, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi đã thiết lập năm pháp này trong nội tâm, mới nên khiển trách người khác.
Pañca padhāniyaṅgāni. Idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato, lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Appābādho hoti appātaṅko, samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya. Asaṭho hoti amāyāvī, yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu. Āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā.
<em>Five factors that support meditation:</em> A mendicant has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They are rarely ill or unwell. Their stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation. They’re not devious or deceitful. They reveal themselves honestly to the Teacher or sensible spiritual companions. They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
317. Năm chi phần của sự tinh tấn. Này các hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu có đức tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai rằng: ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy ít bệnh, ít não, sở hữu tỳ vị tiêu hóa đều, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, thích hợp cho sự tinh tấn. Vị ấy không xảo trá, không lừa dối, bộc lộ bản thân đúng như thật đối với bậc Đạo Sư, hoặc đối với các bậc trí, hoặc đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống tinh cần tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có nghị lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Vị ấy có trí tuệ, sở hữu trí tuệ thấy rõ sự sanh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng xuyên thủng, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh.
Pañca suddhāvāsā—avihā, atappā, sudassā, sudassī, akaniṭṭhā.
<em>Five pure abodes:</em> Aviha, Atappa, the gods fair to see, the fair seeing gods, and Akaniṭṭha.
318. Năm cõi Tịnh Cư là: Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, và Sắc Cứu Cánh.
Pañca anāgāmino—antarāparinibbāyī, upahaccaparinibbāyī, asaṅkhāraparinibbāyī, sasaṅkhāraparinibbāyī, uddhaṁsotoakaniṭṭhagāmī.
<em>Five non-returners:</em> one who is extinguished between one life and the next, one who is extinguished upon landing, one who is extinguished without extra effort, one who is extinguished with extra effort, and one who heads upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
Năm hạng Bất Lai là: vị Trung gian Bát-niết-bàn, vị Tổn hại Bát-niết-bàn, vị Vô hành Bát-niết-bàn, vị Hữu hành Bát-niết-bàn, và vị Thượng lưu đi đến cõi Sắc Cứu Cánh.
Pañca cetokhilā. Idhāvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, āvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṁ paṭhamo cetokhilo. Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati …pe… saṅghe kaṅkhati vicikicchati … sikkhāya kaṅkhati vicikicchati … sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. Yo so, āvuso, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, ayaṁ pañcamo cetokhilo.
<em>Five kinds of hard-heartedness:</em> Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They’re uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness. Furthermore, a mendicant has doubts about the teaching … the Saṅgha … the training … A mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness.
319. Năm sự hoang vu của tâm. Này các hiền hữu, ở đây, vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không tịnh tín nơi bậc Đạo Sư. Này các hiền hữu, vị tỳ khưu nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không tịnh tín nơi bậc Đạo Sư, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, đây là sự hoang vu của tâm thứ nhất. Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự nơi Pháp... (như trên)... nghi ngờ, do dự nơi Tăng... nghi ngờ, do dự nơi học giới... phẫn nộ, không hoan hỷ, tâm bị tổn thương, tâm trở nên chai cứng đối với các vị đồng phạm hạnh. Này các hiền hữu, vị tỳ khưu nào phẫn nộ, không hoan hỷ, tâm bị tổn thương, tâm trở nên chai cứng đối với các vị đồng phạm hạnh, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Vị nào mà tâm không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn, đây là sự hoang vu của tâm thứ năm.
Pañca cetasovinibandhā. Idhāvuso, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Yo so, āvuso, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Ayaṁ paṭhamo cetaso vinibandho. Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu kāye avītarāgo hoti …pe… rūpe avītarāgo hoti …pe… puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati …pe… puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, āvuso, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Ayaṁ pañcamo cetaso vinibandho.
<em>Five shackles of the heart:</em> Firstly, a mendicant isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first shackle of the heart. Furthermore, a mendicant isn’t free of greed for the body … They’re not free of greed for form … They eat as much as they like until their bellies are full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing … They lead the spiritual life hoping to be reborn in one of the orders of gods, thinking: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth shackle of the heart.
320. Này chư hiền, có năm pháp trói buộc của tâm. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu đối với các dục chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa hết khao khát, chưa hết nhiệt não, chưa hết ái dục. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào đối với các dục chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa hết khao khát, chưa hết nhiệt não, chưa hết ái dục, tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, không hướng đến sự chuyên chú, không hướng đến sự kiên trì, không hướng đến sự tinh tấn. Tâm của vị nào không hướng đến sự tinh cần, không hướng đến sự chuyên chú, không hướng đến sự kiên trì, không hướng đến sự tinh tấn. Đây là pháp trói buộc của tâm thứ nhất. Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu chưa ly tham đối với thân... (như trên)... chưa ly tham đối với sắc... (như trên)... Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu sau khi ăn no cho đến thỏa thích, sống chuyên tâm vào sự thoải mái của việc nằm, sự thoải mái của việc co mình, sự thoải mái của sự ngủ nghỉ... (như trên)... Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu thực hành phạm hạnh với ước nguyện được sanh vào một hội chúng chư thiên nào đó: ‘Mong rằng với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một trong các vị trời.’ Này chư hiền, vị tỳ khưu nào thực hành phạm hạnh với ước nguyện được sanh vào một hội chúng chư thiên nào đó: ‘Mong rằng với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một trong các vị trời,’ tâm của vị ấy không hướng đến sự tinh cần, không hướng đến sự chuyên chú, không hướng đến sự kiên trì, không hướng đến sự tinh tấn. Tâm của vị nào không hướng đến sự tinh cần, không hướng đến sự chuyên chú, không hướng đến sự kiên trì, không hướng đến sự tinh tấn. Đây là pháp trói buộc của tâm thứ năm.
Pañcindriyāni—cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
<em>Five faculties:</em> eye, ear, nose, tongue, and body.
Năm quyền là: nhãn quyền, nhĩ quyền, tỷ quyền, thiệt quyền, thân quyền.
Aparānipi pañcindriyāni—sukhindriyaṁ, dukkhindriyaṁ, somanassindriyaṁ, domanassindriyaṁ, upekkhindriyaṁ.
<em>Another five faculties:</em> pleasure, pain, happiness, sadness, and equanimity.
Lại nữa, có năm quyền khác là: lạc quyền, khổ quyền, hỷ quyền, ưu quyền, xả quyền.
Aparānipi pañcindriyāni—saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
<em>Another five faculties:</em> faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Lại nữa, có năm quyền khác là: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền.
Pañca nissaraṇiyā dhātuyo. Idhāvuso, bhikkhuno kāme manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ kāmehi. Ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
<em>Five elements of escape:</em> Take a case where a mendicant focuses on sensual pleasures, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on renunciation, on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from sensual pleasures. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of sensual pleasures, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from sensual pleasures is explained.
321. Năm pháp xuất ly. Này chư hiền, ở đây, khi vị tỳ khưu tác ý đến các dục, tâm không đi vào các dục, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự xuất ly, tâm đi vào sự xuất ly, tịnh tín, an trú, hướng đến. Tâm ấy của vị ấy được khéo đi, khéo tu tập, khéo đứng vững, khéo giải thoát, không liên quan đến các dục. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên các dục, vị ấy được giải thoát khỏi các pháp ấy, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các dục.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ byāpādena. Ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on ill will, but their mind does not leap forth … But when they focus on good will, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from ill will. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of ill will, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from ill will is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến sân, tâm không đi vào sân, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sân, tâm đi vào vô sân, tịnh tín, an trú, hướng đến. Tâm ấy của vị ấy được khéo đi, khéo tu tập, khéo đứng vững, khéo giải thoát, không liên quan đến sân. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên sân, vị ấy được giải thoát khỏi các pháp ấy, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi sân.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ vihesāya. Ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on harming, but their mind does not leap forth … But when they focus on compassion, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from harming. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of harming, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from harming is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến hại, tâm không đi vào hại, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô hại, tâm đi vào vô hại, tịnh tín, an trú, hướng đến. Tâm ấy của vị ấy được khéo đi, khéo tu tập, khéo đứng vững, khéo giải thoát, không liên quan đến hại. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên hại, vị ấy được giải thoát khỏi các pháp ấy, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi hại.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno rūpe manasikaroto rūpesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ rūpehi. Ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on form, but their mind does not leap forth … But when they focus on the formless, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from forms. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of form, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from forms is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến các sắc, tâm không đi vào các sắc, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sắc, tâm đi vào vô sắc, tịnh tín, an trú, hướng đến. Tâm ấy của vị ấy được khéo đi, khéo tu tập, khéo đứng vững, khéo giải thoát, không liên quan đến các sắc. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên các sắc, vị ấy được giải thoát khỏi các pháp ấy, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các sắc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ sakkāyena. Ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ.
Take a case where a mendicant focuses on substantial reality, but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on the cessation of substantial reality, their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from substantial reality. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of substantial reality, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from substantial reality is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến thân, tâm không đi vào thân, không tịnh tín, không an trú, không hướng đến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến thân diệt, tâm đi vào thân diệt, tịnh tín, an trú, hướng đến. Tâm ấy của vị ấy được khéo đi, khéo tu tập, khéo đứng vững, khéo giải thoát, không liên quan đến thân. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên thân, vị ấy được giải thoát khỏi các pháp ấy, vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi thân.
Pañca vimuttāyatanāni. Idhāvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī. Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ paṭhamaṁ vimuttāyatanaṁ.
<em>Five opportunities for freedom:</em> Firstly, the Teacher or a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how the Teacher or a respected spiritual companion teaches it. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the first opportunity for freedom.
322. Năm pháp là nhân duyên giải thoát. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu được bậc Đạo Sư thuyết giảng Pháp, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó. Này chư hiền, tùy theo cách thức nào mà bậc Đạo Sư thuyết giảng Pháp cho vị tỳ khưu, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó, thì theo cách thức ấy, vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp trong giáo pháp ấy. Vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp, sự hân hoan phát sanh; khi đã hoan hỷ, hỷ phát sanh; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là nhân duyên giải thoát thứ nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti …pe… api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti …pe… api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati …pe… api ca khvassa aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya. Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthapaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthapaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ pañcamaṁ vimuttāyatanaṁ.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. But the mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it. … Or the mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it. … Or the mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. … Or a meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how a meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the fifth opportunity for freedom.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng Pháp, cũng không được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó thuyết giảng, nhưng vị ấy thuyết giảng Pháp cho người khác một cách rộng rãi theo như đã được nghe, theo như đã được học... ... Lại nữa, vị ấy tụng đọc một cách rộng rãi Pháp theo như đã được nghe, theo như đã được học... ... Lại nữa, vị ấy suy xét, thẩm sát, quán chiếu bằng tâm về Pháp theo như đã được nghe, theo như đã được học... ... Lại nữa, một định tướng nào đó đã được vị ấy khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhận, khéo thể nhập bằng trí tuệ. Này chư hiền, tùy theo cách thức nào mà một định tướng nào đó đã được vị tỳ khưu khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhận, khéo thể nhập bằng trí tuệ, thì theo cách thức ấy, vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp trong giáo pháp ấy. Vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được pháp, sự hân hoan phát sanh; khi đã hoan hỷ, hỷ phát sanh; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là nhân duyên giải thoát thứ năm.
Pañca vimuttiparipācanīyā saññā—aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā.
<em>Five perceptions that ripen in freedom:</em> the perception of impermanence, the perception of suffering in impermanence, the perception of not-self in suffering, the perception of giving up, and the perception of fading away.
Năm tưởng làm cho giải thoát được chín muồi: tưởng vô thường, tưởng về khổ trong cái vô thường, tưởng về vô ngã trong cái khổ, tưởng về sự đoạn tận, tưởng về sự ly tham.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena pañca dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by five that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, năm pháp này đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng; ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame cha?
There are teachings grouped by six that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by six?
323. Này chư hiền, có sáu pháp đã được Thế Tôn, bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng; ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Sáu pháp ấy là gì?
Cha ajjhattikāni āyatanāni—cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ.
<em>Six interior sense fields:</em> eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
Sáu nội xứ: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.
Cha bāhirāni āyatanāni—rūpāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ, dhammāyatanaṁ.
<em>Six exterior sense fields:</em> sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
Sáu ngoại xứ: sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ.
Cha viññāṇakāyā—cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ.
<em>Six classes of consciousness:</em> eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness.
Sáu thân thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
Cha phassakāyā—cakkhusamphasso, sotasamphasso, ghānasamphasso, jivhāsamphasso, kāyasamphasso, manosamphasso.
<em>Six classes of contact:</em> contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
Sáu thân xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
Cha vedanākāyā—cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā.
<em>Six classes of feeling:</em> feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
Sáu thân thọ: thọ sanh do nhãn xúc, thọ sanh do nhĩ xúc, thọ sanh do tỷ xúc, thọ sanh do thiệt xúc, thọ sanh do thân xúc, thọ sanh do ý xúc.
Cha saññākāyā—rūpasaññā, saddasaññā, gandhasaññā, rasasaññā, phoṭṭhabbasaññā, dhammasaññā.
<em>Six classes of perception:</em> perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
Sáu thân tưởng: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
Cha sañcetanākāyā—rūpasañcetanā, saddasañcetanā, gandhasañcetanā, rasasañcetanā, phoṭṭhabbasañcetanā, dhammasañcetanā.
<em>Six bodies of intention:</em> intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
Sáu thân tư: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư.
Cha taṇhākāyā—rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā.
Cha agāravā.
<em>Six classes of craving:</em> craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
<em>Six kinds of disrespect:</em>
Sáu thân ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.
Cha gāravā.
<em>Six kinds of respect:</em>
324. Sáu sự không tôn kính. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống không tôn kính, không thuận tùng đối với bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không thuận tùng đối với Pháp; sống không tôn kính, không thuận tùng đối với Tăng; sống không tôn kính, không thuận tùng đối với học giới; sống không tôn kính, không thuận tùng đối với sự không dể duôi; sống không tôn kính, không thuận tùng đối với sự tiếp đãi.
Sáu sự tôn kính. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống có tôn kính, có thuận tùng đối với bậc Đạo Sư; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với Pháp; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với Tăng; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với học giới; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với sự không dể duôi; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với sự tiếp đãi.
Cha somanassūpavicārā. Cakkhunā rūpaṁ disvā somanassaṭṭhāniyaṁ rūpaṁ upavicarati; sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā. Manasā dhammaṁ viññāya somanassaṭṭhāniyaṁ dhammaṁ upavicarati.
<em>Six preoccupations with happiness:</em> Seeing a sight with their eyes, one is preoccupied with a sight that’s a basis for happiness. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue …
Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, one is preoccupied with an idea that’s a basis for happiness.
Sáu sự thẩm sát liên hệ đến hỷ. Thấy sắc bằng mắt, vị ấy thẩm sát sắc là cơ sở của hỷ; nghe tiếng bằng tai... ngửi mùi bằng mũi... nếm vị bằng lưỡi... chạm xúc bằng thân. Nhận biết pháp bằng ý, vị ấy thẩm sát pháp là cơ sở của hỷ.
Cha domanassūpavicārā. Cakkhunā rūpaṁ disvā domanassaṭṭhāniyaṁ rūpaṁ upavicarati …pe… manasā dhammaṁ viññāya domanassaṭṭhāniyaṁ dhammaṁ upavicarati.
Cha upekkhūpavicārā.
<em>Six preoccupations with sadness:</em> Seeing a sight with their eyes, one is preoccupied with a sight that’s a basis for sadness. … Knowing an idea with their mind, one is preoccupied with an idea that’s a basis for sadness.
<em>Six preoccupations with equanimity:</em>
Sáu sự thẩm sát liên hệ đến ưu. Thấy sắc bằng mắt, vị ấy thẩm sát sắc là cơ sở của ưu... ... Nhận biết pháp bằng ý, vị ấy thẩm sát pháp là cơ sở của ưu.
Sáu sự thẩm sát liên hệ đến xả. Thấy sắc bằng mắt, vị ấy thẩm sát sắc là cơ sở của xả... ... Nhận biết pháp bằng ý, vị ấy thẩm sát pháp là cơ sở của xả.
Cha sāraṇīyā dhammā. Idhāvuso, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
<em>Six warm-hearted qualities:</em> Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private. This warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
Có sáu pháp đáng ghi nhớ. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có thân nghiệp từ được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, và nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness, both in public and in private. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có khẩu nghiệp từ được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng đáng ghi nhớ... cho đến... đưa đến sự nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness, both in public and in private. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có ý nghiệp từ được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng đáng ghi nhớ... cho đến... đưa đến sự nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī. Ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này chư hiền, những lợi lộc nào đúng pháp, có được đúng pháp, cho đến cả những gì chứa đựng trong bình bát, vị tỳ khưu là người không hưởng dụng riêng những lợi lộc như vậy, mà chia sẻ chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cũng đáng ghi nhớ... cho đến... đưa đến sự nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni, tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This too is a warm-hearted quality.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu sống có giới bình đẳng với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, trong những giới luật không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị vằn vện, không bị đốm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định. Pháp này cũng đáng ghi nhớ... cho đến... đưa đến sự nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
They live according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. This warm-hearted quality too makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu sống có tri kiến bình đẳng với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, trong tri kiến thánh thiện, có khả năng hướng thượng, đưa người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, và nhất trí.
Cha vivādamūlāni. Idhāvuso, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so, āvuso, bhikkhu kodhano hoti upanāhī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, āvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme agāravo viharati appatisso, saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti. Yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, āvuso, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, āvuso, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. Tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
<em>Six roots of dispute:</em> Firstly, a mendicant is irritable and acrimonious. Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training. They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
325. Có sáu gốc rễ của tranh cãi. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu hay phẫn nộ, hay thù oán. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào hay phẫn nộ, hay thù oán, vị ấy sống không kính trọng, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Pháp; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Tăng; và không phải là người hoàn thành học giới. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào sống không kính trọng, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư, không kính trọng, không vâng lời đối với Pháp, không kính trọng, không vâng lời đối với Tăng, và không hoàn thành học giới, vị ấy gây ra tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, khổ đau cho chư thiên và loài người. Này chư hiền, nếu các vị thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở nội tâm hay ở ngoại cảnh, thì này chư hiền, các vị nên nỗ lực để đoạn trừ chính gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy. Này chư hiền, nếu các vị không thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở nội tâm hay ở ngoại cảnh, thì này chư hiền, các vị nên thực hành để chính gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy. Như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī …pe… saṭho hoti māyāvī … pāpiccho hoti micchādiṭṭhī … sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī …pe… yo so, āvuso, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, āvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme agāravo viharati appatisso, saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti. Yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, āvuso, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, āvuso, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. Tatra tumhe, āvuso, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
Cha dhātuyo—
Furthermore, a mendicant is offensive and contemptuous … They’re jealous and stingy … They’re devious and deceitful … They have corrupt wishes and wrong view … They’re attached to their own views, holding them tight, and refusing to let go. If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing. If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future. That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
<em>Six elements:</em>
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu hay gièm pha, hay ganh đua... tật đố, bỏn xẻn... xảo trá, lừa dối... có ác dục, có tà kiến... cố chấp vào kiến giải của mình, nắm giữ một cách kiên cố, khó từ bỏ... Này chư hiền, vị tỳ khưu nào cố chấp vào kiến giải của mình, nắm giữ một cách kiên cố, khó từ bỏ, vị ấy sống không kính trọng, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Pháp; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Tăng; và không phải là người hoàn thành học giới. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào sống không kính trọng, không vâng lời đối với Bậc Đạo Sư, không kính trọng, không vâng lời đối với Pháp, không kính trọng, không vâng lời đối với Tăng, và không hoàn thành học giới, vị ấy gây ra tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, khổ đau cho chư thiên và loài người. Này chư hiền, nếu các vị thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở nội tâm hay ở ngoại cảnh, thì này chư hiền, các vị nên nỗ lực để đoạn trừ chính gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy. Này chư hiền, nếu các vị không thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở nội tâm hay ở ngoại cảnh, thì này chư hiền, các vị nên thực hành để chính gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy. Như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của gốc rễ tranh cãi xấu ác ấy.
Có sáu giới: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, và thức đại.
Cha nissaraṇiyā dhātuyo. Idhāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘mettā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, atha ca pana me byāpādo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So ‘mā hevan’tissa vacanīyo, ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ mettāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya. Atha ca panassa byāpādo cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, byāpādassa, yadidaṁ mettā cetovimuttī’ti.
<em>Six elements of escape:</em> Take a mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by love. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow ill will still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! Don’t say that. Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. It’s impossible, reverend, it cannot happen that the heart’s release by love has been developed and properly implemented, yet somehow ill will still occupies the mind. For it is the heart’s release by love that is the escape from ill will.’
326. “Này các Hiền giả, có sáu pháp xuất ly này. Ở đây, này các Hiền giả, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tâm giải thoát bằng từ của tôi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự. Tuy vậy, sân vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm tôi.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát bằng từ đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự, mà sân vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm của vị ấy, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính tâm giải thoát bằng từ này là sự xuất ly khỏi sân.’”
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘karuṇā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Atha ca pana me vihesā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti, so ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ karuṇāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa vihesā cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vihesāya, yadidaṁ karuṇā cetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by compassion. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow the thought of harming still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by compassion that is the escape from thoughts of harming.’
“Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tâm giải thoát bằng bi của tôi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự. Tuy vậy, hại vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm tôi.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát bằng bi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự, mà hại vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm của vị ấy, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính tâm giải thoát bằng bi này là sự xuất ly khỏi hại.’”
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘muditā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Atha ca pana me arati cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti, so ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ muditāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa arati cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, aratiyā, yadidaṁ muditā cetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by rejoicing. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow discontent still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by rejoicing that is the escape from discontent.’
“Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tâm giải thoát bằng hỷ của tôi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự. Tuy vậy, bất lạc vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm tôi.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát bằng hỷ đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự, mà bất lạc vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm của vị ấy, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính tâm giải thoát bằng hỷ này là sự xuất ly khỏi bất lạc.’”
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘upekkhā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Atha ca pana me rāgo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ upekkhāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa rāgo cittaṁ pariyādāya ṭhassati netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, rāgassa, yadidaṁ upekkhā cetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by equanimity. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow desire still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by equanimity that is the escape from desire.’
“Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tâm giải thoát bằng xả của tôi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự. Tuy vậy, tham vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm tôi.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát bằng xả đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự, mà tham vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm của vị ấy, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính tâm giải thoát bằng xả này là sự xuất ly khỏi tham.’”
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘animittā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Atha ca pana me nimittānusāri viññāṇaṁ hotī’ti. So ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ animittāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya, atha ca panassa nimittānusāri viññāṇaṁ bhavissati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, sabbanimittānaṁ, yadidaṁ animittā cetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the signless release of the heart. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow my consciousness still follows after signs.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the signless release of the heart that is the escape from all signs.’
“Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tâm giải thoát vô tướng của tôi đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự. Tuy vậy, thức của tôi lại chạy theo các tướng.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát vô tướng đã được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ, được thực hành, được tích lũy, được khéo khởi sự, mà thức của vị ấy lại chạy theo các tướng, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính tâm giải thoát vô tướng này là sự xuất ly khỏi tất cả các tướng.’”
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asmīti kho me vigataṁ, ayamahamasmīti na samanupassāmi, atha ca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso, yaṁ asmīti vigate ayamahamasmīti asamanupassato, atha ca panassa vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vicikicchākathaṅkathāsallassa, yadidaṁ asmimānasamugghāto’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’m rid of the conceit “I am”. And I don’t regard anything as “I am this”. Yet somehow the dart of doubt and indecision still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! Don’t say that. Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. It’s impossible, reverend, it cannot happen that the conceit “I am” has been done away with, and nothing is regarded as “I am this”, yet somehow the dart of doubt and indecision still occupy the mind. For it is the uprooting of the conceit “I am” that is the escape from the dart of doubt and indecision.’
“Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Đối với tôi, “tôi là” đã được loại bỏ, tôi không còn quán xét “đây là tôi”. Tuy vậy, mũi tên nghi hoặc và phân vân vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm tôi.’ Vị ấy cần được trả lời rằng: ‘Chớ có nói như vậy. Tôn giả chớ có nói như vậy, chớ có vu khống đức Thế Tôn. Vì rằng, vu khống đức Thế Tôn là không tốt, và đức Thế Tôn đã không nói như vậy. Này các Hiền giả, đây là điều không thể xảy ra, đây là điều không có cơ hội, rằng khi “tôi là” đã được loại bỏ và không còn quán xét “đây là tôi”, mà mũi tên nghi hoặc và phân vân vẫn xâm chiếm và ngự trị tâm của vị ấy, trường hợp này không xảy ra. Này các Hiền giả, chính sự nhổ sạch ngã mạn “tôi là” này là sự xuất ly khỏi mũi tên nghi hoặc và phân vân.’”
Cha anuttariyāni—dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ, pāricariyānuttariyaṁ, anussatānuttariyaṁ.
<em>Six unsurpassable things:</em> the unsurpassable seeing, listening, acquisition, training, service, and recollection.
327. Sáu pháp vô thượng: thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi lộc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, và tùy niệm vô thượng.
Cha anussatiṭṭhānāni—buddhānussati, dhammānussati, saṅghānussati, sīlānussati, cāgānussati, devatānussati.
<em>Six topics for recollection:</em> the recollection of the Buddha, the teaching, the Saṅgha, ethics, generosity, and the deities.
Sáu pháp tùy niệm: tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm giới, tùy niệm thí, và tùy niệm thiên.
Cha satatavihārā. Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṁ sutvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
<em>Six consistent responses:</em> A mendicant, seeing a sight with their eyes, is neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue … Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they’re neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware.
328. Sáu pháp thường trú. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, không vui mừng cũng không sầu muộn, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi dùng tai nghe tiếng... cho đến... sau khi dùng ý biết pháp, không vui mừng cũng không sầu muộn, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
Chaḷābhijātiyo. Idhāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panāvuso, ekacco kaṇhābhijātiko samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati. Idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno sukkaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno kaṇhaṁ dhammaṁ abhijāyati. Idha panāvuso, ekacco sukkābhijātiko samāno akaṇhaṁ asukkaṁ nibbānaṁ abhijāyati.
<em>Six classes of rebirth:</em> Someone born into a dark class gives rise to a dark result. Someone born into a dark class gives rise to a bright result. Someone born into a dark class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright. Someone born into a bright class gives rise to a bright result. Someone born into a bright class gives rise to a dark result. Someone born into a bright class gives rise to extinguishment, which is neither dark nor bright.
329. Sáu loại dòng dõi. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi đen tối, lại sanh ra pháp đen tối. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi đen tối, lại sanh ra pháp trong sạch. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi đen tối, lại sanh ra Niết-bàn không đen tối không trong sạch. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi trong sạch, lại sanh ra pháp trong sạch. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi trong sạch, lại sanh ra pháp đen tối. Này chư hiền, ở đây, có người thuộc dòng dõi trong sạch, lại sanh ra Niết-bàn không đen tối không trong sạch.
Cha nibbedhabhāgiyā saññā—aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā.
<em>Six perceptions that help penetration:</em> the perception of impermanence, the perception of suffering in impermanence, the perception of not-self in suffering, the perception of giving up, the perception of fading away, and the perception of cessation.
Sáu tưởng thuộc phần thể nhập – tưởng về vô thường trong cái vô thường, tưởng về khổ trong cái khổ, tưởng vô ngã, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by six that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, sáu pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame satta?
There are teachings grouped by seven that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by seven?
330. Này chư hiền, có bảy pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn tri, Toàn kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Bảy pháp ấy là gì?
Satta ariyadhanāni—saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hiridhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ.
<em>Seven riches of the noble ones:</em> the riches of faith, ethics, conscience, prudence, learning, generosity, and wisdom.
Bảy thánh tài sản – tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
Satta bojjhaṅgā—satisambojjhaṅgo, dhammavicayasambojjhaṅgo, vīriyasambojjhaṅgo, pītisambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhisambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo.
<em>Seven awakening factors:</em> mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity.
Bảy giác chi – niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
Satta samādhiparikkhārā—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati.
<em>Seven prerequisites for immersion:</em> right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, and right mindfulness.
Bảy tư cụ của định – chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm.
Satta asaddhammā—idhāvuso, bhikkhu assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
<em>Seven bad qualities:</em> a mendicant is faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless.
Bảy phi chánh pháp – Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu không có tín, không có tàm, không có quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, và liệt tuệ.
Satta saddhammā—idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.
<em>Seven good qualities:</em> a mendicant is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise.
Bảy chánh pháp – Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có tín, có tàm, có quý, nghe nhiều, tinh cần, trú niệm, và có trí tuệ.
Satta sappurisadhammā—idhāvuso, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaññū ca.
<em>Seven aspects of the teachings of the true persons:</em> a mendicant knows the teachings, knows the meaning, knows themselves, knows moderation, knows the right time, knows assemblies, and knows individuals.
Bảy pháp của bậc chân nhân – Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu là người biết pháp, biết nghĩa, biết mình, biết tiết độ, biết thời, biết hội chúng, và biết các hạng người.
Satta niddasavatthūni. Idhāvuso, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti, āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo. Dhammanisantiyā tibbacchando hoti, āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo. Icchāvinaye tibbacchando hoti, āyatiñca icchāvinaye avigatapemo. Paṭisallāne tibbacchando hoti, āyatiñca paṭisallāne avigatapemo. Vīriyārambhe tibbacchando hoti, āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo. Satinepakke tibbacchando hoti, āyatiñca satinepakke avigatapemo. Diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti, āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo.
Satta saññā—
<em>Seven qualifications for graduation:</em> A mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future.
<em>Seven perceptions:</em>
331. Bảy nền tảng chỉ định. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có ước muốn mãnh liệt trong việc thọ trì học giới, và có tình thương không phai nhạt trong việc thọ trì học giới trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong việc thẩm sát pháp, và có tình thương không phai nhạt trong việc thẩm sát pháp trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong việc điều phục dục vọng, và có tình thương không phai nhạt trong việc điều phục dục vọng trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong việc độc cư, và có tình thương không phai nhạt trong việc độc cư trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong việc khởi sự tinh tấn, và có tình thương không phai nhạt trong việc khởi sự tinh tấn trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong chánh niệm và tỉnh giác, và có tình thương không phai nhạt trong chánh niệm và tỉnh giác trong tương lai. Có ước muốn mãnh liệt trong việc thể nhập chánh kiến, và có tình thương không phai nhạt trong việc thể nhập chánh kiến trong tương lai.
Satta balāni—
<em>Seven powers:</em>
Bảy tưởng – tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng sự nguy hại, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.
Bảy lực – tín lực, tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
Satta viññāṇaṭṭhitiyo. Santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Ayaṁ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti.
<em>Seven planes of consciousness:</em> There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld. This is the first plane of consciousness.
332. Bảy thức trú. Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng khác nhau, ví như loài người, một số chư thiên, và một số các loài trong đọa xứ. Đây là thức trú thứ nhất.
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. Ayaṁ dutiyā viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption. This is the second plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng giống nhau, ví như chư thiên cõi Phạm thiên được sanh lên do sơ thiền. Đây là thức trú thứ hai.
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino seyyathāpi devā ābhassarā. Ayaṁ tatiyā viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of streaming radiance. This is the third plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân giống nhau, tưởng khác nhau, ví như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là thức trú thứ ba.
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino seyyathāpi devā subhakiṇhā. Ayaṁ catutthī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty. This is the fourth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân giống nhau, tưởng giống nhau, ví như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là thức trú thứ tư.
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. Ayaṁ pañcamī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space. This is the fifth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn sắc tưởng, do chấm dứt đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng khác nhau, nghĩ rằng ‘hư không là vô biên,’ đã đạt đến cõi Không Vô Biên Xứ. Đây là thức trú thứ năm.
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. Ayaṁ chaṭṭhī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness. This is the sixth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn cõi Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘thức là vô biên,’ đã đạt đến cõi Thức Vô Biên Xứ. Đây là thức trú thứ sáu.
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā. Ayaṁ sattamī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness. This is the seventh plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn cõi Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘không có gì cả,’ đã đạt đến cõi Vô Sở Hữu Xứ. Đây là thức trú thứ bảy.
Satta puggalā dakkhiṇeyyā—ubhatobhāgavimutto, paññāvimutto, kāyasakkhi, diṭṭhippatto, saddhāvimutto, dhammānusārī, saddhānusārī.
<em>Seven individuals worthy of a religious donation:</em> one freed both ways, one freed by wisdom, a direct witness, one attained to view, one freed by faith, a follower of teachings, and a follower by faith.
Bảy hạng người đáng được cúng dường – bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát, bậc thân chứng, bậc kiến đáo, bậc tín giải thoát, bậc tùy pháp hành, bậc tùy tín hành.
Satta anusayā—kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo.
Satta saṁyojanāni—anunayasaṁyojanaṁ, paṭighasaṁyojanaṁ, diṭṭhisaṁyojanaṁ, vicikicchāsaṁyojanaṁ, mānasaṁyojanaṁ, bhavarāgasaṁyojanaṁ, avijjāsaṁyojanaṁ.
<em>Seven underlying tendencies:</em> sensual desire, aversion, views, doubt, conceit, desire for continued existence, and ignorance.
<em>Seven fetters:</em> attraction, aversion, views, doubt, conceit, desire for continued existence, and ignorance.
Bảy tùy miên – dục tham tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên.
Satta adhikaraṇasamathā uppannuppannānaṁ adhikaraṇānaṁ samathāya vūpasamāya—sammukhāvinayo dātabbo, sativinayo dātabbo, amūḷhavinayo dātabbo, paṭiññāya kāretabbaṁ, yebhuyyasikā, tassapāpiyasikā, tiṇavatthārako.
<em>Seven means of settling any disciplinary issues that might arise:</em> Resolution face-to-face to be applied. Resolution through recollection to be granted. Resolution because of past insanity to be granted. Acting according to what has been admitted. Majority decision. Further penalty. Covering over as if with grass.
Bảy pháp dàn xếp các vụ tranh tụng: để làm cho lắng dịu, để làm cho an tịnh các vụ tranh tụng đã và đang phát sanh, cần phải áp dụng hiện-diện-tỳ-ni, ức-niệm-tỳ-ni, bất-si-tỳ-ni, tự-thú-làm, đa-số-chấp-nhận, trị-tội-xứng-đáng, và lấy-cỏ-che-đất.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by seven that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, bảy pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second recitation section is complete.
Dứt phẩm thứ hai.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena aṭṭha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame aṭṭha?
There are teachings grouped by eight that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by eight?
333. Này chư hiền, có tám pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Tám pháp ấy là những gì?
Aṭṭha micchattā—micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo micchāsati, micchāsamādhi.
<em>Eight wrong ways:</em> wrong view, wrong purpose, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong immersion.
Tám pháp tà vạy: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định.
Aṭṭha sammattā—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
<em>Eight right ways:</em> right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Tám pháp chân chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Aṭṭha puggalā dakkhiṇeyyā—sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno; sakadāgāmī, sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; anāgāmī, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; arahā, arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanno.
<em>Eight individuals worthy of a religious donation:</em> The stream-enterer and the one practicing to realize the fruit of stream-entry. The once-returner and the one practicing to realize the fruit of once-return. The non-returner and the one practicing to realize the fruit of non-return. The perfected one, and the one practicing for perfection.
Tám hạng người đáng được cúng dường: bậc Dự Lưu, và bậc đang thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu; bậc Nhất Lai, và bậc đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai; bậc Bất Lai, và bậc đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai; bậc A-la-hán, và bậc đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán.
Aṭṭha kusītavatthūni. Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ paṭhamaṁ kusītavatthu.
<em>Eight grounds for laziness:</em> Firstly, a mendicant has some work to do. They think: ‘I have some work to do. But while doing it my body will get tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the first ground for laziness.
334. Tám cơ sở của sự biếng nhác. Này chư hiền, ở đây, có vị tỳ khưu có công việc phải làm. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ phải làm công việc này. Khi làm việc, thân ta sẽ mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là cơ sở thứ nhất của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati …pe… idaṁ dutiyaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has done some work. They think: ‘I’ve done some work. But while working my body got tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the second ground for laziness.
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu đã làm xong công việc. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã làm xong công việc. Khi làm việc, thân ta đã mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ hai của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati … idaṁ tatiyaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has to go on a journey. They think: ‘I have to go on a journey. But while walking my body will get tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the third ground for laziness.
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu có con đường phải đi. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ phải đi con đường này. Khi đi đường, thân ta sẽ mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ ba của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati … idaṁ catutthaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has gone on a journey. They think: ‘I’ve gone on a journey. But while walking my body got tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the fourth ground for laziness.
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu đã đi xong con đường. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã đi xong con đường. Khi đi đường, thân ta đã mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ tư của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo kilanto akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati … idaṁ pañcamaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, but they didn’t get to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, but I didn’t get to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is tired and unfit for work. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the fifth ground for laziness.
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu đi khất thực trong làng hoặc thị trấn, không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến khi vừa đủ no lòng. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đi khất thực trong làng hoặc thị trấn, đã không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến khi vừa đủ no lòng. Thân ta mệt mỏi, không thích hợp để làm việc. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ năm của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo garuko akammañño, māsācitaṁ maññe, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati … idaṁ chaṭṭhaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, and they got to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, and I got to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is heavy and unfit for work, like I’ve just eaten a load of beans. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the sixth ground for laziness.
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu đi khất thực trong làng hoặc thị trấn, nhận được vật thực thô hay ngon cho đến khi vừa đủ no lòng. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đi khất thực trong làng hoặc thị trấn, đã nhận được vật thực thô hay ngon cho đến khi vừa đủ no lòng. Thân ta nặng nề, không thích hợp để làm việc, ta cảm thấy như bị nhồi đậu. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ sáu của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho. Tassa evaṁ hoti: ‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho; atthi kappo nipajjituṁ, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati … idaṁ sattamaṁ kusītavatthu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, tassa me kāyo dubbalo akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati na vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ aṭṭhamaṁ kusītavatthu.
Aṭṭha ārambhavatthūni. Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti.
Furthermore, a mendicant feels a little sick. They think: ‘I feel a little sick. Lying down would be good for me. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the seventh ground for laziness.
Furthermore, a mendicant has recently recovered from illness. They think: ‘I’ve recently recovered from illness. My body is weak and unfit for work. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the eighth ground for laziness.
<em>Eight grounds for arousing energy:</em> Firstly, a mendicant has some work to do. They think: ‘I have some work to do. While working it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’
Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu bị một cơn bệnh nhẹ khởi lên. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta bị cơn bệnh nhẹ này khởi lên. Có thể nằm nghỉ được. Thôi, ta hãy nằm xuống!’ Vị ấy bèn nằm xuống, không khởi sự tinh tấn ... Đây là cơ sở thứ bảy của sự biếng nhác.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho panāhaṁ karonto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ dutiyaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has done some work. They think: ‘I’ve done some work. While I was working I wasn’t able to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the second ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã làm xong công việc. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã làm xong công việc, và trong khi làm việc, ta đã không thể tác ý đến giáo huấn của chư Phật. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ hai để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ. Handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ tatiyaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has to go on a journey. They think: ‘I have to go on a journey. While walking it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the third ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có con đường phải đi. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ có con đường phải đi, và trong khi đi đường, ta sẽ khó tác ý đến giáo huấn của chư Phật. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ ba để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho panāhaṁ gacchanto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasi kātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ catutthaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has gone on a journey. They think: ‘I’ve gone on a journey. While I was walking I wasn’t able to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the fourth ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đi xong con đường. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã đi xong con đường, và trong khi đi đường, ta đã không thể tác ý đến giáo huấn của chư Phật. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ tư để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo lahuko kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ pañcamaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, but they didn’t get to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, but I didn’t get to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is light and fit for work. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the fifth ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, không nhận được vật thực thô hoặc tế tùy theo ý muốn cho đến khi no đủ. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã không nhận được vật thực thô hoặc tế tùy theo ý muốn cho đến khi no đủ. Thân của ta nhẹ nhàng, thích hợp cho công việc. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ năm để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo balavā kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ chaṭṭhaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, and they got to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, and I got to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is strong and fit for work. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the sixth ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, nhận được vật thực thô hoặc tế tùy theo ý muốn cho đến khi no đủ. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã nhận được vật thực thô hoặc tế tùy theo ý muốn cho đến khi no đủ. Thân của ta có sức mạnh, thích hợp cho công việc. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ sáu để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho. Tassa evaṁ hoti: ‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho, ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ me ābādho pavaḍḍheyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… so vīriyaṁ ārabhati … idaṁ sattamaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant feels a little sick. They think: ‘I feel a little sick. It’s possible this illness will worsen. I’d better preemptively rouse up energy.’ They rouse up energy … This is the seventh ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, một cơn bệnh nhẹ khởi lên nơi vị tỳ khưu. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Cơn bệnh nhẹ này đã khởi lên nơi ta. Có khả năng là bệnh của ta sẽ tăng trưởng. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Vị ấy khởi sự tinh tấn... Đây là căn cứ thứ bảy để khởi sự tinh tấn.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ me ābādho paccudāvatteyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. So vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ aṭṭhamaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has recently recovered from illness. They think: ‘I’ve recently recovered from illness. It’s possible the illness will come back. I’d better preemptively rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ They rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the eighth ground for arousing energy.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu vừa khỏi bệnh, mới bình phục không lâu. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta vừa khỏi bệnh, mới bình phục không lâu. Có khả năng là bệnh của ta sẽ tái phát. Vậy thì, ta hãy khởi sự tinh tấn để đạt đến điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ!’ Vị ấy khởi sự tinh tấn để đạt đến điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ tám để khởi sự tinh tấn.
Aṭṭha dānavatthūni. Āsajja dānaṁ deti, bhayā dānaṁ deti, ‘adāsi me’ti dānaṁ deti, ‘dassati me’ti dānaṁ deti, ‘sāhu dānan’ti dānaṁ deti, ‘ahaṁ pacāmi, ime na pacanti, nārahāmi pacanto apacantānaṁ dānaṁ na dātun’ti dānaṁ deti, ‘idaṁ me dānaṁ dadato kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchatī’ti dānaṁ deti. Cittālaṅkāracittaparikkhāratthaṁ dānaṁ deti.
<em>Eight reasons to give:</em> Someone might give a gift after insulting the recipient. Or they give out of fear. Or they give thinking, ‘They gave to me.’ Or they give thinking, ‘They’ll give to me.’ Or they give thinking, ‘It’s good to give.’ Or they give thinking, ‘I cook, they don’t. It wouldn’t be right for me to not give to them.’ Or they give thinking, ‘By giving this gift I’ll get a good reputation.’ Or they give thinking, ‘This is an adornment and requisite for the mind.’
336. “Có tám căn cứ của việc bố thí. Vị ấy bố thí vì có người đến gần, bố thí vì sợ hãi, bố thí vì nghĩ rằng ‘người ấy đã cho ta’, bố thí vì nghĩ rằng ‘người ấy sẽ cho ta’, bố thí vì nghĩ rằng ‘bố thí là thiện lành’, bố thí vì nghĩ rằng ‘ta nấu ăn, còn những người này không nấu ăn; ta là người nấu ăn không nên không cho những người không nấu ăn’, bố thí vì nghĩ rằng ‘khi ta thực hiện việc bố thí này, tiếng tăm tốt đẹp sẽ được lan truyền’, bố thí vì mục đích trang hoàng tâm, trang bị cho tâm.
Aṭṭha dānūpapattiyo. Idhāvuso, ekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. So passati khattiyamahāsālaṁ vā brāhmaṇamahāsālaṁ vā gahapatimahāsālaṁ vā pañcahi kāmaguṇehi samappitaṁ samaṅgībhūtaṁ paricārayamānaṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ vā brāhmaṇamahāsālānaṁ vā gahapatimahāsālānaṁ vā sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti, tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ uttari abhāvitaṁ tatrūpapattiyā saṁvattati. Tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. Ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.
<em>Eight rebirths by giving:</em> First, someone gives to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. Whatever they give they expect back. They see an affluent aristocrat or brahmin or householder amusing themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of well-to-do aristocrats or brahmins or householders!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity.
337. “Có tám sự tái sanh do bố thí. Này chư hiền, ở đây, có người bố thí cho sa-môn hoặc bà-la-môn các vật dụng như đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, thuốc xoa, giường nằm, trú xứ, đèn dầu. Vị ấy bố thí vật gì thì mong cầu quả báo của vật ấy. Vị ấy thấy các đại gia thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, hoặc các đại gia thuộc dòng dõi Bà-la-môn, hoặc các đại gia thuộc dòng dõi gia chủ đang thụ hưởng, được cung phụng, được hầu hạ với năm dục trưởng dưỡng. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với các đại gia thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, hoặc các đại gia thuộc dòng dõi Bà-la-môn, hoặc các đại gia thuộc dòng dõi gia chủ!’ Vị ấy nắm giữ tâm ấy, quyết định tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm của vị ấy hướng về điều thấp kém, không được tu tập để hướng thượng, nên dẫn đến sự tái sanh ở nơi ấy. Và ta nói điều này là dành cho người có giới, không phải cho người ác giới. Này chư hiền, ước nguyện của người có giới được thành tựu là do sự trong sạch.
Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ …pe… seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti: ‘cātumahārājikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti, tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ uttari abhāvitaṁ tatrūpapattiyā saṁvattati. Tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. Ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.
Next, someone gives to ascetics or brahmins. Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the four great kings are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the four great kings!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity.
Lại nữa, này các hiền hữu, ở đây có người cúng dường cho sa-môn hoặc bà-la-môn: thức ăn, thức uống... cho đến chỗ ở, giường nằm, đèn đuốc. Vị ấy cúng dường vật gì thì mong cầu vật ấy. Vị ấy đã được nghe rằng: 'Chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương được sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc'. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: 'Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương!' Vị ấy giữ vững tâm ấy, quyết định tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm ấy của vị ấy, hướng về hạ liệt, không được tu tập thêm để đạt đến quả vị cao hơn, sẽ đưa đến sự tái sanh ở cõi ấy. Và điều này, ta nói là dành cho người có giới, không phải cho người ác giới. Này các hiền hữu, ước nguyện trong tâm của người có giới được thành tựu là do sự trong sạch.
Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ …pe… seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti: ‘tāvatiṁsā devā …pe… yāmā devā …pe… tusitā devā …pe… nimmānaratī devā …pe… paranimmitavasavattī devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti, tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ uttari abhāvitaṁ tatrūpapattiyā saṁvattati. Tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa. Ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi visuddhattā.
Next, someone gives to ascetics or brahmins. Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the thirty-three … the gods of Yama … the joyful gods … the gods who love to create … the gods who control what is created by others are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods who control what is created by others!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their purity.
Lại nữa, này các hiền hữu, ở đây có người cúng dường cho sa-môn hoặc bà-la-môn: thức ăn, thức uống... cho đến chỗ ở, giường nằm, đèn đuốc. Vị ấy cúng dường vật gì thì mong cầu vật ấy. Vị ấy đã được nghe rằng: 'Chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba... chư thiên ở cõi Dạ Ma... chư thiên ở cõi Đâu Suất... chư thiên ở cõi Hóa Lạc... chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại được sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc'. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: 'Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại!' Vị ấy giữ vững tâm ấy, quyết định tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm ấy của vị ấy, hướng về hạ liệt, không được tu tập thêm để đạt đến quả vị cao hơn, sẽ đưa đến sự tái sanh ở cõi ấy. Và điều này, ta nói là dành cho người có giới, không phải cho người ác giới. Này các hiền hữu, ước nguyện trong tâm của người có giới được thành tựu là do sự trong sạch.
Puna caparaṁ, āvuso, idhekacco dānaṁ deti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So yaṁ deti taṁ paccāsīsati. Tassa sutaṁ hoti: ‘brahmakāyikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti, tassa taṁ cittaṁ hīne vimuttaṁ uttari abhāvitaṁ tatrūpapattiyā saṁvattati. Tañca kho sīlavato vadāmi no dussīlassa; vītarāgassa no sarāgassa. Ijjhatāvuso, sīlavato cetopaṇidhi vītarāgattā.
Aṭṭha parisā—
Next, someone gives to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. Whatever they give they expect back. And they’ve heard: ‘The gods of the Divinity’s host are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the Divinity’s host!’ They settle on that thought, stabilize it, and develop it. As they’ve settled for less and not developed further, their thought leads to rebirth there. But I say that this is only for those of ethical conduct, not for the unethical. And for those free of desire, not those with desire. The heart’s wish of an ethical person succeeds because of their freedom from desire.
<em>Eight assemblies:</em>
Lại nữa, này các hiền hữu, ở đây có người cúng dường cho sa-môn hoặc bà-la-môn: thức ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, vật thoa, chỗ ở, giường nằm, đèn đuốc. Vị ấy cúng dường vật gì thì mong cầu vật ấy. Vị ấy đã được nghe rằng: 'Chư thiên ở cõi Phạm Thiên được sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc'. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: 'Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Phạm Thiên!' Vị ấy giữ vững tâm ấy, quyết định tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm ấy của vị ấy, hướng về hạ liệt, không được tu tập thêm để đạt đến quả vị cao hơn, sẽ đưa đến sự tái sanh ở cõi ấy. Và điều này, ta nói là dành cho người có giới, không phải cho người ác giới; dành cho người ly tham, không phải cho người còn tham. Này các hiền hữu, ước nguyện trong tâm của người có giới được thành tựu là do đã ly tham.
Tám hội chúng: hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hội chúng sa-môn, hội chúng Tứ Đại Thiên Vương, hội chúng Ba Mươi Ba, hội chúng của Ma vương, hội chúng Phạm thiên.
Aṭṭha lokadhammā—lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca.
<em>Eight worldly conditions:</em> gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, pleasure and pain.
Tám pháp thế gian: được và không được, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ.
Aṭṭha abhibhāyatanāni. Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
<em>Eight dimensions of mastery:</em> Perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the first dimension of mastery.
338. Tám thắng xứ. Có người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có giới hạn, đẹp và xấu, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ nhất.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—evaṁsaññī hoti. Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the second dimension of mastery.
Có người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, vô hạn lượng, đẹp và xấu, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ hai.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the third dimension of mastery.
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có giới hạn, đẹp và xấu, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ ba.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fourth dimension of mastery.
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, vô hạn lượng, đẹp và xấu, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ tư.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are blue, with blue color and blue appearance. They’re like a flax flower that’s blue, with blue color and blue appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, blue, with blue color and blue appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, màu xanh, sắc xanh, tướng xanh, ánh xanh. Ví như hoa lanh màu xanh, sắc xanh, tướng xanh, ánh xanh; hoặc ví như tấm vải ở Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu xanh, sắc xanh, tướng xanh, ánh xanh. Cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, màu xanh, sắc xanh, tướng xanh, ánh xanh, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ năm.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. They’re like a champak flower that’s yellow, with yellow color and yellow appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, yellow, with yellow color and yellow appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the sixth dimension of mastery.
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, màu vàng, sắc vàng, tướng vàng, ánh vàng. Ví như hoa kaṇikāra màu vàng, sắc vàng, tướng vàng, ánh vàng; hoặc ví như tấm vải ở Ba-la-nại được chà láng cả hai mặt, màu vàng, sắc vàng, tướng vàng, ánh vàng. Cũng vậy, có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, màu vàng, sắc vàng, tướng vàng, ánh vàng, và có tưởng rằng: 'Sau khi chế ngự chúng, ta biết, ta thấy'. Đây là thắng xứ thứ sáu.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. They’re like a scarlet mallow flower that’s red, with red color and red appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, red, with red color and red appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the seventh dimension of mastery.
“Vị ấy có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu đỏ, sắc đỏ, tướng đỏ, ánh đỏ. Ví như đóa hoa bandhujīvaka có màu đỏ, sắc đỏ, tướng đỏ, ánh đỏ; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu đỏ, sắc đỏ, tướng đỏ, ánh đỏ. Cũng thế ấy, vị ấy có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu đỏ, sắc đỏ, tướng đỏ, ánh đỏ, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chinh phục các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.”
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. They’re like the morning star that’s white, with white color and white appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the eighth dimension of mastery.
“Vị ấy có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu trắng, sắc trắng, tướng trắng, ánh trắng. Ví như sao mai có màu trắng, sắc trắng, tướng trắng, ánh trắng; hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu trắng, sắc trắng, tướng trắng, ánh trắng. Cũng thế ấy, vị ấy có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới có màu trắng, sắc trắng, tướng trắng, ánh trắng, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chinh phục các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám.”
Aṭṭha vimokkhā. Rūpī rūpāni passati. Ayaṁ paṭhamo vimokkho.
<em>Eight liberations:</em> Having physical form, they see forms. This is the first liberation.
339. “Có tám giải thoát. Vị ấy có sắc, thấy các sắc. Đây là giải thoát thứ nhất.”
Ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati. Ayaṁ dutiyo vimokkho.
Not perceiving physical form internally, they see forms externally. This is the second liberation.
“Vị ấy có tưởng về vô sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới. Đây là giải thoát thứ hai.”
Subhanteva adhimutto hoti. Ayaṁ tatiyo vimokkho.
They’re focused only on beauty. This is the third liberation.
“Vị ấy chỉ chuyên chú vào tịnh. Đây là giải thoát thứ ba.”
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ catuttho vimokkho.
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth liberation.
“Do đã hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do đã chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị tưởng, vị ấy trú vào Không Vô Biên Xứ với ý niệm: ‘Hư không là vô biên.’ Đây là giải thoát thứ tư.”
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ pañcamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth liberation.
“Do đã hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, vị ấy trú vào Thức Vô Biên Xứ với ý niệm: ‘Thức là vô biên.’ Đây là giải thoát thứ năm.”
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth liberation.
“Do đã hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, vị ấy trú vào Vô Sở Hữu Xứ với ý niệm: ‘Không có gì cả.’ Đây là giải thoát thứ sáu.”
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ sattamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh liberation.
“Do đã hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy trú vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là giải thoát thứ bảy.”
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
“Do đã hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy trú vào Diệt Thọ Tưởng Định. Đây là giải thoát thứ tám.”
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena aṭṭha dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by eight that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
“Này chư hiền, tám pháp này đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, là người biết, người thấy, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau tụng đọc ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và nhân loại.”
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena nava dhammā sammadakkhātā; tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame nava?
There are teachings grouped by nine that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by nine?
340. “Này chư hiền, có chín pháp đã được đức Thế Tôn, bậc Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, là người biết, người thấy, khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta nên cùng nhau tụng đọc ... vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và nhân loại. Chín pháp ấy là gì?”
Nava āghātavatthūni. ‘Anatthaṁ me acarī’ti āghātaṁ bandhati; ‘anatthaṁ me caratī’ti āghātaṁ bandhati; ‘anatthaṁ me carissatī’ti āghātaṁ bandhati; ‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe… anatthaṁ caratīti āghātaṁ bandhati …pe… anatthaṁ carissatīti āghātaṁ bandhati; ‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe… atthaṁ caratīti āghātaṁ bandhati …pe… atthaṁ carissatīti āghātaṁ bandhati.
Nava āghātapaṭivinayā.
<em>Nine grounds for resentment:</em> Thinking: ‘They did wrong to me,’ you harbor resentment. Thinking: ‘They are doing wrong to me’ … ‘They will do wrong to me’ … ‘They did wrong by someone I love’ … ‘They are doing wrong by someone I love’ … ‘They will do wrong by someone I love’ … ‘They helped someone I dislike’ … ‘They are helping someone I dislike’ … Thinking: ‘They will help someone I dislike,’ you harbor resentment.
<em>Nine ways to get rid of resentment:</em>
“Có chín hiềm hận sự. Vị ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều bất lợi cho ta.’ Vị ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người ấy đang làm điều bất lợi cho ta.’ Vị ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người ấy sẽ làm điều bất lợi cho ta.’ Vị ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều bất lợi cho người thân yêu của ta.’ ... đang làm ... sẽ làm ... Vị ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều lợi cho người ta không ưa thích.’ ... đang làm ... sẽ làm.”
“Có chín cách điều phục hiềm hận. Vị ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều bất lợi cho ta, nhưng ở đây làm sao có thể khác được?’ Vị ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người ấy đang làm điều bất lợi cho ta, nhưng ở đây làm sao có thể khác được?’ Vị ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người ấy sẽ làm điều bất lợi cho ta, nhưng ở đây làm sao có thể khác được?’ Vị ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều bất lợi cho người thân yêu của ta ... đang làm ... sẽ làm, nhưng ở đây làm sao có thể khác được?’ Vị ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người ấy đã làm điều lợi cho người ta không ưa thích ... đang làm ... sẽ làm, nhưng ở đây làm sao có thể khác được?’”
Nava sattāvāsā. Santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Ayaṁ paṭhamo sattāvāso.
<em>Nine abodes of sentient beings:</em> There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld. This is the first abode of sentient beings.
341. “Có chín chúng sanh cư. Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng khác nhau, ví như loài người, một số chư thiên, và một số các loài trong đọa xứ. Đây là chúng sanh cư thứ nhất.”
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. Ayaṁ dutiyo sattāvāso.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption. This is the second abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng đồng nhau, ví như chư thiên cõi Phạm Chúng Thiên được sanh vào lúc khởi đầu. Đây là chúng sanh cư thứ hai.”
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā. Ayaṁ tatiyo sattāvāso.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of streaming radiance. This is the third abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh thân đồng nhau, tưởng khác nhau, ví như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là chúng sanh cư thứ ba.”
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Ayaṁ catuttho sattāvāso.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty. This is the fourth abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh thân đồng nhau, tưởng đồng nhau, ví như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là chúng sanh cư thứ tư.”
Santāvuso, sattā asaññino appaṭisaṁvedino, seyyathāpi devā asaññasattā. Ayaṁ pañcamo sattāvāso.
There are sentient beings that are non-percipient and do not experience anything, such as the gods who are non-percipient beings. This is the fifth abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh không có tưởng, không có cảm thọ, ví như chư thiên cõi Vô Tưởng. Đây là chúng sanh cư thứ năm.”
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. Ayaṁ chaṭṭho sattāvāso.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space. This is the sixth abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh do đã hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do đã chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị tưởng, với ý niệm: ‘Hư không là vô biên,’ đã sanh vào cõi Không Vô Biên Xứ. Đây là chúng sanh cư thứ sáu.”
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. Ayaṁ sattamo sattāvāso.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness. This is the seventh abode of sentient beings.
“Này chư hiền, có những chúng sanh do đã hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, với ý niệm: ‘Thức là vô biên,’ đã sanh vào cõi Thức Vô Biên Xứ. Đây là chúng sanh cư thứ bảy.”
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā. Ayaṁ aṭṭhamo sattāvāso.
Santāvuso, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanūpagā.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness. This is the eighth abode of sentient beings.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of nothingness. They have been reborn in the dimension of neither perception nor non-perception.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, (quán tưởng) rằng ‘không có vật gì,’ được sanh vào Vô Sở Hữu Xứ. Đây là trú xứ thứ tám của chúng sanh.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, được sanh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là trú xứ thứ chín của chúng sanh.
Nava akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya. Idhāvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti. Ayaṁ paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
<em>Nine lost opportunities for spiritual practice:</em> Firstly, a Realized One has arisen in the world. He teaches the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. But that individual has been reborn in hell. This is the first lost opportunity for spiritual practice.
342. Có chín thời phi thời, chín cơ hội không thuận tiện để sống đời phạm hạnh. Này chư hiền, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và giáo pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, đưa đến Niết-bàn, hướng đến giác ngộ, do bậc Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng cá nhân này lại sanh vào địa ngục. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ nhất để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ, āvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo tiracchānayoniṁ upapanno hoti. Ayaṁ dutiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in the animal realm. This is the second lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa, này chư hiền, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và giáo pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, đưa đến Niết-bàn, hướng đến giác ngộ, do bậc Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng cá nhân này lại sanh vào loài bàng sanh. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ hai để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… pettivisayaṁ upapanno hoti. Ayaṁ tatiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But an individual has been reborn in the ghost realm. This is the third lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ ba để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… asurakāyaṁ upapanno hoti. Ayaṁ catuttho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn among the titans. This is the fourth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh vào loài a-tu-la. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ tư để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… aññataraṁ dīghāyukaṁ devanikāyaṁ upapanno hoti. Ayaṁ pañcamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in one of the long-lived orders of gods. This is the fifth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh vào một trong các cõi trời trường thọ. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ năm để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… paccantimesu janapadesu paccājāto hoti milakkhesu aviññātāresu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Ayaṁ chaṭṭho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in the borderlands, among uneducated foreigners, where monks, nuns, laymen, and laywomen do not go. This is the sixth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh ở các xứ biên địa, giữa những người man di không được khai hóa, nơi không có sự đi lại của các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni, cận sự nam, cận sự nữ. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ sáu để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… majjhimesu janapadesu paccājāto hoti. So ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Ayaṁ sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … And an individual is reborn in a central country. But they have wrong view and distorted perspective: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is the seventh lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh ở các xứ trung ương. Nhưng người ấy có tà kiến, có tri kiến sai lạc: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự; không có kết quả dị thục của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ bảy để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… majjhimesu janapadesu paccājāto hoti. So ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo, nappaṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ. Ayaṁ aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … And an individual is reborn in a central country. But they’re witless, dull, idiotic, and unable to distinguish what is well said from what is poorly said. This is the eighth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... vân vân... lại sanh ở các xứ trung ương. Nhưng người ấy là người không có trí tuệ, ngu si, câm ngọng, không có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời thiện thuyết và ác thuyết. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ tám để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ, āvuso, tathāgato ca loke na uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca na desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo, paṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ. Ayaṁ navamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, no Realized One has arisen in the world, so there is no teaching of the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. But an individual is reborn in a central country. And they’re wise, bright, clever, and able to distinguish what is well said from what is poorly said. This is the ninth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa, này chư hiền, Như Lai không xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và giáo pháp không được thuyết giảng, là pháp đưa đến an tịnh, đưa đến Niết-bàn, hướng đến giác ngộ, do bậc Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng cá nhân này lại sanh ở các xứ trung ương, là người có trí tuệ, không ngu si, không câm ngọng, có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời thiện thuyết và ác thuyết. Đây là thời phi thời, cơ hội không thuận tiện thứ chín để sống đời phạm hạnh.
Nava anupubbavihārā. Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
<em>Nine progressive meditations:</em> A mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling.
343. Có chín sự an trú tuần tự. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ-khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ tịnh chỉ... vân vân... chứng và trú thiền thứ hai. Do ly hỷ... vân vân... chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc... vân vân... chứng và trú thiền thứ tư. Do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng... vân vân... chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, (quán tưởng) ‘thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, (quán tưởng) ‘không có vật gì,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.
Nava anupubbanirodhā. Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti. Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti. Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti. Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāssā niruddhā honti. Ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti. Viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti. Ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti. Nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti. Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti.
<em>Nine progressive cessations:</em> For someone who has attained the first absorption, sensual perceptions have ceased. For someone who has attained the second absorption, the placing of the mind and keeping it connected have ceased. For someone who has attained the third absorption, rapture has ceased. For someone who has attained the fourth absorption, breathing has ceased. For someone who has attained the dimension of infinite space, the perception of form has ceased. For someone who has attained the dimension of infinite consciousness, the perception of the dimension of infinite space has ceased. For someone who has attained the dimension of nothingness, the perception of the dimension of infinite consciousness has ceased. For someone who has attained the dimension of neither perception nor non-perception, the perception of the dimension of nothingness has ceased. For someone who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have ceased.
344. Có chín sự đoạn diệt tuần tự. Đối với người đã nhập thiền thứ nhất, dục tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ hai, tầm và tứ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ tư, hơi thở vô và hơi thở ra được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Không Vô Biên Xứ, sắc tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Thức Vô Biên Xứ, không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Vô Sở Hữu Xứ, thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định, tưởng và thọ được đoạn diệt.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena nava dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
These are the teachings grouped by nine that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert.
Này chư hiền, chín pháp này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Tất cả chúng ta phải cùng nhau tụng đọc... vân vân... vì lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người.
Atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ …pe… atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame dasa?
There are teachings grouped by ten that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert. What are the teachings grouped by ten?
345. Này chư hiền, có mười pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng. Tất cả chúng ta phải cùng nhau tụng đọc... vân vân... vì lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư thiên và loài người. Mười pháp ấy là gì?
Dasa nāthakaraṇā dhammā. Idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti. Pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yaṁpāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati, ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
<em>Ten qualities that serve as protector:</em> Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is a quality that serves as protector.
Mười pháp tạo ra nơi nương tựa. Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu có giới hạnh. Vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Yaṁpāvuso, bhikkhu bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người đa văn, ghi nhớ những điều đã nghe, tích lũy những điều đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, quen thuộc bằng lời nói, quán xét bằng ý, và thông suốt bằng trí tuệ. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người đa văn... cho đến... và thông suốt bằng trí tuệ. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Yaṁpāvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có bạn lành, có thân hữu tốt, thân cận bạn lành. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu có bạn lành, có thân hữu tốt, thân cận bạn lành. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. Yaṁpāvuso, bhikkhu suvaco hoti …pe… padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người dễ nói, sở hữu những pháp khiến cho dễ nói, kham nhẫn, và khéo tiếp thu lời giáo huấn. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người dễ nói... cho đến... và khéo tiếp thu lời giáo huấn. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni, tattha dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. Yaṁpāvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ …pe… alaṁ saṁvidhātuṁ. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, đối với các công việc lớn nhỏ khác nhau của các vị đồng phạm hạnh, vị tỳ khưu ở đấy là người khéo léo, không biếng nhác, có sự thẩm sát về phương tiện thích hợp, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp xếp. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu đối với các công việc của các vị đồng phạm hạnh... cho đến... có khả năng sắp xếp. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo. Yaṁpāvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti …pe… uḷārapāmojjo. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người ham thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm hân hoan to lớn trong Thắng Pháp và Thắng Luật. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người ham thích Pháp... cho đến... có niềm hân hoan to lớn. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarehi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi. Yaṁpāvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti …pe… parikkhārehi. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người biết đủ với bất cứ các vật dụng nào như y phục, vật thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người biết đủ... cho đến... với các vật dụng. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Yaṁpāvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati …pe… anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu sống tinh tấn, để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, là người có nỗ lực, có sự kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu sống tinh tấn... cho đến... không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. Yaṁpāvuso, bhikkhu satimā hoti …pe… saritā anussaritā. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người có chánh niệm, có chánh niệm và sự thận trọng tối thượng, có thể nhớ lại, có thể hồi tưởng lại những việc đã làm và những lời đã nói từ lâu. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người có chánh niệm... cho đến... có thể nhớ lại, có thể hồi tưởng lại. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. Yaṁpāvuso, bhikkhu paññavā hoti …pe… sammādukkhakkhayagāminiyā. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người có trí tuệ, có trí tuệ quán xét sự sinh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng xuyên thấu, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này chư hiền, do vì vị tỳ khưu là người có trí tuệ... cho đến... đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Dasa kasiṇāyatanāni. Pathavīkasiṇameko sañjānāti, uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ. Āpokasiṇameko sañjānāti …pe… tejokasiṇameko sañjānāti … vāyokasiṇameko sañjānāti … nīlakasiṇameko sañjānāti … pītakasiṇameko sañjānāti … lohitakasiṇameko sañjānāti … odātakasiṇameko sañjānāti … ākāsakasiṇameko sañjānāti … viññāṇakasiṇameko sañjānāti, uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
<em>Ten universal dimensions of meditation:</em> Someone perceives the meditation on universal earth above, below, across, undivided and limitless. They perceive the meditation on universal water … the meditation on universal fire … the meditation on universal air … the meditation on universal blue … the meditation on universal yellow … the meditation on universal red … the meditation on universal white … the meditation on universal space … They perceive the meditation on universal consciousness above, below, across, undivided and limitless.
346. Mười xứ biến xứ. Có người nhận thức biến xứ đất, ở trên, ở dưới, ở ngang, không có hai, vô lượng. Có người nhận thức biến xứ nước... cho đến... có người nhận thức biến xứ lửa... có người nhận thức biến xứ gió... có người nhận thức biến xứ xanh... có người nhận thức biến xứ vàng... có người nhận thức biến xứ đỏ... có người nhận thức biến xứ trắng... có người nhận thức biến xứ hư không... có người nhận thức biến xứ thức, ở trên, ở dưới, ở ngang, không có hai, vô lượng.
Dasa akusalakammapathā—pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro, musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo, abhijjhā, byāpādo, micchādiṭṭhi.
<em>Ten ways of doing unskillful deeds:</em> killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; covetousness, ill will, and wrong view.
347. Mười con đường nghiệp bất thiện: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, sân hận, tà kiến.
Dasa kusalakammapathā—pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī, anabhijjhā, abyāpādo, sammādiṭṭhi.
<em>Ten ways of doing skillful deeds:</em> refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; refraining from speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; contentment, good will, and right view.
Mười con đường nghiệp thiện: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích, không tham lam, không sân hận, chánh kiến.
Dasa ariyavāsā. Idhāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti, chaḷaṅgasamannāgato, ekārakkho, caturāpasseno, paṇunnapaccekasacco, samavayasaṭṭhesano, anāvilasaṅkappo, passaddhakāyasaṅkhāro, suvimuttacitto, suvimuttapañño.
<em>Ten abodes of the noble ones:</em> A mendicant has given up five factors, possesses six factors, has a single guard, has four supports, has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth, has totally given up searching, has unsullied intentions, has stilled the physical process, and is well freed in mind and well freed by wisdom.
348. Mười trú xứ của bậc thánh. Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần, có đầy đủ sáu chi phần, có sự phòng hộ duy nhất, có bốn nơi nương tựa, đã loại bỏ các sự thật cá biệt, đã từ bỏ hoàn toàn sự tìm cầu, có các tư duy không bị khuấy động, có thân hành được an tịnh, có tâm giải thoát tốt đẹp, có trí tuệ giải thoát tốt đẹp.
Kathañcāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti.
And how has a mendicant given up five factors? It’s when a mendicant has given up sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. That’s how a mendicant has given up five factors.
Và này chư hiền, thế nào là vị tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần? Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu đã từ bỏ tham dục, đã từ bỏ sân hận, đã từ bỏ hôn trầm và thụy miên, đã từ bỏ trạo cử và hối quá, đã từ bỏ hoài nghi. Này chư hiền, như vậy là vị tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần.
Kathañcāvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṁ sutvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti.
And how does a mendicant possess six factors? A mendicant, seeing a sight with their eyes, is neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue … Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they’re neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. That’s how a mendicant possesses six factors.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không hoan hỷ cũng không ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai... cho đến... sau khi biết pháp bằng ý, không hoan hỷ cũng không ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi.
Kathañcāvuso, bhikkhu ekārakkho hoti? Idhāvuso, bhikkhu satārakkhena cetasā samannāgato hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu ekārakkho hoti.
And how does a mendicant have a single guard? It’s when a mendicant’s heart is guarded by mindfulness. That’s how a mendicant has a single guard.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có sự phòng hộ duy nhất? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu thành tựu tâm được niệm phòng hộ. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có sự phòng hộ duy nhất.
Kathañcāvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti? Idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti.
And how does a mendicant have four supports? After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and dispels some things. That’s how a mendicant has four supports.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có bốn nơi nương tựa? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi suy xét, thọ dụng một số thứ; sau khi suy xét, kham nhẫn một số thứ; sau khi suy xét, tránh né một số thứ; sau khi suy xét, loại trừ một số thứ. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có bốn nơi nương tựa.
Kathañcāvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti? Idhāvuso, bhikkhuno yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ puthupaccekasaccāni, sabbāni tāni nunnāni honti paṇunnāni cattāni vantāni muttāni pahīnāni paṭinissaṭṭhāni. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti.
And how has a mendicant cast aside idiosyncratic interpretations of the truth? Different ascetics and brahmins have different idiosyncratic interpretations of the truth. A mendicant has cast out, cast aside, thrown out, discarded, let go of, given up, and relinquished all these. That’s how a mendicant has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ? Này chư hiền, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, những chân lý riêng lẻ đa dạng của các Sa-môn, Bà-la-môn đa dạng, tất cả những chân lý ấy đã được loại bỏ, đã được trừ tuyệt, đã được từ bỏ, đã được khạc nhổ, đã được giải thoát, đã được đoạn tận, đã được xả ly. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ.
Kathañcāvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmesanā pahīnā hoti, bhavesanā pahīnā hoti, brahmacariyesanā paṭippassaddhā. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti.
And how has a mendicant totally given up searching? It’s when they’ve given up searching for sensual pleasures, for continued existence, and for a spiritual path. That’s how a mendicant has totally given up searching.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu đã từ bỏ sự tìm cầu? Này chư hiền, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, sự tìm cầu dục đã được đoạn tận, sự tìm cầu hữu đã được đoạn tận, sự tìm cầu phạm hạnh đã được lắng dịu. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu đã từ bỏ sự tìm cầu.
Kathañcāvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmasaṅkappo pahīno hoti, byāpādasaṅkappo pahīno hoti, vihiṁsāsaṅkappo pahīno hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti.
And how does a mendicant have unsullied intentions? It’s when they’ve given up sensual, malicious, and cruel intentions. That’s how a mendicant has unsullied intentions.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tư duy không vẩn đục? Này chư hiền, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, dục tư duy đã được đoạn tận, sân tư duy đã được đoạn tận, hại tư duy đã được đoạn tận. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tư duy không vẩn đục.
Kathañcāvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti? Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti.
And how has a mendicant stilled the physical process? It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s how a mendicant has stilled the physical process.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có thân hành an tịnh? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu, do đoạn trừ lạc và khổ, do diệt mất hỷ và ưu từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có thân hành an tịnh.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti? Idhāvuso, bhikkhuno rāgā cittaṁ vimuttaṁ hoti, dosā cittaṁ vimuttaṁ hoti, mohā cittaṁ vimuttaṁ hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti.
And how is a mendicant well freed in mind? It’s when a mendicant’s mind is freed from greed, hate, and delusion. That’s how a mendicant is well freed in mind.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tâm khéo giải thoát? Này chư hiền, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, tâm đã giải thoát khỏi tham, tâm đã giải thoát khỏi sân, tâm đã giải thoát khỏi si. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tâm khéo giải thoát.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti? Idhāvuso, bhikkhu ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘Doso me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘Moho me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti.
And how is a mendicant well freed by wisdom? It’s when a mendicant understands: ‘I’ve given up greed, hate, and delusion, cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they’re unable to arise in the future.’ That’s how a mendicant’s mind is well freed by wisdom.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tuệ khéo giải thoát? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu biết rõ: ‘Tham của ta đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm như cây thốt nốt cụt ngọn, đã được làm cho không thể hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai’. Vị ấy biết rõ: ‘Sân của ta đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm như cây thốt nốt cụt ngọn, đã được làm cho không thể hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai’. Vị ấy biết rõ: ‘Si của ta đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm như cây thốt nốt cụt ngọn, đã được làm cho không thể hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai’. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tuệ khéo giải thoát.
Dasa asekkhā dhammā—asekkhā sammādiṭṭhi, asekkho sammāsaṅkappo, asekkhā sammāvācā, asekkho sammākammanto, asekkho sammāājīvo, asekkho sammāvāyāmo, asekkhā sammāsati, asekkho sammāsamādhi, asekkhaṁ sammāñāṇaṁ, asekkhā sammāvimutti.
<em>Ten qualities of an adept:</em> an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom.
Mười pháp vô học – chánh kiến vô học, chánh tư duy vô học, chánh ngữ vô học, chánh nghiệp vô học, chánh mạng vô học, chánh tinh tấn vô học, chánh niệm vô học, chánh định vô học, chánh trí vô học, chánh giải thoát vô học.
Ime kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa dhammā sammadakkhātā. Tattha sabbeheva saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
Reverends, these are the teachings grouped by ten that have been rightly explained by the Buddha. You should all recite these in concert, without disputing, so that this spiritual path may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
Này chư hiền, mười pháp này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy khéo thuyết giảng. Ở đây, tất cả chúng ta phải cùng nhau trùng tụng, không được tranh cãi, để phạm hạnh này được trường tồn, được tồn tại lâu dài, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi: “sādhu sādhu, sāriputta, sādhu kho tvaṁ, sāriputta, bhikkhūnaṁ saṅgītipariyāyaṁ abhāsī”ti.
Idamavocāyasmā sāriputto, samanuñño satthā ahosi. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Then the Buddha got up and said to Venerable Sāriputta, “Good, good, Sāriputta! It’s good that you’ve taught this exposition of the reciting in concert.”
That is what Venerable Sāriputta said, and the Teacher concurred. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
349. Rồi Thế Tôn đứng dậy, gọi Tôn giả Sāriputta: ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Lành thay, này Sāriputta, ông đã thuyết pháp môn Trùng Tụng cho các Tỳ khưu’. Tôn giả Sāriputta đã nói điều này, bậc Đạo Sư đã hoan hỷ. Các Tỳ khưu ấy, với tâm ý hoan hỷ, đã tán thán lời dạy của Tôn giả Sāriputta.
Saṅgītisuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Kinh Trùng Tụng, phẩm thứ mười, đã kết thúc.