- Dīgha Nikāya 32
Bản dịch
DN 32 — Kinh Āṭānāṭiya
Āṭānāṭiyasutta
Như vậy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Bốn Thiên vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhaṇḍa (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nāga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.
SC 2PTS cs 2 Sau khi ngồi xuống một bên, đại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn, Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Āṭānāṭiyarakkhā (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để họ được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tại họa.
SC 4Thế Tôn im lặng chấp thuận.
SC 5PTS cs 3 Rồi đại vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Āṭānāṭiya Hộ Kinh:
SC 6Ðảnh lễ Vipassī (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhī (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabhū (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết chơn diệu pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
SC 8Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimà, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
“Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài”.
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
“Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn”.
SC 10Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinà (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhaṇḍa (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virùlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhaṇḍa hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
“Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài”.
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
“Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn”.
SC 12Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimà (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương, danh xưng.
Chủ các loài Nàgà,
Danh Virùpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nàgà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
“Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài”.
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
“Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn”.
SC 14Bắc Lô Châu (Uttarakurù) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atànàtà,
Kusinàtà, Parakusinàtà, Nàttapuriyà, Parakusitannàtà
Kapìvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatī,
Alakamandà,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visànà.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolà, Tattalà, Tatotalà,
Ojasi, Tejasi, Tatojasī,
Vua Sùra, Ariṭṭha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanì.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanì.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavatī,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilà,
Ở đây, chim Jīva,
Kêu tiếng “Hãy sống đi”,
Và tiếng chim kêu lên,
“Hãy khởi tâm thích thú”.
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamànavakà.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarà (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc đại vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
“Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài”.
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
“Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc trí đức viên mãn”.
SC 15PTS cs 8 Tôn giả, Hộ Kinh Āṭānāṭiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
SC 16Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Āṭānāṭiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà … hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhaṇḍa) … hoặc Nāga … đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả, vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng. Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Āḷakamandā của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
SC 17PTS cs 9 Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha—cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các đại vương, không nghe lời đình thần của các vị đại vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị đại vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc đại vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào … đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: “Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra”.
SC 18PTS cs 10 Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
SC 19Inda, Soma, và Varuṇa,
Bharadvāja, Pajāpati,
Candana, Kāmaseṭṭha,
Kinnughaṇḍu, Nighaṇḍu,
Panāda và Opamañño,
Devadhītā và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Puṇṇaka, Karaṇīya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessamitta, Yugandhara,
Gosāla và Suppagedha,
Hirì, Settì và Mandiya,
Pancàla Canda, Āḷavaka,
Pajjuna, Samaṇa, Sumukha,
Dadhimukha Maṇi Mānicara, Dìgha,
Atha và Serissaka.
SC 20Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: “Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra”.
SC 21PTS cs 11 Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
SC 22Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
SC 23- Ðại vương, Ðại vương hãy làm điều gì Ðại vương nghĩ là phải thời.
SC 24Rồi bốn vị đại vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.
SC 25Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.
SC 26PTS cs 12 Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo
SC 27—Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị đại vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa:
SC 28“Ðảnh lễ Vipassī (Tỳ-bà-thi)
Sáng suốt và huy hoàng;
Ðảnh lễ đấng Sikhī, (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài …SC 29Này Tôn giả, đó là hộ kinh Atànàtiyà che chở, hộ trì, … (như trên) … rồi biến mất tại chỗ”.
SC 30PTS cs 13 Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atànàtiyà này, hãy thuộc lòng Kinh Atànàtiyà này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.
SC 31Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 32
The Āṭānāṭiya Protection
9. Kinh Āṭānāṭiya
1. Paṭhamabhāṇavāra
Evaṁ me sutaṁ—
1. The First Recitation Section
So I have heard.
Phần Tụng Đọc Đầu Tiên
275. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Khi ấy, bốn vị Đại vương, cùng với đại quân Dạ-xoa, đại quân Càn-thát-bà, đại quân Cưu-bàn-trà, và đại quân Rồng, sau khi bố trí lính canh ở bốn phương, bố trí đồn trú ở bốn phương, bố trí vòng vây ở bốn phương, vào lúc đêm đã khuya, với dung sắc thù thắng, làm sáng rực toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Trong số các Dạ-xoa ấy, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số cùng Thế Tôn nói lên lời chào hỏi; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng tên và họ của mình rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho vessavaṇo mahārājā bhagavantaṁ etadavoca: “santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato appasannā. Santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato pasannā. Santi hi, bhante, majjhimā yakkhā bhagavato appasannā. Santi hi, bhante, majjhimā yakkhā bhagavato pasannā. Santi hi, bhante, nīcā yakkhā bhagavato appasannā. Santi hi, bhante, nīcā yakkhā bhagavato pasannā. Yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appasannāyeva bhagavato. Taṁ kissa hetu? Bhagavā hi, bhante, pāṇātipātā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, adinnādānā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, musāvādā veramaṇiyā dhammaṁ deseti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇiyā dhammaṁ deseti. Yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appaṭiviratāyeva pāṇātipātā, appaṭiviratā adinnādānā, appaṭiviratā kāmesumicchācārā, appaṭiviratā musāvādā, appaṭiviratā surāmerayamajjappamādaṭṭhānā. Tesaṁ taṁ hoti appiyaṁ amanāpaṁ.
Santi hi, bhante, bhagavato sāvakā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. Tattha santi uḷārā yakkhā nivāsino, ye imasmiṁ bhagavato pāvacane appasannā. Tesaṁ pasādāya uggaṇhātu, bhante, bhagavā āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Seated to one side, the Great King Vessavaṇa said to the Buddha, “Sir, some high spirits have confidence in the Buddha, some do not. Some middling spirits have confidence in the Buddha, some do not. Some low spirits have confidence in the Buddha, some do not. But mostly the spirits don’t have confidence in the Buddha. Why is that? Because the Buddha teaches them to refrain from killing living creatures, stealing, lying, sexual misconduct, and consuming intoxicants of beer, wine, and liquor. But mostly they don’t refrain from such things. They don’t like that or approve of it.
Sir, there are disciples of the Buddha who frequent remote lodgings in the wilderness and the forest that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat. There dwell high spirits who have no confidence in the Buddha’s dispensation. To give them confidence, may the Buddha please learn the Āṭānāṭiya protection for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen.” The Buddha consented with silence.
276. Ngồi một bên, Đại vương Vessavaṇa bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực lớn không có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực lớn có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực trung bình không có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực trung bình có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực thấp không có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những Dạ-xoa có uy lực thấp có tín tâm với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, phần lớn các Dạ-xoa không có tín tâm với Thế Tôn. Do nhân gì? Vì, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp về việc từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ dùng rượu men, rượu nấu, các chất say là cơ sở của sự dễ duôi. Bạch Thế Tôn, phần lớn các Dạ-xoa không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà hạnh trong các dục, không từ bỏ nói dối, không từ bỏ dùng rượu men, rượu nấu, các chất say là cơ sở của sự dễ duôi. Đối với họ, điều đó không thích ý, không vừa lòng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn thường trú ở những trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, không có gió từ người, thích hợp cho việc ẩn cư của con người, thích hợp cho việc thiền định. Ở đó có những Dạ-xoa có uy lực lớn cư ngụ, những vị này không có tín tâm với giáo pháp này của Thế Tôn. Để làm cho họ có tín tâm, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy học thuộc bài hộ trì Āṭānāṭiya này, để bảo vệ, che chở, không làm hại, và để sống an lạc cho các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ.” Thế Tôn đã im lặng nhận lời.
Atha kho vessavaṇo mahārājā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ abhāsi:
“Vipassissa ca namatthu, cakkhumantassa sirīmato; Sikhissapi ca namatthu, sabbabhūtānukampino.
Vessabhussa ca namatthu, nhātakassa tapassino; Namatthu kakusandhassa, mārasenāpamaddino.
Koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato; Kassapassa ca namatthu, vippamuttassa sabbadhi.
Aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato; Yo imaṁ dhammaṁ desesi, sabbadukkhāpanūdanaṁ.
Ye cāpi nibbutā loke, yathābhūtaṁ vipassisuṁ; Te janā apisuṇātha, mahantā vītasāradā.
Hitaṁ devamanussānaṁ, yaṁ namassanti gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, mahantaṁ vītasāradaṁ.
Yato uggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā; Yassa cuggacchamānassa, saṁvarīpi nirujjhati; Yassa cuggate sūriye, ‘divaso’ti pavuccati.
Rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako; Evaṁ taṁ tattha jānanti, ‘samuddo saritodako’.
Ito ‘sā purimā disā’, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
Gandhabbānaṁ adhipati, ‘dhataraṭṭho’ti nāmaso; Ramatī naccagītehi, gandhabbehi purakkhato.
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
‘Jinaṁ vandatha gotamaṁ’, ‘jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ’.
Yena petā pavuccanti, pisuṇā piṭṭhimaṁsikā; Pāṇātipātino luddā, corā nekatikā janā.
Ito ‘sā dakkhiṇā disā’, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
Kumbhaṇḍānaṁ adhipati, ‘virūḷho’ iti nāmaso; Ramatī naccagītehi, kumbhaṇḍehi purakkhato.
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
‘Jinaṁ vandatha gotamaṁ’, ‘jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ’.
Yattha coggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā; Yassa coggacchamānassa, divasopi nirujjhati; Yassa coggate sūriye, ‘saṁvarī’ti pavuccati.
Rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako; Evaṁ taṁ tattha jānanti, ‘samuddo saritodako’.
Ito ‘sā pacchimā disā’, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
Nāgānañca adhipati, ‘virūpakkho’ti nāmaso; Ramatī naccagītehi, nāgeheva purakkhato.
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
‘Jinaṁ vandatha gotamaṁ’, ‘jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ’.
Yena uttarakuruvho, mahāneru sudassano; Manussā tattha jāyanti, amamā apariggahā.
Na te bījaṁ pavapanti, napi nīyanti naṅgalā; Akaṭṭhapākimaṁ sāliṁ, paribhuñjanti mānusā.
Akaṇaṁ athusaṁ suddhaṁ, sugandhaṁ taṇḍulapphalaṁ; Tuṇḍikīre pacitvāna, tato bhuñjanti bhojanaṁ.
Gāviṁ ekakhuraṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Pasuṁ ekakhuraṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
Itthiṁ vā vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Purisaṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
Kumāriṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Kumāraṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
Te yāne abhiruhitvā, Sabbā disā anupariyāyanti; Pacārā tassa rājino.
Hatthiyānaṁ assayānaṁ, dibbaṁ yānaṁ upaṭṭhitaṁ; Pāsādā sivikā ceva, mahārājassa yasassino.
Tassa ca nagarā ahu, Antalikkhe sumāpitā; Āṭānāṭā kusināṭā parakusināṭā, Nāṭasuriyā parakusiṭanāṭā.
Uttarena kasivanto, Janoghamaparena ca; Navanavutiyo ambaraambaravatiyo, Āḷakamandā nāma rājadhānī.
Kuverassa kho pana mārisa, Mahārājassa visāṇā nāma rājadhānī; Tasmā kuvero mahārājā, ‘Vessavaṇo’ti pavuccati.
Paccesanto pakāsenti, Tatolā tattalā tatotalā; Ojasi tejasi tatojasī, Sūro rājā ariṭṭho nemi.
Rahadopi tattha dharaṇī nāma, Yato meghā pavassanti; Vassā yato patāyanti, Sabhāpi tattha sālavatī nāma.
Yattha yakkhā payirupāsanti, Tattha niccaphalā rukkhā; Nānā dijagaṇā yutā, Mayūrakoñcābhirudā; Kokilādīhi vagguhi.
Jīvañjīvakasaddettha, atho oṭṭhavacittakā; Kukkuṭakā kuḷīrakā, vane pokkharasātakā.
Sukasāḷikasaddettha, daṇḍamāṇavakāni ca; Sobhati sabbakālaṁ sā, kuveranaḷinī sadā.
Ito ‘sā uttarā disā’, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
Yakkhānañca adhipati, ‘kuvero’ iti nāmaso; Ramatī naccagītehi, yakkheheva purakkhato.
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
‘Jinaṁ vandatha gotamaṁ’, ‘jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotaman’ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, on that occasion Great King Vessavaṇa recited the Āṭānāṭiya protection.
“Hail Vipassī, the glorious Clear-eyed One! Hail Sikhī, sympathetic for all beings!
Hail Vessabhū, cleansed and fervent! Hail Kakusandha, crusher of Māra’s army!
Hail Koṇāgamana, the brahmin who has lived the life! Hail Kassapa, everywhere free!
Hail Aṅgīrasa, the glorious Sakyan! He taught this Dhamma that casts aside all suffering.
Those in the world who are quenched, truly discerning, not backbiters; such people being great of heart and intrepid,
revere that Gotama; he who is helpful to gods and humans, accomplished in knowledge and conduct, great of heart and intrepid.
Where rises the sun—Aditi’s child, the great orb—with whose rising night’s umbra also ends, and of whom, when sun has risen, it is said to be the day—
there is a deep lake, an ocean of flowing waters. That’s how they understand that lake there, as an ocean of flowing waters.
From here that is the eastern quarter, so the people say. That quarter is warded by a great king, glorious,
the lord of the centaurs; his name is Dhataraṭṭha. He delights in song and dance, honored by the centaurs.
And he has many mighty sons all of one name, so I’ve heard. Eighty, and ten, and one—all of them named Indra.
After seeing the Awakened One, the Buddha, Kinsman of the Sun, they revere him from afar, the one great of heart and intrepid.
Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! You examine us skillfully; the non-humans bow to you. We’ve been asked many a time, ‘Do you bow to Gotama the victor?’
And so we ought to declare: ‘We bow to Gotama the victor, accomplished in knowledge and conduct! We bow to Gotama the awakened!’
It’s where the departed go, they say, who are backbiters and calumniators, killers and hunters, bandits and cheats.
From here that is the southern quarter, so the people say. That quarter is warded by a great king, glorious,
the lord of the gnomes; his name is Virūḷha. He delights in song and dance, honored by the gnomes.
And he has many mighty sons all of one name, so I’ve heard. Eighty, and ten, and one—all of them named Indra.
After seeing the Awakened One, the Buddha, Kinsman of the Sun, they revere him from afar, the one great of heart and intrepid.
Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! You examine us skillfully; the non-humans bow to you. We’ve been asked many a time, ‘Do you bow to Gotama the victor?’
And so we ought to declare: ‘We bow to Gotama the victor, accomplished in knowledge and conduct! We bow to Gotama the awakened!’
Where sets the sun—Aditi’s child, the great orb—with whose setting the day also ends; and of whom, when sun has set, it is said to be night’s umbra—
there is a deep lake in that place, an ocean of flowing waters. That’s how they understand that lake there, as an ocean of flowing waters.
From here that is the western quarter, so the people say. That quarter is warded by a great king, glorious,
the lord of the dragons; his name is Virūpakkha. He delights in song and dance, honored by the dragons.
And he has many mighty sons all of one name, so I’ve heard. Eighty, and ten, and one—all of them named Indra.
After seeing the Awakened One, the Buddha, Kinsman of the Sun, they revere him from afar, the one great of heart and intrepid.
Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! You examine us skillfully; the non-humans bow to you. We’ve been asked many a time, ‘Do you bow to Gotama the victor?’
And so we ought to declare: ‘We bow to Gotama the victor, accomplished in knowledge and conduct! We bow to Gotama the awakened!’
Where the lovely land north of Kuru is, and the beautiful Mount Meru, humans born there are unselfish, without possessions.
They do not sow the seed, nor do they draw the plough. The rice eaten by people ripens in untilled soil,
free of powder or husk, pure, fragrant, with only the rice-grain. After cooking in a tandoor oven, they enjoy eating that food.
Having prepared a cow with hooves uncloven, they’re drawn about from place to place. Having prepared a beast with hooves uncloven, they’re drawn about from place to place.
Having prepared a woman-drawn carriage, they’re drawn about from place to place. Having prepared a man-drawn carriage, they’re drawn about from place to place.
Having prepared a girl-drawn carriage, they’re drawn about from place to place. Having prepared a boy-drawn carriage, they’re drawn about from place to place.
Having ascended their vehicle, that king’s servants tour about in every quarter,
provided with heavenly vehicles of elephant and of horse. And there are palaces and palanquins for that great and glorious king.
And he has cities, too, well-built in the sky: Āṭānāṭā, Kusināṭā, Parakusināṭā, Nāṭapuriyā, and Parakusiṭanāṭā.
To the north is Kapīvanta, and Janogha lies beyond. And there’s Navanavutiya, Ambara-ambaravatiya, and the royal capital named Āḷakamandā.
The Great King Kuvera, dear sir, has a capital named Visāṇā, which is why the great king is called ‘Vessavaṇa’.
Searching, they shine: Tatolā, Tattalā, Tatotalā, Ojasi, Tejasi, Tatojasi, Sūra, Rājā, Ariṭṭha, and Nemi.
There is a lake there too named Dharaṇī, whence the clouds rain forth, and the rains disperse. There is a hall there too named Sālavatī,
where the spirits frequent. There the trees are ever in fruit, with many different flocks of birds. Peacocks and herons call out there, and the sweet cuckoos too.
One bird cries out ‘Live, live!’, another ‘Lift up your heart!’ There are cocks and kookaburras, and in the wood the woodpeckers.
The parrots and mynah cry out there, and the ‘little stick-boy’ birds. Kuvera’s pond of rushes is lovely all the time.
From here that is the northern quarter, so the people say. That quarter is warded by a great king, glorious,
the lord of spirits; his name is Kuvera. He delights in song and dance, honored by the spirits.
And he has many mighty sons all of one name, so I’ve heard. Eighty, and ten, and one—all of them named Indra.
After seeing the Awakened One, the Buddha, Kinsman of the Sun, they revere him from afar, the one great of heart and intrepid.
Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! You examine us skillfully; the non-humans bow to you. We’ve been asked many a time, ‘Do you bow to Gotama the victor?’
And so we ought to declare: ‘We bow to Gotama the victor, accomplished in knowledge and conduct! We bow to Gotama the awakened!’
Khi ấy, Đại vương Vessavaṇa, biết được sự nhận lời của Thế Tôn, vào lúc ấy đã nói lên bài hộ trì Āṭānāṭiya này:
Ayaṁ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāya.
Yassa kassaci, mārisa, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā upāsakassa vā upāsikāya vā ayaṁ āṭānāṭiyā rakkhā suggahitā bhavissati samattā pariyāputā. Tañce amanusso yakkho vā yakkhinī vā yakkhapotako vā yakkhapotikā vā yakkhamahāmatto vā yakkhapārisajjo vā yakkhapacāro vā, gandhabbo vā gandhabbī vā gandhabbapotako vā gandhabbapotikā vā gandhabbamahāmatto vā gandhabbapārisajjo vā gandhabbapacāro vā, kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā kumbhaṇḍapotako vā kumbhaṇḍapotikā vā kumbhaṇḍamahāmatto vā kumbhaṇḍapārisajjo vā kumbhaṇḍapacāro vā, nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā, paduṭṭhacitto bhikkhuṁ vā bhikkhuniṁ vā upāsakaṁ vā upāsikaṁ vā gacchantaṁ vā anugaccheyya, ṭhitaṁ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṁ vā upanisīdeyya, nipannaṁ vā upanipajjeyya. Na me so, mārisa, amanusso labheyya gāmesu vā nigamesu vā sakkāraṁ vā garukāraṁ vā. Na me so, mārisa, amanusso labheyya āḷakamandāya nāma rājadhāniyā vatthuṁ vā vāsaṁ vā. Na me so, mārisa, amanusso labheyya yakkhānaṁ samitiṁ gantuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā anāvayhampi naṁ kareyyuṁ avivayhaṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā attāhipi paripuṇṇāhi paribhāsāhi paribhāseyyuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā rittampissa pattaṁ sīse nikkujjeyyuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā sattadhāpissa muddhaṁ phāleyyuṁ.
Santi hi, mārisa, amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṁ avaruddhā nāma vuccanti. Seyyathāpi, mārisa, rañño māgadhassa vijite mahācorā. Te neva rañño māgadhassa ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṁ ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, mahācorā rañño māgadhassa avaruddhā nāma vuccanti.
Evameva kho, mārisa, santi amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṁ avaruddhā nāma vuccanti. Yo hi koci, mārisa, amanusso yakkho vā yakkhinī vā …pe… gandhabbo vā gandhabbī vā …pe… kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā …pe… nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā paduṭṭhacitto bhikkhuṁ vā bhikkhuniṁ vā upāsakaṁ vā upāsikaṁ vā gacchantaṁ vā anugaccheyya, ṭhitaṁ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṁ vā upanisīdeyya, nipannaṁ vā upanipajjeyya. Imesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ ujjhāpetabbaṁ vikkanditabbaṁ viravitabbaṁ: ‘ayaṁ yakkho gaṇhāti, ayaṁ yakkho āvisati, ayaṁ yakkho heṭheti, ayaṁ yakkho viheṭheti, ayaṁ yakkho hiṁsati, ayaṁ yakkho vihiṁsati, ayaṁ yakkho na muñcatī’ti.
Katamesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ?
Indo somo varuṇo ca, bhāradvājo pajāpati; Candano kāmaseṭṭho ca, kinnughaṇḍu nighaṇḍu ca.
Panādo opamañño ca, devasūto ca mātali; Cittaseno ca gandhabbo, naḷo rājā janesabho.
Sātāgiro hemavato, puṇṇako karatiyo guḷo; Sivako mucalindo ca, vessāmitto yugandharo.
Gopālo supparodho ca, Hiri netti ca mandiyo; Pañcālacaṇḍo āḷavako, Pajjunno sumano sumukho; Dadhimukho maṇi māṇivaro dīgho, Atho serīsako saha.
Imesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ ujjhāpetabbaṁ vikkanditabbaṁ viravitabbaṁ: ‘ayaṁ yakkho gaṇhāti, ayaṁ yakkho āvisati, ayaṁ yakkho heṭheti, ayaṁ yakkho viheṭheti, ayaṁ yakkho hiṁsati, ayaṁ yakkho vihiṁsati, ayaṁ yakkho na muñcatī’ti.
Ayaṁ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāya. Handa ca dāni mayaṁ, mārisa, gacchāma bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tumhe, mahārājāno, kālaṁ maññathā”ti.
Atha kho cattāro mahārājā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyiṁsu. Tepi kho yakkhā uṭṭhāyāsanā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce nāmagottaṁ sāvetvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā tatthevantaradhāyiṁsūti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
2. Dutiyabhāṇavāra
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
This, good fellow, is the Āṭānāṭiya protection for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen.
The monks, nuns, laymen, and laywomen should learn this Āṭānāṭiya protection well and completely memorize it. If anyone who does so is approached while walking, standing, sitting, or lying down by any non-human being with malicious intent—including males, females, boys, girls, chief ministers, councillors, and servants among the spirits, centaurs, gnomes, and dragons—that non-human will receive no homage or respect in any village or town. And they will receive no ground or dwelling in my capital of Ālakamandā. Nor will they get to go to the conference of the spirits. In addition, the non-humans would not give or take them in marriage. They’d heap personal abuse on them, drop an empty bowl on their head, and even split their head into seven pieces!
For there are, good fellow, non-humans who are fierce, cruel, and violent. They don’t obey the Great Kings or their men or their men’s men. They’re said to be rebelling against the Great Kings. They’re just like the bandits in the king of Magadha’s realm who don’t obey the king, his men, or his men’s men, and are said to be rebelling against the king.
If any non-human being with malicious intent—including males, females, boys, girls, ministers, councillors, and servants among the spirits, centaurs, gnomes, and dragons—approaches a monk, nun, layman, or laywoman while walking, standing, sitting, or lying down, one ought to yell, cry, and scream to the spirits, great spirits, generals, great generals: ‘This spirit’s got me! This spirit’s entered me! This spirit’s annoying me! This spirit’s harassing me! This spirit’s hurting me! This spirit’s harming me! This spirit won’t let me go!’
To what spirits, great spirits, generals, great generals?
‘Indra, Soma, and Varuṇa, Bhāradvāja, the Progenitor, Candana and Kāmaseṭṭha, Kinnughaṇḍu and Nighaṇḍu,
Panāda and Opamañña, and Mātali, the god’s equerry. Cittasena the centaur, and the kings Nala and Janesabha,
Sātāgira, Hemavata, Puṇṇaka, Karatiya, and Guḷa; Sivaka and Mucalinda, Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla, Suppagedha, Hiri, Netti, and Mandiya; Pañcālacaṇḍa, Āḷavaka, Pajjunna, Sumana, Sumukha, Dadhimukha, Maṇi, Māṇivara, Dīgha, together with Serīsaka.’
This, good fellow, is the Āṭānāṭiya protection for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen. Well, now, good fellow, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Great Kings, go at your convenience.”
Then the four great kings got up from their seats, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right side, before vanishing right there. And before the other spirits present vanished, some bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right side, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent.
The first recitation section is complete.
2. The Second Recitation Section
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened, repeating all the verses spoken. Then he added:
292. ‘Thưa ngài, đây là pháp hộ trì Āṭānāṭiyā để bảo vệ, che chở, không làm hại, và đem lại sự an lạc cho các tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Thưa ngài, nếu bất kỳ tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ nào đã học thuộc lòng, ghi nhớ đầy đủ pháp hộ trì Āṭānāṭiyā này, mà có một phi nhân nào, dù là dạ xoa nam hay dạ xoa nữ... cho đến... càn thát bà nam hay càn thát bà nữ... cho đến... cưu bàn trà nam hay cưu bàn trà nữ... cho đến... rồng chúa nam hay rồng chúa nữ, rồng con đực hay rồng con cái, đại thần rồng, quyến thuộc rồng, hay tùy tùng rồng, với tâm ác ý, đi theo một vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ đang đi; hoặc đến gần khi vị ấy đang đứng; hoặc ngồi gần khi vị ấy đang ngồi; hoặc nằm gần khi vị ấy đang nằm. Thưa ngài, phi nhân ấy sẽ không nhận được sự cúng dường hay tôn trọng trong các làng mạc hay thị tứ. Thưa ngài, phi nhân ấy sẽ không được phép ở hay cư ngụ tại kinh thành Āḷakamandā. Thưa ngài, phi nhân ấy sẽ không được phép tham dự hội chúng của các dạ xoa. Hơn nữa, thưa ngài, các phi nhân khác sẽ không kết giao hôn nhân với nó, không nhận con gái của nó, cũng không gả con gái cho nó. Hơn nữa, thưa ngài, các phi nhân khác sẽ dùng những lời mắng nhiếc thậm tệ để lăng mạ nó. Hơn nữa, thưa ngài, các phi nhân khác sẽ úp cái bát rỗng lên đầu nó. Hơn nữa, thưa ngài, các phi nhân khác sẽ làm cho đầu nó vỡ thành bảy mảnh. Thưa ngài, có những phi nhân hung dữ, tàn bạo, thô lỗ; chúng không nghe lời các vị Đại vương, không nghe lời các thuộc hạ của các vị Đại vương, cũng không nghe lời các thuộc hạ của các thuộc hạ của các vị Đại vương. Thưa ngài, những phi nhân ấy được gọi là những kẻ chống đối các vị Đại vương. Ví như, thưa ngài, trong vương quốc của vua xứ Magadha có những tên đại đạo tặc. Chúng không nghe lời vua xứ Magadha, không nghe lời các quan chức của vua xứ Magadha, cũng không nghe lời các thuộc hạ của các quan chức của vua xứ Magadha. Thưa ngài, những tên đại đạo tặc ấy được gọi là những kẻ chống đối vua xứ Magadha. Cũng vậy, thưa ngài, có những phi nhân hung dữ, tàn bạo, thô lỗ; chúng không nghe lời các vị Đại vương, không nghe lời các thuộc hạ của các vị Đại vương, cũng không nghe lời các thuộc hạ của các thuộc hạ của các vị Đại vương. Thưa ngài, những phi nhân ấy được gọi là những kẻ chống đối các vị Đại vương. Thưa ngài, nếu bất kỳ phi nhân nào, dù là dạ xoa nam hay dạ xoa nữ... cho đến... càn thát bà nam hay càn thát bà nữ... cho đến... cưu bàn trà nam hay cưu bàn trà nữ... cho đến... rồng chúa nam hay rồng chúa nữ... với tâm ác ý, đến gần một vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ đang đi; hoặc đến gần khi vị ấy đang đứng; hoặc ngồi gần khi vị ấy đang ngồi; hoặc nằm gần khi vị ấy đang nằm, thì phải trình báo, kêu la, và loan tin cho các vị dạ xoa, đại dạ xoa, các vị tướng, và các vị đại tướng này rằng: ‘Dạ xoa này đang bắt giữ, dạ xoa này đang xâm nhập, dạ xoa này đang quấy nhiễu, dạ xoa này đang làm hại, dạ xoa này đang gây tổn thương, dạ xoa này đang gây đau khổ, dạ xoa này không chịu buông tha!’
285. Khi ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, Thế Tôn gọi các vị tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, đêm nay, bốn vị Đại Vương cùng với đại quân dạ-xoa, đại quân càn-thát-bà, đại quân cưu-bàn-trà, và đại quân rồng chúa, đã cho bố trí đội hộ vệ ở bốn phương, cho bố trí đội quân ở bốn phương, cho bố trí vòng bảo vệ ở bốn phương, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, đã làm cho toàn thể núi Linh Thứu rực sáng, rồi đi đến chỗ ta; sau khi đến, đã đảnh lễ ta rồi ngồi xuống một bên. Này các tỳ-khưu, các vị dạ-xoa kia cũng vậy, một số đảnh lễ ta rồi ngồi xuống một bên. Một số cùng với ta nói lên những lời chào hỏi thân hữu, sau khi trao đổi những lời nói đáng ghi nhớ, đáng hoan hỷ rồi ngồi xuống một bên. Một số chắp tay hướng về phía ta rồi ngồi xuống một bên. Một số xưng tên và họ của mình rồi ngồi xuống một bên. Một số im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho, bhikkhave, vessavaṇo mahārājā maṁ etadavoca: ‘santi hi, bhante, uḷārā yakkhā bhagavato appasannā …pe… santi hi, bhante, nīcā yakkhā bhagavato pasannā. Yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appasannāyeva bhagavato. Taṁ kissa hetu? Bhagavā hi, bhante, pāṇātipātā veramaṇiyā dhammaṁ deseti … surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇiyā dhammaṁ deseti. Yebhuyyena kho pana, bhante, yakkhā appaṭiviratāyeva pāṇātipātā … appaṭiviratā surāmerayamajjappamādaṭṭhānā. Tesaṁ taṁ hoti appiyaṁ amanāpaṁ. Santi hi, bhante, bhagavato sāvakā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. Tattha santi uḷārā yakkhā nivāsino, ye imasmiṁ bhagavato pāvacane appasannā, tesaṁ pasādāya uggaṇhātu, bhante, bhagavā āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāyā’ti. Adhivāsesiṁ kho ahaṁ, bhikkhave, tuṇhībhāvena. Atha kho, bhikkhave, vessavaṇo mahārājā me adhivāsanaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ abhāsi:
286. “Này các Tỳ khưu, sau khi ngồi xuống một bên, Đại vương Vessavaṇa đã nói với ta điều này: ‘Bạch Thế Tôn, có những dạ xoa hùng mạnh không có tín tâm đối với Thế Tôn... ... Bạch Thế Tôn, có những dạ xoa cấp thấp có tín tâm đối với Thế Tôn. Nhưng bạch Thế Tôn, phần lớn các dạ xoa quả thật không có tín tâm đối với Thế Tôn. Do nhân gì? Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn thuyết Pháp về sự từ bỏ sát sanh... thuyết Pháp về sự từ bỏ dùng các chất say, rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi. Và bạch Thế Tôn, phần lớn các dạ xoa quả thật không từ bỏ sát sanh... không từ bỏ dùng các chất say, rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dễ duôi. Đối với họ, điều ấy là không đáng yêu, không vừa ý. Bạch Thế Tôn, có các vị đệ tử của Thế Tôn thường trú tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi, ít tiếng động, ít huyên náo, không có hơi người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư. Ở đó có các dạ xoa hùng mạnh cư ngụ, những vị này không có tín tâm đối với giáo pháp này của Thế Tôn. Để làm cho họ có tín tâm, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy học thuộc lòng bài hộ trì Āṭānāṭiya này vì sự che chở, bảo vệ, không bị hãm hại, và sự an trú cho các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ.’ Này các Tỳ khưu, ta đã im lặng chấp thuận. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, Đại vương Vessavaṇa, biết được sự chấp thuận của ta, vào lúc ấy đã đọc bài hộ trì Āṭānāṭiya này:”
‘Vipassissa ca namatthu, cakkhumantassa sirīmato;
287. “Xin đảnh lễ đức Phật Vipassī, bậc có mắt, bậc đầy vinh quang.”
“Xin đảnh lễ đức Phật Sikhī, bậc có lòng bi mẫn đến tất cả chúng sanh.”
Vessabhussa ca namatthu, nhātakassa tapassino; Namatthu kakusandhassa, mārasenāpamaddino.
“Xin đảnh lễ đức Phật Vessabhū, bậc đã thanh tẩy, bậc khổ hạnh; Xin đảnh lễ đức Phật Kakusandha, bậc đã nhiếp phục quân ma.”
Koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato; Kassapassa ca namatthu, vippamuttassa sabbadhi.
“Xin đảnh lễ đức Phật Koṇāgamana, bậc Bà-la-môn đã sống đời phạm hạnh; Xin đảnh lễ đức Phật Kassapa, bậc đã hoàn toàn giải thoát trong mọi phương diện.”
Aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato; Yo imaṁ dhammaṁ desesi, sabbadukkhāpanūdanaṁ.
“Xin đảnh lễ bậc Aṅgīrasa, người con của dòng họ Sakya đầy vinh quang; Ngài đã thuyết giảng Pháp này, là Pháp đoạn trừ mọi khổ đau.”
Ye cāpi nibbutā loke, yathābhūtaṁ vipassisuṁ; Te janā apisuṇātha, mahantā vītasāradā.
“Và những bậc đã tịch tịnh ở đời, đã thấy rõ các pháp như thật; Các Ngài là những người không nói lời ly gián, là bậc vĩ đại, không còn sợ hãi.”
Hitaṁ devamanussānaṁ, yaṁ namassanti gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, mahantaṁ vītasāradaṁ.
“Vì lợi ích của chư thiên và loài người, họ đảnh lễ đức Gotama; Bậc đầy đủ minh và hạnh, bậc vĩ đại, không còn sợ hãi.”
Yato uggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā;
288. “Từ phương nào mặt trời mọc lên, là mặt trời, vầng sáng vĩ đại.”
“Khi mặt trời đang mọc lên, đêm tối cũng tan biến; Khi mặt trời đã mọc lên, được gọi là ‘ban ngày’.”
Rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako; Evaṁ taṁ tattha jānanti, “samuddo saritodako”.
“Ở đó cũng có hồ nước sâu, là biển cả, nơi các dòng sông đổ về; Ở đó, người ta biết đến nó như là ‘biển cả, nơi các dòng sông đổ về’.”
Ito “sā purimā disā”, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
“Từ đây, người ta gọi đó là ‘phương Đông’; Phương ấy được vị Đại vương lừng danh kia cai quản.”
Gandhabbānaṁ adhipati, “dhataraṭṭho”ti nāmaso; Ramatī naccagītehi, gandhabbehi purakkhato.
“Là chúa tể của các Càn-thát-bà, tên là Dhataraṭṭha; Ngài vui hưởng với ca múa, được các Càn-thát-bà vây quanh.”
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
“Các con trai của ngài cũng rất nhiều, tôi nghe rằng cùng một tên; Chín mươi mốt vị, tên là Inda, có sức mạnh vĩ đại.”
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
“Và các vị ấy, khi thấy đức Phật, đức Phật, người bà con của mặt trời; Từ xa họ đã đảnh lễ, bậc vĩ đại, không còn sợ hãi.”
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso,
“Xin đảnh lễ Ngài, bậc nhân trung tuấn mã, xin đảnh lễ Ngài, bậc nhân trung tối thượng; Ngài nhìn thấy bằng thiện xảo, cả phi nhân cũng đảnh lễ Ngài; Điều này chúng tôi thường nghe, vì thế chúng tôi nói như vầy:”
“Xin đảnh lễ Ngài, bậc nhân trung tuấn mã, xin đảnh lễ Ngài, bậc nhân trung tối thượng; Ngài nhìn thấy bằng thiện xảo, cả phi nhân cũng đảnh lễ Ngài; Điều này chúng tôi thường nghe, vì thế chúng tôi nói như vầy:”
“Jinaṁ vandatha gotamaṁ, jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ”.
Yena petā pavuccanti, pisuṇā piṭṭhimaṁsikā; Pāṇātipātino luddā,
“‘Hãy đảnh lễ bậc Chiến Thắng Gotama.’ ‘Chúng tôi đảnh lễ bậc Chiến Thắng Gotama; Bậc đầy đủ minh và hạnh, chúng tôi đảnh lễ đức Phật Gotama’.”
“Những kẻ sát sinh, những thợ săn, những kẻ trộm cắp, những người gian xảo.”
Ito “sā dakkhiṇā disā”, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
“Từ nơi này, ‘đó là phương Nam’, người ta gọi như vậy; phương nào được vị Đại vương lừng lẫy ấy cai quản.”
Kumbhaṇḍānaṁ adhipati, “virūḷho” iti nāmaso; Ramatī naccagītehi, kumbhaṇḍehi purakkhato.
“Vị chúa tể của các Kumbhaṇḍa, tên là ‘Virūḷha’; Ngài vui thích với ca múa, được các Kumbhaṇḍa vây quanh.”
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
“Các con trai của vị ấy cũng rất nhiều, tôi đã nghe rằng họ cùng một tên; chín mươi mốt vị, tên là Inda, có sức mạnh lớn.”
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
“Và những vị ấy, sau khi thấy Đức Phật, bà con của mặt trời, đã đảnh lễ từ xa đến bậc vĩ đại, bậc không còn sợ hãi.”
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
“‘Kính lễ Ngài, bậc Nhân sĩ thuần chủng! Kính lễ Ngài, bậc Tối thượng nhân! Ngài nhìn thấy với sự thiện xảo. Cả phi nhân cũng đảnh lễ Ngài. Chúng tôi thường xuyên nghe lời này, vì vậy chúng tôi nói như vầy:”
“Jinaṁ vandatha gotamaṁ, jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ”.
“‘Hãy đảnh lễ Đức Gotama, bậc Chiến Thắng.’ ‘Chúng tôi đảnh lễ Đức Gotama, bậc Chiến Thắng. Chúng tôi đảnh lễ Đức Phật Gotama, bậc Minh Hạnh Túc.’”
Yattha coggacchati sūriyo, ādicco maṇḍalī mahā;
280. “Và ở phương nào mặt trời lặn, vầng thái dương có vòng tròn lớn.”
“Khi mặt trời đang lặn, ban ngày cũng tan biến; khi mặt trời đã lặn, thì được gọi là ‘đêm’.”
Rahadopi tattha gambhīro, samuddo saritodako; Evaṁ taṁ tattha jānanti, samuddo saritodako.
“Ở nơi ấy cũng có hồ nước sâu, là đại dương có nước từ các sông đổ về; ở nơi ấy, họ biết rằng đó là ‘đại dương có nước từ các sông đổ về’.”
Ito “sā pacchimā disā”, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
“Từ nơi này, ‘đó là phương Tây’, người ta gọi như vậy; phương nào được vị Đại vương lừng lẫy ấy cai quản.”
Nāgānañca adhipati, “virūpakkho”ti nāmaso; Ramatī naccagītehi, nāgeheva purakkhato.
“Và vị chúa tể của các Nāga, tên là ‘Virūpakkha’; Ngài vui thích với ca múa, được chính các Nāga vây quanh.”
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
“Các con trai của vị ấy cũng rất nhiều, tôi đã nghe rằng họ cùng một tên; chín mươi mốt vị, tên là Inda, có sức mạnh lớn.”
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
“Và những vị ấy, sau khi thấy Đức Phật, bà con của mặt trời, đã đảnh lễ từ xa đến bậc vĩ đại, bậc không còn sợ hãi.”
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
“‘Kính lễ Ngài, bậc Nhân sĩ thuần chủng! Kính lễ Ngài, bậc Tối thượng nhân! Ngài nhìn thấy với sự thiện xảo. Cả phi nhân cũng đảnh lễ Ngài. Chúng tôi thường xuyên nghe lời này, vì vậy chúng tôi nói như vầy:”
“Jinaṁ vandatha gotamaṁ, jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotamaṁ”.
“‘Hãy đảnh lễ Đức Gotama, bậc Chiến Thắng.’ ‘Chúng tôi đảnh lễ Đức Gotama, bậc Chiến Thắng. Chúng tôi đảnh lễ Đức Phật Gotama, bậc Minh Hạnh Túc.’”
Yena uttarakuruvho, mahāneru sudassano;
281. “Phương nào có châu Uttarakuru, có núi Đại Meru xinh đẹp.”
“Loài người được sanh ra ở nơi ấy, không có tâm ‘của tôi’, không có sự chiếm hữu.”
Na te bījaṁ pavapanti, nāpi nīyanti naṅgalā; Akaṭṭhapākimaṁ sāliṁ, paribhuñjanti mānusā.
“Họ không gieo hạt giống, cũng không dùng đến cày; loài người thọ dụng loại lúa gạo tự chín mà không cần cày cấy.”
Akaṇaṁ athusaṁ suddhaṁ, sugandhaṁ taṇḍulapphalaṁ; Tuṇḍikīre pacitvāna, tato bhuñjanti bhojanaṁ.
Loại quả là gạo, không tấm, không trấu, trong sạch, thơm tho; Sau khi nấu trong nồi, từ đó họ dùng bữa.
Gāviṁ ekakhuraṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Pasuṁ ekakhuraṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
Họ biến con bò thành cỗ xe, rồi đi khắp mọi phương hướng; Họ biến con thú thành cỗ xe, rồi đi khắp mọi phương hướng.
Itthiṁ vā vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Purisaṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
‘Hoặc biến người nữ thành cỗ xe, họ đi khắp mọi phương hướng; biến người nam thành cỗ xe, họ đi khắp mọi phương hướng.
Kumāriṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ; Kumāraṁ vāhanaṁ katvā, anuyanti disodisaṁ.
‘Biến thiếu nữ thành cỗ xe, họ đi khắp mọi phương hướng; biến thiếu niên thành cỗ xe, họ đi khắp mọi phương hướng.
Te yāne abhiruhitvā, Sabbā disā anupariyāyanti; Pacārā tassa rājino.
‘Các tùy tùng của vị vua ấy, sau khi leo lên những cỗ xe đó, đi vòng quanh khắp mọi phương hướng.
Hatthiyānaṁ assayānaṁ, dibbaṁ yānaṁ upaṭṭhitaṁ; Pāsādā sivikā ceva, mahārājassa yasassino.
‘Xe voi, xe ngựa, xe trời hiện ra, và cả lâu đài và kiệu, cho vị đại vương lừng lẫy.
Tassa ca nagarā ahu, Antalikkhe sumāpitā; Āṭānāṭā kusināṭā parakusināṭā, Nāṭasuriyā parakusiṭanāṭā.
‘Và vị ấy có những thành phố được tạo tác khéo léo trên không trung: Āṭānāṭā, Kusināṭā, Parakusināṭā, Nāṭasuriyā, Parakusiṭanāṭā.
Uttarena kasivanto, Janoghamaparena ca; Navanavutiyo ambaraambaravatiyo, Āḷakamandā nāma rājadhānī.
‘Về phía bắc là Kasivanta, và về phía tây là Janogha. Cũng có Navanavutiyo, Ambara-ambaravatiyo, và kinh đô tên là Āḷakamandā.
Kuverassa kho pana mārisa, Mahārājassa visāṇā nāma rājadhānī; Tasmā kuvero mahārājā, “Vessavaṇo”ti pavuccati.
‘Thưa ngài, lại nữa, Đại vương Kuvera có kinh đô tên là Visāṇā; vì vậy, Đại vương Kuvera được gọi là ‘Vessavaṇa’.
Paccesanto pakāsenti, Tatolā tattalā tatotalā; Ojasi tejasi tatojasī, Sūro rājā ariṭṭho nemi.
‘Các vị dò hỏi tin tức trình báo là: Tatolā, Tattalā, Tatotalā, Ojasi, Tejasi, Tatojasī, Sūro, Rājā, Ariṭṭho, và Nemi.
Rahadopi tattha dharaṇī nāma, Yato meghā pavassanti; Vassā yato patāyanti, Sabhāpi tattha sālavatī nāma.
‘Ở đó cũng có một hồ nước tên là Dharaṇī, từ đó các đám mây làm mưa; từ đó mưa rơi xuống. Ở đó cũng có một hội trường tên là Sālavatī.
Yattha yakkhā payirupāsanti, Tattha niccaphalā rukkhā; Nānā dijagaṇā yutā, Mayūrakoñcābhirudā; Kokilādīhi vagguhi.
‘Nơi các dạ-xoa hội họp, ở đó có những cây luôn ra quả, đầy những đàn chim nhiều loại, vang tiếng công và sếu, cùng tiếng hót du dương của chim cu cu và các loài khác.
Jīvañjīvakasaddettha, atho oṭṭhavacittakā; Kukkuṭakā kuḷīrakā, vane pokkharasātakā.
‘Ở đây có tiếng chim jīvañjīvaka, lại còn có chim oṭṭhavacittaka, gà rừng và cua, và trong rừng có chim pokkharasātaka.
Sukasāḷika saddettha, daṇḍamāṇavakāni ca; Sobhati sabbakālaṁ sā, kuveranaḷinī sadā.
‘Ở đây có tiếng vẹt và sáo, và cả chim daṇḍamāṇavaka. Hồ sen của Kuvera ấy luôn luôn tươi đẹp.
Ito “sā uttarā disā”, iti naṁ ācikkhatī jano; Yaṁ disaṁ abhipāleti, mahārājā yasassi so.
Phương nào được bảo hộ bởi vị đại vương lừng lẫy ấy, người ta gọi phương ấy là: “Từ đây, đó là phương bắc.”
Yakkhānañca adhipati, “kuvero” iti nāmaso; Ramatī naccagītehi, yakkheheva purakkhato.
‘Vị chúa tể của các dạ-xoa, tên là ‘Kuvera’, vui thích với ca múa, được vây quanh bởi chính các dạ-xoa.
Puttāpi tassa bahavo, ekanāmāti me sutaṁ; Asīti dasa eko ca, indanāmā mahabbalā.
‘Vị ấy cũng có nhiều con trai, tôi nghe rằng họ có cùng một tên. Có tám mươi, mười, và một vị, tên là Inda, có sức mạnh vĩ đại.
Te cāpi buddhaṁ disvāna, buddhaṁ ādiccabandhunaṁ; Dūratova namassanti, mahantaṁ vītasāradaṁ.
‘Và những người con ấy, sau khi nhìn thấy đức Phật, bậc bà con của mặt trời, bậc vĩ đại, bậc không còn sợ hãi, đã đảnh lễ Ngài từ xa.
Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Kusalena samekkhasi, amanussāpi taṁ vandanti; Sutaṁ netaṁ abhiṇhaso, tasmā evaṁ vademase.
‘Kính lễ Ngài, bậc Nhân sĩ thuần chủng! Kính lễ Ngài, bậc Tối thượng nhân! Ngài nhìn thấy với sự thiện xảo. Cả các phi nhân cũng đảnh lễ Ngài. Chúng con thường xuyên nghe điều này, vì vậy chúng con nói như thế này.
“Jinaṁ vandatha gotamaṁ, jinaṁ vandāma gotamaṁ; Vijjācaraṇasampannaṁ, buddhaṁ vandāma gotaman”ti.
Ayaṁ kho sā, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāya. Yassa kassaci, mārisa, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā upāsakassa vā upāsikāya vā ayaṁ āṭānāṭiyā rakkhā suggahitā bhavissati samattā pariyāputā tañce amanusso yakkho vā yakkhinī vā …pe… gandhabbo vā gandhabbī vā …pe… kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā …pe… nāgo vā nāgī vā nāgapotako vā nāgapotikā vā nāgamahāmatto vā nāgapārisajjo vā nāgapacāro vā, paduṭṭhacitto bhikkhuṁ vā bhikkhuniṁ vā upāsakaṁ vā upāsikaṁ vā gacchantaṁ vā anugaccheyya, ṭhitaṁ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṁ vā upanisīdeyya, nipannaṁ vā upanipajjeyya. Na me so, mārisa, amanusso labheyya gāmesu vā nigamesu vā sakkāraṁ vā garukāraṁ vā. Na me so, mārisa, amanusso labheyya āḷakamandāya nāma rājadhāniyā vatthuṁ vā vāsaṁ vā. Na me so, mārisa, amanusso labheyya yakkhānaṁ samitiṁ gantuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā anāvayhampi naṁ kareyyuṁ avivayhaṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā attāhi paripuṇṇāhi paribhāsāhi paribhāseyyuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā rittampissa pattaṁ sīse nikkujjeyyuṁ. Apissu naṁ, mārisa, amanussā sattadhāpissa muddhaṁ phāleyyuṁ.
Santi hi, mārisa, amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṁ avaruddhā nāma vuccanti. Seyyathāpi, mārisa, rañño māgadhassa vijite mahācorā. Te neva rañño māgadhassa ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṁ ādiyanti, na rañño māgadhassa purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, mahācorā rañño māgadhassa avaruddhā nāma vuccanti.
Evameva kho, mārisa, santi amanussā caṇḍā ruddhā rabhasā, te neva mahārājānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ ādiyanti, na mahārājānaṁ purisakānaṁ purisakānaṁ ādiyanti. Te kho te, mārisa, amanussā mahārājānaṁ avaruddhā nāma vuccanti. Yo hi koci, mārisa, amanusso yakkho vā yakkhinī vā …pe… gandhabbo vā gandhabbī vā …pe… kumbhaṇḍo vā kumbhaṇḍī vā …pe… nāgo vā nāgī vā …pe… paduṭṭhacitto bhikkhuṁ vā bhikkhuniṁ vā upāsakaṁ vā upāsikaṁ vā gacchantaṁ vā upagaccheyya, ṭhitaṁ vā upatiṭṭheyya, nisinnaṁ vā upanisīdeyya, nipannaṁ vā upanipajjeyya. Imesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ ujjhāpetabbaṁ vikkanditabbaṁ viravitabbaṁ: “ayaṁ yakkho gaṇhāti, ayaṁ yakkho āvisati, ayaṁ yakkho heṭheti, ayaṁ yakkho viheṭheti, ayaṁ yakkho hiṁsati, ayaṁ yakkho vihiṁsati, ayaṁ yakkho na muñcatī”ti.
‘“Hãy đảnh lễ bậc Chiến Thắng Gotama.” “Chúng con đảnh lễ bậc Chiến Thắng Gotama.” “Chúng con đảnh lễ đức Phật Gotama, bậc đầy đủ minh và hạnh.”’
Katamesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ?
293. ‘Phải trình báo cho những vị dạ xoa, đại dạ xoa, tướng, và đại tướng nào?’
Indo somo varuṇo ca, bhāradvājo pajāpati; Candano kāmaseṭṭho ca, kinnughaṇḍu nighaṇḍu ca.
‘Inda, Soma, và Varuṇa, Bhāradvāja, Pajāpati; Candana, Kāmaseṭṭha, và Kinnughaṇḍu, Nighaṇḍu.
Panādo opamañño ca, devasūto ca mātali; Cittaseno ca gandhabbo, naḷo rājā janesabho.
‘Panāda, Opamañña, và Mātali, sứ giả của chư thiên; Cittasena, vị càn thát bà, và vua Naḷa, Janesabha.
Sātāgiro hemavato, puṇṇako karatiyo guḷo; Sivako mucalindo ca, vessāmitto yugandharo.
‘Sātāgira, Hemavata, Puṇṇaka, Karatiya, Guḷa; Sivaka, Mucalinda, và Vessāmitta, Yugandhara.
Gopālo supparodho ca, Hiri netti ca mandiyo; Pañcālacaṇḍo āḷavako, Pajjunno sumano sumukho; Dadhimukho maṇi māṇivaro dīgho, Atho serīsako saha.
‘Gopāla, Supparodha, và Hiri, Netti, và Mandiya; Pañcālacaṇḍa, Āḷavaka, Pajjunna, Sumana, Sumukha; Dadhimukha, Maṇi, Māṇivara, Dīgha, và cùng với họ là Serīsaka.
Imesaṁ yakkhānaṁ mahāyakkhānaṁ senāpatīnaṁ mahāsenāpatīnaṁ ujjhāpetabbaṁ vikkanditabbaṁ viravitabbaṁ: “ayaṁ yakkho gaṇhāti, ayaṁ yakkho āvisati, ayaṁ yakkho heṭheti, ayaṁ yakkho viheṭheti, ayaṁ yakkho hiṁsati, ayaṁ yakkho vihiṁsati, ayaṁ yakkho na muñcatī”ti.
Ayaṁ kho, mārisa, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāya. Handa ca dāni mayaṁ, mārisa, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā’ti. ‘Yassadāni tumhe, mahārājāno, kālaṁ maññathā’ti.
‘Phải trình báo, kêu la, và loan tin cho các vị dạ xoa, đại dạ xoa, tướng, và đại tướng này rằng: ‘Dạ xoa này đang bắt giữ, dạ xoa này đang xâm nhập, dạ xoa này đang quấy nhiễu, dạ xoa này đang làm hại, dạ xoa này đang gây tổn thương, dạ xoa này đang gây đau khổ, dạ xoa này không chịu buông tha!’ Thưa ngài, đây là pháp hộ trì Āṭānāṭiyā để bảo vệ, che chở, không làm hại, và đem lại sự an lạc cho các tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Và thưa ngài, bây giờ chúng con xin phép đi, chúng con có nhiều việc phải làm, nhiều phận sự phải chu toàn.’ ‘Này các vị Đại vương, bây giờ là lúc nào các ngài cho là phải thời thì hãy làm như vậy.’
Atha kho, bhikkhave, cattāro mahārājā uṭṭhāyāsanā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyiṁsu. Tepi kho, bhikkhave, yakkhā uṭṭhāyāsanā appekacce maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce mayā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce yenāhaṁ tenañjaliṁ paṇāmetvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce nāmagottaṁ sāvetvā tatthevantaradhāyiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā tatthevantaradhāyiṁsu.
294. ‘Này các tỳ khưu, khi ấy, bốn vị Đại vương từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy. Này các tỳ khưu, các vị dạ xoa ấy cũng từ chỗ ngồi đứng dậy. Một số vị đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy. Một số vị cùng ta nói lên những lời chào hỏi thân thiện, sau khi trao đổi những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy. Một số vị chắp tay hướng về phía ta, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy. Một số vị xưng tên và dòng họ, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy. Một số vị giữ im lặng, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.’
Uggaṇhātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Pariyāpuṇātha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Dhāretha, bhikkhave, āṭānāṭiyaṁ rakkhaṁ. Atthasaṁhitā, bhikkhave, āṭānāṭiyā rakkhā bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ guttiyā rakkhāya avihiṁsāya phāsuvihārāyā”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
“Mendicants, learn the Āṭānāṭiya protection! Memorize the Āṭānāṭiya protection! Remember the Āṭānāṭiya protection! The Āṭānāṭiya protection is beneficial, and is for the guarding, protection, safety, and comfort of the monks, nuns, laymen, and laywomen.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
295. “Này các tỳ khưu, hãy học thuộc lòng bài hộ kinh Āṭānāṭiya. Này các tỳ khưu, hãy thông suốt bài hộ kinh Āṭānāṭiya. Này các tỳ khưu, hãy ghi nhớ bài hộ kinh Āṭānāṭiya. Này các tỳ khưu, bài hộ kinh Āṭānāṭiya có liên quan đến lợi ích, đưa đến sự bảo vệ, sự che chở, sự không bị hãm hại, sự an lạc cho các tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ.” Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Āṭānāṭiyasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Āṭānāṭiya, phẩm thứ chín, đã chấm dứt.