- Dīgha Nikāya 34
Dasuttarasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dasuttarasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1Một thời Thế Tôn trú tại Campā (Chiêm-bà) trên bờ hồ Gaggara (Già-già), cùng với đại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị. Rồi tôn giả Sāriputta bảo các vị Tỳ kheo: “Này các Hiền giả Tỷ kheo”. “Thưa Hiền giả” các vị Tỷ kheo ấy đáp ứng tôn giả Sāriputta, tôn giả Sāriputta nói như sau:
SC 2Tôi nói Thập thượng pháp,
Pháp đưa đến Niết-bàn,
Diệt trừ mọi khổ đau,
Giải thoát mọi triền phược.
SC 3PTS cs 2 Này các Hiền giả, một pháp có nhiều tác dụng, một pháp cần phải tu tập, một pháp cần phải biến tri, một pháp cần phải đoạn trừ, một pháp chịu phần tai hại, một pháp đưa đến thù thắng, một pháp rất khó thể nhập, một pháp cần được sanh khởi, một pháp cần được thắng tri, một pháp cần được tác chứng.
SC 4I) Thế nào là một pháp có nhiều tác dụng? Bất phóng dật đối với các thiện pháp. Ðó là một pháp có nhiều tác dụng.
SC 5Ii) Thế nào là một pháp cần được tu tập? Niệm thân câu hữu với khả ý. Ðó là một pháp cần được tu tập.
SC 6Iii) Thế nào là một pháp cần phải biến tri? Xúc hữu lậu hữu thủ. Ðó là một pháp cần phải biến tri.
SC 7Iv) Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.
SC 8V) Thế nào là một pháp chịu phần tai hại? Bất chánh tác ý. Ðó là một pháp chịu phần tai hại.
SC 9Vi) Thế nào là một pháp đưa đến thù thắng? Chơn chánh tác ý. Ðó là một pháp đưa đến thù thắng.
SC 10Vii) Thế nào là một pháp rất khó thể nhập? Vô gián tâm định. Ðó là một pháp rất khó thể nhập.
SC 11Viii) Thế nào là một pháp cần được sanh khởi? Bất động trí. Ðó là một pháp cần được sanh khởi.
SC 12Ix) Thế nào là một pháp cần được thắng tri? Tất cả loài hữu tình do ăn uống mà an trú. Ðó là một pháp cần được thắng tri.
SC 13X) Thế nào là một pháp cần được tác chứng? Bất động tâm giải thoát. Ðó là một pháp cần được tác chứng.
SC 14Như vậy, mười pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 15PTS cs 3 Có hai pháp có nhiều tác dụng, có hai pháp cần phải tu tập, có hai pháp cần phải biến tri, có hai pháp cần phải đoạn trừ, có hai pháp chịu phần tai hại, có hai pháp đưa đến thù thắng, hai pháp rất khó thể nhập, có hai pháp cần được sanh khởi, có hai pháp cần được thắng tri, có hai pháp cần được tác chứng.
SC 16I) Thế nào là hai pháp có nhiều tác dụng? Niệm và tỉnh giác. Ðó là hai pháp có nhiều tác dụng.
SC 17Ii) Thế nào là hai pháp cần phải tu tập? Chỉ và quán. Ðó là hai pháp cần phải tu tập.
SC 18Iii) Thế nào là hai pháp cần được biến tri? Danh và sắc. Ðó là hai pháp cần được biến tri.
SC 19Iv) Thế nào là hai pháp cần phải đoạn trừ? Vô minh và hữu ái. Ðó là hai pháp cần phải đoạn trừ.
SC 20V) Thế nào là hai pháp chịu phần tai hại? Ác ngôn và ác hữu. Ðó là hai pháp chịu phần tai hại.
SC 21Vi) Thế nào là hai pháp hướng đến thù thắng? Thiện ngôn và thiện hữu. Ðó là hai pháp hướng đến thù thắng.
SC 22Vii) Thế nào là hai pháp rất khó thể nhập? Nhơn và duyên làm ác nhiễm các loài hữu tình. Nhân và duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình. Ðó là hai pháp rất khó thể nhập.
SC 23Viii) Thế nào là hai pháp cần được sanh khởi? Tận trí và vô sanh trí. Ðó là hai pháp cần được sanh khởi.
SC 24Ix) Thế nào là hai pháp cần được thắng tri? Hai giới: hữu vi giới và vô vi giới. Ðó là hai pháp cần được thắng tri.
SC 25X) Thế nào là hai pháp cần được tác chứng? Minh và giải thoát. Ðó là hai pháp cần được tác chứng.
SC 26Như vậy hai mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 27PTS cs 4 Có ba pháp có nhiều tác dụng, có ba pháp cần phải tu tập, có ba pháp cần phải biến tri, có ba pháp cần phải đoạn trừ, có ba pháp chịu phần tai hại, có ba pháp đưa đến thù thắng, có ba pháp rất khó thể nhập, có ba pháp cần được sanh khởi, có ba pháp cần được thắng tri, có ba pháp cần được tác chứng.
SC 28I) Thế nào là ba pháp có nhiều tác dụng? Giao thiệp với thiện nhân, nghe diệu pháp, hành trì pháp và tùy pháp. Ðó là ba pháp có nhiều tác dụng.
SC 29Ii) Thế nào là ba pháp cần phải tu tập? Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định. Ðó là ba pháp cần phải tu tập.
SC 30Iii) Thế nào là ba pháp cần phải biến tri? Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðó là ba pháp cần phải biến tri.
SC 31Iv) Thế nào là ba pháp cần phải đoạn trừ? Ba ái: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ðó là ba pháp cần phải đoạn trừ.
SC 32V) Thế nào là ba pháp chịu phần tai hại? Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn. Ðó là ba pháp chịu phần tai hại.
SC 33Vi) Thế nào là ba pháp đưa đến thù thắng? Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn. Ðó là ba pháp đưa đến thù thắng.
SC 34Vii) Thế nào là ba pháp rất khó thể nhập? Ba xuất yếu giới: Xuất ly khỏi các dục vọng, tức là ly dục; xuất ly khỏi các sắc pháp, tức là vô sắc; phàm pháp gì hiện hữu, hữu vi, do duyên khởi, sự xuất ly khỏi pháp ấy tức là diệt. Ðó là ba pháp rất khó thể nhập.
SC 35Viii) Thế nào là ba pháp cần phải sanh khởi? Ba trí: Trí đối với quá khứ, trí đối với tương lai, trí đối với hiện tại. Ðó là ba pháp cần phải sanh khởi.
SC 36Ix) Thế nào là ba pháp cần được thắng tri? Ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ðó là ba pháp cần được thắng tri.
SC 37X) Thế nào là ba pháp cần được tác chứng? Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh diệt trí minh, chư Lậu tận trí minh. Ðó là ba pháp cần được tác chứng.
SC 38Như vậy ba mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 39PTS cs 5 Có bốn pháp có nhiều tác dụng, có bốn pháp cần phải tu tập, có bốn pháp cần phải biến tri, có bốn pháp cần phải đoạn trừ, có bốn pháp chịu phần tai hại, có bốn pháp đưa đến thù thắng, có bốn pháp rất khó thể nhập, có bốn pháp cần được sanh khởi, có bốn pháp cần được thắng tri, có bốn pháp cần được tác chứng.
SC 40I) Thế nào là bốn pháp có nhiều tác dụng? Bốn bánh xe: Trú ở trung quốc, thân cận thắng nhân, chánh nguyện tự thân, tạo phước trong quá khứ. Ðó là bốn pháp có nhiều tác dụng.
SC 41Ii) Thế nào là bốn pháp cần phải tu tập? Bốn niệm xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị, Tỳ kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời; quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời. Ðó là bốn pháp cần phải tu tập.
SC 42Iii) Thế nào là bốn pháp cần phải biến tri? Bốn thực: Ðoàn thực loại cứng hay loại mềm, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Ðó là bốn pháp cần phải biến tri.
SC 43Iv) Thế nào là bốn pháp cần phải đoạn trừ? Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Ðó là bốn pháp cần phải đoạn trừ.
SC 44V) Thế nào là bốn pháp chịu phần tai hại? Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Ðó là bốn pháp chịu phần tai hại.
SC 45Vi) Thế nào là bốn pháp hướng đến thù thắng? Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách. Ðó là bốn pháp hướng đến thù thắng.
SC 46Vii) Thế nào là bốn pháp rất khó thể nhập? Bốn định: Xả phần định, chỉ phần định, thắng phần định, quyết trạch phần định. Ðó là bốn pháp rất khó thể nhập.
SC 47Viii) Thế nào là bốn pháp cần được sanh khởi? Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí. Ðó là bốn pháp cần được sanh khởi.
SC 48Ix) Thế nào là bốn pháp cần được thắng tri? Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế. Ðó là bốn pháp cần được thắng tri.
SC 49X) Thế nào là bốn pháp cần được tác chứng? Bốn Sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả. Ðó là bốn pháp cần được tác chứng.
SC 50Như vậy là bốn mươi pháp chân, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 51PTS cs 6 Có năm pháp có nhiều tác dụng, có năm pháp cần phải tu tập, có năm pháp cần phải biến tri, có năm pháp cần phải đoạn trừ, có năm pháp chịu phần tai hại, có năm pháp đưa đến thù thắng, có năm pháp rất khó thể nhập, có năm pháp cần được sanh khởi, có năm pháp cần được thắng tri, có năm pháp cần được tác chứng.
SC 52I) Thế nào là năm pháp có nhiều tác dụng? Năm cần chi. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau. Ðó là năm pháp có nhiều tác dụng.
SC 53Ii) Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập.
SC 54Iii) Thế nào là năm pháp cần phải biến tri? Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðó là năm pháp cần phải biến tri.
SC 55Iv) Thế nào là năm pháp cần phải đoạn trừ? Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, thụy miên hôn trầm triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái. Ðó là năm pháp cần phải đoạn trừ.
SC 56V) Thế nào là năm pháp chịu phần tai hại? Năm tâm hoang vu. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp … đối với Tăng … đối với học Pháp … Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.
SC 57Ðó là năm pháp chịu phần tai hại.
SC 58Vi) Thế nào là năm pháp hướng đến thù thắng? Năm căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Ðó là năm pháp hướng đến thù thắng.
SC 59Vii) Thế nào là năm pháp rất khó thể nhập? Năm giới hướng đến giải thoát. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.
SC 60Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.
SC 61Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.
SC 62Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.
SC 63Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.
SC 64Ðó là năm pháp rất khó thể nhập.
SC 65Viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi.
SC 66Ix) Thế nào là năm pháp cần được thắng tri? Năm giải thoát xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.
SC 67Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.
SC 68Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.
SC 69Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.
SC 70Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.
SC 71Ðó là năm pháp cần được thắng tri.
SC 72X) Thế nào là năm pháp cần được tác chứng? Năm pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Ðó là năm pháp cần được tác chứng.
SC 73Như vậy năm mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 74PTS cs 7 Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
SC 75I) Thế nào là sáu pháp có nhiều tác dụng? Sáu hòa kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 76Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 77Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 78Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 79Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 80Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
SC 81Ðó là sáu pháp có nhiều tác dụng.
SC 82Ii) Thế nào là sáu pháp cần phải tu tập? Sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải tu tập.
SC 83Iii) Thế nào là sáu pháp cần phải biến tri? Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Ðó là sáu pháp cần phải biến tri.
SC 84Iv) Thế nào là sáu pháp cần phải đoạn trừ? Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Ðó là sáu pháp cần phải đoạn trừ.
SC 85V) Thế nào là sáu pháp chịu phần tai hại? Sáu bất cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống không cung kính, chống đối bậc Ðạo Sư, chống đối với Pháp … chống đối với Tăng … chống đối với học pháp … chống đối với bất phóng dật … Sống không cung kính, chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp chịu phần tai hại.
SC 86Vi) Thế nào là sáu pháp hướng đến thù thắng? Sáu cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo cung kính, không chống đối bậc Ðạo sư … không chống đối với Pháp … không chống đối với Tăng … không chống đối với học pháp … không chống đối với bất phóng dật … cung kính, không chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp hướng đến thù thắng.
SC 87Vii) Thế nào là sáu pháp rất khó thể nhập? Sáu xuất ly giới. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.
SC 88Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.
SC 89Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.
SC 90Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.
SC 91Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
SC 92Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh, an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.
SC 93Ðó là sáu pháp rất khó thể nhập.
SC 94Viii) Thế nào là sáu pháp cần phải sanh khởi? Sáu hằng trú pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác; tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi niếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là sáu pháp cần được sanh khởi.
SC 95Ix) Thế nào là sáu pháp cần được thắng tri? Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng. Ðó là sáu pháp cần được thắng tri.
SC 96X) Thế nào là sáu pháp cần được tác chứng? Sáu thắng trí. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo chứng được thần túc sai biệt … với thân có thể đến Phạm thiên giới; với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài Người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, xa và gần; với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham … tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát; nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời … nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức; với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài Người … biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình; với sự diệt trừ các lậu hoặc; sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại; đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Ðó là sáu pháp cần được tác chứng.
SC 97Như vậy sáu mươi pháp này là chân, thực, như thị, không phải không như thị, không có sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 98PTS cs 8 Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.
SC 99I) Thế nào là bảy pháp, có nhiều tác dụng? Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Ðó là bảy pháp có nhiều tác dụng.
SC 100Ii) Thế nào là bảy pháp cần tu tập? Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Ðó là bảy pháp cần phải tu tập.
SC 101Iii) Thế nào là bảy pháp cần phải biến tri? Bảy thức trú. Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.
SC 102Ðó là bảy pháp cần được biến tri.
SC 103Iv) Thế nào là bảy pháp cần được đoạn trừ? Bảy tùy miên: Tham dục tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Ðó là bảy pháp cần phải đoạn trừ.
SC 104V) Thế nào là bảy pháp chịu phần tai hại? Bảy phi diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, ác tuệ. Như vậy là bảy pháp chịu phần tai hại.
SC 105Vi) Thế nào là bảy pháp hướng đến thù thắng? Bảy diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tin, có tàm, có quý, đa văn, tinh cần, niệm hiện tiền, có trí tuệ. Như vậy là bảy pháp hướng đến thù thắng.
SC 106Vii) Thế nào là bảy pháp rất khó thể nhập? Bảy thượng nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân. Như vậy là bảy pháp rất khó thể nhập.
SC 107Viii) Thế nào là bảy pháp cần phải sanh khởi? Bảy tướng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, quá hoạn tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là bảy pháp cần phải sanh khởi.
SC 108Ix) Thế nào là bảy pháp cần phải thắng tri? Bảy thù diệu sự. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tự niệm và khát vọng quán sát tự niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.
SC 109Như vậy là bảy pháp cần phải thắng tri.
SC 110X) Thế nào là bảy pháp cần được tác chứng? Bảy lậu tận lực. Này các Hiền giả, ở đây, vị lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi với chánh tuệ. Này các Hiền giả, vị Lậu tận, Tỷ kheo chánh quán như chân với chánh tuệ tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi, chánh quán ấy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo ấy. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được sự diệt tận các lậu hoặc: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 111Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân với chánh tuệ các dục vọng như lửa than hừng … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 112Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo tâm hướng xuất ly, tâm thiên xuất ly, tâm nặng về xuất ly, tâm lấy xuất ly làm mục đích, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc trú. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 113Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 114Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, năm căn được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 115Này các Hiền giả, lại nữa đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bảy Giác chi đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo … “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 116Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập, như vậy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.
SC 117Như vậy là bảy pháp cần được tu chứng. Như vậy bảy mươi pháp này là chơn, thực như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 118PTS cs 1~2 Có tám pháp có nhiều tác dụng, có tám pháp cần phải tu tập, có tám pháp cần phải biến tri, có tám pháp cần phải đoạn trừ, có tám pháp chịu phần tai hại, có tám pháp đưa đến thù thắng, có tám pháp rất khó thể nhập, có tám pháp cần được sanh khởi, có tám pháp cần được thắng tri, có tám pháp cần được tác chứng.
SC 119I) Thế nào là tám pháp có nhiều tác dụng? Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được. Này các Hiền giả, ở đây, ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Như vậy là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
SC 120Ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Người này thỉnh thoảng đến các vị ấy và đặt những câu hỏi: “Này Tôn giả, vấn đề này là thế nào? Vấn đề này nghĩa như thế nào?” Và các vị này đối với người ấy, nêu rõ những gì bị che khuất, phơi bày ra những gì bị giấu kín, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ. Như vậy là nhân thứ hai, duyên thứ hai đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
SC 121Sau khi đã nghe pháp, vị này được hai sự an tịnh, an tịnh về thân và an tịnh về tâm. Như vậy là nhân thứ ba, duyên thứ ba, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 122Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong các học pháp. Như vậy là nhân thứ tư, duyên thứ tư, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 123Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. Với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt chánh trí. Như vậy là nhân thứ năm, duyên thứ năm, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 124Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, vững chắc, kiên trì đối với các thiện pháp. Như vậy là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 125Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ điều làm đã lâu ngày, nói đã lâu ngày. Như vậy là nhân thứ bảy, là duyên thứ bảy, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 126Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống quán sát sự sanh diệt của năm thủ uẩn: Ðây là sắc, đây là tập của sắc, đây là diệt của sắc. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là hành … Ðây là thức. Ðây là tập của thức, đây là diệt của thức. Như vậy là nhân thứ tám, duyên thứ tám, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.
SC 127Như vậy là tám pháp có nhiều tác dụng.
SC 128Ii) Thế nào là tám pháp cần phải tu tập? Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ðây là tám pháp cần phải tu tập.
SC 129Iii) Thế nào là tám pháp cần phải biến tri? Tám thế pháp: Ðắc và không đắc, không có thanh danh và có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ. Như vậy là tám pháp cần phải biến tri.
SC 130Iv) Thế nào tám pháp cần được đoạn trừ? Tám tà: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Như vậy là tám pháp cần phải đoạn trừ.
SC 131V) Thế nào là tám pháp chịu phần tai hại? Tám giải đãi sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.
SC 132Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … như vậy là giải đãi sự thứ hai.
SC 133Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ ba.
SC 134Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ tư.
SC 135Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.
SC 136Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.
SC 137Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn … Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.
SC 138Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.
SC 139Như vậy là tám pháp chịu phần tai hại.
SC 140Vi) Thế nào là tám pháp hướng đến thù thắng? Tám tinh tấn sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.
SC 141Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.
SC 142Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.
SC 143Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.
SC 144Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.
SC 145Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.
SC 146Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn … ” Và vị ấy tinh tấn … Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.
SC 147Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.
SC 148Như vậy là tám pháp hướng đến thù thắng.
SC 149Vii) Thế nào là tám pháp rất khó thể nhập? Phạm hạnh trú, tám bất thời bất tiết. Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.
SC 150Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.
SC 151… sanh vào ngạ quỷ … bất thời bất tiết thứ ba.
SC 152… sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài … bất thời bất tiết thứ tư.
SC 153… sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ năm.
SC 154Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.
SC 155Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.
SC 156Này các Hiền giả, lại nữa Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.
SC 157Như vậy là tám pháp rất khó thể nhập.
SC 158Viii) Thế nào là tám pháp cần được sanh khởi? Tám Ðại nhân tầm: Pháp này cho người thiểu dục, pháp này không phải cho người đa dục; pháp này cho người tri túc, pháp này không phải cho người không tri túc; pháp này cho người an tịnh độc cư, pháp này không phải cho người ưa tụ hội; pháp này cho người siêng năng tinh tấn, pháp này không phải cho người giải đãi; pháp này cho người có niệm hiền tiền, pháp này không phải cho người thất niệm; pháp này là cho người có định tâm, pháp này không phải cho người không có định tâm; pháp này cho người có trí tuệ, pháp này không phải cho người có ác tuệ; pháp này cho người không ưa thích lý luận, pháp này không phải cho người ưa thích lý luận. Như vậy là tám pháp cần được sanh khởi.
SC 159Ix) Thế nào là tám pháp cần được thắng tri? Tám thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 160Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 161Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 162Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 163Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 164Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 165Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ—như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 166Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.
SC 167Như vậy là tám pháp cần được thắng tri.
SC 168X) Thế nào là tám pháp cần được chứng ngộ? Tám giải thoát.
SC 169Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.
SC 170Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.
SC 171Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.
SC 172Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.
SC 173Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 174Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.
SC 175Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.
SC 176Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.
SC 177Như vậy là tám pháp cần được chứng ngộ.
SC 178Như vậy tám mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 1792) Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được chứng ngộ.
SC 180I) Thế nào là chín pháp có nhiều tác dụng? Chín pháp tư duy về căn pháp. Do chánh tư duy, hân hoan sinh; do hân hoan, hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh; do tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân; do biết, nhờ thấy như chơn, yểm ly sanh; do yểm ly, ly dục sanh; do ly dục, vị ấy được giải thoát. Như vậy là chín pháp có nhiều tác dụng.
SC 181Ii) Thế nào là chín pháp cần phải tu tập? Chín thanh tịnh cần chi: Giới hạnh thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tâm thanh tịnh thanh tịnh cần chi, kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đoạn nghi thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tuệ thanh tịnh thanh tịnh cần chi, giải thoát thanh tịnh thanh tịnh cần chi. Như vậy là chín pháp cần được tu tập.
SC 182Iii) Thế nào là chín pháp cần được biến tri? Chín hữu tình trú. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.
SC 183Như vậy là chín pháp cần được biến tri.
SC 184Iv) Thế nào là chín pháp cần phải đoạn trừ? Chín ái căn pháp. Do duyên ái, tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, đắc lợi sanh; do duyên đắc lợi, phân biệt sanh; do duyên phân biệt, tham dục sanh; do duyên tham dục, thủ trước sanh; do duyên thủ trước; chấp trì sanh; do duyên chấp trì, xan tham sanh; do duyên xam tham; hộ trì sanh; do duyên hộ trì, chấp trượng, chấp kiến, tránh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngôn, và các ác bất thiện pháp khai sanh. Như vậy là chín pháp cần phải đoạn trừ.
SC 185V) Thế nào là chín pháp chịu phần tai hại? Chín hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.
SC 186“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến” … “người ấy đang làm hại … ” … “người ấy sẽ làm hại … ”, xung đột khởi lên.
SC 187“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến” … “người ấy đang làm lợi … ” … ” người ấy sẽ làm lợi … ”, xung đột khởi lên.
SC 188Như vậy là chín pháp chịu phần tai hại.
SC 189Vi) Thế nào là chín pháp hướng đến thù thắng? Chín điều phục hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.
SC 190“Người ấy đã làm hại người tôi thương … ”, … " người ấy đang làm hại … ", … ” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 191“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến … ”, … " người ấy đang làm lợi … ", … ” người ấy sẽ làm lợi … Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.
SC 192Như vậy là chín pháp hướng đến thù thắng.
SC 193Vii) Thế nào là chín pháp rất khó thể nhập? Chín loại sai biệt. Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh; do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh; do duyên thọ sai biệt; tưởng sai biệt sanh; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh; do duyên nhiệt tình sai biệt; tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh. Như vậy là chín pháp rất khó thể nhập.
SC 194Viii) Thế nào là chín pháp cần được sanh khởi? Chín tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng. Như vậy là chín pháp cần được sanh khởi.
SC 195Ix) Thế nào là chín pháp cần được thắng tri? Chín thứ đệ trú. Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.
SC 196Như vậy là chín pháp cần được thắng tri.
SC 197X) Thế nào là chín pháp cần được chứng ngộ? Chín thứ đệ diệt. Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.
SC 198Như vậy là chín pháp cần được chứng ngộ.
SC 199Như vậy là chín mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 2003) Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
SC 201I) Thế nào là mười phát có nhiều có tác dụng? Mười pháp hộ trì nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 202Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.
SC 203Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn … khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 204Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 205Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn … nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 206Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh … vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 207Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp … vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 208Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng … Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 209Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng … nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 210Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 211Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí … chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
SC 212Như vậy là mười pháp có nhiều tác dụng.
SC 213Ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập? Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến … Một vị biết được hỏa biến … Một vị biết được phong biến … Một vị biết được thanh biến … Một vị biết được hoàng biến … Một vị biết được xích biến … Một vị biết được bạch biến … Một vị biết được hư không biến … Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.
SC 214Iii) Thế nào là mười pháp cần phải biến tri? Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Như vậy là mười pháp cần được biến tri
SC 215iv) Thế nào là mười pháp cần phải đoạn trừ? Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Như vậy là mười pháp cần được đoạn trừ.
SC 216V) Thế nào là mười pháp chịu phần tai hại? Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến. Như vậy là mười pháp chịu phần tai hại.
SC 217Vi) Thế nào là mười pháp hướng đến thù thắng? Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, ly tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si. Như vậy là mười pháp hướng đến thù thắng.
SC 218Vii) Thế nào là mười pháp rất khó thể nhập? Mười thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.
SC 219Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.
SC 220Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.
SC 221Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.
SC 222Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.
SC 223Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.
SC 224Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.
SC 225Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.
SC 226Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ—kheo thân hành được khinh an.
SC 227Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ—kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ—kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoát.
SC 228Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ—kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.
SC 229Như vậy là mười pháp rất khó thể nhập.
SC 230Viii) Thế nào là mười pháp cần được sanh khởi? Mười tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là mười pháp cần được sanh khởi.
SC 231Ix) Thế nào là mười pháp cần được thắng tri? Mười đoạn tận sự: Tà kiến do chánh kiến đoạn tận; do duyên tà kiến, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh kiến các thiện pháp được tăng cường, viên mãn; tà tư duy do chánh tư duy đoạn tận … tà ngữ do chánh ngữ đoạn tận … tà nghiệp cho chánh nghiệp đoạn tận … tà mạng do chánh mạng đoạn tận … tà niệm do chánh niệm đoạn tận … tà định do chánh định đoạn tận … tà trí do chánh trí đoạn tận … tà giải thoát do chánh giải thoát đoạn tận … do duyên tà giải thoát, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp này được tăng cường, viên mãn. Như vậy là mười pháp cần được thắng tri.
SC 232X) Thế nào là mười pháp cần được chứng ngộ? Mười vô học pháp: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm, vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.
SC 233Như vậy là mười pháp cần được chứng ngộ.
SC 234Như vậy một trăm pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.
SC 235Như vậy tôn giả Sāriputta thuyết giảng. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sāriputta.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
11. Kinh Thập Thượng
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
350. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú ở Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā, cùng với đại chúng Tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị Tỳ khưu. Tại đó, Tôn giả Sāriputta gọi các Tỳ khưu: ‘Này chư hiền Tỳ khưu!’. ‘Thưa hiền giả’, các Tỳ khưu ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Dasuttaraṁ pavakkhāmi, dhammaṁ nibbānapattiyā; Dukkhassantakiriyāya, sabbaganthappamocanaṁ.
“I will relate the teachings up to ten for attaining extinguishment, for making an end of suffering, the release from all ties.
‘Ta sẽ thuyết kinh Thập Thượng, pháp môn để chứng đắc Niết-bàn; để chấm dứt khổ, giải thoát khỏi mọi trói buộc’.
Eko, āvuso, dhammo bahukāro, eko dhammo bhāvetabbo, eko dhammo pariññeyyo, eko dhammo pahātabbo, eko dhammo hānabhāgiyo, eko dhammo visesabhāgiyo, eko dhammo duppaṭivijjho, eko dhammo uppādetabbo, eko dhammo abhiññeyyo, eko dhammo sacchikātabbo.
Reverends, one thing is helpful, one thing should be developed, one thing should be completely understood, one thing should be given up, one thing makes things worse, one thing leads to distinction, one thing is hard to comprehend, one thing should be produced, one thing should be directly known, one thing should be realized.
351. Này chư hiền, có một pháp có nhiều lợi ích, một pháp cần được tu tập, một pháp cần được liễu tri, một pháp cần được đoạn tận, một pháp thuộc phần tổn giảm, một pháp thuộc phần thù thắng, một pháp khó thông đạt, một pháp cần được phát sanh, một pháp cần được thắng tri, một pháp cần được chứng ngộ.
Katamo eko dhammo bahukāro? Appamādo kusalesu dhammesu. Ayaṁ eko dhammo bahukāro.
<em>What one thing is helpful?</em> Diligence in skillful qualities.
(a) Thế nào là một pháp có nhiều lợi ích? Sự không dể duôi trong các thiện pháp. Đây là một pháp có nhiều lợi ích.
Katamo eko dhammo bhāvetabbo? Kāyagatāsati sātasahagatā. Ayaṁ eko dhammo bhāvetabbo.
<em>What one thing should be developed?</em> Mindfulness of the body that is full of pleasure.
(b) Thế nào là một pháp cần được tu tập? Niệm thân hành đi kèm với hỷ. Đây là một pháp cần được tu tập.
Katamo eko dhammo pariññeyyo? Phasso sāsavo upādāniyo. Ayaṁ eko dhammo pariññeyyo.
<em>What one thing should be completely understood?</em> Contact, which is accompanied by defilements and fuels grasping.
(c) Thế nào là một pháp cần được liễu tri? Xúc hữu lậu, là đối tượng của thủ. Đây là một pháp cần được liễu tri.
Katamo eko dhammo pahātabbo? Asmimāno. Ayaṁ eko dhammo pahātabbo.
<em>What one thing should be given up?</em> The conceit ‘I am’.
Pháp nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Đây là một pháp cần phải đoạn trừ.
Katamo eko dhammo hānabhāgiyo? Ayoniso manasikāro. Ayaṁ eko dhammo hānabhāgiyo.
<em>What one thing makes things worse?</em> Irrational application of mind.
Pháp nào là một pháp thuộc phần giảm sút? Tác ý không như lý. Đây là một pháp thuộc phần giảm sút.
Katamo eko dhammo visesabhāgiyo? Yoniso manasikāro. Ayaṁ eko dhammo visesabhāgiyo.
<em>What one thing leads to distinction?</em> Rational application of mind.
Pháp nào là một pháp thuộc phần đặc thù? Tác ý như lý. Đây là một pháp thuộc phần đặc thù.
Katamo eko dhammo duppaṭivijjho? Ānantariko cetosamādhi. Ayaṁ eko dhammo duppaṭivijjho.
<em>What one thing is hard to comprehend?</em> The heart’s immersion of immediate result.
Pháp nào là một pháp khó thể nhập? Tâm định vô gián. Đây là một pháp khó thể nhập.
Katamo eko dhammo uppādetabbo? Akuppaṁ ñāṇaṁ. Ayaṁ eko dhammo uppādetabbo.
<em>What one thing should be produced?</em> Unshakable knowledge.
Pháp nào là một pháp cần phải làm cho sanh khởi? Trí tuệ không bị lay chuyển. Đây là một pháp cần phải làm cho sanh khởi.
Katamo eko dhammo abhiññeyyo? Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. Ayaṁ eko dhammo abhiññeyyo.
<em>What one thing should be directly known?</em> All sentient beings are sustained by food.
Pháp nào là một pháp cần phải được thắng tri? Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Đây là một pháp cần phải được thắng tri.
Katamo eko dhammo sacchikātabbo? Akuppā cetovimutti. Ayaṁ eko dhammo sacchikātabbo.
<em>What one thing should be realized?</em> The unshakable release of the heart.
Pháp nào là một pháp cần phải được chứng ngộ? Tâm giải thoát không bị lay chuyển. Đây là một pháp cần phải được chứng ngộ.
Iti ime dasa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these ten things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, mười pháp này là chân thật, xác thực, đúng như vậy, không sai khác, không khác hơn, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Dve dhammā bahukārā, dve dhammā bhāvetabbā, dve dhammā pariññeyyā, dve dhammā pahātabbā, dve dhammā hānabhāgiyā, dve dhammā visesabhāgiyā, dve dhammā duppaṭivijjhā, dve dhammā uppādetabbā, dve dhammā abhiññeyyā, dve dhammā sacchikātabbā.
Two things are helpful, two things should be developed, two things should be completely understood, two things should be given up, two things make things worse, two things lead to distinction, two things are hard to comprehend, two things should be produced, two things should be directly known, two things should be realized.
352. Hai pháp có nhiều hỗ trợ, hai pháp cần phải được tu tập, hai pháp cần phải được liễu tri, hai pháp cần phải được đoạn trừ, hai pháp thuộc phần giảm sút, hai pháp thuộc phần đặc thù, hai pháp khó thể nhập, hai pháp cần phải làm cho sanh khởi, hai pháp cần phải được thắng tri, hai pháp cần phải được chứng ngộ.
Katame dve dhammā bahukārā? Sati ca sampajaññañca. Ime dve dhammā bahukārā.
<em>What two things are helpful?</em> Mindfulness and situational awareness.
Những pháp nào là hai pháp có nhiều hỗ trợ? Niệm và tỉnh giác. Đây là hai pháp có nhiều hỗ trợ.
Katame dve dhammā bhāvetabbā? Samatho ca vipassanā ca. Ime dve dhammā bhāvetabbā.
<em>What two things should be developed?</em> Serenity and discernment.
Những pháp nào là hai pháp cần phải được tu tập? Chỉ và quán. Đây là hai pháp cần phải được tu tập.
Katame dve dhammā pariññeyyā? Nāmañca rūpañca. Ime dve dhammā pariññeyyā.
<em>What two things should be completely understood?</em> Name and form.
Những pháp nào là hai pháp cần phải được liễu tri? Danh và sắc. Đây là hai pháp cần phải được liễu tri.
Katame dve dhammā pahātabbā? Avijjā ca bhavataṇhā ca. Ime dve dhammā pahātabbā.
<em>What two things should be given up?</em> Ignorance and craving for continued existence.
Những pháp nào là hai pháp cần phải được đoạn trừ? Vô minh và hữu ái. Đây là hai pháp cần phải được đoạn trừ.
Katame dve dhammā hānabhāgiyā? Dovacassatā ca pāpamittatā ca. Ime dve dhammā hānabhāgiyā.
<em>What two things make things worse?</em> Being hard to admonish and having bad friends.
Những pháp nào là hai pháp thuộc phần giảm sút? Sự khó dạy và bạn bè xấu ác. Đây là hai pháp thuộc phần giảm sút.
Katame dve dhammā visesabhāgiyā? Sovacassatā ca kalyāṇamittatā ca. Ime dve dhammā visesabhāgiyā.
<em>What two things lead to distinction?</em> Being easy to admonish and having good friends.
Những pháp nào là hai pháp thuộc phần đặc thù? Sự dễ dạy và bạn bè tốt lành. Đây là hai pháp thuộc phần đặc thù.
Katame dve dhammā duppaṭivijjhā? Yo ca hetu yo ca paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, yo ca hetu yo ca paccayo sattānaṁ visuddhiyā. Ime dve dhammā duppaṭivijjhā.
<em>What two things are hard to comprehend?</em> The causes and reasons for the corruption of sentient beings, and the causes and reasons for the purification of sentient beings.
Những pháp nào là hai pháp khó thể nhập? Nhân nào và duyên nào làm cho các chúng sanh bị ô nhiễm, và nhân nào và duyên nào làm cho các chúng sanh được thanh tịnh. Đây là hai pháp khó thể nhập.
Katame dve dhammā uppādetabbā? Dve ñāṇāni—khaye ñāṇaṁ, anuppāde ñāṇaṁ. Ime dve dhammā uppādetabbā.
<em>What two things should be produced?</em> Two knowledges: knowledge of ending, and knowledge of non-arising.
Những pháp nào là hai pháp cần phải làm cho sanh khởi? Hai trí tuệ: trí về sự đoạn tận, trí về sự không sanh khởi. Đây là hai pháp cần phải làm cho sanh khởi.
Katame dve dhammā abhiññeyyā? Dve dhātuyo—saṅkhatā ca dhātu asaṅkhatā ca dhātu. Ime dve dhammā abhiññeyyā.
<em>What two things should be directly known?</em> Two elements: the conditioned element and the unconditioned element.
Những pháp nào là hai pháp cần phải được thắng tri? Hai giới: giới hữu vi và giới vô vi. Đây là hai pháp cần phải được thắng tri.
Katame dve dhammā sacchikātabbā? Vijjā ca vimutti ca. Ime dve dhammā sacchikātabbā.
<em>What two things should be realized?</em> Knowledge and freedom.
Những pháp nào là hai pháp cần phải được chứng ngộ? Minh và giải thoát. Đây là hai pháp cần phải được chứng ngộ.
Iti ime vīsati dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these twenty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, hai mươi pháp này là chân thật, xác thực, đúng như vậy, không sai khác, không khác hơn, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Tayo dhammā bahukārā, tayo dhammā bhāvetabbā …pe… tayo dhammā sacchikātabbā.
Three things are helpful, etc.
353. Ba pháp có nhiều hỗ trợ, ba pháp cần phải được tu tập, ... đến ... ba pháp cần phải được chứng ngộ.
Katame tayo dhammā bahukārā? Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, dhammānudhammappaṭipatti. Ime tayo dhammā bahukārā.
<em>What three things are helpful?</em> Associating with true persons, listening to the true teaching, and practicing in line with the teaching.
Những pháp nào là ba pháp có nhiều hỗ trợ? Thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, thực hành pháp và tùy pháp. Đây là ba pháp có nhiều hỗ trợ.
Katame tayo dhammā bhāvetabbā? Tayo samādhī—savitakko savicāro samādhi, avitakko vicāramatto samādhi, avitakko avicāro samādhi. Ime tayo dhammā bhāvetabbā.
<em>What three things should be developed?</em> Three kinds of immersion. Immersion with placing the mind and keeping it connected. Immersion without placing the mind, merely keeping it connected. Immersion without placing the mind or keeping it connected.
Những pháp nào là ba pháp cần phải được tu tập? Ba loại định: định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ. Đây là ba pháp cần phải được tu tập.
Katame tayo dhammā pariññeyyā? Tisso vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. Ime tayo dhammā pariññeyyā.
<em>What three things should be completely understood?</em> Three feelings: pleasant, painful, and neutral.
Những pháp nào là ba pháp cần phải được liễu tri? Ba loại thọ: lạc thọ, khổ thọ, thọ không khổ không lạc. Đây là ba pháp cần phải được liễu tri.
Katame tayo dhammā pahātabbā? Tisso taṇhā—kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. Ime tayo dhammā pahātabbā.
<em>What three things should be given up?</em> Three cravings: craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence.
Những pháp nào là ba pháp cần phải được đoạn trừ? Ba loại ái: dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Đây là ba pháp cần phải được đoạn trừ.
Katame tayo dhammā hānabhāgiyā? Tīṇi akusalamūlāni—lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ. Ime tayo dhammā hānabhāgiyā.
<em>What three things make things worse?</em> Three unskillful roots: greed, hate, and delusion.
Những pháp nào là ba pháp thuộc phần giảm sút? Ba bất thiện căn: tham là bất thiện căn, sân là bất thiện căn, si là bất thiện căn. Đây là ba pháp thuộc phần giảm sút.
Katame tayo dhammā visesabhāgiyā? Tīṇi kusalamūlāni—alobho kusalamūlaṁ, adoso kusalamūlaṁ, amoho kusalamūlaṁ. Ime tayo dhammā visesabhāgiyā.
<em>What three things lead to distinction?</em> Three skillful roots: contentment, love, and understanding.
Những pháp nào là ba pháp thuộc phần đặc thù? Ba thiện căn: vô tham là thiện căn, vô sân là thiện căn, vô si là thiện căn. Đây là ba pháp thuộc phần đặc thù.
Katame tayo dhammā duppaṭivijjhā? Tisso nissaraṇiyā dhātuyo—kāmānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ nekkhammaṁ, rūpānametaṁ nissaraṇaṁ yadidaṁ arūpaṁ, yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ, nirodho tassa nissaraṇaṁ. Ime tayo dhammā duppaṭivijjhā.
<em>What three things are hard to comprehend?</em> Three elements of escape. Renunciation is the escape from sensual pleasures. The formless is the escape from form. Cessation is the escape from whatever is created, conditioned, and dependently originated.
Những pháp nào là ba pháp khó thể nhập? Ba giới xuất ly: sự xuất ly khỏi các dục, tức là sự xuất gia; sự xuất ly khỏi các sắc, tức là vô sắc; và đối với bất cứ điều gì đã hiện hữu, hữu vi, do duyên sanh, sự đoạn diệt của nó là sự xuất ly. Đây là ba pháp khó thể nhập.
Katame tayo dhammā uppādetabbā? Tīṇi ñāṇāni—atītaṁse ñāṇaṁ, anāgataṁse ñāṇaṁ, paccuppannaṁse ñāṇaṁ. Ime tayo dhammā uppādetabbā.
<em>What three things should be produced?</em> Three knowledges: knowledge regarding the past portion, the future portion, and the present portion.
(Ja) “Thế nào là ba pháp cần được làm cho sanh khởi? Ba loại trí – trí về quá khứ, trí về vị lai, trí về hiện tại. Ba pháp này cần được làm cho sanh khởi.”
Katame tayo dhammā abhiññeyyā? Tisso dhātuyo—kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu. Ime tayo dhammā abhiññeyyā.
<em>What three things should be directly known?</em> Three elements: the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm.
(Jha) “Thế nào là ba pháp cần được thắng tri? Ba giới – dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ba pháp này cần được thắng tri.”
Katame tayo dhammā sacchikātabbā? Tisso vijjā—pubbenivāsānussatiñāṇaṁ vijjā, sattānaṁ cutūpapāte ñāṇaṁ vijjā, āsavānaṁ khaye ñāṇaṁ vijjā. Ime tayo dhammā sacchikātabbā.
<em>What three things should be realized?</em> Three knowledges: recollection of past lives, knowledge of the death and rebirth of sentient beings, and knowledge of the ending of defilements.
(Ña) “Thế nào là ba pháp cần được chứng ngộ? Ba minh – minh là trí túc mạng tùy niệm, minh là trí về sự sanh tử của chúng sanh, minh là trí về sự đoạn tận các lậu hoặc. Ba pháp này cần được chứng ngộ.”
Iti ime tiṁsa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these thirty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
“Như vậy, ba mươi pháp này là có thật, là chân thật, là như thật, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.”
Bốn Pháp
Cattāro dhammā bahukārā, cattāro dhammā bhāvetabbā …pe… cattāro dhammā sacchikātabbā.
Four things are helpful, etc.
354. “Bốn pháp có nhiều lợi ích, bốn pháp cần được tu tập... cho đến... bốn pháp cần được chứng ngộ.”
Katame cattāro dhammā bahukārā? Cattāri cakkāni—patirūpadesavāso, sappurisūpanissayo, attasammāpaṇidhi, pubbe ca katapuññatā. Ime cattāro dhammā bahukārā.
<em>What four things are helpful?</em> Four situations: living in a suitable region, relying on true persons, being rightly resolved in oneself, and past merit.
(Ka) “Thế nào là bốn pháp có nhiều lợi ích? Bốn bánh xe – sống ở nơi thích hợp, thân cận bậc chân nhân, tự mình hướng đến chánh đạo, và đã tạo phước từ trước. Bốn pháp này có nhiều lợi ích.”
Katame cattāro dhammā bhāvetabbā? Cattāro satipaṭṭhānā—idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu …pe… citte … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Ime cattāro dhammā bhāvetabbā.
<em>What four things should be developed?</em> The four kinds of mindfulness meditation. A mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
(Kha) “Thế nào là bốn pháp cần được tu tập? Bốn niệm xứ – này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trên các cảm thọ... cho đến... trên tâm... trên các pháp, vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Bốn pháp này cần được tu tập.”
Katame cattāro dhammā pariññeyyā? Cattāro āhārā—kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṁ catutthaṁ. Ime cattāro dhammā pariññeyyā.
<em>What four things should be completely understood?</em> Four foods: edible food, whether solid or subtle; contact is the second, mental intention the third, and consciousness the fourth.
(Ga) “Thế nào là bốn pháp cần được liễu tri? Bốn loại thực – đoàn thực, hoặc thô hoặc tế; xúc thực là thứ hai; tư niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư. Bốn pháp này cần được liễu tri.”
Katame cattāro dhammā pahātabbā? Cattāro oghā—kāmogho, bhavogho, diṭṭhogho, avijjogho. Ime cattāro dhammā pahātabbā.
<em>What four things should be given up?</em> Four floods: sensuality, desire for rebirth, views, and ignorance.
(Gha) “Thế nào là bốn pháp cần được đoạn trừ? Bốn bộc lưu – dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc. Bốn pháp này cần được đoạn trừ.”
Katame cattāro dhammā hānabhāgiyā? Cattāro yogā—kāmayogo, bhavayogo, diṭṭhiyogo, avijjāyogo. Ime cattāro dhammā hānabhāgiyā.
<em>What four things make things worse?</em> Four yokes: the yokes of sensuality, desire for rebirth, views, and ignorance.
(Ṅa) “Thế nào là bốn pháp thuộc phần thoái thất? Bốn ách – dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Bốn pháp này thuộc phần thoái thất.”
Katame cattāro dhammā visesabhāgiyā? Cattāro visaṁyogā—kāmayogavisaṁyogo, bhavayogavisaṁyogo, diṭṭhiyogavisaṁyogo, avijjāyogavisaṁyogo. Ime cattāro dhammā visesabhāgiyā.
<em>What four things lead to distinction?</em> Four kinds of unyoking: unyoking from the yokes of sensuality, desire for rebirth, views, and ignorance.
(Ca) “Thế nào là bốn pháp thuộc phần thù thắng? Bốn sự thoát ly – thoát ly dục ách, thoát ly hữu ách, thoát ly kiến ách, thoát ly vô minh ách. Bốn pháp này thuộc phần thù thắng.”
Katame cattāro dhammā duppaṭivijjhā? Cattāro samādhī—hānabhāgiyo samādhi, ṭhitibhāgiyo samādhi, visesabhāgiyo samādhi, nibbedhabhāgiyo samādhi. Ime cattāro dhammā duppaṭivijjhā.
<em>What four things are hard to comprehend?</em> Four kinds of immersion: immersion liable to decline, stable immersion, immersion that leads to distinction, and immersion that leads to penetration.
(Cha) “Thế nào là bốn pháp khó thông đạt? Bốn định – định thuộc phần thoái thất, định thuộc phần trì trệ, định thuộc phần thù thắng, định thuộc phần thể nhập. Bốn pháp này khó thông đạt.”
Katame cattāro dhammā uppādetabbā? Cattāri ñāṇāni—dhamme ñāṇaṁ, anvaye ñāṇaṁ, pariye ñāṇaṁ, sammutiyā ñāṇaṁ. Ime cattāro dhammā uppādetabbā.
<em>What four things should be produced?</em> Four knowledges: knowledge of the teaching, inferential knowledge, knowledge of encompassing, and conventional knowledge.
(Ja) “Thế nào là bốn pháp cần được làm cho sanh khởi? Bốn loại trí – trí về pháp, trí về tùy tri, trí về tha tâm, trí về tục đế. Bốn pháp này cần được làm cho sanh khởi.”
Katame cattāro dhammā abhiññeyyā? Cattāri ariyasaccāni—dukkhaṁ ariyasaccaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ. Ime cattāro dhammā abhiññeyyā.
<em>What four things should be directly known?</em> The four noble truths: suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering.
(Jha) “Thế nào là bốn pháp cần được thắng tri? Bốn Thánh đế – Thánh đế về khổ, Thánh đế về khổ tập, Thánh đế về khổ diệt, Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Bốn pháp này cần được thắng tri.”
Katame cattāro dhammā sacchikātabbā? Cattāri sāmaññaphalāni—sotāpattiphalaṁ, sakadāgāmiphalaṁ, anāgāmiphalaṁ, arahattaphalaṁ. Ime cattāro dhammā sacchikātabbā.
<em>What four things should be realized?</em> Four fruits of the ascetic life: stream-entry, once-return, non-return, and perfection.
(Ña) “Thế nào là bốn pháp cần được chứng ngộ? Bốn quả Sa-môn – quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán. Bốn pháp này cần được chứng ngộ.”
Iti ime cattārīsadhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these forty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
“Như vậy, bốn mươi pháp này là có thật, là chân thật, là như thật, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.”
Pañca dhammā bahukārā …pe… pañca dhammā sacchikātabbā.
Five things are helpful, etc.
355. “Năm pháp có nhiều lợi ích... cho đến... năm pháp cần được chứng ngộ.”
Katame pañca dhammā bahukārā? Pañca padhāniyaṅgāni—idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya. Asaṭho hoti amāyāvī yathābhūtamattānaṁ āvīkattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu. Āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Ime pañca dhammā bahukārā.
<em>What five things are helpful?</em> Five factors that support meditation. A mendicant has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They are rarely ill or unwell. Their stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation. They’re not devious or deceitful. They reveal themselves honestly to the Teacher or sensible spiritual companions. They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
(Ka) “Thế nào là năm pháp có nhiều lợi ích? Năm chi phần tinh cần – này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu có lòng tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai rằng: ‘Vì thế, Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy ít bệnh, ít não, có tiêu hóa tốt, không quá lạnh, không quá nóng, quân bình, thích hợp cho sự tinh cần. Vị ấy không xảo trá, không lừa dối, thể hiện bản thân như thật đối với bậc Đạo sư hoặc các vị đồng phạm hạnh có trí. Vị ấy sống tinh tấn, nỗ lực để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, kiên trì, bền chí, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Vị ấy có trí tuệ, có trí tuệ thấy được sự sanh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Năm pháp này có nhiều lợi ích.”
Katame pañca dhammā bhāvetabbā? Pañcaṅgiko sammāsamādhi—pītipharaṇatā, sukhapharaṇatā, cetopharaṇatā, ālokapharaṇatā, paccavekkhaṇanimittaṁ. Ime pañca dhammā bhāvetabbā.
<em>What five things should be developed?</em> Right immersion with five factors: pervasion with rapture, pervasion with pleasure, pervasion with mind, pervasion with light, and the basis for reviewing.
(Kha) “Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Chánh định có năm chi phần – sự biến mãn của hỷ, sự biến mãn của lạc, sự biến mãn của tâm, sự biến mãn của ánh sáng, và tướng để phản khán. Năm pháp này cần được tu tập.”
Katame pañca dhammā pariññeyyā? Pañcupādānakkhandhā—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho viññāṇupādānakkhandho. Ime pañca dhammā pariññeyyā.
<em>What five things should be completely understood?</em> Five grasping aggregates: form, feeling, perception, choices, and consciousness.
(Ga) “Thế nào là năm pháp cần được liễu tri? Năm thủ uẩn – sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Năm pháp này cần được liễu tri.”
Katame pañca dhammā pahātabbā? Pañca nīvaraṇāni—kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ. Ime pañca dhammā pahātabbā.
<em>What five things should be given up?</em> Five hindrances: sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt.
(Gha) “Thế nào là năm pháp cần được đoạn trừ? Năm triền cái – triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái hoài nghi. Năm pháp này cần được đoạn trừ.”
Katame pañca dhammā hānabhāgiyā? Pañca cetokhilā—idhāvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, āvuso, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Ayaṁ paṭhamo cetokhilo. Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati …pe… saṅghe kaṅkhati vicikicchati …pe… sikkhāya kaṅkhati vicikicchati …pe… sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, yo so, āvuso, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Ayaṁ pañcamo cetokhilo. Ime pañca dhammā hānabhāgiyā.
<em>What five things make things worse?</em> Five kinds of hard-heartedness. Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They’re uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness. Furthermore, a mendicant has doubts about the teaching … the Saṅgha … the training … A mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness.
Năm pháp nào thuộc phần suy thoái? Năm tâm hoang vu. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu đối với bậc Đạo Sư có sự hoài nghi, do dự, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào đối với bậc Đạo Sư có sự hoài nghi, do dự, không quyết đoán, không có niềm tin trong sạch, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Đây là tâm hoang vu thứ nhất. Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đối với Pháp có sự hoài nghi, do dự... (như trên)... đối với Tăng có sự hoài nghi, do dự... (như trên)... đối với học giới có sự hoài nghi, do dự... (như trên)... đối với các vị đồng phạm hạnh thì phẫn nộ, không hoan hỷ, có tâm tổn hại, sanh lòng chai cứng. Này chư hiền, vị tỳ khưu nào đối với các vị đồng phạm hạnh thì phẫn nộ, không hoan hỷ, có tâm tổn hại, sanh lòng chai cứng, tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Tâm của người nào không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự kiên trì, sự tinh tấn. Đây là tâm hoang vu thứ năm. Năm pháp này thuộc phần suy thoái.
Katame pañca dhammā visesabhāgiyā? Pañcindriyāni—saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ. Ime pañca dhammā visesabhāgiyā.
<em>What five things lead to distinction?</em> Five faculties: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Năm pháp nào thuộc phần thù thắng? Năm quyền: tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, và tuệ quyền. Năm pháp này thuộc phần thù thắng.
Katame pañca dhammā duppaṭivijjhā? Pañca nissaraṇiyā dhātuyo—idhāvuso, bhikkhuno kāme manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ kāmehi. Ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
<em>What five things are hard to comprehend?</em> Five elements of escape. A mendicant focuses on sensual pleasures, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on renunciation, on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from sensual pleasures. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of sensual pleasures, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from sensual pleasures is explained.
Năm pháp nào khó thể thông suốt? Năm giới có tính cách xuất ly. Này chư hiền, ở đây, khi vị tỳ khưu tác ý đến các dục, tâm không hướng đến, không có niềm tin trong sạch, không an trú, không giải thoát trong các dục. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự xuất gia, tâm hướng đến, có niềm tin trong sạch, an trú, giải thoát trong sự xuất gia. Tâm ấy của vị ấy đã khéo đi, khéo tu tập, khéo vượt lên, khéo giải thoát, không liên hệ với các dục. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên các dục, vị ấy được giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các dục.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ byāpādena. Ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on ill will, but their mind does not leap forth … But when they focus on good will, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from ill will. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of ill will, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from ill will is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến sân, tâm không hướng đến, không có niềm tin trong sạch, không an trú, không giải thoát trong sân. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sân, tâm hướng đến, có niềm tin trong sạch, an trú, giải thoát trong vô sân. Tâm ấy của vị ấy đã khéo đi, khéo tu tập, khéo vượt lên, khéo giải thoát, không liên hệ với sân. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên sân, vị ấy được giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi sân.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ vihesāya. Ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on harming, but their mind does not leap forth … But when they focus on compassion, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from harming. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of harming, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from harming is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến hại, tâm không hướng đến, không có niềm tin trong sạch, không an trú, không giải thoát trong hại. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô hại, tâm hướng đến, có niềm tin trong sạch, an trú, giải thoát trong vô hại. Tâm ấy của vị ấy đã khéo đi, khéo tu tập, khéo vượt lên, khéo giải thoát, không liên hệ với hại. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên hại, vị ấy được giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi hại.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno rūpe manasikaroto rūpesu cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ rūpehi. Ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Take another case where a mendicant focuses on form, but their mind does not leap forth … But when they focus on the formless, their mind leaps forth … Their mind is in a good state … well detached from forms. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of form, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from forms is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến các sắc, tâm không hướng đến, không có niềm tin trong sạch, không an trú, không giải thoát trong các sắc. Nhưng khi vị ấy tác ý đến vô sắc, tâm hướng đến, có niềm tin trong sạch, an trú, giải thoát trong vô sắc. Tâm ấy của vị ấy đã khéo đi, khéo tu tập, khéo vượt lên, khéo giải thoát, không liên hệ với các sắc. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên các sắc, vị ấy được giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi các sắc.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati na vimuccati. Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ visaṁyuttaṁ sakkāyena. Ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātā pariḷāhā, mutto so tehi. Na so taṁ vedanaṁ vedeti. Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ. Ime pañca dhammā duppaṭivijjhā.
Take a case where a mendicant focuses on substantial reality, but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. But when they focus on the cessation of substantial reality, their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. Their mind is in a good state, well developed, well risen, well freed, and well detached from substantial reality. They’re freed from the distressing and feverish defilements that arise because of substantial reality, so they don’t experience that kind of feeling. This is how the escape from substantial reality is explained.
Lại nữa, này chư hiền, khi vị tỳ khưu tác ý đến thân kiến, tâm không hướng đến, không có niềm tin trong sạch, không an trú, không giải thoát trong thân kiến. Nhưng khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt thân kiến, tâm hướng đến, có niềm tin trong sạch, an trú, giải thoát trong sự đoạn diệt thân kiến. Tâm ấy của vị ấy đã khéo đi, khéo tu tập, khéo vượt lên, khéo giải thoát, không liên hệ với thân kiến. Và những lậu hoặc, phiền não, nhiệt não nào sanh khởi do duyên thân kiến, vị ấy được giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không cảm thọ cảm giác ấy. Đây được gọi là sự xuất ly khỏi thân kiến. Năm pháp này khó thể thông suốt.
Katame pañca dhammā uppādetabbā? Pañca ñāṇiko sammāsamādhi: ‘ayaṁ samādhi paccuppannasukho ceva āyatiñca sukhavipāko’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati. ‘Ayaṁ samādhi ariyo nirāmiso’ti paccattaññeva ñāṇaṁ uppajjati. ‘Ayaṁ samādhi akāpurisasevito’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati. ‘Ayaṁ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodibhāvādhigato, na sasaṅkhāraniggayhavāritagato’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati. ‘So kho panāhaṁ imaṁ samādhiṁ satova samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’ti paccattaṁyeva ñāṇaṁ uppajjati. Ime pañca dhammā uppādetabbā.
<em>What five things should be produced?</em> Right immersion with five knowledges. The following knowledges arise for you personally: ‘This immersion is blissful now, and results in bliss in the future.’ ‘This immersion is noble and not of the flesh.’ ‘This immersion is not cultivated by reprobates.’ ‘This immersion is peaceful and sublime and tranquil and unified, not held in place by forceful suppression.’ ‘I mindfully enter into and emerge from this immersion.’
Năm pháp nào cần phải được làm cho sanh khởi? Chánh định có năm loại trí. Trí tự mình sanh khởi rằng: ‘Định này đem lại lạc trong hiện tại và có kết quả an lạc trong tương lai.’ Trí tự mình sanh khởi rằng: ‘Định này là thánh thiện, không thuộc về vật chất.’ Trí tự mình sanh khởi rằng: ‘Định này không phải là pháp được người hạ liệt thực hành.’ Trí tự mình sanh khởi rằng: ‘Định này là tịch tịnh, vi diệu, đạt được nhờ sự an tịnh, đạt được nhờ nhất tâm, không phải là pháp được duy trì bằng sự chế ngự và ngăn chặn có cố gắng.’ Trí tự mình sanh khởi rằng: ‘Ta nhập định này với chánh niệm, và ta xuất khỏi định này với chánh niệm.’ Năm pháp này cần phải được làm cho sanh khởi.
Katame pañca dhammā abhiññeyyā? Pañca vimuttāyatanāni—idhāvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī. Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ paṭhamaṁ vimuttāyatanaṁ.
<em>What five things should be directly known?</em> Five opportunities for freedom. Firstly, the Teacher or a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how the Teacher or a respected spiritual companion teaches it. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the first opportunity for freedom.
(Jha) "Năm pháp nào cần được thắng tri? Năm xứ sở của sự giải thoát. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, hoặc được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó (thuyết giảng). Này chư hiền, khi vị tỳ khưu được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, hoặc được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó thuyết giảng theo cách thức như thế nào, thì vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được giáo pháp trong pháp ấy theo cách thức như thế ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, người cảm nhận được giáo pháp, sự hân hoan sanh khởi; khi đã hoan hỷ, hỷ sanh khởi; khi có tâm hoan hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là xứ sở của sự giải thoát thứ nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ dutiyaṁ vimuttāyatanaṁ.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor a respected spiritual companion teaches Dhamma to a mendicant. But the mendicant teaches Dhamma in detail to others as they learned and memorized it. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how they teach it in detail to others as they learned and memorized it. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the second opportunity for freedom.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, cũng không được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó (thuyết giảng), nhưng vị ấy lại thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc. Này chư hiền, khi vị tỳ khưu thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc theo cách thức như thế nào, thì vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được giáo pháp trong pháp ấy theo cách thức như thế ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, người cảm nhận được giáo pháp, sự hân hoan sanh khởi; khi đã hoan hỷ, hỷ sanh khởi; khi có tâm hoan hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là xứ sở của sự giải thoát thứ hai.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti. Api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ tatiyaṁ vimuttāyatanaṁ.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma. But the mendicant rehearses the teaching in detail as they learned and memorized it. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how they rehearse it in detail as they learned and memorized it. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the third opportunity for freedom.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, cũng không được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó (thuyết giảng), và cũng không thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc. Nhưng vị ấy lại đọc tụng một cách rộng rãi về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc. Này chư hiền, khi vị tỳ khưu đọc tụng một cách rộng rãi về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc theo cách thức như thế nào, thì vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được giáo pháp trong pháp ấy theo cách thức như thế ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, người cảm nhận được giáo pháp, sự hân hoan sanh khởi; khi đã hoan hỷ, hỷ sanh khởi; khi có tâm hoan hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là xứ sở của sự giải thoát thứ ba.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti. Api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammapaṭisaṁvedī ca. Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammapaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ catutthaṁ vimuttāyatanaṁ.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma … nor does the mendicant rehearse the teaching. But the mendicant thinks about and considers the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how they think about and consider it in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the fourth opportunity for freedom.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, cũng không được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó (thuyết giảng), cũng không thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc, và cũng không đọc tụng một cách rộng rãi về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc. Nhưng vị ấy lại dùng tâm để tầm cầu, tứ sát, và dùng ý để quán chiếu về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc. Này chư hiền, khi vị tỳ khưu dùng tâm để tầm cầu, tứ sát, và dùng ý để quán chiếu về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc theo cách thức như thế nào, thì vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được giáo pháp trong pháp ấy theo cách thức như thế ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, người cảm nhận được giáo pháp, sự hân hoan sanh khởi; khi đã hoan hỷ, hỷ sanh khởi; khi có tâm hoan hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là xứ sở của sự giải thoát thứ tư.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno na heva kho satthā dhammaṁ deseti, aññataro vā garuṭṭhāniyo sabrahmacārī, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ deseti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena sajjhāyaṁ karoti, nāpi yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati; api ca khvassa aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya. Yathā yathā, āvuso, bhikkhuno aññataraṁ samādhinimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya tathā tathā so tasmiṁ dhamme atthappaṭisaṁvedī ca hoti dhammappaṭisaṁvedī ca. Tassa atthappaṭisaṁvedino dhammappaṭisaṁvedino pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati. Idaṁ pañcamaṁ vimuttāyatanaṁ. Ime pañca dhammā abhiññeyyā.
Furthermore, it may be that neither the Teacher nor … the mendicant teaches Dhamma … nor does the mendicant rehearse the teaching … or think about it. But a meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom. That mendicant feels inspired by the meaning and the teaching in that Dhamma, no matter how a meditation subject as a basis of immersion is properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom. Feeling inspired, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed. This is the fifth opportunity for freedom.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu không được bậc Đạo Sư thuyết giảng giáo pháp, cũng không được một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó (thuyết giảng), cũng không thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc, cũng không đọc tụng một cách rộng rãi về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc, và cũng không dùng tâm để tầm cầu, tứ sát, và dùng ý để quán chiếu về giáo pháp đã được nghe, đã được học thuộc; nhưng một định tướng nào đó đã được vị ấy khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhớ, và khéo thông suốt bằng trí tuệ. Này chư hiền, khi một định tướng nào đó đã được vị tỳ khưu khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo ghi nhớ, và khéo thông suốt bằng trí tuệ theo cách thức như thế nào, thì vị ấy cảm nhận được ý nghĩa và cảm nhận được giáo pháp trong pháp ấy theo cách thức như thế ấy. Đối với vị ấy, người cảm nhận được ý nghĩa, người cảm nhận được giáo pháp, sự hân hoan sanh khởi; khi đã hoan hỷ, hỷ sanh khởi; khi có tâm hoan hỷ, thân được khinh an; khi thân được khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Đây là xứ sở của sự giải thoát thứ năm. Năm pháp này cần được thắng tri.
Katame pañca dhammā sacchikātabbā? Pañca dhammakkhandhā—sīlakkhandho, samādhikkhandho, paññākkhandho, vimuttikkhandho, vimuttiñāṇadassanakkhandho. Ime pañca dhammā sacchikātabbā.
<em>What five things should be realized?</em> Five spectrums of the teaching: ethics, immersion, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom.
(Ña) "Năm pháp nào cần được chứng ngộ? Năm pháp uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, và giải thoát tri kiến uẩn. Năm pháp này cần được chứng ngộ.
Iti ime paññāsa dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these fifty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, năm mươi pháp này là chân thật, là xác thực, là như vậy, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Cha dhammā bahukārā …pe… cha dhammā sacchikātabbā.
Six things are helpful, etc.
356. Sáu pháp có nhiều hỗ trợ... cho đến... sáu pháp cần được chứng ngộ.
Katame cha dhammā bahukārā? Cha sāraṇīyā dhammā. Idhāvuso, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
<em>What six things are helpful?</em> Six warm-hearted qualities. Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private. This warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
(Ka) "Sáu pháp nào có nhiều hỗ trợ? Sáu pháp đáng ghi nhớ. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có thân nghiệp từ ái được thể hiện đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi công khai lẫn khi kín đáo. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp trì, không tranh cãi, hòa hợp, và nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có khẩu nghiệp từ ái... cho đến... đưa đến sự nhất trí.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness.
Này chư hiền, lại nữa, ý nghiệp từ của vị tỳ khưu... này... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đối với những lợi lộc đúng pháp, có được đúng pháp, cho đến chỉ là những gì còn lại trong bát, vị ấy không dùng riêng mà dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cũng đáng được ghi nhớ... này... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu, yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni, tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đối với những giới luật không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị lốm đốm, không bị vằn vện, có tính giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định, vị ấy sống đồng đẳng về giới với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng đáng được ghi nhớ... này... đưa đến sự hợp nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhi sāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo, saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Ime cha dhammā bahukārā.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. This warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đối với tri kiến nào là thánh thiện, có khả năng hướng xuất, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh cho người thực hành, vị ấy sống đồng đẳng về tri kiến với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng đáng được ghi nhớ, làm phát sinh lòng thương mến, làm phát sinh lòng kính trọng, đưa đến sự nhiếp trì, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất. Sáu pháp này có nhiều lợi ích.
Katame cha dhammā bhāvetabbā? Cha anussatiṭṭhānāni—buddhānussati, dhammānussati, saṅghānussati, sīlānussati, cāgānussati, devatānussati. Ime cha dhammā bhāvetabbā.
<em>What six things should be developed?</em> Six topics for recollection: the recollection of the Buddha, the teaching, the Saṅgha, ethics, generosity, and the deities.
(b) Sáu pháp nào cần được tu tập? Sáu đề mục tùy niệm: tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm Giới, tùy niệm Thí, tùy niệm Thiên. Sáu pháp này cần được tu tập.
Katame cha dhammā pariññeyyā? Cha ajjhattikāni āyatanāni—cakkhāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, manāyatanaṁ. Ime cha dhammā pariññeyyā.
<em>What six things should be completely understood?</em> Six interior sense fields: eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
(c) Sáu pháp nào cần được liễu tri? Sáu nội xứ: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Sáu pháp này cần được liễu tri.
Katame cha dhammā pahātabbā? Cha taṇhākāyā—rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā. Ime cha dhammā pahātabbā.
<em>What six things should be given up?</em> Six classes of craving: craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas.
(d) Sáu pháp nào cần được đoạn trừ? Sáu thân ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Sáu pháp này cần được đoạn trừ.
Katame cha dhammā hānabhāgiyā? Cha agāravā—idhāvuso, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso. Dhamme …pe… saṅghe … sikkhāya … appamāde … paṭisanthāre agāravo viharati appatisso. Ime cha dhammā hānabhāgiyā.
<em>What six things make things worse?</em> Six kinds of disrespect. A mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, the training, diligence, and hospitality.
(đ) Sáu pháp nào thuộc phần tổn giảm? Sáu sự không kính trọng. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống không kính trọng, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư. Đối với Pháp... này... đối với Tăng... đối với học giới... đối với sự không dể duôi... đối với sự tiếp đãi, vị ấy sống không kính trọng, không vâng phục. Sáu pháp này thuộc phần tổn giảm.
Katame cha dhammā visesabhāgiyā? Cha gāravā—idhāvuso, bhikkhu satthari sagāravo viharati sappatisso. Dhamme …pe… saṅghe … sikkhāya … appamāde … paṭisanthāre sagāravo viharati sappatisso. Ime cha dhammā visesabhāgiyā.
<em>What six things lead to distinction?</em> Six kinds of respect. A mendicant has respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, the training, diligence, and hospitality.
(e) Sáu pháp nào thuộc phần thù thắng? Sáu sự kính trọng. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sống có kính trọng, có vâng phục đối với bậc Đạo Sư. Đối với Pháp... này... đối với Tăng... đối với học giới... đối với sự không dể duôi... đối với sự tiếp đãi, vị ấy sống có kính trọng, có vâng phục. Sáu pháp này thuộc phần thù thắng.
Katame cha dhammā duppaṭivijjhā? Cha nissaraṇiyā dhātuyo—idhāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘mettā hi kho me, cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, atha ca pana me byāpādo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi. Na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ āvuso anavakāso yaṁ mettāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya. Atha ca panassa byāpādo cittaṁ pariyādāya ṭhassatīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, byāpādassa, yadidaṁ mettācetovimuttī’ti.
<em>What six things are hard to comprehend?</em> Six elements of escape. Take a mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by love. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow ill will still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! Don’t say that. Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. It’s impossible, reverend, it cannot happen that the heart’s release by love has been developed and properly implemented, yet somehow ill will still occupies the mind. For it is the heart’s release by love that is the escape from ill will.’
(g) Sáu pháp nào khó thể nhập? Sáu giới có khả năng xuất ly. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: 'Tâm giải thoát bằng từ của tôi đã được tu tập, làm cho sung mãn, làm như cỗ xe, làm như nền tảng, được thiết lập, được thực hành thuần thục, được khéo khởi sự. Thế nhưng, sân vẫn xâm chiếm tâm tôi và tồn tại'. Vị ấy nên được nói rằng: 'Chớ nói vậy, hiền giả chớ nói vậy, chớ vu khống Đức Thế Tôn. Vì vu khống Đức Thế Tôn là không tốt, Đức Thế Tôn không nói như vậy. Này chư hiền, đây là điều không thể xảy ra, không có cơ hội, rằng khi tâm giải thoát bằng từ đã được tu tập, làm cho sung mãn, làm như cỗ xe, làm như nền tảng, được thiết lập, được thực hành thuần thục, được khéo khởi sự, mà sân vẫn xâm chiếm tâm và tồn tại, trường hợp ấy không xảy ra. Này chư hiền, chính tâm giải thoát bằng từ này là sự xuất ly khỏi sân'.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘karuṇā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Atha ca pana me vihesā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo, ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi …pe… nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vihesāya, yadidaṁ karuṇācetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by compassion. I’ve cultivated it, made it my vehicle and my basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Yet somehow the thought of harming still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by compassion that is the escape from thoughts of harming.’
Này chư hiền, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: 'Tâm giải thoát bằng bi của tôi đã được tu tập, làm cho sung mãn, làm như cỗ xe, làm như nền tảng, được thiết lập, được thực hành thuần thục, được khéo khởi sự. Thế nhưng, sự não hại vẫn xâm chiếm tâm tôi và tồn tại'. Vị ấy nên được nói rằng: 'Chớ nói vậy, hiền giả chớ nói vậy, chớ vu khống Đức Thế Tôn... này... Này chư hiền, chính tâm giải thoát bằng bi này là sự xuất ly khỏi sự não hại'.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘muditā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe… atha ca pana me arati cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe… nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, aratiyā, yadidaṁ muditācetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by rejoicing. … Yet somehow discontent still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by rejoicing that is the escape from discontent.’
Này chư hiền, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: 'Tâm giải thoát bằng hỷ của tôi đã được tu tập... này... Thế nhưng, sự không hoan hỷ vẫn xâm chiếm tâm tôi và tồn tại'. Vị ấy nên được nói rằng: 'Chớ nói vậy, hiền giả chớ nói vậy... này... Này chư hiền, chính tâm giải thoát bằng hỷ này là sự xuất ly khỏi sự không hoan hỷ'.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘upekkhā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe… atha ca pana me rāgo cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe… nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, rāgassa yadidaṁ upekkhācetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the heart’s release by equanimity. … Yet somehow desire still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the heart’s release by equanimity that is the escape from desire.’
Này chư hiền, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: 'Tâm giải thoát bằng xả của tôi đã được tu tập... này... Thế nhưng, tham ái vẫn xâm chiếm tâm tôi và tồn tại'. Vị ấy nên được nói rằng: 'Chớ nói vậy, hiền giả chớ nói vậy... này... Này chư hiền, chính tâm giải thoát bằng xả này là sự xuất ly khỏi tham ái'.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘animittā hi kho me cetovimutti bhāvitā …pe… atha ca pana me nimittānusāri viññāṇaṁ hotī’ti. So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca …pe… nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, sabbanimittānaṁ yadidaṁ animittā cetovimuttī’ti.
Take another mendicant who says: ‘I’ve developed the signless release of the heart. … Yet somehow my consciousness still follows after signs.’ They should be told, ‘Not so, venerable! … For it is the signless release of the heart that is the escape from all signs.’
Này chư hiền, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu có thể nói như sau: 'Tâm giải thoát vô tướng của tôi đã được tu tập... này... Thế nhưng, thức của tôi lại đi theo các tướng'. Vị ấy nên được nói rằng: 'Chớ nói vậy, hiền giả chớ nói vậy... này... Này chư hiền, chính tâm giải thoát vô tướng này là sự xuất ly khỏi tất cả các tướng'.
Idha panāvuso, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘asmīti kho me vigataṁ, ayamahamasmīti na samanupassāmi, atha ca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. So: ‘mā hevan’tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṁ avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Aṭṭhānametaṁ, āvuso, anavakāso yaṁ asmīti vigate ayamahamasmīti asamanupassato. Atha ca panassa vicikicchākathaṅkathāsallaṁ cittaṁ pariyādāya ṭhassati, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Nissaraṇaṁ hetaṁ, āvuso, vicikicchākathaṅkathāsallassa, yadidaṁ asmimānasamugghāto’ti. Ime cha dhammā duppaṭivijjhā.
Take another mendicant who says: ‘I’m rid of the conceit “I am”. And I don’t regard anything as “I am this”. Yet somehow the dart of doubt and indecision still occupies my mind.’ They should be told, ‘Not so, venerable! Don’t say that. Don’t misrepresent the Buddha, for misrepresentation of the Buddha is not good. And the Buddha would not say that. It’s impossible, reverend, it cannot happen that the conceit “I am” has been done away with, and nothing is regarded as “I am this”, yet somehow the dart of doubt and indecision still occupy the mind. For it is the uprooting of the conceit “I am” that is the escape from the dart of doubt and indecision.’
Này chư hiền, ở đây, có vị tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Đối với tôi, (ý niệm) “tôi là” đã được loại bỏ, tôi không còn quán xét “đây là tôi”, tuy nhiên, mũi tên nghi ngờ và phân vân vẫn còn xâm chiếm và tồn tại trong tâm tôi.’ Vị ấy nên được trả lời rằng: ‘Thưa hiền giả, chớ có nói như vậy. Thưa hiền giả, chớ có nói như vậy, chớ có vu khống Đức Thế Tôn. Việc vu khống Đức Thế Tôn là không tốt. Đức Thế Tôn sẽ không nói như vậy. Này chư hiền, điều này không thể xảy ra, không có trường hợp nào mà khi (ý niệm) “tôi là” đã được loại bỏ, khi không còn quán xét “đây là tôi”, mà mũi tên nghi ngờ và phân vân lại có thể xâm chiếm và tồn tại trong tâm. Trường hợp ấy không thể có. Này chư hiền, chính sự nhổ bật ngã mạn “tôi là” này là lối thoát khỏi mũi tên nghi ngờ và phân vân.’ Sáu pháp này thật khó thâm nhập.
Katame cha dhammā uppādetabbā? Cha satatavihārā. Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Ime cha dhammā uppādetabbā.
<em>What six things should be produced?</em> Six consistent responses. A mendicant, seeing a sight with their eyes, is neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue …
Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they’re neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware.
(Ja) Sáu pháp nào cần được phát triển? Sáu pháp thường trú. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không vui mừng cũng không buồn rầu, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai... cho đến... sau khi ngửi mùi bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi xúc chạm bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, vị ấy không vui mừng cũng không buồn rầu, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sáu pháp này cần được phát triển.
Katame cha dhammā abhiññeyyā? Cha anuttariyāni—dassanānuttariyaṁ, savanānuttariyaṁ, lābhānuttariyaṁ, sikkhānuttariyaṁ, pāricariyānuttariyaṁ, anussatānuttariyaṁ. Ime cha dhammā abhiññeyyā.
<em>What six things should be directly known?</em> Six unsurpassable things: the unsurpassable seeing, listening, acquisition, training, service, and recollection.
(Jha) Sáu pháp nào cần được thắng tri? Sáu pháp vô thượng: thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi lộc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tưởng niệm vô thượng. Sáu pháp này cần được thắng tri.
Katame cha dhammā sacchikātabbā? Cha abhiññā—idhāvuso, bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
<em>What six things should be realized?</em> Six direct knowledges. A mendicant wields the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity.
(Ña) Sáu pháp nào cần được chứng ngộ? Sáu thắng trí. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu chứng nghiệm được các loại thần thông: một mình hiện ra nhiều hình, nhiều hình hiện ra một mình; hiện hình, biến hình; đi xuyên tường, xuyên thành, xuyên núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ trồi lên trong đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim có cánh; với bàn tay, vị ấy chạm và xoa mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy lực như vậy; vị ấy dùng thân để điều khiển quyền lực cho đến cõi Phạm thiên.
Dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.
Với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu việt cõi người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần.
Parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti, sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāti …pe… avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāti.
They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind.
Vị ấy biết được tâm của các chúng sanh khác, của các người khác bằng tâm của mình. Vị ấy biết tâm có tham là tâm có tham... cho đến... hoặc biết tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
They recollect many kinds of past lives, with features and details.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cụ thể là một đời... cho đến... như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng.
Dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti …pe…
With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt cõi người, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết đi và đang sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, thiện thú và ác thú; vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ... cho đến...
Āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ime cha dhammā sacchikātabbā.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình thắng tri, chứng ngộ và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Sáu pháp này cần được chứng ngộ.
Iti ime saṭṭhi dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these sixty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, sáu mươi pháp này là có thật, là chân thật, là như vậy, không sai khác, không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng chánh giác.
Satta dhammā bahukārā …pe… satta dhammā sacchikātabbā.
Seven things are helpful, etc.
357. Bảy pháp có nhiều công đức... cho đến... bảy pháp cần được chứng ngộ.
Katame satta dhammā bahukārā? Satta ariyadhanāni—saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hiridhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ. Ime satta dhammā bahukārā.
<em>What seven things are helpful?</em> Seven riches of the noble ones: the riches of faith, ethics, conscience, prudence, learning, generosity, and wisdom.
(Ka) Bảy pháp nào có nhiều công đức? Bảy thánh tài sản: tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Bảy pháp này có nhiều công đức.
Katame satta dhammā bhāvetabbā? Satta sambojjhaṅgā—satisambojjhaṅgo, dhammavicayasambojjhaṅgo, vīriyasambojjhaṅgo, pītisambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhisambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo. Ime satta dhammā bhāvetabbā.
<em>What seven things should be developed?</em> Seven awakening factors: mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity.
(Kha) Bảy pháp nào cần được tu tập? Bảy giác chi: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Bảy pháp này cần được tu tập.
Katame satta dhammā pariññeyyā? Satta viññāṇaṭṭhitiyo—santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Ayaṁ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti.
<em>What seven things should be completely understood?</em> Seven planes of consciousness. There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld. This is the first plane of consciousness.
(Ga) Bảy pháp nào cần được liễu tri? Bảy thức trú. Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng khác nhau, ví như loài người, một số chư thiên và một số các loài trong cõi đoạ. Đây là thức trú thứ nhất.
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. Ayaṁ dutiyā viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption. This is the second plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân khác nhau, tưởng giống nhau, ví như chư thiên cõi Phạm chúng, những vị được sanh lần đầu tiên. Đây là thức trú thứ hai.
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā. Ayaṁ tatiyā viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of streaming radiance. This is the third plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân giống nhau, tưởng khác nhau, ví như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là thức trú thứ ba.
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Ayaṁ catutthī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty. This is the fourth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân giống nhau, tưởng giống nhau, ví như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là thức trú thứ tư.
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. Ayaṁ pañcamī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space. This is the fifth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do hoàn toàn vượt qua sắc tưởng... cho đến... đạt đến cõi Không Vô Biên Xứ với nhận thức ‘hư không là vô biên’. Đây là thức trú thứ năm.
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. Ayaṁ chaṭṭhī viññāṇaṭṭhiti.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness. This is the sixth plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do hoàn toàn vượt qua cõi Không Vô Biên Xứ, đạt đến cõi Thức Vô Biên Xứ với nhận thức ‘thức là vô biên’. Đây là thức trú thứ sáu.
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā. Ayaṁ sattamī viññāṇaṭṭhiti. Ime satta dhammā pariññeyyā.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness. This is the seventh plane of consciousness.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do hoàn toàn vượt qua cõi Thức Vô Biên Xứ, đạt đến cõi Vô Sở Hữu Xứ với nhận thức ‘không có gì cả’. Đây là thức trú thứ bảy. Bảy pháp này cần được liễu tri.
Katame satta dhammā pahātabbā? Sattānusayā—kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo. Ime satta dhammā pahātabbā.
<em>What seven things should be given up?</em> Seven underlying tendencies: sensual desire, aversion, views, doubt, conceit, desire for continued existence, and ignorance.
(d) Bảy pháp nào cần phải đoạn trừ? Bảy tùy miên: Dục ái tùy miên, sân hận tùy miên, tà kiến tùy miên, hoài nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên. Bảy pháp này cần phải đoạn trừ.
Katame satta dhammā hānabhāgiyā? Satta asaddhammā—idhāvuso, bhikkhu assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti. Ime satta dhammā hānabhāgiyā.
<em>What seven things make things worse?</em> Seven bad qualities: a mendicant is faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless.
(đ) Bảy pháp nào thuộc phần tổn giảm? Bảy phi pháp: Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu không có tín, không có tàm, không có quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, và không có trí tuệ. Bảy pháp này thuộc phần tổn giảm.
Katame satta dhammā visesabhāgiyā? Satta saddhammā—idhāvuso, bhikkhu saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti. Ime satta dhammā visesabhāgiyā.
<em>What seven things lead to distinction?</em> Seven good qualities: a mendicant is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise.
(e) Bảy pháp nào thuộc phần thù thắng? Bảy diệu pháp: Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu có tín, có tàm, có quý, nghe nhiều, tinh cần tinh tấn, có niệm hiện tiền, và có trí tuệ. Bảy pháp này thuộc phần thù thắng.
Katame satta dhammā duppaṭivijjhā? Satta sappurisadhammā—idhāvuso, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaññū ca. Ime satta dhammā duppaṭivijjhā.
<em>What seven things are hard to comprehend?</em> Seven aspects of the teachings of the true persons: a mendicant knows the teachings, knows the meaning, knows themselves, knows moderation, knows the right time, knows assemblies, and knows individuals.
(g) Bảy pháp nào khó thông đạt? Bảy pháp của bậc chân nhân: Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu là người biết pháp, biết nghĩa, biết mình, biết chừng mực, biết thời, biết hội chúng, và biết người. Bảy pháp này khó thông đạt.
Katame satta dhammā uppādetabbā? Satta saññā—aniccasaññā, anattasaññā, asubhasaññā, ādīnavasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā. Ime satta dhammā uppādetabbā.
<em>What seven things should be produced?</em> Seven perceptions: the perception of impermanence, the perception of not-self, the perception of ugliness, the perception of drawbacks, the perception of giving up, the perception of fading away, and the perception of cessation.
(h) Bảy pháp nào cần phải làm cho sanh khởi? Bảy tưởng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, nguy hại tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, và đoạn diệt tưởng. Bảy pháp này cần phải làm cho sanh khởi.
Katame satta dhammā abhiññeyyā? Satta niddasavatthūni—idhāvuso, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti, āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo. Dhammanisantiyā tibbacchando hoti, āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo. Icchāvinaye tibbacchando hoti, āyatiñca icchāvinaye avigatapemo. Paṭisallāne tibbacchando hoti, āyatiñca paṭisallāne avigatapemo. Vīriyārambhe tibbacchando hoti, āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo. Satinepakke tibbacchando hoti, āyatiñca satinepakke avigatapemo. Diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti, āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo. Ime satta dhammā abhiññeyyā.
<em>What seven things should be directly known?</em> Seven qualifications for graduation. A mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future.
(i) Bảy pháp nào cần phải thắng tri? Bảy sự việc của bậc vô học: Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu có ước muốn mãnh liệt trong việc thọ trì học giới, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc thọ trì học giới. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong việc thẩm sát pháp, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc thẩm sát pháp. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong việc điều phục dục vọng, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc điều phục dục vọng. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong việc độc cư, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc độc cư. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong việc khởi sự tinh tấn, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc khởi sự tinh tấn. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong chánh niệm và sự thận trọng, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với chánh niệm và sự thận trọng. Vị ấy có ước muốn mãnh liệt trong việc thông đạt tri kiến, và trong tương lai không từ bỏ lòng yêu mến đối với việc thông đạt tri kiến. Bảy pháp này cần phải thắng tri.
Katame satta dhammā sacchikātabbā? Satta khīṇāsavabalāni—idhāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yaṁpāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
<em>What seven things should be realized?</em> Seven powers of one who has ended the defilements. Firstly, a mendicant with defilements ended has clearly seen with right wisdom all conditions as truly impermanent. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
(j) Bảy pháp nào cần phải chứng ngộ? Bảy lậu tận lực: Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, nhờ chánh trí tuệ, đã khéo thấy như thật tất cả các hành là vô thường. Này chư hiền, việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, nhờ chánh trí tuệ, đã khéo thấy như thật tất cả các hành là vô thường, đây cũng là một năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has clearly seen with right wisdom that sensual pleasures are truly like a pit of glowing coals. …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, nhờ chánh trí tuệ, đã khéo thấy như thật các dục ví như hố than hừng. Này chư hiền, ... cho đến ... ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantībhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi. Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Furthermore, the mind of a mendicant with defilements ended slants, slopes, and inclines to seclusion. They’re withdrawn, loving renunciation, and have totally eliminated defiling influences. …
Lại nữa, này chư hiền, tâm của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng về viễn ly, an trú trong viễn ly, ưa thích xuất ly, đã chấm dứt hoàn toàn các pháp thuộc về lậu hoặc. Này chư hiền, ... cho đến ... ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā. Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the four kinds of mindfulness meditation. …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, khéo tu tập bốn niệm xứ. Này chư hiền, ... cho đến ... ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the five faculties. …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, khéo tu tập năm căn. Này chư hiền, ... cho đến ... ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā. Yaṁpāvuso …pe… ‘khīṇā me āsavā’ti.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the seven awakening factors. …
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, khéo tu tập bảy giác chi. Này chư hiền, ... cho đến ... ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’
Puna caparaṁ, āvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito. Yaṁpāvuso, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Ime satta dhammā sacchikātabbā.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the noble eightfold path. … This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, khéo tu tập Thánh đạo tám ngành. Này chư hiền, việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, khéo tu tập Thánh đạo tám ngành, đây cũng là một năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của tôi đã được đoạn tận.’ Bảy pháp này cần phải chứng ngộ.
Itime sattati dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these seventy things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Bảy mươi pháp này là như thật, là chân xác, là như vậy, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first recitation section is complete.
Dứt phẩm tụng thứ nhất.
Aṭṭha dhammā bahukārā …pe… aṭṭha dhammā sacchikātabbā.
Eight things are helpful, etc.
358. Tám pháp có nhiều công năng ... cho đến ... tám pháp cần phải chứng ngộ.
Katame aṭṭha dhammā bahukārā? Aṭṭha hetū aṭṭha paccayā ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattanti. Katame aṭṭha? Idhāvuso, bhikkhu satthāraṁ upanissāya viharati aññataraṁ vā garuṭṭhāniyaṁ sabrahmacāriṁ, yatthassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti pemañca gāravo ca. Ayaṁ paṭhamo hetu paṭhamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
<em>What eight things are helpful?</em> There are eight causes and reasons that lead to acquiring the wisdom fundamental to the spiritual life, and to its increase, growth, development, and fulfillment once it has been acquired. What eight? It’s when a mendicant lives relying on the Teacher or a spiritual companion in a teacher’s role. And they set up a keen sense of conscience and prudence for them, with warmth and respect. This is the first cause.
(a) Tám pháp nào có nhiều công năng? Tám nhân, tám duyên này đưa đến sự chứng đắc trí tuệ thuộc sơ khởi phạm hạnh chưa được chứng đắc, và khi đã chứng đắc, đưa đến sự tăng trưởng, quảng đại, tu tập, và viên mãn. Tám pháp ấy là gì? Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu sống nương tựa vào bậc Đạo sư hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính nào khác, nơi vị ấy tàm và quý mãnh liệt được thiết lập, cùng với lòng yêu mến và kính trọng. Đây là nhân thứ nhất, là duyên thứ nhất đưa đến sự chứng đắc trí tuệ thuộc sơ khởi phạm hạnh chưa được chứng đắc, và khi đã chứng đắc, đưa đến sự tăng trưởng, quảng đại, tu tập, và viên mãn.
Taṁ kho pana satthāraṁ upanissāya viharati aññataraṁ vā garuṭṭhāniyaṁ sabrahmacāriṁ, yatthassa tibbaṁ hirottappaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti pemañca gāravo ca. Te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati: ‘idaṁ, bhante, kathaṁ? Imassa ko attho’ti? Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti. Ayaṁ dutiyo hetu dutiyo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya, vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
When a mendicant lives relying on the Teacher or a spiritual companion in a teacher’s role—with a keen sense of conscience and prudence for them, with warmth and respect—from time to time they go and ask them questions: ‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’ Those venerables clarify what is unclear, reveal what is obscure, and dispel doubt regarding the many doubtful matters. This is the second cause.
Vị ấy sống nương tựa vào vị đạo sư ấy, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng tôn kính nào đó, là người mà vị ấy có lòng tàm quý mãnh liệt, có lòng thương mến và kính trọng. Vị ấy thỉnh thoảng đến gần các vị ấy để hỏi han, thẩm vấn: ‘Thưa ngài, điều này là thế nào? Ý nghĩa của điều này là gì?’ Đối với vị ấy, các vị tôn giả ấy đã làm cho sáng tỏ điều chưa được sáng tỏ, đã làm cho rõ ràng điều chưa được rõ ràng, và đã xua tan sự hoài nghi về các pháp ở nhiều phương diện đáng hoài nghi. Đây là nhân thứ hai, là duyên thứ hai, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Taṁ kho pana dhammaṁ sutvā dvayena vūpakāsena sampādeti—kāyavūpakāsena ca cittavūpakāsena ca. Ayaṁ tatiyo hetu tatiyo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
After hearing that teaching they perfect withdrawal of both body and mind. This is the third cause.
Sau khi đã nghe pháp ấy, vị ấy thành tựu hai loại viễn ly: thân viễn ly và tâm viễn ly. Đây là nhân thứ ba, là duyên thứ ba, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Ayaṁ catuttho hetu catuttho paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is the fourth cause.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống được phòng hộ bởi sự phòng hộ của giới bổn, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Đây là nhân thứ tư, là duyên thứ tư, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Ayaṁ pañcamo hetu pañcamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. This is the fifth cause.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu là người đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào có sự tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, đã được ghi nhớ, đã được thực hành quen thuộc bằng lời nói, đã được quán xét bằng ý, đã được khéo thông đạt bằng trí tuệ. Đây là nhân thứ năm, là duyên thứ năm, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Ayaṁ chaṭṭho hetu chaṭṭho paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. This is the sixth cause.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu sống với tinh tấn đã được khởi sự để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, là người có sức mạnh, có sự kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Đây là nhân thứ sáu, là duyên thứ sáu, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato. Cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. Ayaṁ sattamo hetu sattamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. This is the seventh cause.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu là người có chánh niệm, có đầy đủ chánh niệm và sự thận trọng tối thượng, có thể ghi nhớ, có thể hồi tưởng lại việc đã làm từ lâu và lời đã nói từ lâu. Đây là nhân thứ bảy, là duyên thứ bảy, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu, udayabbayānupassī viharati: ‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo; iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo; iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo; iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti. Ayaṁ aṭṭhamo hetu aṭṭhamo paccayo ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya, paṭiladdhāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā saṁvattati. Ime aṭṭha dhammā bahukārā.
Furthermore, a mendicant meditates observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ This is the eighth cause.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu sống quán xét sự sanh diệt ở năm thủ uẩn: ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ... Đây là tưởng... Đây là các hành... Đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Đây là nhân thứ tám, là duyên thứ tám, đưa đến việc thành tựu trí tuệ thuộc về phạm hạnh sơ khởi vốn chưa được thành tựu, và đưa đến sự tăng trưởng, sự rộng lớn, sự tu tập, sự viên mãn của trí tuệ đã được thành tựu. Tám pháp này là những pháp có nhiều sự hỗ trợ.
Katame aṭṭha dhammā bhāvetabbā? Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. Ime aṭṭha dhammā bhāvetabbā.
<em>What eight things should be developed?</em> The noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
(b) Tám pháp nào cần được tu tập? Đó là Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Tám pháp này cần được tu tập.
Katame aṭṭha dhammā pariññeyyā? Aṭṭha lokadhammā—lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca. Ime aṭṭha dhammā pariññeyyā.
<em>What eight things should be completely understood?</em> Eight worldly conditions: gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, pleasure and pain.
(c) Tám pháp nào cần được liễu tri? Đó là tám pháp thế gian: được và không được, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ. Tám pháp này cần được liễu tri.
Katame aṭṭha dhammā pahātabbā? Aṭṭha micchattā—micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati, micchāsamādhi. Ime aṭṭha dhammā pahātabbā.
<em>What eight things should be given up?</em> Eight wrong ways: wrong view, wrong purpose, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong immersion.
(d) Tám pháp nào cần được đoạn trừ? Đó là tám sự sai lầm: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Tám pháp này cần được đoạn trừ.
Katame aṭṭha dhammā hānabhāgiyā? Aṭṭha kusītavatthūni. Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti, tassa evaṁ hoti: ‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ paṭhamaṁ kusītavatthu.
<em>What eight things make things worse?</em> Eight grounds for laziness. Firstly, a mendicant has some work to do. They think: ‘I have some work to do. But while doing it my body will get tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the first ground for laziness.
(e) Tám pháp nào thuộc về phần suy thoái? Đó là tám cơ sở của sự lười biếng. Này các hiền hữu, ở đây vị tỳ khưu có công việc phải làm, vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ có công việc phải làm, và trong khi làm việc, thân của ta sẽ mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, không khởi sự tinh tấn để chứng đạt điều chưa chứng đạt, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là cơ sở thứ nhất của sự lười biếng.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho pana me karontassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe… idaṁ dutiyaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has done some work. They think: ‘I’ve done some work. But while working my body got tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the second ground for laziness.
Lại nữa, này các hiền hữu, vị tỳ khưu đã làm xong công việc. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã làm xong công việc, và trong khi làm việc, thân của ta đã mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, không khởi sự tinh tấn... Đây là cơ sở thứ hai của sự lười biếng.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilamissati, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe… idaṁ tatiyaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has to go on a journey. They think: ‘I have to go on a journey. But while walking my body will get tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the third ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu phải đi đường. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ phải đi đường, và trong khi đi đường, thân của ta sẽ mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, không khởi sự tinh tấn... Đây là trường hợp biếng nhác thứ ba.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho pana me gacchantassa kāyo kilanto, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati, na vīriyaṁ ārabhati …pe… idaṁ catutthaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has gone on a journey. They think: ‘I’ve gone on a journey. But while walking my body got tired. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the fourth ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đã đi đường xong. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã đi đường xong, trong khi đi đường thân của ta đã mệt mỏi. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống, không khởi sự tinh tấn... Đây là trường hợp biếng nhác thứ tư.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo kilanto akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti …pe… idaṁ pañcamaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, but they didn’t get to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, but I didn’t get to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is tired and unfit for work. I’d better have a lie down.’… This is the fifth ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta, trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Thân của ta đây mệt mỏi, không thích hợp để làm việc. Thôi, ta hãy nằm xuống.’... Đây là trường hợp biếng nhác thứ năm.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo garuko akammañño, māsācitaṁ maññe, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati …pe… idaṁ chaṭṭhaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, and they got to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, and I got to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is heavy, unfit for work, like I’ve just eaten a load of beans. I’d better have a lie down.’… They lie down, and don’t rouse energy … This is the sixth ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta, trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Thân của ta đây nặng nề, không thích hợp để làm việc, ta nghĩ nó giống như bị nhồi đậu. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống... Đây là trường hợp biếng nhác thứ sáu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho, tassa evaṁ hoti: ‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho atthi kappo nipajjituṁ, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati …pe… idaṁ sattamaṁ kusītavatthu.
Furthermore, a mendicant feels a little sick. They think: ‘I feel a little sick. Lying down would be good for me. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the seventh ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, một cơn bệnh nhẹ khởi lên nơi vị tỳ khưu. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Cơn bệnh nhẹ này đã khởi lên nơi ta, có lý do để nằm xuống. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống... Đây là trường hợp biếng nhác thứ bảy.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānāvuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gilānāvuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā. Tassa me kāyo dubbalo akammañño, handāhaṁ nipajjāmī’ti. So nipajjati …pe… idaṁ aṭṭhamaṁ kusītavatthu. Ime aṭṭha dhammā hānabhāgiyā.
Furthermore, a mendicant has recently recovered from illness. They think: ‘I’ve recently recovered from illness. My body is weak and unfit for work. I’d better have a lie down.’ They lie down, and don’t rouse energy … This is the eighth ground for laziness.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu vừa khỏi bệnh, mới bình phục không lâu sau cơn bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta vừa khỏi bệnh, mới bình phục không lâu sau cơn bệnh. Thân của ta đây yếu ớt, không thích hợp để làm việc. Thôi, ta hãy nằm xuống.’ Vị ấy nằm xuống... Đây là trường hợp biếng nhác thứ tám. Tám pháp này thuộc phần suy thoái.
Katame aṭṭha dhammā visesabhāgiyā? Aṭṭha ārambhavatthūni. Idhāvuso, bhikkhunā kammaṁ kātabbaṁ hoti, tassa evaṁ hoti: ‘kammaṁ kho me kātabbaṁ bhavissati, kammaṁ kho pana me karontena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. So vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ paṭhamaṁ ārambhavatthu.
<em>What eight things lead to distinction?</em> Eight grounds for arousing energy. Firstly, a mendicant has some work to do. They think: ‘I have some work to do. While working it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ They rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the first ground for arousing energy.
Thế nào là tám pháp thuộc phần thù thắng? Tám trường hợp để khởi sự tinh tấn. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có công việc phải làm. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ có công việc phải làm, và trong khi làm việc, ta sẽ không dễ dàng tác ý đến lời dạy của chư Phật. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn để đạt đến điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khởi sự tinh tấn để đạt đến điều chưa đạt, để chứng đắc điều chưa chứng đắc, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ. Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ nhất.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā kammaṁ kataṁ hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho kammaṁ akāsiṁ, kammaṁ kho panāhaṁ karonto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ dutiyaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has done some work. They think: ‘I’ve done some work. While I was working I wasn’t able to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the second ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đã làm xong công việc. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã làm xong công việc, và trong khi làm việc, ta đã không thể tác ý đến lời dạy của chư Phật. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ hai.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gantabbo hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘maggo kho me gantabbo bhavissati, maggaṁ kho pana me gacchantena na sukaraṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ tatiyaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has to go on a journey. They think: ‘I have to go on a journey. While walking it’s not easy to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the third ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu phải đi đường. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta sẽ phải đi đường, và trong khi đi đường, ta sẽ không dễ dàng tác ý đến lời dạy của chư Phật. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ ba.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhunā maggo gato hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho maggaṁ agamāsiṁ, maggaṁ kho panāhaṁ gacchanto nāsakkhiṁ buddhānaṁ sāsanaṁ manasikātuṁ, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ catutthaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has gone on a journey. They think: ‘I’ve gone on a journey. While I was walking I wasn’t able to focus on the instructions of the Buddhas. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the fourth ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu đã đi đường xong. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã đi đường xong, và trong khi đi đường, ta đã không thể tác ý đến lời dạy của chư Phật. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ tư.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto na labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto nālatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, tassa me kāyo lahuko kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ pañcamaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, but they didn’t get to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, but I didn’t get to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is light and fit for work. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the fifth ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta, trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã không nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Thân của ta đây nhẹ nhàng, thích hợp để làm việc. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ năm.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto labhati lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya caranto alatthaṁ lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Tassa me kāyo balavā kammañño, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ chaṭṭhaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant has wandered for alms, and they got to fill up on as much food as they like, coarse or fine. They think: ‘I’ve wandered for alms, and I got to fill up on as much food as I like, coarse or fine. My body is strong and fit for work. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the sixth ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta, trong khi đi khất thực ở làng hoặc thị trấn, đã nhận được vật thực thô hay ngon cho đến mức vừa đủ no. Thân của ta đây có sức mạnh, thích hợp để làm việc. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ sáu.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhuno uppanno hoti appamattako ābādho. Tassa evaṁ hoti: ‘uppanno kho me ayaṁ appamattako ābādho ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ me ābādho pavaḍḍheyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi …pe… idaṁ sattamaṁ ārambhavatthu.
Furthermore, a mendicant feels a little sick. They think: ‘I feel a little sick. It’s possible this illness will worsen. I’d better preemptively rouse up energy.’… This is the seventh ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, một cơn bệnh nhẹ khởi lên nơi vị tỳ khưu. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Cơn bệnh nhẹ này đã khởi lên nơi ta. Có khả năng là cơn bệnh này của ta sẽ tăng thêm. Thôi, ta hãy khởi sự tinh tấn...’ Đây là trường hợp để khởi sự tinh tấn thứ bảy.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu gilānā vuṭṭhito hoti aciravuṭṭhito gelaññā. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā, ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ me ābādho paccudāvatteyya, handāhaṁ vīriyaṁ ārabhāmi appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāyā’ti. So vīriyaṁ ārabhati appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Idaṁ aṭṭhamaṁ ārambhavatthu. Ime aṭṭha dhammā visesabhāgiyā.
Furthermore, a mendicant has recently recovered from illness. They think: ‘I’ve recently recovered from illness. It’s possible the illness will come back. I’d better preemptively rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized.’ They rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. This is the eighth ground for arousing energy.
Này chư hiền, lại nữa, vị tỳ khưu vừa khỏi bệnh, mới khỏi bệnh chưa bao lâu. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta vừa khỏi bệnh, mới khỏi bệnh chưa bao lâu. Có khả năng là bệnh của ta sẽ tái phát. Vậy ta hãy tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, để thực chứng điều chưa thực chứng.’ Vị ấy tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, để thực chứng điều chưa thực chứng. Đây là cơ sở thứ tám để khởi sự tinh tấn. Tám pháp này đưa đến sự thù thắng.
Katame aṭṭha dhammā duppaṭivijjhā? Aṭṭha akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya. Idhāvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti. Ayaṁ paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
<em>What eight things are hard to comprehend?</em> Eight lost opportunities for spiritual practice. Firstly, a Realized One has arisen in the world. He teaches the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. But that individual has been reborn in hell. This is the first lost opportunity for spiritual practice.
(Sáu) Tám pháp khó chứng ngộ là những gì? Tám thời điểm không thuận lợi, không phải lúc để sống đời phạm hạnh. Này chư hiền, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, đưa đến Niết-bàn, hướng đến giác ngộ, do bậc Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng cá nhân này lại sanh vào địa ngục. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ nhất để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ, āvuso, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo tiracchānayoniṁ upapanno hoti. Ayaṁ dutiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in the animal realm. This is the second lost opportunity for spiritual practice.
Này chư hiền, lại nữa, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; và Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, đưa đến Niết-bàn, hướng đến giác ngộ, do bậc Thiện Thệ tuyên thuyết; nhưng cá nhân này lại sanh vào loài bàng sanh. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ hai để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… pettivisayaṁ upapanno hoti. Ayaṁ tatiyo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in the ghost realm. This is the third lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... cá nhân này lại sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ ba để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… aññataraṁ dīghāyukaṁ devanikāyaṁ upapanno hoti. Ayaṁ catuttho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in one of the long-lived orders of gods. This is the fourth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... cá nhân này lại sanh vào một trong các cõi trời trường thọ. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ tư để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… paccantimesu janapadesu paccājāto hoti milakkhesu aviññātāresu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Ayaṁ pañcamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … But that individual has been reborn in the borderlands, among uneducated foreigners, where monks, nuns, laymen, and laywomen do not go. This is the fifth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... cá nhân này lại sanh ở các xứ biên địa, trong những người man di không hiểu biết, nơi không có sự đi lại của các tỳ khưu, tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ năm để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti micchādiṭṭhiko viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Ayaṁ chaṭṭho akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … And an individual is reborn in a central country. But they have wrong view and distorted perspective: ‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’ This is the sixth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... và cá nhân này sanh ở trung ương quốc, nhưng lại có tà kiến, có tri kiến sai lạc: ‘Không có sự bố thí, không có sự cúng dường, không có sự tế tự; không có kết quả của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh, thực hành chân chánh, những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên thuyết về đời này và đời sau.’ Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ sáu để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti duppañño jaḷo eḷamūgo, nappaṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ. Ayaṁ sattamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Furthermore, a Realized One has arisen in the world … And an individual is reborn in a central country. But they’re witless, dull, idiotic, and unable to distinguish what is well said from what is poorly said. This is the seventh lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... và cá nhân này sanh ở trung ương quốc, nhưng lại là người liệt tuệ, ngu đần, câm ngọng, không có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời thiện thuyết và ác thuyết. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ bảy để sống đời phạm hạnh.
Puna caparaṁ …pe… ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo, paṭibalo subhāsitadubbhāsitānamatthamaññātuṁ. Ayaṁ aṭṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya. Ime aṭṭha dhammā duppaṭivijjhā.
Furthermore, a Realized One has not arisen in the world … so there is no teaching of the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. But an individual is reborn in a central country. And they’re wise, bright, clever, and able to distinguish what is well said from what is poorly said. This is the eighth lost opportunity for spiritual practice.
Lại nữa... cho đến... và cá nhân này sanh ở trung ương quốc, là người có trí tuệ, không ngu đần, không câm ngọng, có khả năng hiểu được ý nghĩa của những lời thiện thuyết và ác thuyết. Đây là thời điểm không thuận lợi, không phải lúc thứ tám để sống đời phạm hạnh. Tám pháp này là những pháp khó chứng ngộ.
Katame aṭṭha dhammā uppādetabbā? Aṭṭha mahāpurisavitakkā—appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa. Santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa. Pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa. Āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa. Upaṭṭhitasatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa. Samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa. Paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassa. Nippapañcassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo papañcārāmassāti ime aṭṭha dhammā uppādetabbā.
<em>What eight things should be produced?</em> Eight thoughts of a great man. ‘This teaching is for those of few wishes, not those of many wishes. It’s for the contented, not those who lack contentment. It’s for the secluded, not those who enjoy company. It’s for the energetic, not the lazy. It’s for the mindful, not the unmindful. It’s for those with immersion, not those without immersion. It’s for the wise, not the witless. This teaching is for those who don’t enjoy proliferating, not for those who enjoy proliferating.’
(Bảy) Tám pháp cần được phát sanh là những gì? Tám tư duy của bậc đại nhân: Pháp này dành cho người ít ham muốn, không phải cho người nhiều ham muốn. Pháp này dành cho người biết đủ, không phải cho người không biết đủ. Pháp này dành cho người sống độc cư, không phải cho người thích hội chúng. Pháp này dành cho người tinh tấn, không phải cho người lười biếng. Pháp này dành cho người có niệm an trú, không phải cho người thất niệm. Pháp này dành cho người có định, không phải cho người không có định. Pháp này dành cho người có trí tuệ, không phải cho người liệt tuệ. Pháp này dành cho người không hý luận, không phải cho người ưa thích hý luận. Tám pháp này cần được phát sanh.
Katame aṭṭha dhammā abhiññeyyā? Aṭṭha abhibhāyatanāni—ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—evaṁsaññī hoti. Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
<em>What eight things should be directly known?</em> Eight dimensions of mastery. Perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the first dimension of mastery.
(Tám) Tám pháp cần được thắng tri là những gì? Tám thắng xứ. Có người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—evaṁsaññī hoti. Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the second dimension of mastery.
Có người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, vô lượng, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—evaṁsaññī hoti. Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the third dimension of mastery.
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti—evaṁsaññī hoti. Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fourth dimension of mastery.
Có người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở bên ngoài, vô lượng, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi chinh phục chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are blue, with blue color and blue appearance. They’re like a flax flower that’s blue, with blue color and blue appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, blue, with blue color and blue appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fifth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, có sắc xanh, hiện rõ màu xanh, có ánh sáng xanh. Ví như hoa umā màu xanh, có sắc xanh, hiện rõ màu xanh, có ánh sáng xanh. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu xanh, có sắc xanh, hiện rõ màu xanh, có ánh sáng xanh. Cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu xanh, có sắc xanh, hiện rõ màu xanh, có ánh sáng xanh, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. They’re like a champak flower that’s yellow, with yellow color and yellow appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, yellow, with yellow color and yellow appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the sixth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, có sắc vàng, hiện rõ màu vàng, có ánh sáng vàng. Ví như hoa kaṇikāra màu vàng, có sắc vàng, hiện rõ màu vàng, có ánh sáng vàng. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu vàng, có sắc vàng, hiện rõ màu vàng, có ánh sáng vàng. Cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu vàng, có sắc vàng, hiện rõ màu vàng, có ánh sáng vàng, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. They’re like a scarlet mallow flower that’s red, with red color and red appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, red, with red color and red appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the seventh dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, có sắc đỏ, hiện rõ màu đỏ, có ánh sáng đỏ. Ví như hoa bandhujīvaka màu đỏ, có sắc đỏ, hiện rõ màu đỏ, có ánh sáng đỏ. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu đỏ, có sắc đỏ, hiện rõ màu đỏ, có ánh sáng đỏ. Cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu đỏ, có sắc đỏ, hiện rõ màu đỏ, có ánh sáng đỏ, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ; evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni, ‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ. Ime aṭṭha dhammā abhiññeyyā.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. They’re like the morning star that’s white, with white color and white appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the eighth dimension of mastery.
Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, có sắc trắng, hiện rõ màu trắng, có ánh sáng trắng. Ví như sao mai màu trắng, có sắc trắng, hiện rõ màu trắng, có ánh sáng trắng. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī, được chải kỹ cả hai mặt, màu trắng, có sắc trắng, hiện rõ màu trắng, có ánh sáng trắng. Cũng vậy, một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài màu trắng, có sắc trắng, hiện rõ màu trắng, có ánh sáng trắng, và có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự chúng, ta biết, ta thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám. Tám pháp này cần được thắng tri.
Katame aṭṭha dhammā sacchikātabbā? Aṭṭha vimokkhā—rūpī rūpāni passati. Ayaṁ paṭhamo vimokkho.
<em>What eight things should be realized?</em> Eight liberations. Having physical form, they see forms. This is the first liberation.
(Ña) Tám pháp nào cần được chứng ngộ? Tám sự giải thoát – Vị có sắc thấy các sắc. Đây là sự giải thoát thứ nhất.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati. Ayaṁ dutiyo vimokkho.
Not perceiving physical form internally, someone see forms externally. This is the second liberation.
Một người không có tưởng về sắc ở bên trong, thấy các sắc ở bên ngoài. Đây là sự giải thoát thứ hai.
Subhanteva adhimutto hoti. Ayaṁ tatiyo vimokkho.
They’re focused only on beauty. This is the third liberation.
Chỉ chuyên chú vào cái đẹp. Đây là sự giải thoát thứ ba.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ catuttho vimokkho.
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth liberation.
Do hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do sự chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng khác biệt, vị ấy chứng đạt và an trú Không Vô Biên Xứ với ý niệm: ‘Hư không là vô biên.’ Đây là sự giải thoát thứ tư.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ pañcamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth liberation.
Do hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Thức Vô Biên Xứ với ý niệm: ‘Thức là vô biên.’ Đây là sự giải thoát thứ năm.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth liberation.
Do hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ với ý niệm: ‘Không có gì cả.’ Đây là sự giải thoát thứ sáu.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ sattamo vimokkho.
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh liberation.
Do hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là sự giải thoát thứ bảy.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ aṭṭhamo vimokkho. Ime aṭṭha dhammā sacchikātabbā.
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
Do hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định. Đây là sự giải thoát thứ tám. Tám pháp này cần được chứng ngộ.
Iti ime asīti dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these eighty things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, tám mươi pháp này là có thật, xác thực, đúng như vậy, không sai lệch, không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Nava dhammā bahukārā …pe… nava dhammā sacchikātabbā.
Nine things are helpful, etc.
359. Chín pháp có nhiều lợi ích… (vân vân)… chín pháp cần được chứng ngộ.
Katame nava dhammā bahukārā? Nava yonisomanasikāramūlakā dhammā, yonisomanasikaroto pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati, samāhite citte yathābhūtaṁ jānāti passati, yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati, nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Ime nava dhammā bahukārā.
<em>What nine things are helpful?</em> Nine things rooted in rational application of mind. When you apply the mind rationally, joy springs up. When you’re joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, you feel bliss. And when you’re blissful, the mind becomes immersed. When your mind is immersed, you truly know and see. When you truly know and see, you grow disillusioned. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away you’re freed.
(Ka) Chín pháp nào có nhiều lợi ích? Chín pháp có sự tác ý như lý làm gốc rễ. Khi có sự tác ý như lý, hân hoan sanh khởi; khi có hân hoan, hỷ sanh khởi; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh; khi tâm định tĩnh, vị ấy biết và thấy như thật; khi biết và thấy như thật, vị ấy nhàm chán; khi nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy được giải thoát. Chín pháp này có nhiều lợi ích.
Katame nava dhammā bhāvetabbā? Nava pārisuddhipadhāniyaṅgāni—sīlavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, cittavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, diṭṭhivisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, ñāṇadassanavisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, paññāvisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, vimuttivisuddhi pārisuddhipadhāniyaṅgaṁ. Ime nava dhammā bhāvetabbā.
<em>What nine things should be developed?</em> Nine factors of trying to be pure. The factors of trying to be pure in ethics, mind, view, overcoming doubt, knowledge and vision of what is the path and what is not the path, knowledge and vision of the practice, knowledge and vision, wisdom, and freedom.
(Kha) Chín pháp nào cần được tu tập? Chín chi phần tinh cần thanh tịnh – chi phần tinh cần thanh tịnh là giới thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là tâm thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là kiến thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là đoạn nghi thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là hành trình tri kiến thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là tri kiến thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là tuệ thanh tịnh, chi phần tinh cần thanh tịnh là giải thoát thanh tịnh. Chín pháp này cần được tu tập.
Katame nava dhammā pariññeyyā? Nava sattāvāsā—santāvuso, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Ayaṁ paṭhamo sattāvāso.
<em>What nine things should be completely understood?</em> Nine abodes of sentient beings. There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld. This is the first abode of sentient beings.
Này chư hiền, chín pháp nào cần được liễu tri? Chín trú xứ của chúng sanh. Này chư hiền, có những chúng sanh thân dị biệt, tưởng dị biệt. Ví như loài người, một số chư thiên, và một số các loài trong đọa xứ. Đây là trú xứ thứ nhất của chúng sanh.
Santāvuso, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā. Ayaṁ dutiyo sattāvāso.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption. This is the second abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân dị biệt, tưởng đồng nhất. Ví như chư thiên cõi Phạm chúng, được sanh ra đầu tiên (ở cõi Sơ thiền). Đây là trú xứ thứ hai của chúng sanh.
Santāvuso, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā. Ayaṁ tatiyo sattāvāso.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of streaming radiance. This is the third abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân đồng nhất, tưởng dị biệt. Ví như chư thiên cõi Quang Âm. Đây là trú xứ thứ ba của chúng sanh.
Santāvuso, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Ayaṁ catuttho sattāvāso.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty. This is the fourth abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh thân đồng nhất, tưởng đồng nhất. Ví như chư thiên cõi Biến Tịnh. Đây là trú xứ thứ tư của chúng sanh.
Santāvuso, sattā asaññino appaṭisaṁvedino, seyyathāpi devā asaññasattā. Ayaṁ pañcamo sattāvāso.
There are sentient beings that are non-percipient and do not experience anything, such as the gods who are non-percipient beings. This is the fifth abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh vô tưởng, vô thọ. Ví như chư thiên cõi Vô Tưởng. Đây là trú xứ thứ năm của chúng sanh.
Santāvuso, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā. Ayaṁ chaṭṭho sattāvāso.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space. This is the sixth abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng dị biệt, nghĩ rằng ‘hư không là vô biên’, nên đã đạt đến Không Vô Biên Xứ. Đây là trú xứ thứ sáu của chúng sanh.
Santāvuso, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā. Ayaṁ sattamo sattāvāso.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness. This is the seventh abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘thức là vô biên’, nên đã đạt đến Thức Vô Biên Xứ. Đây là trú xứ thứ bảy của chúng sanh.
Santāvuso, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā. Ayaṁ aṭṭhamo sattāvāso.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness. This is the eighth abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng ‘không có gì cả’, nên đã đạt đến Vô Sở Hữu Xứ. Đây là trú xứ thứ tám của chúng sanh.
Santāvuso, sattā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanūpagā. Ayaṁ navamo sattāvāso.
Ime nava dhammā pariññeyyā.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of nothingness. They have been reborn in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the ninth abode of sentient beings.
Này chư hiền, có những chúng sanh, do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, nên đã đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là trú xứ thứ chín của chúng sanh. Chín pháp này cần được liễu tri.
Katame nava dhammā pahātabbā? Nava taṇhāmūlakā dhammā—taṇhaṁ paṭicca pariyesanā, pariyesanaṁ paṭicca lābho, lābhaṁ paṭicca vinicchayo, vinicchayaṁ paṭicca chandarāgo, chandarāgaṁ paṭicca ajjhosānaṁ, ajjhosānaṁ paṭicca pariggaho, pariggahaṁ paṭicca macchariyaṁ, macchariyaṁ paṭicca ārakkho, ārakkhādhikaraṇaṁ daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti. Ime nava dhammā pahātabbā.
<em>What nine things should be given up?</em> Nine things rooted in craving. Craving gives rise to searching. Searching gives rise to gaining material things. Gaining material things gives rise to evaluation. Evaluation gives rise to desire and lust. Desire and lust gives rise to attachment. Attachment gives rise to ownership. Ownership gives rise to stinginess. Stinginess gives rise to safeguarding. Owing to safeguarding, many bad, unskillful things come to be: taking up the rod and the sword, quarrels, arguments, disputes, accusations, backbiting, and lies.
Này chư hiền, chín pháp nào cần được đoạn trừ? Chín pháp lấy ái làm gốc rễ. Duyên ái có tìm cầu; duyên tìm cầu có đạt được; duyên đạt được có quyết định; duyên quyết định có tham dục; duyên tham dục có chấp thủ; duyên chấp thủ có chiếm hữu; duyên chiếm hữu có keo kiệt; duyên keo kiệt có bảo vệ; do nhân duyên bảo vệ mà có việc cầm gậy, cầm đao, cãi cọ, tranh chấp, tranh luận, nói ‘mày, mày’, nói hai lưỡi, nói dối, và vô số các pháp ác, bất thiện khác sanh khởi. Chín pháp này cần được đoạn trừ.
Katame nava dhammā hānabhāgiyā? Nava āghātavatthūni: ‘anatthaṁ me acarī’ti āghātaṁ bandhati, ‘anatthaṁ me caratī’ti āghātaṁ bandhati, ‘anatthaṁ me carissatī’ti āghātaṁ bandhati; ‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe… ‘anatthaṁ caratī’ti āghātaṁ bandhati …pe… ‘anatthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati; ‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acarī’ti āghātaṁ bandhati …pe… ‘atthaṁ caratī’ti āghātaṁ bandhati …pe… ‘atthaṁ carissatī’ti āghātaṁ bandhati. Ime nava dhammā hānabhāgiyā.
<em>What nine things make things worse?</em> Nine grounds for resentment. Thinking: ‘They did wrong to me,’ you harbor resentment. Thinking: ‘They are doing wrong to me’ … ‘They will do wrong to me’ … ‘They did wrong by someone I love’ … ‘They are doing wrong by someone I love’ … ‘They will do wrong by someone I love’ … ‘They helped someone I dislike’ … ‘They are helping someone I dislike’ … Thinking: ‘They will help someone I dislike,’ you harbor resentment.
Này chư hiền, chín pháp nào thuộc phần hạ liệt? Chín hiềm hận sự. Người ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều bất lợi cho ta’. Người ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người kia đang làm điều bất lợi cho ta’. Người ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người kia sẽ làm điều bất lợi cho ta’. Người ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều bất lợi cho người thân yêu, người quý mến của ta’... ‘đang làm’... ‘sẽ làm điều bất lợi cho người thân yêu, người quý mến của ta’. Người ấy ôm lòng hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều lợi ích cho người không thân yêu, người không quý mến của ta’... ‘đang làm’... ‘sẽ làm điều lợi ích cho người không thân yêu, người không quý mến của ta’. Chín pháp này thuộc phần hạ liệt.
Katame nava dhammā visesabhāgiyā? Nava āghātapaṭivinayā: ‘anatthaṁ me acari, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti; ‘anatthaṁ me carati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti; ‘anatthaṁ me carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti; ‘piyassa me manāpassa anatthaṁ acari …pe… anatthaṁ carati …pe… anatthaṁ carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti; ‘appiyassa me amanāpassa atthaṁ acari …pe… atthaṁ carati …pe… atthaṁ carissati, taṁ kutettha labbhā’ti āghātaṁ paṭivineti. Ime nava dhammā visesabhāgiyā.
<em>What nine things lead to distinction?</em> Nine ways to get rid of resentment. Thinking: ‘They did wrong to me, but what can I possibly do?’ you get rid of resentment. Thinking: ‘They are doing wrong to me …’ … ‘They will do wrong to me …’ … ‘They did wrong by someone I love …’ … ‘They are doing wrong by someone I love …’ … ‘They will do wrong by someone I love …’ … ‘They helped someone I dislike …’ … ‘They are helping someone I dislike …’ … Thinking: ‘They will help someone I dislike, but what can I possibly do?’ you get rid of resentment.
Này chư hiền, chín pháp nào thuộc phần thù thắng? Chín phương pháp điều phục hiềm hận. Người ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều bất lợi cho ta, nhưng làm sao có thể khác được?’. Người ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người kia đang làm điều bất lợi cho ta, nhưng làm sao có thể khác được?’. Người ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người kia sẽ làm điều bất lợi cho ta, nhưng làm sao có thể khác được?’. Người ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều bất lợi cho người thân yêu, người quý mến của ta... đang làm... sẽ làm..., nhưng làm sao có thể khác được?’. Người ấy điều phục hiềm hận rằng: ‘Người kia đã làm điều lợi ích cho người không thân yêu, người không quý mến của ta... đang làm... sẽ làm..., nhưng làm sao có thể khác được?’. Chín pháp này thuộc phần thù thắng.
Katame nava dhammā duppaṭivijjhā? Nava nānattā—dhātunānattaṁ paṭicca uppajjati phassanānattaṁ, phassanānattaṁ paṭicca uppajjati vedanānānattaṁ, vedanānānattaṁ paṭicca uppajjati saññānānattaṁ, saññānānattaṁ paṭicca uppajjati saṅkappanānattaṁ, saṅkappanānattaṁ paṭicca uppajjati chandanānattaṁ, chandanānattaṁ paṭicca uppajjati pariḷāhanānattaṁ, pariḷāhanānattaṁ paṭicca uppajjati pariyesanānānattaṁ, pariyesanānānattaṁ paṭicca uppajjati lābhanānattaṁ (…). Ime nava dhammā duppaṭivijjhā.
<em>What nine things are hard to comprehend?</em> Nine kinds of diversity. Diversity of elements gives rise to diversity of contacts. Diversity of contacts gives rise to diversity of feelings. Diversity of feelings gives rise to diversity of perceptions. Diversity of perceptions gives rise to diversity of thoughts. Diversity of thoughts gives rise to diversity of desires. Diversity of desires gives rise to diversity of passions. Diversity of passions gives rise to diversity of searches. Diversity of searches gives rise to diversity of gains.
Này chư hiền, chín pháp nào khó thể nhập? Chín sự dị biệt. Duyên giới dị biệt sanh khởi xúc dị biệt; duyên xúc dị biệt sanh khởi thọ dị biệt; duyên thọ dị biệt sanh khởi tưởng dị biệt; duyên tưởng dị biệt sanh khởi tầm dị biệt; duyên tầm dị biệt sanh khởi dục dị biệt; duyên dục dị biệt sanh khởi nhiệt não dị biệt; duyên nhiệt não dị biệt sanh khởi tìm cầu dị biệt; duyên tìm cầu dị biệt sanh khởi đạt được dị biệt. Chín pháp này khó thể nhập.
Katame nava dhammā uppādetabbā? Nava saññā—asubhasaññā, maraṇasaññā, āhāre paṭikūlasaññā, sabbaloke anabhiratisaññā, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā. Ime nava dhammā uppādetabbā.
<em>What nine things should be produced?</em> Nine perceptions: the perceptions of ugliness, death, repulsiveness in food, dissatisfaction with the whole world, impermanence, suffering in impermanence, not-self in suffering, giving up, and fading away.
Này chư hiền, chín pháp nào cần được phát triển? Chín loại tưởng: tưởng bất tịnh, tưởng sự chết, tưởng ghê tởm trong vật thực, tưởng không hoan hỷ trong tất cả thế gian, tưởng vô thường, tưởng khổ trong cái vô thường, tưởng vô ngã trong cái khổ, tưởng đoạn trừ, tưởng ly tham. Chín pháp này cần được phát triển.
Katame nava dhammā abhiññeyyā? Nava anupubbavihārā—idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā …pe… ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Ime nava dhammā abhiññeyyā.
<em>What nine things should be directly known?</em> Nine progressive meditations. A mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption. Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling.
(Jha) Chín pháp nào cần được thắng tri? Chín pháp tuần tự trú. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho an tịnh tầm và tứ... cho đến... chứng và trú thiền thứ hai. Do ly hỷ... cho đến... chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư. Do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng... cho đến... chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên,’ chứng và trú Thức Vô Biên Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả,’ chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Do vượt qua hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định. Chín pháp này cần được thắng tri.
Katame nava dhammā sacchikātabbā? Nava anupubbanirodhā—paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti, dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti, tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti, catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāssā niruddhā honti, ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti, viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti, ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti, nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti, saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti. Ime nava dhammā sacchikātabbā.
<em>What nine things should be realized?</em> Nine progressive cessations. For someone who has attained the first absorption, sensual perceptions have ceased. For someone who has attained the second absorption, the placing of the mind and keeping it connected have ceased. For someone who has attained the third absorption, rapture has ceased. For someone who has attained the fourth absorption, breathing has ceased. For someone who has attained the dimension of infinite space, the perception of form has ceased. For someone who has attained the dimension of infinite consciousness, the perception of the dimension of infinite space has ceased. For someone who has attained the dimension of nothingness, the perception of the dimension of infinite consciousness has ceased. For someone who has attained the dimension of neither perception nor non-perception, the perception of the dimension of nothingness has ceased. For someone who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have ceased.
(Ña) Chín pháp nào cần được chứng ngộ? Chín pháp tuần tự diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ nhất, dục tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ hai, tầm và tứ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập thiền thứ tư, hơi thở vô hơi thở ra được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Không Vô Biên Xứ, sắc tưởng được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Thức Vô Biên Xứ, tưởng về Không Vô Biên Xứ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Vô Sở Hữu Xứ, tưởng về Thức Vô Biên Xứ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được đoạn diệt. Đối với người đã nhập Diệt Thọ Tưởng Định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Chín pháp này cần được chứng ngộ.
Iti ime navuti dhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā.
So these ninety things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.
Như vậy, chín mươi pháp này là có thật, là chân thật, là như thật, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng giác.
Dasa dhammā bahukārā …pe… dasa dhammā sacchikātabbā.
Ten things are helpful, ten things should be developed, ten things should be completely understood, ten things should be given up, ten things make things worse, ten things lead to distinction, ten things are hard to comprehend, ten things should be produced, ten things should be directly known, ten things should be realized.
360. Mười pháp có nhiều công đức... cho đến... mười pháp cần được chứng ngộ.
Katame dasa dhammā bahukārā? Dasa nāthakaraṇā dhammā—idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yaṁpāvuso, bhikkhu sīlavā hoti …pe… sikkhati sikkhāpadesu. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
<em>What ten things are helpful?</em> Ten qualities that serve as protector. First, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is a quality that serves as protector.
(Ka) Mười pháp nào có nhiều công đức? Mười pháp tạo nên chỗ nương tựa. Này chư hiền, ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống chế ngự trong sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Này chư hiền, vị tỳ khưu có giới hạnh... cho đến... tu học trong các học giới. Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu bahussuto …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Yaṁpāvuso, bhikkhu bahussuto …pe… ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is learned. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người đa văn... cho đến... được tri kiến khéo thông đạt. Này chư hiền, vị tỳ khưu là người đa văn... cho đến... Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… kalyāṇasampavaṅko. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu có bạn lành, có thân hữu tốt, có xu hướng về người lành. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... có xu hướng về người lành. Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… anusāsaniṁ. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người dễ nói, hội đủ các pháp khiến trở thành người dễ nói, kham nhẫn, và khéo tiếp thu lời giáo huấn. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... lời giáo huấn. Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tattha dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ, alaṁ saṁvidhātuṁ. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… alaṁ saṁvidhātuṁ. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng phạm hạnh, là người khéo léo, không biếng nhác, có trí tuệ suy xét thích hợp, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp đặt. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... có khả năng sắp đặt. Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… uḷārapāmojjo. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người yêu thích Chánh pháp, có lời nói khả ái, có niềm hân hoan lớn lao trong thắng pháp và thắng luật. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... có niềm hân hoan lớn lao. Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarehi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người biết đủ với bất kỳ các vật dụng nào như y, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati …pe… kusalesu dhammesu. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is energetic. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu sống tinh cần tinh tấn... cho đến... trong các thiện pháp. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người có chánh niệm, có chánh niệm và tỉnh giác tối thượng, có thể nhớ lại, tùy niệm những việc đã làm, những lời đã nói từ lâu. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato, ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Yaṁpāvuso, bhikkhu …pe… ayampi dhammo nāthakaraṇo. Ime dasa dhammā bahukārā.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu là người có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, bậc thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này chư hiền, vị tỳ khưu... cho đến... Pháp này cũng tạo nên chỗ nương tựa. Mười pháp này có nhiều công đức.
Katame dasa dhammā bhāvetabbā? Dasa kasiṇāyatanāni—pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ. Āpokasiṇameko sañjānāti …pe… tejokasiṇameko sañjānāti … vāyokasiṇameko sañjānāti … nīlakasiṇameko sañjānāti … pītakasiṇameko sañjānāti … lohitakasiṇameko sañjānāti … odātakasiṇameko sañjānāti … ākāsakasiṇameko sañjānāti … viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ. Ime dasa dhammā bhāvetabbā.
<em>What ten things should be developed?</em> Ten universal dimensions of meditation. Someone perceives the meditation on universal earth above, below, across, undivided and limitless. They perceive the meditation on universal water … the meditation on universal fire … the meditation on universal air … the meditation on universal blue … the meditation on universal yellow … the meditation on universal red … the meditation on universal white … the meditation on universal space … They perceive the meditation on universal consciousness above, below, across, undivided and limitless.
(Kha) Mười pháp nào cần được tu tập? Mười biến xứ. Có người nhận thức biến xứ đất: trên, dưới, ngang, không hai, vô lượng. Có người nhận thức biến xứ nước... cho đến... có người nhận thức biến xứ lửa... có người nhận thức biến xứ gió... có người nhận thức biến xứ xanh... có người nhận thức biến xứ vàng... có người nhận thức biến xứ đỏ... có người nhận thức biến xứ trắng... có người nhận thức biến xứ hư không... có người nhận thức biến xứ thức: trên, dưới, ngang, không hai, vô lượng. Mười pháp này cần được tu tập.
Katame dasa dhammā pariññeyyā? Dasāyatanāni—cakkhāyatanaṁ, rūpāyatanaṁ, sotāyatanaṁ, saddāyatanaṁ, ghānāyatanaṁ, gandhāyatanaṁ, jivhāyatanaṁ, rasāyatanaṁ, kāyāyatanaṁ, phoṭṭhabbāyatanaṁ. Ime dasa dhammā pariññeyyā.
<em>What ten things should be completely understood?</em> Ten sense fields: eye and sights, ear and sounds, nose and smells, tongue and tastes, body and touches.
Mười pháp nào cần được liễu tri? Mười xứ: nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Mười pháp này cần được liễu tri.
Katame dasa dhammā pahātabbā? Dasa micchattā—micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati, micchāsamādhi, micchāñāṇaṁ, micchāvimutti. Ime dasa dhammā pahātabbā.
<em>What ten things should be given up?</em> Ten wrong ways: wrong view, wrong purpose, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, wrong immersion, wrong knowledge, and wrong freedom.
Mười pháp nào cần được đoạn trừ? Mười tà tánh: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Mười pháp này cần được đoạn trừ.
Katame dasa dhammā hānabhāgiyā? Dasa akusalakammapathā—pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro, musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo, abhijjhā, byāpādo, micchādiṭṭhi. Ime dasa dhammā hānabhāgiyā.
<em>What ten things make things worse?</em> Ten ways of doing unskillful deeds: killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical; covetousness, ill will, and wrong view.
Mười pháp nào thuộc phần tổn giảm? Mười con đường nghiệp bất thiện: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, sân hận, tà kiến. Mười pháp này thuộc phần tổn giảm.
Katame dasa dhammā visesabhāgiyā? Dasa kusalakammapathā—pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī, anabhijjhā, abyāpādo, sammādiṭṭhi. Ime dasa dhammā visesabhāgiyā.
<em>What ten things lead to distinction?</em> Ten ways of doing skillful deeds: refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct; refraining from speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical; contentment, good will, and right view.
Mười pháp nào thuộc phần thù thắng? Mười con đường nghiệp thiện: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích, không tham lam, không sân hận, chánh kiến. Mười pháp này thuộc phần thù thắng.
Katame dasa dhammā duppaṭivijjhā? Dasa ariyavāsā—idhāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti, chaḷaṅgasamannāgato, ekārakkho, caturāpasseno, paṇunnapaccekasacco, samavayasaṭṭhesano, anāvilasaṅkappo, passaddhakāyasaṅkhāro, suvimuttacitto, suvimuttapañño.
<em>What ten things are hard to comprehend?</em> Ten abodes of the noble ones. A mendicant has given up five factors, possesses six factors, has a single guard, has four supports, has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth, has totally given up searching, has unsullied intentions, has stilled the physical process, and is well freed in mind and well freed by wisdom.
Mười pháp nào khó thể thông đạt? Mười Thánh trú: Này chư hiền, ở đây vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, có sự phòng hộ duy nhất, có bốn sự nương tựa, đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ, đã chấm dứt mọi sự tìm cầu, có tư duy không vẩn đục, có thân hành được an tịnh, có tâm được khéo giải thoát, có tuệ được khéo giải thoát.
Kathañcāvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu pañcaṅgavippahīno hoti.
And how has a mendicant given up five factors? It’s when a mendicant has given up sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. That’s how a mendicant has given up five factors.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn trừ được tham dục, đã đoạn trừ được sân hận, đã đoạn trừ được hôn trầm và thụy miên, đã đoạn trừ được trạo cử và hối quá, đã đoạn trừ được hoài nghi. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu đã từ bỏ năm chi phần.
Kathañcāvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti? Idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu chaḷaṅgasamannāgato hoti.
And how does a mendicant possess six factors? A mendicant, seeing a sight with their eyes, is neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue …
Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they’re neither happy nor sad. They remain equanimous, mindful and aware. That’s how a mendicant possesses six factors.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi phần? Này chư hiền, ở đây, sau khi thấy sắc bằng mắt, vị Tỳ khưu không hoan hỷ, không ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi nhận biết pháp bằng ý, vị ấy không hoan hỷ, không ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu thành tựu sáu chi phần.
Kathañcāvuso, bhikkhu ekārakkho hoti? Idhāvuso, bhikkhu satārakkhena cetasā samannāgato hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu ekārakkho hoti.
And how does a mendicant have a single guard? It’s when a mendicant’s heart is guarded by mindfulness. That’s how a mendicant has a single guard.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có sự phòng hộ duy nhất? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu thành tựu tâm được niệm phòng hộ. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có sự phòng hộ duy nhất.
Kathañcāvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti? Idhāvuso, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu caturāpasseno hoti.
And how does a mendicant have four supports? After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and dispels some things. That’s how a mendicant has four supports.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có bốn sự nương tựa? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi thẩm xét, thọ dụng một số thứ; sau khi thẩm xét, kham nhẫn một số thứ; sau khi thẩm xét, né tránh một số thứ; sau khi thẩm xét, loại trừ một số thứ. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có bốn sự nương tựa.
Kathañcāvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti? Idhāvuso, bhikkhuno yāni tāni puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ puthupaccekasaccāni, sabbāni tāni nunnāni honti paṇunnāni cattāni vantāni muttāni pahīnāni paṭinissaṭṭhāni. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu paṇunnapaccekasacco hoti.
And how has a mendicant cast aside idiosyncratic interpretations of the truth? Different ascetics and brahmins have different idiosyncratic interpretations of the truth. A mendicant has cast out, cast aside, thrown out, discarded, let go of, given up, and relinquished all these. That’s how a mendicant has cast aside idiosyncratic interpretations of the truth.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ? Này chư hiền, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, những chân lý riêng lẻ đa dạng của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đa dạng, tất cả những điều ấy đã được gạt bỏ, loại trừ, từ bỏ, khước từ, giải thoát, đoạn trừ, xả ly. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ.
Kathañcāvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmesanā pahīnā hoti, bhavesanā pahīnā hoti, brahmacariyesanā paṭippassaddhā. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu samavayasaṭṭhesano hoti.
And how has a mendicant totally given up searching? It’s when they’ve given up searching for sensual pleasures, for continued existence, and for a spiritual path. That’s how a mendicant has totally given up searching.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu đã chấm dứt mọi sự tìm cầu? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn trừ sự tìm cầu dục, đã đoạn trừ sự tìm cầu hữu, và sự tìm cầu phạm hạnh đã được an tịnh. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu đã chấm dứt mọi sự tìm cầu.
Kathañcāvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappā hoti? Idhāvuso, bhikkhuno kāmasaṅkappo pahīno hoti, byāpādasaṅkappo pahīno hoti, vihiṁsāsaṅkappo pahīno hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu anāvilasaṅkappo hoti.
And how does a mendicant have unsullied intentions? It’s when they’ve given up sensual, malicious, and cruel intentions. That’s how a mendicant has unsullied intentions.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tư duy không vẩn đục? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu đã đoạn trừ dục tư duy, đã đoạn trừ sân tư duy, đã đoạn trừ hại tư duy. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tư duy không vẩn đục.
Kathañcāvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti? Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu passaddhakāyasaṅkhāro hoti.
And how has a mendicant stilled the physical process? With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s how a mendicant has stilled the physical process.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có thân hành được an tịnh? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn trừ lạc và khổ, do sự diệt mất của hỷ và ưu đã có từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có thân hành được an tịnh.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti? Idhāvuso, bhikkhuno rāgā cittaṁ vimuttaṁ hoti, dosā cittaṁ vimuttaṁ hoti, mohā cittaṁ vimuttaṁ hoti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttacitto hoti.
And how is a mendicant well freed in mind? It’s when a mendicant’s mind is freed from greed, hate, and delusion. That’s how a mendicant is well freed in mind.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tâm được khéo giải thoát? Này chư hiền, ở đây, tâm của vị Tỳ khưu được giải thoát khỏi tham, tâm được giải thoát khỏi sân, tâm được giải thoát khỏi si. Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tâm được khéo giải thoát.
Kathañcāvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti? Idhāvuso, bhikkhu ‘rāgo me pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘Doso me pahīno …pe… āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. ‘Moho me pahīno …pe… āyatiṁ anuppādadhammo’ti pajānāti. Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu suvimuttapañño hoti. Ime dasa dhammā duppaṭivijjhā.
And how is a mendicant well freed by wisdom? It’s when a mendicant understands: ‘I’ve given up greed, hate, and delusion, cut them off at the root, made them like a palm stump, obliterated them, so they’re unable to arise in the future.’ That’s how a mendicant’s mind is well freed by wisdom.
Này chư hiền, thế nào là vị Tỳ khưu có tuệ được khéo giải thoát? Này chư hiền, ở đây, vị Tỳ khưu biết rõ rằng: ‘Tham của ta đã được đoạn trừ, đã được cắt tận gốc rễ, đã được làm như cây thốt nốt không đầu, đã được làm cho không thể hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai.’ Vị ấy biết rõ rằng: ‘Sân của ta đã được đoạn trừ... có bản chất không sanh khởi trong tương lai.’ Vị ấy biết rõ rằng: ‘Si của ta đã được đoạn trừ... có bản chất không sanh khởi trong tương lai.’ Này chư hiền, như vậy là vị Tỳ khưu có tuệ được khéo giải thoát. Mười pháp này khó thể thông đạt.
Katame dasa dhammā uppādetabbā? Dasa saññā—asubhasaññā, maraṇasaññā, āhāre paṭikūlasaññā, sabbaloke anabhiratisaññā, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā. Ime dasa dhammā uppādetabbā.
<em>What ten things should be produced?</em> Ten perceptions: the perceptions of ugliness, death, repulsiveness in food, dissatisfaction with the whole world, impermanence, suffering in impermanence, not-self in suffering, giving up, fading away, and cessation.
Mười pháp nào cần được làm cho sanh khởi? Mười tưởng: tưởng bất tịnh, tưởng về sự chết, tưởng về sự ghê tởm trong vật thực, tưởng về sự không hoan hỷ trong toàn thế gian, tưởng vô thường, tưởng về khổ trong cái vô thường, tưởng về vô ngã trong cái khổ, tưởng về sự đoạn trừ, tưởng về sự ly tham, tưởng về sự diệt. Mười pháp này cần được làm cho sanh khởi.
Katame dasa dhammā abhiññeyyā? Dasa nijjaravatthūni—sammādiṭṭhissa micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, te cassa nijjiṇṇā honti. Sammāsaṅkappassa micchāsaṅkappo …pe… sammāvācassa micchāvācā … sammākammantassa micchākammanto … sammāājīvassa micchāājīvo … sammāvāyāmassa micchāvāyāmo … sammāsatissa micchāsati … sammāsamādhissa micchāsamādhi … sammāñāṇassa micchāñāṇaṁ nijjiṇṇaṁ hoti. Sammāvimuttissa micchāvimutti nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, te cassa nijjiṇṇā honti. Ime dasa dhammā abhiññeyyā.
<em>What ten things should be directly known?</em> Ten grounds for wearing away. For one of right view, wrong view is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong view are worn away. For one of right intention, wrong intention is worn away. … For one of right speech, wrong speech is worn away. … For one of right action, wrong action is worn away. … For one of right livelihood, wrong livelihood is worn away. … For one of right effort, wrong effort is worn away. … For one of right mindfulness, wrong mindfulness is worn away. … For one of right immersion, wrong immersion is worn away. … For one of right knowledge, wrong knowledge is worn away. … For one of right freedom, wrong freedom is worn away. And the many bad, unskillful qualities that arise because of wrong freedom are worn away.
(Jha) Mười pháp nào cần được thắng tri? Mười sự việc cần được đoạn trừ. Đối với người có chánh kiến, tà kiến được đoạn trừ. Và những pháp ác, bất thiện nào khởi sanh do duyên tà kiến, những pháp ấy cũng được đoạn trừ nơi vị ấy. Đối với người có chánh tư duy, tà tư duy... này đây... đối với người có chánh ngữ, tà ngữ... đối với người có chánh nghiệp, tà nghiệp... đối với người có chánh mạng, tà mạng... đối với người có chánh tinh tấn, tà tinh tấn... đối với người có chánh niệm, tà niệm... đối với người có chánh định, tà định... đối với người có chánh trí, tà trí được đoạn trừ. Đối với người có chánh giải thoát, tà giải thoát được đoạn trừ. Và những pháp ác, bất thiện nào khởi sanh do duyên tà giải thoát, những pháp ấy cũng được đoạn trừ nơi vị ấy. Mười pháp này cần được thắng tri.
Katame dasa dhammā sacchikātabbā? Dasa asekkhā dhammā—asekkhā sammādiṭṭhi, asekkho sammāsaṅkappo, asekkhā sammāvācā, asekkho sammākammanto, asekkho sammāājīvo, asekkho sammāvāyāmo, asekkhā sammāsati, asekkho sammāsamādhi, asekkhaṁ sammāñāṇaṁ, asekkhā sammāvimutti. Ime dasa dhammā sacchikātabbā.
<em>What ten things should be realized?</em> Ten qualities of an adept: an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom.
(Ña) Mười pháp nào cần được chứng ngộ? Mười pháp vô học. Chánh kiến vô học, chánh tư duy vô học, chánh ngữ vô học, chánh nghiệp vô học, chánh mạng vô học, chánh tinh tấn vô học, chánh niệm vô học, chánh định vô học, chánh trí vô học, chánh giải thoát vô học. Mười pháp này cần được chứng ngộ.
Iti ime satadhammā bhūtā tacchā tathā avitathā anaññathā sammā tathāgatena abhisambuddhā”ti. Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
So these hundred things that are true, real, and accurate, not unreal, not otherwise were rightly understood by the Realized One.” That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
Như vậy, một trăm pháp này là có thật, là chân thật, là như thật, là không sai khác, là không khác đi, đã được Như Lai chánh đẳng chánh giác.’ Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các vị tỳ khưu ấy đã hoan hỷ, tín thọ lời dạy của tôn giả Sāriputta.
Dasuttarasuttaṁ niṭṭhitaṁ ekādasamaṁ.
Kinh Thập Thượng, bài kinh thứ mười một, đã chấm dứt.
Pāthikavaggo niṭṭhito.
Tassuddānaṁ
Pāthiko ca udumbaraṁ,
Phẩm Pāthika đã chấm dứt.
Kinh Pāthika, kinh Udumbara, kinh Cakkavatti, kinh Aggañña; kinh Sampasādana, kinh Pāsāda, kinh Mahāpurisalakkhaṇa.
Siṅgālāṭānāṭiyakaṁ, saṅgīti ca dasuttaraṁ; Ekādasahi suttehi, pāthikavaggoti vuccati.
Kinh Siṅgāla, kinh Āṭānāṭiya, kinh Saṅgīti, và kinh Dasuttara; do có mười một bài kinh này nên được gọi là phẩm Pāthika.
Pāthikavaggapāḷi niṭṭhitā.
Phần Pāḷi của phẩm Pāthika đã chấm dứt.
Tīhi vaggehi paṭimaṇḍito sakalo
Toàn bộ, được trang hoàng với ba phẩm,
dīghanikāyo samatto.
The Long Discourses are complete.
Trường Bộ Kinh đã hoàn tất.