- Dīgha Nikāya 31
Siṅgālasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Siṅgālasutta
Như vậy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn sống ở Rājagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivāpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng.
SC 2PTS cs 2 Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử
SC 3—Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng?
SC 4- Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: “Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng”. Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông … hướng Thượng.
SC 5- Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái sáu phương không phải như vậy.
SC 6- Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế nào là lễ bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, đảnh lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy giảng pháp ấy cho con!
SC 7- Này Gia chủ tử, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 8- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 9Singàlaka, gia chủ tử vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 10PTS cs 3—Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đã thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đã chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới.
SC 11Thế nào là bốn nghiệp phiền não đã được diệt trừ? Này Gia chủ tử, đó là nghiệp phiền não sát sanh, nghiệp phiền não trộm cắp, nghiệp phiền não tà dâm, nghiệp phiền não nói láo. Bốn nghiệp phiền não này đã được trừ diệt.
SC 12Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 13PTS cs 4 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 14Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo, lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán,
Những hạnh nghiệp như vậy.
SC 15PTS cs 5 Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lý do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hãi. Này Gia chủ tử, vì vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hãi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lý do.
SC 16Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 17PTS cs 6 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 18Ai phản lại Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Ai không phản Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh được tròn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.
SC 19PTS cs 7 Thế nào là không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản? Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu là nguyên nhân phung phí tài sản. Du hành đường phố phi thời là nguyên nhân phung phí tài sản. La cà đình đám hí viện là nguyên nhân phung phí tài sản. Ðam mê cờ bạc là nguyên nhân phung phí tài sản. Giao du ác hữu là nguyên nhân phung phí tài sản. Quen thói lười biếng là nguyên nhân phung phí tài sản.
SC 20PTS cs 8 Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm: Tài sản hiện tại bị tổn thất, đấu tranh tăng trưởng, bệnh tật dễ xâm nhập, thương tổn danh dự, để lộ âm tàng, và thứ sáu là trí lực tổn hại. Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sau nguy hiểm như vậy.
SC 21PTS cs 9 Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm: Tự mình không được che chở hộ trì, vợ con không được che chở hộ trì, tài sản không được che chở hộ trì, bị tình nghi là tác giả các ác sự, nạn nhân các tin đồn thất thiệt, tự rước vào thân nhiều khổ não. Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 22PTS cs 10 Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm: Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa, chỗ nào có ca, chỗ nào có nhạc, chỗ nào có tán tụng, chỗ nào có nhạc tay, chỗ nào có trống. Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 23PTS cs 11 Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm: Nếu thắng thì sanh oán thù, nếu thua thì tâm sanh sầu muộn, tài sản hiện tại bị tổn thất, tại hội trường (pháp đình) lời nói không hiệu lực, bằng hữu đồng liêu khinh miệt, vấn đề cưới gả không được tín nhiệm vì người đam mê cờ bạc không xứng để có vợ. Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 24PTS cs 12 Này Gia chủ tử, thân cận các ác hữu có sáu nguy hiểm: Những kẻ cờ bạc, loạn hành, nghiện rượu, những kẻ trá ngụy, lường gạt, bạo động là những người bạn, là những thân hữu của người ấy. Này Gia chủ tử, thân cận ác hữu có sáu nguy hiểm như vậy.
SC 25PTS cs 13 Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm: “quá lạnh”, không làm việc; “quá nóng”, không làm việc; “quá trễ” không làm việc; “quá sớm”, không làm việc; “tôi đói quá”, không làm việc; “tôi quá no”, không làm việc. Trong khi những công việc phải làm lại không làm. Tài sản chưa có không xây dựng lên, tài sản có rồi bị tiêu thất. Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 26PTS cs 14 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 27Có bạn gọi bạn rượu,
Có bạn, bạn bằng mồm,
Bạn lúc thật hữu sự,
Mới xứng danh bạn bè.
Ngủ ngày, thông vợ người,
Ưa đấu tranh, làm hại,
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Ác hữu, ác bạn lữ,
Ác hạnh, hành ác xứ,
Ðời này cả đời sau,
Hai đời, người bị hại.
Cờ bạc và đàn bà,
Rượu chè, múa và hát
Ngủ ngày, đi phi thời
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Chơi xúc xắc, uống rượu
Theo đuổi đàn bà người,
Lẽ sống của người khác,
Thân cận kẻ hạ tiện,
Không thân cận bậc trí,
Người ấy tự héo mòn,
Như trăng trong mùa khuyết.
Rượu chè không tiền của,
Khao khát, tìm tửu điếm,
Bị chìm trong nợ nần,
Như chìm trong bồn nước,
Mau chóng tự hại mình,
Như kẻ mất gia đình.
Ai quen thói ngủ ngày,
Thức trọn suốt đêm trường,
Luôn luôn say sướt mướt,
Không thể sống gia đình.
Ở đây ai hay than:
Ôi quá lạnh, quá nóng,
Quá chiều, quá trễ giờ,
Sẽ bỏ bê công việc.
Lợi ích, điều tốt lành,
Bị trôi dạt một bên.
Ai xem lạnh và nóng,
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.
SC 28PTS cs 15 Này Gia chủ từ, có bốn hạng người phải xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người khéo nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 29PTS cs 16 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy, cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, làm vì mưu lợi cho mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 30PTS cs 17 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Tỏ lộ thân tình việc đã qua; tỏ lộ thân tình việc chưa đến; mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ; khi có công việc, tự tỏ sự bất lực của mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 31PTS cs 18 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Ðồng ý các việc ác; không đồng ý các việc thiện; trước mặt tán thán; sau lưng chỉ trích. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 32PTS cs 19 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Là bạn khi mình đam mê các loại rượu; là bạn khi mình du hành đường phố phi thời; là bạn khi mình la cà đình đám hý viện; là bạn khi mình đam mê cờ bạc. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
SC 33Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 34PTS cs 20 Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 35Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí tránh,
Như đường đầy sợ hãi.
SC 36PTS cs 21 Này Gia chủ tử, bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.
SC 37PTS cs 22 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.
SC 38PTS cs 23 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.
SC 39PTS cs 24 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.
SC 40PTS cs 25 Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.
SC 41Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 42PTS cs 26 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 43Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản,
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy,
Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích
Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Ðể kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.
SC 44PTS cs 27 Này Gia chủ tử, vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương như thế nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này cần được hiểu như sau: Phương Ðông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.
SC 45PTS cs 28 Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: “Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.
SC 46Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Ðông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Ðông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 47PTS cs 29 Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: Ðứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Này Gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
SC 48Này Gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 49PTS cs 30 Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.
SC 50Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 51PTS cs 31 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt. Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách: Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn; kính trọng gia đình của vị thiện nam tử.
SC 52Như vậy các bạn bè được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách và bạn bè có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 53PTS cs 32 Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới: Giao việc đúng theo sức lực của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; điều trị cho họ khi bệnh hoạn; chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách như kia, có lòng thương tưởng đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau: Dậy trước khi chủ dậy; đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.
SC 54Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, có lòng thương tưởng đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 55PTS cs 33 Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: Có lòng từ trong hành động về thân; có lòng từ trong hành động về khẩu; có lòng từ trong hành động về ý; mở rộng cửa để đón các vị ấy; cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, có lòng thương tưởng vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: Ngăn họ không làm điều ác; khuyến khích họ làm điều thiện; thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; làm cho thanh tịnh điều đã được nghe; chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.
SC 56Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
SC 57Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
SC 58PTS cs 34 Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
SC 59Cha mẹ là phương Ðông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Bạn bè là phương Bắc,
Nô bộc là phương Dưới,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có nghĩa là phương Trên.
Cư sĩ vì gia đình,
Ðảnh lễ phương hướng ấy.
Kẻ trí giữ Giới, Luật,
Từ tốn và biện tài,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Nhờ vậy được danh xưng.
Dậy sớm không biếng nhác,
Bất động giữa hiểm nguy,
Người hiền, không phạm giới,
Nhờ vậy được danh xưng.
Nhiếp chúng, tạo nên bạn,
Từ ái, tâm bao dung,
Dẫn đạo, khuyến hóa đạo,
Nhờ vậy được danh xưng.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành bất cứ ai,
Ðồng sự trong mọi việc,
Theo trường hợp xử sự.
Chính những nhiếp sự này,
Khiến thế giới xoay quanh,
Như bánh xe quay lăn,
Vòng theo trục xe chính.
Nhiếp sự này vắng mặt,
Không có mẹ hưởng thọ,
Hay không cha hưởng thọ,
Sự hiếu kính của con.
Do vậy bậc có trí,
Ðối với nhiếp pháp này,
Như quán sát chấp trì,
Nhờ vậy thành vĩ đại,
Ðược tán thánh, danh xưng.
SC 60PTS cs 35 Khi được nghe vậy, Singàlaka, gia chủ tử bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Xem bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Siṅgāla
242. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, con trai của một gia chủ tên là Siṅgālaka, sáng sớm thức dậy, đi ra khỏi thành Rājagaha, y phục còn ướt, tóc còn ướt, chắp tay lạy các phương khác nhau – phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương dưới, và phương trên.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Addasā kho bhagavā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavatthaṁ allakesaṁ pañjalikaṁ puthudisā namassantaṁ—puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disaṁ. Disvā siṅgālakaṁ gahapatiputtaṁ etadavoca: “kiṁ nu kho tvaṁ, gahapatiputta, kālasseva vuṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassasi—puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti?
“Pitā maṁ, bhante, kālaṁ karonto evaṁ avaca: ‘disā, tāta, namasseyyāsī’ti. So kho ahaṁ, bhante, pituvacanaṁ sakkaronto garuṁ karonto mānento pūjento kālasseva uṭṭhāya rājagahā nikkhamitvā allavattho allakeso pañjaliko puthudisā namassāmi—puratthimaṁ disaṁ dakkhiṇaṁ disaṁ pacchimaṁ disaṁ uttaraṁ disaṁ heṭṭhimaṁ disaṁ uparimaṁ disan”ti.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. He saw Sigālaka revering the various quarters and said to him, “Householder’s son, why are you revering the various quarters in this way?”
“Sir, on his deathbed my father said to me: ‘My dear, please revere the quarters.’ Honoring, respecting, and venerating my father’s words, I rose early and left Rājagaha and, with my clothes and hair all wet, raised my cupped palms to revere the various quarters—east, south, west, north, below, and above.”
243. Khi ấy, Đức Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, vào thành Rājagaha để khất thực. Đức Thế Tôn thấy con trai của gia chủ là Siṅgālaka, sáng sớm thức dậy, đi ra khỏi thành Rājagaha, y phục còn ướt, tóc còn ướt, chắp tay lạy các phương khác nhau – phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương dưới, và phương trên. Sau khi thấy, Ngài nói với con trai của gia chủ là Siṅgālaka: “Này con trai của gia chủ, vì sao con sáng sớm thức dậy, đi ra khỏi thành Rājagaha, y phục còn ướt, tóc còn ướt, chắp tay lạy các phương khác nhau – phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương dưới, và phương trên?” “Bạch Thế Tôn, khi thân phụ của con lâm chung, ông đã nói với con rằng: ‘Này con, con hãy đảnh lễ các phương.’ Bạch Thế Tôn, do vậy, con vâng lời, tôn trọng, kính lễ, và cúng dường lời dạy của cha, nên sáng sớm thức dậy, đi ra khỏi thành Rājagaha, y phục còn ướt, tóc còn ướt, chắp tay lạy các phương khác nhau – phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương dưới, và phương trên.”
“Na kho, gahapatiputta, ariyassa vinaye evaṁ cha disā namassitabbā”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye cha disā namassitabbā? Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu, yathā ariyassa vinaye cha disā namassitabbā”ti.
“Householder’s son, that’s not how the six directions should be revered in the training of the Noble One.”
“But sir, how should the six directions be revered in the training of the Noble One? Sir, please teach me this.”
244. “Này con trai của gia chủ, trong giới luật của bậc Thánh, sáu phương không nên được đảnh lễ như vậy.” “Bạch Thế Tôn, vậy trong giới luật của bậc Thánh, sáu phương nên được đảnh lễ như thế nào? Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Chánh pháp cho con, để trong giới luật của bậc Thánh, sáu phương nên được đảnh lễ.”
“Tena hi, gahapatiputta, suṇohi sādhukaṁ manasikarohi bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho siṅgālako gahapatiputto bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
“Well then, householder’s son, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” replied Sigālaka. The Buddha said this:
“Vậy thì, này con trai của gia chủ, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” con trai của gia chủ là Siṅgālaka đã vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvakassa cattāro kammakilesā pahīnā honti, catūhi ca ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti, cha ca bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati, so evaṁ cuddasa pāpakāpagato chaddisāpaṭicchādī ubholokavijayāya paṭipanno hoti. Tassa ayañceva loko āraddho hoti paro ca loko. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
“Householder’s son, a noble disciple gives up four corrupt deeds, doesn’t do bad deeds on four grounds, and avoids six drains on wealth. When they’ve left these fourteen bad things behind they have the six directions covered. They’re practicing to win in both worlds, and they succeed in this world and the next. When their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.
“Này con trai của gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử đã từ bỏ bốn nghiệp phiền não, không làm điều ác do bốn nguyên nhân, và không thực hành sáu cửa dẫn đến tổn thất tài sản, vị ấy như vậy đã thoát khỏi mười bốn điều ác, đã che chở sáu phương, và đã thực hành để chinh phục cả hai thế giới. Đối với vị ấy, thế giới này được khởi sự và thế giới bên kia cũng được khởi sự. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh vào cõi lành, cõi trời.”
Bốn nghiệp phiền não
Katamassa cattāro kammakilesā pahīnā honti? Pāṇātipāto kho, gahapatiputta, kammakileso, adinnādānaṁ kammakileso, kāmesumicchācāro kammakileso, musāvādo kammakileso. Imassa cattāro kammakilesā pahīnā hontī”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
What four corrupt deeds have they given up? Killing living creatures, stealing, sexual misconduct, and lying: these are corrupt deeds. These are the four corrupt deeds they’ve given up.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
245. “Bốn nghiệp phiền não nào đã được vị ấy từ bỏ? Này con trai của gia chủ, sát sanh là một nghiệp phiền não, trộm cắp là một nghiệp phiền não, tà dâm trong các dục là một nghiệp phiền não, nói dối là một nghiệp phiền não. Bốn nghiệp phiền não này đã được vị ấy từ bỏ.” Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Pāṇātipāto adinnādānaṁ, Musāvādo ca vuccati; Paradāragamanañceva, Nappasaṁsanti paṇḍitā”ti.
“Killing, stealing, telling lies, and committing adultery: astute people don’t praise these things.”
“Sát sanh, trộm cắp, và điều được gọi là nói dối; cùng với việc đi lại với vợ người khác, những điều này bậc hiền trí không tán thán.”
“Katamehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karoti? Chandāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, dosāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, mohāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti, bhayāgatiṁ gacchanto pāpakammaṁ karoti. Yato kho, gahapatiputta, ariyasāvako neva chandāgatiṁ gacchati, na dosāgatiṁ gacchati, na mohāgatiṁ gacchati, na bhayāgatiṁ gacchati; imehi catūhi ṭhānehi pāpakammaṁ na karotī”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“On what four grounds do they not do bad deeds? One does bad deeds prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice. When a noble disciple is not prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, and cowardice, they don’t do bad deeds on these four grounds.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
246. “Bởi bốn trường hợp nào mà vị ấy không làm điều ác? Do đi vào thiên vị vì tham ái, người ta làm điều ác; do đi vào thiên vị vì sân hận, người ta làm điều ác; do đi vào thiên vị vì si mê, người ta làm điều ác; do đi vào thiên vị vì sợ hãi, người ta làm điều ác. Này gia chủ tử, vì rằng bậc Thánh đệ tử không đi vào thiên vị vì tham ái, không đi vào thiên vị vì sân hận, không đi vào thiên vị vì si mê, không đi vào thiên vị vì sợ hãi; do bốn trường hợp này, vị ấy không làm điều ác.” Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṁ ativattati; Nihīyati yaso tassa, kāḷapakkheva candimā.
“If you act against the teaching out of favoritism, hostility, cowardice, or stupidity, your fame shrinks, like the moon in the waning fortnight.
“Người nào do tham, do sân, do sợ, do si, mà vi phạm Chánh pháp; danh tiếng của người ấy bị suy giảm, như mặt trăng trong kỳ trăng khuyết.
Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṁ nātivattati; Āpūrati yaso tassa, sukkapakkheva candimā”ti.
If you don’t act against the teaching out of favoritism, hostility, cowardice, and stupidity, your fame swells, like the moon in the waxing fortnight.”
“Người nào do tham, do sân, do sợ, do si, mà không vi phạm Chánh pháp; danh tiếng của người ấy được viên mãn, như mặt trăng trong kỳ trăng tròn.”
Sáu cửa ngõ của sự suy vong
“Katamāni cha bhogānaṁ apāyamukhāni na sevati? Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyogo kho, gahapatiputta, bhogānaṁ apāyamukhaṁ, vikālavisikhācariyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, samajjābhicaraṇaṁ bhogānaṁ apāyamukhaṁ, jūtappamādaṭṭhānānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, pāpamittānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ, ālasyānuyogo bhogānaṁ apāyamukhaṁ.
“What six drains on wealth do they avoid? Habitually engaging in the following things is a drain on wealth: intoxicants of beer, wine, and liquor; roaming the streets at night; frequenting festivals; gambling; bad friends; laziness.
247. “Vị ấy không thực hành sáu cửa ngõ nào làm hao tán tài sản? Này gia chủ tử, sự đam mê các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dể duôi, là cửa ngõ làm hao tán tài sản. Sự đam mê đi lang thang ngoài đường vào phi thời là cửa ngõ làm hao tán tài sản. Sự lui tới các nơi đình đám là cửa ngõ làm hao tán tài sản. Sự đam mê cờ bạc, là cơ sở của sự dể duôi, là cửa ngõ làm hao tán tài sản. Sự đam mê kết giao bạn xấu là cửa ngõ làm hao tán tài sản. Sự đam mê lười biếng là cửa ngõ làm hao tán tài sản.
Sáu sự nguy hại của rượu men, rượu nấu
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge. Sandiṭṭhikā dhanajāni, kalahappavaḍḍhanī, rogānaṁ āyatanaṁ, akittisañjananī, kopīnanidaṁsanī, paññāya dubbalikaraṇītveva chaṭṭhaṁ padaṁ bhavati. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge.
There are these six drawbacks of habitually consuming intoxicants of beer, wine, and liquor. Immediate loss of wealth, promotion of quarrels, susceptibility to illness, disrepute, indecent exposure; and weakened wisdom is the sixth thing. These are the six drawbacks of habitually consuming intoxicants of beer, wine, and liquor.
248. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc đam mê các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dể duôi: Sự hao tán tài sản hiện tại, làm tăng trưởng cãi vã, là nơi phát sinh bệnh tật, gây ra tiếng xấu, làm phơi bày điều kín đáo, và điểm thứ sáu là làm suy yếu trí tuệ. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc đam mê các loại rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dể duôi.
Sáu sự nguy hại của việc đi lại phi thời
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge. Attāpissa agutto arakkhito hoti, puttadāropissa agutto arakkhito hoti, sāpateyyampissa aguttaṁ arakkhitaṁ hoti, saṅkiyo ca hoti pāpakesu ṭhānesu, abhūtavacanañca tasmiṁ rūhati, bahūnañca dukkhadhammānaṁ purakkhato hoti. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā vikālavisikhācariyānuyoge.
There are these six drawbacks of roaming the streets at night. Yourself, your partners and children, and your property are all left unguarded. You’re suspected of bad deeds. Untrue rumors spread about you. You’re at the forefront of many things that entail suffering. These are the six drawbacks of roaming the streets at night.
249. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc đam mê đi lang thang ngoài đường vào phi thời: Bản thân không được che chở, không được bảo vệ; vợ con không được che chở, không được bảo vệ; tài sản không được che chở, không được bảo vệ; bị nghi ngờ trong các việc xấu; lời nói không thật phát sinh nơi người ấy; và là người đi trước của nhiều pháp khổ. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc đam mê đi lang thang ngoài đường vào phi thời.
Sáu sự nguy hại của việc lui tới các nơi đình đám
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā samajjābhicaraṇe. Kva naccaṁ, kva gītaṁ, kva vāditaṁ, kva akkhānaṁ, kva pāṇissaraṁ, kva kumbhathunanti. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā samajjābhicaraṇe.
There are these six drawbacks of frequenting festivals. You’re always thinking: ‘Where’s the dancing? Where’s the singing? Where’s the music? Where are the stories? Where’s the applause? Where are the kettledrums?’ These are the six drawbacks of frequenting festivals.
250. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc lui tới các nơi đình đám: (Nghĩ rằng) ‘Múa ở đâu? Hát ở đâu? Nhạc ở đâu? Kể chuyện ở đâu? Vỗ tay ở đâu? Trống ở đâu?’. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc lui tới các nơi đình đám.
Sáu sự nguy hại của việc cờ bạc dể duôi
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge. Jayaṁ veraṁ pasavati, jino vittamanusocati, sandiṭṭhikā dhanajāni, sabhāgatassa vacanaṁ na rūhati, mittāmaccānaṁ paribhūto hoti, āvāhavivāhakānaṁ apatthito hoti: ‘akkhadhutto ayaṁ purisapuggalo nālaṁ dārabharaṇāyā’ti. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā jūtappamādaṭṭhānānuyoge.
There are these six drawbacks of habitually gambling. Victory breeds enmity. The loser mourns their money. There is immediate loss of wealth. A gambler’s word carries no weight in public assembly. Friends and colleagues treat them with contempt. And no one wants to marry a gambler, for they think: ‘This individual is a gambler—they’re not able to support a partner.’ These are the six drawbacks of habitually gambling.
251. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc đam mê cờ bạc, là cơ sở của sự dể duôi: Khi thắng, sinh ra oán thù; khi thua, sầu muộn về của cải; sự hao tán tài sản hiện tại; lời nói ở giữa hội chúng không được chấp nhận; bị bạn bè, thân hữu khinh thường; không được những người muốn cưới gả mong muốn, (vì họ nghĩ rằng): ‘Người này là kẻ nghiện cờ bạc, không đủ khả năng nuôi vợ’. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc đam mê cờ bạc, là cơ sở của sự dể duôi.
Sáu sự nguy hại của việc có bạn xấu
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā pāpamittānuyoge. Ye dhuttā, ye soṇḍā, ye pipāsā, ye nekatikā, ye vañcanikā, ye sāhasikā. Tyāssa mittā honti te sahāyā. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā pāpamittānuyoge.
There are these six drawbacks of bad friends. You become friends and companions with those who are addicts, carousers, drunkards, frauds, swindlers, and thugs. These are the six drawbacks of bad friends.
252. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc đam mê kết giao bạn xấu: Những kẻ cờ bạc, những kẻ đam mê sắc dục, những kẻ nghiện rượu, những kẻ lừa đảo, những kẻ gian trá, những kẻ bạo hành. Những kẻ ấy là bạn, là đồng bọn của người đó. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc đam mê kết giao bạn xấu.
Sáu sự nguy hại của sự lười biếng
Cha khome, gahapatiputta, ādīnavā ālasyānuyoge. Atisītanti kammaṁ na karoti, atiuṇhanti kammaṁ na karoti, atisāyanti kammaṁ na karoti, atipātoti kammaṁ na karoti, atichātosmīti kammaṁ na karoti, atidhātosmīti kammaṁ na karoti. Tassa evaṁ kiccāpadesabahulassa viharato anuppannā ceva bhogā nuppajjanti, uppannā ca bhogā parikkhayaṁ gacchanti. Ime kho, gahapatiputta, cha ādīnavā ālasyānuyoge”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
There are these six drawbacks of habitual laziness. You don’t get your work done because you think: ‘It’s too cold! It’s too hot. It’s too late! It’s too early! I’m too hungry! I’m too full!’ By dwelling on so many excuses for not working, you don’t make any more money, and the money you already have runs out. These are the six drawbacks of habitual laziness.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
253. “Này gia chủ tử, có sáu sự nguy hại này trong việc đam mê lười biếng: (Nghĩ rằng) ‘Quá lạnh’, người ấy không làm việc. (Nghĩ rằng) ‘Quá nóng’, người ấy không làm việc. (Nghĩ rằng) ‘Quá muộn’, người ấy không làm việc. (Nghĩ rằng) ‘Quá sớm’, người ấy không làm việc. (Nghĩ rằng) ‘Tôi quá đói’, người ấy không làm việc. (Nghĩ rằng) ‘Tôi quá no’, người ấy không làm việc. Đối với người sống như vậy, có nhiều lý do để không làm việc, tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến hủy diệt. Này gia chủ tử, đây là sáu sự nguy hại trong việc đam mê lười biếng.” Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Hoti pānasakhā nāma, hoti sammiyasammiyo; Yo ca atthesu jātesu, sahāyo hoti so sakhā.
“Some are just drinking buddies, some call you their dear, dear friend; but a friend in times of need is a comrade indeed.
“Có người gọi là bạn nhậu, có người là bạn khi gặp mặt; người nào là bạn đồng hành khi công việc phát sinh, người đó mới là bạn thật sự.
Ussūraseyyā paradārasevanā, Verappasavo ca anatthatā ca; Pāpā ca mittā sukadariyatā ca, Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Sleeping late, adultery, making enemies, harmfulness, bad friends, and avarice: these six grounds ruin a person.
“Ngủ đến khi mặt trời lên cao, quan hệ với vợ người, sinh ra oán thù và làm điều vô ích; bạn bè xấu ác và tính keo kiệt; sáu trường hợp này hủy hoại con người.
Pāpamitto pāpasakho, pāpaācāragocaro; Asmā lokā paramhā ca, ubhayā dhaṁsate naro.
With bad friends, bad comrades, bad behavior and alms-resort, a man falls to ruin in both this world and the next.
“Người có bạn xấu, đồng bọn xấu, có hành vi và nơi lui tới xấu ác; người ấy bị hủy hoại từ đời này và đời sau, từ cả hai thế giới.
Akkhitthiyo vāruṇī naccagītaṁ, Divā soppaṁ pāricariyā akāle; Pāpā ca mittā sukadariyatā ca, Ete cha ṭhānā purisaṁ dhaṁsayanti.
Dice, women, toddy, song and dance; sleeping by day and roaming at night; bad friends, and avarice: these six grounds ruin a person.
“Cờ bạc, phụ nữ, rượu chè, múa hát, ngủ ngày, đi lại phi thời, bạn bè xấu ác và tính keo kiệt; sáu trường hợp này hủy hoại con người.
Akkhehi dibbanti suraṁ pivanti, Yantitthiyo pāṇasamā paresaṁ; Nihīnasevī na ca vuddhasevī, Nihīyate kāḷapakkheva cando.
They play dice and drink beer, and consort with women loved by others. Associating with the worse, not the better, they diminish like the waning moon.
“Những ai chơi cờ bạc, uống rượu, đi đến với những người phụ nữ vốn quý như mạng sống của người khác; những người thân cận kẻ thấp hèn, không thân cận bậc trí tuệ, sẽ bị suy tàn như mặt trăng trong kỳ trăng khuyết.
Yo vāruṇī addhano akiñcano, Pipāso pivaṁ papāgato; Udakamiva iṇaṁ vigāhati, Akulaṁ kāhiti khippamattano.
One who is broke and destitute due to toddy, thirsty, drinking in the bar, drowning in debt, will quickly lose their way.
“Người nghiện rượu, không tài sản, không của cải, khát khao uống rượu, thường lui tới quán rượu; người ấy chìm vào nợ nần như đá chìm trong nước, và sẽ nhanh chóng làm cho gia đình mình tan nát.
Na divā soppasīlena, rattimuṭṭhānadessinā; Niccaṁ mattena soṇḍena, sakkā āvasituṁ gharaṁ.
When you’re in the habit of sleeping late, seeing night as time to rise, and always getting drunk, you can’t keep up the household life.
“Người có thói quen ngủ ngày, ghét thức dậy ban đêm, luôn say sưa, nghiện ngập, thì không thể sống đời sống gia đình.
Atisītaṁ atiuṇhaṁ, atisāyamidaṁ ahu; Iti vissaṭṭhakammante, atthā accenti māṇave.
‘Too cold, too hot, too late,’ they say. When the young neglect their work like this, riches pass them by.
“‘Trời quá lạnh, trời quá nóng, đã quá muộn rồi’; vì những lý do này mà từ bỏ công việc, các lợi ích sẽ trôi qua đối với những người trẻ tuổi ấy.
Yodha sītañca uṇhañca, tiṇā bhiyyo na maññati; Karaṁ purisakiccāni, so sukhaṁ na vihāyatī”ti.
But one who considers heat and cold as no more than blades of grass—he does his duties as a man, and happiness never fails.”
“Còn người nào xem lạnh và nóng không hơn gì cọng cỏ, làm các công việc của người đàn ông, người ấy không từ bỏ hạnh phúc.”
Những kẻ giả làm bạn
“Cattārome, gahapatiputta, amittā mittapatirūpakā veditabbā. Aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo, vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo, anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo, apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo.
“Householder’s son, you should recognize these four enemies disguised as friends: the taker, the talker, the flatterer, the spender.
254. Này con trai gia chủ, có bốn hạng người không phải là bạn mà chỉ là bạn giả hiệu này cần phải được biết đến. Người chỉ biết lấy của không phải là bạn mà là bạn giả hiệu, cần phải được biết đến; người chỉ nói suông không phải là bạn mà là bạn giả hiệu, cần phải được biết đến; người chỉ nói lời vừa lòng không phải là bạn mà là bạn giả hiệu, cần phải được biết đến; người bạn trong các đường sa đọa không phải là bạn mà là bạn giả hiệu, cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
You can recognize a fake friend who’s all take on four grounds.
255. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người chỉ biết lấy của không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến.
Aññadatthuharo hoti, appena bahumicchati; Bhayassa kiccaṁ karoti, sevati atthakāraṇā.
Your possessions end up theirs. Giving little, they expect a lot. They do their duty out of fear. They associate for their own advantage.
Người ấy chỉ biết lấy của, cho ít mà muốn được nhiều; khi có sự sợ hãi mới làm công việc, và giao du vì lợi ích của mình.
Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi aññadatthuharo amitto mittapatirūpako veditabbo.
You can recognize a fake friend who’s all take on these four grounds.
Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người chỉ biết lấy của không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo. Atītena paṭisantharati, anāgatena paṭisantharati, niratthakena saṅgaṇhāti, paccuppannesu kiccesu byasanaṁ dasseti. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi vacīparamo amitto mittapatirūpako veditabbo.
You can recognize a fake friend who’s all talk on four grounds. They’re hospitable in the past. They’re hospitable in the future. They’re full of meaningless pleasantries. When something needs doing in the present they point to their own misfortune. You can recognize a fake friend who’s all talk on these four grounds.
256. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người chỉ nói suông không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến. Người ấy tiếp đãi bằng chuyện quá khứ, tiếp đãi bằng chuyện vị lai, tiếp đãi bằng lời vô ích, trong các công việc hiện tại thì chỉ ra sự thất bại. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người chỉ nói suông không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo. Pāpakampissa anujānāti, kalyāṇampissa anujānāti, sammukhāssa vaṇṇaṁ bhāsati, parammukhāssa avaṇṇaṁ bhāsati. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anuppiyabhāṇī amitto mittapatirūpako veditabbo.
You can recognize a fake friend who’s a flatterer on four grounds. They support you equally in doing bad and doing good. They praise you to your face, and put you down behind your back. You can recognize a fake friend who’s a flatterer on these four grounds.
257. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người chỉ nói lời vừa lòng không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến. Người ấy cũng đồng ý với việc xấu của bạn, cũng đồng ý với việc tốt của bạn; trước mặt thì tán dương, sau lưng thì chê bai. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người chỉ nói lời vừa lòng không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti, vikālavisikhācariyānuyoge sahāyo hoti, samajjābhicaraṇe sahāyo hoti, jūtappamādaṭṭhānānuyoge sahāyo hoti. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi apāyasahāyo amitto mittapatirūpako veditabbo”ti.
You can recognize a fake friend who’s a spender on four grounds. They accompany you when drinking, roaming the streets at night, frequenting festivals, and gambling. You can recognize a fake friend who’s a spender on these four grounds.”
258. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người bạn trong các đường sa đọa không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến. Người ấy là bạn đồng hành trong việc thường xuyên say sưa rượu men, rượu nấu là nhân sanh sự dể duôi; là bạn đồng hành trong việc thường xuyên đi lang thang ngoài đường vào phi thời; là bạn đồng hành trong việc đi đến các nơi đình đám; là bạn đồng hành trong việc thường xuyên cờ bạc là nhân sanh sự dể duôi. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người bạn trong các đường sa đọa không phải là bạn mà là bạn giả hiệu cần phải được biết đến.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
259. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa:
“Aññadatthuharo mitto, yo ca mitto vacīparo; Anuppiyañca yo āha, apāyesu ca yo sakhā.
“One friend is all take, another all talk; one’s just a flatterer, and one’s a comrade who spends.
Người bạn chỉ biết lấy của, người bạn chỉ nói suông; người nào chỉ nói lời vừa lòng, và người bạn trong các đường sa đọa.
Ete amitte cattāro, iti viññāya paṇḍito; Ārakā parivajjeyya, maggaṁ paṭibhayaṁ yathā”ti.
An astute person understands these four enemies for what they are and keeps them at a distance, as they’d shun a risky road.”
Bốn hạng người không phải là bạn này, người trí sau khi biết như vậy, nên tránh xa họ, như người ta tránh xa con đường nguy hiểm.
“Cattārome, gahapatiputta, mittā suhadā veditabbā.
“Householder’s son, you should recognize these four good-hearted friends:
260. Này con trai gia chủ, có bốn hạng bạn có tâm tốt này cần phải được biết đến. Người bạn hay giúp đỡ là bạn có tâm tốt, cần phải được biết đến; người bạn cùng chia sẻ vui buồn là bạn có tâm tốt, cần phải được biết đến; người bạn chỉ bày điều lợi ích là bạn có tâm tốt, cần phải được biết đến; người bạn hay thương mến là bạn có tâm tốt, cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo. Pamattaṁ rakkhati, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhati, bhītassa saraṇaṁ hoti, uppannesu kiccakaraṇīyesu taddiguṇaṁ bhogaṁ anuppadeti. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi upakāro mitto suhado veditabbo.
You can recognize a good-hearted friend who’s a helper on four grounds. They guard you when you’re negligent. They guard your property when you’re negligent. They keep you safe in times of danger. When something needs doing, they provide you with twice the money you need. You can recognize a good-hearted friend who’s a helper on these four grounds.
261. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người bạn hay giúp đỡ là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến. Người ấy bảo vệ bạn khi dể duôi, bảo vệ tài sản của bạn khi dể duôi, là nơi nương tựa cho bạn khi sợ hãi, khi có công việc cần làm phát sanh thì cung cấp tài sản gấp đôi. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người bạn hay giúp đỡ là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo. Guyhamassa ācikkhati, guyhamassa parigūhati, āpadāsu na vijahati, jīvitaṁpissa atthāya pariccattaṁ hoti. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi samānasukhadukkho mitto suhado veditabbo.
You can recognize a good-hearted friend who’s the same in good times and bad on four grounds. They tell you secrets. They keep your secrets. They don’t abandon you in times of trouble. They’d even give their life for your welfare. You can recognize a good-hearted friend who’s the same in good times and bad on these four grounds.
262. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người bạn cùng chia sẻ vui buồn là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến. Người ấy nói cho bạn biết điều bí mật của mình, giữ kín điều bí mật của bạn, không từ bỏ trong lúc hoạn nạn, và vì lợi ích của bạn mà mạng sống cũng được hy sinh. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người bạn cùng chia sẻ vui buồn là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo. Pāpā nivāreti, kalyāṇe niveseti, assutaṁ sāveti, saggassa maggaṁ ācikkhati. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi atthakkhāyī mitto suhado veditabbo.
You can recognize a good-hearted friend who’s a counselor on four grounds. They keep you from doing bad. They support you in doing good. They teach you what you do not know. They explain the path to heaven. You can recognize a good-hearted friend who’s a counselor on these four grounds.
263. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người bạn chỉ bày điều lợi ích là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến. Người ấy ngăn cản bạn khỏi điều ác, khuyến khích bạn vào điều thiện, làm cho bạn nghe được điều chưa từng nghe, và chỉ cho bạn con đường đến cõi trời. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người bạn chỉ bày điều lợi ích là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến.
Catūhi kho, gahapatiputta, ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo. Abhavenassa na nandati, bhavenassa nandati, avaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ nivāreti, vaṇṇaṁ bhaṇamānaṁ pasaṁsati. Imehi kho, gahapatiputta, catūhi ṭhānehi anukampako mitto suhado veditabbo”ti.
You can recognize a good-hearted friend who’s sympathetic on four grounds. They don’t delight in your misfortune. They delight in your good fortune. They keep others from criticizing you. They encourage praise of you. You can recognize a good-hearted friend who’s sympathetic on these four grounds.”
264. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp, người bạn hay thương mến là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến. Người ấy không vui mừng với sự suy sụp của bạn, vui mừng với sự thịnh vượng của bạn, ngăn cản người nói lời chê bai bạn, và tán dương người nói lời ca ngợi bạn. Này con trai gia chủ, do bốn trường hợp này, người bạn hay thương mến là bạn có tâm tốt cần phải được biết đến.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
265. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa:
“Upakāro ca yo mitto, sukhe dukkhe ca yo sakhā; Atthakkhāyī ca yo mitto, yo ca mittānukampako.
“A friend who’s a helper, one the same in both pleasure and pain, a friend of good counsel, and one of sympathy;
Người bạn hay giúp đỡ, người bạn cùng chia sẻ vui buồn; người bạn chỉ bày điều lợi ích, và người bạn hay thương mến.
Etepi mitte cattāro, iti viññāya paṇḍito; Sakkaccaṁ payirupāseyya, mātā puttaṁva orasaṁ; Paṇḍito sīlasampanno, jalaṁ aggīva bhāsati.
an astute person understands these four friends for what they are and carefully looks after them, like a mother the child at her breast. The astute and virtuous shine like a burning flame.
Bốn hạng bạn tốt này, người trí sau khi biết như vậy, nên thân cận một cách kính trọng, như mẹ đối với con ruột. Người trí có giới hạnh, tỏa sáng như ngọn lửa rực cháy.
Bhoge saṁharamānassa, bhamarasseva irīyato; Bhogā sannicayaṁ yanti, vammikovupacīyati.
They pick up riches as bees roaming round pick up pollen. And their riches proceed to grow, like a termite mound piling up.
Đối với người đang tích lũy tài sản, như con ong đi tìm mật, tài sản sẽ được tích tụ, như gò mối được vun đắp lên.
Evaṁ bhoge samāhatvā, alamatto kule gihī; Catudhā vibhaje bhoge, sa ve mittāni ganthati.
In gathering wealth like this, a householder does enough for their family. And they’d hold on to friends by dividing their wealth in four.
Người gia chủ có khả năng trong gia đình, sau khi đã tích lũy tài sản như vậy, nên chia tài sản làm bốn phần. Người ấy quả thật gắn kết được bạn bè.
Ekena bhoge bhuñjeyya, dvīhi kammaṁ payojaye; Catutthañca nidhāpeyya, āpadāsu bhavissatī”ti.
One portion is to enjoy. Two parts invest in work. And the fourth should be kept for times of trouble.”
Với một phần, nên hưởng thụ tài sản; với hai phần, nên dùng vào công việc; và phần thứ tư, nên cất giữ để phòng khi hoạn nạn sẽ có dùng.
Phần về việc che chở sáu phương
“Kathañca, gahapatiputta, ariyasāvako chaddisāpaṭicchādī hoti? Cha imā, gahapatiputta, disā veditabbā. Puratthimā disā mātāpitaro veditabbā, dakkhiṇā disā ācariyā veditabbā, pacchimā disā puttadārā veditabbā, uttarā disā mittāmaccā veditabbā, heṭṭhimā disā dāsakammakarā veditabbā, uparimā disā samaṇabrāhmaṇā veditabbā.
“And how, householder’s son, does a noble disciple cover the six directions? These six directions should be recognized: parents as the east, tutors as the south, partner and children as the west, friends and colleagues as the north, bondservants and workers as beneath, and ascetics and brahmins as above.
266. Này con trai gia chủ, làm thế nào mà vị Thánh đệ tử là người che chở sáu phương? Này con trai gia chủ, sáu phương này cần phải được biết đến. Cha mẹ cần được biết là phương đông, thầy tổ cần được biết là phương nam, vợ con cần được biết là phương tây, bạn bè thân hữu cần được biết là phương bắc, người giúp việc, tôi tớ cần được biết là phương dưới, Sa-môn, Bà-la-môn cần được biết là phương trên.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhātabbā—bhato ne bharissāmi, kiccaṁ nesaṁ karissāmi, kulavaṁsaṁ ṭhapessāmi, dāyajjaṁ paṭipajjāmi, atha vā pana petānaṁ kālaṅkatānaṁ dakkhiṇaṁ anuppadassāmīti. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti. Pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, sippaṁ sikkhāpenti, patirūpena dārena saṁyojenti, samaye dāyajjaṁ niyyādenti. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā mātāpitaro paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi puttaṁ anukampanti. Evamassa esā puratthimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
A child should serve their parents as the eastern quarter in five ways, thinking: ‘I will support those who supported me. I’ll do my duty for them. I’ll maintain the family lineage. I’ll take care of the inheritance. When they have passed away, I’ll make an offering on their behalf.’ Parents served by the children in these five ways show sympathy to them in five ways. They keep them from doing bad. They support them in doing good. They train them in a profession. They connect them with a suitable partner. They transfer the inheritance in due time. Parents served by their children in these five ways show sympathy to them in these five ways. And that’s how the eastern quarter is covered, kept safe and free of peril.
267. “Này gia chủ tử, người con trai phải phụng sự cha mẹ là phương đông theo năm cách: ‘Được cha mẹ nuôi nấng, con sẽ nuôi nấng lại cha mẹ; con sẽ làm các công việc của cha mẹ; con sẽ duy trì dòng dõi gia đình; con sẽ xứng đáng với tài sản thừa kế; hoặc là sau khi cha mẹ qua đời, con sẽ làm phước hồi hướng cho các vị ấy.’ Này gia chủ tử, khi được người con trai phụng sự theo năm cách này, cha mẹ là phương đông sẽ thương tưởng lại người con theo năm cách: Ngăn chặn con không làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy cho con nghề nghiệp, kết hôn cho con với người vợ xứng đáng, và đúng thời trao lại tài sản thừa kế. Này gia chủ tử, khi được người con trai phụng sự theo năm cách này, cha mẹ là phương đông sẽ thương tưởng lại người con theo năm cách này. Như vậy, phương đông ấy của người con được che chở, được an ổn, và được vô úy.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhātabbā—uṭṭhānena upaṭṭhānena sussusāya pāricariyāya sakkaccaṁ sippapaṭiggahaṇena. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti—suvinītaṁ vinenti, suggahitaṁ gāhāpenti, sabbasippassutaṁ samakkhāyino bhavanti, mittāmaccesu paṭiyādenti, disāsu parittāṇaṁ karonti. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi antevāsinā dakkhiṇā disā ācariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi antevāsiṁ anukampanti. Evamassa esā dakkhiṇā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
A pupil should serve their tutor as the southern quarter in five ways: by rising for them, by serving them, by listening well, by looking after them, and by carefully learning their profession. Tutors served by their pupils in these five ways show sympathy to them in five ways. They make sure they’re well educated and well drilled in memorization. They clearly explain all the knowledge of the profession. They introduce them to their friends and colleagues. They provide protection in every region. Tutors served by their pupils in these five ways show sympathy to them in these five ways. And that’s how the southern quarter is covered, kept safe and free of peril.
268. “Này gia chủ tử, người đệ tử phải phụng sự các vị thầy là phương nam theo năm cách: bằng sự đứng dậy (đón rước), bằng sự hầu hạ, bằng sự vâng lời, bằng sự phục vụ, và bằng sự kính cẩn tiếp thu nghề nghiệp. Này gia chủ tử, khi được người đệ tử phụng sự theo năm cách này, các vị thầy là phương nam sẽ thương tưởng lại người đệ tử theo năm cách: Huấn luyện điều đã được huấn luyện kỹ, dạy nắm bắt điều đã được nắm bắt kỹ, giải thích cặn kẽ tất cả các ngành nghề, giới thiệu (đệ tử) với bạn bè thân hữu, và sắp đặt sự bảo vệ ở các phương. Này gia chủ tử, khi được người đệ tử phụng sự theo năm cách này, các vị thầy là phương nam sẽ thương tưởng lại người đệ tử theo năm cách này. Như vậy, phương nam ấy của người đệ tử được che chở, được an ổn, và được vô úy.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhātabbā—sammānanāya anavamānanāya anaticariyāya issariyavossaggena alaṅkārānuppadānena. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati—susaṁvihitakammantā ca hoti, saṅgahitaparijanā ca, anaticārinī ca, sambhatañca anurakkhati, dakkhā ca hoti analasā sabbakiccesu. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati. Evamassa esā pacchimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
A husband should serve his wife as the western quarter in five ways: by treating her with honor, by not looking down on her, by not being unfaithful, by relinquishing authority to her, and by presenting her with adornments. A wife served by her husband in these five ways shows sympathy to him in five ways. She’s well-organized in her work. She manages the domestic help. She’s not unfaithful. She preserves his earnings. She’s deft and tireless in all her duties. A wife served by her husband in these five ways shows sympathy to him in these five ways. And that’s how the western quarter is covered, kept safe and free of peril.
269. “Này gia chủ tử, người chồng phải phụng sự vợ là phương tây theo năm cách: bằng sự tôn trọng, bằng sự không coi thường, bằng sự không ngoại tình, bằng sự giao quyền hành, và bằng sự tặng cho đồ trang sức. Này gia chủ tử, khi được người chồng phụng sự theo năm cách này, người vợ là phương tây sẽ thương tưởng lại người chồng theo năm cách: công việc được sắp xếp chu đáo, đối xử tốt với quyến thuộc, không ngoại tình, giữ gìn tài sản đã được mang về, và khéo léo, không lười biếng trong mọi công việc. Này gia chủ tử, khi được người chồng phụng sự theo năm cách này, người vợ là phương tây sẽ thương tưởng lại người chồng theo năm cách này. Như vậy, phương tây ấy của người chồng được che chở, được an ổn, và được vô úy.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhātabbā—dānena peyyavajjena atthacariyāya samānattatāya avisaṁvādanatāya. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—pamattaṁ rakkhanti, pamattassa sāpateyyaṁ rakkhanti, bhītassa saraṇaṁ honti, āpadāsu na vijahanti, aparapajā cassa paṭipūjenti. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uttarā disā mittāmaccā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti. Evamassa esā uttarā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi ayyirakena heṭṭhimā disā dāsakammakarā paccupaṭṭhātabbā—
A gentleman should serve his friends and colleagues as the northern quarter in five ways: giving, kindly words, taking care, equality, and not using tricky words. Friends and colleagues served by a gentleman in these five ways show sympathy to him in five ways. They guard him when they’re negligent. They guard his property when they’re negligent. They keep him safe in times of danger. They don’t abandon him in times of trouble. They honor his descendants. Friends and colleagues served by a gentleman in these five ways show sympathy to him in these five ways. And that’s how the northern quarter is covered, kept safe and free of peril.
A master should serve their bondservants and workers as the lower quarter in five ways:
270. “Này gia chủ tử, người thiện nam tử phải phụng sự bạn bè thân hữu là phương bắc theo năm cách: bằng sự bố thí, bằng lời nói ái ngữ, bằng việc làm lợi ích, bằng sự đối xử đồng đều, và bằng sự không lừa dối. Này gia chủ tử, khi được người thiện nam tử phụng sự theo năm cách này, bạn bè thân hữu là phương bắc sẽ thương tưởng lại người thiện nam tử theo năm cách: bảo vệ khi (bạn) buông lung, bảo vệ tài sản của (bạn) khi buông lung, là nơi nương tựa khi (bạn) sợ hãi, không từ bỏ khi (bạn) gặp hoạn nạn, và tôn trọng con cháu của (bạn). Này gia chủ tử, khi được người thiện nam tử phụng sự theo năm cách này, bạn bè thân hữu là phương bắc sẽ thương tưởng lại người thiện nam tử theo năm cách này. Như vậy, phương bắc ấy của người thiện nam tử được che chở, được an ổn, và được vô úy.
271. “Này gia chủ tử, người chủ phải phụng sự người làm công và tôi tớ là phương dưới theo năm cách: bằng cách giao việc tùy theo sức lực, bằng cách cung cấp thức ăn và tiền lương, bằng cách chăm sóc khi bệnh tật, bằng cách chia sẻ các món ngon vật lạ, và bằng cách cho nghỉ vào những dịp thích hợp. Này gia chủ tử, khi được người chủ phụng sự theo năm cách này, người làm công và tôi tớ là phương dưới sẽ thương tưởng lại người chủ theo năm cách: thức dậy trước (chủ), đi ngủ sau (chủ), chỉ lấy những gì được cho, làm tốt công việc, và mang tiếng tốt, tiếng lành (cho chủ). Này gia chủ tử, khi được người chủ phụng sự theo năm cách này, người làm công và tôi tớ là phương dưới sẽ thương tưởng lại người chủ theo năm cách này. Như vậy, phương dưới ấy của người chủ được che chở, được an ổn, và được vô úy.
Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhātabbā—mettena kāyakammena mettena vacīkammena mettena manokammena anāvaṭadvāratāya āmisānuppadānena. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti—pāpā nivārenti, kalyāṇe nivesenti, kalyāṇena manasā anukampanti, assutaṁ sāventi, sutaṁ pariyodāpenti, saggassa maggaṁ ācikkhanti. Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi kulaputtena uparimā disā samaṇabrāhmaṇā paccupaṭṭhitā imehi chahi ṭhānehi kulaputtaṁ anukampanti. Evamassa esā uparimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā”ti.
A gentleman should serve ascetics and brahmins as the upper quarter in five ways: by loving deeds of body, speech, and mind, by not turning them away at the gate, and by providing them with material needs. Ascetics and brahmins served by a gentleman in these five ways show sympathy to him in six ways. They keep him from doing bad. They support him in doing good. They think of him with kindly thoughts. They teach him what he does not know. They clarify what he’s already learned. They explain the path to heaven. Ascetics and brahmins served by a gentleman in these five ways show sympathy to him in these six ways. And that’s how the upper quarter is covered, kept safe and free of peril.”
272. “Này gia chủ tử, người thiện nam tử phải phụng sự các vị Sa-môn, Bà-la-môn là phương trên theo năm cách: bằng thân nghiệp có từ tâm, bằng khẩu nghiệp có từ tâm, bằng ý nghiệp có từ tâm, bằng cách không đóng cửa (đối với các vị ấy), và bằng cách cúng dường các vật dụng. Này gia chủ tử, khi được người thiện nam tử phụng sự theo năm cách này, các vị Sa-môn, Bà-la-môn là phương trên sẽ thương tưởng lại người thiện nam tử theo sáu cách: Ngăn chặn không cho làm điều ác, khuyến khích làm điều thiện, thương tưởng với thiện tâm, dạy cho nghe điều chưa được nghe, làm cho trong sạch điều đã được nghe, và chỉ cho con đường đến cõi trời. Này gia chủ tử, khi được người thiện nam tử phụng sự theo năm cách này, các vị Sa-môn, Bà-la-môn là phương trên sẽ thương tưởng lại người thiện nam tử theo sáu cách này. Như vậy, phương trên ấy của người thiện nam tử được che chở, được an ổn, và được vô úy.”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
273. Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa:
“Mātāpitā disā pubbā, ācariyā dakkhiṇā disā; Puttadārā disā pacchā, mittāmaccā ca uttarā.
“Parents are the east, tutors the south, wives and child the west, friends and colleagues the north,
“Cha mẹ là phương Đông, các vị thầy là phương Nam; Vợ con là phương Tây, bạn bè thân hữu là phương Bắc.
Dāsakammakarā heṭṭhā, uddhaṁ samaṇabrāhmaṇā; Etā disā namasseyya, alamatto kule gihī.
servants and workers below, and ascetics and brahmins above. By honoring these quarters a householder does enough for their family.
Người làm công tôi tớ là phương Dưới, Sa-môn Bà-la-môn là phương Trên; Người gia chủ trong gia đình có trách nhiệm nên đảnh lễ các phương ấy.
Paṇḍito sīlasampanno, saṇho ca paṭibhānavā; Nivātavutti atthaddho, tādiso labhate yasaṁ.
The astute and the virtuous, the gentle and the articulate, the placid in manner and the amenable: they’re the kind who win glory.
Bậc trí tuệ, đầy đủ giới hạnh, tế nhị và có biện tài; Khiêm hạ, không cứng nhắc, người như vậy được danh tiếng.
Uṭṭhānako analaso, āpadāsu na vedhati; Acchinnavutti medhāvī, tādiso labhate yasaṁ.
The diligent, not lazy, those not disturbed by troubles, those consistent in conduct, the intelligent: they’re the kind who win glory.
Người siêng năng, không lười biếng, không dao động trước nghịch cảnh; Sinh kế không gián đoạn, có trí tuệ, người như vậy được danh tiếng.
Saṅgāhako mittakaro, vadaññū vītamaccharo; Netā vinetā anunetā, tādiso labhate yasaṁ.
The inclusive, the makers of friends, the bountiful, those rid of stinginess, those who lead, train, and persuade: they’re the kind who win glory.
Người biết nhiếp phục, biết kết bạn, rộng rãi, không keo kiệt; Là người lãnh đạo, người hướng dẫn, người khuyên nhủ, người như vậy được danh tiếng.
Dānañca peyyavajjañca, atthacariyā ca yā idha; Samānattatā ca dhammesu, tattha tattha yathārahaṁ; Ete kho saṅgahā loke, rathassāṇīva yāyato.
Giving and kindly words, taking care here, and treating equally in worldly conditions, as they deserve in each case; these ways of being inclusive in the world are like a moving chariot’s linchpin.
Bố thí, lời nói ái ngữ, và việc làm lợi ích ở đời này; Cùng sự đồng sự trong các pháp, tùy nơi, tùy lúc, tùy hoàn cảnh; Những pháp nhiếp phục ấy ở trên đời, giống như chốt của cỗ xe đang chạy.
Ete ca saṅgahā nāssu, na mātā puttakāraṇā; Labhetha mānaṁ pūjaṁ vā, pitā vā puttakāraṇā.
If there were no such ways of being inclusive, neither mother nor father would be respected and honored for what they’ve done for their children.
Nếu những pháp nhiếp phục này không có, thì người mẹ do vì con cái; Sẽ không nhận được sự kính trọng hay cúng dường, người cha cũng vậy do vì con cái.
Yasmā ca saṅgahā ete, sammapekkhanti paṇḍitā; Tasmā mahattaṁ papponti, pāsaṁsā ca bhavanti te”ti.
But since these ways of being inclusive do exist, the astute do regard them well, so they achieve greatness and are praised.”
Bởi vì bậc trí tuệ thấy rõ những pháp nhiếp phục này; Nên họ đạt đến sự vĩ đại, và trở thành người đáng tán dương.”
Evaṁ vutte, siṅgālako gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu, ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When this was said, Sigālaka the householder’s son said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
274. Khi được nói như vậy, gia chủ tử Siṅgālaka bạch với Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Ví như, bạch Thế Tôn, người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối với ý nghĩ ‘người có mắt sẽ thấy được các sắc’. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và Tỳ-khưu Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm người cận sự nam, từ nay cho đến trọn đời đã quy y.”
Siṅgālasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Siṅgāla, kinh thứ tám, kết thúc.