- Dīgha Nikāya 28
Bản dịch
DN 28 — Kinh Tự Tín
Sampasādanīyasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời, Thế Tôn ở tại Nàlandà, trong rừng Pāvārikambavana. Lúc bấy giờ, tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 2—Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.
SC 3- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật là rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.” Này Sāriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn—Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 4- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong tương lai, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn—Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 5- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong hiện tại Ta là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của Thế Tôn—Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát Thế Tôn là như vậy?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 6- Này Sāriputta, hãy xem! Ngươi không có trí tuệ biết được tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai! Vậy sao, này Sāriputta, lời nói của Ngươi tuyên bố thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.”
SC 7PTS cs 2 Bạch Thế Tôn, con không có trí tuệ để được biết tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Bạch Thế Tôn, nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì ở biên cảnh, có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa thành ra vào. Cửa thành có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm, ngăn chận những người lạ, chỉ cho vào những ai quen biết. Người này, trong khi đi tuần tiểu xung quanh thành, có thể không thấy hết các chắp nối và khe hở của tường, nhỏ cho đến một con mèo có thể đi qua được. Nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về Chánh pháp. Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả những bậc Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả những bậc Thế Tôn này sẽ diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, sẽ như thật tu hạnh Bảy Giác chi và sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, và nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
SC 8Và nay ở đây, con một thời yết kiến Thế Tôn để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu. Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn thuyết pháp cho con, mỗi pháp lại cao thượng, thâm thúy hơn pháp trước, hắc pháp và bạch pháp đều được đề cập, đối chiếu như vậy, nên trong sự thâm hiểu Chánh pháp, một pháp được con thâm hiểu trọn vẹn, đó là lòng tin của con vào vị Bổn Sư—Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng và chúng Tăng đã khéo hành trì.
SC 9PTS cs 3 Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về các thiện pháp. Ở đây những thiện pháp là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, ở đây vị Tỷ kheo tận diệt các lậu hoặc, có thể tự mình chứng tri và chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại, Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát vô lậu này. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng đối với các thiện pháp. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các thiện pháp.
SC 10PTS cs 4 Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự trình bày các Nhập xứ. Bạch Thế Tôn, sáu nội xứ và ngoại xứ, tức là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về sự trình bày các Nhập xứ. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay một Bà-la-môn nào khác có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề trình bày các Nhập xứ.
SC 11PTS cs 5 Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề nhập thai. Bạch Thế Tôn, có bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, ở đây, có loại không biết mình nhập bụng người mẹ, không biết mình trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ nhất.
SC 12Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, nhưng không biết mình an trú trong bụng người mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai nhứ hai.
SC 13Lại nữa bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ, và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ ba.
SC 14Lại nữa Bạch Thế Tôn, có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ và biết mình ra khỏi bụng người mẹ. Ðó là loại nhập thai thứ tư. Ðây là bốn loại nhập thai. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề nhập thai.
SC 15PTS cs 6 Bạch Thế Tôn, lại nữa, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề sai khác trong sự ký tâm. Bạch Thế Tôn có bốn loại ký tâm sai khác như thế này. Bạch Thế Tôn, có hạng tự tỏ lộ bằng hình tướng: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ nhất.
SC 16Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, nhưng tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ hai.
SC 17Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi Người, phi nhân hay chư Thiên, mà tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm, tư duy: “Ý của Ngươi là như thế này, ý của Ngươi là như vậy, tâm của Ngươi là như thế này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.” Như vậy là loại ký tâm thứ ba.
SC 18Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiên, cũng không tự tỏ lộ, sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm và tư duy, nhưng khi chứng được định, không tầm, không tứ, có thể biết được tâm người khác với tâm của mình: “Tùy ước nguyện hợp ý hành của Tôn giả này, vị này sẽ hướng tâm đến tâm này. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác”. Như vậy là loại ký tâm thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề ký tâm sai khác.
SC 19PTS cs 7 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: lúc Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề kiến định (dassanasamāpatti). Bạch Thế Tôn, có bốn loại kiến định như thế này: Ở đây bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quan sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Như vậy là kiến định thứ nhất.
SC 20Lại nữa bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Với tâm nhập định như vậy, vị ấy quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu. Hơn nữa, vị ấy quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da. Như vậy là kiến định thứ hai.
SC 21Lại nữa bạch Thế Tôn, … Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là an trú cả đời này và an trú cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ ba.
SC 22Lại nữa, bạch Thế Tôn, … Hơn nữa, vị ấy vượt qua sự quán sát bộ xương của người ấy còn liên kết với nhau, còn dính thịt, máu và da, quán sát giòng tâm thức của người ấy, không gián đoạn, như là không an trú cả đời này và cả đời sau. Như vậy là kiến định thứ tư. Bạch Thế Tôn, thật là vô thượng về vấn đề kiến định.
SC 23PTS cs 8 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề phân loại các loại Người. Bạch Thế Tôn, có bảy loại Người như thế này: Câu giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín thắng giải, Tùy pháp hành, Tùy tín hành. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề phân loại loài Người.
SC 24PTS cs 9 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tinh cần. Bạch Thế Tôn có Bảy Giác chi như thế này: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề tinh cần.
SC 25PTS cs 10 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề tiến bộ trong sự tu hành (Paṭipadā = đạo hành). Bạch Thế Tôn, có bốn loại đạo hành như thế này: Hành trì khổ chứng ngộ chậm, hành trì khổ chứng ngộ mau, hành trì lạc chứng ngộ chậm, hành trì lạc chứng ngộ mau.
SC 26Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì cả hai phương diện đều được xem là hạ liệt, vừa khổ vừa chậm.
SC 27Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì khổ, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì khổ nên được gọi là hạ liệt.
SC 28Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ chậm. Bạch Thế Tôn, sự hành trì này vì chậm nên được gọi là hạ liệt.
SC 29Bạch Thế Tôn, ở đây, thế này là hành trì lạc, chứng ngộ mau. Bạch Thế Tôn sự hành trì này cả hai phương diện đều được xem là cao thượng, vừa lạc vừa mau. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề đạo hành (tiến bộ trên đường tu hành).
SC 30PTS cs 11 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề chánh hạnh trong ngôn ngữ. Bạch Thế Tôn, ở đây, một người không những không nói những lời liên hệ đến nói láo, mà cũng phải, trong khi tìm cách thắng cuộc, không dùng lời vu khống, lời ác khẩu và lời ly gián; trái lại, người ấy nói lời từ hòa, sáng suốt, đáng được giữ gìn, và nói đúng thời. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về chánh hạnh trong ngôn ngữ.
SC 31PTS cs 12 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề giới hạnh của con người. Bạch Thế Tôn, ở đây, có người chân thật, thành tín, không dối trá, không lừa gạt, không gợi ý, không chiêm tướng, không lấy lợi câu lợi; hộ trì các căn, ăn uống tiết độ, hành động ôn hòa, luôn luôn cảnh giác, không chán nản, tinh cần, trầm tư, chánh niệm, ngôn từ lanh lợi, hành vi gan dạ, chịu đựng, biết điều, không tham dục, tỉnh giác, cẩn trọng. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giới hạnh của con người.
SC 32PTS cs 13 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về sự sai biệt trong sự giảng dạy. Bạch Thế Tôn, có bốn loại giảng dạy. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ được giác ngộ.
SC 33Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy, biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau.
SC 34Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy, hành trì như thế này, sẽ diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh và ở tại cảnh giới ấy nhập Niết bàn, không còn về lại đời này.
SC 35Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này theo sự giảng dạy hành trì như thế này, sẽ diệt trừ các lậu hoặc, tự mình giác tri, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề sai biệt trong sự giảng dạy.
SC 36PTS cs 14 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về giải thoát trí của người khác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này diệt trừ ba kiết sử, sẽ chứng quả Dự lưu, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ.
SC 37Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này sẽ diệt trừ ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, sẽ chứng quả Nhất lai, phải sanh đời này một lần nữa, sẽ diệt tận khổ đau.
SC 38Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết được người khác: Người này diệt trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ được hóa sanh, tự chỗ ấy nhập Niết bàn, không còn phải trở lại đời này.
SC 39Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nhờ tự chánh tư duy biết người khác: Người này, diệt trừ các lậu hoặc, tự tri tự chứng, đạt đạo và an trú ngay trong đời hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề giải thoát trí của người khác.
SC 40PTS cs 15 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thường trú luận. Bạch Thế Tôn, có ba loại Thường trú luận như thế này. Bạch Thế Tôn ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói rằng: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành hoại kiếp. Nhưng trong tương lai tôi không được biết thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngả và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá. Còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ nhất.
SC 41Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, bốn thành kiếp hoại kiếp, năm thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới sẽ là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ hai.
SC 42Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này.” Như vậy vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Vị ấy nói: “Trong thời quá khứ, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay thành kiếp. Trong tương lai, tôi biết được thế giới là trong hoại kiếp hay trong thành kiếp. Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đỉnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sống lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú.” Ðó là Thường trú luận thứ ba. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Thường trú luận.
SC 43PTS cs 16 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Túc mạng trí. Bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp thành kiếp. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh tại chỗ kia. Tại chỗ kia tôi đã sống với tâm như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này.” Như vậy, vị ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những chư Thiên, mà tuổi thọ không thể đếm được hay không thể tính được. Nhưng dưới bất cứ ngã thể nào được có trong quá khứ, hoặc có sắc hay không sắc, hoặc có tưởng hay không tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, chúng nhớ đến đời quá khứ với các đặc điểm và chi tiết như vậy. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Túc mạng trí.
SC 44PTS cs 17 Lại nữa, bạch Thế Tôn điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Sanh tử trí của các loài hữu tình. Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ: “Này các Hiền giả, những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo Chánh kiến, tạo các nghiệp theo Chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, như vậy là tối thượng về vấn đề Sanh tử trí của các loại hữu tình.
SC 45PTS cs 18 Lại nữa, bạch Thế Tôn, điểm này thật là vô thượng: Thế Tôn thuyết pháp về vấn đề Thần túc thông. Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông như thế này. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh”.
SC 46Bạch Thế Tôn, thế nào là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”? Ở đây, bạch Thế Tôn, có vị Sa môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ cần mẫn, nhờ bất phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy chứng được nhiều loại Thần túc thông sai khác. Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân. Hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Bạch Thế Tôn, như vậy là loại thần thông hữu lậu, hữu dư y, được gọi là “không phải Thánh”.
SC 47Bạch Thế Tôn, thế nào là thần thông vô lậu, vô dư y, được gọi là “bậc Thánh?” Ở đây, bạch Thế Tôn vị Tỷ kheo, nếu vị này muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng không đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng không đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Ðối với sự vật không đối nghịch và đối nghịch, ta sẽ an trú với tưởng đối nghịch”, và ở đây vị ấy an trú với tưởng đối nghịch. Nếu vị ấy muốn: “Loại bỏ cả hai đối nghịch và không đối nghịch, ta sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, và ở đây vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Bạch Thế Tôn, như vậy là thần thông vô lậu, vô dư y, và được gọi là “bậc Thánh”.
SC 48Bạch Thế Tôn, như vậy là vô thượng về các loại Thần túc thông. Tất cả điểm này, Thế Tôn đã biết, và ngoài sự hiểu biết của Ngài, không có gì còn lại để hiểu biết hơn nữa. Không có một ai, một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác, có thể chứng biết hơn Thế Tôn về vấn đề các loại Thần túc thông.
SC 49PTS cs 19 Bạch Thế Tôn, những gì có thể đạt được bởi một thiện nam tử có lòng tin, có tinh tấn, có kiên trì bởi sự kiên trì của con người, bởi sự tinh tấn của con người, bởi sự tiến bộ của con người, bởi sự nhẫn nhục của con người, đều được Thế Tôn chứng đạt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có đam mê các dục lạc, dục lạc này là đê tiện, hèn hạ, thuộc phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn cũng không đam mê tu hành khổ hạnh, khổ hạnh này là khổ, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn có thể đạt được nếu Ngài muốn, một cách dễ dàng, một cách đầy đủ, sự hạnh phúc ngay trong hiện tại, do bốn Thiền định đem lại.
SC 50Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sāriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, còn sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con trả lời không. Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sāriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào còn lớn hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi như vậy con trả lời không.
SC 51Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sāriputta, trong thời quá khứ, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có. “Này Hiền giả Sāriputta, trong thời vị lai, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời có.
SC 52Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Này Hiền giả Sāriputta, trong thời hiện tại, có vị Sa môn hay Bà-la-môn nào có thể bằng Thế Tôn về vấn đề giác ngộ?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con trả lời không.
SC 53Bạch Thế Tôn, nếu có ai hỏi con: “Vì sao, Tôn giả Sāriputta một mặt thì xác nhận là có, một mặt xác nhận là không có?” Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy con sẽ trả lời: “Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn, tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời quá khứ, có vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời vị lai, có các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn tôi có nghe nói từ nơi Ngài tôi có nghi nhận: “Không có trường hợp, không có sự kiện trong một thế giới, hai vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cùng xuất hiện ở đời, không trước, không sau. Sự kiện như vậy không thể xảy ra”. Bạch Thế Tôn, có phải khi được hỏi và trả lời như vậy, con đã nói lên đúng ý với Thế Tôn, không có sai lạc, không có hiểu lầm Thế Tôn? Có phải con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp? Có phải không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích phê bình?
SC 54- Này Sāriputta, được hỏi và trả lời như vậy, Ngươi đã nói lên đúng ý với Ta, không có sai lạc, không có hiểu lầm Ta. Ngươi đã trả lời thuận pháp và đúng pháp. Không một đối phương hợp pháp nào có thể tìm ra lý do để chỉ trích, phê bình.
SC 55PTS cs 20 Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Udāyi bạch Thế Tôn
SC 56—Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Bạch Thế Tôn, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình chứng được dầu chỉ có một pháp, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ.
SC 57- Hãy ghi nhận, này Udāyi! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Này Udāyi, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình dầu chỉ có một pháp như vậy, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi. Này Udāyi hãy ghi nhận! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ.
SC 58PTS cs 21 Rồi Thế Tôn bảo tôn giả Sāriputta
SC 59—Vậy Sāriputta, Ngươi phải luôn luôn thuyết pháp phân biệt này cho các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, các Nam cư sĩ và các Nữ cư sĩ. Này Sāriputta, nếu có những kẻ ngu nào còn nghi ngờ hay ngần ngại đối với Như Lai, nếu họ được nghe pháp phân biệt này, nghi ngờ hay ngần ngại của họ đối với Như Lai sẽ được diệt trừ.
SC 60Như vậy, tôn giả Sāriputta nói lên lòng hoan hỷ của mình đối với Thế Tôn. Do vậy, danh từ “Sam pasàdaniyam, Tự hoan hỷ” được dùng cho câu trả lời này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 28
Inspiring Confidence
5. Kinh Tự Tín
1. Sāriputtasīhanāda
Evaṁ me sutaṁ—
1. Sāriputta’s Lion’s Roar
So I have heard.
Tiếng rống sư tử của Sāriputta
“evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati, na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan”ti.
“Sir, I have such confidence in the Buddha that I believe there’s no other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening.”
141. Tôi nghe như vầy – một thời Đức Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Đức Thế Tôn, con có niềm tin nơi Đức Thế Tôn như thế này: chưa từng có, sẽ không có, và hiện nay cũng không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ siêu việt hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ.’
“Uḷārā kho te ayaṁ, sāriputta, āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito: ‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’ti.
Kiṁ te, sāriputta, ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā: ‘evaṁsīlā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁdhammā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁpaññā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁvihārī te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“That’s a grand and bold statement, Sāriputta. You’ve roared a definitive, categorical lion’s roar, saying: ‘I have such confidence in the Buddha that I believe there’s no other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening.’
What about all the perfected ones, the fully awakened Buddhas who lived in the past? Have you encompassed their minds to know that those Buddhas had such ethics, or such qualities, or such wisdom, or such meditation, or such freedom?”
“No, sir.”
142. “Này Sāriputta, lời nói của ông thật là cao thượng, lời nói của bậc trượng phu, lời nói quả quyết, tiếng rống của sư tử: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin vững chắc nơi Thế Tôn như thế này: Không có, sẽ không có, và hiện tại cũng không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ siêu việt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ.’ Này Sāriputta, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, ông có dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của tất cả các vị Thế Tôn ấy mà biết rằng: ‘Các vị Thế Tôn ấy đã có giới như thế này, đã có pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có trú như thế này, đã có giải thoát như thế này’ không?” “Bạch Thế Tôn, không.”
“Kiṁ pana te, sāriputta, ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā: ‘evaṁsīlā te bhagavanto bhavissanti itipi, evaṁdhammā … evaṁpaññā … evaṁvihārī … evaṁvimuttā te bhagavanto bhavissanti itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“And what about all the perfected ones, the fully awakened Buddhas who will live in the future? Have you encompassed their minds to know that those Buddhas will have such ethics, or such qualities, or such wisdom, or such meditation, or such freedom?”
“No, sir.”
“Vậy thì này Sāriputta, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai, ông có dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của tất cả các vị Thế Tôn ấy mà biết rằng: ‘Các vị Thế Tôn ấy sẽ có giới như thế này, sẽ có pháp như thế này... tuệ... trú... sẽ có giải thoát như thế này’ không?” “Bạch Thế Tôn, không.”
“Kiṁ pana te, sāriputta, ahaṁ etarahi arahaṁ sammāsambuddho cetasā ceto paricca vidito: ‘evaṁsīlo bhagavā itipi, evaṁdhammo … evaṁpañño … evaṁvihārī … evaṁvimutto bhagavā itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“And what about me, the perfected one, the fully awakened Buddha at present? Have you encompassed my mind to know that I have such ethics, or such qualities, or such wisdom, or such meditation, or such freedom?”
“No, sir.”
“Vậy thì này Sāriputta, Ta, hiện tại là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ông có dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của Ta mà biết rằng: ‘Thế Tôn có giới như thế này, có pháp như thế này... tuệ... trú... Thế Tôn có giải thoát như thế này’ không?” “Bạch Thế Tôn, không.”
“Ettha ca hi te, sāriputta, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ natthi. Atha kiṁ carahi te ayaṁ, sāriputta, uḷārā āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito: ‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati, na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’”ti?
“Na kho me, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ atthi.
“In that case, Sāriputta, given that you don’t encompass the minds of Buddhas past, future, or present, what then are you doing, making such a grand and bold statement, roaring such a definitive, categorical lion’s roar?”
“Sir, though I don’t encompass the minds of Buddhas past, future, and present,
“Này Sāriputta, ông không có tha tâm trí đối với các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Vậy thì tại sao, này Sāriputta, ông lại nói lên lời nói cao thượng, lời nói của bậc trượng phu, lời nói quả quyết, tiếng rống của sư tử: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin vững chắc nơi Thế Tôn như thế này: Không có, sẽ không có, và hiện tại cũng không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ siêu việt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ’?”
Evameva kho me, bhante, dhammanvayo vidito. Ye te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā, satta sambojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhiṁsu. Yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā, satta sambojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhissanti. Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto satta sambojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho.
In the same way, I understand this by inference from the teaching: ‘All the perfected ones, fully awakened Buddhas—whether past, future, or present—give up the five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Their mind is firmly established in the four kinds of mindfulness meditation. They correctly develop the seven awakening factors. And they awaken to the supreme perfect awakening.’
143. “Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm trí đối với các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Tuy nhiên, con biết được dòng pháp. Bạch Thế Tôn, ví như một thành trì biên ải của đức vua, có nền móng vững chắc, có tường thành và cổng thành vững chắc, và chỉ có một cổng ra vào. Ở đó có một người gác cổng thông minh, sáng suốt, tài trí, ngăn chặn những người không quen biết và cho phép những người quen biết đi vào. Khi đi tuần tra con đường xung quanh thành trì ấy, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, dù chỉ nhỏ bằng con mèo chui qua. Người ấy nghĩ rằng: ‘Bất cứ chúng sanh thô lớn nào vào hay ra khỏi thành trì này, tất cả đều phải đi qua cổng này.’ Bạch Thế Tôn, cũng vậy, con biết được dòng pháp. Bạch Thế Tôn, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, đã tu tập bảy giác chi đúng như thật, và đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Bạch Thế Tôn, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, sẽ an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, sẽ tu tập bảy giác chi đúng như thật, và sẽ chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, cũng đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, đã tu tập bảy giác chi đúng như thật, và đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.”
Idhāhaṁ, bhante, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ dhammassavanāya. Tassa me, bhante, bhagavā dhammaṁ deseti uttaruttaraṁ paṇītapaṇītaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgaṁ. Yathā yathā me, bhante, bhagavā dhammaṁ desesi uttaruttaraṁ paṇītapaṇītaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgaṁ tathā tathāhaṁ tasmiṁ dhamme abhiññā idhekaccaṁ dhammaṁ dhammesu niṭṭhamagamaṁ; satthari pasīdiṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno sāvakasaṅgho’ti.
Sir, once I approached the Buddha to listen to the teaching. He explained Dhamma with its higher and higher stages, with its better and better stages, with its dark and bright sides. When I directly knew a certain principle of those teachings, in accordance with how I was taught, I came to a conclusion about the teachings. I had confidence in the Teacher: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
144. “Bạch Thế Tôn, con đã đến gần Thế Tôn để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã thuyết pháp cho con, pháp càng lúc càng cao thượng, càng lúc càng vi diệu, có phần đen và phần trắng đối lập nhau. Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn thuyết pháp cho con, pháp càng lúc càng cao thượng, càng lúc càng vi diệu, có phần đen và phần trắng đối lập nhau, thì trong pháp ấy, con đã nhờ thắng trí mà đạt đến sự quyết chắc về một pháp nào đó trong các pháp, và con đã có niềm tin nơi Bậc Đạo Sư: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng chúng của Thế Tôn là những người khéo thực hành.’”
1.1. Kusaladhammadesanā
1.1. Teaching Skillful Qualities
Thuyết giảng về các thiện pháp
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti kusalesu dhammesu. Tatrime kusalā dhammā seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Idha, bhante, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Etadānuttariyaṁ, bhante, kusalesu dhammesu. Taṁ bhagavā asesamabhijānāti, taṁ bhagavato asesamabhijānato uttari abhiññeyyaṁ natthi, yadabhijānaṁ añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro assa, yadidaṁ kusalesu dhammesu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches skillful qualities is unsurpassable. This consists of such skillful qualities as the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. By these a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is unsurpassable when it comes to skillful qualities. The Buddha understands this without exception. There is nothing to be understood beyond this whereby another ascetic or brahmin might be superior in direct knowledge to the Buddha when it comes to skillful qualities.
145. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, cách Thế Tôn thuyết giảng về các thiện pháp. Ở đây, các thiện pháp này là: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành. Bạch Thế Tôn, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, và an trú. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng về các thiện pháp. Thế Tôn đã biết rõ điều đó một cách trọn vẹn. Khi Thế Tôn đã biết rõ điều đó một cách trọn vẹn, không còn điều gì cao hơn cần phải biết thêm nữa, mà nếu biết được điều đó thì một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể có trí tuệ siêu việt hơn Thế Tôn, tức là về các thiện pháp.”
1.2. Āyatanapaṇṇattidesanā
1.2. Describing the Sense Fields
Thuyết giảng về sự chế định các xứ
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti āyatanapaṇṇattīsu. Chayimāni, bhante, ajjhattikabāhirāni āyatanāni. Cakkhuñceva rūpā ca, sotañceva saddā ca, ghānañceva gandhā ca, jivhā ceva rasā ca, kāyo ceva phoṭṭhabbā ca, mano ceva dhammā ca. Etadānuttariyaṁ, bhante, āyatanapaṇṇattīsu. Taṁ bhagavā asesamabhijānāti, taṁ bhagavato asesamabhijānato uttari abhiññeyyaṁ natthi, yadabhijānaṁ añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro assa yadidaṁ āyatanapaṇṇattīsu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the description of the sense fields is unsurpassable. There are these six interior and exterior sense fields. The eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas. This is unsurpassable when it comes to describing the sense fields. The Buddha understands this without exception. There is nothing to be understood beyond this whereby another ascetic or brahmin might be superior in direct knowledge to the Buddha when it comes to describing the sense fields.
146. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết giảng Pháp trong các pháp chế định về xứ. Bạch Thế Tôn, có sáu xứ nội và ngoại này. Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các vật xúc chạm, ý và các pháp. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng trong các pháp chế định về xứ. Thế Tôn đã thắng tri điều ấy một cách hoàn toàn. Đối với Thế Tôn, bậc đã thắng tri điều ấy một cách hoàn toàn, không có gì khác cao hơn cần phải thắng tri, mà một Sa-môn hay Bà-la-môn khác, khi thắng tri điều ấy, lại có thể có trí tuệ siêu việt hơn Thế Tôn, tức là trong các pháp chế định về xứ.
1.3. Gabbhāvakkantidesanā
1.3. The Conception of the Embryo
Thuyết giảng về sự nhập thai
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti gabbhāvakkantīsu. Catasso imā, bhante, gabbhāvakkantiyo.
Idha, bhante, ekacco asampajāno mātukucchiṁ okkamati; asampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti; asampajāno mātukucchimhā nikkhamati. Ayaṁ paṭhamā gabbhāvakkanti.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the conception of the embryo is unsurpassable. There are these four kinds of conception.
Firstly, someone is unaware when conceived in their mother’s womb, unaware as they remain there, and unaware as they emerge. This is the first kind of conception.
147. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết giảng Pháp trong các sự nhập thai. Bạch Thế Tôn, có bốn sự nhập thai này. Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không tỉnh giác đi vào bụng mẹ; không tỉnh giác trú trong bụng mẹ; không tỉnh giác đi ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự nhập thai thứ nhất.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati; asampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti; asampajāno mātukucchimhā nikkhamati. Ayaṁ dutiyā gabbhāvakkanti.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati; sampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti; asampajāno mātukucchimhā nikkhamati. Ayaṁ tatiyā gabbhāvakkanti.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco sampajāno mātukucchiṁ okkamati; sampajāno mātukucchismiṁ ṭhāti; sampajāno mātukucchimhā nikkhamati. Ayaṁ catutthā gabbhāvakkanti.
Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, but unaware as they remain there, and unaware as they emerge. This is the second kind of conception.
Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, aware as they remain there, but unaware as they emerge. This is the third kind of conception.
Furthermore, someone is aware when conceived in their mother’s womb, aware as they remain there, and aware as they emerge. This is the fourth kind of conception.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người tỉnh giác đi vào bụng mẹ; không tỉnh giác trú trong bụng mẹ; không tỉnh giác đi ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự nhập thai thứ hai.
Etadānuttariyaṁ, bhante, gabbhāvakkantīsu.
This is unsurpassable when it comes to the conception of the embryo.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người tỉnh giác đi vào bụng mẹ; tỉnh giác trú trong bụng mẹ; tỉnh giác đi ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự nhập thai thứ tư. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng trong các sự nhập thai.
1.4. Ādesanavidhādesanā
1.4. Ways of Revealing
Thuyết giảng về các phương pháp chỉ thị
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti ādesanavidhāsu. Catasso imā, bhante, ādesanavidhā.
Idha, bhante, ekacco nimittena ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā. Ayaṁ paṭhamā ādesanavidhā.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the different ways of revealing is unsurpassable. There are these four ways of revealing.
Firstly, someone reveals by means of a sign, ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise. This is the first way of revealing.
148. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết giảng Pháp trong các phương pháp chỉ thị. Bạch Thế Tôn, có bốn phương pháp chỉ thị này. Ở đây, bạch Thế Tôn, có người chỉ thị bằng tướng mạo: ‘Tâm của ông như thế này, ý của ông như thế kia, và tư tưởng của ông là như vậy.’ Dù người ấy chỉ thị nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Đây là phương pháp chỉ thị thứ nhất.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco na heva kho nimittena ādisati. Api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā. Ayaṁ dutiyā ādesanavidhā.
Furthermore, someone reveals after hearing it from humans or non-humans or deities, ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise. This is the second way of revealing.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không chỉ thị bằng tướng mạo. Nhưng sau khi nghe tiếng của loài người, hoặc phi nhân, hoặc chư thiên, người ấy chỉ thị: ‘Tâm của ông như thế này, ý của ông như thế kia, và tư tưởng của ông là như vậy.’ Dù người ấy chỉ thị nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Đây là phương pháp chỉ thị thứ hai.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco na heva kho nimittena ādisati, nāpi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati. Api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā. Ayaṁ tatiyā ādesanavidhā.
Furthermore, someone reveals by hearing the sound of thought spreading as someone thinks and considers, ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise. This is the third way of revealing.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không chỉ thị bằng tướng mạo, cũng không chỉ thị sau khi nghe tiếng của loài người, hoặc phi nhân, hoặc chư thiên. Nhưng sau khi nghe âm thanh phát ra từ sự tầm và tứ của người đang suy nghĩ và xem xét, người ấy chỉ thị: ‘Tâm của ông như thế này, ý của ông như thế kia, và tư tưởng của ông là như vậy.’ Dù người ấy chỉ thị nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Đây là phương pháp chỉ thị thứ ba.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco na heva kho nimittena ādisati, nāpi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, nāpi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati. Api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti: ‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā. Tathā imassa cittassa anantarā imaṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti. So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā. Ayaṁ catutthā ādesanavidhā.
Etadānuttariyaṁ, bhante, ādesanavidhāsu.
Furthermore, someone comprehends the mind of one who has attained the immersion that’s free of placing the mind and keeping it connected. They understand, ‘Judging by the way this worthy’s intentions are directed, immediately after this mind state, they’ll think this thought.’ And even if they reveal this many times, it turns out exactly so, not otherwise. This is the fourth way of revealing.
This is unsurpassable when it comes to the ways of revealing.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không chỉ thị bằng tướng mạo, cũng không chỉ thị sau khi nghe tiếng của loài người, hoặc phi nhân, hoặc chư thiên, cũng không chỉ thị sau khi nghe âm thanh phát ra từ sự tầm và tứ của người đang suy nghĩ và xem xét. Nhưng sau khi đã nhập định không tầm không tứ, người ấy dùng tâm của mình để biết rõ tâm của người khác: ‘Các tâm hành của vị này được hướng đến như thế nào, thì ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên một tầm như thế này.’ Dù người ấy chỉ thị nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Đây là phương pháp chỉ thị thứ tư. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng trong các phương pháp chỉ thị.
1.5. Dassanasamāpattidesanā
1.5. Attainments of Vision
Thuyết giảng về sự chứng đạt tri kiến
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti dassanasamāpattīsu. Catasso imā, bhante, dassanasamāpattiyo.
Idha, bhante, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghānikā lasikā muttan’ti. Ayaṁ paṭhamā dassanasamāpatti.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the attainments of vision is unsurpassable. There are these four attainments of vision.
Firstly, some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they examine their own body up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. ‘In this body there is head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine.’ This is the first attainment of vision.
149. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết giảng Pháp trong các sự chứng đạt tri kiến. Bạch Thế Tôn, có bốn sự chứng đạt tri kiến này. Ở đây, bạch Thế Tôn, có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ sự nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, không lơ là, và như lý tác ý, đã chứng được một loại định tâm, khi tâm đã định tĩnh, vị ấy quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các thứ bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, hoạt dịch, nước tiểu.’ Đây là sự chứng đạt tri kiến thứ nhất.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā …pe… lasikā muttan’ti. Atikkamma ca purisassa chavimaṁsalohitaṁ aṭṭhiṁ paccavekkhati. Ayaṁ dutiyā dassanasamāpatti.
Furthermore, some ascetic or brahmin experiences that immersion and examines their own body. ‘In this body there is head hair … urine.’ Going further, they examine a person’s bones with skin, flesh, and blood. This is the second attainment of vision.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ sự nhiệt tâm... (như trên)... đã chứng được một loại định tâm, khi tâm đã định tĩnh, vị ấy quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, chứa đầy các thứ bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có: tóc, lông... (như trên)... hoạt dịch, nước tiểu.’ Và vượt qua da, thịt, máu của người ấy, vị ấy quán xét xương. Đây là sự chứng đạt tri kiến thứ hai.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā …pe… lasikā muttan’ti. Atikkamma ca purisassa chavimaṁsalohitaṁ aṭṭhiṁ paccavekkhati. Purisassa ca viññāṇasotaṁ pajānāti, ubhayato abbocchinnaṁ idha loke patiṭṭhitañca paraloke patiṭṭhitañca. Ayaṁ tatiyā dassanasamāpatti.
Furthermore, some ascetic or brahmin experiences that immersion and examines their own body. ‘In this body there is head hair … urine.’ Going further, they examine a person’s bones with skin, flesh, and blood. And they understand of a person that their stream of consciousness is consistent on both sides: established in both this world and the next. This is the third attainment of vision.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do nỗ lực tinh tấn... đạt được định tâm như vậy. Khi tâm được định tĩnh, vị ấy quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy dẫy các thứ bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có tóc, lông... mủ, nước tiểu.’ Và vượt qua da, thịt, máu của người ấy, vị ấy quán xét xương. Vị ấy biết rõ dòng thức của người ấy, không gián đoạn ở cả hai nơi, được an trú ở đời này và được an trú ở đời sau. Đây là sự chứng đạt tri kiến thứ ba.”
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā …pe… lasikā muttan’ti. Atikkamma ca purisassa chavimaṁsalohitaṁ aṭṭhiṁ paccavekkhati. Purisassa ca viññāṇasotaṁ pajānāti, ubhayato abbocchinnaṁ idha loke appatiṭṭhitañca paraloke appatiṭṭhitañca. Ayaṁ catutthā dassanasamāpatti.
Etadānuttariyaṁ, bhante, dassanasamāpattīsu.
Furthermore, some ascetic or brahmin experiences that immersion and examines their own body. ‘In this body there is head hair … urine.’ Going further, they examine a person’s bones with skin, flesh, and blood. They understand of a person that their stream of consciousness is consistent on both sides: not established in either this world or the next. This is the fourth attainment of vision.
This is unsurpassable when it comes to attainments of vision.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do nỗ lực tinh tấn... đạt được định tâm như vậy. Khi tâm được định tĩnh, vị ấy quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy dẫy các thứ bất tịnh khác nhau: ‘Trong thân này có tóc, lông... mủ, nước tiểu.’ Và vượt qua da, thịt, máu của người ấy, vị ấy quán xét xương. Vị ấy biết rõ dòng thức của người ấy, bị gián đoạn ở cả hai nơi, không được an trú ở đời này và không được an trú ở đời sau. Đây là sự chứng đạt tri kiến thứ tư. Bạch Thế Tôn, trong các sự chứng đạt tri kiến, đây là pháp vô thượng.”
1.6. Puggalapaṇṇattidesanā
1.6. Description of Individuals
Pháp thoại về Chế định các Hạng người
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti puggalapaṇṇattīsu. Sattime, bhante, puggalā. Ubhatobhāgavimutto paññāvimutto kāyasakkhi diṭṭhippatto saddhāvimutto dhammānusārī saddhānusārī. Etadānuttariyaṁ, bhante, puggalapaṇṇattīsu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the description of individuals is unsurpassable. There are these seven individuals. One freed both ways, one freed by wisdom, a direct witness, one attained to view, one freed by faith, a follower of teachings, a follower by faith. This is unsurpassable when it comes to the description of individuals.
150. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là pháp vô thượng, khi Thế Tôn thuyết pháp về các chế định hạng người. Bạch Thế Tôn, có bảy hạng người này: Câu phần giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến đáo, Tín giải thoát, Tùy pháp hành, và Tùy tín hành. Bạch Thế Tôn, trong các chế định hạng người, đây là pháp vô thượng.”
1.7. Padhānadesanā
1.7. Kinds of Striving
Pháp thoại về Tinh cần
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti padhānesu. Sattime, bhante, sambojjhaṅgā satisambojjhaṅgo dhammavicayasambojjhaṅgo vīriyasambojjhaṅgo pītisambojjhaṅgo passaddhisambojjhaṅgo samādhisambojjhaṅgo upekkhāsambojjhaṅgo. Etadānuttariyaṁ, bhante, padhānesu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the kinds of striving is unsurpassable. There are these seven awakening factors: the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity. This is unsurpassable when it comes to the kinds of striving.
151. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là pháp vô thượng, khi Thế Tôn thuyết pháp về các pháp tinh cần. Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này: Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, và Xả giác chi. Bạch Thế Tôn, trong các pháp tinh cần, đây là pháp vô thượng.”
1.8. Paṭipadādesanā
1.8. Ways of Practice
Pháp thoại về các Con đường Thực hành
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti paṭipadāsu.
- Catasso imā, bhante, paṭipadā dukkhā paṭipadā dandhābhiññā,
- dukkhā paṭipadā khippābhiññā,
- sukhā paṭipadā dandhābhiññā,
- sukhā paṭipadā khippābhiññāti.
Tatra, bhante, yāyaṁ paṭipadā dukkhā dandhābhiññā, ayaṁ, bhante, paṭipadā ubhayeneva hīnā akkhāyati dukkhattā ca dandhattā ca. Tatra, bhante, yāyaṁ paṭipadā dukkhā khippābhiññā, ayaṁ pana, bhante, paṭipadā dukkhattā hīnā akkhāyati. Tatra, bhante, yāyaṁ paṭipadā sukhā dandhābhiññā, ayaṁ pana, bhante, paṭipadā dandhattā hīnā akkhāyati. Tatra, bhante, yāyaṁ paṭipadā sukhā khippābhiññā, ayaṁ pana, bhante, paṭipadā ubhayeneva paṇītā akkhāyati sukhattā ca khippattā ca.
Etadānuttariyaṁ, bhante, paṭipadāsu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the ways of practice is unsurpassable.
- Painful practice with slow insight,
- painful practice with swift insight,
- pleasant practice with slow insight, and
- pleasant practice with swift insight.
Of these, the painful practice with slow insight is said to be inferior both ways: because it’s painful and because it’s slow. The painful practice with swift insight is said to be inferior because it’s painful. The pleasant practice with slow insight is said to be inferior because it’s slow. But the pleasant practice with swift insight is said to be superior both ways: because it’s pleasant and because it’s swift.
This is unsurpassable when it comes to the ways of practice.
152. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là pháp vô thượng, khi Thế Tôn thuyết pháp về các con đường thực hành. Bạch Thế Tôn, có bốn con đường thực hành này: con đường thực hành khổ và chứng đắc chậm; con đường thực hành khổ và chứng đắc nhanh; con đường thực hành lạc và chứng đắc chậm; con đường thực hành lạc và chứng đắc nhanh. Bạch Thế Tôn, trong đó, con đường thực hành khổ và chứng đắc chậm, con đường này, bạch Thế Tôn, được gọi là hạ liệt về cả hai phương diện: vì khổ và vì chậm. Bạch Thế Tôn, trong đó, con đường thực hành khổ và chứng đắc nhanh, con đường này, bạch Thế Tôn, được gọi là hạ liệt vì khổ. Bạch Thế Tôn, trong đó, con đường thực hành lạc và chứng đắc chậm, con đường này, bạch Thế Tôn, được gọi là hạ liệt vì chậm. Bạch Thế Tôn, trong đó, con đường thực hành lạc và chứng đắc nhanh, con đường này, bạch Thế Tôn, được gọi là cao thượng về cả hai phương diện: vì lạc và vì nhanh. Bạch Thế Tôn, trong các con đường thực hành, đây là pháp vô thượng.”
1.9. Bhassasamācārādidesanā
1.9. Behavior in Speech
Pháp thoại về Cách hành xử trong Lời nói, v.v.
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti bhassasamācāre. Idha, bhante, ekacco na ceva musāvādupasañhitaṁ vācaṁ bhāsati na ca vebhūtiyaṁ na ca pesuṇiyaṁ na ca sārambhajaṁ jayāpekkho; mantā mantā ca vācaṁ bhāsati nidhānavatiṁ kālena. Etadānuttariyaṁ, bhante, bhassasamācāre.
And moreover, sir, how the Buddha teaches behavior in speech is unsurpassable. It’s when someone doesn’t use speech that’s connected with lying, or divisive, or backbiting, or aggressively trying to win. They speak only wise counsel, valuable and timely. This is unsurpassable when it comes to behavior in speech.
153. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là pháp vô thượng, khi Thế Tôn thuyết pháp về cách hành xử trong lời nói. Bạch Thế Tôn, ở đây, có người không nói lời liên quan đến dối trá, không nói lời gây chia rẽ, không nói lời đâm thọc, không nói lời thô ác với ý muốn hơn thua; vị ấy suy xét kỹ lưỡng rồi mới nói, nói lời có giá trị, đúng thời. Bạch Thế Tôn, trong cách hành xử về lời nói, đây là pháp vô thượng.”
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti purisasīlasamācāre. Idha, bhante, ekacco sacco cassa saddho ca, na ca kuhako, na ca lapako, na ca nemittiko, na ca nippesiko, na ca lābhena lābhaṁ nijigīsanako, indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, samakārī, jāgariyānuyogamanuyutto, atandito, āraddhavīriyo, jhāyī, satimā, kalyāṇapaṭibhāno, gatimā, dhitimā, matimā, na ca kāmesu giddho, sato ca nipako ca. Etadānuttariyaṁ, bhante, purisasīlasamācāre.
And moreover, sir, how the Buddha teaches a person’s ethical behavior is unsurpassable. It’s when someone is honest and faithful. They don’t use deceit, flattery, hinting, or belittling, and they don’t use material things to chase after other material things. They guard the sense doors and eat in moderation. They’re fair, dedicated to wakefulness, tireless, energetic, and meditative. They have good memory, eloquence, range, retention, and thoughtfulness. They’re not greedy for sensual pleasures. They are mindful and alert. This is unsurpassable when it comes to a person’s ethical behavior.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là pháp vô thượng, khi Thế Tôn thuyết pháp về giới hạnh của bậc chân nhân. Bạch Thế Tôn, ở đây, có người chân thật và có tín tâm, không giả dối, không ba hoa, không ra dấu, không mạt sát, không dùng lợi nhỏ để tìm lợi lớn, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, hành động đúng mực, chuyên tâm tỉnh thức, không lười biếng, tinh tấn nỗ lực, hay thiền định, có chánh niệm, có tài ứng đối tốt đẹp, có trí tuệ hiểu biết, có trí tuệ ghi nhớ, có trí tuệ nhận thức, không tham đắm các dục, có chánh niệm và tỉnh giác. Bạch Thế Tôn, trong giới hạnh của bậc chân nhân, đây là pháp vô thượng.”
1.10. Anusāsanavidhādesanā
1.10. Responsiveness to Instruction
Pháp thoại về Phương pháp Giáo huấn
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti anusāsanavidhāsu. Catasso imā, bhante, anusāsanavidhā—
jānāti, bhante, bhagavā aparaṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā ‘ayaṁ puggalo yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno bhavissati avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī bhavissati, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissatī’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko bhavissati tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti.
Etadānuttariyaṁ, bhante, anusāsanavidhāsu.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the different degrees of responsiveness to instruction is unsurpassable. There are these four degrees of responsiveness to instruction.
The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘By practicing as instructed this individual will, with the ending of three fetters, become a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.’ The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘By practicing as instructed this individual will, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, become a once-returner. They will come back to this world once only, then make an end of suffering.’ The Buddha knows by investigating inside to another individual: ‘By practicing as instructed this individual will, with the ending of the five lower fetters, be reborn spontaneously. They will be extinguished there, and are not liable to return from that world.’ The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘By practicing as instructed this individual will realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’
This is unsurpassable when it comes to the different degrees of responsiveness to instruction.
154. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về các phương pháp giáo huấn mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, có bốn phương pháp giáo huấn này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, sau khi thực hành đúng theo lời đã được chỉ dạy, do sự đoạn tận ba kiết sử, sẽ trở thành bậc Dự Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, sau khi thực hành đúng theo lời đã được chỉ dạy, do sự đoạn tận ba kiết sử và do sự làm muội lược tham, sân, si, sẽ trở thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần nữa trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, sau khi thực hành đúng theo lời đã được chỉ dạy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, sẽ trở thành bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, sau khi thực hành đúng theo lời đã được chỉ dạy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, sẽ ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.’ Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng về các phương pháp giáo huấn.
1.11. Parapuggalavimuttiñāṇadesanā
1.11. The Knowledge and Freedom of Others
Thuyết giảng về trí tuệ giải thoát của người khác
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti parapuggalavimuttiñāṇe. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno bhavissati avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī bhavissati, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissatī’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko bhavissati tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā’ti. Jānāti, bhante, bhagavā paraṁ puggalaṁ paccattaṁ yonisomanasikārā: ‘ayaṁ puggalo āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti. Etadānuttariyaṁ, bhante, parapuggalavimuttiñāṇe.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the knowledge and freedom of other individuals is unsurpassable. The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘With the ending of three fetters this individual will become a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.’ The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, this individual will become a once-returner. They will come back to this world once only, then make an end of suffering.’ The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘With the ending of the five lower fetters, this individual will be reborn spontaneously. They will be extinguished there, and are not liable to return from that world.’ The Buddha knows by investigating inside another individual: ‘This individual will realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.’ This is unsurpassable when it comes to the knowledge and freedom of other individuals.
155. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về trí tuệ giải thoát của người khác mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, do sự đoạn tận ba kiết sử, sẽ trở thành bậc Dự Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, do sự đoạn tận ba kiết sử và do sự làm muội lược tham, sân, si, sẽ trở thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần nữa trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, sẽ trở thành bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.’ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn, do tác ý như lý một cách cá biệt, biết rõ một người khác rằng: ‘Vị này, do sự đoạn tận các lậu hoặc, sẽ ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.’ Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng về trí tuệ giải thoát của người khác.
1.12. Sassatavādadesanā
1.12. Eternalism
Thuyết giảng về thường kiến
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti sassatavādesu. Tayome, bhante, sassatavādā.
Idha, bhante, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekānipi jātisatāni anekānipi jātisahassāni anekānipi jātisatasahassāni, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. So evamāha: ‘atītampāhaṁ addhānaṁ jānāmi—saṁvaṭṭi vā loko vivaṭṭi vāti. Anāgataṁpāhaṁ addhānaṁ jānāmi—saṁvaṭṭissati vā loko vivaṭṭissati vāti. Sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman’ti. Ayaṁ paṭhamo sassatavādo.
And moreover, sir, how the Buddha teaches eternalist doctrines is unsurpassable. There are these three eternalist doctrines.
Firstly, some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect many hundreds of thousands of past lives, with features and details. They say, ‘I know that in the past the cosmos expanded or contracted. I don’t know whether in the future the cosmos will expand or contract. The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.’ This is the first eternalist doctrine.
156. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về các thường kiến mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, có ba loại thường kiến này. Bạch Thế Tôn, ở đây, có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do tinh cần... ... đạt được loại định tâm như vậy, khi tâm đã được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Nghĩa là, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời: ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế, dòng họ như thế, sắc diện như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta sanh ra ở nơi nọ. Tại nơi đó, ta cũng đã có tên như thế, dòng họ như thế, sắc diện như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Sau khi chết ở nơi ấy, ta sanh ra ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng. Vị ấy nói như sau: ‘Ta biết được quá khứ rằng: thế giới đã hoại hay đã thành. Ta biết được tương lai rằng: thế giới sẽ hoại hay sẽ thành. Tự ngã và thế giới là thường hằng, không thay đổi, vững chắc như đỉnh núi, đứng vững như cột trụ đá. Và những chúng sanh kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng (tự ngã và thế giới) vẫn tồn tại y như cũ, một cách thường hằng.’ Đây là thường kiến thứ nhất.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi saṁvaṭṭavivaṭṭaṁ dvepi saṁvaṭṭavivaṭṭāni tīṇipi saṁvaṭṭavivaṭṭāni cattāripi saṁvaṭṭavivaṭṭāni pañcapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni dasapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. So evamāha: ‘atītampāhaṁ addhānaṁ jānāmi saṁvaṭṭi vā loko vivaṭṭi vāti. Anāgataṁpāhaṁ addhānaṁ jānāmi saṁvaṭṭissati vā loko vivaṭṭissati vāti. Sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman’ti. Ayaṁ dutiyo sassatavādo.
Furthermore, some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their past lives for as many as ten eons of the expansion and contraction of the cosmos, with features and details. They say, ‘I know that in the past the cosmos expanded or contracted. I don’t know whether in the future the cosmos will expand or contract. The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.’ This is the second eternalist doctrine.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do tinh cần... cho đến... chứng đạt được định tâm như vậy, khi tâm được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là, một kiếp thành hoại, hai kiếp thành hoại, ba kiếp thành hoại, bốn kiếp thành hoại, năm kiếp thành hoại, mười kiếp thành hoại: ‘Ở nơi kia, ta có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở nơi kia. Ở nơi đó ta cũng có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Vị ấy nói như sau: ‘Ta biết được thời quá khứ rằng: thế giới đã hoại, hay thế giới đã thành. Ta biết được thời vị lai rằng: thế giới sẽ hoại, hay thế giới sẽ thành. Ngã và thế gian là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Còn các chúng sanh kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại; (ngã và thế gian) thực sự tồn tại, giống như sự thường còn.’ Đây là thường kiến luận thứ hai.
Puna caparaṁ, bhante, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—dasapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni vīsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni tiṁsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni cattālīsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. So evamāha: ‘atītampāhaṁ addhānaṁ jānāmi saṁvaṭṭipi loko vivaṭṭipīti; anāgataṁpāhaṁ addhānaṁ jānāmi saṁvaṭṭissatipi loko vivaṭṭissatipīti. Sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman’ti. Ayaṁ tatiyo sassatavādo,
etadānuttariyaṁ, bhante, sassatavādesu.
Furthermore, some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their past lives for as many as forty eons of the expansion and contraction of the cosmos, with features and details. They say, ‘I know that in the past the cosmos expanded or contracted. I don’t know whether in the future the cosmos will expand or contract. The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.’ This is the third eternalist doctrine.
This is unsurpassable when it comes to eternalist doctrines.
“Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do tinh cần... cho đến... chứng đạt được định tâm như vậy, khi tâm được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là, mười kiếp thành hoại, hai mươi kiếp thành hoại, ba mươi kiếp thành hoại, bốn mươi kiếp thành hoại: ‘Ở nơi kia, ta có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở nơi kia. Ở nơi đó ta cũng có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Vị ấy nói như sau: ‘Ta biết được thời quá khứ rằng: thế giới đã hoại, hay thế giới đã thành. Ta biết được thời vị lai rằng: thế giới sẽ hoại, hay thế giới sẽ thành. Ngã và thế gian là thường còn, không sanh sản, vững chắc như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Còn các chúng sanh kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại; (ngã và thế gian) thực sự tồn tại, giống như sự thường còn.’ Đây là thường kiến luận thứ ba. Bạch Thế Tôn, trong các thường kiến luận, điều này là vô thượng.
1.13. Pubbenivāsānussatiñāṇadesanā
1.13. Recollecting Past Lives
Phần Thuyết Giảng Về Túc Mạng Minh
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti pubbenivāsānussatiñāṇe. Idha, bhante, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Santi, bhante, devā, yesaṁ na sakkā gaṇanāya vā saṅkhānena vā āyu saṅkhātuṁ. Api ca yasmiṁ yasmiṁ attabhāve abhinivuṭṭhapubbo hoti yadi vā rūpīsu yadi vā arūpīsu yadi vā saññīsu yadi vā asaññīsu yadi vā nevasaññīnāsaññīsu. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Etadānuttariyaṁ, bhante, pubbenivāsānussatiñāṇe.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the knowledge of recollecting past lives is unsurpassable. It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details. Sir, there are gods whose lifespan cannot be reckoned or calculated. Still, no matter what incarnation they have previously been reborn in—whether formed or formless or percipient or non-percipient or neither percipient nor non-percipient—they recollect their many kinds of past lives, with features and details. This is unsurpassable when it comes to the knowledge of recollecting past lives.
157. “Lại nữa, bạch Thế Tôn, điều này là vô thượng, tức là cách Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp về Túc Mạng Minh. Bạch Thế Tôn, ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn, do tinh cần... cho đến... chứng đạt được định tâm như vậy, khi tâm được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại: ‘Ở nơi kia, ta có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở nơi kia. Ở nơi đó ta cũng có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, thọ hưởng khổ lạc như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy. Ta từ nơi ấy mệnh chung, được sanh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những vị trời mà tuổi thọ của họ không thể đếm hay tính toán được. Hơn nữa, vị ấy đã từng sống trong bất cứ thân thể nào, hoặc là ở cõi sắc, hoặc là ở cõi vô sắc, hoặc là ở cõi có tưởng, hoặc là ở cõi vô tưởng, hoặc là ở cõi phi tưởng phi phi tưởng. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Bạch Thế Tôn, điều này là vô thượng trong Túc Mạng Minh.
1.14. Cutūpapātañāṇadesanā
1.14. Death and Rebirth
Phần Thuyết Giảng Về Sanh Tử Minh
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti sattānaṁ cutūpapātañāṇe. Idha, bhante, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Etadānuttariyaṁ, bhante, sattānaṁ cutūpapātañāṇe.
And moreover, sir, how the Buddha teaches the knowledge of the death and rebirth of sentient beings is unsurpassable. It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn— inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds. This is unsurpassable when it comes to the knowledge of death and rebirth.
158. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết pháp liên quan đến trí tuệ về sự tử sinh của chúng sanh. Bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, nhờ tinh cần...v.v... chứng đạt được tâm định tương xứng, khi tâm đã được định tĩnh như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, vị ấy thấy các chúng sanh đang tử và đang sanh, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, đi đến thiện thú và ác thú, vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ – ‘Chư hiền giả, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp giữ nghiệp tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư hiền giả, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp giữ nghiệp chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, vị ấy thấy các chúng sanh đang tử và đang sanh, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, đi đến thiện thú và ác thú, vị ấy biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng về trí tuệ liên quan đến sự tử sinh của chúng sanh.
1.15. Iddhividhadesanā
1.15. Psychic Powers
Thuyết giảng về các loại thần thông
Aparaṁ pana, bhante, etadānuttariyaṁ, yathā bhagavā dhammaṁ deseti iddhividhāsu. Dvemā, bhante, iddhividhāyo—atthi, bhante, iddhi sāsavā saupadhikā, ‘no ariyā’ti vuccati. Atthi, bhante, iddhi anāsavā anupadhikā ‘ariyā’ti vuccati. Katamā ca, bhante, iddhi sāsavā saupadhikā, ‘no ariyā’ti vuccati? idha, bhante, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya …pe… tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti. Ayaṁ, bhante, iddhi sāsavā saupadhikā, ‘no ariyā’ti vuccati.
And moreover, sir, how the Buddha teaches psychic power is unsurpassable. There are these two kinds of psychic power. There are psychic powers that are accompanied by defilements and attachments, and are said to be ignoble. And there are psychic powers that are free of defilements and attachments, and are said to be noble. What are the psychic powers that are accompanied by defilements and attachments, and are said to be ignoble? It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they wield the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity. These are the psychic powers that are accompanied by defilements and attachments, and are said to be ignoble.
159. Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng, về cách Thế Tôn thuyết pháp liên quan đến các loại thần thông. Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông này – bạch Thế Tôn, có loại thần thông còn lậu hoặc, còn sanh y, được gọi là ‘không phải của bậc Thánh’. Bạch Thế Tôn, có loại thần thông không còn lậu hoặc, không còn sanh y, được gọi là ‘của bậc Thánh’. Bạch Thế Tôn, thế nào là thần thông còn lậu hoặc, còn sanh y, được gọi là ‘không phải của bậc Thánh’? Bạch Thế Tôn, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, nhờ tinh cần...v.v... chứng đạt được tâm định tương xứng, khi tâm đã được định tĩnh như vậy, vị ấy chứng nghiệm được các loại thần thông. Từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến mất; đi xuyên qua tường, qua vách, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không. Trồi lên lặn xuống trong đất, như ở trong nước. Đi trên nước không chìm, như đi trên đất liền. Ngồi kiết-già đi trên hư không, như con chim có cánh. Với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, đại oai đức như vậy. Có thể dùng thân để tác động đến tận cõi Phạm thiên. Bạch Thế Tôn, đây là thần thông còn lậu hoặc, còn sanh y, được gọi là ‘không phải của bậc Thánh’.
Katamā pana, bhante, iddhi anāsavā anupadhikā, ‘ariyā’ti vuccati? Idha, bhante, bhikkhu sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno. Ayaṁ, bhante, iddhi anāsavā anupadhikā ‘ariyā’ti vuccati. Etadānuttariyaṁ, bhante, iddhividhāsu. Taṁ bhagavā asesamabhijānāti, taṁ bhagavato asesamabhijānato uttari abhiññeyyaṁ natthi, yadabhijānaṁ añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro assa yadidaṁ iddhividhāsu.
But what are the psychic powers that are free of defilements and attachments, and are said to be noble? It’s when, if a mendicant wishes: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do. If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do. These are the psychic powers that are free of defilements and attachments, and are said to be noble. This is unsurpassable when it comes to psychic powers. The Buddha understands this without exception. There is nothing to be understood beyond this whereby another ascetic or brahmin might be superior in direct knowledge to the Buddha when it comes to psychic powers.
Bạch Thế Tôn, thế nào là thần thông không còn lậu hoặc, không còn sanh y, được gọi là ‘của bậc Thánh’? Bạch Thế Tôn, ở đây, nếu một vị Tỳ-khưu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không nhàm tởm đối với vật nhàm tởm’, vị ấy an trú với tưởng không nhàm tởm đối với vật ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng nhàm tởm đối với vật không nhàm tởm’, vị ấy an trú với tưởng nhàm tởm đối với vật ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không nhàm tởm đối với cả vật nhàm tởm và không nhàm tởm’, vị ấy an trú với tưởng không nhàm tởm đối với các vật ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng nhàm tởm đối với cả vật nhàm tởm và không nhàm tởm’, vị ấy an trú với tưởng nhàm tởm đối với các vật ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai, vật nhàm tởm và không nhàm tởm, và an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác đối với các vật ấy. Bạch Thế Tôn, đây là thần thông không còn lậu hoặc, không còn sanh y, được gọi là ‘của bậc Thánh’. Bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng về các loại thần thông. Thế Tôn đã hoàn toàn thắng tri điều đó. Vì Thế Tôn đã hoàn toàn thắng tri điều đó, nên không có gì cao hơn để thắng tri nữa, mà khi thắng tri điều đó, một Sa-môn hay Bà-la-môn khác có thể có trí tuệ cao siêu hơn Thế Tôn, tức là về các loại thần thông.
1.16. Aññathāsatthuguṇadassana
1.16. The Four Absorptions
Trình bày các đức tính khác của bậc Đạo Sư
Yaṁ taṁ, bhante, saddhena kulaputtena pattabbaṁ āraddhavīriyena thāmavatā purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena purisadhorayhena, anuppattaṁ taṁ bhagavatā. Na ca, bhante, bhagavā kāmesu kāmasukhallikānuyogamanuyutto hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyutto dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ. Catunnañca bhagavā jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
The Buddha has achieved what should be achieved by a faithful gentleman by being energetic and strong, by human strength, energy, vigor, and exertion. The Buddha doesn’t indulge in sensual pleasures, which are low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And he doesn’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless. He gets the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when he wants, without trouble or difficulty.
160. Bạch Thế Tôn, những gì mà một thiện gia nam tử có tín tâm, có tinh tấn, có sức mạnh, có nghị lực của bậc trượng phu, có nỗ lực của bậc trượng phu, có sự kiên trì của bậc trượng phu, có gánh vác của bậc trượng phu cần phải đạt đến, thì điều đó đã được Thế Tôn chứng đắc. Và bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hành sự đam mê dục lạc trong các dục vọng, một lối sống hèn hạ, thấp kém, phàm tục, không thánh thiện, không mang lại lợi ích; cũng không thực hành sự khổ hạnh ép xác, một lối sống đau khổ, không thánh thiện, không mang lại lợi ích. Và Thế Tôn có thể tùy ý chứng đắc, không khó khăn, không mệt nhọc bốn thiền thuộc về tăng thượng tâm, đem lại sự an lạc ngay trong hiện tại.
1.17. Anuyogadānappakāra
1.17. On Being Questioned
Phương cách trả lời chất vấn
Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyya: ‘kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ahesuṁ atītamaddhānaṁ aññe samaṇā vā brāhmaṇā vā bhagavatā bhiyyobhiññatarā sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘no’ti vadeyyaṁ. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ aññe samaṇā vā brāhmaṇā vā bhagavatā bhiyyobhiññatarā sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘no’ti vadeyyaṁ. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, atthetarahi añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘no’ti vadeyyaṁ.
Sir, if they were to ask me, ‘Reverend Sāriputta, is there any other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening?’ I would tell them ‘No.’
161. Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như sau: ‘Này hiền giả Sāriputta, trong quá khứ, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ giác ngộ cao siêu hơn Thế Tôn không?’, khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’. ‘Này hiền giả Sāriputta, trong tương lai, sẽ có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ giác ngộ cao siêu hơn Thế Tôn không?’, khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’. ‘Này hiền giả Sāriputta, hiện tại, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ giác ngộ cao siêu hơn Thế Tôn không?’, khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là ‘Không’.
Sace pana maṁ, bhante, evaṁ puccheyya: ‘kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ahesuṁ atītamaddhānaṁ aññe samaṇā vā brāhmaṇā vā bhagavatā samasamā sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘evan’ti vadeyyaṁ. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ aññe samaṇā vā brāhmaṇā vā bhagavatā samasamā sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘evan’ti vadeyyaṁ. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, atthetarahi aññe samaṇā vā brāhmaṇā vā bhagavatā samasamā sambodhiyan’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, ‘no’ti vadeyyaṁ.
But if they were to ask me, ‘Reverend Sāriputta, is there any other ascetic or brahmin—whether past or future—whose direct knowledge is equal to the Buddha when it comes to awakening?’ I would tell them ‘Yes.’ But if they were to ask: ‘Reverend Sāriputta, is there any other ascetic or brahmin at present whose direct knowledge is equal to the Buddha when it comes to awakening?’ I would tell them ‘No.’
Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: ‘Này hiền giả Sāriputta, trong quá khứ đã có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ chăng?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: ‘Thưa có.’ ‘Này hiền giả Sāriputta, trong tương lai sẽ có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ chăng?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: ‘Thưa có.’ ‘Này hiền giả Sāriputta, trong hiện tại có Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ chăng?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: ‘Thưa không.’
Sace pana maṁ, bhante, evaṁ puccheyya: ‘kiṁ panāyasmā sāriputto ekaccaṁ abbhanujānāti, ekaccaṁ na abbhanujānātī’ti, evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: “ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā mayā samasamā sambodhiyan”ti. Sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: “bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā mayā samasamā sambodhiyan”ti. Sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: “aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddhā apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”’ti.
But if they were to ask me, ‘But why does Venerable Sāriputta grant this in respect of some but not others?’ I would answer them like this, ‘Reverends, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: “The perfected ones, fully awakened Buddhas of the past were equal in awakening to myself.” And I have heard and learned this in the presence of the Buddha: “The perfected ones, fully awakened Buddhas of the future will be equal in awakening to myself.” And I have also heard and learned this in the presence of the Buddha: “It’s impossible for two perfected ones, fully awakened Buddhas to arise in the same solar system at the same time.”’
Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: ‘Tại sao Tôn giả Sāriputta lại chấp nhận một số điều mà không chấp nhận một số điều khác?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ giải thích như sau: ‘Thưa hiền giả, chính từ kim khẩu của Thế Tôn mà tôi đã nghe, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: “Trong quá khứ đã có các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với ta về sự giác ngộ.” Thưa hiền giả, chính từ kim khẩu của Thế Tôn mà tôi đã nghe, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: “Trong tương lai sẽ có các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với ta về sự giác ngộ.” Thưa hiền giả, chính từ kim khẩu của Thế Tôn mà tôi đã nghe, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: “Không thể có trường hợp, không thể xảy ra việc trong cùng một thế giới lại có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện không trước không sau. Điều đó không thể xảy ra.”’
Kaccāhaṁ, bhante, evaṁ puṭṭho evaṁ byākaramāno vuttavādī ceva bhagavato homi, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhāmi, dhammassa cānudhammaṁ byākaromi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
“Taggha tvaṁ, sāriputta, evaṁ puṭṭho evaṁ byākaramāno vuttavādī ceva me hosi, na ca maṁ abhūtena abbhācikkhasi, dhammassa cānudhammaṁ byākarosi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti.
Answering this way, I trust that I repeated what the Buddha has said, and didn’t misrepresent him with an untruth. I trust my explanation was in line with the teaching, and that there are no legitimate grounds for rebuttal or criticism.”
“Indeed, Sāriputta, in answering this way you repeat what I’ve said, and don’t misrepresent me with an untruth. Your explanation is in line with the teaching, and there are no legitimate grounds for rebuttal or criticism.”
Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy và giải thích như vậy, con có phải là người nói đúng lời dạy của Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, có giải thích pháp đúng với chánh pháp, và không có lời nói nào thuận pháp của con đáng bị chỉ trích không ạ? — Chắc chắn rồi, Sāriputta, khi được hỏi như vậy và giải thích như vậy, ngươi đã nói đúng lời dạy của ta, không xuyên tạc ta bằng điều không thật, đã giải thích pháp đúng với chánh pháp, và không có lời nói nào thuận pháp của ngươi đáng bị chỉ trích cả.
2. Acchariyaabbhuta
2. Incredible and Amazing
Kỳ Diệu và Phi Thường
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa appicchatā santuṭṭhitā sallekhatā. Yatra hi nāma tathāgato evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, atha ca pana nevattānaṁ pātukarissati. Ekamekañcepi ito, bhante, dhammaṁ aññatitthiyā paribbājakā attani samanupasseyyuṁ, te tāvatakeneva paṭākaṁ parihareyyuṁ. Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa appicchatā santuṭṭhitā sallekhatā. Yatra hi nāma tathāgato evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo. Atha ca pana nevattānaṁ pātukarissatī”ti.
When he had spoken, Venerable Udāyī said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! The Realized One has so few wishes, such contentment, such self-effacement! For even though the Realized One has such power and might, he will not make a display of himself. If the wanderers following other religions were to see even a single one of these qualities in themselves they’d carry around a banner to that effect. It’s incredible, sir, it’s amazing! The Realized One has so few wishes, such contentment, such self-effacement! For even though the Realized One has such power and might, he will not make a display of himself.”
162. Khi được nói vậy, Tôn giả Udāyī bạch với Thế Tôn: ‘Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật phi thường thay, bạch Thế Tôn, về sự ít ham muốn, sự biết đủ, và sự thanh lọc của Như Lai! Dù Như Lai có đại thần lực, đại oai đức như vậy, nhưng Ngài lại không tự biểu lộ mình! Bạch Thế Tôn, nếu các du sĩ ngoại đạo thấy được dù chỉ một trong những phẩm chất này nơi họ, họ đã dương cờ đi khắp nơi rồi. Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật phi thường thay, bạch Thế Tôn, về sự ít ham muốn, sự biết đủ, và sự thanh lọc của Như Lai! Dù Như Lai có đại thần lực, đại oai đức như vậy, nhưng Ngài lại không tự biểu lộ mình!’
“Passa kho tvaṁ, udāyi, ‘tathāgatassa appicchatā santuṭṭhitā sallekhatā. Yatra hi nāma tathāgato evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, atha ca pana nevattānaṁ pātukarissati’. Ekamekañcepi ito, udāyi, dhammaṁ aññatitthiyā paribbājakā attani samanupasseyyuṁ, te tāvatakeneva paṭākaṁ parihareyyuṁ. Passa kho tvaṁ, udāyi, ‘tathāgatassa appicchatā santuṭṭhitā sallekhatā. Yatra hi nāma tathāgato evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, atha ca pana nevattānaṁ pātukarissatī’”ti.
“See, Udāyī, how the Realized One has so few wishes, such contentment, such self-effacement. For even though the Realized One has such power and might, he will not make a display of himself. If the wanderers following other religions were to see even a single one of these qualities in themselves they’d carry around a banner to that effect. See, Udāyī, how the Realized One has so few wishes, such contentment, such self-effacement. For even though the Realized One has such power and might, he will not make a display of himself.”
Này Udāyi, ngươi hãy xem sự ít ham muốn, sự biết đủ, và sự thanh lọc của Như Lai! Dù Như Lai có đại thần lực, đại oai đức như vậy, nhưng Ngài lại không tự biểu lộ mình! Này Udāyi, nếu các du sĩ ngoại đạo thấy được dù chỉ một trong những phẩm chất này nơi họ, họ đã dương cờ đi khắp nơi rồi. Này Udāyi, ngươi hãy xem sự ít ham muốn, sự biết đủ, và sự thanh lọc của Như Lai! Dù Như Lai có đại thần lực, đại oai đức như vậy, nhưng Ngài lại không tự biểu lộ mình!
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi: “Tasmātiha tvaṁ, sāriputta, imaṁ dhammapariyāyaṁ abhikkhaṇaṁ bhāseyyāsi bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Yesampi hi, sāriputta, moghapurisānaṁ bhavissati tathāgate kaṅkhā vā vimati vā, tesamimaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā tathāgate kaṅkhā vā vimati vā, sā pahīyissatī”ti.
Iti hidaṁ āyasmā sāriputto bhagavato sammukhā sampasādaṁ pavedesi. Tasmā imassa veyyākaraṇassa sampasādanīyantveva adhivacananti.
Then the Buddha said to Venerable Sāriputta, “So Sāriputta, you should frequently speak this exposition of the teaching to the monks, nuns, laymen, and laywomen. Though there will be some futile people who have doubt or uncertainty regarding the Realized One, when they hear this exposition of the teaching they’ll give up that doubt or uncertainty.”
That’s how Venerable Sāriputta declared his confidence in the Buddha’s presence. And that’s why the name of this discussion is “Inspiring Confidence”.
163. Khi ấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta và nói: ‘Này Sāriputta, vì vậy, ngươi hãy thường xuyên thuyết giảng pháp môn này cho các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Này Sāriputta, những kẻ ngu si nào có lòng nghi ngờ hay phân vân về Như Lai, sau khi nghe pháp môn này, lòng nghi ngờ hay phân vân của họ về Như Lai sẽ được đoạn trừ.’ Vì Tôn giả Sāriputta đã tuyên bố niềm tịnh tín này trước mặt Thế Tôn, nên bài pháp giải này được đặt tên là ‘Tịnh Tín.’
Sampasādanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Kinh Tịnh Tín, kinh thứ năm, chấm dứt.