- Dīgha Nikāya 29
Pāsādikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pāsādikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích-ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích-ca tên là Vedhannà.
SC 2Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền tử) vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng: “Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được.” Hình như các đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigaṇṭha Nātaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigaṇṭha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 3PTS cs 2 Rồi Sa-di Cunda (Thuần-đà), sau khi an cư mùa mưa ở Pàvà đến thăm tôn giả Ānanda ở Sāmāgāma, sau khi đến, đảnh lễ tôn giả Ānanda (A-nan) và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Sa-di Cunda bạch tôn giả Ānanda
SC 4—Bạch Tôn giả, Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà sau khi vị này tạ thế, các Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … Pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
SC 5Khi nghe nói vậy, tôn giả Ānanda nói với Sa-di Cunda
SC 6—Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến xong, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.
- Bạch Tôn giả, vâng!
SC 7Sa-di Cunda vâng lời tôn giả Ānanda.
SC 8PTS cs 3 Rồi tôn giả Ānanda cùng với Sa-di Cunda, đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda có nói: “Nigaṇṭha Nātaputta đã từ trần ở Pàvà. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigaṇṭha chia ra làm hai phái … pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”
SC 10- Này Cunda, như vậy ở đây pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 11PTS cs 4 Này Cunda, ở đây có vị đạo sư không phải là Chánh Ðẳng Giác, có pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và người đệ tử trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, sống vượt ra ngoài pháp. Người đệ tử ấy cần được nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi. Thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Ðạo sư của Ngươi không phải là vị Chánh Ðẳng Giác. Pháp của Ngươi đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Và Ngươi trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, vượt ra ngoài pháp. Này Cunda, như vậy ở đây, vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, nhưng ở đây đệ tử đáng tán thán. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, nên nói như sau:” Này Ðại đức, dầu Ðại đức thực hành đúng như pháp vị đạo sư đã dạy và trình bày, ai có suy tầm, ai có bị suy tầm, ai có suy tầm rồi như thực thi hành, tất cả đều không có phước báo. Vì sao vậy? Vì pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.”
SC 12PTS cs 5 Này Cunda, ở đây, vị đạo sư không là vị Chánh Ðẳng Giác, và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này, sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Người này nên được nói như sau: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi không là vị Chánh Ðẳng Giác và pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, những người trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống theo chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, ở đây vị đệ tử cũng đáng quở trách. Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, có ai, nên nói như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu theo chánh hạnh, tinh tấn trong chánh hạnh, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn hơn nữa, tất cả đều không được phước đức.” Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 13PTS cs 6 Này Cunda, ở đây vị đạo sư là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo giảng và trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Vị đệ tử trong pháp này sống không thành tựu pháp và tùy pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp. Vị đệ tử ấy cần phải được nói: “Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng Ngươi trong pháp này sống không thành tựu pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp.” Này Cunda, ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử đáng quở trách. Nếu có ai, hãy nói với vị đệ tử ấy như sau: “Ðại đức hãy thực hành đúng như pháp do vị đạo sư của Ðại đức trình bày và tuyên thuyết. Ai có điều tra, ai có bị điều tra, ai có bị điều tra rồi như thực thi hành, tất cả đều được phước báo”. Vì sao vậy? Này Cunda, pháp luật này khéo thuyết khéo trình bày là như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 14PTS cs 7 Này Cunda ở đây vị đạo sư là Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Cháng Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy nói như sau: “Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi, thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị A la hán Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và Ngươi trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp”. Này Cunda, như vậy ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử cũng đáng được tán thán. Này Cunda, nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy như sau: “Thật vậy, Ðại đức thành tựu như pháp, tinh tấn như pháp, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn thực hành, tất cả đều được nhiều công đức”. Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp luật được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết.
SC 15PTS cs 8 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho các vị này, chưa được trình bày rõ ràng, với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư viên tịch. Này Cunda, đối với vị đạo sư như vậy, nếu viên tịch, các đệ tử sẽ ưu tư rất nhiều. Vì sao vậy? Vì đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng chúng ta chưa được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn chưa được tỏ lộ cho chúng ta với tất cả thứ bậc, vị trí liên hệ, chưa được trở thành diệu dụng, chưa được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị Ðạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử có sự ưu tư.
SC 16PTS cs 9 Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và các vị đệ tử được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho các vị ấy với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị đạo sư của những vị ấy viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư. Vì cớ sao? Vị đạo sư của chúng ta xuất hiện ở đời là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Còn chúng ta được tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ cho chúng ta biết với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người, và vị Ðạo sư của chúng ta viên tịch. Này Cunda, vị đạo sư như vậy có viên tịch, các đệ tử không có ưu tư.
SC 17PTS cs 10 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, nếu không có một vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là không viên mãn, trong trường hợp như vậy. Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và nếu có vị đạo sư là một vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, một phạm hạnh như vậy được xem là viên mãn, trong trường hợp như vậy.
SC 18PTS cs 11 Này Cunda, nếu phạm hạnh được đầy đủ những chi phần như vậy, và có vị đạo sư là vị Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, nhưng không có các vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử là những vị sáng suốt, tự điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, với giáo lý ngoại đạo được khởi lên có thể khéo nhiếp phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất tư nghì; như vậy phạm hạnh này không thể viên mãn bởi chi tiết này.
SC 19PTS cs 12 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ về những phương diện này, vị đạo sư là vị Thượng tọa, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa Tỷ kheo, những vị đệ tử … nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … Có các vị Trung lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … có các Hạ lạp Tỷ kheo, những vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trưởng lão Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Trung lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … có các vị Hạ lạp Tỷ kheo ni, các vị đệ tử … nhưng nếu không có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … có những Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … có những Nư cư sĩ đệ tử, những vị tại gia mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh … nhưng nếu không có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … có những Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … phạm hạnh như vậy nếu không được thành công, hưng thịnh, phát triển và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, nhưng không đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy không được viên mãn về phương diện này.
SC 20PTS cs 13 Này Cunda, khi nào phạm hạnh được đầy đủ với những phương diện này, vị đạo sư là Thượng tọa có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngày, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành, và những vị Thượng tọa là những bậc Tỷ kheo, những vị đệ tử sáng suốt, tự điều phục … thuyết pháp diệu dụng, có Trung lạp Tỷ kheo đệ tử, có Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử, có Trưởng lão Ni đệ tử, có Trung lạp Ni đệ tử, có Hạ lạp Ni đệ tử, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có Nam cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc, có Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh, có những vị Nữ cư sĩ đệ tử, những vị tại gia, mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc; phạm hạnh như vậy được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa các người, đạt được danh xưng và lợi dưỡng một cách tối thắng, phạm hạnh như vậy được viên mãn về phương diện này.
SC 21PTS cs 14 Này Cunda, nay Ta hiện tại là bậc Ðạo sư xuất hiện ở đời, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên bố, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, được vị Chánh Ðẳng Giác trình bày, và các vị đệ tử của Ta tinh thông diệu pháp, và phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏ lộ với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ, được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người. Này Cunda, nay Ta là vị Ðạo sư Trưởng lão, có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu ngay, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến tuổi trưởng thành.
SC 22PTS cs 15 Này Cunda, nay Ta có những vị Thượng tọa Tỷ kheo đệ tử sáng suốt, tự biết điều phục, vô úy, đa văn, đã đạt đến sự an ổn, có thể thuyết diệu pháp, đối với giáo lý ngoại đạo được khởi lên, có thể khéo thuyết phục với giáo pháp của mình, có thể thuyết diệu pháp bất khả tư nghì. Này Cunda, Ta lại có những Trung lạp Tỷ kheo sáng suốt. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trưởng lão Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Trung lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Hạ lạp Tỷ kheo ni đệ tử. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nam cư sĩ, là những vị tại gia mặc áo trắng, chấp nhận dục lạc. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ, là những vị tại gia, mặc áo trắng, sống theo phạm hạnh. Này Cunda, nay Ta có những vị Nữ cư sĩ là những vị tại gia, mặc áo trắng chấp nhận dục lạc … Này Cunda, nay Phạm hạnh của Ta được thành công, hưng thịnh, phát triển, và phổ thông một cách rộng rãi, khéo tuyên bố giữa mọi người.
SC 23PTS cs 16 Này Cunda, đối với tất cả những vị đạo sĩ nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một vị đạo sư nào khác có thể bằng Ta về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Này Cunda, đối với tất cả các đoàn thể, các hội chúng nay xuất hiện ở đời; này Cunda, Ta không thấy một đoàn thể nào khác có thể bằng đoàn thể Tỷ-kheo về phương diện lợi dưỡng và danh xưng tối thượng. Nếu có ai, khi tả một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, vị ấy nếu tuyên bố đúng đắn sẽ tuyên bố như sau: “Thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố”. Này Cunda, Uddaka con của Rāma thường nói: “Thấy mà không thấy”. Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, đấy là nghĩa của câu: “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, ở đây Uddaka con của Rāma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao. Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu “Thấy mà không thấy”, thời phải nói như sau: “Thấy mà không thấy”. Vị ấy thấy cái gì mà không thấy? Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này. Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là “Thấy mà không thấy”. Này Cunda, nếu có ai khi tả một phạm hạnh thành tựu hết thảy tướng … phạm hạnh được khéo tuyên bố, vị ấy sẽ tuyên bố đúng đắn như sau: “Phạm hạnh này thành tựu hết thảy tướng, cụ túc hết thảy tướng, không thiếu thốn, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày”.
SC 24PTS cs 17 Do vậy, này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người. Này Cunda, thế nào là những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người? Những pháp ấy là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Tám Thánh đạo. Này Cunda, những pháp ấy do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc của muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.
SC 25PTS cs 18 Này Cunda, các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng “Vị Ðại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:
SC 26“Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.
SC 27PTS cs 19 Lại nữa này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng đắn”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không thán thán, không bác bỏ, các ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích một cách cẩn thận ý nghĩa đúng đắn cho vị ấy.
SC 28PTS cs 20 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn, nhưng hành văn sai lạc”, các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy: “Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?” Nếu vị ấy trả lời: “Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia”, các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các ngươi phải giải thích một cách cẩn thận cách hành văn cho vị ấy.
SC 29PTS cs 21 Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng, nếu các Ngươi nghĩ rằng: “Vị Ðại đức này nắm nghĩa đúng đắn và hành văn đúng đắn”, các Ngươi nên tán đồng và tán thán vị ấy với câu: “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy” “Thật là tốt đẹp”, các Ngươi phải nói với vị ấy: “Này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi, này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi thấy một vị đồng phạm hạnh như Hiền giả, tinh thông nghĩa lý như vậy, tinh thông hành văn như vậy”.
SC 30PTS cs 22 Này Cunda Ta không thuyết giảng chỉ để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này Cunda, Ta không thuyết pháp, chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà thôi. Này Cunda, Ta thuyết pháp vừa để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại mà cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai nữa. Do vậy, này Cunda, tấm y mà Ta cho phép các Ngươi mặc, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của các loài ruồi muỗi, của gió, mặt trời và các loài rắn, và các che dấu sự hổ thẹn. Các món ăn khất thực mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để nuôi dưỡng thân thể, giúp thân thể sống còn, tránh khỏi nguy hại và giúp đời sống phạm hạnh với hy vọng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới. Nhờ vậy đời sống của ta mới khỏi bị lầm lỗi và ta sống an lạc.” Nhà cửa nào mà Ta cho phép các ngươi an trú, như vậy vừa đủ cho các Ngươi ngăn chận lạnh, ngăn chận nóng, ngăn chận sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, mặt trời và các loài rắn, chỉ với mục đích tránh thoát sự nguy hiểm của thời tiết, và an hưởng đời sống tịnh cư. Các dược phẩm và thuốc trị bịnh mà Ta cho phép các Ngươi dùng, như vậy vừa đủ để ngăn chận các cảm thọ đau ốm khởi lên và để gìn giữ sức khỏe.
SC 31PTS cs 23 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống đam mê hỷ lạc”. Này Cunda, nếu được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo phải được trả lời như vậy: “Này Hiền giả, thế nào là đam mê hỷ lạc? Ðam mê hỷ lạc có nhiều loại, có nhiều cách”. Này Cunda, bốn loại đam mê hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tich diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 32Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây có người ngu si, sau khi sát sanh, tự mình sung sướng hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi lấy của không cho, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa, này Cunda, ở đây có người sau khi nói láo, tự mình sung sướng, hoan hỷ, đó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, ở đây có người say đắm, đam mê sống vây quanh với năm món dục lạc, đó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc này là thấp kém, hạ liệt, thuộc phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không có lợi ích, không hướng đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 33PTS cs 24 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra, các ngoại đạo có thể hỏi: “Các Sa-môn Thích tử có phải sống đam mê bốn loại hỷ lạc này không?” Họ cần phải được trả lời: “Chớ có nói như vậy. Các ông nói như vậy là nói không đúng đắn. Nói như vậy là các ông xuyên tạc, không đúng sự thật, không thực có”. Này Cunda, có bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
SC 34Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ðó là hỷ lạc thứ nhất. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðó là hỷ lạc thứ hai. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả … chứng và trú Thiền thứ ba … Ðó là hỷ lạc thứ ba. Lại nữa này Cunda, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ … chứng và trú Thiền thứ tư … Ðó là hỷ lạc thứ tư. Này Cunda, bốn loại hỷ lạc nhất định đưa đến yểm ly, vô tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các vị Sa-môn Thích tử đang sống đam mê bốn loại hỷ lạc này”. Họ cần phải được trả lời: “Nói như vậy là phải; các ông nói như vậy là nói đúng đắn. Nói như vậy là các ông không xuyên tạc, đúng sự thật, và thực có”.
SC 35PTS cs 25 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê theo bốn loại hỷ lạc ấy có thể mong đợi kết quả gì, lợi ích gì?” Ðược nói vậy, phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, những ai sống đam mê bốn loại hỷ lạc ấy, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn sự lợi ích.
SC 36Thế nào là bốn? Này Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, được nhập vào dòng Thánh, không còn bị đọa lạc, nhất định sẽ được giác ngộ. Ðó là kết quả thứ nhất. Lại nữa này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ ba kiết sử, làm muội lược tham, sân, si, chứng bậc Nhất lai, chỉ còn trở lại đời này một lần nữa trước khi diệt tận khổ đau. Ðó là kết quả thứ hai, lợi ích thứ hai. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh ở tại chỗ ấy mà nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Như vậy là kết quả thứ ba, lợi ích thứ ba. Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo diệt trừ các lậu hoặc, tự mình chứng tri, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Như vậy là kết quả thứ tư. Này Hiền giả, vị nào sống đam mê bốn loại hỷ lạc này, có thể mong đợi bốn kết quả, bốn lợi ích như vậy”.
SC 37PTS cs 26 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Các Sa-môn Thích tử sống không giữ vững lập trường”. Này Cunda, các vị du sĩ ngoại đạo nói vậy cần phải được trả lời như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời. Này Hiền giả, giống như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, chân cột được khéo chôn sâu vào đất, không lắc qua lại, không có rung động. Cũng vậy này Hiền giả, Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thuyết, đã trình bày những pháp cho các đệ tử cho đến trọn đời.
SC 38Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã diệt trừ các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc sau đây: Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể cố ý tước đoạt sanh mạng của loài hữu tình; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể lấy của không cho, tức là ăn trộm; vị Tỷ kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể hành dâm; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc, không thể biết mà nói láo; vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc không thể cất chứa tiền của để hưởng thọ dục lạc, như khi còn tại gia; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành tham; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành sân; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành si; vị Tỷ-kheo đã diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành theo sợ hãi. Này Hiền giả, một vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đã diệt tận các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, các việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc như vậy”.
SC 39PTS cs 27 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: “Ðối với quá khứ, Sa-môn Gotama có tri kiến siêu việt. Nhưng đối với tương lai, Sa-môn Gotama không có tri kiến siêu việt; như sự việc xảy ra như thế nào và vì sao lại xảy ra như vậy?” Như vậy, các vị du sĩ ngoại đạo này chủ trương rằng tri kiến về vấn đề này có thể được trình bày nêu rõ bởi tri kiến một vấn đề khác, như những kẻ ngu si, không thông minh khác. Này Cunda, về vấn đề quá khứ, Như Lai có thể nhớ đến đời sống quá khứ. Ngài muốn như thế nào, Ngài có thể nhớ xa được như vậy. Về vấn đề vị lai, Như Lai có trí do tuệ sanh: “Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn đời sống nào khác nữa”.
SC 40PTS cs 28 Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy.
SC 41Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là hy vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy một cách vắn tắt.
SC 42Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại và chơn chánh, như thật, nhưng không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy. Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật. Do vậy mới gọi là Như Lai.
SC 43PTS cs 29 Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được phân biệt, được đạt đến, được tìm cầu, được suy đạt với ý, tất cả đều được Như Lai biết rõ. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Ðẳng Giác và đêm Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn giới, trong thời gian ấy, những gì Như Lai nói trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy, chớ không gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, Như Lai nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy nên được gọi là Như Lai. Ðối với thế giới với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc Toàn Thắng, không ai có thể thắng nổi, bậc Toàn kiến, bậc Tự Tại.
SC 44PTS cs 30 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, có phải không? Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!” Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Thế nào Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết … Như lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm?” Này Cunda được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Như Lai không có nói: “Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm!”.
SC 45PTS cs 31 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Sa môn Gotama lại không nói?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì không liên hệ đến lợi ích, không liên hệ đến Pháp, không liên hệ đến căn bản phạm hạnh, không hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy Thế Tôn không trả lời.”
SC 46PTS cs 32 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, Sa môn Gotama nói điều gì?” Này Cunda, được nói vậy, Ngươi phải trả lời các du sĩ ngoại đạo như sau: “Ðây là Khổ, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ tập, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói. Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt, này Hiền giả, đó là điều Thế Tôn nói.”
SC 47PTS cs 33 Này Cunda, sự kiện này có thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: “Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn lại nói vậy?” Này Cunda, được nói như vậy, Ngươi phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như sau: “Này Hiền giả, vì liên hệ đến lợi ích, liên hệ đến Pháp, liên hệ đến căn bản phạm hạnh, vì nhất định hướng đến yểm ly, vô tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Do vậy, Thế Tôn mới nói.”
SC 48PTS cs 34 Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi? Này Cunda, mọi biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 49Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi, và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi? Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thực, ngoài ra là sai lầm”. Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 50“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là không do mình tự tạo ra và cũng không phải không do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra sai lầm.
SC 51“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
Lạc, khổ là không thường còn và không vô thường
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo ra, không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 52PTS cs 35 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã và thế giới là thường còn, như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn” không?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí.
SC 53PTS cs 36 Này Cunda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau:
SC 54“Bản ngã và thế giới là thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là thường còn và không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là không thường còn và không không thường còn …
“Bản ngã và thế giới là do mình tự tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do người khác tạo ra …
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và do người khác tạo ra … ”
“Bản ngã và thế giới là do tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra.
“Bản ngã và thế giới do tự nhiên sanh, không do mình tự tạo, không do người khác tạo ra …
SC 55“Lạc, khổ là thường còn …
“Lạc, khổ là vô thường …
“Lạc, khổ là thường còn và vô thường …
“Lạc, khổ không thường còn và không vô thường …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra …
“Lạc, khổ là tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự mình tạo ra và tự người khác tạo ra …
“Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra. Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”.
SC 56Ta đến những vị ấy và nói: Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Lạc, khổ là tự nhiên sanh, không tự mình tạo ra và không do người khác tạo ra?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thực, ngoài ra đều là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Có một số hữu tình có những ý tưởng sai khác. Này Cunda Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này, biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 57PTS cs 37 Này Cunda, thế nào là những biện luận về tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi; và những biện luận không đáng nói cho các Ngươi?
SC 58Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh, sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 59Lại nữa này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 60“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật ngoài ra là sai lầm”.
SC 61PTS cs 38 Này Cunda, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có quan điểm như sau, có tri kiến như sau: “Bản ngã là có sắc, không bệnh sau khi chết. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả có phải Hiền giả có nói: “Bản ngã là có sắc, không có bệnh sau khi chết?” Nếu các vị ấy trả lời: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Cunda, vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta, chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí.
SC 62PTS cs 39 Này Cunda, có những Sa-môn, Bà-la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau:
SC 63“Bản ngã là có sắc …
“Bản ngã là vô sắc …
“Bản ngã là có sắc và vô sắc …
“Bản ngã là không có sắc và không vô sắc …
“Bản ngã là có tưởng …
“Bản ngã là vô tưởng …
“Bản ngã là có tưởng và vô tưởng …
“Bản ngã là không có tưởng và không vô tưởng …
“Bản ngã là đoạn diệt, biến hoại, sau khi chết không có tồn tại. Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”.
SC 64Ta đến những vị ấy và nói: “Này Hiền giả, có phải Hiền giả nói rằng: “Bản ngã là đoạn diệt biến hoại, sau khi chết không có tồn tại?” Này Cunda, nếu những vị ấy nói: “Như vậy là đúng sự thật, ngoài ra là sai lầm”, thì Ta không chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Vì có một số hữu tình có những tư tưởng sai khác. Này Cunda, Ta cũng không xem quan điểm ấy ngang bằng quan điểm của Ta chớ đừng nói cao hơn. Như vậy ở đây, Ta cao hơn về thượng trí. Này Cunda, những biện luận về những tà kiến liên hệ đến tương lai, những biện luận nào đáng nói cho các Ngươi, Ta đã nói cho các Ngươi. Còn những biện luận nào không đáng nói cho các Ngươi, sao Ta lại sẽ nói cho các Ngươi?
SC 65PTS cs 40 Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua những biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này, mà bốn pháp Niệm xứ được ta tuyên thuyết, trình bày. Thế nào là bốn? Này Cunda, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiếp phục tham, sân ở đời, sống quán thọ trên các cảm thọ … trong các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích nhiệp phục tham ưu ở đời. Này Cunda, với mục đích đoạn trừ và vượt qua các biện luận về các tà kiến liên hệ đến quá khứ tối sơ này và các biện luận về các tà kiến liên hệ đến tương lai này mà bốn Niệm xứ được Ta truyền thuyết trình bày.
SC 66PTS cs 41 Lúc bấy giờ, Tôn giả Upavāna đang đứng sau lưng hầu quạt Thế Tôn. Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn
SC 67—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này thật là tuyệt đối thanh tịnh! Bạch Thế Tôn, pháp thoại này tên là gì?
SC 68- Này Upavāna, pháp thoại này là Thanh tịnh (Pàsàdikà), hãy như vậy mà phụng trì.
SC 69Thế Tôn thuyết dạy như vậy. Tôn giả Upavāna hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Hoan Hỷ
164. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Sakka, tại một lâu đài trong vườn xoài của những người Sakka tên là Vedhaññā.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti:
“na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti.
Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati. Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā, tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā, yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
Now at that time the Jain ascetic of the Ñātika clan had recently passed away at Pāvā. With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions, fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words:
“You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!”
You’d think there was nothing but slaughter going on among the Jain ascetics. And the Jain Ñātika’s white-clothed lay disciples were disillusioned, dismayed, and disappointed in the Jain ascetics. They were equally disappointed with a teaching and training so poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha, with broken monument and without a refuge.
Vào lúc bấy giờ, Ni-kiền-tử Nātaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā. Do sự mệnh chung của vị ấy, các Ni-kiền-tử bị chia rẽ, phân thành hai phe, sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, đi đến tranh luận, sống đâm chém lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao ngươi có thể biết được Pháp và Luật này? Ngươi đã thực hành sai lạc, ta đã thực hành đúng đắn. Lời nói của ta có lợi ích, lời nói của ngươi không có lợi ích. Điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau; điều đáng nói sau, ngươi lại nói trước. Sự tu tập lâu dài của ngươi đã bị đảo lộn. Luận thuyết của ngươi đã bị bác bỏ. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi đi để giải thoát cho luận thuyết của ngươi, hoặc hãy gỡ rối nó đi nếu ngươi có thể.’ Dường như có sự tàn sát đang diễn ra giữa các Ni-kiền-tử, các đệ tử của Nātaputta. Ngay cả những đệ tử tại gia mặc y trắng của Ni-kiền-tử Nātaputta, họ cũng trở nên chán nản, ly khai, và quay lưng lại với các Ni-kiền-tử, các đệ tử của Nātaputta, cũng giống như (thái độ cần có) đối với một giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không đưa đến sự giải thoát, không dẫn đến sự an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, với nền tảng đã bị phá vỡ, không có nơi nương tựa.
Atha kho cundo samaṇuddeso pāvāyaṁ vassaṁvuṭṭho yena sāmagāmo, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato. Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe”ti.
And then, after completing the rainy season residence near Pāvā, the novice Cunda went to see Venerable Ānanda at Sāma village. He bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
165. Lúc bấy giờ, sa-di Cunda, sau khi đã an cư mùa mưa ở Pāvā, đã đi đến Sāmagāma, đến nơi Tôn giả Ānanda đang ở; sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, sa-di Cunda đã thưa với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Bạch ngài, Ni-kiền-tử Nātaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā. Do sự mệnh chung của vị ấy, các Ni-kiền-tử bị chia rẽ, phân thành hai phe... cho đến... với nền tảng đã bị phá vỡ, không có nơi nương tựa.’
Evaṁ vutte, āyasmā ānando cundaṁ samaṇuddesaṁ etadavoca: “atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya. Āyāmāvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
Ānanda said to him, “Reverend Cunda, we should see the Buddha about this matter. Come, let’s go to the Buddha and tell him about this.”
“Yes, sir,” replied Cunda.
Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda đã nói với sa-di Cunda điều này: ‘Này hiền giả Cunda, đây là một món quà câu chuyện để đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Này hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, chúng ta sẽ trình báo việc này lên Đức Thế Tôn.’ ‘Vâng, thưa ngài.’ – sa-di Cunda đã vâng lời Tôn giả Ānanda.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha, ‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato, tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe’”ti.
Then Ānanda and Cunda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda và sa-di Cunda đã đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Đức Thế Tôn, sa-di Cunda này đã nói như vầy: “Bạch ngài, Ni-kiền-tử Nātaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā, do sự mệnh chung của vị ấy, các Ni-kiền-tử bị chia rẽ... cho đến... với nền tảng đã bị phá vỡ, không có nơi nương tựa.”’
“Evaṁ hetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Idha, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito, sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati na sāmīcippaṭipanno na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati. So evamassa vacanīyo: ‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ, satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito. Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti. Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvako ca tattha evaṁ pāsaṁso. Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya: ‘etāyasmā tathā paṭipajjatu, yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti. Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti. Taṁ kissa hetu?
“That’s what happens, Cunda, when a teaching and training is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha.
Take the case where a teacher is not awakened, and the teaching is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha. A disciple in that teaching does not practice in line with the teaching, does not practice following that procedure, does not live in line with the teaching. They proceed having turned away from that teaching. You should say this to them, ‘You’re fortunate, reverend, you’re so very fortunate! For your teacher is not awakened, and their teaching is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha. But you don’t practice in line with that teaching, you don’t practice following that procedure, you don’t live in line with the teaching. You proceed having turned away from that teaching.’ In such a case the teacher and the teaching are to blame, but the disciple deserves praise. Suppose someone was to say to such a disciple, ‘Come on, venerable, practice as taught and pointed out by your teacher.’ The one who encourages, the one who they encourage, and the one who practices accordingly all brim with much wickedness. Why is that?
166. ‘Này Cunda, điều này là như vậy trong một giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không đưa đến sự giải thoát, không dẫn đến sự an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Ở đây, này Cunda, vị đạo sư không phải là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không đưa đến sự giải thoát, không dẫn đến sự an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Và trong giáo pháp ấy, người đệ tử không sống thực hành pháp và tùy pháp, không thực hành đúng đắn, không theo đúng pháp, mà lại đi lệch khỏi giáo pháp ấy. Vị ấy nên được nói như vầy: ‘Thật là lợi lộc cho hiền giả, thật là may mắn cho hiền giả, khi mà vị đạo sư của hiền giả không phải là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không đưa đến sự giải thoát, không dẫn đến sự an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Và trong giáo pháp ấy, hiền giả không sống thực hành pháp và tùy pháp, không thực hành đúng đắn, không theo đúng pháp, mà lại đi lệch khỏi giáo pháp ấy.’ Như vậy, này Cunda, vị đạo sư ở đây đáng bị khiển trách, giáo pháp ở đây đáng bị khiển trách, nhưng người đệ tử ở đây lại đáng được tán dương. Này Cunda, nếu có người nói với một đệ tử như vậy: ‘Hãy đến, Tôn giả, hãy thực hành theo cách mà giáo pháp đã được đạo sư của ngài thuyết giảng và quy định.’ Người nào khuyến khích, người nào được khuyến khích, và người nào được khuyến khích mà thực hành theo đó, tất cả họ đều tạo ra nhiều điều bất thiện. Vì sao vậy? Này Cunda, điều này là như vậy trong một giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không đưa đến sự giải thoát, không dẫn đến sự an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito, sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati. So evamassa vacanīyo: ‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te asammāsambuddho, dhammo ca durakkhāto duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito. Tvañca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharasi sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattasī’ti. Iti kho, cunda, satthāpi tattha gārayho, dhammopi tattha gārayho, sāvakopi tattha evaṁ gārayho. Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya: ‘addhāyasmā ñāyappaṭipanno ñāyamārādhessatī’ti. Yo ca pasaṁsati, yañca pasaṁsati, yo ca pasaṁsito bhiyyoso mattāya vīriyaṁ ārabhati. Sabbe te bahuṁ apuññaṁ pasavanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, cunda, hoti durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite.
Take the case where a teacher is not awakened, and the teaching is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha. A disciple in that teaching practices in line with the teaching, practices following that procedure, lives in line with the teaching. They proceed having undertaken that teaching. You should say this to them, ‘It’s your loss, reverend, it’s your misfortune! For your teacher is not awakened, and their teaching is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha. And you practice in line with that teaching, you practice following that procedure, you live in line with the teaching. You proceed having undertaken that teaching.’ In such a case the teacher, the teaching, and the disciple are all to blame. Suppose someone was to say to such a disciple, ‘Clearly the venerable is practicing systematically and will succeed in that system.’ The one who praises, the one who they praise, and the one who, being praised, rouses up even more energy all brim with much wickedness. Why is that? It’s because that teaching and training is poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha.
167. Này Cunda, lại nữa, ở đời này, vị đạo sư không phải là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không có khả năng hướng thượng, không đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi người không phải là bậc Chánh Đẳng Giác. Và trong giáo pháp ấy, người đệ tử sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo pháp, đã chấp nhận và thực hành giáo pháp ấy. Người ấy đáng được nói như sau: 'Thưa hiền giả, thật bất hạnh cho ngài, thật bất lợi cho ngài! Vị đạo sư của ngài không phải là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không có khả năng hướng thượng, không đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi người không phải là bậc Chánh Đẳng Giác. Và ngài, trong giáo pháp ấy, sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo pháp, đã chấp nhận và thực hành giáo pháp ấy.' Này Cunda, như vậy, trong trường hợp đó, vị đạo sư đáng bị khiển trách, giáo pháp cũng đáng bị khiển trách, và người đệ tử cũng đáng bị khiển trách như vậy. Này Cunda, người nào nói với một đệ tử như vậy rằng: 'Chắc chắn hiền giả đang thực hành đúng con đường và sẽ đạt được mục đích.' Người tán thán, người được tán thán, và người được tán thán lại càng nỗ lực tinh tấn hơn nữa, tất cả những người ấy đều tạo ra nhiều điều bất thiện. Vì sao vậy? Này Cunda, điều đó xảy ra như vậy là do giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng tồi tệ, được trình bày tồi tệ, không có khả năng hướng thượng, không đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi người không phải là bậc Chánh Đẳng Giác.
Giáo Pháp và Giới Luật được Tuyên Thuyết bởi Bậc không phải Chánh Đẳng Giác
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, sāvako ca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharati, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattati. So evamassa vacanīyo: ‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṁ, satthā ca te sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito. Tvañca tasmiṁ dhamme na dhammānudhammappaṭipanno viharasi, na sāmīcippaṭipanno, na anudhammacārī, vokkamma ca tamhā dhammā vattasī’ti. Iti kho, cunda, satthāpi tattha pāsaṁso, dhammopi tattha pāsaṁso, sāvako ca tattha evaṁ gārayho. Yo kho, cunda, evarūpaṁ sāvakaṁ evaṁ vadeyya: ‘etāyasmā tathā paṭipajjatu yathā te satthārā dhammo desito paññatto’ti. Yo ca samādapeti, yañca samādapeti, yo ca samādapito tathattāya paṭipajjati. Sabbe te bahuṁ puññaṁ pasavanti. Taṁ kissa hetu? Evañhetaṁ, cunda, hoti svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṁvattanike sammāsambuddhappavedite.
Idha pana, cunda, satthā ca hoti sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, sāvako ca tasmiṁ dhamme dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, samādāya taṁ dhammaṁ vattati. So evamassa vacanīyo: ‘tassa te, āvuso, lābhā, tassa te suladdhaṁ,
Take the case where a teacher is awakened, and the teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha. A disciple in that teaching does not practice in line with the teaching, does not practice following that procedure, does not live in line with the teaching. They proceed having turned away from that teaching. You should say this to them, ‘It’s your loss, reverend, it’s your misfortune! For your teacher is awakened, and their teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha. But you don’t practice in line with that teaching, you don’t practice following that procedure, you don’t live in line with the teaching. You proceed having turned away from that teaching.’ In such a case the teacher and the teaching deserve praise, but the disciple is to blame. Suppose someone was to say to such a disciple, ‘Come on, venerable, practice as taught and pointed out by your teacher.’ The one who encourages, the one who they encourage, and the one who practices accordingly all brim with much merit. Why is that? It’s because that teaching and training is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha.
Take the case where a teacher is awakened, and the teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha. A disciple in that teaching practices in line with the teaching, practices following that procedure, lives in line with the teaching. They proceed having undertaken that teaching. You should say this to them, ‘You’re fortunate, reverend, you’re so very fortunate!
168. Này Cunda, ở đây, vị đạo sư là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng trong giáo pháp ấy, người đệ tử không sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, không thực hành đúng đắn, không sống theo pháp, mà lại đi lệch khỏi giáo pháp ấy và hành xử. Người ấy đáng được nói như sau: 'Thưa hiền giả, thật bất hạnh cho ngài, thật bất lợi cho ngài! Vị đạo sư của ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng ngài, trong giáo pháp ấy, không sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, không thực hành đúng đắn, không sống theo pháp, mà lại đi lệch khỏi giáo pháp ấy và hành xử.' Này Cunda, như vậy, trong trường hợp đó, vị đạo sư đáng được tán thán, giáo pháp cũng đáng được tán thán, nhưng người đệ tử lại đáng bị khiển trách như vậy. Này Cunda, người nào nói với một đệ tử như vậy rằng: 'Này hiền giả, hãy đến đây, hãy thực hành theo cách mà giáo pháp đã được vị đạo sư của ngài thuyết giảng và quy định.' Người khuyến khích, người được khuyến khích, và người được khuyến khích thực hành vì mục đích đó, tất cả những người ấy đều tạo ra nhiều công đức. Vì sao vậy? Này Cunda, điều đó xảy ra như vậy là do giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác.
169. Này Cunda, ở đây, vị đạo sư là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Và trong giáo pháp ấy, người đệ tử sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo pháp, đã chấp nhận và thực hành giáo pháp ấy. Người ấy đáng được nói như sau: 'Thưa hiền giả, thật may mắn cho ngài, thật lợi lạc cho ngài! Vị đạo sư của ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Và ngài, trong giáo pháp ấy, sống thực hành đúng theo pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo pháp, đã chấp nhận và thực hành giáo pháp ấy.' Này Cunda, như vậy, trong trường hợp đó, vị đạo sư đáng được tán thán, giáo pháp cũng đáng được tán thán, và người đệ tử cũng đáng được tán thán như vậy. Này Cunda, người nào nói với một đệ tử như vậy rằng: 'Chắc chắn hiền giả đang thực hành đúng con đường và sẽ đạt được mục đích.' Người tán thán, người được tán thán, và người được tán thán lại càng nỗ lực tinh tấn hơn nữa, tất cả những người ấy đều tạo ra nhiều công đức. Vì sao vậy? Này Cunda, điều đó xảy ra như vậy là do giáo pháp và giới luật đã được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác.
Vị Đạo Sư khiến các đệ tử hối tiếc
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, aviññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, na ca tesaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti. Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti. Taṁ kissa hetu? ‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho, dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito, aviññāpitatthā camha saddhamme, na ca no kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti. Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato anutappo hoti.
Take the case where a teacher arises in the world who is perfected, a fully awakened Buddha. The teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is fully awakened. But the disciples have not been educated in the meaning of that good teaching. And the spiritual practice that’s entirely full and pure has not been disclosed and divulged to them; its sayings have not all been collected; and it has not been fully revealed with its demonstrable basis among gods and humans. And then their teacher passes away. When such a teacher has passed away the disciples are tormented by regrets. Why is that? They think: ‘Our teacher was perfected, a fully awakened Buddha. His teaching was well explained, but we were not educated in its meaning. And the spiritual practice was not fully disclosed and divulged to us; its sayings have not all been collected; and it has not been fully revealed with its demonstrable basis among gods and humans. And then our teacher passed away.’ When such a teacher has passed away the disciples are tormented by regrets.
170. Này Cunda, ở đây, một vị đạo sư, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện trên đời, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng các đệ tử của ngài vẫn chưa hiểu rõ ý nghĩa của chánh pháp, và đời sống phạm hạnh của họ chưa được làm cho hiển lộ, chưa được làm cho rõ ràng, chưa được thiết lập một cách toàn diện, chưa được làm cho có hiệu quả kỳ diệu, chưa được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người. Rồi vị đạo sư của họ qua đời. Này Cunda, một vị đạo sư như vậy, khi qua đời, sẽ gây ra sự hối tiếc cho các đệ tử. Vì sao vậy? 'Một vị đạo sư, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã xuất hiện trên đời cho chúng ta, và giáo pháp được thuyết giảng khéo léo, được trình bày khéo léo, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác. Nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu rõ ý nghĩa của chánh pháp, và đời sống phạm hạnh của chúng ta chưa được làm cho hiển lộ, chưa được làm cho rõ ràng, chưa được thiết lập một cách toàn diện, chưa được làm cho có hiệu quả kỳ diệu, chưa được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người. Rồi vị đạo sư của chúng ta qua đời.' Này Cunda, một vị đạo sư như vậy, khi qua đời, sẽ gây ra sự hối tiếc cho các đệ tử.
Vị Đạo Sư Khiến Các Đệ Tử Không Hối Tiếc
Idha pana, cunda, satthā ca loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho. Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito. Viññāpitatthā cassa honti sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Atha nesaṁ satthuno antaradhānaṁ hoti. Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti. Taṁ kissa hetu? ‘Satthā ca no loke udapādi arahaṁ sammāsambuddho. Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito. Viññāpitatthā camha saddhamme, kevalañca no paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ hoti uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Atha no satthuno antaradhānaṁ hotī’ti. Evarūpo kho, cunda, satthā sāvakānaṁ kālaṅkato ananutappo hoti.
Take the case where a teacher arises in the world who is perfected, a fully awakened Buddha. The teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is fully awakened. The disciples have been educated in the meaning of that good teaching. And the spiritual practice that’s entirely full and pure has been disclosed and divulged to them; its sayings have all been collected; and it has been fully revealed with its demonstrable basis among gods and humans. And then their teacher passes away. When such a teacher has passed away the disciples are free of regrets. Why is that? They think: ‘Our teacher was perfected, a fully awakened Buddha. His teaching was well explained, we were educated in its meaning, and the spiritual practice was fully revealed to us. And then our teacher passed away.’ When such a teacher has passed away the disciples are free of regrets.
171. “Này Cunda, ở đời này, có vị Đạo Sư xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Và các đệ tử của vị ấy đã được làm cho hiểu rõ ý nghĩa trong Chánh Pháp, và phạm hạnh của họ được làm cho hiển lộ, được làm cho rõ ràng, được trình bày bằng những thuật ngữ bao quát tất cả, được thực hiện một cách kỳ diệu, được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người, một cách trọn vẹn và viên mãn. Rồi vị Đạo Sư của họ qua đời. Này Cunda, một vị Đạo Sư như vậy, khi qua đời, không làm cho các đệ tử phải hối tiếc. Vì sao vậy? (Họ nghĩ rằng:) ‘Vị Đạo Sư của chúng ta đã xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Và chúng ta đã được làm cho hiểu rõ ý nghĩa trong Chánh Pháp, và phạm hạnh của chúng ta được làm cho hiển lộ, được làm cho rõ ràng, được trình bày bằng những thuật ngữ bao quát tất cả, được thực hiện một cách kỳ diệu, được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người, một cách trọn vẹn và viên mãn. Rồi vị Đạo Sư của chúng ta qua đời.’ Này Cunda, một vị Đạo Sư như vậy, khi qua đời, không làm cho các đệ tử phải hối tiếc.”
Bài Thuyết Giảng Về Sự Không Viên Mãn Của Phạm Hạnh, v.v...
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, no ca kho satthā hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Now suppose, Cunda, that a spiritual path possesses those factors. But the teacher is not senior, long standing, long gone forth, advanced in years, and reached the final stage of life. Then that spiritual path is incomplete in that respect.
172. “Này Cunda, dầu cho phạm hạnh có được trang bị đầy đủ các yếu tố này, nhưng vị Đạo Sư không phải là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi già. Như vậy, phạm hạnh ấy không được viên mãn về phương diện đó.”
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
But when a spiritual path possesses those factors and the teacher is senior, then that spiritual path is complete in that respect.
“Nhưng này Cunda, khi nào phạm hạnh được trang bị đầy đủ các yếu tố này, và vị Đạo Sư là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi già. Như vậy, phạm hạnh ấy được viên mãn về phương diện đó.”
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, no ca khvassa therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā. Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Now suppose that a spiritual path possesses those factors and the teacher is senior. But there are no senior monk disciples who are competent, educated, self-assured, have attained sanctuary from the yoke, who can rightly explain the true teaching, and who can legitimately and completely refute the doctrines of others that come up, and teach with a demonstrable basis. Then that spiritual path is incomplete in that respect.
173. “Này Cunda, dầu cho phạm hạnh có được trang bị đầy đủ các yếu tố này, và vị Đạo Sư là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi già, nhưng các vị tỳ khưu đệ tử trưởng lão của vị ấy không phải là những người thông thái, đã được huấn luyện, tự tin, đã đạt đến sự an ổn khỏi các ách縛. Họ không có khả năng tuyên thuyết Chánh Pháp, không có khả năng, sau khi đã khéo léo bác bỏ theo đúng chánh pháp tà thuyết của người khác đã khởi lên, thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu. Như vậy, phạm hạnh ấy không được viên mãn về phương diện đó.”
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā. Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
But when a spiritual path possesses those factors and the teacher is senior and there are competent senior monks, then that spiritual path is complete in that respect.
“Nhưng này Cunda, khi nào phạm hạnh được trang bị đầy đủ các yếu tố này, và vị Đạo Sư là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi già, và các vị tỳ khưu đệ tử trưởng lão của vị ấy là những người thông thái, đã được huấn luyện, tự tin, đã đạt đến sự an ổn khỏi các ách縛. Họ có khả năng tuyên thuyết Chánh Pháp, có khả năng, sau khi đã khéo léo bác bỏ theo đúng chánh pháp tà thuyết của người khác đã khởi lên, thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu. Như vậy, phạm hạnh ấy được viên mãn về phương diện đó.”
Etehi cepi, cunda, aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā. Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ. No ca khvassa majjhimā bhikkhū sāvakā honti …pe… majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa navā bhikkhū sāvakā honti …pe… navā cassa bhikkhū sāvakā honti, no ca khvassa therā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe… therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa majjhimā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe… majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa navā bhikkhuniyo sāvikā honti …pe… navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino …pe… upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā brahmacārino, no ca khvassa upāsakā sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino …pe… upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo …pe… upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo, no ca khvassa upāsikā sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo …pe… upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo, no ca khvassa brahmacariyaṁ hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ …pe… brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, no ca kho lābhaggayasaggappattaṁ. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ aparipūraṁ hoti tenaṅgena.
Now suppose that a spiritual path possesses those factors and the teacher is senior and there are competent senior monks. But there are no competent middle monks, junior monks, senior nuns, middle nuns, junior nuns, chaste white-clothed laymen, white-clothed laymen enjoying sensual pleasures, chaste white-clothed laywomen, white-clothed laywomen enjoying sensual pleasures. … There are white-clothed laywomen enjoying sensual pleasures, but the spiritual path is not successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans … the spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans, but it has not reached the peak of material things and fame. Then that spiritual path is incomplete in that respect.
174. “Này Cunda, dầu cho phạm hạnh có được trang bị đầy đủ các yếu tố này, và vị Đạo Sư là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm lâu năm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi già, và các vị tỳ khưu đệ tử trưởng lão của vị ấy là những người thông thái, đã được huấn luyện, tự tin, đã đạt đến sự an ổn khỏi các ách縛, có khả năng tuyên thuyết Chánh Pháp, có khả năng, sau khi đã khéo léo bác bỏ theo đúng chánh pháp tà thuyết của người khác đã khởi lên, thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu. Nhưng các vị tỳ khưu đệ tử trung臘 của vị ấy không phải là... (v.v.)... và các vị tỳ khưu đệ tử trung臘 của vị ấy là..., nhưng các vị tỳ khưu đệ tử mới của vị ấy không phải là... (v.v.)... và các vị tỳ khưu đệ tử mới của vị ấy là..., nhưng các vị tỳ khưu ni đệ tử trưởng lão của vị ấy không phải là... (v.v.)... và các vị tỳ khưu ni đệ tử trưởng lão của vị ấy là..., nhưng các vị tỳ khưu ni đệ tử trung臘 của vị ấy không phải là... (v.v.)... và các vị tỳ khưu ni đệ tử trung臘 của vị ấy là..., nhưng các vị tỳ khưu ni đệ tử mới của vị ấy không phải là... (v.v.)... và các vị tỳ khưu ni đệ tử mới của vị ấy là..., nhưng các vị nam cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, không phải là... (v.v.)... và các vị nam cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, là..., nhưng các vị nam cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, không phải là... (v.v.)... và các vị nam cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, là..., nhưng các vị nữ cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, không phải là... (v.v.)... và các vị nữ cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, sống đời phạm hạnh, là..., nhưng các vị nữ cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, không phải là... (v.v.)... và các vị nữ cư sĩ đệ tử, là người tại gia mặc áo trắng, hưởng thụ các dục lạc, là..., nhưng phạm hạnh của vị ấy không được thịnh vượng, phát đạt, quảng bá, được nhiều người biết đến, phổ biến rộng rãi, được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người... (v.v.)... và phạm hạnh của vị ấy được thịnh vượng, phát đạt, quảng bá, được nhiều người biết đến, phổ biến rộng rãi, được tuyên bố rộng rãi cho đến chư thiên và loài người, nhưng chưa đạt đến đỉnh cao của lợi lộc và danh tiếng. Như vậy, phạm hạnh ấy không được viên mãn về phương diện đó.”
Yato ca kho, cunda, etehi ceva aṅgehi samannāgataṁ brahmacariyaṁ hoti, satthā ca hoti thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto, therā cassa bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā. Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ. Majjhimā cassa bhikkhū sāvakā honti … navā cassa bhikkhū sāvakā honti … therā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti … majjhimā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti … navā cassa bhikkhuniyo sāvikā honti … upāsakā cassa sāvakā honti … gihī odātavasanā brahmacārino. Upāsakā cassa sāvakā honti gihī odātavasanā kāmabhogino … upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo … upāsikā cassa sāvikā honti gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo … brahmacariyañcassa hoti iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ, lābhaggappattañca yasaggappattañca. Evaṁ taṁ brahmacariyaṁ paripūraṁ hoti tenaṅgena.
But when a spiritual path possesses those factors and the teacher is senior and there are competent senior monks, middle monks, junior monks, senior nuns, middle nuns, junior nuns, chaste laymen, laymen enjoying sensual pleasures, chaste laywomen, laywomen enjoying sensual pleasures, and the spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans, and it has reached the peak of material things and fame, then that spiritual path is complete in that respect.
“Này Cunda, khi nào phạm hạnh được hội đủ các chi phần này, và vị đạo sư là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi trưởng thành; và các vị đệ tử tỳ khưu trưởng lão của vị ấy là những người thông thạo, khéo được huấn luyện, can đảm, đã đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, có khả năng tuyên thuyết chánh pháp, có khả năng thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu sau khi đã khéo léo bác bỏ một cách hợp lý các tà thuyết đã khởi lên. Và các vị đệ tử tỳ khưu trung niên của vị ấy... và các vị đệ tử tỳ khưu tân học của vị ấy... và các vị đệ tử tỳ khưu ni trưởng lão của vị ấy... và các vị đệ tử tỳ khưu ni trung niên của vị ấy... và các vị đệ tử tỳ khưu ni tân học của vị ấy... và các vị đệ tử nam cư sĩ của vị ấy... là những người tại gia mặc y trắng, sống đời phạm hạnh. Và các vị đệ tử nam cư sĩ của vị ấy là những người tại gia mặc y trắng, hưởng thụ các dục lạc... và các vị đệ tử nữ cư sĩ của vị ấy là những người tại gia mặc y trắng, sống đời phạm hạnh... và các vị đệ tử nữ cư sĩ của vị ấy là những người tại gia mặc y trắng, hưởng thụ các dục lạc... và phạm hạnh của vị ấy trở nên thịnh vượng, phát đạt, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, được khéo tuyên bố cho đến cõi trời và cõi người, và đạt đến đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc. Như vậy, phạm hạnh ấy được viên mãn về phương diện đó.”
Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho. Dhammo ca svākkhāto suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito. Viññāpitatthā ca me sāvakā saddhamme, kevalañca tesaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ āvikataṁ uttānīkataṁ sabbasaṅgāhapadakataṁ sappāṭihīrakataṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Ahaṁ kho pana, cunda, etarahi satthā thero rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto.
I, Cunda, am a teacher who has arisen in the world today, perfected and fully awakened. The teaching is well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is fully awakened. My disciples have been educated in the meaning of that good teaching. And the spiritual practice that’s entirely full and pure has been disclosed and divulged to them with all its collected sayings, with its demonstrable basis, fully revealed among gods and humans. I am a teacher today who is senior, long standing, long gone forth, advanced in years, and have reached the final stage of life.
175. “Này Cunda, hiện nay Ta là bậc Đạo Sư đã xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng, khéo trình bày, có khả năng hướng thượng, đưa đến an tịnh, do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Và các đệ tử của Ta đã được làm cho hiểu rõ ý nghĩa trong chánh pháp, và toàn bộ phạm hạnh viên mãn đã được làm cho hiển lộ, làm cho rõ ràng, được trình bày với các thuật ngữ bao quát, được trình bày với khả năng đối trị, được khéo tuyên bố cho đến cõi trời và cõi người. Này Cunda, hiện nay Ta là bậc Đạo Sư, là bậc trưởng lão, có kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi trưởng thành.”
Santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhū sāvakā honti viyattā vinītā visāradā pattayogakkhemā. Alaṁ samakkhātuṁ saddhammassa, alaṁ uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammehi suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desetuṁ. Santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhū sāvakā … santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhū sāvakā … santi kho pana me, cunda, etarahi therā bhikkhuniyo sāvikā … santi kho pana me, cunda, etarahi majjhimā bhikkhuniyo sāvikā … santi kho pana me, cunda, etarahi navā bhikkhuniyo sāvikā … santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā brahmacārino … santi kho pana me, cunda, etarahi upāsakā sāvakā gihī odātavasanā kāmabhogino … santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā brahmacāriniyo … santi kho pana me, cunda, etarahi upāsikā sāvikā gihiniyo odātavasanā kāmabhoginiyo … etarahi kho pana me, cunda, brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
I have today disciples who are competent senior monks, middle monks, junior monks, senior nuns, middle nuns, junior nuns, chaste laymen, laymen enjoying sensual pleasures, chaste laywomen, and laywomen enjoying sensual pleasures. Today my spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.
“Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu trưởng lão của Ta là những người thông thạo, khéo được huấn luyện, can đảm, đã đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, có khả năng tuyên thuyết chánh pháp, có khả năng thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu sau khi đã khéo léo bác bỏ một cách hợp lý các tà thuyết đã khởi lên. Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu trung niên của Ta... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu tân học của Ta... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu ni trưởng lão của Ta... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu ni trung niên của Ta... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử tỳ khưu ni tân học của Ta... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta là những người tại gia mặc y trắng, sống đời phạm hạnh... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta là những người tại gia mặc y trắng, hưởng thụ các dục lạc... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta là những người tại gia mặc y trắng, sống đời phạm hạnh... Này Cunda, hiện nay có các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta là những người tại gia mặc y trắng, hưởng thụ các dục lạc... Này Cunda, hiện nay phạm hạnh của Ta trở nên thịnh vượng, phát đạt, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, được khéo tuyên bố cho đến cõi trời và cõi người.”
Yāvatā kho, cunda, etarahi satthāro loke uppannā, nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasatthārampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāhaṁ. Yāvatā kho pana, cunda, etarahi saṅgho vā gaṇo vā loke uppanno; nāhaṁ, cunda, aññaṁ ekasaṅghampi samanupassāmi evaṁlābhaggayasaggappattaṁ yatharivāyaṁ, cunda, bhikkhusaṅgho. Yaṁ kho taṁ, cunda, sammā vadamāno vadeyya: ‘sabbākārasampannaṁ sabbākāraparipūraṁ anūnamanadhikaṁ svākkhātaṁ kevalaṁ paripūraṁ brahmacariyaṁ suppakāsitan’ti. Idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya: ‘sabbākārasampannaṁ …pe… suppakāsitan’ti.
Udako sudaṁ, cunda, rāmaputto evaṁ vācaṁ bhāsati: ‘passaṁ na passatī’ti. Kiñca passaṁ na passatīti? Khurassa sādhunisitassa talamassa passati, dhārañca khvassa na passati. Idaṁ vuccati: ‘passaṁ na passatī’ti. Yaṁ kho panetaṁ, cunda, udakena rāmaputtena bhāsitaṁ hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ khurameva sandhāya.
Of all the teachers in the world today, Cunda, I don’t see even a single one who has reached the peak of material things and fame like me. Of all the spiritual communities and groups in the world today, Cunda, I don’t see even a single one who has reached the pinnacle of material things and fame like the mendicant Saṅgha. And if there’s any spiritual path of which it may be rightly said that it’s endowed with all good qualities, complete in all good qualities, neither too little nor too much, well explained, whole, complete, and fully revealed, it’s of this spiritual path that this should be said.
Uddaka son of Rāma used to say: ‘Seeing, one does not see.’ But seeing what does one not see? You can see the blade of a well-sharpened razor, but not the edge. Thus it is said: ‘Seeing, one does not see.’ But that saying of Uddaka’s is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless, as it’s only about a razor.
176. “Này Cunda, hiện nay có bao nhiêu vị đạo sư đã xuất hiện ở đời, Ta không thấy một vị đạo sư nào khác, này Cunda, đã đạt đến đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc như Ta. Này Cunda, hiện nay có bao nhiêu Tăng chúng hay giáo phái đã xuất hiện ở đời, Ta không thấy một Tăng chúng nào khác, này Cunda, đã đạt đến đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc như Tăng chúng tỳ khưu này. Này Cunda, nếu có người muốn nói một cách chân chánh rằng: ‘Một phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ về mọi phương diện, hoàn toàn viên mãn về mọi phương diện, không thiếu không thừa, được khéo thuyết giảng, hoàn toàn trọn vẹn, được khéo tuyên bố,’ thì người ấy, khi nói một cách chân chánh, chính là nói về phạm hạnh này: ‘Hoàn toàn đầy đủ về mọi phương diện... được khéo tuyên bố.’”
Này Cunda, Udaka con trai của Rāma đã nói lời này: ‘Thấy mà không thấy’. Thấy cái gì mà không thấy? Người ấy thấy bề mặt của lưỡi dao cạo được mài sắc bén, nhưng lại không thấy được phần lưỡi bén của nó. Điều này được gọi là: ‘Thấy mà không thấy’. Này Cunda, lời nói này của Udaka con trai của Rāma là thấp kém, thô tục, của kẻ phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên quan đến lợi ích, chỉ nhắm đến lưỡi dao cạo mà thôi. Và này Cunda, nếu có người nói một cách đúng đắn câu: ‘Thấy mà không thấy’, thì chính là nói về điều này một cách đúng đắn: ‘Thấy mà không thấy’. Thấy cái gì mà không thấy? Người ấy thấy rằng: ‘Phạm hạnh này được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, đầy đủ mọi phương diện, trọn vẹn mọi phương diện, không thiếu không thừa, hoàn toàn viên mãn’. Người ấy thấy như vậy. Nhưng người ấy không thấy rằng: ‘Nên loại bỏ điều này ở đây, như vậy nó sẽ thanh tịnh hơn’. Người ấy không thấy như vậy. Người ấy không thấy rằng: ‘Nên thêm vào điều này ở đây, như vậy nó sẽ viên mãn hơn’. Người ấy không thấy như vậy. Này Cunda, điều này được gọi là: ‘Thấy mà không thấy’. Này Cunda, nếu có người nói một cách đúng đắn rằng: ‘Phạm hạnh được khéo trình bày, đầy đủ mọi phương diện...’, thì chính là nói về điều này một cách đúng đắn: ‘Phạm hạnh này được khéo thuyết giảng, được khéo trình bày, đầy đủ mọi phương diện, trọn vẹn mọi phương diện, không thiếu không thừa, hoàn toàn viên mãn’.
Pháp Cần Được Kết Tập
Tasmātiha, cunda, ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, tattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame ca te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā, yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ? Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Ime kho te, cunda, dhammā mayā abhiññā desitā. Yattha sabbeheva saṅgamma samāgamma atthena atthaṁ byañjanena byañjanaṁ saṅgāyitabbaṁ na vivaditabbaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
So, Cunda, you should all come together and recite in concert, without disputing, those things I have taught you from my direct knowledge, comparing meaning with meaning and phrasing with phrasing, so that this spiritual path may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. And what are those things I have taught from my direct knowledge? They are the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. These are the things I have taught from my own direct knowledge.
177. Này Cunda, vì vậy, đối với những pháp mà Ta đã thuyết giảng cho các ngươi sau khi đã chứng ngộ, tất cả các ngươi phải cùng nhau tụ họp, hòa hợp, đối chiếu nghĩa với nghĩa, văn với văn, rồi kết tập, không được tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, bền vững lâu dài; vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Và này Cunda, những pháp nào đã được Ta thuyết giảng cho các ngươi sau khi chứng ngộ, mà ở đó tất cả các ngươi phải cùng nhau tụ họp, hòa hợp, đối chiếu nghĩa với nghĩa, văn với văn, rồi kết tập, không được tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, bền vững lâu dài; vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người? Đó là: Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và Thánh đạo tám ngành. Này Cunda, đây là những pháp mà Ta đã thuyết giảng cho các ngươi sau khi chứng ngộ. Ở đó, tất cả các ngươi phải cùng nhau tụ họp, hòa hợp, đối chiếu nghĩa với nghĩa, văn với văn, rồi kết tập, không được tranh cãi, để cho phạm hạnh này được trường tồn, bền vững lâu dài; vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Phương Pháp Làm Cho Hiểu Rõ
Tesañca vo, cunda, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññataro sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya. Tatra ce tumhākaṁ evamassa: ‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva micchā gaṇhāti, byañjanāni ca micchā ropetī’ti. Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo: ‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarāni, imesañca byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti? So ce evaṁ vadeyya: ‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opāyikatarāni, yā ceva etāni; imesañca byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti. So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tassa ca atthassa tesañca byañjanānaṁ nisantiyā.
Suppose one of those spiritual companions who is training in harmony and mutual appreciation, without disputing, were to recite the teaching in the Saṅgha. Now, you might think, ‘This venerable misconstrues the meaning and mistakes the phrasing.’ You should neither approve nor reject them, but say, ‘Reverend, if this is the meaning, the phrasing may either be this or that: which is more fitting? And if this is the phrasing, the meaning may be either this or that: which is more fitting?’ Suppose they reply, ‘This phrasing fits the meaning better than that. And this meaning fits the phrasing better than that.’ Without flattering or rebuking them, you should carefully persuade them by examining that meaning and that phrasing.
178. Này Cunda, khi các ngươi đang tu học trong sự hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, nếu có một vị đồng phạm hạnh thuyết pháp trong Tăng chúng. Lúc ấy, nếu các ngươi nghĩ rằng: ‘Vị tôn giả này đã hiểu sai cả nghĩa lẫn văn’. Không nên tán thán, cũng không nên chỉ trích. Không tán thán, không chỉ trích, nên nói với vị ấy như sau: ‘Thưa hiền giả, đối với nghĩa này, những văn cú này hay những văn cú kia, văn cú nào thích hợp hơn? Và đối với những văn cú này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?’. Nếu vị ấy trả lời: ‘Thưa hiền giả, đối với nghĩa này, chính những văn cú này là thích hợp hơn cả; và đối với những văn cú này, chính nghĩa này là thích hợp hơn cả’. Không nên đề cao, cũng không nên hạ thấp vị ấy. Không đề cao, không hạ thấp, chính vị ấy cần được làm cho hiểu rõ một cách cẩn thận về nghĩa ấy và những văn cú ấy để thẩm xét.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya. Tatra ce tumhākaṁ evamassa: ‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho micchā gaṇhāti byañjanāni sammā ropetī’ti. Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo: ‘imesaṁ nu kho, āvuso, byañjanānaṁ ayaṁ vā attho eso vā attho katamo opāyikataro’ti? So ce evaṁ vadeyya: ‘imesaṁ kho, āvuso, byañjanānaṁ ayameva attho opāyikataro, yā ceva eso’ti. So neva ussādetabbo na apasādetabbo, anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tasseva atthassa nisantiyā.
Suppose another spiritual companion were to recite the teaching in the Saṅgha. Now, you might think, ‘This venerable misconstrues the meaning but gets the phrasing right.’ You should neither approve nor reject them, but say, ‘Reverend, if this is the phrasing, the meaning may be either this or that: which is more fitting?’ Suppose they reply, ‘This meaning fits the phrasing better than that.’ Without flattering or rebuking, you should carefully persuade them by examining that meaning.
179. Lại nữa, này Cunda, nếu có một vị đồng phạm hạnh khác thuyết pháp trong Tăng chúng. Lúc ấy, nếu các ngươi nghĩ rằng: ‘Vị tôn giả này đã hiểu sai nghĩa, nhưng trình bày đúng văn cú’. Không nên tán thán, cũng không nên chỉ trích. Không tán thán, không chỉ trích, nên nói với vị ấy như sau: ‘Thưa hiền giả, đối với những văn cú này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?’. Nếu vị ấy trả lời: ‘Thưa hiền giả, đối với những văn cú này, chính nghĩa này là thích hợp hơn cả’. Không nên đề cao, cũng không nên hạ thấp vị ấy. Không đề cao, không hạ thấp, chính vị ấy cần được làm cho hiểu rõ một cách cẩn thận về chính nghĩa ấy để thẩm xét.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya. Tatra ce tumhākaṁ evamassa: ‘ayaṁ kho āyasmā atthañhi kho sammā gaṇhāti byañjanāni micchā ropetī’ti. Tassa neva abhinanditabbaṁ na paṭikkositabbaṁ; anabhinanditvā appaṭikkositvā so evamassa vacanīyo: ‘imassa nu kho, āvuso, atthassa imāni vā byañjanāni etāni vā byañjanāni katamāni opāyikatarānī’ti? So ce evaṁ vadeyya: ‘imassa kho, āvuso, atthassa imāneva byañjanāni opayikatarāni, yā ceva etānī’ti. So neva ussādetabbo na apasādetabbo; anussādetvā anapasādetvā sveva sādhukaṁ saññāpetabbo tesaññeva byañjanānaṁ nisantiyā.
Suppose another spiritual companion were to recite the teaching in the Saṅgha. Now, you might think, ‘This venerable construes the meaning correctly but mistakes the phrasing.’ You should neither approve nor reject them, but say, ‘Reverend, if this is the meaning, the phrasing may be either this or that: which is more fitting?’ Suppose they reply, ‘This phrasing fits the meaning better than that.’ Without flattering or rebuking, you should carefully persuade them by examining that phrasing.
180. Này Cunda, lại nữa, nếu có vị đồng phạm hạnh thuyết pháp ở trong Tăng chúng. Khi ấy, các ngươi có thể khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vị tôn giả này quả thật đã nắm bắt ý nghĩa một cách đúng đắn, nhưng lại sắp đặt văn cú một cách sai lầm.’ Lời nói của vị ấy không nên tán thưởng, cũng không nên bác bỏ; không tán thưởng, không bác bỏ, vị ấy nên được nói như sau: ‘Này hiền hữu, đối với ý nghĩa này, những văn cú này hay những văn cú kia, văn cú nào thích hợp hơn?’ Nếu vị ấy trả lời rằng: ‘Này hiền hữu, đối với ý nghĩa này, chính những văn cú này là thích hợp hơn, tức là những văn cú này.’ Vị ấy không nên được tán dương, cũng không nên bị chê bai; không tán dương, không chê bai, chính vị ấy nên được làm cho hiểu rõ một cách tốt đẹp để thẩm xét chính những văn cú ấy.
Aparopi ce, cunda, sabrahmacārī saṅghe dhammaṁ bhāseyya. Tatra ce tumhākaṁ evamassa: ‘ayaṁ kho āyasmā atthañceva sammā gaṇhāti byañjanāni ca sammā ropetī’ti. Tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditabbaṁ anumoditabbaṁ; tassa ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā so evamassa vacanīyo: ‘lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ passāma evaṁ atthupetaṁ byañjanupetan’ti.
Suppose another spiritual companion were to recite the teaching in the Saṅgha. Now, you might think, ‘This venerable construes the meaning correctly and gets the phrasing right.’ Saying ‘Good!’ you should express approval and appreciation of that mendicant’s statement, and then say to them, ‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself, so well-versed in the meaning and the phrasing, as one of our spiritual companions!’
181. Này Cunda, lại nữa, nếu có vị đồng phạm hạnh thuyết pháp ở trong Tăng chúng. Khi ấy, các ngươi có thể khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vị tôn giả này quả thật đã nắm bắt ý nghĩa một cách đúng đắn, và cũng sắp đặt văn cú một cách đúng đắn.’ Lời nói của vị ấy nên được tán thưởng, hoan hỷ với lời ‘Lành thay!’. Sau khi đã tán thưởng, hoan hỷ với lời ‘Lành thay!’, vị ấy nên được nói như sau: ‘Thật là lợi ích cho chúng ta, thưa hiền hữu! Thật là khéo được cho chúng ta, thưa hiền hữu! Khi chúng ta được thấy một vị đồng phạm hạnh như vậy, một vị đầy đủ cả ý nghĩa lẫn văn cú.’”
Lý Do Cho Phép Các Vật Dụng
Na vo ahaṁ, cunda, diṭṭhadhammikānaṁyeva āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi. Na panāhaṁ, cunda, samparāyikānaṁyeva āsavānaṁ paṭighātāya dhammaṁ desemi. Diṭṭhadhammikānaṁ cevāhaṁ, cunda, āsavānaṁ saṁvarāya dhammaṁ desemi; samparāyikānañca āsavānaṁ paṭighātāya.
Tasmātiha, cunda, yaṁ vo mayā cīvaraṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnapaṭicchādanatthaṁ. Yo vo mayā piṇḍapāto anuññāto, alaṁ vo so yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca. Yaṁ vo mayā senāsanaṁ anuññātaṁ, alaṁ vo taṁ yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṁ. Yo vo mayā gilānapaccayabhesajjaparikkhāro anuññāto, alaṁ vo so yāvadeva uppannānaṁ veyyābādhikānaṁ vedanānaṁ paṭighātāya abyāpajjaparamatāya.
Cunda, I do not teach you solely for restraining defilements that affect this life. Nor do I teach solely for protecting against defilements that affect lives to come. I teach both for restraining defilements that affect this life and protecting against defilements that affect lives to come.
And that’s why I have allowed robes for you that suffice only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; and for covering up the private parts. I have allowed almsfood for you that suffices only to sustain this body, avoid harm, and support spiritual practice; so that you will put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and will keep on living blamelessly and at ease. I have allowed lodgings for you that suffice only for the sake of warding off cold and heat; for warding off the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; to shelter from harsh weather and to enjoy retreat. I have allowed medicines and supplies for the sick for you that suffice only for the sake of warding off the pains of illness and to promote good health.
182. Này Cunda, Ta không chỉ thuyết pháp cho các ngươi để ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại. Này Cunda, Ta cũng không chỉ thuyết pháp cho các ngươi để trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai. Này Cunda, Ta thuyết pháp cho các ngươi để ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại và để trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai. Vì vậy, này Cunda, ở đây, y phục nào đã được Ta cho phép dùng, y phục ấy là đủ cho các ngươi – chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát, và chỉ để che đậy sự hổ thẹn. Vật thực khất thực nào đã được Ta cho phép dùng, vật thực ấy là đủ cho các ngươi – chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não (do đói), để hỗ trợ cho phạm hạnh, với ý nghĩ rằng: ‘Như vậy, ta sẽ diệt trừ cảm thọ cũ (đói) và không làm phát sinh cảm thọ mới (no quá). Ta sẽ được sống điều độ, không bị chê trách, và được an ổn.’ Chỗ ở nào đã được Ta cho phép dùng, chỗ ở ấy là đủ cho các ngươi – chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát, và chỉ để loại trừ sự nguy hiểm của thời tiết và để an hưởng sự độc cư. Dược phẩm trị bệnh nào đã được Ta cho phép dùng, dược phẩm ấy là đủ cho các ngươi – chỉ để trừ diệt các cảm thọ đau đớn về thân đã phát sinh, và với mục đích tối hậu là không còn bệnh tật.
183. Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Các Sa-môn Thích tử sống chuyên tâm vào lạc thọ.’ Này Cunda, những du sĩ ngoại đạo nói như vậy nên được trả lời như sau: ‘Thưa các hiền hữu, sự chuyên tâm vào lạc thọ ấy là gì? Vì rằng có nhiều, đa dạng, và nhiều loại khác nhau về sự chuyên tâm vào lạc thọ.’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
It’s possible that wanderers of other religions might say,
Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Các Sa-môn Thích tử sống chuyên tâm vào bốn sự thực hành lạc thọ này.’ Các ngươi nên nói với họ rằng: ‘Xin đừng nói như vậy.’ Khi nói thế, họ đã không nói đúng về các ngươi, mà họ đã vu khống các ngươi bằng điều không thật, không đúng sự thật.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti. Katame cattāro?
Idha, cunda, ekacco bālo pāṇe vadhitvā vadhitvā attānaṁ sukheti pīṇeti. Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco adinnaṁ ādiyitvā ādiyitvā attānaṁ sukheti pīṇeti.
These four kinds of indulgence in pleasure, Cunda, are low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. What four?
It’s when some fool makes themselves happy and pleased by killing living creatures. This is the first kind of indulgence in pleasure.
Furthermore, someone makes themselves happy and pleased by theft.
Này Cunda, bốn sự chuyên tâm vào lạc thọ này là hạ liệt, thô tục, phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco musā bhaṇitvā bhaṇitvā attānaṁ sukheti pīṇeti. Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, idhekacco pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti. Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Furthermore, someone makes themselves happy and pleased by lying. This is the third kind of indulgence in pleasure.
Furthermore, someone amuses themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. This is the fourth kind of indulgence in pleasure.
These are the four kinds of indulgence in pleasure that are low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. They don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
Lại nữa, này Cunda, vị Tỳ-khưu, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ... chứng và trú Thiền thứ hai... Đây là sự chuyên tâm vào lạc thọ thứ hai.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti. Te vo ‘mā hevaṁ’ tissu vacanīyā. Na te vo sammā vadamānā vadeyyuṁ, abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
Cattārome, cunda, sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti. Katame cattāro?
Idha, cunda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ paṭhamo sukhallikānuyogo.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ dutiyo sukhallikānuyogo.
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘The ascetics who follow the Sakyan live indulging in pleasure in these four ways.’ They should be told, ‘Not so!’ It isn’t right to say that about you; it misrepresents you with an untruth.
Cunda, these four kinds of indulgence in pleasure lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. What four?
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is the first kind of indulgence in pleasure.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is the second kind of indulgence in pleasure.
Này Cunda, bốn sự thực hành hưởng thụ lạc này chắc chắn đưa đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ tatiyo sukhallikānuyogo.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption. They meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ This is the third kind of indulgence in pleasure.
Này Cunda, lại nữa, vị tỳ khưu do ly hỷ... chứng và trú thiền thứ ba. Đây là sự thực hành hưởng thụ lạc thứ ba.
Puna caparaṁ, cunda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ catuttho sukhallikānuyogo.
Ime kho, cunda, cattāro sukhallikānuyogā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption. It is without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is the fourth kind of indulgence in pleasure.
These are the four kinds of indulgence in pleasure which lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
Này Cunda, lại nữa, vị tỳ khưu do xả lạc và xả khổ... chứng và trú thiền thứ tư. Đây là sự thực hành hưởng thụ lạc thứ tư.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘ime cattāro sukhallikānuyoge anuyuttā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti. Te vo ‘evaṁ’ tissu vacanīyā. Sammā te vo vadamānā vadeyyuṁ, na te vo abbhācikkheyyuṁ asatā abhūtena.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘The ascetics who follow the Sakyan live indulging in pleasure in these four ways.’ They should be told, ‘Exactly so!’ It’s right to say that about you; it doesn’t misrepresent you with an untruth.
It’s possible that wanderers of other religions might say,
Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Các sa-môn Thích tử sống thực hành bốn sự hưởng thụ lạc này.’ Các vị ấy nên được các ngươi trả lời rằng: ‘Đúng vậy.’ Khi nói như vậy về các ngươi, họ đã nói đúng sự thật, họ đã không vu khống các ngươi với điều không có, không thật.
Idhāvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo. Idaṁ paṭhamaṁ phalaṁ, paṭhamo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti. Idaṁ dutiyaṁ phalaṁ, dutiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Idaṁ tatiyaṁ phalaṁ, tatiyo ānisaṁso.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Idaṁ catutthaṁ phalaṁ catuttho ānisaṁso.
Ime kho, āvuso, cattāro sukhallikānuyoge anuyuttānaṁ viharataṁ imāni cattāri phalāni, cattāro ānisaṁsā pāṭikaṅkhā’ti.
Firstly, with the ending of three fetters a mendicant becomes a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. This is the first fruit and benefit.
Furthermore, a mendicant—with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion—becomes a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This is the second fruit and benefit.
Furthermore, with the ending of the five lower fetters, a mendicant is reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world. This is the third fruit and benefit.
Furthermore, a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is the fourth fruit and benefit.
These four benefits may be expected by those who live indulging in pleasure in these four ways.’
185. Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này các hiền giả, đối với những người sống thực hành bốn sự hưởng thụ lạc này, có thể trông đợi bao nhiêu quả, bao nhiêu phước báu?’ Này Cunda, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên được trả lời như sau: ‘Này các hiền giả, đối với những người sống thực hành bốn sự hưởng thụ lạc này, có thể trông đợi bốn quả, bốn phước báu. Bốn là những gì? Này các hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu do đoạn trừ ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Đây là quả thứ nhất, phước báu thứ nhất. Lại nữa, này các hiền giả, vị tỳ khưu do đoạn trừ ba kiết sử, và do làm muội lược tham, sân, si, trở thành bậc Nhất lai, chỉ một lần nữa trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau. Đây là quả thứ hai, phước báu thứ hai. Lại nữa, này các hiền giả, vị tỳ khưu do đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, trở thành bậc hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy. Đây là quả thứ ba, phước báu thứ ba. Lại nữa, này các hiền giả, vị tỳ khưu do đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là quả thứ tư, phước báu thứ tư. Này các hiền giả, đối với những người sống thực hành bốn sự hưởng thụ lạc này, có thể trông đợi bốn quả, bốn phước báu này.’
Những Điều Không Thể Đối Với Bậc Lậu Tận
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘aṭṭhitadhammā samaṇā sakyaputtiyā viharantī’ti. Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘atthi kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā. Seyyathāpi, āvuso, indakhīlo vā ayokhīlo vā gambhīranemo sunikhāto acalo asampavedhī; evameva kho, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sāvakānaṁ dhammā desitā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā.
Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so nava ṭhānāni ajjhācarituṁ. Abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu chandāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu dosāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu mohāgatiṁ gantuṁ; abhabbo khīṇāsavo bhikkhu bhayāgatiṁ gantuṁ. Yo so, āvuso, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni nava ṭhānāni ajjhācaritun’ti.
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘The ascetics who follow the Sakyan are fickle.’ You should say to them, ‘Reverends, these things have been taught and pointed out for his disciples by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha, not to be transgressed so long as life lasts. Suppose there was an Indra’s pillar or an iron pillar with deep foundations, firmly embedded, imperturbable and unshakable. In the same way, these things have been taught and pointed out for his disciples by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha, not to be transgressed so long as life lasts.
A mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—can’t transgress in nine respects. A mendicant with defilements ended can’t deliberately take the life of a living creature, take something with the intention to steal, have sex, tell a deliberate lie, or store up goods for their own enjoyment like they used to as a layperson. And they can’t make decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, or cowardice. A mendicant who is perfected can’t transgress in these nine respects.’
186. Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Các sa-môn Thích tử sống với pháp không kiên định.’ Này Cunda, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên được trả lời như sau: ‘Này hiền giả, có những pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuyết giảng và chế định cho các đệ tử, mà các vị ấy không thể vi phạm cho đến trọn đời. Này hiền giả, ví như cột trụ bằng đá hay bằng sắt, được chôn sâu, dựng vững, không lay động, không rung chuyển. Cũng vậy, này hiền giả, có những pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuyết giảng và chế định cho các đệ tử, mà các vị ấy không thể vi phạm cho đến trọn đời. Này hiền giả, vị tỳ khưu nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm chín điều. Này hiền giả, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể cố ý cướp đi mạng sống của chúng sanh; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể lấy của không cho, được xem là trộm cắp; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể hành dâm; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể cố ý nói dối; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể hưởng thụ các dục lạc đã được tích trữ như khi còn là người tại gia; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể đi vào con đường sai lạc do tham muốn; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể đi vào con đường sai lạc do sân hận; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể đi vào con đường sai lạc do si mê; vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc không thể đi vào con đường sai lạc do sợ hãi. Này hiền giả, vị tỳ khưu nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm chín điều này.’
Trả Lời Các Câu Hỏi
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘atītaṁ kho addhānaṁ ārabbha samaṇo gotamo atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, no ca kho anāgataṁ addhānaṁ ārabbha atīrakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapeti, tayidaṁ kiṁsu tayidaṁ kathaṁsū’ti? Te ca aññatitthiyā paribbājakā aññavihitakena ñāṇadassanena aññavihitakaṁ ñāṇadassanaṁ paññapetabbaṁ maññanti yathariva bālā abyattā.
Atītaṁ kho, cunda, addhānaṁ ārabbha tathāgatassa satānusāriñāṇaṁ hoti; so yāvatakaṁ ākaṅkhati tāvatakaṁ anussarati.
Anāgatañca kho addhānaṁ ārabbha tathāgatassa bodhijaṁ ñāṇaṁ uppajjati: ‘ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
Atītañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti. Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti. Atītañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya. Anāgatañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti …pe… tassa pañhassa veyyākaraṇāya. Paccuppannañcepi, cunda, hoti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, na taṁ tathāgato byākaroti. Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ, tampi tathāgato na byākaroti. Paccuppannañcepi, cunda, hoti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ, tatra kālaññū tathāgato hoti tassa pañhassa veyyākaraṇāya.
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘The ascetic Gotama demonstrates boundless knowledge and vision of the past, but not of the future. What’s up with that?’ Those wanderers, like incompetent fools, seem to imagine that one kind of knowledge and vision can be demonstrated by means of another kind of knowledge and vision.
Regarding the past, the Realized One has knowledge stemming from memory. He recollects as far as he wants.
Regarding the future, the Realized One has the knowledge born of awakening: ‘This is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’
If a question about the past is untrue, false, and pointless, the Realized One does not reply. If a question about the past is true and correct, but pointless, he does not reply. If a question about the past is true, correct, and beneficial, he knows the right time to reply. And the Realized One replies to questions about the future or the present in the same way.
187. “Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Sa-môn Gotama tuyên bố tri kiến vô hạn liên quan đến thời quá khứ, nhưng lại không tuyên bố tri kiến vô hạn liên quan đến thời vị lai. Việc ấy là thế nào? Việc ấy là tại sao?’ Và các du sĩ ngoại đạo ấy, với tri kiến về một đối tượng khác, lại cho rằng tri kiến về một đối tượng khác nên được tuyên bố, giống như những kẻ ngu si, không thông thạo. Này Cunda, liên quan đến thời quá khứ, Như Lai có trí tuệ đi theo chánh niệm; Ngài muốn nhớ lại bao nhiêu thì nhớ lại bấy nhiêu. Và liên quan đến thời vị lai, trí tuệ sanh khởi từ sự giác ngộ phát sanh nơi Như Lai rằng: ‘Đây là kiếp sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’ Này Cunda, nếu một điều trong quá khứ là không có thật, không chân thật, không liên hệ đến lợi ích, Như Lai không trả lời về điều đó. Này Cunda, nếu một điều trong quá khứ là có thật, chân thật, nhưng không liên hệ đến lợi ích, Như Lai cũng không trả lời về điều đó. Này Cunda, nếu một điều trong quá khứ là có thật, chân thật, và liên hệ đến lợi ích, trong trường hợp đó, Như Lai biết đúng thời để trả lời câu hỏi ấy. Này Cunda, nếu một điều trong vị lai là không có thật, không chân thật, không liên hệ đến lợi ích, Như Lai không trả lời về điều đó... (như trên)... để trả lời câu hỏi ấy. Này Cunda, nếu một điều trong hiện tại là không có thật, không chân thật, không liên hệ đến lợi ích, Như Lai không trả lời về điều đó. Này Cunda, nếu một điều trong hiện tại là có thật, chân thật, nhưng không liên hệ đến lợi ích, Như Lai cũng không trả lời về điều đó. Này Cunda, nếu một điều trong hiện tại là có thật, chân thật, và liên hệ đến lợi ích, trong trường hợp đó, Như Lai biết đúng thời để trả lời câu hỏi ấy.”
Iti kho, cunda, atītānāgatapaccuppannesu dhammesu tathāgato kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca kho, cunda, sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā, sabbaṁ tathāgatena abhisambuddhaṁ, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yañca, cunda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, yaṁ etasmiṁ antare bhāsati lapati niddisati. Sabbaṁ taṁ tatheva hoti no aññathā, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
Yathāvādī, cunda, tathāgato tathākārī, yathākārī tathāvādī. Iti yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati. Sadevake loke, cunda, samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya tathāgato abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī, tasmā ‘tathāgato’ti vuccati.
And so the Realized One has speech that’s well-timed, true, meaningful, in line with the teaching and training. That’s why he’s called the ‘Realized One’.
In this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—whatever is seen, heard, thought, known, attained, sought, and explored by the mind, all that has been understood by the Realized One. That’s why he’s called the ‘Realized One’.
From the night when the Realized One awakens to the supreme perfect awakening until the night he becomes fully extinguished—in the element of extinguishment with no residue—everything he speaks, says, and expresses is real, not otherwise. That’s why he’s called the ‘Realized One’.
The Realized One does as he says, and says as he does. Since this is so, that’s why he’s called the ‘Realized One’. In this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—the Realized One is the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power.
188. “Này Cunda, như vậy, đối với các pháp trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, Như Lai là người nói đúng thời, nói sự thật, nói điều lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; vì vậy, Ngài được gọi là ‘Như Lai’. Này Cunda, bất cứ những gì trong thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh cùng với các sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, đã được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét, tất cả những điều ấy đã được Như Lai chứng ngộ; vì vậy, Ngài được gọi là ‘Như Lai’. Này Cunda, vào đêm mà Như Lai chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và vào đêm mà Ngài nhập Vô Dư Y Niết-bàn, bất cứ điều gì Ngài nói, tuyên bố, chỉ dạy trong khoảng thời gian giữa đó, tất cả những điều ấy đều đúng như vậy, không khác đi; vì vậy, Ngài được gọi là ‘Như Lai’. Này Cunda, Như Lai nói như thế nào, làm như thế ấy; làm như thế nào, nói như thế ấy. Vì nói như thế nào, làm như thế ấy; làm như thế nào, nói như thế ấy, nên Ngài được gọi là ‘Như Lai’. Này Cunda, trong thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh cùng với các sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, Như Lai là bậc chinh phục, không bị ai chinh phục, là bậc thấy rõ thực chất, là bậc có quyền năng tự tại; vì vậy, Ngài được gọi là ‘Như Lai’.”
Những Vấn Đề Vô Ký
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kiṁ nu kho, āvuso, hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā: “hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘Is this your view: “A realized one still exists after death. This is the only truth, anything else is futile”?’ You should say to them, ‘Reverend, this has not been declared by the Buddha.’
The wanderers might say,
189. “Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này chư hiền, có phải chúng sanh tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích chăng?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Này chư hiền, Thế Tôn đã không giải thích rằng: “Chúng sanh tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích.”’”
“Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này chư hiền, có phải chúng sanh không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích chăng?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Này chư hiền, điều này cũng đã không được Thế Tôn giải thích rằng: “Chúng sanh không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích.”’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kiṁ panāvuso, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā: “hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
The wanderers might say, ‘Then is this your view: “A realized one both still exists and no longer exists after death. This is the only truth, anything else is futile”?’ You should say to them, ‘This too has not been declared by the Buddha.’
“Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này chư hiền, có phải chúng sanh vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích chăng?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Này chư hiền, điều này đã không được Thế Tôn giải thích rằng: “Chúng sanh vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích.”’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kiṁ panāvuso, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘etampi kho, āvuso, bhagavatā abyākataṁ: “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”’ti.
The wanderers might say, ‘Then is this your view: “A realized one neither still exists nor no longer exists after death. This is the only truth, anything else is futile”?’ You should say to them, ‘This too has not been declared by the Buddha.’
“Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này chư hiền, có phải chúng sanh không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích chăng?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Này chư hiền, điều này cũng đã không được Thế Tôn giải thích rằng: “Chúng sanh không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích.”’”
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena abyākatan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘na hetaṁ, āvuso, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ na ādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, tasmā taṁ bhagavatā abyākatan’ti.
The wanderers might say, ‘But why has this not been declared by the ascetic Gotama?’ You should say to them, ‘Because it’s not beneficial or relevant to the fundamentals of the spiritual life. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why it hasn’t been declared by the Buddha.’
Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tại sao điều này không được Sa-môn Gotama tuyên bố?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Thưa các hiền giả, điều này không liên quan đến lợi ích, không liên quan đến Pháp, không phải là nền tảng của phạm hạnh, không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn. Vì vậy, điều đó không được Thế Tôn tuyên bố.’
Vấn đề được tuyên bố
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kiṁ panāvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘idaṁ dukkhanti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhasamudayoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhoti kho, āvuso, bhagavatā byākataṁ, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, āvuso, bhagavatā byākatan’ti.
It’s possible that wanderers of other religions might say, ‘But what has been declared by the ascetic Gotama?’ You should say to them, ‘What has been declared by the Buddha is this: “This is suffering”—“This is the origin of suffering”—“This is the cessation of suffering”—“This is the practice that leads to the cessation of suffering.”’
190. Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, Sa-môn Gotama đã tuyên bố điều gì?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Thưa các hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố: ‘Đây là khổ’. Thưa các hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố: ‘Đây là nguyên nhân của khổ’. Thưa các hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố: ‘Đây là sự diệt khổ’. Thưa các hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’.’
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, cunda, vijjati, yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ: ‘kasmā panetaṁ, āvuso, samaṇena gotamena byākatan’ti? Evaṁvādino, cunda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā: ‘etañhi, āvuso, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Tasmā taṁ bhagavatā byākatan’ti.
The wanderers might say, ‘But why has this been declared by the ascetic Gotama?’ You should say to them, ‘Because it’s beneficial and relevant to the fundamentals of the spiritual life. It leads to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That’s why it has been declared by the Buddha.’
Này Cunda, có trường hợp này, các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Thưa các hiền giả, tại sao điều này được Sa-môn Gotama tuyên bố?’ Này Cunda, đối với các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, nên trả lời như sau: ‘Thưa các hiền giả, vì điều này liên quan đến lợi ích, liên quan đến Pháp, là nền tảng của phạm hạnh, đưa đến sự nhàm chán hoàn toàn, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn. Vì vậy, điều đó được Thế Tôn tuyên bố.’
Các tà kiến nương vào quá khứ
Yepi te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi? Yepi te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, tepi vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Katame ca te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi? Santi kho, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘asassato attā ca loko ca …pe… sassato ca asassato ca attā ca loko ca … neva sassato nāsassato attā ca loko ca … sayaṅkato attā ca loko ca … paraṅkato attā ca loko ca … sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca … asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. ‘Sassataṁ sukhadukkhaṁ … asassataṁ sukhadukkhaṁ … sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ … nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ … sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ … paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ … sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ … asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Cunda, I have explained to you as they should be explained the views that some rely on regarding the first beginning. Shall I explain them to you in the wrong way? I have explained to you as they should be explained the views that some rely on regarding the final end. Shall I explain them to you in the wrong way?
What are the views that some rely on regarding the first beginning? There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘The self and the cosmos are eternal. This is the only truth, anything else is futile.’ There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘The self and the cosmos are not eternal, or both eternal and not eternal, or neither eternal nor not eternal. The self and the cosmos are made by oneself, or made by another, or made by both oneself and another, or they have arisen anomalously, not made by oneself or another. Pleasure and pain are eternal, or not eternal, or both eternal and not eternal, or neither eternal nor not eternal. Pleasure and pain are made by oneself, or made by another, or made by both oneself and another, or they have arisen anomalously, not made by oneself or another. This is the only truth, anything else is futile.’
191. Này Cunda, những tà kiến nào liên quan đến quá khứ, những tà kiến ấy đã được Ta tuyên bố cho các ngươi, theo cách chúng nên được tuyên bố. Và theo cách chúng không nên được tuyên bố, tại sao Ta lại tuyên bố chúng cho các ngươi theo cách đó? Này Cunda, những tà kiến nào liên quan đến tương lai, những tà kiến ấy cũng đã được Ta tuyên bố cho các ngươi, theo cách chúng nên được tuyên bố. Và theo cách chúng không nên được tuyên bố, tại sao Ta lại tuyên bố chúng cho các ngươi theo cách đó? Và này Cunda, những tà kiến nào liên quan đến quá khứ đã được Ta tuyên bố cho các ngươi, theo cách chúng nên được tuyên bố? Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Ngã và thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’ Này Cunda, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Ngã và thế giới là vô thường… (v.v.)… ngã và thế giới vừa thường hằng vừa vô thường… ngã và thế giới không thường hằng cũng không vô thường… ngã và thế giới do tự mình làm… ngã và thế giới do người khác làm… ngã và thế giới vừa do tự mình làm vừa do người khác làm… ngã và thế giới không do tự mình làm, không do người khác làm, tự nhiên sinh, chỉ có điều này là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’ ‘Khổ và lạc là thường hằng… khổ và lạc là vô thường… khổ và lạc vừa thường hằng vừa vô thường… khổ và lạc không thường hằng cũng không vô thường… khổ và lạc do tự mình làm… khổ và lạc do người khác làm… khổ và lạc vừa do tự mình làm vừa do người khác làm… khổ và lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, tự nhiên sinh, chỉ có điều này là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati: “sassato attā ca loko cā”’ti? Yañca kho te evamāhaṁsu: ‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Taṁ tesaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā. Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo. Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Regarding this, I go up to the ascetics and brahmins whose view is that the self and the cosmos are eternal, and say, ‘Reverends, is this what you say, “The self and the cosmos are eternal”?’ But when they say, ‘Yes! This is the only truth, anything else is futile,’ I don’t grant that. Why is that? Because there are beings who have different opinions on this topic. I don’t see any such expositions that are equal to my own, still less superior. Rather, I am the one who is superior when it comes to the higher exposition.
192. Này Cunda, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Ngã và thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’ Ta đến gần họ và nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, có phải các vị nói rằng: ‘Ngã và thế giới là thường hằng’ chăng?’ Và điều mà họ nói: ‘Chỉ có điều này là chân thật, ngoài ra là hư vọng,’ Ta không chấp nhận điều đó của họ. Vì sao vậy? Này Cunda, vì ở đây có những chúng sinh có tưởng sai khác. Này Cunda, về sự chế định này, Ta không thấy ai bằng Ta, huống nữa là hơn. Trái lại, chính Ta là người vượt trội hơn về điều đó, tức là về sự hiểu biết tối thượng.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘asassato attā ca loko ca … sassato ca asassato ca attā ca loko ca … nevasassato nāsassato attā ca loko ca … sayaṅkato attā ca loko ca … paraṅkato attā ca loko ca … sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca … asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca … sassataṁ sukhadukkhaṁ … asassataṁ sukhadukkhaṁ … sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ … nevasassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ … sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ … paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ … sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ … asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati: “asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhan”’ti? Yañca kho te evamāhaṁsu: ‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Taṁ tesaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā. Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo. Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, pubbantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Regarding this, I go up to the ascetics and brahmins who assert all the other views as described above. And in each case, I don’t grant that. Why is that? Because there are beings who have different opinions on this topic. I don’t see any such expositions that are equal to my own, still less superior. Rather, I am the one who is superior when it comes to the higher exposition.
These are the views that some rely on regarding the first beginning.
193. “Này Cunda, trong số các Sa-môn, Bà-la-môn ấy, có những vị có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Tự ngã và thế giới là không thường hằng... ... tự ngã và thế giới vừa thường hằng vừa không thường hằng... tự ngã và thế giới không phải thường hằng cũng không phải không thường hằng... tự ngã và thế giới do tự mình làm ra... do người khác làm ra... vừa do tự mình vừa do người khác làm ra... không do tự mình cũng không do người khác làm ra, được khởi lên một cách ngẫu nhiên... khổ và lạc là thường hằng... không thường hằng... vừa thường hằng vừa không thường hằng... không phải thường hằng cũng không phải không thường hằng... khổ và lạc do tự mình làm ra... do người khác làm ra... vừa do tự mình vừa do người khác làm ra... khổ và lạc không do tự mình cũng không do người khác làm ra, được khởi lên một cách ngẫu nhiên; chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.’ Ta đến gần họ và nói như sau: ‘Thưa các hiền hữu, có phải các vị nói rằng: “khổ và lạc không do tự mình cũng không do người khác làm ra, được khởi lên một cách ngẫu nhiên” không?’ Và điều mà họ đã nói rằng: ‘Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm,’ Ta không chấp nhận điều đó của họ. Vì sao vậy? Này Cunda, vì ở đây có những chúng sanh có nhận thức khác. Này Cunda, đối với sự chế định này, Ta không thấy ai ngang bằng với Ta, huống nữa là hơn. Trái lại, chính Ta là bậc hơn hẳn ở đây, tức là về sự thấu triệt chế định. Này Cunda, đây là những kiến giải nương tựa liên quan đến quá khứ mà Ta đã giải thích cho các ngươi, theo cách chúng nên được giải thích. Còn theo cách chúng không nên được giải thích, tại sao Ta lại phải giải thích cho các ngươi theo cách đó?”
Các Kiến Giải Nương Tựa Liên Quan Đến Tương Lai
Katame ca te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi? Santi, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Santi pana, cunda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘arūpī attā hoti … rūpī ca arūpī ca attā hoti … nevarūpī nārūpī attā hoti … saññī attā hoti … asaññī attā hoti … nevasaññīnāsaññī attā hoti … attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati: “rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti? Yañca kho te evamāhaṁsu: ‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Taṁ tesaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā. Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi kuto bhiyyo. Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
What are the views that some rely on regarding the final end? There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘The self is healthy after death, and formed … or formless … or both formed and formless … or neither formed nor formless … or percipient … or non-percipient … or neither percipient nor non-percipient … or the self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death. This is the only truth, anything else is futile.’
Regarding this, I go up to the ascetics and brahmins whose view is that, ‘The self is formed and healthy after death,’ and say, ‘Reverends, is this what you say, “The self is formed and healthy after death”?’ But when they say, ‘Yes! This is the only truth, anything else is futile,’ I don’t grant that. Why is that? Because there are beings who have different opinions on this topic. I don’t see any such expositions that are equal to my own, still less superior. Rather, I am the one who is superior when it comes to the higher exposition.
194. “Này Cunda, những kiến giải nương tựa nào liên quan đến tương lai mà Ta đã giải thích cho các ngươi, theo cách chúng nên được giải thích? (Còn theo cách chúng không nên được giải thích, tại sao Ta lại phải giải thích cho các ngươi theo cách đó?) Này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Tự ngã có sắc, sau khi chết vẫn khỏe mạnh; chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.’ Lại nữa, này Cunda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Tự ngã không có sắc... tự ngã vừa có sắc vừa không có sắc... tự ngã không phải có sắc cũng không phải không có sắc... tự ngã có tưởng... tự ngã không có tưởng... tự ngã không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng... tự ngã bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.’ Này Cunda, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Tự ngã có sắc, sau khi chết vẫn khỏe mạnh; chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.’ Ta đến gần họ và nói như sau: ‘Thưa các hiền hữu, có phải các vị nói rằng: “Tự ngã có sắc, sau khi chết vẫn khỏe mạnh” không?’ Và điều mà họ đã nói rằng: ‘Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm,’ Ta không chấp nhận điều đó của họ. Vì sao vậy? Này Cunda, vì ở đây có những chúng sanh có nhận thức khác. Này Cunda, đối với sự chế định này, Ta không thấy ai ngang bằng với Ta, huống nữa là hơn. Trái lại, chính Ta là bậc hơn hẳn ở đây, tức là về sự thấu triệt chế định.
Tatra, cunda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘arūpī attā hoti … rūpī ca arūpī ca attā hoti … nevarūpīnārūpī attā hoti … saññī attā hoti … asaññī attā hoti … nevasaññīnāsaññī attā hoti … attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘atthi nu kho idaṁ, āvuso, vuccati: “attā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā”’ti? Yañca kho te, cunda, evamāhaṁsu: ‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Taṁ tesaṁ nānujānāmi. Taṁ kissa hetu? Aññathāsaññinopi hettha, cunda, santeke sattā. Imāyapi kho ahaṁ, cunda, paññattiyā neva attanā samasamaṁ samanupassāmi, kuto bhiyyo. Atha kho ahameva tattha bhiyyo yadidaṁ adhipaññatti.
Ime kho te, cunda, aparantasahagatā diṭṭhinissayā, ye vo mayā byākatā, yathā te byākātabbā. Yathā ca te na byākātabbā, kiṁ vo ahaṁ te tathā byākarissāmi?
Regarding this, I go up to the ascetics and brahmins who assert all the other views as described above. And in each case, I don’t grant that. Why is that? Because there are beings who have different opinions on this topic. I don’t see any such expositions that are equal to my own, still less superior. Rather, I am the one who is superior when it comes to the higher exposition.
These are the views that some rely on regarding the final end, which I have explained to you as they should be explained. Shall I explain them to you in the wrong way?
195. “Này Cunda, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có thuyết như sau, có kiến giải như sau: ‘Tự ngã không có sắc... tự ngã vừa có sắc vừa không có sắc... tự ngã không phải có sắc cũng không phải không có sắc... tự ngã có tưởng... tự ngã không có tưởng... tự ngã không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng... tự ngã bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết; chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.’ Ta đến gần họ và nói như sau: ‘Thưa các hiền hữu, có phải các vị nói rằng: “Tự ngã bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết” không?’ Và điều mà họ, này Cunda, đã nói rằng: ‘Chỉ có điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm,’ Ta không chấp nhận điều đó của họ. Vì sao vậy? Này Cunda, vì ở đây có những chúng sanh có nhận thức khác. Này Cunda, đối với sự chế định này, Ta không thấy ai ngang bằng với Ta, huống nữa là hơn. Trái lại, chính Ta là bậc hơn hẳn ở đây, tức là về sự thấu triệt chế định. Này Cunda, đây là những kiến giải nương tựa liên quan đến tương lai mà Ta đã giải thích cho các ngươi, theo cách chúng nên được giải thích. Còn theo cách chúng không nên được giải thích, tại sao Ta lại phải giải thích cho các ngươi theo cách đó?”
Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya evaṁ mayā cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā. Katame cattāro? Idha, cunda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī …pe… citte cittānupassī …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Imesañca, cunda, pubbantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ imesañca aparantasahagatānaṁ diṭṭhinissayānaṁ pahānāya samatikkamāya. Evaṁ mayā ime cattāro satipaṭṭhānā desitā paññattā”ti.
I have taught and pointed out the four kinds of mindfulness meditation for giving up and going beyond all these views of the first beginning and the final end. What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. These are the four kinds of mindfulness meditation that I have taught for giving up and going beyond all these views of the first beginning and the final end.”
196. “Này Cunda, để đoạn trừ và vượt qua những kiến giải nương tựa liên quan đến quá khứ này và những kiến giải nương tựa liên quan đến tương lai này, Ta đã thuyết giảng và chế định Bốn Niệm Xứ như vậy. Bốn niệm xứ nào? Này Cunda, ở đây, vị Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham và ưu ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham và ưu ở đời. Này Cunda, để đoạn trừ và vượt qua những kiến giải nương tựa liên quan đến quá khứ này và những kiến giải nương tựa liên quan đến tương lai này, Ta đã thuyết giảng và chế định Bốn Niệm Xứ này như vậy.”
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Pāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo; supāsādiko vatāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo, ko nāmāyaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, upavāṇa, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘pāsādiko’ tveva naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā upavāṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Now at that time Venerable Upavāṇa was standing behind the Buddha fanning him. He said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! This exposition of the teaching is impressive, sir, it is very impressive. Sir, what is the name of this exposition of the teaching?”
“Well then, Upavāṇa, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Impressive Discourse’.”
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Upavāṇa approved what the Buddha said.
197. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Upavāṇa đang đứng hầu quạt cho đức Thế Tôn ở phía sau lưng ngài. Bấy giờ, Tôn giả Upavāṇa bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, pháp môn này thật đáng tịnh tín! Bạch Thế Tôn, pháp môn này thật vô cùng đáng tịnh tín! Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên là gì?’ – ‘Này Upavāṇa, vì pháp môn này đáng tịnh tín, do đó, ngươi hãy ghi nhớ pháp môn này là ‘Pāsādika’ (Đáng Tịnh Tín).’ Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Upavāṇa hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn.
Pāsādikasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Pāsādika, thứ sáu, kết thúc.