- Dīgha Nikāya 27
Aggaññasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Aggaññasutta
Như vầy tôi nghe:
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi (Xá-vệ), Pubbārāma (Thành Tín Viên lâm), ở lầu của Migà ramàtu (Lộc Mẫu Giảng đường). Lúc bấy giờ, Vāsaṭṭha và Bhàradvàjà sống giữa các vị Tỷ kheo và muốn trở thành Tỷ kheo. Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu.
SC 2PTS cs 2 Vāsaṭṭha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi ngôi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Thấy vậy Vāsaṭṭha nói với Bharadvāja
SC 3—Này bạn Bharadvāja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ thiền tịnh khởi dậy, bước xuống khỏi lầu, đi qua lại giữa trời, dưới bóng ngôi lầu. Này bạn Bharadvāja, chúng ta hãy đến yết kiến Thế Tôn. Rất có thể chúng ta được nghe một thời pháp từ Thế Tôn.
- Thưa vâng, Hiền giả!
SC 4Bharadvāja vâng theo lời Vāsaṭṭha. Rồi cả Vāsaṭṭha và Bharadvāja cùng đến gần Thế Tôn, khi đến xong đảnh lễ Ngài và đi theo sau lưng Thế Tôn, khi Ngài đang đi qua đi lại.
SC 5PTS cs 3 Rồi Thế Tôn nói với Vāsaṭṭha
SC 6—Này Vāsaṭṭha, Ngươi sanh trưởng là Bà-la-môn và thuộc gia tộc Bà-la-môn, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình từ gia tộc Bà-la-môn. Này Vāsaṭṭha, người Bà-la-môn có chỉ trích Ngươi, phỉ báng Ngươi chăng?
SC 7- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn thật có chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 8- Này Vāsaṭṭha, các vị Bà-la-môn dùng lời lẽ như thế nào để chỉ trích các Ngươi, phỉ báng các Ngươi, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện?
SC 9- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện—giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân”. Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
SC 10PTS cs 4 - Này Vāsaṭṭha, các người Bà-la-môn thật đã quên quá khứ khi họ nói: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai cấp khác là hạ tiện. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên”. Này Vāsaṭṭha, các nữ Bà-la-môn, vợ của các Bà-la-môn được thấy là có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con, có cho con bú. Và những Bà-la-môn ấy chính do thai sanh, lại nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng … là con cháu thừa tự của Phạm thiên”.
SC 11PTS cs 5 Này Vāsaṭṭha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la). Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện; những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la sát sanh … có tà kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện … là hắc pháp và hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 12PTS cs 6 Này Vāsaṭṭha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ. Này Vāsaṭṭha, có người Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, có người Phệ xá … Này Vāsaṭṭha, có người Thủ đà la không sát sanh … không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến. Này Vāsaṭṭha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ đà la.
SC 13PTS cs 7 Này Vāsaṭṭha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn giai cấp này, nên ở đây, những Bà-la-môn nào nói rằng: “Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên.” Các vị có trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì rằng nếu có ai trong bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát, vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp, không phải không xứng với Pháp. Này Vāsaṭṭha, Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 14PTS cs 8 Này Vāsaṭṭha, đây là một chứng minh điển hình để biết vì sao Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 15Này Vāsaṭṭha, vua Pasenadi (Ba tư nặc) nước Kosala biết rằng: “Sa môn Gotama xuất gia từ giòng họ liên hệ Sàkyà tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với vua Pasenadi nước Kosala rất lễ độ phải phép. Cũng vậy vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép, vì vua nghĩ: “Có phải Sa môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh; Sa môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa môn Gotama có dáng mặt đẹp đẽ, còn ta có dáng mặt thô xấu; Sa môn Gotama là vị có nhiều thế lực, còn ta ít có thế lực?” Vì rằng vua Pasenadi nước Kosala tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, kính lễ Pháp nên vua tôn trọng, đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay và đối xử với Như Lai rất lễ độ, phải phép. Này Vāsaṭṭha, với chứng minh điển hình này, cần hiểu như thế nào Pháp là tối thượng giữa các loài hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
SC 16PTS cs 9 Này Vāsaṭṭha, các Ngươi, sanh sai biệt, danh sai biệt, tánh sai biệt, gia hệ sai biệt, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nếu có ai hỏi: “Các vị là ai?”, các Ngươi cần trả lời: “Chúng tôi là Sa môn, dưới sự lãnh đạo của Thích ca tử”. Này Vāsaṭṭha, ai có lòng tin Như Lai, lòng tin ấy được an trí, có căn đế, an trú và chắc chắn, một lòng tin không bị lôi kéo bởi Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một vị nào ở trên đời, vị ấy có thể nói: “Ta là con chính tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do Pháp sanh, do Pháp tạo ra, là con cháu thừa tự của Pháp.” Vì sao vậy? Này Vāsaṭṭha, vì là những chữ đồng nghĩa với Như Lai là Pháp thân, là Phạm thân, là Pháp thể, là Phạm thể.
SC 17PTS cs 10 Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Ābhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vāsaṭṭha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.
SC 18PTS cs 11 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vāsaṭṭha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.
SC 19PTS cs 12 Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: “Kìa xem, vật này là gì vậy?”, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất. Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vāsaṭṭha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.
SC 20PTS cs 13 Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!”, như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: “Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!” Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 21PTS cs 14 Này Vāsaṭṭha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta”. Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.
SC 22PTS cs 15 Này Vāsaṭṭha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì những hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: “Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta.” Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!”; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: “Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!” Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 23PTS cs 16 Này Vāsaṭṭha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Này Vāsaṭṭha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vāsaṭṭha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: “Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?”; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.
SC 24PTS cs 17 Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vāsaṭṭha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ. Này Vāsaṭṭha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: “Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?” Này Vāsaṭṭha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng. Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói
SC 25—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 26- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
SC 27Này Vāsaṭṭha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
SC 28- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 29Này Vāsaṭṭha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói
SC 30—Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
SC 31- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
SC 32Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
SC 33- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 34Này Vāsaṭṭha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói
SC 35—Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
SC 36- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
SC 37Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
SC 38- Này Bạn, như vậy là tốt.
SC 39Này Vāsaṭṭha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.
SC 40PTS cs 18 Này Vāsaṭṭha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền
SC 41—Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 42Này Vāsaṭṭha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
SC 43PTS cs 19 Này Vāsaṭṭha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói
SC 44—Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
SC 45Này Vāsaṭṭha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vāsaṭṭha, một lần thứ hai … Này Vāsaṭṭha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói
SC 46—Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy … Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
SC 47Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vāsaṭṭha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.
SC 48PTS cs 20 Này Vāsaṭṭha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc
SC 49—Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
SC 50- Xin vâng, các Tôn giả!
SC 51Này Vāsaṭṭha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.
SC 52PTS cs 21 Này Vāsaṭṭha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, “Vị chủ của ruộng vườn” tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên” Làm cho các người khác hoan hỷ bởi Pháp”, tức là Rāja (vị vua). Rāja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 53PTS cs 22 Này Vāsaṭṭha, một số các vị hữu tình suy nghĩ
SC 54—Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
SC 55Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền. Các người khác thấy vậy, nói như sau
SC 56—Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
SC 57Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vāsaṭṭha, họ “Jhāyanti”, tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jhàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.
SC 58PTS cs 23 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
SC 59“Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
SC 60Này Vāsaṭṭha, “Na dàn ime Jhāyanti” tức là ajjhāyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vāsaṭṭha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 61PTS cs 24 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vāsaṭṭha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 62PTS cs 25 Này Vāsaṭṭha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vāsaṭṭha, được gọi là Suddà. Và danh từ Suddà được khởi lên. Như vậy, này Vāsaṭṭha, là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Suddà, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 63PTS cs 26 Này Vāsaṭṭha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Tôi sẽ sống làm người Sa môn”. Này Vāsaṭṭha, giai cấp Samaṇa (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.
SC 64PTS cs 27 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm tà hạnh về thân, làm tà hạnh về miệng, làm tà hạnh về ý, có tà kiến. Do tà kiến, tà nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 65PTS cs 28 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Sessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới.
SC 66PTS cs 29 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhân duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … Này Vāsaṭṭha, vị Vessà … Này Vāsaṭṭha, vị Suddà, làm hai hạnh về thân, hai hạnh về miệng, hai hạnh về ý, có chánh kiến, có tà kiến lẫn lộn. Do chánh kiến tà kiến, chánh hạnh tà hạnh lẫn lộn làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, thọ lãnh lạc và khổ thọ.
SC 67PTS cs 30 Này Vāsaṭṭha, vị Khattiya, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại. Này Vāsaṭṭha, vị Bà-la-môn … vị Vessà … Này Vāsaṭṭha vị Suddà, chế ngự về thân, chế ngự về miệng, chế ngự về ý, sau khi tu tập Bảy pháp Giác chi đã diệt trừ hoàn toàn (các ác pháp) ngay trong đời hiện tại.
SC 68PTS cs 31 Này Vāsaṭṭha, trong bốn giai cấp này, vị Tỷ kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāsaṭṭha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.
SC 69PTS cs 32 Này Vāsaṭṭha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:
SC 70Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 71Này Vāsaṭṭha, bài kệ này được Phạm thiên Sanankumāra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vāsaṭṭha, Ta cũng nói như sau:
SC 72Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
SC 73Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vāsaṭṭha và Bharadvāja hoan hỷ tín thọ lời giảng Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn
Tena kho pana samayena vāseṭṭhabhāradvājā bhikkhūsu parivasanti bhikkhubhāvaṁ ākaṅkhamānā. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati.
Now at that time Vāseṭṭha and Bhāradvāja were living on probation among the mendicants in hopes of being ordained. Then in the late afternoon, the Buddha came downstairs from the longhouse and was walking mindfully in the open air, beneath the shade of the longhouse.
111. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Lúc bấy giờ, Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang sống với các tỳ khưu, mong muốn được trở thành tỳ khưu. Khi ấy, vào buổi chiều, Thế Tôn từ nơi độc cư thiền định đứng dậy, đi xuống khỏi lâu đài và đi kinh hành ngoài trời, trong bóng mát của lâu đài.
Addasā kho vāseṭṭho bhagavantaṁ sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhitaṁ pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamantaṁ. Disvāna bhāradvājaṁ āmantesi: “ayaṁ, āvuso bhāradvāja, bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito pāsādā orohitvā pāsādapacchāyāyaṁ abbhokāse caṅkamati. Āyāmāvuso bhāradvāja, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; appeva nāma labheyyāma bhagavato santikā dhammiṁ kathaṁ savanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho bhāradvājo vāseṭṭhassa paccassosi.
Vāseṭṭha saw him and said to Bhāradvāja, “Reverend Bhāradvāja, the Buddha is walking mindfully in the open air, beneath the shade of the longhouse. Come, reverend, let’s go to the Buddha. Hopefully we’ll get to hear a Dhamma talk from him.”
“Yes, reverend,” replied Bhāradvāja.
112. Vāseṭṭha thấy Thế Tôn vào buổi chiều, từ nơi độc cư thiền định đứng dậy, đi xuống khỏi lâu đài và đi kinh hành ngoài trời, trong bóng mát của lâu đài. Thấy vậy, ông gọi Bhāradvāja: “Này hiền giả Bhāradvāja, Thế Tôn vào buổi chiều, từ nơi độc cư thiền định đứng dậy, đi xuống khỏi lâu đài và đi kinh hành ngoài trời, trong bóng mát của lâu đài. Này hiền giả Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến nơi Thế Tôn đang ở; may ra chúng ta có thể được nghe một bài pháp thoại từ sự hiện diện của Thế Tôn.” “Vâng, thưa hiền giả,” Bhāradvāja đã trả lời Vāseṭṭha.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā bhagavantaṁ caṅkamantaṁ anucaṅkamiṁsu.
Atha kho bhagavā vāseṭṭhaṁ āmantesi: “tumhe khvattha, vāseṭṭha, brāhmaṇajaccā brāhmaṇakulīnā brāhmaṇakulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, kacci vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā na akkosanti na paribhāsantī”ti?
“Taggha no, bhante, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti.
“Yathā kathaṁ pana vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā akkosanti paribhāsanti attarūpāya paribhāsāya paripuṇṇāya, no aparipuṇṇāyā”ti?
“Brāhmaṇā, bhante, evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā. Brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā. Brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā. Brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā.
So they went to the Buddha, bowed, and walked beside him.
Then the Buddha said to Vāseṭṭha, “Vāseṭṭha, you are both brahmins by birth and family, and have gone forth from the lay life to homelessness from a brahmin family. I hope you don’t have to suffer abuse and insults from the brahmins.”
“Actually, sir, the brahmins do insult and abuse us with their typical insults to the fullest extent, holding nothing back.”
“But how do the brahmins insult you?”
“Sir, the brahmins say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.
113. Rồi Tôn giả Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn, rồi đi kinh hành theo sau Thế Tôn đang kinh hành. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Vāseṭṭha: 'Này Vāseṭṭha, các ông thuộc dòng dõi Bà-la-môn, sanh trong gia đình Bà-la-môn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Vāseṭṭha, có phải các Bà-la-môn không mắng nhiếc, không phỉ báng các ông không?' 'Bạch Thế Tôn, thật vậy, các Bà-la-môn mắng nhiếc và phỉ báng chúng con bằng những lời phỉ báng thậm tệ, đầy đủ, chứ không phải không đầy đủ.' 'Này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn mắng nhiếc và phỉ báng các ông như thế nào, bằng những lời phỉ báng thậm tệ, đầy đủ, chứ không phải không đầy đủ?' 'Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn nói như sau: ‘Chỉ giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt. Chỉ giai cấp Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp khác là hắc ám. Chỉ các Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải các người không phải Bà-la-môn. Chỉ các Bà-la-môn là con chính thống của Phạm Thiên, sanh từ miệng, do Phạm Thiên sanh, do Phạm Thiên tạo, là người thừa tự của Phạm Thiên. Các ông đã từ bỏ giai cấp tối thượng để gia nhập giai cấp hạ liệt, tức là bọn Sa-môn đầu trọc, tôi tớ, đen đúa, sanh từ chân của bà con (Phạm Thiên). Việc này không tốt, việc này không xứng đáng, khi các ông từ bỏ giai cấp tối thượng để gia nhập giai cấp hạ liệt, tức là bọn Sa-môn đầu trọc, tôi tớ, đen đúa, sanh từ chân của bà con (Phạm Thiên)’. Bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn đã mắng nhiếc và phỉ báng chúng con như vậy, bằng những lời phỉ báng thậm tệ, đầy đủ, chứ không phải không đầy đủ.'
“Taggha vo, vāseṭṭha, brāhmaṇā porāṇaṁ assarantā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. Dissanti kho pana, vāseṭṭha, brāhmaṇānaṁ brāhmaṇiyo utuniyopi gabbhiniyopi vijāyamānāpi pāyamānāpi. Te ca brāhmaṇā yonijāva samānā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti. Te brahmānañceva abbhācikkhanti, musā ca bhāsanti, bahuñca apuññaṁ pasavanti.
“Actually, Vāseṭṭha, the brahmins are forgetting their tradition when they say this to you. For brahmin women are seen menstruating, being pregnant, giving birth, and breast-feeding. Yet even though they’re born from a brahmin womb they say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’ They misrepresent the brahmins, speak falsely, and brim with much wickedness.
114. ‘Này Vāseṭṭha, thật vậy, các Bà-la-môn ấy, vì không nhớ lại chuyện quá khứ, nên đã nói như vậy: ‘Chỉ giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ giai cấp Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp khác là hắc ám; chỉ các Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải các người không phải Bà-la-môn; chỉ các Bà-la-môn là con chính thống của Phạm Thiên, sanh từ miệng, do Phạm Thiên sanh, do Phạm Thiên tạo, là người thừa tự của Phạm Thiên’. Này Vāseṭṭha, người ta thấy rõ các phụ nữ Bà-la-môn có kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, và cho con bú. Và các Bà-la-môn ấy, dù sanh ra từ bụng mẹ, lại nói như sau: ‘Chỉ giai cấp Bà-la-môn là tối thượng, các giai cấp khác là hạ liệt; chỉ giai cấp Bà-la-môn là thanh tịnh, các giai cấp khác là hắc ám; chỉ các Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải các người không phải Bà-la-môn; chỉ các Bà-la-môn là con chính thống của Phạm Thiên, sanh từ miệng, do Phạm Thiên sanh, do Phạm Thiên tạo, là người thừa tự của Phạm Thiên’. Họ vừa vu khống Phạm Thiên, vừa nói lời dối trá, và tạo ra nhiều điều vô phước.
Sự Thanh Tịnh Của Bốn Giai Cấp
Cattārome, vāseṭṭha, vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā. Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī. Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā naalamariyā naalamariyasaṅkhātā kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā, khattiyepi te idhekacce sandissanti. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha …pe… suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātī hoti adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhī. Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā akusalā akusalasaṅkhātā …pe… kaṇhā kaṇhavipākā viññugarahitā; suddepi te idhekacce sandissanti.
Vāseṭṭha, there are these four classes: aristocrats, brahmins, peasants, and menials. Some aristocrats kill living creatures, steal, and commit sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, and nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. These things are unskillful, blameworthy, not to be cultivated, unworthy of the noble ones—and are reckoned as such. They are dark deeds with dark results, criticized by sensible people. Such things are exhibited in some aristocrats. And they are also seen among some brahmins, peasants, and menials.
115. ‘Này Vāseṭṭha, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà. Này Vāseṭṭha, ở đây, có người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ là người sát sanh, trộm cắp, tà dâm trong các dục, nói dối, nói đôi chiều, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến. Này Vāseṭṭha, như vậy, những pháp nào là bất thiện, được gọi là bất thiện; có tội lỗi, được gọi là có tội lỗi; không nên thực hành, được gọi là không nên thực hành; không phải của bậc Thánh, được gọi là không phải của bậc Thánh; đen tối, có quả báo đen tối; bị người trí chê trách, thì những pháp ấy được tìm thấy nơi một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ. Này Vāseṭṭha, cũng vậy đối với người thuộc giai cấp Bà-la-môn... Này Vāseṭṭha, cũng vậy đối với người thuộc giai cấp Phệ-xá... Này Vāseṭṭha, ở đây, có người thuộc giai cấp Thủ-đà là người sát sanh, trộm cắp, tà dâm trong các dục, nói dối, nói đôi chiều, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, có sân tâm, có tà kiến. Này Vāseṭṭha, như vậy, những pháp nào là bất thiện, được gọi là bất thiện... đen tối, có quả báo đen tối; bị người trí chê trách, thì những pháp ấy cũng được tìm thấy nơi một số người thuộc giai cấp Thủ-đà.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu abyāpannacitto, sammādiṭṭhī. Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā, khattiyepi te idhekacce sandissanti. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha …pe… suddopi kho, vāseṭṭha, idhekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhī. Iti kho, vāseṭṭha, yeme dhammā kusalā kusalasaṅkhātā anavajjā anavajjasaṅkhātā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā alamariyā alamariyasaṅkhātā sukkā sukkavipākā viññuppasatthā; suddepi te idhekacce sandissanti.
But some aristocrats refrain from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. They refrain from speech that’s false, backbiting, harsh, and nonsensical. And they’re content, kind-hearted, with right view. These things are skillful, blameless, to be cultivated, worthy of the noble ones—and are reckoned as such. They are bright deeds with bright results, praised by sensible people. Such things are exhibited in some aristocrats. And they are also seen among some brahmins, peasants, and menials.
‘Này Vāseṭṭha, ở đây, có người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà dâm trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói đôi chiều, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến. Này Vāseṭṭha, như vậy, những pháp nào là thiện, được gọi là thiện; không có tội lỗi, được gọi là không có tội lỗi; nên thực hành, được gọi là nên thực hành; là của bậc Thánh, được gọi là của bậc Thánh; trong sạch, có quả báo trong sạch; được người trí tán thán, thì những pháp ấy được tìm thấy nơi một số người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ. Này Vāseṭṭha, cũng vậy đối với người thuộc giai cấp Bà-la-môn... Này Vāseṭṭha, cũng vậy đối với người thuộc giai cấp Phệ-xá... Này Vāseṭṭha, ở đây, có người thuộc giai cấp Thủ-đà từ bỏ sát sanh... không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến. Này Vāseṭṭha, như vậy, những pháp nào là thiện, được gọi là thiện; không có tội lỗi, được gọi là không có tội lỗi; nên thực hành, được gọi là nên thực hành; là của bậc Thánh, được gọi là của bậc Thánh; trong sạch, có quả báo trong sạch; được người trí tán thán, thì những pháp ấy cũng được tìm thấy nơi một số người thuộc giai cấp Thủ-đà.
Imesu kho, vāseṭṭha, catūsu vaṇṇesu evaṁ ubhayavokiṇṇesu vattamānesu kaṇhasukkesu dhammesu viññugarahitesu ceva viññuppasatthesu ca yadettha brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘brāhmaṇova seṭṭho vaṇṇo, hīnā aññe vaṇṇā; brāhmaṇova sukko vaṇṇo, kaṇhā aññe vaṇṇā; brāhmaṇāva sujjhanti, no abrāhmaṇā; brāhmaṇāva brahmuno puttā orasā mukhato jātā brahmajā brahmanimmitā brahmadāyādā’ti.
Taṁ tesaṁ viññū nānujānanti. Taṁ kissa hetu? Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Both these things occur like this, mixed up in these four classes—the dark and the bright, that which is praised and that which is criticized by sensible people. Yet of this the brahmins say: ‘Only brahmins are the best class; other classes are inferior. Only brahmins are the light class; other classes are dark. Only brahmins are purified, not others. Only brahmins are the Divinity’s bosom sons, born from his mouth, born of the Divinity, created by the Divinity, heirs of the Divinity.’
Sensible people don’t grant this. Why is that? Because any mendicant from these four classes who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—is said to be foremost by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
116. Này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, khi các pháp đen và trắng, vừa bị bậc trí chê bai vừa được bậc trí tán thán, hiện hữu lẫn lộn như vậy, các Bà-la-môn đã nói như sau: ‘Chỉ giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác là thấp hèn; chỉ giai cấp Bà-la-môn là trong trắng, các giai cấp khác là đen đúa; chỉ các Bà-la-môn mới thanh tịnh, không phải những người không phải Bà-la-môn; chỉ các Bà-la-môn là con chính thống của Phạm Thiên, sinh từ miệng, do Phạm Thiên sinh, do Phạm Thiên hóa tạo, là người thừa tự của Phạm Thiên’. Các bậc trí không chấp nhận lời nói ấy của họ. Vì cớ sao? Này Vāseṭṭha, vì rằng trong bốn giai cấp này, vị nào là tỳ-khưu A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm việc nên làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận các kiết sử trói buộc vào các cõi hữu, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy được gọi là tối thượng trong số họ, chính là do Pháp, không phải do phi Pháp. Này Vāseṭṭha, vì Pháp là tối thượng trong chúng sanh này, cả trong đời này và đời sau.
Tadamināpetaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
And here’s a way to understand how this is so.
117. Này Vāseṭṭha, cũng nên biết qua phương pháp này rằng, Pháp là tối thượng trong chúng sanh này, cả trong đời này và đời sau.
Jānāti kho, vāseṭṭha, rājā pasenadi kosalo: ‘samaṇo gotamo anantarā sakyakulā pabbajito’ti. Sakyā kho pana, vāseṭṭha, rañño pasenadissa kosalassa anuyuttā bhavanti. Karonti kho, vāseṭṭha, sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ. Iti kho, vāseṭṭha, yaṁ karonti sakyā raññe pasenadimhi kosale nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, karoti taṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ, na naṁ ‘sujāto samaṇo gotamo, dujjātohamasmi. Balavā samaṇo gotamo, dubbalohamasmi. Pāsādiko samaṇo gotamo, dubbaṇṇohamasmi. Mahesakkho samaṇo gotamo, appesakkhohamasmī’ti. Atha kho naṁ dhammaṁyeva sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ mānento dhammaṁ pūjento dhammaṁ apacāyamāno evaṁ rājā pasenadi kosalo tathāgate nipaccakāraṁ karoti, abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ. Imināpi kho etaṁ, vāseṭṭha, pariyāyena veditabbaṁ, yathā dhammova seṭṭho janetasmiṁ, diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
King Pasenadi of Kosala knows that the ascetic Gotama has gone forth from the neighboring clan of the Sakyans. And the Sakyans are his vassals. The Sakyans show deference to King Pasenadi by bowing down, rising up, greeting him with cupped palms, and observing proper etiquette for him. Now, King Pasenadi shows the same kind of deference to the Realized One. But he doesn’t think: ‘The ascetic Gotama is well-born, I am ill-born. He is powerful, I am weak. He is handsome, I am ugly. He is illustrious, I am insignificant.’ Rather, in showing such deference to the Realized One he is only honoring, respecting, and venerating principle. And here’s another way to understand how principle is the best thing for people in both this life and the next.
Này Vāseṭṭha, vua Pasenadi xứ Kosala biết rằng: ‘Sa-môn Gotama đã xuất gia từ dòng dõi Thích-ca không gián đoạn’. Này Vāseṭṭha, dòng họ Thích-ca là chư hầu của vua Pasenadi xứ Kosala. Này Vāseṭṭha, dòng họ Thích-ca thực hành sự khiêm hạ, đảnh lễ, đứng dậy đón chào, chắp tay, và tôn kính đối với vua Pasenadi xứ Kosala. Này Vāseṭṭha, sự khiêm hạ, đảnh lễ, đứng dậy đón chào, chắp tay, và tôn kính nào mà dòng họ Thích-ca thực hành đối với vua Pasenadi xứ Kosala, thì vua Pasenadi xứ Kosala lại thực hành những điều đó đối với Như Lai, không phải vì nghĩ rằng: ‘Sa-môn Gotama có dòng dõi cao quý, ta có dòng dõi thấp hèn. Sa-môn Gotama có sức mạnh, ta yếu đuối. Sa-môn Gotama có tướng hảo, ta xấu xí. Sa-môn Gotama có đại oai lực, ta có ít oai lực’. Nhưng thật ra, chính là vì tôn trọng Pháp, kính trọng Pháp, quý mến Pháp, cúng dường Pháp, và phục tùng Pháp mà vua Pasenadi xứ Kosala thực hành sự khiêm hạ, đảnh lễ, đứng dậy đón chào, chắp tay, và tôn kính đối với Như Lai. Này Vāseṭṭha, cũng qua phương pháp này, nên biết rằng Pháp là tối thượng trong chúng sanh này, cả trong đời này và đời sau.
Tumhe khvattha, vāseṭṭha, nānājaccā nānānāmā nānāgottā nānākulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā. ‘Ke tumhe’ti—puṭṭhā samānā ‘samaṇā sakyaputtiyāmhā’ti—paṭijānātha. Yassa kho panassa, vāseṭṭha, tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ, tassetaṁ kallaṁ vacanāya: ‘bhagavatomhi putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo’ti. Taṁ kissa hetu? Tathāgatassa hetaṁ, vāseṭṭha, adhivacanaṁ ‘dhammakāyo’ itipi, ‘brahmakāyo’ itipi, ‘dhammabhūto’ itipi, ‘brahmabhūto’ itipi.
Vāseṭṭha, you have different births, names, clans, and families, yet have gone forth from the lay life to homelessness. When they ask you what you are, you claim to be ascetics who follow the Sakyan. But only when someone has faith in the Realized One—settled, rooted, and planted deep, strong, not to be shifted by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world—is it appropriate for them to say: ‘I am the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of principle, created by principle, heir to principle.’ Why is that? For these are terms for the Realized One: ‘the embodiment of principle’, and ‘the embodiment of divinity’, and ‘the manifestation of principle’, and ‘the manifestation of divinity’.
118. Này Vāseṭṭha, các ngươi thuộc nhiều giai cấp, tên gọi, dòng họ, gia tộc khác nhau, đã từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Khi được hỏi ‘Các vị là ai?’, các ngươi hãy tự nhận rằng: ‘Chúng tôi là những Sa-môn, con của dòng họ Thích-ca’. Này Vāseṭṭha, người nào có đức tin đối với Như Lai đã an trú, bén rễ, vững chắc, kiên cố, không thể bị lay chuyển bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, hay bất cứ ai trên đời, người ấy xứng đáng để nói rằng: ‘Ta là con chính thống của Đức Thế Tôn, sinh từ miệng Ngài, do Pháp sinh, do Pháp hóa tạo, là người thừa tự của Pháp’. Vì cớ sao? Này Vāseṭṭha, vì đây là danh hiệu của Như Lai: ‘Thân Pháp’, cũng là ‘Thân Phạm Thiên’, cũng là ‘Hiện thân của Pháp’, cũng là ‘Hiện thân của Phạm Thiên’.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati. Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti. Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
There comes a time when, Vāseṭṭha, after a very long period has passed, this cosmos contracts. As the cosmos contracts, sentient beings are mostly headed for the realm of streaming radiance. There they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
119. Này Vāseṭṭha, có thời điểm, khi một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này hoại diệt. Khi thế giới đang hoại diệt, phần lớn chúng sanh tái sanh ở cõi Quang Âm Thiên. Ở đó, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ, tự thân phát quang, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại trong một thời gian rất dài.
Hoti kho so, vāseṭṭha, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati. Vivaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarakāyā cavitvā itthattaṁ āgacchanti. Tedha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
There comes a time when, after a very long period has passed, this cosmos expands. As the cosmos expands, sentient beings mostly pass away from that host of radiant deities and come back to this realm. Here they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
Này Vāseṭṭha, có thời điểm, khi một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này thành lập. Khi thế giới đang thành lập, phần lớn chúng sanh từ cõi Quang Âm Thiên mệnh chung, đến cõi này. Ở đây, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ, tự thân phát quang, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại trong một thời gian rất dài.
Sự xuất hiện của vị đất
Ekodakībhūtaṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti andhakāro andhakāratimisā. Na candimasūriyā paññāyanti, na nakkhattāni tārakarūpāni paññāyanti, na rattindivā paññāyanti, na māsaḍḍhamāsā paññāyanti, na utusaṁvaccharā paññāyanti, na itthipumā paññāyanti, sattā sattātveva saṅkhyaṁ gacchanti. Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani; seyyathāpi nāma payaso tattassa nibbāyamānassa upari santānakaṁ hoti; evameva pāturahosi. Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi. Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādā ahosi. Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko: ‘ambho, kimevidaṁ bhavissatī’ti rasapathaviṁ aṅguliyā sāyi. Tassa rasapathaviṁ aṅguliyā sāyato acchādesi, taṇhā cassa okkami. Aññepi kho, vāseṭṭha, sattā tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamānā rasapathaviṁ aṅguliyā sāyiṁsu. Tesaṁ rasapathaviṁ aṅguliyā sāyataṁ acchādesi, taṇhā ca tesaṁ okkami.
But the single mass of water at that time was utterly dark. The moon and sun were not found, nor were stars and constellations, day and night, months and fortnights, years and seasons, or male and female. Beings were simply known as ‘beings’. After a very long period had passed, the earth’s nectar curdled in the water. It appeared just like the curd on top of hot milk-rice as it cools. It was beautiful, fragrant, and delicious, like ghee or butter. And it was as sweet as pure dwarf-bee honey. Now, one of those beings was reckless. Thinking, ‘Oh my, what might this be?’ they tasted the earth’s nectar with their finger. They enjoyed it, and craving was born in them. And other beings, following that being’s example, tasted the earth’s nectar with their fingers. They too enjoyed it, and craving was born in them.
120. Này Vāseṭṭha, vào thời điểm ấy, thế gian chỉ là một khối nước, tối tăm, mịt mù trong bóng tối. Mặt trăng, mặt trời không xuất hiện; các vì sao, tinh tú không xuất hiện; đêm và ngày không được phân biệt; tháng và nửa tháng không được phân biệt; mùa và năm không được phân biệt; nam và nữ không được phân biệt. Các chúng sanh chỉ được gọi chung là ‘chúng sanh’. Rồi này Vāseṭṭha, sau một thời gian dài, vào một lúc nào đó, đối với các chúng sanh ấy, một lớp váng đất có hương vị nổi lên trên mặt nước. Ví như lớp váng sữa hình thành trên mặt sữa nóng khi đang nguội dần, cũng vậy, lớp váng đất ấy đã hiện ra. Lớp váng đất ấy có màu sắc, hương thơm, và vị ngon. Màu sắc của nó giống như bơ tinh luyện hay bơ tươi hảo hạng. Vị của nó ngọt ngào như mật ong nguyên chất của loài ong nhỏ. Bấy giờ, này Vāseṭṭha, có một chúng sanh tánh hay tò mò, nghĩ rằng: ‘Ồ, cái này là gì nhỉ?’, rồi dùng ngón tay nếm thử lớp váng đất. Khi vị ấy dùng ngón tay nếm thử lớp váng đất, hương vị lan tỏa khắp người và lòng tham ái khởi lên trong vị ấy. Này Vāseṭṭha, các chúng sanh khác, thấy vậy cũng bắt chước, dùng ngón tay nếm thử lớp váng đất. Khi họ dùng ngón tay nếm thử lớp váng đất, hương vị lan tỏa khắp người họ và lòng tham ái cũng khởi lên trong họ.
Sự xuất hiện của mặt trăng, mặt trời, v.v.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ. Yato kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ. Atha tesaṁ sattānaṁ sayaṁpabhā antaradhāyi. Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ. Candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ. Nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu. Rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu. Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu. Ettāvatā kho, vāseṭṭha, ayaṁ loko puna vivaṭṭo hoti.
Then those beings started to eat the earth’s nectar, breaking it into lumps. But when they did this their luminosity vanished. And with the vanishing of their luminosity the moon and sun appeared, stars and constellations appeared, days and nights were distinguished, and so were months and fortnights, and years and seasons. So far had the world evolved once more.
121. Rồi này Vāseṭṭha, các chúng sanh ấy bắt đầu dùng tay vốc lớp váng đất thành từng miếng để ăn. Này Vāseṭṭha, kể từ khi các chúng sanh ấy bắt đầu dùng tay vốc lớp váng đất thành từng miếng để ăn, ánh sáng tự thân của họ liền biến mất. Khi ánh sáng tự thân biến mất, mặt trăng và mặt trời xuất hiện. Khi mặt trăng và mặt trời xuất hiện, các vì sao và tinh tú xuất hiện. Khi các vì sao và tinh tú xuất hiện, đêm và ngày được phân biệt. Khi đêm và ngày được phân biệt, tháng và nửa tháng được phân biệt. Khi tháng và nửa tháng được phân biệt, mùa và năm được phân biệt. Này Vāseṭṭha, đến mức độ như vậy, thế gian này đã tái hình thành.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu. Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantānaṁ kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha. Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā. Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti: ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ rasapathavī antaradhāyi. Rasāya pathaviyā antarahitāya sannipatiṁsu. Sannipatitvā anutthuniṁsu: ‘aho rasaṁ, aho rasan’ti. Tadetarahipi manussā kañcideva surasaṁ labhitvā evamāhaṁsu: ‘aho rasaṁ, aho rasan’ti. Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
Then those beings eating the earth’s nectar, with that as their food and nourishment, remained for a very long time. But so long as they ate that earth’s nectar, their bodies became more solid and they diverged in appearance; some beautiful, some ugly. And the beautiful beings looked down on the ugly ones: ‘We’re more beautiful, they’re the ugly ones!’ And the vanity of the beautiful ones made the earth’s nectar vanish. They gathered together and bemoaned, ‘Oh, what a taste! Oh, what a taste!’ And even today when people get something tasty they say: ‘Oh, what a taste! Oh, what a taste!’ They’re just remembering an ancient primordial saying, but they don’t understand what it means.
122. Rồi này Vāseṭṭha, các chúng sanh ấy ăn lớp váng đất, lấy đó làm thức ăn, làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian rất dài. Này Vāseṭṭha, khi các chúng sanh ấy càng ăn lớp váng đất, lấy đó làm thức ăn, làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian rất dài, thì thân thể của họ càng trở nên thô cứng, và sự khác biệt về dung sắc càng trở nên rõ rệt. Có chúng sanh thì xinh đẹp, có chúng sanh thì xấu xí. Bấy giờ, những chúng sanh xinh đẹp khinh miệt những chúng sanh xấu xí rằng: ‘Chúng ta đẹp hơn họ, còn họ thì xấu hơn chúng ta.’ Do lòng kiêu mạn về dung sắc của những chúng sanh đã trở nên ngã mạn và kiêu căng ấy, lớp váng đất liền biến mất. Khi lớp váng đất biến mất, họ tụ tập lại và than van: ‘Ôi, hương vị! Ôi, hương vị!’ Cho đến ngày nay, khi con người được thưởng thức một món ngon nào đó, họ cũng nói: ‘Ôi, hương vị! Ôi, hương vị!’ Họ chỉ lặp lại từ ngữ cổ xưa, khởi nguyên ấy, chứ thật không biết ý nghĩa của nó.
Sự xuất hiện của lớp vỏ đất
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ rasāya pathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi. Seyyathāpi nāma ahicchattako; evameva pāturahosi. So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇo ahosi. Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādo ahosi.
When the earth’s nectar had vanished, ground-fungus appeared to those beings. It appeared just like a mushroom. It was beautiful, fragrant, and delicious, like ghee or butter. And it was as sweet as pure dwarf-bee honey.
123. Rồi này Vāseṭṭha, đối với các chúng sanh ấy, khi lớp váng đất có hương vị biến mất, một loại vỏ đất xuất hiện. Nó xuất hiện giống như nấm mọc lên. Lớp vỏ đất ấy có màu sắc, hương thơm, và vị ngon. Màu sắc của nó giống như bơ tinh luyện hay bơ tươi hảo hạng. Vị của nó ngọt ngào như mật ong nguyên chất của loài ong nhỏ.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ. Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu. Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā bhūmipappaṭakaṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha. Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā. Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti: ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ bhūmipappaṭako antaradhāyi.
Then those beings started to eat the ground-fungus. With that as their food and nourishment, they remained for a very long time. But so long as they ate that ground-fungus, their bodies became more solid and they diverged in appearance; some beautiful, some ugly. And the beautiful beings looked down on the ugly ones: ‘We’re more beautiful, they’re the ugly ones!’ And the vanity of the beautiful ones made the ground-fungus vanish.
Rồi này Vāseṭṭha, các chúng sanh ấy bắt đầu ăn lớp vỏ đất. Họ ăn lớp vỏ đất ấy, lấy đó làm thức ăn, làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian rất dài. Này Vāseṭṭha, khi các chúng sanh ấy càng ăn lớp vỏ đất, lấy đó làm thức ăn, làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian rất dài, thì thân thể của họ càng trở nên thô cứng hơn nữa, và sự khác biệt về dung sắc càng trở nên rõ rệt. Có chúng sanh thì xinh đẹp, có chúng sanh thì xấu xí. Bấy giờ, những chúng sanh xinh đẹp khinh miệt những chúng sanh xấu xí rằng: ‘Chúng ta đẹp hơn họ, còn họ thì xấu hơn chúng ta.’ Do lòng kiêu mạn về dung sắc của những chúng sanh đã trở nên ngã mạn và kiêu căng ấy, lớp vỏ đất liền biến mất.
Sự xuất hiện của loài dây leo
Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi, seyyathāpi nāma kalambukā; evameva pāturahosi. Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā, seyyathāpi nāma sampannaṁ vā sappi sampannaṁ vā navanītaṁ evaṁvaṇṇā ahosi. Seyyathāpi nāma khuddamadhuṁ aneḷakaṁ; evamassādā ahosi.
When the ground-fungus had vanished, bursting pods appeared, like the fruit of the kadam tree. They were beautiful, fragrant, and delicious, like ghee or butter. And they were as sweet as pure dwarf-bee honey.
124. Khi lớp vỏ đất biến mất, một loài dây leo xuất hiện, giống như cây mây mọc lên. Loài dây leo ấy có màu sắc, hương thơm, và vị ngon. Màu sắc của nó giống như bơ tinh luyện hay bơ tươi hảo hạng. Vị của nó ngọt ngào như mật ong nguyên chất của loài ong nhỏ.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ. Te taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu. Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā padālataṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha. Ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā. Tattha ye te sattā vaṇṇavanto, te dubbaṇṇe satte atimaññanti: ‘mayametehi vaṇṇavantatarā, amhehete dubbaṇṇatarā’ti. Tesaṁ vaṇṇātimānapaccayā mānātimānajātikānaṁ padālatā antaradhāyi.
Then those beings started to eat the bursting pods. With that as their food and nourishment, they remained for a very long time. But so long as they ate those bursting pods, their bodies became more solid and they diverged in appearance; some beautiful, some ugly. And the beautiful beings looked down on the ugly ones: ‘We’re more beautiful, they’re the ugly ones!’ And the vanity of the beautiful ones made the bursting pods vanish.
Này Vāseṭṭha, khi ấy, các chúng sanh kia bắt đầu ăn loại dây leo padālatā. Do ăn loại dây leo ấy, lấy nó làm thức ăn, lấy nó làm vật thực, họ đã tồn tại trong một thời gian dài. Này Vāseṭṭha, khi các chúng sanh kia ăn loại dây leo padālatā, lấy nó làm thức ăn, lấy nó làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian dài, thì thân thể của các chúng sanh ấy càng ngày càng trở nên thô cứng hơn, và sự khác biệt về dung sắc cũng xuất hiện. Có chúng sanh thì xinh đẹp, có chúng sanh thì xấu xí. Trong số đó, những chúng sanh xinh đẹp khinh miệt những chúng sanh xấu xí rằng: ‘Chúng ta xinh đẹp hơn chúng, còn chúng thì xấu xí hơn chúng ta.’ Do lòng kiêu mạn về dung sắc của những chúng sanh có tánh kiêu mạn và ngã mạn ấy, loại dây leo padālatā đã biến mất.
Padālatāya antarahitāya sannipatiṁsu. Sannipatitvā anutthuniṁsu: ‘ahu vata no, ahāyi vata no padālatā’ti. Tadetarahipi manussā kenaci dukkhadhammena phuṭṭhā evamāhaṁsu: ‘ahu vata no, ahāyi vata no’ti. Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
They gathered together and bemoaned, ‘Oh, what we’ve lost! Oh, what we’ve lost—those bursting pods!’ And even today when people experience suffering they say: ‘Oh, what we’ve lost! Oh, what we’ve lost!’ They’re just remembering an ancient primordial saying, but they don’t understand what it means.
Khi loại dây leo padālatā biến mất, họ tụ tập lại. Sau khi tụ tập, họ than van: ‘Than ôi, chúng ta đã từng có dây leo padālatā! Than ôi, dây leo padālatā của chúng ta đã biến mất rồi!’ Cho đến ngày nay, khi con người bị một khổ đau nào đó tác động, họ cũng nói như vậy: ‘Than ôi, chúng ta đã từng có! Than ôi, chúng ta đã mất rồi!’ Họ chỉ lặp lại câu nói cổ xưa, khởi nguyên ấy, chứ thật ra không biết ý nghĩa của nó.
Sự xuất hiện của lúa Sāli tự chín
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁ padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo. Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharanti, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ. Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharanti, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ; nāpadānaṁ paññāyati. Atha kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu.
When the bursting pods had vanished, ripe untilled rice appeared to those beings. It had no powder or husk, pure and fragrant, with only the rice-grain. What they took for supper at dusk, by daybreak had grown back and ripened. And what they took for breakfast at daybreak had grown back and ripened by the evening, leaving no trace showing. Then those beings eating the ripe untilled rice, with that as their food and nourishment, remained for a very long time.
125. Này Vāseṭṭha, khi ấy, sau khi loại dây leo padālatā biến mất, đối với các chúng sanh kia, đã xuất hiện loại lúa Sāli tự chín, không có tấm, không có trấu, trong sạch, thơm ngon, chỉ có hột gạo. Loại lúa mà họ đem về vào buổi chiều để ăn chiều, thì đến sáng nó đã chín và mọc lại. Loại lúa mà họ đem về vào buổi sáng để ăn sáng, thì đến chiều nó đã chín và mọc lại; không thấy dấu vết đã bị cắt. Này Vāseṭṭha, khi ấy, các chúng sanh kia ăn loại lúa Sāli tự chín, lấy nó làm thức ăn, lấy nó làm vật thực, và đã tồn tại trong một thời gian dài.
Sự xuất hiện của giới tính nam và nữ
Yathā yathā kho te, vāseṭṭha, sattā akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhaṁsu tathā tathā tesaṁ sattānaṁ bhiyyoso mattāya kharattañceva kāyasmiṁ okkami, vaṇṇavevaṇṇatā ca paññāyittha, itthiyā ca itthiliṅgaṁ pāturahosi purisassa ca purisaliṅgaṁ. Itthī ca purisaṁ ativelaṁ upanijjhāyati puriso ca itthiṁ. Tesaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyataṁ sārāgo udapādi, pariḷāho kāyasmiṁ okkami. Te pariḷāhapaccayā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu.
But so long as they ate that ripe untilled rice, their bodies became more solid and they diverged in appearance. And female characteristics appeared on women, while male characteristics appeared on men. Women spent too much time gazing at men, and men at women. They became lustful, and their bodies burned with fever. Due to this fever they had sex with each other.
126. Này Vāseṭṭha, khi các chúng sanh kia ăn loại lúa Sāli tự chín, lấy nó làm thức ăn, lấy nó làm vật thực, và tồn tại trong một thời gian dài, thì thân thể của các chúng sanh ấy càng ngày càng trở nên thô cứng hơn, và sự khác biệt về dung sắc cũng xuất hiện. Nữ căn xuất hiện nơi người nữ, và nam căn xuất hiện nơi người nam. Người nữ nhìn người nam một cách đắm đuối, và người nam cũng nhìn người nữ một cách đắm đuối. Do họ nhìn nhau đắm đuối quá lâu, ái dục khởi lên, và sự nóng bức lan khắp thân thể. Do duyên sự nóng bức ấy, họ đã thực hành pháp dâm dục.
Ye kho pana te, vāseṭṭha, tena samayena sattā passanti methunaṁ dhammaṁ paṭisevante, aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti: ‘nassa asuci, nassa asucī’ti. ‘Kathañhi nāma satto sattassa evarūpaṁ karissatī’ti. Tadetarahipi manussā ekaccesu janapadesu vadhuyā nibbuyhamānāya aññe paṁsuṁ khipanti, aññe seṭṭhiṁ khipanti, aññe gomayaṁ khipanti. Tadeva porāṇaṁ aggaññaṁ akkharaṁ anusaranti, na tvevassa atthaṁ ājānanti.
Those who saw them having sex pelted them with dirt, clods, or cow-dung, saying, ‘Get lost, filth! Get lost, filth! How on earth can one being do that to another?’ And even today people in some countries, when carrying a bride off, pelt her with dirt, clods, or cow-dung. They’re just remembering an ancient primordial saying, but they don’t understand what it means.
Này Vāseṭṭha, vào thời ấy, những chúng sanh nào thấy kẻ khác đang thực hành pháp dâm dục, thì có người ném bụi, có người ném tro, có người ném phân bò, và nói: ‘Hãy cút đi, đồ ô uế! Hãy cút đi, đồ ô uế! Sao một chúng sanh lại có thể làm điều như vậy với một chúng sanh khác?’ Cho đến ngày nay, ở một số địa phương, khi cô dâu được rước về, có người ném bụi, có người ném tro, có người ném phân bò. Họ chỉ lặp lại hành vi cổ xưa, khởi nguyên ấy, chứ thật ra không biết ý nghĩa của nó.
Việc thực hành pháp dâm dục
Adhammasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi dhammasammataṁ. Ye kho pana, vāseṭṭha, tena samayena sattā methunaṁ dhammaṁ paṭisevanti, te māsampi dvemāsampi na labhanti gāmaṁ vā nigamaṁ vā pavisituṁ. Yato kho te, vāseṭṭha, sattā tasmiṁ asaddhamme ativelaṁ pātabyataṁ āpajjiṁsu. Atha agārāni upakkamiṁsu kātuṁ tasseva asaddhammassa paṭicchādanatthaṁ. Atha kho, vāseṭṭha, aññatarassa sattassa alasajātikassa etadahosi: ‘ambho, kimevāhaṁ vihaññāmi sāliṁ āharanto sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya. Yannūnāhaṁ sāliṁ āhareyyaṁ sakideva sāyapātarāsāyā’ti.
What was deemed as unprincipled at that time, these days is deemed as principled. The beings who had sex together weren’t allowed to enter a village or town for one or two months. Ever since they excessively threw themselves into immorality, they started to make buildings to hide their immoral deeds. Then one of those beings of idle disposition thought, ‘Oh my, why should I be bothered to gather rice at dusk for supper, and at daybreak for breakfast? Why don’t I gather rice for supper and breakfast all at once?’
127. Này Vāseṭṭha, vào thời ấy, việc ấy được xem là phi pháp, nhưng ngày nay lại được xem là chánh pháp. Này Vāseṭṭha, vào thời ấy, những chúng sanh nào thực hành pháp dâm dục thì không được phép vào làng hay thị trấn trong một tháng, hoặc hai tháng. Này Vāseṭṭha, kể từ khi các chúng sanh kia quá sa đà vào việc phi pháp ấy, họ bắt đầu làm nhà để che giấu chính việc phi pháp đó. Này Vāseṭṭha, khi ấy, một chúng sanh có tánh lười biếng đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Này các bạn, tại sao ta phải nhọc công đi lấy lúa Sāli vào buổi chiều cho bữa chiều, và vào buổi sáng cho bữa sáng! Hay là ta chỉ đi lấy lúa Sāli một lần cho cả bữa sáng và bữa chiều thì sao!’
Atha kho so, vāseṭṭha, satto sāliṁ āhāsi sakideva sāyapātarāsāya. Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca: ‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti. ‘Alaṁ, bho satta, āhato me sāli sakideva sāyapātarāsāyā’ti. Atha kho so, vāseṭṭha, satto tassa sattassa diṭṭhānugatiṁ āpajjamāno sāliṁ āhāsi sakideva dvīhāya. ‘Evampi kira, bho, sādhū’ti.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca: ‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
So that’s what he did. Then one of the other beings approached that being and said, ‘Come, good being, we shall go to gather rice.’ ‘There’s no need, good being! I gathered rice for supper and breakfast all at once.’ So that being, following their example, gathered rice for two days all at once, thinking: ‘This seems fine.’
Then one of the other beings approached that being and said, ‘Come, good being, we shall go to gather rice.’
Này Vāseṭṭha, khi ấy, chúng sanh kia đã đi lấy lúa Sāli một lần cho cả bữa sáng và bữa chiều. Rồi này Vāseṭṭha, một chúng sanh khác đến chỗ chúng sanh kia và nói với chúng sanh ấy rằng: ‘Này bạn, chúng ta hãy đi lấy lúa Sāli.’ – ‘Thôi đi, bạn ơi, tôi đã lấy lúa Sāli một lần cho cả bữa sáng và bữa chiều rồi.’ Này Vāseṭṭha, khi ấy, chúng sanh kia, bắt chước theo chúng sanh nọ, đã đi lấy lúa Sāli một lần cho hai ngày, và nghĩ: ‘Này bạn, làm như thế này cũng tốt thay.’
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto yena so satto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ sattaṁ etadavoca: ‘ehi, bho satta, sālāhāraṁ gamissāmā’ti.
Then one of the other beings approached that being and said, ‘Come, good being, we shall go to gather rice.’
Này Vāseṭṭha, khi ấy, một chúng sanh khác đến chỗ chúng sanh kia và nói với chúng sanh ấy rằng: ‘Này bạn, chúng ta hãy đi lấy lúa Sāli.’ – ‘Thôi đi, bạn ơi, tôi đã lấy lúa Sāli một lần cho hai ngày rồi.’ Này Vāseṭṭha, khi ấy, chúng sanh kia, bắt chước theo chúng sanh nọ, đã đi lấy lúa Sāli một lần cho bốn ngày, và nghĩ: ‘Này bạn, làm như thế này cũng tốt thay.’
Này Vāseṭṭha, khi ấy, một chúng sanh khác đến chỗ chúng sanh kia và nói với chúng sanh ấy rằng: ‘Này bạn, chúng ta hãy đi lấy lúa Sāli.’ – ‘Thôi đi, bạn ơi, tôi đã lấy lúa Sāli một lần cho bốn ngày rồi.’ Này Vāseṭṭha, khi ấy, chúng sanh kia, bắt chước theo chúng sanh nọ, đã đi lấy lúa Sāli một lần cho tám ngày, và nghĩ: ‘Này bạn, làm như thế này cũng tốt thay.’
Yato kho te, vāseṭṭha, sattā sannidhikārakaṁ sāliṁ upakkamiṁsu paribhuñjituṁ. Atha kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi; lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo aṭṭhaṁsu.
But when they started to store up rice to eat, the rice grains became wrapped in powder and husk, it didn’t grow back after reaping, leaving a trace showing, and the rice stood in clumps.
Này Vāseṭṭha, kể từ khi các chúng sanh ấy bắt đầu tích trữ lúa sāli để ăn. Bấy giờ, tấm cũng bao bọc hạt gạo, trấu cũng bao bọc hạt gạo; chỗ đã gặt cũng không mọc lại, dấu vết gặt hái đã hiện rõ, và lúa sāli chỉ mọc thành từng cụm.
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu: ‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā. Mayañhi pubbe manomayā ahumhā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā. Tesaṁ no amhākaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena rasapathavī udakasmiṁ samatani. Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā. Te mayaṁ rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ, tesaṁ no rasapathaviṁ hatthehi āluppakārakaṁ upakkamataṁ paribhuñjituṁ sayaṁpabhā antaradhāyi. Sayaṁpabhāya antarahitāya candimasūriyā pāturahesuṁ, candimasūriyesu pātubhūtesu nakkhattāni tārakarūpāni pāturahesuṁ, nakkhattesu tārakarūpesu pātubhūtesu rattindivā paññāyiṁsu, rattindivesu paññāyamānesu māsaḍḍhamāsā paññāyiṁsu. Māsaḍḍhamāsesu paññāyamānesu utusaṁvaccharā paññāyiṁsu. Te mayaṁ rasapathaviṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā. Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā rasapathavī antaradhāyi. Rasapathaviyā antarahitāya bhūmipappaṭako pāturahosi. So ahosi vaṇṇasampanno gandhasampanno rasasampanno. Te mayaṁ bhūmipappaṭakaṁ upakkamimha paribhuñjituṁ. Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā. Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā bhūmipappaṭako antaradhāyi. Bhūmipappaṭake antarahite padālatā pāturahosi. Sā ahosi vaṇṇasampannā gandhasampannā rasasampannā. Te mayaṁ padālataṁ upakkamimha paribhuñjituṁ. Te mayaṁ taṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā. Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā padālatā antaradhāyi. Padālatāya antarahitāya akaṭṭhapāko sāli pāturahosi akaṇo athuso suddho sugandho taṇḍulapphalo. Yaṁ taṁ sāyaṁ sāyamāsāya āharāma, pāto taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ. Yaṁ taṁ pāto pātarāsāya āharāma, sāyaṁ taṁ hoti pakkaṁ paṭivirūḷhaṁ. Nāpadānaṁ paññāyittha. Te mayaṁ akaṭṭhapākaṁ sāliṁ paribhuñjantā tambhakkhā tadāhārā ciraṁ dīghamaddhānaṁ aṭṭhamhā. Tesaṁ no pāpakānaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pātubhāvā kaṇopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, thusopi taṇḍulaṁ pariyonandhi, lūnampi nappaṭivirūḷhaṁ, apadānaṁ paññāyittha, saṇḍasaṇḍā sālayo ṭhitā. Yannūna mayaṁ sāliṁ vibhajeyyāma, mariyādaṁ ṭhapeyyāmā’ti. Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sāliṁ vibhajiṁsu, mariyādaṁ ṭhapesuṁ.
Then those beings gathered together and bemoaned, ‘Oh, how wicked things have appeared among beings! For we used to be mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and we remained like that for a very long time. After a very long period had passed, the earth’s nectar curdled in the water. But due to bad, unskillful things among us, the earth’s nectar vanished, then the ground-fungus vanished, the bursting pods vanished, and now the rice grains have become wrapped in powder and husk, it doesn’t grow back after reaping, traces are left showing, and the rice stands in clumps. We’d better divide up the rice and lay down boundaries.’ So that’s what they did.
128. Này Vāseṭṭha, khi ấy các chúng sanh ấy đã tụ họp lại. Sau khi tụ họp, họ đã than vãn rằng: ‘Thưa các ngài, thật vậy, các pháp ác đã xuất hiện giữa các chúng sanh. Trước đây, chúng ta do tâm tạo thành, lấy hỷ làm thức ăn, tự thân có ánh sáng, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và đã tồn tại trong một thời gian dài. Đối với chúng ta, sau một thời gian dài, vào một lúc nào đó, vị đất đã lan tỏa trong nước. Vị đất ấy có màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Chúng ta đã bắt đầu dùng tay vốc vị đất lên để ăn. Khi chúng ta bắt đầu dùng tay vốc vị đất lên để ăn, ánh sáng tự thân của chúng ta đã biến mất. Khi ánh sáng tự thân biến mất, mặt trăng và mặt trời đã xuất hiện. Khi mặt trăng và mặt trời xuất hiện, các vì sao và tinh tú đã xuất hiện. Khi các vì sao và tinh tú xuất hiện, ngày và đêm đã được biết đến. Khi ngày và đêm được biết đến, tháng và nửa tháng đã được biết đến. Khi tháng và nửa tháng được biết đến, mùa và năm đã được biết đến. Chúng ta ăn vị đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm vật thực, và đã tồn tại trong một thời gian dài. Do sự xuất hiện của các pháp ác, bất thiện, vị đất của chúng ta đã biến mất. Khi vị đất biến mất, lớp vỏ đất đã xuất hiện. Lớp vỏ đất ấy có màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Chúng ta đã bắt đầu ăn lớp vỏ đất. Chúng ta ăn lớp vỏ đất, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm vật thực, và đã tồn tại trong một thời gian dài. Do sự xuất hiện của các pháp ác, bất thiện, lớp vỏ đất của chúng ta đã biến mất. Khi lớp vỏ đất biến mất, loại dây leo padālatā đã xuất hiện. Loại dây leo ấy có màu sắc, hương thơm, và mùi vị. Chúng ta đã bắt đầu ăn loại dây leo padālatā. Chúng ta ăn loại dây leo padālatā, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm vật thực, và đã tồn tại trong một thời gian dài. Do sự xuất hiện của các pháp ác, bất thiện, loại dây leo padālatā của chúng ta đã biến mất. Khi loại dây leo padālatā biến mất, lúa sāli tự mọc, không cần cày cấy, không có tấm, không có trấu, trong sạch, thơm tho, chỉ có hạt gạo, đã xuất hiện. Những gì chúng ta lấy về vào buổi chiều để ăn tối, đến sáng hôm sau nó đã chín và mọc lại. Những gì chúng ta lấy về vào buổi sáng để ăn sáng, đến chiều hôm sau nó đã chín và mọc lại. Không có dấu vết gặt hái nào được biết đến. Chúng ta ăn lúa sāli không cần cày cấy, lấy đó làm thức ăn, lấy đó làm vật thực, và đã tồn tại trong một thời gian dài. Do sự xuất hiện của các pháp ác, bất thiện, tấm cũng bao bọc hạt gạo, trấu cũng bao bọc hạt gạo; chỗ đã gặt cũng không mọc lại, dấu vết gặt hái đã hiện rõ, và lúa sāli chỉ mọc thành từng cụm. Hay là chúng ta hãy phân chia lúa sāli và thiết lập ranh giới!’ Này Vāseṭṭha, khi ấy các chúng sanh ấy đã phân chia lúa sāli và thiết lập ranh giới.
Atha kho, vāseṭṭha, aññataro satto lolajātiko sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji.
Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ: ‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi. Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti.
‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paccassosi. Dutiyampi kho, vāseṭṭha, so satto …pe… tatiyampi kho, vāseṭṭha, so satto sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñji. Tamenaṁ aggahesuṁ, gahetvā etadavocuṁ: ‘pāpakaṁ vata, bho satta, karosi, yatra hi nāma sakaṁ bhāgaṁ parirakkhanto aññataraṁ bhāgaṁ adinnaṁ ādiyitvā paribhuñjasi. Māssu, bho satta, punapi evarūpamakāsī’ti. Aññe pāṇinā pahariṁsu, aññe leḍḍunā pahariṁsu, aññe daṇḍena pahariṁsu. Tadagge kho, vāseṭṭha, adinnādānaṁ paññāyati, garahā paññāyati, musāvādo paññāyati, daṇḍādānaṁ paññāyati.
Now, one of those beings was reckless. While guarding their own share they took another’s share without it being given, and ate it.
They grabbed the one who had done this and said, ‘You have done a bad thing, good being, in that while guarding your own share you took another’s share without it being given, and ate it. Do not do such a thing again.’
‘Yes, worthy sirs,’ replied that being. But for a second time … For a third time they did the same thing, and were told not to continue. And then they struck that being, some with fists, others with stones, and still others with rods. From that day on stealing was found, and blame, and lying, and the taking up of rods.
129. Này Vāseṭṭha, khi ấy, có một chúng sanh có tánh tham lam, trong khi giữ gìn phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho rồi ăn. Họ đã bắt lấy người ấy. Sau khi bắt, họ đã nói điều này: ‘Thưa ngài chúng sanh, ngài đã làm một việc xấu xa, vì ngài trong khi giữ gìn phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho rồi ăn. Thưa ngài chúng sanh, xin đừng làm việc như vậy một lần nữa.’ Này Vāseṭṭha, chúng sanh ấy đã vâng lời các chúng sanh kia rằng: ‘Vâng, thưa các ngài.’ Này Vāseṭṭha, lần thứ hai, chúng sanh ấy... Này Vāseṭṭha, lần thứ ba, chúng sanh ấy trong khi giữ gìn phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho rồi ăn. Họ đã bắt lấy người ấy. Sau khi bắt, họ đã nói điều này: ‘Thưa ngài chúng sanh, ngài đã làm một việc xấu xa, vì ngài trong khi giữ gìn phần của mình, đã lấy phần của người khác không được cho rồi ăn. Thưa ngài chúng sanh, xin đừng làm việc như vậy một lần nữa.’ Một số người đã đánh bằng tay, một số người đã ném bằng đất cục, một số người đã đánh bằng gậy. Này Vāseṭṭha, kể từ đó, việc lấy của không cho được biết đến, sự khiển trách được biết đến, lời nói dối được biết đến, việc dùng hình phạt được biết đến.
Vua Mahāsammata
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā sannipatiṁsu, sannipatitvā anutthuniṁsu: ‘pāpakā vata bho dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati. Yannūna mayaṁ ekaṁ sattaṁ sammanneyyāma, yo no sammā khīyitabbaṁ khīyeyya, sammā garahitabbaṁ garaheyya, sammā pabbājetabbaṁ pabbājeyya. Mayaṁ panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti.
Then those beings gathered together and bemoaned, ‘Oh, how wicked things have appeared among beings, in that stealing is found, and blaming and lying and the taking up of rods! Why don’t we elect one being who would rightly accuse those who deserve it, blame those who deserve it, and expel those who deserve it? We shall pay them with a share of rice.’
130. Này Vāseṭṭha, khi ấy các chúng sanh ấy đã tụ họp lại. Sau khi tụ họp, họ đã than vãn rằng: ‘Thưa các ngài, thật vậy, các pháp ác đã xuất hiện giữa các chúng sanh, vì nay việc lấy của không cho sẽ được biết đến, sự khiển trách sẽ được biết đến, lời nói dối sẽ được biết đến, việc dùng hình phạt sẽ được biết đến. Hay là chúng ta hãy bầu lên một chúng sanh, người mà sẽ khiển trách đúng đắn người đáng bị khiển trách, sẽ quở trách đúng đắn người đáng bị quở trách, sẽ trục xuất đúng đắn người đáng bị trục xuất. Và chúng ta sẽ cấp cho vị ấy một phần lúa sāli.’
Atha kho te, vāseṭṭha, sattā yo nesaṁ satto abhirūpataro ca dassanīyataro ca pāsādikataro ca mahesakkhataro ca taṁ sattaṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘ehi, bho satta, sammā khīyitabbaṁ khīya, sammā garahitabbaṁ garaha, sammā pabbājetabbaṁ pabbājehi. Mayaṁ pana te sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadassāmā’ti. ‘Evaṁ, bho’ti kho, vāseṭṭha, so satto tesaṁ sattānaṁ paṭissuṇitvā sammā khīyitabbaṁ khīyi, sammā garahitabbaṁ garahi, sammā pabbājetabbaṁ pabbājesi. Te panassa sālīnaṁ bhāgaṁ anuppadaṁsu.
Then those beings approached the being among them who was most attractive, good-looking, lovely, and illustrious, and said, ‘Come, good being, rightly accuse those who deserve it, blame those who deserve it, and banish those who deserve it. We shall pay you with a share of rice.’ ‘Yes, worthy sirs,’ replied that being. They acted accordingly, and were paid with a share of rice.
Này Vāseṭṭha, khi ấy, các chúng sanh ấy đã đi đến gặp chúng sanh nào trong số họ có dung sắc xinh đẹp hơn, đáng ưa nhìn hơn, đáng kính mến hơn, và có quyền lực lớn hơn, rồi nói lời này: ‘Này bạn hữu chúng sanh, hãy đến đây. Người đáng bị khiển trách, hãy khiển trách một cách đúng đắn. Người đáng bị chỉ trích, hãy chỉ trích một cách đúng đắn. Người đáng bị trục xuất, hãy trục xuất một cách đúng đắn. Còn chúng tôi sẽ cấp cho bạn một phần lúa sāli.’ Này Vāseṭṭha, chúng sanh ấy đã đáp lại các chúng sanh kia rằng: ‘Thưa các bạn hữu, xin vâng.’ Rồi vị ấy đã khiển trách một cách đúng đắn người đáng bị khiển trách, đã chỉ trích một cách đúng đắn người đáng bị chỉ trích, đã trục xuất một cách đúng đắn người đáng bị trục xuất. Và họ đã cấp cho vị ấy một phần lúa sāli.
Mahājanasammatoti kho, vāseṭṭha, ‘mahāsammato, mahāsammato’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Khettānaṁ adhipatīti kho, vāseṭṭha, ‘khattiyo, khattiyo’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Dhammena pare rañjetīti kho, vāseṭṭha, ‘rājā, rājā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa khattiyamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ. Sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ. Dhammeneva, no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
‘Elected by the populace’, Vāseṭṭha, is the meaning of ‘popularly elected’, the first term applied to them.
‘Lord of the fields’ is the meaning of ‘aristocrat’, the second term applied to them.
‘They please others with principle’ is the meaning of ‘king’, the third term applied to them.
And that, Vāseṭṭha, is how the ancient primordial terms for the circle of aristocrats were created; for those very beings, not others; for those like them, not unlike; by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
131. Này Vāseṭṭha, vì được số đông quần chúng tôn lên, nên danh xưng đầu tiên ‘Mahāsammata, Mahāsammata’ (Vị được số đông tôn lên) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, vì là chủ nhân của các thửa ruộng, nên danh xưng thứ hai ‘Khattiya, Khattiya’ (Sát-đế-lỵ) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, vì làm cho những người khác hài lòng đúng theo Chánh pháp, nên danh xưng thứ ba ‘Rājā, Rājā’ (Vua) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, như vậy, sự xuất hiện của giai cấp Sát-đế-lỵ này là do danh xưng cổ xưa, có từ lúc ban đầu, chỉ dành cho chính các chúng sanh ấy, không phải cho những chúng sanh khác; chỉ dành cho những chúng sanh tương tự, không phải cho những chúng sanh không tương tự; chỉ đúng theo Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, quả thật Chánh pháp là tối thượng giữa dân chúng này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Giai cấp Bà-la-môn
Atha kho tesaṁ, vāseṭṭha, sattānaṁyeva ekaccānaṁ etadahosi: ‘pāpakā vata, bho, dhammā sattesu pātubhūtā, yatra hi nāma adinnādānaṁ paññāyissati, garahā paññāyissati, musāvādo paññāyissati, daṇḍādānaṁ paññāyissati, pabbājanaṁ paññāyissati. Yannūna mayaṁ pāpake akusale dhamme vāheyyāmā’ti. Te pāpake akusale dhamme vāhesuṁ.
Pāpake akusale dhamme vāhentīti kho, vāseṭṭha, ‘brāhmaṇā, brāhmaṇā’ tveva paṭhamaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Te araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā. Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu: ‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭiyo karitvā paṇṇakuṭīsu jhāyanti, vītaṅgārā vītadhūmā pannamusalā sāyaṁ sāyamāsāya pāto pātarāsāya gāmanigamarājadhāniyo osaranti ghāsamesamānā. Te ghāsaṁ paṭilabhitvā punadeva araññāyatane paṇṇakuṭīsu jhāyantī’ti,
jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘jhāyakā, jhāyakā’ tveva dutiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ.
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti.
Tamenaṁ manussā disvā evamāhaṁsu: ‘ime kho, bho, sattā araññāyatane paṇṇakuṭīsu taṁ jhānaṁ anabhisambhuṇamānā gāmasāmantaṁ nigamasāmantaṁ osaritvā ganthe karontā acchanti, na dānime jhāyantī’ti.
Na dānime jhāyantīti kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā, ajjhāyakā’ tveva tatiyaṁ akkharaṁ upanibbattaṁ. Hīnasammataṁ kho pana, vāseṭṭha, tena samayena hoti, tadetarahi seṭṭhasammataṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa brāhmaṇamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ, anaññesaṁ sadisānaṁyeva no asadisānaṁ dhammeneva, no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Then some of those same beings thought, ‘Oh, how wicked things have appeared among beings, in that stealing is found, and blaming and lying and the taking up of rods and banishment! Why don’t we set aside bad, unskillful things?’ So that’s what they did.
‘They set aside bad, unskillful things’ is the meaning of ‘brahmin’, the first term applied to them.
They built leaf huts in a wilderness region where they meditated pure and bright, without lighting cooking fires or digging the soil. They came down at daybreak for breakfast and at dusk for supper to the village, town, or royal capital seeking a meal. When they had obtained food they continued to meditate in the leaf huts.
When people noticed this they said, ‘These beings build leaf huts in a wilderness region where they meditate pure and bright, without lighting cooking fires or digging the soil. They come down at daybreak for breakfast and at dusk for supper to the village, town, or royal capital seeking a meal. When they have obtained food they continue to meditate in the leaf huts.’
‘They meditate’ is the meaning of ‘meditator’, the second term applied to them.
But some of those beings were unable to keep up with their meditation in the leaf huts in the wilderness. They came down to the neighborhood of a village or town where they dwelt compiling texts.
When people noticed this they said, ‘These beings were unable to keep up with their meditation in the leaf huts in the wilderness. They came down to the neighborhood of a village or town where they dwelt compiling texts. Now they don’t meditate.’
‘Now they don’t meditate’ is the meaning of ‘reciter’, the third term applied to them. What was deemed as worse at that time, these days is deemed as best.
And that, Vāseṭṭha, is how the ancient primordial terms for the circle of brahmins were created; for those very beings, not others; for those like them, not unlike; by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
132. Này Vāseṭṭha, khi ấy, một số chúng sanh trong bọn họ đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Thưa các bạn hữu, quả thật các pháp ác đã xuất hiện giữa các chúng sanh, vì rằng việc lấy của không cho đã được biết đến, sự chỉ trích đã được biết đến, lời nói dối đã được biết đến, việc dùng hình phạt đã được biết đến, sự trục xuất đã được biết đến. Vậy thì, chúng ta hãy loại bỏ các pháp ác, bất thiện.’ Rồi họ đã loại bỏ các pháp ác, bất thiện. Này Vāseṭṭha, vì họ loại bỏ các pháp ác, bất thiện, nên danh xưng đầu tiên ‘Brāhmaṇā, Brāhmaṇā’ (Bà-la-môn) đã khởi sanh. Họ dựng những am lá trong rừng và thiền định trong các am lá ấy, không có than hồng, không có khói, đã cất chày và cối. Vào buổi chiều, họ đi vào làng, thị trấn, và kinh thành để tìm thức ăn cho bữa chiều; vào buổi sáng, để tìm thức ăn cho bữa sáng. Sau khi nhận được thức ăn, họ lại trở về thiền định trong các am lá trong rừng. Mọi người thấy họ và nói như sau: ‘Thưa các bạn hữu, những chúng sanh này dựng những am lá trong rừng và thiền định trong các am lá ấy, không có than hồng, không có khói, đã cất chày và cối. Vào buổi chiều, họ đi vào làng, thị trấn, và kinh thành để tìm thức ăn cho bữa chiều; vào buổi sáng, để tìm thức ăn cho bữa sáng. Sau khi nhận được thức ăn, họ lại trở về thiền định trong các am lá trong rừng.’ Này Vāseṭṭha, vì họ thiền định, nên danh xưng thứ hai ‘Jhāyakā, Jhāyakā’ (những người thiền định) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, trong số các chúng sanh ấy, có một số không thể thành tựu việc thiền định ấy trong các am lá trong rừng, nên họ đi đến vùng lân cận của làng hoặc thị trấn và sống bằng cách biên soạn các kinh sách. Mọi người thấy họ và nói như sau: ‘Thưa các bạn hữu, những chúng sanh này không thể thành tựu việc thiền định ấy trong các am lá trong rừng, nên họ đi đến vùng lân cận của làng hoặc thị trấn và sống bằng cách biên soạn các kinh sách. Bây giờ họ không còn thiền định nữa.’ Này Vāseṭṭha, vì bây giờ họ không còn thiền định nữa, nên danh xưng thứ ba ‘Ajjhāyakā, Ajjhāyakā’ (những người tụng đọc) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, vào thời điểm ấy, việc này được xem là thấp kém, nhưng ngày nay lại được xem là cao quý. Này Vāseṭṭha, như vậy, sự xuất hiện của giai cấp Bà-la-môn này là do danh xưng cổ xưa, có từ lúc ban đầu, chỉ dành cho chính các chúng sanh ấy, không phải cho những chúng sanh khác; chỉ dành cho những chúng sanh tương tự, không phải cho những chúng sanh không tương tự; chỉ đúng theo Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, quả thật Chánh pháp là tối thượng giữa dân chúng này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Giai cấp Vessa
Tesaṁyeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ekacce sattā methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojesuṁ.
Methunaṁ dhammaṁ samādāya visukammante payojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa vessamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaññeva sattānaṁ anaññesaṁ sadisānaṁyeva, no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Some of those same beings, taking up an active sex life, applied themselves to various jobs.
‘Having taken up an active sex life, they apply themselves to various jobs’ is the meaning of ‘peasant’, the term applied to them.
And that, Vāseṭṭha, is how the ancient primordial term for the circle of peasants was created; for those very beings, not others; for those like them, not unlike; by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
133. Này Vāseṭṭha, trong số các chúng sanh ấy, có một số đã chấp nhận đời sống hôn nhân và dấn thân vào các ngành nghề khác nhau. Này Vāseṭṭha, vì họ chấp nhận đời sống hôn nhân và dấn thân vào các ngành nghề khác nhau, nên danh xưng ‘Vessā, Vessā’ (Phệ-xá) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, như vậy, sự xuất hiện của giai cấp Vessa này là do danh xưng cổ xưa, có từ lúc ban đầu, chỉ dành cho chính các chúng sanh ấy, không phải cho những chúng sanh khác; chỉ dành cho những chúng sanh tương tự, không phải cho những chúng sanh không tương tự; chỉ đúng theo Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, quả thật Chánh pháp là tối thượng giữa dân chúng này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Giai cấp Sudda
Tesaññeva kho, vāseṭṭha, sattānaṁ ye te sattā avasesā te luddācārā khuddācārā ahesuṁ.
Luddācārā khuddācārāti kho, vāseṭṭha, ‘suddā, suddā’ tveva akkharaṁ upanibbattaṁ.
Iti kho, vāseṭṭha, evametassa suddamaṇḍalassa porāṇena aggaññena akkharena abhinibbatti ahosi tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva, no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
The remaining beings lived by venal hunting and minor tasks.
‘They live by venal hunting and minor tasks’ is the meaning of ‘menial’, the term applied to them.
And that, Vāseṭṭha, is how the ancient primordial term for the circle of menials was created; for those very beings, not others; for those like them, not unlike; by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
134. Này Vāseṭṭha, trong số các chúng sanh ấy, những chúng sanh còn lại đã có hành vi tàn bạo và hành vi thấp kém. Này Vāseṭṭha, vì họ có hành vi tàn bạo và hành vi thấp kém, nên danh xưng ‘Suddā, Suddā’ (Thủ-đà-la) đã khởi sanh. Này Vāseṭṭha, như vậy, sự xuất hiện của giai cấp Sudda này là do danh xưng cổ xưa, có từ lúc ban đầu, chỉ dành cho chính các chúng sanh ấy, không phải cho những chúng sanh khác; chỉ dành cho những chúng sanh tương tự, không phải cho những chúng sanh không tương tự; chỉ đúng theo Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, quả thật Chánh pháp là tối thượng giữa dân chúng này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Ahu kho so, vāseṭṭha, samayo, yaṁ khattiyopi sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati: ‘samaṇo bhavissāmī’ti. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha …pe… suddopi kho, vāseṭṭha, sakaṁ dhammaṁ garahamāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati: ‘samaṇo bhavissāmī’ti.
Imehi kho, vāseṭṭha, catūhi maṇḍalehi samaṇamaṇḍalassa abhinibbatti ahosi, tesaṁyeva sattānaṁ anaññesaṁ, sadisānaṁyeva no asadisānaṁ, dhammeneva no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
There came a time when an aristocrat, brahmin, peasant, or menial, deprecating their own vocation, went forth from the lay life to homelessness, thinking, ‘I will be an ascetic.’
From these four circles, Vāseṭṭha, the circle of ascetics was created; for those very beings, not others; for those like them, not unlike; by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
135. Này Vāseṭṭha, đã có thời kỳ mà người dòng Sát-đế-lỵ, sau khi chê bai pháp của mình, đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia với ý nghĩ: ‘Ta sẽ trở thành một vị Sa-môn.’ Này Vāseṭṭha, người dòng Bà-la-môn cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Phệ-xá cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Thủ-đà-la cũng vậy, sau khi chê bai pháp của mình, đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia với ý nghĩ: ‘Ta sẽ trở thành một vị Sa-môn.’ Này Vāseṭṭha, từ bốn giai cấp này, sự xuất hiện của giai cấp Sa-môn đã xảy ra. Sự xuất hiện này là của chính những chúng sanh ấy, không phải của những chúng sanh khác; của những chúng sanh tương tự, không phải của những chúng sanh không tương tự; đúng theo Chánh Pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, vì Chánh Pháp là tối thượng trong chúng sanh này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Lời nói về ác hạnh, v.v.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha … suddopi kho, vāseṭṭha … samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā micchādiṭṭhiko micchādiṭṭhikammasamādāno micchādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
An aristocrat, brahmin, peasant, menial, or ascetic may do bad things by way of body, speech, and mind. They have wrong view, and they act out of that wrong view. And because of that, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.
136. Này Vāseṭṭha, người dòng Sát-đế-lỵ, sau khi thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời, thực hành ác hạnh về ý, có tà kiến, chấp thủ nghiệp tà kiến, do nhân duyên chấp thủ nghiệp tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Vāseṭṭha, người dòng Bà-la-môn cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Phệ-xá cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Thủ-đà-la cũng vậy... này Vāseṭṭha, vị Sa-môn cũng vậy, sau khi thực hành ác hạnh về thân, thực hành ác hạnh về lời, thực hành ác hạnh về ý, có tà kiến, chấp thủ nghiệp tà kiến, do nhân duyên chấp thủ nghiệp tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha … suddopi kho, vāseṭṭha … samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena sucaritaṁ caritvā vācāya sucaritaṁ caritvā manasā sucaritaṁ caritvā sammādiṭṭhiko sammādiṭṭhikammasamādāno sammādiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
An aristocrat, brahmin, peasant, menial, or ascetic may do good things by way of body, speech, and mind. They have right view, and they act out of that right view. And because of that, when their body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm.
Này Vāseṭṭha, người dòng Sát-đế-lỵ, sau khi thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời, thực hành thiện hạnh về ý, có chánh kiến, chấp thủ nghiệp chánh kiến, do nhân duyên chấp thủ nghiệp chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới. Này Vāseṭṭha, người dòng Bà-la-môn cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Phệ-xá cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Thủ-đà-la cũng vậy... này Vāseṭṭha, vị Sa-môn cũng vậy, sau khi thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời, thực hành thiện hạnh về ý, có chánh kiến, chấp thủ nghiệp chánh kiến, do nhân duyên chấp thủ nghiệp chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới.
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha … suddopi kho, vāseṭṭha … samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena dvayakārī, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī, vimissadiṭṭhiko vimissadiṭṭhikammasamādāno vimissadiṭṭhikammasamādānahetu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sukhadukkhappaṭisaṁvedī hoti.
An aristocrat, brahmin, peasant, menial, or ascetic may do mixed things by way of body, speech, and mind. They have mixed view, and they act out of that mixed view. And because of that, when their body breaks up, after death, they experience both pleasure and pain.
137. Này Vāseṭṭha, người dòng Sát-đế-lỵ, có hành vi hai mặt về thân, có hành vi hai mặt về lời, có hành vi hai mặt về ý, có tà kiến hỗn hợp, chấp thủ nghiệp tà kiến hỗn hợp, do nhân duyên chấp thủ nghiệp tà kiến hỗn hợp, sau khi thân hoại mạng chung, cảm thọ cả lạc lẫn khổ. Này Vāseṭṭha, người dòng Bà-la-môn cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Phệ-xá cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Thủ-đà-la cũng vậy... này Vāseṭṭha, vị Sa-môn cũng vậy, có hành vi hai mặt về thân, có hành vi hai mặt về lời, có hành vi hai mặt về ý, có tà kiến hỗn hợp, chấp thủ nghiệp tà kiến hỗn hợp, do nhân duyên chấp thủ nghiệp tà kiến hỗn hợp, sau khi thân hoại mạng chung, cảm thọ cả lạc lẫn khổ.
Sự tu tập các pháp trợ Bồ-đề
Khattiyopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati. Brāhmaṇopi kho, vāseṭṭha …pe… vessopi kho, vāseṭṭha … suddopi kho, vāseṭṭha … samaṇopi kho, vāseṭṭha, kāyena saṁvuto vācāya saṁvuto manasā saṁvuto sattannaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanamanvāya diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
An aristocrat, brahmin, peasant, menial, or ascetic who is restrained in body, speech, and mind, and develops the seven qualities on the side of awakening, becomes extinguished in this very life.
138. Này Vāseṭṭha, người dòng Sát-đế-lỵ, sau khi phòng hộ thân, phòng hộ lời, phòng hộ ý, nhờ tu tập bảy pháp trợ Bồ-đề, đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. Này Vāseṭṭha, người dòng Bà-la-môn cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Phệ-xá cũng vậy... này Vāseṭṭha, người dòng Thủ-đà-la cũng vậy... này Vāseṭṭha, vị Sa-môn cũng vậy, sau khi phòng hộ thân, phòng hộ lời, phòng hộ ý, nhờ tu tập bảy pháp trợ Bồ-đề, đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Imesañhi, vāseṭṭha, catunnaṁ vaṇṇānaṁ yo hoti bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so nesaṁ aggamakkhāyati dhammeneva, no adhammena. Dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāyañca.
Any mendicant from these four classes who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—is said to be the foremost by virtue of principle, not against principle. For principle, Vāseṭṭha, is the best thing for people in both this life and the next.
139. Này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, vị Tỳ-khưu nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy được tuyên bố là tối thượng trong số họ, đúng theo Chánh Pháp, không phải phi pháp. Này Vāseṭṭha, vì Chánh Pháp là tối thượng trong chúng sanh này, cả trong đời này lẫn đời sau.
Brahmunā pesā, vāseṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
The divinity Sanaṅkumāra also spoke this verse:
140. Này Vāseṭṭha, Phạm thiên Sanankumāra cũng đã nói lên bài kệ này:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.
‘The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.’
‘Trong chúng sanh, người dòng Sát-đế-lỵ là tối thượng, đối với những ai nương tựa vào dòng dõi; người đầy đủ minh và hạnh, vị ấy là tối thượng giữa chư Thiên và loài người.’
Sā kho panesā, vāseṭṭha, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā, no duggītā. Subhāsitā, no dubbhāsitā. Atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā. Anumatā mayā. Ahampi, vāseṭṭha, evaṁ vadāmi—
That verse was well sung by the Divinity Sanaṅkumāra, not poorly sung; well spoken, not poorly spoken; beneficial, not harmful, and I agree with it. I also say:
Này Vāseṭṭha, bài kệ ấy đã được Phạm thiên Sanankumāra khéo nói, không phải vụng nói. Khéo thuyết, không phải vụng thuyết. Hợp với lợi ích, không phải không hợp với lợi ích. Ta cũng chấp thuận. Này Vāseṭṭha, Ta cũng nói như vậy:
Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse”ti.
The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.”
‘Trong chúng sanh, người dòng Sát-đế-lỵ là tối thượng, đối với những ai nương tựa vào dòng dõi; người đầy đủ minh và hạnh, vị ấy là tối thượng giữa chư Thiên và loài người.’
Idamavoca bhagavā. Attamanā vāseṭṭhabhāradvājā bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, Vāseṭṭha and Bhāradvāja approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Vāseṭṭha và Bhāradvāja hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Aggaññasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Khởi Thế Nhân Bổn, kinh thứ tư, kết thúc.