- Dīgha Nikāya 26
Bản dịch
DN 26 — Kinh Chuyển Luân Vương
Cakkavattisutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời Thế Tôn an trú ở Magadha (Ma-kiệt-đà) tại Matulà (Ma-du-la). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi chư Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo!”. Các vị Tỷ kheo ấy Bạch Thế Tôn: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thế Tôn giảng như sau
SC 2—Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác!
SC 3Này các Tỷ kheo, thế nào là một Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác?
SC 4Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo sống quán thân trên tự thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ … trên các tâm … sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác.
SC 5Này các Tỷ kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỷ kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại, thì Ma vương sẽ không có cơ hội để xâm nhập, không có cơ hội để nhắm vào đối tượng. Này các Tỷ kheo, chính nhờ nhiếp trì các thiện pháp làm nhân duyên mà công đức này được tăng thịnh.
SC 6PTS cs 2 Thuở xưa, này các Tỷ kheo, có Vua Chuyển luân Thánh vương tên là Daḷhanemi (Kiên-cố-niệm), là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ và đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có đầy đủ bảy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch. Vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm.
SC 7PTS cs 3 Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, vua Daḷhanemi cho gọi một người và bảo
SC 8—Này khanh, khi nào khanh thấy Thiên luân báu có lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ, thì báo cho Ta biết.
SC 9- Tâu Ðại vương, xin vâng!
SC 10Này các Tỷ kheo người ấy vâng theo lời dạy vua Daḷhanemi.
SC 11Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người ấy thấy Thiên luân báu lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ. Thấy vậy, người ấy liền đến vua Daḷhanemi, khi đến xong, liền báo cho vua biết
SC 12—Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi trời của Ngài đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ?
SC 13Này các Tỷ kheo, vua Daḷhanemi liền cho mời thái tử và nói rằng
SC 14—Này thái tử thân yêu, xe báu cõi trời của ta đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ. Ta nghe nói như sau: “Nếu xe báu cõi Trời của Chuyển luân Pháp vương lặn xuống và rời khỏi vị trí cũ, thời vua còn sống không bao lâu nữa”. Ta đã thọ hưởng dục lạc loài Người một cách đầy đủ. Nay đã đến lúc tìm cầu dục lạc chư Thiên. Này thái tử thân yêu, hãy trị vì trái đất này cho đến hải biên. Ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 15Này các Tỷ kheo, vua Daḷhanemi sau khi đã khéo đặt hoàng tử con đầu trên ngôi vương vị, liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Tỷ kheo, sau khi vị vua ẩn sĩ xuất gia bảy ngày, xe báu cõi Trời liền biến mất.
SC 16PTS cs 4 Này các Tỷ kheo, một người khác đi đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ, khi đến xong liền tâu vua Quán đảnh Sát đế lỵ
SC 17—Tâu Ðại vương, Ngài đã biết xe báu cõi Trời đa biến mất chưa?
SC 18Này các Tỷ kheo, khi vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghe tin xe báu cõi Trời đã biến mất, liền không được vui, cảm thấy sầu muộn. Rồi vua ấy đến chỗ vua ẩn sĩ ở, khi đến xong, thưa với vua ẩn sĩ
SC 19—Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời đã biến mất?
SC 20Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy, vua ẩn sĩ nói với vua Quán đảnh Sát đế lỵ
SC 21—Này thái tử thân yêu, chớ có không vui vẻ, chớ có sầu muộn. Này thái tử thân yêu, xe báu cõi Trời không phải là gia bảo tổ tiên để lại. Này thái tử thân yêu, hãy hành trì Thánh vương Chánh pháp. Sự tình này sẽ xảy ra, khi con hành trì Thánh vương Chánh pháp vào ngày rằm bố-tát, con gội đầu trai giới, đi lên lầu cao, thì xe báu cõi Trời sẽ hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận.
SC 22PTS cs 5 - Tâu Ðại vương, thế nào là Thánh vương Chánh pháp?
SC 23- Này thái tử thân yêu, con y cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ Pháp, cúng dường Pháp, tôn trọng Pháp, tự con trở thành Pháp tràng, Pháp kỳ, xem Pháp là thầy, tự trở thành người bảo vệ hợp pháp cho thứ dân, cho quân đội, cho Sát đế lỵ, cho quần thần, cho Bà la môn, cho gia chủ, cho thị dân, thôn dân, cho Sa môn, Bà la môn, cho các loài thú và loài chim. Chớ có làm gì phi pháp trong quốc độ của con. Này con thân yêu, nếu trong quốc độ của con, có những Sa môn, Bà-la-môn từ bỏ dục vọng, không phóng dật, thực thành nhẫn nhục từ ái, nhiếp phục tự kỷ, an chỉ tự kỷ, giải thoát tự kỷ, thỉnh thoảng sẽ đến với con và hỏi con: “Này Tôn giả, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện, thế nào là có tội, thế nào là không có tội, như thế nào nên thực hành, như thế nào không nên thực hành, hành động như thế nào đem lại bất lợi và đau khổ cho tôi lâu ngày, hành động như thế nào đem lại lợi ích và hạnh phúc cho tôi lâu ngày?” Con hãy nghe họ và ngăn chận họ khỏi sự bất thiện và khuyến khích họ làm điều thiện. Này con thân yêu, như vậy là Thánh vương Chánh pháp.
SC 24- Thưa vâng, tâu Ðại vương!
SC 25Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ trả lời vua ẩn sĩ và thực hành Thánh vương Chánh pháp. Khi thực hành Thánh vương Chánh pháp vào ngày rằm bố-tát, vua gội đầu trai giới, đi lên lầu cao, thì xe báu cõi Trời hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận. Thấy vậy vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghĩ rằng: “Ta được nghe nói như sau: “Quán đảnh vương Sát đế lỵ nào vào ngày rằm bố tát gội đầu trai giới, đi lên lầu cao và Thiên bảo luân hiện ra đầy đủ ngàn tăm, vành xe, trục xe và đầy đủ các bộ phận, thì vị vua ấy là Chuyển luân Thánh vương.” Như vậy ta là Chuyển luân Thánh vương”.
SC 26PTS cs 6 Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, tay trái cầm bình nước, tay mặt tưới nước trên bảo luân và nói: “Hãy lăn, này Thiên bảo luân, hãy nhiếp phục tất cả”. Xe báu lăn về hướng đông, Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn loại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thánh vương an trú, cùng với bốn loại chủng binh. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng đông đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói
SC 27—Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai. Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!
SC 28Chuyển luân Thánh vương bèn nói
SC 29—Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng theo những gì đã có để thọ hưởng!
SC 30Này các Tỷ kheo, các vị vua thù nghịch ở hướng Ðông đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương.
SC 31PTS cs 7 Này các Tỷ kheo, xe báu ấy chìm xuống biển hướng Ðông, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Nam … trở thành chư hầu Chuyển luân Thánh vương. Này các Tỷ kheo, rồi xe báu ấy chìm xuống biển hướng Nam, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Tây … trở thành chư hầu Chuyển luân Thánh vương. Này các Tỷ kheo, rồi xe báu chìm xuống biển hướng Tây, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Bắc, và Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn loại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thành vương an trú cùng với bốn loại binh chủng. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng Bắc đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói
SC 32—Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai, Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!
SC 33Chuyển luân Thánh vương bèn nói
SC 34—Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng những gì đã có để thọ hưởng!
SC 35Này các Tỷ kheo, các vua thù nghịch ở hướng Bắc đều trở thành chư hầu Chuyển luân Thánh vương.
SC 36Này các Tỷ kheo, khi xe báu ấy chinh phục quả đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô, và đứng lại như là dính liền trước cửa điện công lý, trong nội cung Chuyển luân Thánh vương và chói sáng nội cung của vua.
SC 37PTS cs 8 Này các Tỷ kheo, lần thứ hai, Chuyển luân Thánh vương … Này các Tỷ kheo, lần thứ ba Chuyển luân Thánh vương … Này các Tỷ kheo, lần thứ tư Chuyển luân Thánh vương … Này các Tỷ kheo, lần thứ năm Chuyển luân Thánh vương … Này các Tỷ kheo, lần thứ sáu Chuyển luân Thánh vương … Này các Tỷ kheo, lần thứ bảy, Chuyển luân Thánh vương sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi một người và bảo
SC 38—Này Khanh, khi nào Khanh thấy xe báu cõi Trời có lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ, thì báo cho ta biết.
SC 39- Tâu Ðại vương, xin vâng!
SC 40Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời dạy Chuyển luân Thánh vương.
SC 41Này các Tỷ kheo, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người ấy thấy xe báu cõi Trời lặn xuống một ít, có rời khỏi vị trí cũ. Thấy vậy, người ấy liền đến Chuyển luân Thánh vương, khi đến xong liền báo cho vua biết
SC 42—Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời của Ngài đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ?
SC 43Này các Tỷ kheo, Chuyển luân Thánh vương liền cho mời thái tử và nói rằng
SC 44—Này thái tử thân yêu, xe báu cõi Trời của Ta đã lặn xuống một ít, đã rời khỏi vị trí cũ. Ta nghe như sau: “Nếu Thiên bảo luân của Chuyển luân Thánh vương có lặn xuống một ít, và rời khỏi vị trí cũ, thì vua còn sống không bao lâu nữa.” Ta đã thọ hưởng dục lạc loài Người một cách đầy đủ. Nay đã đến lúc tìm cầu dục lạc chư Thiên. Này thái tử thân yêu, hãy trị vì trái đất này cho đến hải biên. Ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 45Này các Tỷ kheo, Chuyển luân Thánh vương sau khi đã khéo đặt thái tử con đầu trên ngôi vương vị, liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 46Này các Tỷ kheo, sau khi Chuyển luân Thánh vương xuất gia bảy ngày, xe báu cõi Trời ấy biến mất.
SC 47PTS cs 9 Này các Tỷ kheo, một người khác đi đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ, khi đến nơi liền tâu với vua
SC 48—Ðại vương có biết chăng, xe báu cõi Trời đã biến mất?
SC 49Này các Tỷ kheo, khi vua Quán đảnh Sát đế lỵ nghe tin xe báu cõi Trời đã biến mất, liền không được vui vẻ và cảm thấy sầu muộn. Vua ấy không đến chỗ vua ẩn sĩ và hỏi về Thánh vương Chánh pháp. Vị ấy tự cai trị quốc gia theo ý của mình. Vì cai trị quốc gia theo ý của mình, nên quốc gia không được hưng thịnh như trong thời xưa, khi các vua chúa cai trị theo Thánh vương Chánh pháp.
SC 50Này các Tỷ kheo, rồi các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú tụ họp lại, cùng đến vua Quán đảnh Sát đế lỵ và nói
SC 51—Tâu Ðại vương, vì Ðại vương cai trị quốc gia theo ý Ðại vương, nên quốc gia không được hưng thịnh, như trong thời xưa, các vua chúa cai trị theo Thánh vương Chánh pháp. Nay có các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú, chúng tôi và một số các vị khác thọ trì Thánh vương Chánh pháp. Tâu Ðại vương, nếu Ðại vương hỏi chúng tôi về Thánh vương Chánh pháp, được hỏi, chúng tôi sẽ trả lời cho Ðại vương rõ về pháp này.
SC 52PTS cs 10 Này các Tỷ kheo, rồi vua Quán đảnh Sát đế lỵ cho mời họp các vị đại thần, cận thần, tài chánh quan, các cận vệ, các thủ môn quan, các vị sống bằng bùa chú và hỏi về Thánh vương Chánh pháp. Và những vị này được hỏi, đã trả lời về Thánh vương Chánh pháp. Khi nghe họ nói xong, vị vua có sắp đặt sự hộ trì, ngăn chận, che chở, nhưng không cho người nghèo tiền của. Và vì vậy, nghèo đói được lan rộng. Vì nghèo đói được lan rộng, một người đã lấy vật không cho của những người khác, và hành động ấy được gọi là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua
SC 53—Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, hành động này được gọi là ăn trộm.
SC 54Này các Tỷ kheo, khi nghe vậy vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy
SC 55—Này Ngươi, có phải Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm?
SC 56- Tâu Ðại vương, sự thật có vậy.
- Sao lại làm vậy?
SC 57- Tâu Ðại vương, con không có gì sống!
SC 58Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ liền cho người ấy tiền của và nói
SC 59—Này Ngươi, với tiền của này Ngươi hãy tự nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, tiến hành các công việc, thực hiện sự cúng dường với công đức tối thượng cho các vị Sa môn, mà kết quả là hưởng lạc thọ hiện tại và sanh Thiên giới trong tương lai …
SC 60Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu
—Thưa vâng, Ðại vương!
SC 61PTS cs 11 Này các Tỷ kheo, rồi một người khác lấy của không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước mặt vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua
SC 62—Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.
SC 63Này các Tỷ kheo, khi nghe vậy, vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy
SC 64—Này Ngươi, có phải Ngươi lấy của không cho của những người khác không, tức là ăn trộm?
SC 65- Tâu Ðại vương, sự thật có vậy.
- Sao lại làm vậy?
SC 66- Tâu Ðại vương, con không có gì để sống!
SC 67Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ liền cho người ấy tiền của và nói
SC 68—Này Ngươi, với tiền của này, Ngươi hãy tự nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng vợ con, tiến hành các công việc, thực hiện sự cúng dường với công đức tối thắng cho các vị Sa môn, Bà la môn, mà kết quả là lạc thọ hiện tại và sanh thiên giới trong tương lai.
SC 69Này các Tỷ kheo, người ấy vâng theo lời vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu
—Thưa vâng, Ðại vương!
SC 70PTS cs 12 Này các Tỷ kheo, nhiều người nghe: “Những ai lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm, vua cho những người ấy tiền của.” Nghe vậy, họ nghĩ: “Chúng ta hãy lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.”
SC 71Này các Tỷ kheo, lại một người khác lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Người ta bắt anh ta và dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và tâu vua
SC 72—Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.
SC 73Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy vua Quán đảnh Sát đến lỵ nói với người ấy
SC 74—Này Ngươi, có phải Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm?
SC 75- Tâu Ðại vương, sự thật có vậy?
- Sao lại làm vậy?
SC 76- Tâu Ðại vương, con không có gì để sống!
SC 77Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ suy nghĩ: “Nếu ai lấy vật không cho của những người khác tức là ăn trộm và ta cho họ tiền của, thì lấy vật không cho như vậy tăng trưởng. Nay ta phải ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu nó!”
SC 78Này các Tỷ kheo, vua Quán đảnh Sát đế lỵ ra lệnh cho các người
SC 79—Này các Khanh, hãy lấy dây thật chắc, cột tay ra đàng sau với gút thật chặt, cạo đầu nó, dắt nó đi với tiếng trống khe khắt, từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, dắt nó ra khỏi cửa phía Nam, ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu nó.
SC 80- Tâu Ðại vương, thưa vâng!
SC 81Này các Tỷ kheo, các người ấy vâng theo lệnh của vua Quán đảnh Sát đế lỵ, lấy dây thật chắc cột tay ra đàng sau với gút thật chặt, cạo đầu anh ta, dắt anh ta đi với tiếng trống khe khắt, từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, dắt anh ta ra khỏi cửa phía Nam, ngăn chận triệt để người ấy, hình phạt thích đáng và chặt đầu anh ta.
SC 82PTS cs 13 Này các Tỷ kheo, nhiều người nghe: “Những ai lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm, vua ngăn chận triệt để họ, hình phạt thích đáng và chém đầu họ.”
SC 83Nghe vậy, những người ấy nghĩ: “Chúng ta hãy rèn kiếm cho thật bén, với những kiếm bén này, chúng ta sẽ lấy vật không cho của họ tức là ăn trộm, sẽ ngăn chận triệt để chúng, hình phạt thích đáng chúng và chém đầu họ”.
SC 84Những người ấy rèn kiếm bén, sau khi rèn kiếm bén xong, họ đi cướp làng, họ đi cướp thôn xóm, họ đi cướp thành, họ đi cướp đường, họ lấy vật không cho tức là ăn trộm, họ ngăn chận triệt để những người mà họ ăn trộm, hình phạt thích đáng và chém đầu những người này.
SC 85PTS cs 14 Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho người nghèo tiền của, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm được tăng thịnh; và đao kiếm được tăng thịnh, nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu; vì tuổi thọ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên loài Người tuổi thọ đến tám vạn năm và con của họ thọ bốn vạn năm.
SC 86Này các Tỷ kheo, khi loài Người thọ bốn vạn năm, một người khác lấy vật không cho tức là ăn trộm. Người ta bắt người này lại, dẫn đến trước vua Quán đảnh Sát đế lỵ và thưa
SC 87—Tâu Ðại vương, người này lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.
SC 88Này các Tỷ kheo, khi nghe nói vậy, vua Quán đảnh Sát đế lỵ nói với người ấy
SC 89—Này Ngươi, có thật Ngươi lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm không?
- Tâu Ðại vương, không!
SC 90Người ấy cố ý nói không thật.
SC 91PTS cs 15 Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm tăng thịnh; vì đao kiếm tăng thịnh nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh, vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài Người giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu; vì tuổi thọ giảm và sắc đẹp giảm thiểu, nên loài Người tuổi thọ đến bốn vạn năm và con của họ thọ hai vạn năm.
SC 92Này các Tỷ kheo, khi loài Người tuổi thọ đến hai vạn năm, một người khác lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm. Một người khác báo với vua Quán đảnh Sát đế lỵ về người ấy
SC 93—Tâu Ðại vương, người này đã lấy vật không cho của những người khác, tức là ăn trộm.
SC 94Như vậy người ấy đã bị nói xấu.
SC 95PTS cs 16 Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh … vì nói xấu được tăng nên tuổi thọ loài Người giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có hai vạn năm và con của họ chỉ có một vạn năm.
SC 96Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến một vạn năm, một số chúng sanh có sắc đẹp, một số không có sắc đẹp. Những chúng sanh không có sắc đẹp tham đắm những chúng sanh có sắc đẹp và có tà hạnh với vợ những người khác.
SC 97PTS cs 17 Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh … nên tà dâm tăng thịnh; vì tà dâm tăng thịnh nên tuổi thọ loài Người giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu, và sắc đẹp giảm thiểu nên tuổi thọ loài Người chỉ có một vạn năm và con của họ chỉ có năm ngàn năm.
SC 98Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có năm ngàn năm, thì hai pháp hưng thịnh, tức là ác khẩu và nói lời phù phiếm. Khi hai pháp này hưng thịnh, thời tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của chúng giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu nên tuổi thọ loài Người chỉ có năm ngàn năm và con của họ một số người sống hai ngàn năm trăm năm, một số người sống hai ngàn năm.
SC 99Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có hai ngàn năm trăm năm, tham và sân tăng thịnh. Vì tham và sân tăng thịnh nên tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có hai ngàn năm trăm năm và các người con chỉ có một ngàn năm.
SC 100Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có một ngàn năm thì tà kiến tăng thịnh. Vì tà kiến tăng thịnh, nên tuổi thọ các loài hữu tình giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu. Vì tuổi thọ của họ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu, nên tuổi thọ loài Người chỉ có một ngàn năm, và người con chỉ có năm trăm năm.
SC 101Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có năm trăm năm, thì ba pháp tăng thịnh: phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Khi ba pháp này tăng thịnh, thời tuổi thọ của các loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu, tuổi thọ loài Người chỉ có năm trăm năm, còn những người con, một số sống đến hai trăm năm mươi năm, một số sống đến hai trăm năm.
SC 102Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có hai trăm năm mươi năm, những pháp sau này tăng thịnh: Thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà la môn, thiếu sự kính trọng đối với các vị cầm đầu trong gia đình.
SC 103PTS cs 18 Này các Tỷ kheo, như vậy vì không cho tiền của những người nghèo, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh, nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm tăng thịnh; vì đao kiếm tăng thịnh nên sát sanh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên nói xấu tăng thịnh; vì nói xấu tăng thịnh nên tà hạnh tăng thịnh; vì tà hạnh tăng thịnh nên hai pháp tăng thịnh tức là ác khẩu và nói lời phù phiếm; vì hai pháp này tăng thịnh nên tham, sân tăng thịnh; vì tham, sân tăng thịnh nên tà kiến tăng thịnh; vì tà kiến tăng thịnh nên ba pháp tăng thịnh: phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Vì ba pháp này tăng thịnh nên các pháp sau đây tăng thịnh: thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà la môn, thiếu sự kính trọng đối với các vị cầm đầu trong gia đình. Vì những pháp này tăng thịnh nên tuổi thọ các loài hữu tình này giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu, vì tuổi thọ giảm thiểu và sắc đẹp giảm thiểu nên loài Người chỉ sống có hai trăm năm mươi năm, và những người con chỉ có một trăm năm.
SC 104PTS cs 19 Này các Tỷ kheo, một thời sẽ đến khi những người con của loài Người chỉ sống đến mười tuổi. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ mười tuổi, con gái đến năm tuổi sẽ lập gia đình. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loại Người chỉ có mười tuổi, các loại sau này sẽ biến mất, tức là tô, lạc, dầu, đường cát và muối. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, loại hột Kudrusa trở thành món ăn tối thượng. Này các Tỷ kheo, như hiện nay cháo thịt là những món ăn tối thượng, cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, loại hột Kudrusa trở thành món ăn tối thượng. Khi tuổi thọ loài người đến mười tuổi, mười thiện hạnh hoàn toàn biến mất và mười bất thiện hạnh tăng thịnh tối đa. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài người đến mười tuổi, chữ thiện cũng sẽ không còn, nói gì ai là người làm điều thiện? Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự hiếu kính đối với Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với người cầm đầu trong gia đình, những người ấy sẽ được người ta lễ bái, tán dương. Này các Tỷ kheo, như hiện nay những ai hiếu hính với cha mẹ, kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính đối với những người cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương. Cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người đến mười tuổi, những ai thiếu sự hiếu kính đối với cha mẹ, thiếu sự kính lễ đối với các vị Sa môn, Bà-la-môn, thiếu sự cung kính đối với các vị cầm đầu trong gia đình, những người ấy được người ta lễ bái tán dương.
SC 105PTS cs 20 Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, không có phân biệt mẹ hay bá mẫu hay thúc mẫu, vợ con của sư trưởng, chị dâu của cha. Thế giới rơi vào thông dâm như dê, gà, heo, chó và chó rừng. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, các loài hữu tình đối với nhau, hại tâm rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt. Mẹ đối với con, con đối với mẹ, cha đối với con, con đối với cha, anh đối với em, em đối với anh, em đối với chị, chị đối với em, hại tâm rất mãnh liệt, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt. Này các Tỷ kheo, như người thợ săn khi thấy loài thú, hại tâm rất mãnh liệt khởi lên, sân tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt khởi lên. Cũng vậy này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi, các loài hữu tình đối với nhau, hại tâm rất mãnh liệt, ác ý rất mãnh liệt, sát tâm rất mãnh liệt.
SC 106PTS cs 21 Này các tỷ kheo, khi loài Người tuổi thọ chỉ có mười tuổi đao trượng kiếp khởi lên trong bảy ngày, trong thời gian ấy họ xem nhau như loài thú, dao kiếm sắc bén hiện ra trong tay của họ. Với dao kiếm sắc bén ấy họ tàn hại mạng nhau, xem nhau như loài thú. Này các Tỷ kheo, giữa các loài hữu tình ấy, một số suy nghĩ: “Chúng ta chớ giết ai; mong đừng ai giết chúng ta. Chúng ta hãy đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi và sống với rễ và trái cây”. Họ đi vào rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi và sống với rễ và trái cây. Sau thời gian bảy ngày, họ từ rừng cỏ, rừng sâu, hang cây, sông ngòi hiểm hóc, hay kẽ núi đi ra, ôm lấy nhau, cùng nhau an ủi, khoan khoái nói với nhau: “Sung sướng thay được thấy bạn còn sống! Sung sướng thay được thấy bạn còn sống!” Này các Tỷ kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: “Vì chúng ta tạo nhân bất thiện pháp nên bà con chúng ta bị giết hại nhiều như vậy. Vậy chúng ta hãy làm điều thiện. Chúng ta làm điều thiện như thế nào? Chúng ta chớ có sát sanh. Ðó là điều thiện chúng ta có thể làm”. “Chúng ta sẽ không sát sanh”, đó là điều thiện họ làm. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ của họ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vì tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp đựoc tăng thịnh, nên tuổi thọ loài Người chỉ có mười tuổi nhưng con của họ, thọ đến hai mươi tuổi.
SC 107PTS cs 22 Này các Tỷ kheo, rồi các loài hữu tình ấy suy nghĩ: “Chúng ta nhờ hành thiện pháp làm nhân, nên tuổi thọ được tăng thịnh, sắc đẹp được tăng thịnh. Vậy chúng ta hãy làm việc thiện nhiều hơn nữa. Chúng ta hãy gìn giữ không lấy của không cho, gìn giữ không làm các tà hạnh, gìn giữ không nói láo, gìn giữ không nói hai lưỡi, gìn giữ không ác khẩu, gìn giữ không nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ tà kiến, tà bỏ ba pháp tức là phi pháp dục, phi lý tham và tà kiến. Chúng ta hãy hiếu kính cha mẹ, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu trong gia đình. Chúng ta hãy thực hành thiện pháp ấy.”
SC 108Họ hiếu kính mẹ, hiếu kính cha, kính lễ các vị Sa môn, Bà-la-môn, cung kính các vị cầm đầu ở trong gia đình, họ sẽ thực hành thiện pháp này. Do hành thiện pháp làm nhân, tuổi thọ tăng thịnh, sắc đẹp tăng thịnh. Vì tuổi thọ họ tăng thịnh và sắc đẹp tăng thịnh, tuổi thọ loài Người đến hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài người lên đến bốn mươi tuổi và các người con sẽ lên đến tám mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám mươi tuổi và các người con sẽ lên đến một trăm sáu mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến một trăm sáu mươi tuổi và các người con sẽ lên đến ba trăm hai mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến ba trăm hai mươi tuổi và các người con sẽ lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến sáu trăm bốn mươi tuổi và các con sẽ lên đến hai ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến bốn ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn ngàn tuổi và các người con sẽ lên đến tám ngàn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến tám ngàn tuổi và các con sẽ lên đên hai vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến hai vạn tuổi các người con sẽ lên đến bốn vạn tuổi. Tuổi thọ loài Người lên đến bốn vạn tuổi và các người con sẽ lên tám vạn tuổi.
SC 109PTS cs 23 Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, các người con gái đến năm trăm tuổi có thể thành lập gia đình. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, ba chứng bệnh sau đây có mặt: lòng dục, tham ăn và già. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này (Diêm phù đề) sẽ rất hùng mạnh và phong phú. Các làng mạc, tỉnh thành, kinh đô ở sát nhau đến nổi con gà gáy bên này, bên kia có thể nghe được! Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, nước Jambudìpa này như sẽ rất phồn thịnh với người Avidi (A-tỷ Ðịa ngục), giống như rừng lau hay rừng sậy. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, thành phố Bārāṇāsī này (Ba-la-nại) là kinh đô tên gọi Ketumatī, rất là hùng mạnh, phong phú, đông dân cư và ăn uống đầy đủ. Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi tại nước Jambudìpa này, sẽ có tám vạn bốn ngàn thành phố và Ketumatī sẽ là kinh đô tối thượng.
SC 110PTS cs 24 Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, ở kinh đô Ketumatī, có vị Chuyển luân Thánh vương tên là Sankha ra đời, là vị pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, cai trị các quốc độ, và đầy đủ bảy món báu, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch, vị này trị vì quả đất này cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị quốc, không dùng trượng, không dùng kiếm.
SC 111PTS cs 25 Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài Người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya sẽ ra đời, là vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; như Ta nay sanh ra ở đời này, là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Vị này tự mình biết, chứng, và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời, loài Người; như Ta hiện nay tự mình biết, chứng và tuyên thuyết quả đất này, gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, Thế giới này với Sa môn, Bà la môn, loài Trời và loài Người. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; như Ta hiện nay thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hành hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỷ kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỷ kheo Tăng đoàn vậy.
SC 112PTS cs 26 Này các Tỷ kheo, vua Sankha sẽ cho thiết lập cung điện mà vua Mahà Panāda đã thiết lập. Sau khi thiết lập, vua trú tại đó. Sau vua lại bố thí cung điện ấy, dâng cúng cho các vị Sa môn, Bà-la-môn, các hàng bần cùng, du đãng, ăn xin, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn Metteyya, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Vị này xuất gia như vậy, sống một mình, biệt lập, tinh tấn, trì chú, chuyên tâm, chẳng bao lâu chứng được vô thượng phạm hạnh, mà vì mục đích này các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Với vô thượng phạm hạnh này, ngay trong hiện tại, vị này tự tu, tự chứng, đạt đến và an trú.
SC 113PTS cs 27 Này các Tỷ kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác. Này các Tỷ kheo, thế nào là một Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên tự thân, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để diệt trừ tham ưu ở đời, trên các cảm thọ … trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, để có thể diệt trừ tham ưu ở đời. Như vậy này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, nương tựa Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
SC 114PTS cs 28 Này các Tỷ kheo, hãy đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại. Này các Tỷ kheo, nếu các Ngươi đi lại trong giới hạn được phép của mình, trong giới hạn Tổ phụ các Ngươi truyền lại thời tuổi thọ sẽ được tăng thịnh, sắc đẹp sẽ được tăng thịnh, an lạc sẽ được tăng thịnh, tài sản sẽ được tăng thịnh, thế lực sẽ được tăng thịnh.
SC 115Này các Tỷ kheo, như thế nào vị Tỷ kheo tuổi thọ được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo tu tập thần túc, đầy đủ Dục thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc, đầy đủ Tinh tấn thiền định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tâm định tinh cần hành; tu tập thần túc đầy đủ Tư duy thiền định tinh cần hành. Vị này tu tập bốn pháp thần túc này một cách tinh cần, nếu muốn sống kéo dài một kiếp hay năm còn lại của một kiếp. Này các Tỷ kheo, như vậy Ta nói vị Tỷ kheo tuổi thọ được tăng thịnh.
SC 116Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sắc đẹp được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo sống giữ giới luật, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sắc đẹp được tăng thịnh.
SC 117Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo an lạc được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ; diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ … chứng và trú Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo an lạc được tăng thịnh.
SC 118Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo tài sản được tăng thịnh? Này các Tỷ kheo, ở đây, vị Tỷ kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân, với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo, tài sản được tăng thịnh.
SC 119Này các Tỷ kheo, như thế nào là vị Tỷ kheo thế lực được tăng thịnh? Này các tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo, với sự diệt tận các lậu hoặc, tự mình biết và chứng, đạt đến an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn các lậu hoặc. Này các Tỷ kheo, như vậy là vị Tỷ kheo thế lực được tăng thịnh.
SC 120Này các Tỷ kheo, ta quán sát và thấy không có một uy lực nào khác khó nhiếp phục hơn uy lực của Ma vương. Này các Tỷ kheo, chính nhờ chấp nhận và thực hành những thiện pháp ấy mà công đức này được tăng thịnh!
SC 121Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 26
The Wheel-Turning Monarch
3. Kinh Chuyển Luân Vương
1. Attadīpasaraṇatā
Evaṁ me sutaṁ—
1. Taking Refuge in Oneself
So I have heard.
Nương tựa hải đảo tự thân
“Bhaddante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Attadīpā, bhikkhave, viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī …pe… citte cittānupassī …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
“Mendicants, live as your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge. And how does a mendicant do this? They meditate observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant lives with themselves as island and refuge, without other refuge; with the teachings as island and refuge, without other refuge.
80. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú ở xứ Magadha, tại Mātulā. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này: “Này các tỳ khưu, hãy sống với tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Pháp là hòn đảo, với Pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu sống với tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Pháp là hòn đảo, với Pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã nhiếp phục tham ưu ở đời. Quán thọ trên các thọ... ... quán tâm trên tâm... ... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các tỳ khưu, chính như vậy là vị tỳ khưu sống với tự mình là hòn đảo, tự mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Pháp là hòn đảo, với Pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác.
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. Gocare, bhikkhave, carataṁ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṁ, na lacchati māro ārammaṇaṁ. Kusalānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ samādānahetu evamidaṁ puññaṁ pavaḍḍhati.
You should roam inside your own territory, the domain of your fathers. If you roam inside your own territory, the domain of your fathers, Māra won’t find a vulnerability or get an opportunity. It is due to undertaking skillful qualities that merit grows.
“Này các tỳ khưu, hãy đi trong địa phận của mình, trong lãnh địa của tổ phụ. Này các tỳ khưu, đối với những ai đi trong địa phận của mình, trong lãnh địa của tổ phụ, Ma vương sẽ không có cơ hội, Ma vương sẽ không có đối tượng. Này các tỳ khưu, do sự thực hành các thiện pháp mà công đức này được tăng trưởng như vậy.
2. Daḷhanemicakkavattirājā
2. King Daḷhanemi
Vua Chuyển Luân Daḷhanemi
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, rājā daḷhanemi nāma ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni satta ratanāni ahesuṁ seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā ahesuṁ sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi.
Once upon a time, mendicants, there was a king named Daḷhanemi who was a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extended to all four sides, he achieved stability in the country, and he possessed the seven treasures. He had the following seven treasures: the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander as the seventh treasure. He had over a thousand sons who were valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he reigned by principle, without rod or sword.
81. “Thuở xưa, này các tỳ khưu, có vị vua tên là Daḷhanemi, là một vị Chuyển Luân Vương, đúng Pháp, là một Pháp vương, chinh phục bốn phương, đạt được sự ổn định trong xứ, đầy đủ bảy báu. Vị ấy có bảy báu này, tức là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con, dũng mãnh, có thân hình anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của đối phương. Vị ấy, sau khi chinh phục trái đất này cho đến bờ đại dương, không dùng roi, không dùng gươm, mà bằng Pháp, rồi an trú trị vì.
Atha kho, bhikkhave, rājā daḷhanemi bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena aññataraṁ purisaṁ āmantesi: ‘yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutaṁ, atha me āroceyyāsī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso rañño daḷhanemissa paccassosi.
Addasā kho, bhikkhave, so puriso bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutaṁ, disvāna yena rājā daḷhanemi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ daḷhanemiṁ etadavoca: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, dibbaṁ te cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutan’ti.
Atha kho, bhikkhave, rājā daḷhanemi jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘dibbaṁ kira me, tāta kumāra, cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutaṁ. Sutaṁ kho pana metaṁ—yassa rañño cakkavattissa dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkati ṭhānā cavati, na dāni tena raññā ciraṁ jīvitabbaṁ hotīti. Bhuttā kho pana me mānusakā kāmā, samayo dāni me dibbe kāme pariyesituṁ. Ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ paṭipajja. Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, King Daḷhanemi addressed one of his men, ‘My man, when you see that the heavenly wheel-treasure has receded back from its place, please tell me.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied that man.
After many thousand years had passed, that man saw that the heavenly wheel-treasure had receded back from its place. So he went to King Daḷhanemi and said, ‘Please Your Majesty, you should know that your heavenly wheel-treasure has receded back from its place.’
So the king summoned the crown prince and said, ‘Dear prince, my heavenly wheel-treasure has receded back from its place. I’ve heard that when this happens to a wheel-turning monarch, he does not have long to live. I have enjoyed human pleasures. Now it is time for me to seek heavenly pleasures. Come, dear prince, rule this land surrounded by ocean! I shall shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’
82. “Rồi, này các tỳ khưu, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, vua Daḷhanemi gọi một người đàn ông: ‘Này khanh, khi nào khanh thấy bánh xe báu thiêng liêng bị lún xuống, bị rời khỏi chỗ của nó, thì hãy báo cho ta biết.’ ‘Vâng, tâu thiên tử,’ này các tỳ khưu, người đàn ông ấy vâng lời vua Daḷhanemi. Này các tỳ khưu, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, người đàn ông ấy thấy bánh xe báu thiêng liêng bị lún xuống, bị rời khỏi chỗ của nó, thấy vậy, ông ta đi đến chỗ vua Daḷhanemi; sau khi đến, ông ta nói với vua Daḷhanemi điều này: ‘Xin thiên tử biết cho, bánh xe báu thiêng liêng của ngài đã bị lún xuống, đã bị rời khỏi chỗ của nó.’ Rồi, này các tỳ khưu, vua Daḷhanemi cho gọi vị thái tử trưởng và nói điều này: ‘Này con, thái tử, nghe nói bánh xe báu thiêng liêng của ta đã bị lún xuống, đã bị rời khỏi chỗ của nó. Và ta đã nghe điều này: Vị Chuyển Luân Vương nào mà bánh xe báu thiêng liêng bị lún xuống, bị rời khỏi chỗ của nó, thì vị vua ấy không còn sống được bao lâu nữa. Ta đã hưởng thụ các dục lạc của loài người, nay là lúc ta tìm kiếm các dục lạc của chư thiên. Này con, thái tử, hãy đến đây, con hãy cai quản trái đất này cho đến bờ đại dương. Còn ta, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.’
Atha kho, bhikkhave, rājā daḷhanemi jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. Sattāhapabbajite kho pana, bhikkhave, rājisimhi dibbaṁ cakkaratanaṁ antaradhāyi.
And so, after carefully instructing the crown prince in kingship, King Daḷhanemi shaved off his hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness. Seven days later the heavenly wheel-treasure vanished.
83. “Rồi, này các tỳ khưu, vua Daḷhanemi, sau khi khéo léo chỉ dạy cho vị thái tử trưởng về vương quốc, đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình. Và này các tỳ khưu, bảy ngày sau khi vị vua ẩn sĩ xuất gia, bánh xe báu thiêng liêng đã biến mất.
Atha kho, bhikkhave, aññataro puriso yena rājā khattiyo muddhābhisitto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ khattiyaṁ muddhābhisittaṁ etadavoca: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, dibbaṁ cakkaratanaṁ antarahitan’ti. Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto dibbe cakkaratane antarahite anattamano ahosi, anattamanatañca paṭisaṁvedesi. So yena rājisi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājisiṁ etadavoca: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, dibbaṁ cakkaratanaṁ antarahitan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, rājisi rājānaṁ khattiyaṁ muddhābhisittaṁ etadavoca: ‘mā kho tvaṁ, tāta, dibbe cakkaratane antarahite anattamano ahosi, mā anattamanatañca paṭisaṁvedesi, na hi te, tāta, dibbaṁ cakkaratanaṁ pettikaṁ dāyajjaṁ. Iṅgha tvaṁ, tāta, ariye cakkavattivatte vattāhi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ te ariye cakkavattivatte vattamānassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pātubhavissati sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūran’ti.
Then a certain man approached the newly anointed aristocrat king and said, ‘Please Your Majesty, you should know that the heavenly wheel-treasure has vanished.’ At that the king was unhappy and experienced unhappiness. He went to the royal seer and said, ‘Please Your Majesty, you should know that the heavenly wheel-treasure has vanished.’
When he said this, the royal seer said to him, ‘Don’t be unhappy at the vanishing of the wheel-treasure. My dear, the wheel-treasure is not inherited from your father. Come now, my dear, proceed in the noble duty of a wheel-turning monarch. If you do so, it’s possible that—on a fifteenth day sabbath, having bathed your head and gone upstairs in the royal longhouse to observe the sabbath—the heavenly wheel-treasure will appear to you, with a thousand spokes, with rim and hub, complete in every detail.’
“Rồi, này các tỳ khưu, một người đàn ông đi đến chỗ vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh; sau khi đến, ông ta nói với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh điều này: ‘Xin thiên tử biết cho, bánh xe báu thiêng liêng đã biến mất.’ Rồi, này các tỳ khưu, vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, khi bánh xe báu thiêng liêng biến mất, đã không hài lòng, và cảm thấy không hài lòng. Vị ấy đi đến chỗ vị vua ẩn sĩ; sau khi đến, nói với vị vua ẩn sĩ điều này: ‘Xin thiên tử biết cho, bánh xe báu thiêng liêng đã biến mất.’ Khi được nói vậy, này các tỳ khưu, vị vua ẩn sĩ nói với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh điều này: ‘Này con, con chớ không hài lòng khi bánh xe báu thiêng liêng biến mất, và chớ cảm thấy không hài lòng. Này con, bánh xe báu thiêng liêng không phải là tài sản thừa kế từ cha của con. Này con, hãy đến, con hãy thực hành bổn phận cao quý của Chuyển Luân Vương. Có khả năng rằng, khi con thực hành bổn phận cao quý của Chuyển Luân Vương, vào ngày trai giới mười lăm, sau khi gội đầu, giữ trai giới, ở trên lầu cao của cung điện, bánh xe báu thiêng liêng sẽ xuất hiện, có một ngàn căm xe, với vành xe, với trục xe, đầy đủ mọi phương diện.’
2.1. Cakkavattiariyavatta
2.1. The Noble Duty of a Wheel-Turning Monarch
Bổn Phận Cao Quý của Chuyển Luân Vương
‘Katamaṁ pana taṁ, deva, ariyaṁ cakkavattivattan’ti?
‘Tena hi tvaṁ, tāta, dhammaṁyeva nissāya dhammaṁ sakkaronto dhammaṁ garuṁ karonto dhammaṁ mānento dhammaṁ pūjento dhammaṁ apacāyamāno dhammaddhajo dhammaketu dhammādhipateyyo dhammikaṁ rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahassu antojanasmiṁ balakāyasmiṁ khattiyesu anuyantesu brāhmaṇagahapatikesu negamajānapadesu samaṇabrāhmaṇesu migapakkhīsu. Mā ca te, tāta, vijite adhammakāro pavattittha. Ye ca te, tāta, vijite adhanā assu, tesañca dhanamanuppadeyyāsi.
Ye ca te, tāta, vijite samaṇabrāhmaṇā madappamādā paṭiviratā khantisoracce niviṭṭhā ekamattānaṁ damenti, ekamattānaṁ samenti, ekamattānaṁ parinibbāpenti, te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripuccheyyāsi pariggaṇheyyāsi: “kiṁ, bhante, kusalaṁ, kiṁ akusalaṁ, kiṁ sāvajjaṁ, kiṁ anavajjaṁ, kiṁ sevitabbaṁ, kiṁ na sevitabbaṁ, kiṁ me karīyamānaṁ dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya assa, kiṁ vā pana me karīyamānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya assā”ti? Tesaṁ sutvā yaṁ akusalaṁ taṁ abhinivajjeyyāsi, yaṁ kusalaṁ taṁ samādāya vatteyyāsi.
Idaṁ kho, tāta, taṁ ariyaṁ cakkavattivattan’ti.
‘But Your Majesty, what is the noble duty of a wheel-turning monarch?’
‘Well then, my dear, relying only on principle—honoring, respecting, and venerating principle, having principle as your flag, banner, and authority—provide just protection and security for your court, troops, aristocrats, vassals, brahmins and householders, people of town and country, ascetics and brahmins, beasts and birds. Do not let injustice prevail in the realm. Provide money to the penniless in the realm.
And there are ascetics and brahmins in the realm who refrain from intoxication and negligence, are settled in patience and gentleness, and who tame, calm, and extinguish themselves. From time to time you should go up to them and ask and learn: “Sirs, what is skillful? What is unskillful? What is blameworthy? What is blameless? What should be cultivated? What should not be cultivated? Doing what leads to my lasting harm and suffering? Doing what leads to my lasting welfare and happiness?” Having heard them, you should shun what is unskillful and proceed having undertaken what is skillful.
This is the noble duty of a wheel-turning monarch.’
84. ‘Tâu Đại vương, thế nào là thánh hạnh của Chuyển luân vương?’ ‘Này con, con hãy nương tựa vào Chánh pháp, tôn trọng Chánh pháp, cung kính Chánh pháp, quý mến Chánh pháp, cúng dường Chánh pháp, vâng phục Chánh pháp. Hãy lấy Chánh pháp làm ngọn cờ, lấy Chánh pháp làm biểu tượng, lấy Chánh pháp làm chủ tể. Con hãy sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Chánh pháp cho nội tộc, cho quân đội, cho các vua chư hầu, cho Bà-la-môn và gia chủ, cho dân chúng thị thành và thôn quê, cho các Sa-môn và Bà-la-môn, cho đến các loài thú và chim. Và này con, chớ để điều phi pháp khởi lên trong vương quốc của con. Và này con, những ai trong vương quốc của con không có tài sản, con hãy cấp tài sản cho họ. Và này con, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào trong vương quốc của con đã từ bỏ sự say đắm và buông lung, vững trú trong nhẫn nại và hòa nhã, tự điều phục, tự an tịnh, tự đạt đến tịch tịnh, con hãy thỉnh thoảng đến gần các vị ấy để hỏi han, tìm hiểu: ‘Thưa các ngài, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội, thế nào là không có tội? Điều gì nên thực hành, điều gì không nên thực hành? Khi con làm điều gì thì sẽ dẫn đến bất hạnh, đau khổ lâu dài? Hay khi con làm điều gì thì sẽ dẫn đến hạnh phúc, an lạc lâu dài?’ Sau khi nghe họ, con hãy từ bỏ những gì là bất thiện, và hãy tiếp nhận và thực hành những gì là thiện. Này con, đó chính là thánh hạnh của Chuyển luân vương.’
2.2. Cakkaratanapātubhāva
2.2. The Wheel-Treasure Appears
Sự Xuất Hiện Của Báu Vật Bánh Xe
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto rājisissa paṭissutvā ariye cakkavattivatte vatti.
Tassa ariye cakkavattivatte vattamānassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ. Disvāna rañño khattiyassa muddhābhisittassa etadahosi: ‘sutaṁ kho pana metaṁ—yassa rañño khattiyassa muddhābhisittassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pātubhavati sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ, so hoti rājā cakkavattīti. Assaṁ nu kho ahaṁ rājā cakkavattī’ti.
‘Yes, Your Majesty,’ replied the new king to the royal seer. And he proceeded in the noble duty of a wheel-turning monarch.
While he was proceeding in that duty, on a fifteenth day sabbath, he had bathed his head and gone upstairs in the royal longhouse to observe the sabbath. And the heavenly wheel-treasure appeared to him, with a thousand spokes, with rim and hub, complete in every detail. Seeing this, the king thought, ‘I have heard that when the heavenly wheel-treasure appears to a king in this way, he becomes a wheel-turning monarch. Am I then a wheel-turning monarch?’
85. ‘Này các Tỳ khưu, vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sau khi vâng lời vị vua ẩn sĩ rằng: ‘Tâu Đại vương, xin vâng,’ đã thực hành thánh hạnh của Chuyển luân vương. Khi vị ấy đang thực hành thánh hạnh của Chuyển luân vương, vào ngày Bố-tát rằm (ngày thứ mười lăm), sau khi gội đầu, thọ trì Bố-tát, đang ở trên lầu cao của cung điện, báu vật bánh xe thiêng liêng liền xuất hiện, có một ngàn căm xe, có vành xe, có trục xe, đầy đủ mọi phương diện. Sau khi thấy vậy, vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta đã từng nghe rằng: Vị vua Sát-đế-lỵ nào đã làm lễ quán đảnh, vào ngày Bố-tát rằm, sau khi gội đầu, thọ trì Bố-tát, đang ở trên lầu cao của cung điện, mà báu vật bánh xe thiêng liêng xuất hiện, có một ngàn căm xe, có vành xe, có trục xe, đầy đủ mọi phương diện, vị ấy sẽ là một vị vua Chuyển luân. Vậy, có lẽ nào ta chính là một vị vua Chuyển luân chăng?’
Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vāmena hatthena bhiṅkāraṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena cakkaratanaṁ abbhukkiri: ‘pavattatu bhavaṁ cakkaratanaṁ, abhivijinātu bhavaṁ cakkaratanan’ti.
Then the anointed king, rising from his seat and arranging his robe over one shoulder, took a ceremonial vase in his left hand and besprinkled the wheel-treasure with his right hand, saying, ‘Roll forth, O wheel-treasure! Triumph, O wheel-treasure!’
‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt thượng y qua một bên vai, tay trái cầm bình nước, tay phải rảy nước lên báu vật bánh xe và nói: ‘Mong rằng báu vật bánh xe hãy lăn đi! Mong rằng báu vật bánh xe hãy chinh phục!’
Atha kho taṁ, bhikkhave, cakkaratanaṁ puratthimaṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā cakkavattī saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Yasmiṁ kho pana, bhikkhave, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā cakkavattī vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Ye kho pana, bhikkhave, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ cakkavattiṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti. Rājā cakkavattī evamāha: ‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ nādātabbaṁ, kāmesumicchā na caritabbā, musā na bhāsitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti.
Then the wheel-treasure rolled toward the east. And the king followed it together with his army of four divisions. In whatever place the wheel-treasure stood still, there the king came to stay together with his army. And any opposing rulers of the eastern quarter came to the wheel-turning monarch and said, ‘Come, Great King! Welcome, Great King! We are yours, Great King, instruct us.’ The wheel-turning monarch said, ‘Do not kill living creatures. Do not steal. Do not commit sexual misconduct. Do not lie. Do not drink liquor. Maintain the current level of taxation.’
‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, báu vật bánh xe ấy lăn về phương đông. Vua Chuyển luân cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này các Tỳ khưu, ở nơi nào báu vật bánh xe dừng lại, vua Chuyển luân liền hạ trại ở nơi đó cùng với bốn binh chủng. Này các Tỳ khưu, các vị vua đối địch ở phương đông đến yết kiến vua Chuyển luân và thưa rằng: ‘Xin mời Đại vương, kính chào mừng Đại vương! Đây là của Đại vương, xin Đại vương hãy cai trị.’ Vua Chuyển luân nói như sau: ‘Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà dâm trong các dục, không được nói dối, không được uống rượu và các chất say. Và hãy hưởng dụng như đã hưởng dụng trước đây.’ Này các Tỳ khưu, các vị vua đối địch ở phương đông đã trở thành chư hầu của vua Chuyển luân.
Atha kho taṁ, bhikkhave, cakkaratanaṁ puratthimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā dakkhiṇaṁ disaṁ pavatti …pe… dakkhiṇaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā pacchimaṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā cakkavattī saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Yasmiṁ kho pana, bhikkhave, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā cakkavattī vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Ye kho pana, bhikkhave, pacchimāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ cakkavattiṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti. Rājā cakkavattī evamāha: ‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ nādātabbaṁ, kāmesumicchā na caritabbā, musā na bhāsitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti. Ye kho pana, bhikkhave, pacchimāya disāya paṭirājāno, te rañño cakkavattissa anuyantā ahesuṁ.
Then the wheel-treasure, having plunged into the eastern ocean and emerged again, rolled toward the south. … Having plunged into the southern ocean and emerged again, it rolled toward the west. …
86. ‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, báu vật bánh xe ấy lặn xuống biển đông, rồi trồi lên và lăn về phương nam... (v.v.)... lặn xuống biển nam, rồi trồi lên và lăn về phương tây. Vua Chuyển luân cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này các Tỳ khưu, ở nơi nào báu vật bánh xe dừng lại, vua Chuyển luân liền hạ trại ở nơi đó cùng với bốn binh chủng. Này các Tỳ khưu, các vị vua đối địch ở phương tây đến yết kiến vua Chuyển luân và thưa rằng: ‘Xin mời Đại vương, kính chào mừng Đại vương! Đây là của Đại vương, xin Đại vương hãy cai trị.’ Vua Chuyển luân nói như sau: ‘Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà dâm trong các dục, không được nói dối, không được uống rượu và các chất say. Và hãy hưởng dụng như đã hưởng dụng trước đây.’ Này các Tỳ khưu, các vị vua đối địch ở phương tây đã trở thành chư hầu của vua Chuyển luân.
Atha kho taṁ, bhikkhave, cakkaratanaṁ pacchimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā uttaraṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā cakkavattī saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Yasmiṁ kho pana, bhikkhave, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā cakkavattī vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Ye kho pana, bhikkhave, uttarāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ cakkavattiṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti. Rājā cakkavattī evamāha: ‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ nādātabbaṁ, kāmesumicchā na caritabbā, musā na bhāsitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti. Ye kho pana, bhikkhave, uttarāya disāya paṭirājāno, te rañño cakkavattissa anuyantā ahesuṁ.
Having plunged into the western ocean and emerged again, it rolled toward the north, followed by the king together with his army of four divisions. In whatever place the wheel-treasure stood still, there the king came to stay together with his army. And any opposing rulers of the northern quarter came to the wheel-turning monarch and said, ‘Come, Great King! Welcome, Great King! We are yours, Great King, instruct us.’ The wheel-turning monarch said, ‘Do not kill living creatures. Do not steal. Do not commit sexual misconduct. Do not lie. Do not drink liquor. Maintain the current level of taxation.’ And so the rulers of the northern quarter became his vassals.
87. Này các Tỳ khưu, bấy giờ, bánh xe báu ấy, sau khi đã đi vào biển phía tây rồi trồi lên, đã lăn về phương bắc. Vua Chuyển Luân cũng đi theo ngay sau cùng với bốn binh chủng. Này các Tỳ khưu, ở vùng nào bánh xe báu dừng lại, vua Chuyển Luân cùng với bốn binh chủng đã trú ngụ tại đó. Này các Tỳ khưu, các vị tiểu vương ở phương bắc đã đến yết kiến vua Chuyển Luân và tâu như sau: ‘Kính thưa Đại vương, xin ngài hãy đến! Kính thưa Đại vương, thiện lai! Kính thưa Đại vương, đây là của ngài. Kính thưa Đại vương, xin ngài hãy giáo huấn.’ Vua Chuyển Luân đã nói như sau: ‘Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà hạnh trong các dục, không được nói dối, không được uống rượu, và hãy hưởng thụ những gì đã hưởng thụ như trước.’ Này các Tỳ khưu, các vị tiểu vương ở phương bắc đã trở thành những người tùy tùng của vua Chuyển Luân.
Atha kho taṁ, bhikkhave, cakkaratanaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ abhivijinitvā tameva rājadhāniṁ paccāgantvā rañño cakkavattissa antepuradvāre atthakaraṇapamukhe akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi rañño cakkavattissa antepuraṁ upasobhayamānaṁ.
And then the wheel-treasure, having triumphed over this land surrounded by ocean, returned to the royal capital. There it stood still by the gate to the royal compound at the High Court as if fixed to an axle, illuminating the royal compound.
Này các Tỳ khưu, bấy giờ, bánh xe báu ấy, sau khi đã chinh phục trái đất có biển làm ranh giới, đã quay trở lại chính kinh thành ấy, và đứng yên tại cổng nội cung của vua Chuyển Luân, trước cửa công đường, làm vẻ vang cho nội cung của vua Chuyển Luân, dường như được gắn chặt vào trục.
3. Dutiyādicakkavattikathā
3. On Subsequent Wheel-Turning Monarchs
Câu chuyện về vị vua Chuyển Luân thứ hai và các vị kế tiếp.
Dutiyopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī …pe… tatiyopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī … catutthopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī … pañcamopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī … chaṭṭhopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī … sattamopi kho, bhikkhave, rājā cakkavattī bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena aññataraṁ purisaṁ āmantesi: ‘yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutaṁ, atha me āroceyyāsī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso rañño cakkavattissa paccassosi. Addasā kho, bhikkhave, so puriso bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutaṁ. Disvāna yena rājā cakkavattī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ cakkavattiṁ etadavoca: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, dibbaṁ te cakkaratanaṁ osakkitaṁ ṭhānā cutan’ti?
And for a second time, and a third, a fourth, a fifth, a sixth, and a seventh time, a wheel-turning monarch was established in exactly the same way. And after many years the seventh wheel-turning monarch went forth, handing the realm over to the crown prince.
88. Này các Tỳ khưu, vị vua Chuyển Luân thứ hai cũng vậy... Này các Tỳ khưu, vị vua Chuyển Luân thứ ba cũng vậy... vị vua Chuyển Luân thứ tư cũng vậy... vị vua Chuyển Luân thứ năm cũng vậy... vị vua Chuyển Luân thứ sáu cũng vậy... vị vua Chuyển Luân thứ bảy cũng vậy, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, đã cho gọi một người và bảo rằng: ‘Này khanh, khi nào khanh thấy bánh xe báu thiêng liêng bị trượt, bị rơi khỏi vị trí của nó, thì hãy báo cho trẫm biết.’ ‘Tâu bệ hạ, vâng ạ,’ này các Tỳ khưu, người ấy đã vâng lời vua Chuyển Luân. Này các Tỳ khưu, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, người ấy đã thấy bánh xe báu thiêng liêng bị trượt, bị rơi khỏi vị trí của nó. Sau khi thấy vậy, người ấy đã đến yết kiến vua Chuyển Luân; sau khi đến yết kiến, đã tâu với vua Chuyển Luân điều này: ‘Xin bệ hạ biết cho, bánh xe báu thiêng liêng của bệ hạ đã bị trượt, bị rơi khỏi vị trí của nó.’
Atha kho, bhikkhave, rājā cakkavattī jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘dibbaṁ kira me, tāta kumāra, cakkaratanaṁ osakkitaṁ, ṭhānā cutaṁ, sutaṁ kho pana metaṁ—yassa rañño cakkavattissa dibbaṁ cakkaratanaṁ osakkati, ṭhānā cavati, na dāni tena raññā ciraṁ jīvitabbaṁ hotīti. Bhuttā kho pana me mānusakā kāmā, samayo dāni me dibbe kāme pariyesituṁ, ehi tvaṁ, tāta kumāra, imaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ paṭipajja. Ahaṁ pana kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
89. Này các Tỳ khưu, bấy giờ, vua Chuyển Luân cho gọi thái tử trưởng và nói điều này: ‘Này con, thái tử, nghe nói bánh xe báu thiêng liêng của ta đã bị trượt, bị rơi khỏi vị trí của nó. Ta đã từng nghe rằng: Vị vua Chuyển Luân nào mà bánh xe báu thiêng liêng bị trượt, bị rơi khỏi vị trí, thì vị vua ấy không còn sống được bao lâu nữa. Ta đã hưởng thụ các dục lạc của loài người, nay đã đến lúc ta tìm cầu các dục lạc của chư thiên. Này con, thái tử, con hãy đến đây, hãy cai quản trái đất có biển làm ranh giới này. Còn ta, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’
Atha kho, bhikkhave, rājā cakkavattī jeṭṭhaputtaṁ kumāraṁ sādhukaṁ rajje samanusāsitvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. Sattāhapabbajite kho pana, bhikkhave, rājisimhi dibbaṁ cakkaratanaṁ antaradhāyi.
Seven days later the heavenly wheel-treasure vanished.
Này các Tỳ khưu, bấy giờ, vua Chuyển Luân, sau khi đã khéo léo giáo huấn thái tử trưởng về việc trị vì, đã cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Tỳ khưu, khi vị vua ẩn sĩ xuất gia được bảy ngày, bánh xe báu thiêng liêng đã biến mất.
Atha kho, bhikkhave, aññataro puriso yena rājā khattiyo muddhābhisitto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ khattiyaṁ muddhābhisittaṁ etadavoca: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, dibbaṁ cakkaratanaṁ antarahitan’ti? Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto dibbe cakkaratane antarahite anattamano ahosi. Anattamanatañca paṭisaṁvedesi; no ca kho rājisiṁ upasaṅkamitvā ariyaṁ cakkavattivattaṁ pucchi. So samateneva sudaṁ janapadaṁ pasāsati. Tassa samatena janapadaṁ pasāsato pubbenāparaṁ janapadā na pabbanti, yathā taṁ pubbakānaṁ rājūnaṁ ariye cakkavattivatte vattamānānaṁ.
Then a certain man approached the newly anointed aristocrat king and said, ‘Please Your Majesty, you should know that the heavenly wheel-treasure has vanished.’ At that the king was unhappy and experienced unhappiness. But he didn’t go to the royal seer and ask about the noble duty of a wheel-turning monarch. He just governed the country according to his own ideas. So governed, the country’s people did not prosper like before, as they had when former kings proceeded in the noble duty of a wheel-turning monarch.
90. Này các Tỳ khưu, bấy giờ, một người đàn ông đã đến yết kiến vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh; sau khi đến yết kiến, đã tâu với vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh điều này: ‘Xin bệ hạ biết cho, bánh xe báu thiêng liêng đã biến mất.’ Này các Tỳ khưu, bấy giờ, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, khi bánh xe báu thiêng liêng biến mất, đã không hài lòng. Và ngài đã cảm thấy không hài lòng; nhưng ngài đã không đến yết kiến vị vua ẩn sĩ để hỏi về bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương. Vị ấy đã cai trị đất nước chỉ theo ý riêng của mình. Do vị ấy cai trị đất nước theo ý riêng của mình, đất nước đã không phát triển thịnh vượng như trước, như dưới thời các vị vua tiền nhiệm đã hành xử theo bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương.
Atha kho, bhikkhave, amaccā pārisajjā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā mantassājīvino sannipatitvā rājānaṁ khattiyaṁ muddhābhisittaṁ etadavocuṁ: ‘na kho te, deva, samatena sudaṁ janapadaṁ pasāsato pubbenāparaṁ janapadā pabbanti, yathā taṁ pubbakānaṁ rājūnaṁ ariye cakkavattivatte vattamānānaṁ. Saṁvijjanti kho te, deva, vijite amaccā pārisajjā gaṇakamahāmattā anīkaṭṭhā dovārikā mantassājīvino mayañceva aññe ca ye mayaṁ ariyaṁ cakkavattivattaṁ dhārema. Iṅgha tvaṁ, deva, amhe ariyaṁ cakkavattivattaṁ puccha. Tassa te mayaṁ ariyaṁ cakkavattivattaṁ puṭṭhā byākarissāmā’ti.
Then the ministers and councillors, the treasurers and chief ministers, military officers, guardsmen, and professional advisers gathered and said to the king, ‘Your Majesty, when governed according to your own ideas, the country’s people do not prosper like before, as they did when former kings proceeded in the noble duty of a wheel-turning monarch. In your realm are found ministers and councillors, treasurers and chief ministers, military officers, guardsmen, and professional advisers—both ourselves and others—who remember the noble duty of a wheel-turning monarch. Please, Your Majesty, ask us about the noble duty of a wheel-turning monarch. We will answer you.’
Này các Tỳ khưu, bấy giờ, các vị đại thần, các vị hội đồng, các vị kế toán trưởng, các vị tướng lĩnh, các vị quan giữ cửa, và các vị cố vấn đã hội họp lại và tâu với vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh điều này: ‘Tâu bệ hạ, do ngài cai trị đất nước theo ý riêng của mình, đất nước đã không phát triển thịnh vượng như trước, như dưới thời các vị vua tiền nhiệm đã hành xử theo bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương. Tâu bệ hạ, trong vương quốc của ngài, có các vị đại thần, các vị hội đồng, các vị kế toán trưởng, các vị tướng lĩnh, các vị quan giữ cửa, và các vị cố vấn, chính là chúng thần và những người khác, những người ghi nhớ bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương. Xin bệ hạ hãy hỏi chúng thần về bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương. Khi được bệ hạ hỏi, chúng thần sẽ giải thích cho bệ hạ về bổn phận cao quý của một vị Chuyển Luân vương.’
4. Āyuvaṇṇādiparihānikathā
4. On the Period of Decline
Câu chuyện về sự suy giảm của tuổi thọ, sắc đẹp, v.v.
Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto amacce pārisajje gaṇakamahāmatte anīkaṭṭhe dovārike mantassājīvino sannipātetvā ariyaṁ cakkavattivattaṁ pucchi. Tassa te ariyaṁ cakkavattivattaṁ puṭṭhā byākariṁsu. Tesaṁ sutvā dhammikañhi kho rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidahi, no ca kho adhanānaṁ dhanamanuppadāsi. Adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi.
Dāliddiye vepullaṁ gate aññataro puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi. Tamenaṁ aggahesuṁ. Gahetvā rañño khattiyassa muddhābhisittassa dassesuṁ: ‘ayaṁ, deva, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto taṁ purisaṁ etadavoca: ‘saccaṁ kira tvaṁ, ambho purisa, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti?
‘Saccaṁ, devā’ti.
‘Kiṁ kāraṇā’ti?
‘Na hi, deva, jīvāmī’ti.
Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto tassa purisassa dhanamanuppadāsi: ‘iminā tvaṁ, ambho purisa, dhanena attanā ca jīvāhi, mātāpitaro ca posehi, puttadārañca posehi, kammante ca payojehi, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhāpehi sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikan’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso rañño khattiyassa muddhābhisittassa paccassosi.
So the anointed king asked the assembled ministers and councillors, treasurers and chief ministers, military officers, guardsmen, and professional advisers about the noble duty of a wheel-turning monarch. And they answered him. After listening to them, he provided just protection and security. But he did not provide money to the penniless in the realm. And so poverty grew widespread.
When poverty was widespread, a certain person stole from others, with the intention to commit theft. They arrested him and presented him to the king, saying, ‘Your Majesty, this person stole from others with the intention to commit theft.’
The king said to that person, ‘Is it really true, my man, that you stole from others with the intention to commit theft?’
‘It’s true, Your Majesty.’
‘What was the reason?’
‘Your Majesty, I can’t survive.’
So the king provided some money to that person, saying, ‘With this money, my man, keep yourself alive, and provide for your mother and father, partners and children. Work for a living, and establish an uplifting religious donation for ascetics and brahmins that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied that man.
91. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sau khi triệu tập các vị cận thần, các vị đại thần trong hội đồng, các vị đại thần kế toán, các vị chỉ huy quân đội, các vị gác cổng, và các vị cố vấn, đã hỏi về bổn phận cao quý của Chuyển Luân Vương. Khi được hỏi, họ đã giải thích cho vị vua ấy về bổn phận cao quý của Chuyển Luân Vương. Sau khi nghe họ, vị vua đã sắp đặt sự bảo vệ, che chở, phòng hộ đúng theo Chánh pháp, nhưng lại không cấp phát tài sản cho những người nghèo khó. Do tài sản không được cấp phát cho những người nghèo khó, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng, có một người đàn ông đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác. Họ đã bắt người ấy. Sau khi bắt, họ đã dẫn đến trình diện vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và thưa rằng: ‘Tâu Thiên tử, người đàn ông này đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác.’ Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã nói với người đàn ông ấy điều này: ‘Này ông kia, có thật là ông đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác không?’ – ‘Tâu Thiên tử, là sự thật.’ – ‘Vì lý do gì?’ – ‘Tâu Thiên tử, vì con không thể sinh sống được.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã cấp phát tài sản cho người đàn ông ấy và nói rằng: ‘Này ông kia, với tài sản này, ông hãy tự mình sinh sống, hãy nuôi dưỡng cha mẹ, hãy nuôi dưỡng vợ con, hãy tiến hành các công việc, và hãy thiết lập sự cúng dường hướng thượng, đưa đến cõi thiện, có quả an lạc, sanh về cõi trời đến các vị Sa-môn, Bà-la-môn.’ Này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy đã vâng lời vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh rằng: ‘Xin vâng, tâu Thiên tử.’
Aññataropi kho, bhikkhave, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi. Tamenaṁ aggahesuṁ. Gahetvā rañño khattiyassa muddhābhisittassa dassesuṁ: ‘ayaṁ, deva, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto taṁ purisaṁ etadavoca: ‘saccaṁ kira tvaṁ, ambho purisa, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti?
‘Saccaṁ, devā’ti.
‘Kiṁ kāraṇā’ti?
‘Na hi, deva, jīvāmī’ti.
Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto tassa purisassa dhanamanuppadāsi: ‘iminā tvaṁ, ambho purisa, dhanena attanā ca jīvāhi, mātāpitaro ca posehi, puttadārañca posehi, kammante ca payojehi, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhāpehi sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikan’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, so puriso rañño khattiyassa muddhābhisittassa paccassosi.
But then another man stole something from others. They arrested him and presented him to the king, saying, ‘Your Majesty, this person stole from others.’
The king said to that person, ‘Is it really true, my man, that you stole from others?’
‘It’s true, Your Majesty.’
‘What was the reason?’
‘Your Majesty, I can’t survive.’
So the king provided some money to that person, saying, ‘With this money, my man, keep yourself alive, and provide for your mother and father, partners and children. Work for a living, and establish an uplifting religious donation for ascetics and brahmins that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied that man.
Này các Tỳ khưu, lại có một người đàn ông khác đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác. Họ đã bắt người ấy. Sau khi bắt, họ đã dẫn đến trình diện vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và thưa rằng: ‘Tâu Thiên tử, người đàn ông này đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác.’ Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã nói với người đàn ông ấy điều này: ‘Này ông kia, có thật là ông đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác không?’ – ‘Tâu Thiên tử, là sự thật.’ – ‘Vì lý do gì?’ – ‘Tâu Thiên tử, vì con không thể sinh sống được.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã cấp phát tài sản cho người đàn ông ấy và nói rằng: ‘Này ông kia, với tài sản này, ông hãy tự mình sinh sống, hãy nuôi dưỡng cha mẹ, hãy nuôi dưỡng vợ con, hãy tiến hành các công việc, và hãy thiết lập sự cúng dường hướng thượng, đưa đến cõi thiện, có quả an lạc, sanh về cõi trời đến các vị Sa-môn, Bà-la-môn.’ Này các Tỳ khưu, người đàn ông ấy đã vâng lời vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh rằng: ‘Xin vâng, tâu Thiên tử.’
Assosuṁ kho, bhikkhave, manussā: ‘ye kira, bho, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyanti, tesaṁ rājā dhanamanuppadetī’ti. Sutvāna tesaṁ etadahosi: ‘yannūna mayampi paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyyāmā’ti. Atha kho, bhikkhave, aññataro puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi.
Tamenaṁ aggahesuṁ. Gahetvā rañño khattiyassa muddhābhisittassa dassesuṁ: ‘ayaṁ, deva, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto taṁ purisaṁ etadavoca: ‘saccaṁ kira tvaṁ, ambho purisa, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti?
‘Saccaṁ, devā’ti.
‘Kiṁ kāraṇā’ti?
‘Na hi, deva, jīvāmī’ti.
Atha kho, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhābhisittassa etadahosi: ‘sace kho ahaṁ yo yo paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyissati, tassa tassa dhanamanuppadassāmi, evamidaṁ adinnādānaṁ pavaḍḍhissati. Yannūnāhaṁ imaṁ purisaṁ sunisedhaṁ nisedheyyaṁ, mūlaghaccaṁ kareyyaṁ, sīsamassa chindeyyan’ti.
Atha kho, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto purise āṇāpesi: ‘tena hi, bhaṇe, imaṁ purisaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhamitvā dakkhiṇato nagarassa sunisedhaṁ nisedhetha, mūlaghaccaṁ karotha, sīsamassa chindathā’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, te purisā rañño khattiyassa muddhābhisittassa paṭissutvā taṁ purisaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhamitvā dakkhiṇato nagarassa sunisedhaṁ nisedhesuṁ, mūlaghaccaṁ akaṁsu, sīsamassa chindiṁsu.
People heard about this: ‘It seems the king is providing money to anyone who steals from others!’ It occurred to them, ‘Why don’t we steal from others?’ So then another man stole something from others.
They arrested him and presented him to the king, saying, ‘Your Majesty, this person stole from others.’
The king said to that person, ‘Is it really true, my man, that you stole from others?’
‘It’s true, Your Majesty.’
‘What was the reason?’
‘Your Majesty, I can’t survive.’
Then the king thought, ‘If I provide money to anyone who steals from others, it will only increase the stealing. I’d better make an end of this person, finish him off, and chop off his head.’
Then he ordered his men, ‘Well then, lads, tie this man’s arms tightly behind his back with a strong rope. Shave his head and march him from street to street and square to square to the beating of a harsh drum. Then take him out the south gate and make an end of him, finish him off, and chop off his head.’
‘Yes, Your Majesty,’ they replied, and did as he commanded.
92. Này các Tỳ khưu, dân chúng đã nghe rằng: ‘Này các ông, nghe nói rằng những ai lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác thì nhà vua cấp phát tài sản cho họ.’ Sau khi nghe, họ đã có ý nghĩ này: ‘Hay là chúng ta cũng nên lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, có một người đàn ông đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác. Họ đã bắt người ấy. Sau khi bắt, họ đã dẫn đến trình diện vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và thưa rằng: ‘Tâu Thiên tử, người đàn ông này đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác.’ Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã nói với người đàn ông ấy điều này: ‘Này ông kia, có thật là ông đã lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác không?’ – ‘Tâu Thiên tử, là sự thật.’ – ‘Vì lý do gì?’ – ‘Tâu Thiên tử, vì con không thể sinh sống được.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã có ý nghĩ này: ‘Nếu ta cứ cấp phát tài sản cho bất cứ ai lấy của không cho, được gọi là trộm cắp, của người khác, thì như vậy, nạn trộm cắp này sẽ gia tăng. Hay là ta nên trừng trị nghiêm khắc người đàn ông này, nên diệt trừ tận gốc, nên chặt đầu của y.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã ra lệnh cho các thuộc hạ: ‘Này các khanh, vậy thì hãy dùng dây thừng chắc trói quặt tay người đàn ông này ra sau lưng một cách chặt chẽ, hãy cạo trọc đầu y, hãy đánh trống có âm thanh chói tai, dẫn y đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, hãy đi ra bằng cổng phía nam, đến phía nam của thành phố, hãy trừng trị nghiêm khắc, hãy diệt trừ tận gốc, hãy chặt đầu của y.’ Này các Tỳ khưu, những người thuộc hạ ấy đã vâng lời vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh rằng: ‘Xin vâng, tâu Thiên tử,’ rồi họ đã dùng dây thừng chắc trói quặt tay người đàn ông ấy ra sau lưng một cách chặt chẽ, đã cạo trọc đầu y, đã đánh trống có âm thanh chói tai, dẫn y đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, đã đi ra bằng cổng phía nam, đến phía nam của thành phố, họ đã trừng trị nghiêm khắc, đã diệt trừ tận gốc, đã chặt đầu của y.
Assosuṁ kho, bhikkhave, manussā: ‘ye kira, bho, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyanti, te rājā sunisedhaṁ nisedheti, mūlaghaccaṁ karoti, sīsāni tesaṁ chindatī’ti. Sutvāna tesaṁ etadahosi: ‘yannūna mayampi tiṇhāni satthāni kārāpessāma, tiṇhāni satthāni kārāpetvā yesaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyissāma, te sunisedhaṁ nisedhessāma, mūlaghaccaṁ karissāma, sīsāni tesaṁ chindissāmā’ti. Te tiṇhāni satthāni kārāpesuṁ, tiṇhāni satthāni kārāpetvā gāmaghātampi upakkamiṁsu kātuṁ, nigamaghātampi upakkamiṁsu kātuṁ, nagaraghātampi upakkamiṁsu kātuṁ, panthaduhanampi upakkamiṁsu kātuṁ. Yesaṁ te adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyanti, te sunisedhaṁ nisedhenti, mūlaghaccaṁ karonti, sīsāni tesaṁ chindanti.
People heard about this: ‘It seems the king is chopping the head off anyone who steals from others!’ It occurred to them, ‘We’d better have sharp swords made. Then when we steal from others, we’ll make an end of them, finish them off, and chop off their heads.’ They had sharp swords made. Then they started to attack villages, towns, and cities, and to infest the highways. And they chopped the heads off anyone they stole from.
93. Này các Tỳ khưu, loài người đã nghe rằng: ‘Này quý vị, những ai lấy của không cho của người khác, được xem là trộm cắp, thì nhà vua sẽ nghiêm trị, sẽ diệt trừ tận gốc, sẽ chặt đầu họ.’ Sau khi nghe vậy, họ đã suy nghĩ rằng: ‘Hay là chúng ta cũng nên rèn các loại vũ khí sắc bén. Sau khi đã rèn các loại vũ khí sắc bén, khi chúng ta lấy của không cho của ai, chúng ta sẽ nghiêm trị họ, sẽ diệt trừ họ tận gốc, sẽ chặt đầu họ.’ Họ đã rèn các loại vũ khí sắc bén. Sau khi đã rèn các loại vũ khí sắc bén, họ bắt đầu thực hiện việc cướp phá làng mạc, cướp phá thị trấn, cướp phá thành phố, và cướp bóc trên đường. Những người bị họ lấy của không cho, họ đã nghiêm trị, diệt trừ tận gốc, và chặt đầu.
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi, dāliddiye vepullaṁ gate adinnādānaṁ vepullamagamāsi, adinnādāne vepullaṁ gate satthaṁ vepullamagamāsi, satthe vepullaṁ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi, pāṇātipāte vepullaṁ gate tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ asītivassasahassāyukānaṁ manussānaṁ cattārīsavassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, poverty became widespread. When poverty was widespread, theft became widespread. When theft was widespread, swords became widespread. When swords were widespread, killing living creatures became widespread. And for the sentient beings among whom killing was widespread, their lifespan and beauty declined. Those people lived for 80,000 years, but their children lived for 40,000 years.
94. Này các Tỳ khưu, như vậy, do tài sản không được cấp cho người nghèo, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng, việc lấy của không cho đã lan rộng. Khi việc lấy của không cho lan rộng, vũ khí đã lan rộng. Khi vũ khí lan rộng, việc sát sanh đã lan rộng. Khi việc sát sanh lan rộng, tuổi thọ và dung sắc của các chúng sanh ấy đã bị suy giảm. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị suy giảm, con cái của những người có tuổi thọ tám mươi ngàn năm đã có tuổi thọ bốn mươi ngàn năm.
Cattārīsavassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu aññataro puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi. Tamenaṁ aggahesuṁ. Gahetvā rañño khattiyassa muddhābhisittassa dassesuṁ: ‘ayaṁ, deva, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, rājā khattiyo muddhābhisitto taṁ purisaṁ etadavoca: ‘saccaṁ kira tvaṁ, ambho purisa, paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti?
‘Na hi, devā’ti sampajānamusā abhāsi.
Among the humans who lived for 40,000 years, a certain person stole something from others. They arrested him and presented him to the king, saying, ‘Your Majesty, this person stole from others.’
The king said to that person, ‘Is it really true, my man, that you stole from others?’
‘No, Your Majesty,’ he said, deliberately lying.
Này các Tỳ khưu, trong loài người có tuổi thọ bốn mươi ngàn năm, có một người kia đã lấy của không cho của người khác, được xem là trộm cắp. Người ta đã bắt giữ y. Sau khi bắt giữ, họ đã trình lên vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh: ‘Tâu Thiên tử, người này đã lấy của không cho của người khác.’ Này các Tỳ khưu, khi được nói như vậy, vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đã nói với người ấy rằng: ‘Này ông kia, có thật là ông đã lấy của không cho của người khác không?’ ‘Tâu Thiên tử, không phải vậy,’ y đã cố ý nói dối.
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi. Dāliddiye vepullaṁ gate adinnādānaṁ vepullamagamāsi, adinnādāne vepullaṁ gate satthaṁ vepullamagamāsi. Satthe vepullaṁ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi, pāṇātipāte vepullaṁ gate musāvādo vepullamagamāsi, musāvāde vepullaṁ gate tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ cattārīsavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ vīsativassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, poverty, theft, swords, and killing became widespread. When killing was widespread, lying became widespread. And for the sentient beings among whom lying was widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 40,000 years had children who lived for 20,000 years.
95. Này các Tỳ khưu, như vậy, do tài sản không được cấp cho người nghèo, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng, việc lấy của không cho đã lan rộng. Khi việc lấy của không cho lan rộng, vũ khí đã lan rộng. Khi vũ khí lan rộng, việc sát sanh đã lan rộng. Khi việc sát sanh lan rộng, việc nói dối đã lan rộng. Khi việc nói dối lan rộng, tuổi thọ và dung sắc của các chúng sanh ấy đã bị suy giảm. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị suy giảm, con cái của những người có tuổi thọ bốn mươi ngàn năm đã có tuổi thọ hai mươi ngàn năm.
Vīsativassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu aññataro puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyi. Tamenaṁ aññataro puriso rañño khattiyassa muddhābhisittassa ārocesi: ‘itthannāmo, deva, puriso paresaṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyī’ti pesuññamakāsi.
Among the humans who lived for 20,000 years, a certain person stole something from others. Someone else reported this to the king, ‘Your Majesty, the person named so-and-so stole from others,’ he said, going behind his back.
Này các Tỳ khưu, trong loài người có tuổi thọ hai mươi ngàn năm, có một người kia đã lấy của không cho của người khác, được xem là trộm cắp. Một người khác đã tâu báo với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh rằng: ‘Tâu Thiên tử, người có tên như vậy đã lấy của không cho của người khác.’ Người ấy đã nói lời đâm thọc.
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi. Dāliddiye vepullaṁ gate adinnādānaṁ vepullamagamāsi, adinnādāne vepullaṁ gate satthaṁ vepullamagamāsi, satthe vepullaṁ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi, pāṇātipāte vepullaṁ gate musāvādo vepullamagamāsi, musāvāde vepullaṁ gate pisuṇā vācā vepullamagamāsi, pisuṇāya vācāya vepullaṁ gatāya tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ vīsativassasahassāyukānaṁ manussānaṁ dasavassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, poverty, theft, swords, killing, and lying became widespread. When lying was widespread, backbiting became widespread. And for the sentient beings among whom backbiting was widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 20,000 years had children who lived for 10,000 years.
96. Này các Tỳ khưu, như vậy, do tài sản không được cấp cho người nghèo, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng, việc lấy của không cho đã lan rộng. Khi việc lấy của không cho lan rộng, vũ khí đã lan rộng. Khi vũ khí lan rộng, việc sát sanh đã lan rộng. Khi việc sát sanh lan rộng, việc nói dối đã lan rộng. Khi việc nói dối lan rộng, lời nói đâm thọc đã lan rộng. Khi lời nói đâm thọc lan rộng, tuổi thọ và dung sắc của các chúng sanh ấy đã bị suy giảm. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị suy giảm, con cái của những người có tuổi thọ hai mươi ngàn năm đã có tuổi thọ mười ngàn năm.
Dasavassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu ekidaṁ sattā vaṇṇavanto honti, ekidaṁ sattā dubbaṇṇā. Tattha ye te sattā dubbaṇṇā, te vaṇṇavante satte abhijjhāyantā paresaṁ dāresu cārittaṁ āpajjiṁsu.
Among the humans who lived for 10,000 years, some were beautiful, some were ugly. And the ugly beings, coveting the beautiful ones, had relations with the wives of others.
Này các Tỳ khưu, trong loài người có tuổi thọ mười ngàn năm, có một số chúng sanh có dung sắc xinh đẹp, và có một số chúng sanh có dung sắc xấu xí. Trong số đó, những chúng sanh có dung sắc xấu xí, do thèm muốn những chúng sanh có dung sắc xinh đẹp, đã phạm vào việc tà hạnh với vợ của người khác.
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi. Dāliddiye vepullaṁ gate …pe… kāmesumicchācāro vepullamagamāsi, kāmesumicchācāre vepullaṁ gate tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ dasavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ pañcavassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, poverty, theft, swords, killing, lying, and backbiting became widespread. When backbiting was widespread, sexual misconduct became widespread. And for the sentient beings among whom sexual misconduct was widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 10,000 years had children who lived for 5,000 years.
97. Này các Tỳ khưu, như vậy, do tài sản không được cấp cho người nghèo, sự nghèo đói đã lan rộng. Khi sự nghèo đói lan rộng... vân vân... việc tà hạnh trong các dục đã lan rộng. Khi việc tà hạnh trong các dục lan rộng, tuổi thọ và dung sắc của các chúng sanh ấy đã bị suy giảm. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị suy giảm, con cái của những người có tuổi thọ mười ngàn năm đã có tuổi thọ năm ngàn năm.
Pañcavassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu dve dhammā vepullamagamaṁsu—pharusāvācā samphappalāpo ca. Dvīsu dhammesu vepullaṁ gatesu tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ pañcavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ appekacce aḍḍhateyyavassasahassāyukā, appekacce dvevassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
Among the humans who lived for 5,000 years, two things became widespread: harsh speech and talking nonsense. For the sentient beings among whom these two things were widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 5,000 years had some children who lived for 2,500 years, while others lived for 2,000 years.
98. Này các Tỳ khưu, trong loài người có tuổi thọ năm ngàn năm, có hai pháp đã lan rộng: lời nói thô ác và lời nói phù phiếm. Khi hai pháp này lan rộng, tuổi thọ và dung sắc của các chúng sanh ấy đã bị suy giảm. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị suy giảm, trong số con cái của những người có tuổi thọ năm ngàn năm, một số có tuổi thọ hai ngàn năm trăm năm, một số có tuổi thọ hai ngàn năm.
Aḍḍhateyyavassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu abhijjhābyāpādā vepullamagamaṁsu. Abhijjhābyāpādesu vepullaṁ gatesu tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ aḍḍhateyyavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ vassasahassāyukā puttā ahesuṁ.
Among the humans who lived for 2,500 years, desire and ill will became widespread. For the sentient beings among whom desire and ill will were widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 2,500 years had children who lived for 1,000 years.
99. “Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ hai ngàn năm trăm năm, tham lam và sân hận đã trở nên phổ biến. Khi tham lam và sân hận trở nên phổ biến, tuổi thọ của các chúng sanh ấy bị giảm sút, dung sắc cũng bị giảm sút. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị giảm sút, con cái của những người có tuổi thọ hai ngàn năm trăm năm đã có tuổi thọ một ngàn năm.”
Vassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu micchādiṭṭhi vepullamagamāsi. Micchādiṭṭhiyā vepullaṁ gatāya tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ vassasahassāyukānaṁ manussānaṁ pañcavassasatāyukā puttā ahesuṁ.
Among the humans who lived for 1,000 years, wrong view became widespread. For the sentient beings among whom wrong view was widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for 1,000 years had children who lived for five hundred years.
100. “Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ một ngàn năm, tà kiến đã trở nên phổ biến. Khi tà kiến trở nên phổ biến, tuổi thọ của các chúng sanh ấy bị giảm sút, dung sắc cũng bị giảm sút. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị giảm sút, con cái của những người có tuổi thọ một ngàn năm đã có tuổi thọ năm trăm năm.”
Pañcavassasatāyukesu, bhikkhave, manussesu tayo dhammā vepullamagamaṁsu—adhammarāgo visamalobho micchādhammo. Tīsu dhammesu vepullaṁ gatesu tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ pañcavassasatāyukānaṁ manussānaṁ appekacce aḍḍhateyyavassasatāyukā, appekacce dvevassasatāyukā puttā ahesuṁ.
Among the humans who lived for five hundred years, three things became widespread: illicit desire, immoral greed, and wrong religious teachings. For the sentient beings among whom these three things were widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for five hundred years had some children who lived for two hundred and fifty years, while others lived for two hundred years.
101. “Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ năm trăm năm, ba pháp đã trở nên phổ biến: tham dục phi pháp, tham lam bất chính, và tà pháp. Khi ba pháp này trở nên phổ biến, tuổi thọ của các chúng sanh ấy bị giảm sút, dung sắc cũng bị giảm sút. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị giảm sút, trong số con cái của những người có tuổi thọ năm trăm năm, một số có tuổi thọ hai trăm năm mươi năm, một số có tuổi thọ hai trăm năm.”
Aḍḍhateyyavassasatāyukesu, bhikkhave, manussesu ime dhammā vepullamagamaṁsu. Amatteyyatā apetteyyatā asāmaññatā abrahmaññatā na kule jeṭṭhāpacāyitā.
Among the humans who lived for two hundred and fifty years, these things became widespread: lack of due respect for mother and father, ascetics and brahmins, and failure to honor the elders in the family.
“Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ hai trăm năm mươi năm, các pháp này đã trở nên phổ biến: không hiếu kính mẹ, không hiếu kính cha, không kính trọng Sa-môn, không kính trọng Bà-la-môn, không tôn trọng trưởng thượng trong gia tộc.”
Iti kho, bhikkhave, adhanānaṁ dhane ananuppadiyamāne dāliddiyaṁ vepullamagamāsi. Dāliddiye vepullaṁ gate adinnādānaṁ vepullamagamāsi. Adinnādāne vepullaṁ gate satthaṁ vepullamagamāsi. Satthe vepullaṁ gate pāṇātipāto vepullamagamāsi. Pāṇātipāte vepullaṁ gate musāvādo vepullamagamāsi. Musāvāde vepullaṁ gate pisuṇā vācā vepullamagamāsi. Pisuṇāya vācāya vepullaṁ gatāya kāmesumicchācāro vepullamagamāsi. Kāmesumicchācāre vepullaṁ gate dve dhammā vepullamagamaṁsu, pharusā vācā samphappalāpo ca. Dvīsu dhammesu vepullaṁ gatesu abhijjhābyāpādā vepullamagamaṁsu. Abhijjhābyāpādesu vepullaṁ gatesu micchādiṭṭhi vepullamagamāsi. Micchādiṭṭhiyā vepullaṁ gatāya tayo dhammā vepullamagamaṁsu, adhammarāgo visamalobho micchādhammo. Tīsu dhammesu vepullaṁ gatesu ime dhammā vepullamagamaṁsu, amatteyyatā apetteyyatā asāmaññatā abrahmaññatā na kule jeṭṭhāpacāyitā. Imesu dhammesu vepullaṁ gatesu tesaṁ sattānaṁ āyupi parihāyi, vaṇṇopi parihāyi. Tesaṁ āyunāpi parihāyamānānaṁ vaṇṇenapi parihāyamānānaṁ aḍḍhateyyavassasatāyukānaṁ manussānaṁ vassasatāyukā puttā ahesuṁ.
And so, mendicants, from not providing money to the penniless, all these things became widespread—poverty, theft, swords, killing, lying, backbiting, sexual misconduct, harsh speech and talking nonsense, desire and ill will, wrong view, illicit desire, immoral greed, and wrong religious teachings, and lack of due respect for mother and father, ascetics and brahmins, and failure to honor the elders in the family. For the sentient beings among whom these things were widespread, their lifespan and beauty declined. Those people who lived for two hundred and fifty years had children who lived for a hundred years.
102. “Này các Tỳ khưu, sự việc là như vầy: khi của cải không được cấp cho người nghèo, sự nghèo khổ đã trở nên phổ biến. Khi sự nghèo khổ trở nên phổ biến, việc trộm cắp đã trở nên phổ biến. Khi việc trộm cắp trở nên phổ biến, vũ khí đã trở nên phổ biến. Khi vũ khí trở nên phổ biến, việc sát sanh đã trở nên phổ biến. Khi việc sát sanh trở nên phổ biến, việc nói dối đã trở nên phổ biến. Khi việc nói dối trở nên phổ biến, lời nói đâm thọc đã trở nên phổ biến. Khi lời nói đâm thọc trở nên phổ biến, tà hạnh trong các dục đã trở nên phổ biến. Khi tà hạnh trong các dục trở nên phổ biến, hai pháp đã trở nên phổ biến: lời nói thô ác và lời nói vô ích. Khi hai pháp này trở nên phổ biến, tham lam và sân hận đã trở nên phổ biến. Khi tham lam và sân hận trở nên phổ biến, tà kiến đã trở nên phổ biến. Khi tà kiến trở nên phổ biến, ba pháp đã trở nên phổ biến: tham dục phi pháp, tham lam bất chính, và tà pháp. Khi ba pháp này trở nên phổ biến, các pháp này đã trở nên phổ biến: không hiếu kính mẹ, không hiếu kính cha, không kính trọng Sa-môn, không kính trọng Bà-la-môn, không tôn trọng trưởng thượng trong gia tộc. Khi các pháp này trở nên phổ biến, tuổi thọ của các chúng sanh ấy bị giảm sút, dung sắc cũng bị giảm sút. Do tuổi thọ và dung sắc của họ bị giảm sút, con cái của những người có tuổi thọ hai trăm năm mươi năm đã có tuổi thọ một trăm năm.”
5. Dasavassāyukasamaya
5. When People Live for Ten Years
Thời đại tuổi thọ mười năm
Bhavissati, bhikkhave, so samayo, yaṁ imesaṁ manussānaṁ dasavassāyukā puttā bhavissanti. Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu pañcavassikā kumārikā alaṁpateyyā bhavissanti. Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu imāni rasāni antaradhāyissanti, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ. Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu kudrūsako aggaṁ bhojanānaṁ bhavissati. Seyyathāpi, bhikkhave, etarahi sālimaṁsodano aggaṁ bhojanānaṁ; evameva kho, bhikkhave, dasavassāyukesu manussesu kudrūsako aggaṁ bhojanānaṁ bhavissati.
There will come a time, mendicants, when these people will have children who live for ten years. Among the humans who live for ten years, girls will be marriageable at five. The following flavors will disappear: ghee, butter, oil, honey, molasses, and salt. The best kind of food will be finger millet, just as fine rice with meat is the best kind of food today.
103. “Này các Tỳ khưu, sẽ có một thời điểm khi con cái của những người này có tuổi thọ mười năm. Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, các bé gái năm tuổi sẽ đủ tuổi để gả chồng. Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, các vị ngon này sẽ biến mất, đó là: bơ, bơ lỏng, dầu, mật ong, đường phèn, và muối. Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, lúa lùn sẽ là thức ăn cao quý nhất. Này các Tỳ khưu, cũng giống như hiện nay cơm nấu với thịt là thức ăn cao quý nhất; này các Tỳ khưu, cũng vậy, ở loài người có tuổi thọ mười năm, lúa lùn sẽ là thức ăn cao quý nhất.”
Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu dasa kusalakammapathā sabbena sabbaṁ antaradhāyissanti, dasa akusalakammapathā atibyādippissanti. Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu kusalantipi na bhavissati, kuto pana kusalassa kārako. Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu ye te bhavissanti amatteyyā apetteyyā asāmaññā abrahmaññā na kule jeṭṭhāpacāyino, te pujjā ca bhavissanti pāsaṁsā ca. Seyyathāpi, bhikkhave, etarahi matteyyā petteyyā sāmaññā brahmaññā kule jeṭṭhāpacāyino pujjā ca pāsaṁsā ca; evameva kho, bhikkhave, dasavassāyukesu manussesu ye te bhavissanti amatteyyā apetteyyā asāmaññā abrahmaññā na kule jeṭṭhāpacāyino, te pujjā ca bhavissanti pāsaṁsā ca.
The ten ways of doing skillful deeds will totally disappear, and the ten ways of doing unskillful deeds will explode in popularity. Those humans will not even have the word ‘skillful’, still less anyone who does what is skillful. And anyone who disrespects mother and father, ascetics and brahmins, and fails to honor the elders in the family will be venerated and praised, just as the opposite is venerated and praised today.
“Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, mười thiện nghiệp lộ sẽ hoàn toàn biến mất, mười bất thiện nghiệp lộ sẽ cực kỳ hưng thịnh. Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, ngay cả từ ‘thiện’ cũng sẽ không tồn tại, huống hồ là người làm điều thiện. Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, những người không hiếu kính mẹ, không hiếu kính cha, không kính trọng Sa-môn, không kính trọng Bà-la-môn, không tôn trọng trưởng thượng trong gia tộc, họ sẽ được tôn kính và tán dương. Này các Tỳ khưu, cũng giống như hiện nay những người hiếu kính mẹ, hiếu kính cha, kính trọng Sa-môn, kính trọng Bà-la-môn, tôn trọng trưởng thượng trong gia tộc được tôn kính và tán dương; này các Tỳ khưu, cũng vậy, ở loài người có tuổi thọ mười năm, những người không hiếu kính mẹ, không hiếu kính cha, không kính trọng Sa-môn, không kính trọng Bà-la-môn, không tôn trọng trưởng thượng trong gia tộc, họ sẽ được tôn kính và tán dương.”
Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu na bhavissati mātāti vā mātucchāti vā mātulānīti vā ācariyabhariyāti vā garūnaṁ dārāti vā. Sambhedaṁ loko gamissati yathā ajeḷakā kukkuṭasūkarā soṇasiṅgālā.
There’ll be no recognition of the status of mother, aunts, or wives and partners of tutors and respected people. The world will become dissolute, like goats and sheep, chickens and pigs, and hounds and jackals.
“Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, sẽ không có khái niệm ‘mẹ’, hay ‘dì’, hay ‘vợ của cậu’, hay ‘vợ của thầy’, hay ‘vợ của những người đáng kính’. Thế gian sẽ rơi vào sự hỗn loạn, giống như dê và cừu, gà và heo, chó và chó rừng.”
Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu tesaṁ sattānaṁ aññamaññamhi tibbo āghāto paccupaṭṭhito bhavissati tibbo byāpādo tibbo manopadoso tibbaṁ vadhakacittaṁ. Mātupi puttamhi puttassapi mātari; pitupi puttamhi puttassapi pitari; bhātupi bhaginiyā bhaginiyāpi bhātari tibbo āghāto paccupaṭṭhito bhavissati tibbo byāpādo tibbo manopadoso tibbaṁ vadhakacittaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, māgavikassa migaṁ disvā tibbo āghāto paccupaṭṭhito hoti tibbo byāpādo tibbo manopadoso tibbaṁ vadhakacittaṁ; evameva kho, bhikkhave, dasavassāyukesu manussesu tesaṁ sattānaṁ aññamaññamhi tibbo āghāto paccupaṭṭhito bhavissati tibbo byāpādo tibbo manopadoso tibbaṁ vadhakacittaṁ. Mātupi puttamhi puttassapi mātari; pitupi puttamhi puttassapi pitari; bhātupi bhaginiyā bhaginiyāpi bhātari tibbo āghāto paccupaṭṭhito bhavissati tibbo byāpādo tibbo manopadoso tibbaṁ vadhakacittaṁ.
They’ll be full of hostility toward each other, with acute ill will, malevolence, and thoughts of murder. Even a mother will feel like this for her child, and the child for its mother, father for child, child for father, brother for sister, and sister for brother. They’ll be just like a deer hunter when he sees a deer—full of hostility, ill will, malevolence, and thoughts of killing.
“Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, giữa các chúng sanh ấy, sự căm phẫn mãnh liệt, sự ác tâm mãnh liệt, sự ác ý mãnh liệt, tâm sát hại mãnh liệt sẽ hiện khởi đối với nhau. Ngay cả mẹ đối với con, con đối với mẹ; cha đối với con, con đối với cha; anh đối với em gái, em gái đối với anh, sự căm phẫn mãnh liệt, sự ác tâm mãnh liệt, sự ác ý mãnh liệt, tâm sát hại mãnh liệt sẽ hiện khởi. Này các Tỳ khưu, ví như người thợ săn khi thấy con nai, sự căm phẫn mãnh liệt, sự ác tâm mãnh liệt, sự ác ý mãnh liệt, tâm sát hại mãnh liệt hiện khởi; này các Tỳ khưu, cũng vậy, ở loài người có tuổi thọ mười năm, giữa các chúng sanh ấy, sự căm phẫn mãnh liệt, sự ác tâm mãnh liệt, sự ác ý mãnh liệt, tâm sát hại mãnh liệt sẽ hiện khởi đối với nhau. Ngay cả mẹ đối với con, con đối với mẹ; cha đối với con, con đối với cha; anh đối với em gái, em gái đối với anh, sự căm phẫn mãnh liệt, sự ác tâm mãnh liệt, sự ác ý mãnh liệt, tâm sát hại mãnh liệt sẽ hiện khởi.”
Dasavassāyukesu, bhikkhave, manussesu sattāhaṁ satthantarakappo bhavissati. Te aññamaññamhi migasaññaṁ paṭilabhissanti. Tesaṁ tiṇhāni satthāni hatthesu pātubhavissanti. Te tiṇhena satthena ‘esa migo esa migo’ti aññamaññaṁ jīvitā voropessanti.
Among the humans who live for ten years, there will be an interregnum of swords lasting seven days. During that time they will see each other as beasts. Sharp swords will appear in their hands, with which they’ll take each other’s life, crying, ‘It’s a beast! It’s a beast!’
104. “Này các Tỳ khưu, ở loài người có tuổi thọ mười năm, sẽ có kiếp đao binh trong bảy ngày. Họ sẽ nhận thức nhau như là con mồi. Các loại vũ khí sắc bén sẽ xuất hiện trong tay họ. Họ sẽ dùng vũ khí sắc bén tước đoạt mạng sống của nhau, (nghĩ rằng): ‘Đây là con mồi, đây là con mồi’.”
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, sattānaṁ ekaccānaṁ evaṁ bhavissati: ‘mā ca mayaṁ kañci, mā ca amhe koci, yannūna mayaṁ tiṇagahanaṁ vā vanagahanaṁ vā rukkhagahanaṁ vā nadīviduggaṁ vā pabbatavisamaṁ vā pavisitvā vanamūlaphalāhārā yāpeyyāmā’ti. Te tiṇagahanaṁ vā vanagahanaṁ vā rukkhagahanaṁ vā nadīviduggaṁ vā pabbatavisamaṁ vā pavisitvā sattāhaṁ vanamūlaphalāhārā yāpessanti.
Te tassa sattāhassa accayena tiṇagahanā vanagahanā rukkhagahanā nadīviduggā pabbatavisamā nikkhamitvā aññamaññaṁ āliṅgitvā sabhāgāyissanti samassāsissanti: ‘diṭṭhā, bho, sattā jīvasi, diṭṭhā, bho, sattā jīvasī’ti.
But then some of those beings will think, ‘Let us neither kill nor be killed! Why don’t we hide in thick grass, thick jungle, thick trees, inaccessible riverlands, or rugged mountains and survive on forest roots and fruits?’ So that’s what they do.
When those seven days have passed, having emerged from their hiding places and embraced each other, they will come together and cry in one voice, ‘Fantastic, dear foe, you live! Fantastic, dear foe, you live!’
“Khi ấy, này các Tỳ khưu, một số chúng sanh sẽ có suy nghĩ như sau: ‘Mong rằng chúng ta không (giết) ai, và cũng không ai (giết) chúng ta. Hay là chúng ta hãy đi vào bụi cỏ, hoặc bụi cây, hoặc lùm cây, hoặc nơi hiểm trở ở sông, hoặc nơi hiểm trở ở núi, và sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng.’ Họ sẽ đi vào bụi cỏ, hoặc bụi cây, hoặc lùm cây, hoặc nơi hiểm trở ở sông, hoặc nơi hiểm trở ở núi, và sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng trong bảy ngày. Sau bảy ngày ấy, họ sẽ ra khỏi bụi cỏ, bụi cây, lùm cây, nơi hiểm trở ở sông, nơi hiểm trở ở núi, rồi ôm choàng lấy nhau, cùng nhau hội họp và an ủi nhau: ‘Thật may mắn, này bạn, thấy còn có chúng sanh! Bạn vẫn còn sống! Thật may mắn, này bạn, thấy còn có chúng sanh! Bạn vẫn còn sống!’”
6. Āyuvaṇṇādivaḍḍhanakathā
6. The Period of Growth
Bài thuyết giảng về sự tăng trưởng tuổi thọ, dung sắc, v.v.
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ bhavissati: ‘mayaṁ kho akusalānaṁ dhammānaṁ samādānahetu evarūpaṁ āyataṁ ñātikkhayaṁ pattā. Yannūna mayaṁ kusalaṁ kareyyāma. Kiṁ kusalaṁ kareyyāma? Yannūna mayaṁ pāṇātipātā virameyyāma, idaṁ kusalaṁ dhammaṁ samādāya vatteyyāmā’ti. Te pāṇātipātā viramissanti, idaṁ kusalaṁ dhammaṁ samādāya vattissanti. Te kusalānaṁ dhammānaṁ samādānahetu āyunāpi vaḍḍhissanti, vaṇṇenapi vaḍḍhissanti. Tesaṁ āyunāpi vaḍḍhamānānaṁ vaṇṇenapi vaḍḍhamānānaṁ dasavassāyukānaṁ manussānaṁ vīsativassāyukā puttā bhavissanti.
Then those beings will think, ‘It’s because we undertook unskillful things that we suffered such an extensive loss of our relatives. We’d better do what’s skillful. What skillful thing should we do? Why don’t we refrain from killing living creatures? Having undertaken this skillful thing we’ll live by it.’ So that’s what they do. Because of undertaking this skillful thing, their lifespan and beauty will grow. Those people who live for ten years will have children who live for twenty years.
105. “Khi ấy, này các Tỳ khưu, các chúng sanh ấy sẽ có suy nghĩ như sau: ‘Chính vì chúng ta đã thực hành các pháp bất thiện nên mới đi đến sự tổn thất bà con quyến thuộc to lớn như vậy. Hay là chúng ta hãy làm điều thiện. Chúng ta nên làm điều thiện gì? Hay là chúng ta hãy từ bỏ sát sanh, chúng ta hãy thọ trì và thực hành pháp thiện này.’ Họ sẽ từ bỏ sát sanh, họ sẽ thọ trì và thực hành pháp thiện này. Do vì thọ trì các pháp thiện, họ sẽ tăng trưởng cả về tuổi thọ lẫn dung sắc. Đối với những người đang tăng trưởng về tuổi thọ và dung sắc ấy, con cái của những người có tuổi thọ mười năm sẽ có tuổi thọ hai mươi năm.”
Atha kho tesaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ bhavissati: ‘mayaṁ kho kusalānaṁ dhammānaṁ samādānahetu āyunāpi vaḍḍhāma, vaṇṇenapi vaḍḍhāma. Yannūna mayaṁ bhiyyoso mattāya kusalaṁ kareyyāma. Kiṁ kusalaṁ kareyyāma? Yannūna mayaṁ adinnādānā virameyyāma … kāmesumicchācārā virameyyāma … musāvādā virameyyāma … pisuṇāya vācāya virameyyāma … pharusāya vācāya virameyyāma … samphappalāpā virameyyāma … abhijjhaṁ pajaheyyāma … byāpādaṁ pajaheyyāma … micchādiṭṭhiṁ pajaheyyāma … tayo dhamme pajaheyyāma—adhammarāgaṁ visamalobhaṁ micchādhammaṁ … yannūna mayaṁ matteyyā assāma petteyyā sāmaññā brahmaññā kule jeṭṭhāpacāyino, idaṁ kusalaṁ dhammaṁ samādāya vatteyyāmā’ti. Te matteyyā bhavissanti petteyyā sāmaññā brahmaññā kule jeṭṭhāpacāyino, idaṁ kusalaṁ dhammaṁ samādāya vattissanti.
Then those beings will think, ‘Because of undertaking this skillful thing, our lifespan and beauty are growing. Why don’t we do even more skillful things? What skillful thing should we do? Why don’t we refrain from stealing … sexual misconduct … lying … backbiting … harsh speech … and talking nonsense. Why don’t we give up covetousness … ill will … wrong view … three things: illicit desire, immoral greed, and wrong religious teachings. Why don’t we pay due respect to mother and father, ascetics and brahmins, honoring the elders in our families? Having undertaken this skillful thing we’ll live by it.’ So that’s what they do.
“Khi ấy, này các Tỳ khưu, các chúng sanh ấy sẽ có suy nghĩ như sau: ‘Chính vì chúng ta đã thực hành các pháp thiện nên chúng ta tăng trưởng cả về tuổi thọ lẫn dung sắc. Hay là chúng ta hãy làm thêm nhiều điều thiện nữa. Chúng ta nên làm điều thiện gì? Hay là chúng ta hãy từ bỏ lấy của không cho… từ bỏ tà hạnh trong các dục… từ bỏ nói dối… từ bỏ nói lời đâm thọc… từ bỏ nói lời thô ác… từ bỏ nói lời vô ích… chúng ta hãy từ bỏ tham lam… chúng ta hãy từ bỏ sân hận… chúng ta hãy từ bỏ tà kiến… chúng ta hãy từ bỏ ba pháp này: tham phi pháp, tham lam quá độ, và pháp tà vạy… Hay là chúng ta hãy hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, kính trọng Sa-môn, kính trọng Bà-la-môn, tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình, chúng ta hãy thọ trì và thực hành pháp thiện này.’ Họ sẽ trở nên hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, kính trọng Sa-môn, kính trọng Bà-la-môn, tôn trọng những người lớn tuổi trong gia đình, họ sẽ thọ trì và thực hành pháp thiện này.”
Te kusalānaṁ dhammānaṁ samādānahetu āyunāpi vaḍḍhissanti, vaṇṇenapi vaḍḍhissanti. Tesaṁ āyunāpi vaḍḍhamānānaṁ vaṇṇenapi vaḍḍhamānānaṁ vīsativassāyukānaṁ manussānaṁ cattārīsavassāyukā puttā bhavissanti … cattārīsavassāyukānaṁ manussānaṁ asītivassāyukā puttā bhavissanti … asītivassāyukānaṁ manussānaṁ saṭṭhivassasatāyukā puttā bhavissanti … saṭṭhivassasatāyukānaṁ manussānaṁ vīsatitivassasatāyukā puttā bhavissanti … vīsatitivassasatāyukānaṁ manussānaṁ cattārīsachabbassasatāyukā puttā bhavissanti. Cattārīsachabbassasatāyukānaṁ manussānaṁ dvevassasahassāyukā puttā bhavissanti … dvevassasahassāyukānaṁ manussānaṁ cattārivassasahassāyukā puttā bhavissanti … cattārivassasahassāyukānaṁ manussānaṁ aṭṭhavassasahassāyukā puttā bhavissanti … aṭṭhavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ vīsativassasahassāyukā puttā bhavissanti … vīsativassasahassāyukānaṁ manussānaṁ cattārīsavassasahassāyukā puttā bhavissanti … cattārīsavassasahassāyukānaṁ manussānaṁ asītivassasahassāyukā puttā bhavissanti … asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu pañcavassasatikā kumārikā alaṁpateyyā bhavissanti.
Because of undertaking this skillful thing, their lifespan and beauty will grow. Those people who live for twenty years will have children who live for forty years. Those people who live for forty years will have children who live for eighty years, then a hundred and sixty years, three hundred and twenty years, six hundred and forty years, 2,000 years, 4,000 years, 8,000 years, 20,000 years, 40,000 years, and finally 80,000 years. Among the humans who live for 80,000 years, girls will be marriageable at five hundred.
Do nhân thọ trì các thiện pháp, những chúng sanh ấy sẽ tăng trưởng về tuổi thọ, tăng trưởng về dung sắc. Do họ tăng trưởng về tuổi thọ và dung sắc, con cái của những người có tuổi thọ hai mươi tuổi sẽ có tuổi thọ bốn mươi tuổi... con cái của những người có tuổi thọ bốn mươi tuổi sẽ có tuổi thọ tám mươi tuổi... con cái của những người có tuổi thọ tám mươi tuổi sẽ có tuổi thọ một trăm sáu mươi tuổi... con cái của những người có tuổi thọ một trăm sáu mươi tuổi sẽ có tuổi thọ ba trăm hai mươi tuổi... con cái của những người có tuổi thọ ba trăm hai mươi tuổi sẽ có tuổi thọ sáu trăm bốn mươi tuổi... con cái của những người có tuổi thọ sáu trăm bốn mươi tuổi sẽ có tuổi thọ hai ngàn tuổi... con cái của những người có tuổi thọ hai ngàn tuổi sẽ có tuổi thọ bốn ngàn tuổi... con cái của những người có tuổi thọ bốn ngàn tuổi sẽ có tuổi thọ tám ngàn tuổi... con cái của những người có tuổi thọ tám ngàn tuổi sẽ có tuổi thọ hai mươi ngàn tuổi... con cái của những người có tuổi thọ hai mươi ngàn tuổi sẽ có tuổi thọ bốn mươi ngàn tuổi... con cái của những người có tuổi thọ bốn mươi ngàn tuổi sẽ có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi... Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, các thiếu nữ năm trăm tuổi sẽ đến tuổi có thể lấy chồng.
7. Saṅkharājauppatti
7. The Time of King Saṅkha
Sự Xuất Hiện Của Vua Saṅkha
Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu tayo ābādhā bhavissanti, icchā, anasanaṁ, jarā. Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu ayaṁ jambudīpo iddho ceva bhavissati phīto ca, kukkuṭasampātikā gāmanigamarājadhāniyo. Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu ayaṁ jambudīpo avīci maññe phuṭo bhavissati manussehi, seyyathāpi naḷavanaṁ vā saravanaṁ vā. Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu ayaṁ bārāṇasī ketumatī nāma rājadhānī bhavissati iddhā ceva phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca. Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu imasmiṁ jambudīpe caturāsītinagarasahassāni bhavissanti ketumatīrājadhānīpamukhāni.
Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu ketumatiyā rājadhāniyā saṅkho nāma rājā uppajjissati cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni satta ratanāni bhavissanti, seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavissanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasissati.
Among the humans who live for 80,000 years, there will be just three afflictions: greed, starvation, and old age. The Black Plum Tree Land will be successful and prosperous. The villages, towns, and capital cities will be no more than a chicken’s flight apart. And the land will be so full of humans you’d think they were squashed together, like a thicket of rushes or reeds. The royal capital will be Varanasi, renamed Ketumatī. And it will be successful and prosperous, populous and full of people, with plenty of food. There will be 84,000 cities in the Black Plum Tree Land, with the royal capital of Ketumatī foremost.
And in the royal capital of Ketumatī a king named Saṅkha will arise, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion will extend to all four sides, he will achieve stability in the country, and possess the seven treasures. He will have the following seven treasures: the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander as the seventh treasure. He will have over a thousand sons who are valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he will reign by principle, without rod or sword.
106. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, sẽ có ba loại bệnh tật: sự ham muốn, sự đói khát, và sự già nua. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, cõi Diêm-phù-đề này sẽ thịnh vượng và phồn vinh, các làng mạc, thị trấn, và kinh thành sẽ san sát nhau trong tầm gà bay. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, cõi Diêm-phù-đề này sẽ đông đúc dân cư, Ta nghĩ, giống như một rừng lau hay rừng sậy. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, thành Bārāṇasī này sẽ là một kinh thành tên là Ketumatī, thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người người chen chúc, và lương thực dồi dào. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, trong cõi Diêm-phù-đề này sẽ có tám mươi bốn ngàn thành phố, với kinh thành Ketumatī là thủ phủ. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, tại kinh thành Ketumatī, một vị vua tên là Saṅkha sẽ xuất hiện, là một vị Chuyển Luân Vương, bậc chánh trực, một vị vua của chánh pháp, chinh phục bốn phương, chiến thắng, mang lại sự ổn định cho đất nước, và sở hữu bảy báu vật. Vị ấy sẽ có bảy báu vật này, đó là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu là thứ bảy. Vị ấy sẽ có hơn một ngàn người con trai, dũng mãnh, có tướng mạo anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của kẻ thù. Vị ấy, sau khi chinh phục trái đất này cho đến tận bờ đại dương bằng chánh pháp, không dùng đến roi gậy, không dùng đến vũ khí, sẽ trị vì.
8. Metteyyabuddhuppāda
8. The Arising of the Buddha Metteyya
Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Metteyya
Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu metteyyo nāma bhagavā loke uppajjissati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. Seyyathāpāhametarahi loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedessati, seyyathāpāhametarahi imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedemi. So dhammaṁ desessati ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsessati; seyyathāpāhametarahi dhammaṁ desemi ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. So anekasahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissati, seyyathāpāhametarahi anekasataṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharāmi.
And the Blessed One named Metteyya will arise in the world—perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed—just as I have arisen today. He will realize with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and make it known to others, just as I do today. He will teach the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he will reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure, just as I do today. He will lead a Saṅgha of many thousand mendicants, just as I lead a Saṅgha of many hundreds today.
107. Này các Tỳ khưu, khi loài người có tuổi thọ tám mươi ngàn tuổi, một vị Thế Tôn tên là Metteyya sẽ xuất hiện trên thế gian, là một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Giống như Ta bây giờ đã xuất hiện trên thế gian, là một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình biết và chứng ngộ bằng thắng trí, sẽ tuyên thuyết thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, và phạm thiên, thế hệ này cùng với các sa-môn và bà-la-môn, các vị vua và dân chúng; giống như Ta bây giờ, sau khi tự mình biết và chứng ngộ bằng thắng trí, đang tuyên thuyết. Vị ấy sẽ thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, và toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú đầy đủ; vị ấy sẽ tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh; giống như Ta bây giờ đang thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, và toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú đầy đủ, và đang tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh. Vị ấy sẽ dẫn dắt một Tăng đoàn gồm nhiều ngàn vị Tỳ khưu, giống như Ta bây giờ đang dẫn dắt một Tăng đoàn gồm nhiều trăm vị Tỳ khưu.
Atha kho, bhikkhave, saṅkho nāma rājā yo so yūpo raññā mahāpanādena kārāpito. Taṁ yūpaṁ ussāpetvā ajjhāvasitvā taṁ datvā vissajjitvā samaṇabrāhmaṇakapaṇaddhikavaṇibbakayācakānaṁ dānaṁ datvā metteyyassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati. So evaṁ pabbajito samāno eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati.
Then King Saṅkha will have the sacrificial post once built by King Mahāpanāda raised up. Having reigned, he will abdicate, offering charity to ascetics and brahmins, paupers, vagrants, supplicants, and beggars. Then, having shaved off his hair and beard and dressed in ocher robes, he will go forth from the lay life to homelessness in the Buddha Metteyya’s presence. Soon after going forth, living withdrawn, diligent, keen, and resolute, he will realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He will live having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
108. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Saṅkha sẽ cho dựng lại cung điện đã được vua Mahāpanāda xây cất. Sau khi cho dựng lại cung điện ấy và ở trong đó, vị ấy sẽ đem cho đi, từ bỏ nó, và bố thí cho các sa-môn, bà-la-môn, người nghèo, khách lữ hành, người lang thang, và người ăn xin. Rồi tại nơi đức Thế Tôn Metteyya, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, vị ấy sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, và từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, và quyết chí, không bao lâu sẽ tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong đời này mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, và sau khi đạt được, vị ấy sẽ an trú trong đó.
Attadīpā, bhikkhave, viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī …pe… citte cittānupassī …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Mendicants, live as your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge. And how does a mendicant do this? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant lives with themselves as island and refuge, without other refuge; with the teachings as island and refuge, without other refuge.
109. Này các tỳ khưu, hãy sống với chính mình là hòn đảo, chính mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Chánh pháp là hòn đảo, Chánh pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu sống với chính mình là hòn đảo, chính mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Chánh pháp là hòn đảo, Chánh pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để loại bỏ tham ái và ưu phiền ở đời. Vị ấy sống quán thọ trên các thọ... vị ấy sống quán tâm trên tâm... vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để loại bỏ tham ái và ưu phiền ở đời. Này các tỳ khưu, chính như vậy là vị tỳ khưu sống với chính mình là hòn đảo, chính mình là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác; với Chánh pháp là hòn đảo, Chánh pháp là nơi nương tựa, không có nơi nương tựa nào khác.
9. Bhikkhunoāyuvaṇṇādivaḍḍhanakathā
9. On Long Life and Beauty for Mendicants
Lời dạy về sự tăng trưởng tuổi thọ, dung sắc, v.v... của vị tỳ khưu
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. Gocare, bhikkhave, carantā sake pettike visaye āyunāpi vaḍḍhissatha, vaṇṇenapi vaḍḍhissatha, sukhenapi vaḍḍhissatha, bhogenapi vaḍḍhissatha, balenapi vaḍḍhissatha.
Mendicants, you should roam inside your own territory, the domain of your fathers. Doing so, you will grow in lifespan, beauty, happiness, wealth, and power.
110. Này các tỳ khưu, hãy đi trong khu vực của mình, trong lãnh địa của cha ông. Này các tỳ khưu, khi các thầy đi trong khu vực của mình, trong lãnh địa của cha ông, các thầy sẽ tăng trưởng về tuổi thọ, tăng trưởng về dung sắc, tăng trưởng về an lạc, tăng trưởng về tài sản, và tăng trưởng về sức mạnh.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhuno āyusmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. So imesaṁ catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno āyusmiṁ.
And what is long life for a mendicant? It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort. Having developed and cultivated these four bases of psychic power they may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. This is long life for a mendicant.
Và này các tỳ khưu, thế nào là tuổi thọ của vị tỳ khưu? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông được trang bị với định do dục và các hành tạo tác nỗ lực; tu tập thần túc thông được trang bị với định do tinh tấn và các hành tạo tác nỗ lực; tu tập thần túc thông được trang bị với định do tâm và các hành tạo tác nỗ lực; tu tập thần túc thông được trang bị với định do thẩm sát và các hành tạo tác nỗ lực. Do đã tu tập, đã thực hành nhiều lần bốn thần túc thông này, vị ấy nếu muốn, có thể sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Này các tỳ khưu, đây chính là tuổi thọ của vị tỳ khưu.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhuno vaṇṇasmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno vaṇṇasmiṁ.
And what is beauty for a mendicant? It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is beauty for a mendicant.
Và này các tỳ khưu, thế nào là dung sắc của vị tỳ khưu? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống được chế ngự bởi sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Này các tỳ khưu, đây chính là dung sắc của vị tỳ khưu.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhuno sukhasmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno, sukhasmiṁ.
And what is happiness for a mendicant? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This is happiness for a mendicant.
Và này các tỳ khưu, thế nào là an lạc của vị tỳ khưu? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Do làm lắng dịu tầm và tứ... chứng và trú thiền thứ hai... chứng và trú thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư. Này các tỳ khưu, đây chính là an lạc của vị tỳ khưu.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhuno bhogasmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno bhogasmiṁ.
And what is wealth for a mendicant? It’s when a monk meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. This is wealth for a mendicant.
Và này các tỳ khưu, thế nào là tài sản của vị tỳ khưu? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không hận, không sân, rồi an trú. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, vị ấy biến mãn một phương rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không hận, không sân, rồi an trú. Này các tỳ khưu, đây chính là tài sản của vị tỳ khưu.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhuno balasmiṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno balasmiṁ.
And what is power for a mendicant? It’s when a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is power for a mendicant.
Và này các tỳ khưu, thế nào là sức mạnh của vị tỳ khưu? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỳ khưu, đây chính là sức mạnh của vị tỳ khưu.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekabalampi samanupassāmi yaṁ evaṁ duppasahaṁ, yathayidaṁ, bhikkhave, mārabalaṁ. Kusalānaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ samādānahetu evamidaṁ puññaṁ pavaḍḍhatī”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Mendicants, I do not see a single power so hard to defeat as the power of Māra. It is due to undertaking skillful qualities that merit grows.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Này các tỳ khưu, Ta không thấy một sức mạnh nào khác khó chinh phục như vậy, này các tỳ khưu, đó là sức mạnh của Ma vương. Này các tỳ khưu, do nhân chấp nhận các pháp thiện mà phước báu này tăng trưởng như vậy.” Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Cakkavattisuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Chuyển Luân Vương, phẩm thứ ba, chấm dứt.