- Dīgha Nikāya 25
Bản dịch
DN 25 — Kinh Udumbarika
Udumbarikasutta
Như vầy tôi nghe.
SC 1PTS cs 1 Một thời, Thế tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta (Kỳ-xà-quật). Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha (Ni-câu-đà) ở tại vườn của nữ hoàng Udumbarikà (Ưu-đàm-bà-la) dành cho du sĩ đoàn, cùng với đại hội chúng du sĩ, khoảng ba ngàn người. Gia chủ Sandhāna (Tán-đà-na), vào buổi chiều đi ra khỏi thành Vương Xá để yết kiến Thế Tôn. Rồi gia chủ Sandhāna suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang an lặng tịnh cư. Cũng không phải thời để yết kiến chúng Tăng, vì chúng Tăng đang tu tập thiền định. Vậy ta hãy đi đến vườn của nữ hoàng Udumbarika dành cho du sĩ đoàn, để thăm du sĩ Nigrodha.” Và gia chủ Sandhāna đi đến vườn của nữ hoàng Udumbarika dành cho du sĩ đoàn để thăm du sĩ Nigrodha.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha đang ngồi với đại hội chúng du sĩ, tất cả đều ồn ào nói chuyện, cao giọng lớn tiếng, bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng thế giới, hiện trạng đại dương, câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu.
SC 3PTS cs 3 Du sĩ Nigrodha thấy gia chủ Sandhāna từ đàng xa đến, liền dặn hội chúng của mình
SC 4—Các Tôn giả hãy giữ im lặng, các Tôn giả chớ có làm ồn! Ðệ tử Sa môn Gotama, gia chủ Sandhāna đang đi đến. Trong hàng đệ tử Sa môn Gotama, các hàng cư sĩ, mặc áo trắng, trú tại Vương Xá, gia chủ Sandhāna là một vị trong đoàn thể ấy. Các vị này ưa sự an tịnh, các vị này được huấn luyện trong sự an tịnh, các vị này tán thán sự an tịnh. Nếu được biết hội chúng này an tịnh, Sandhāna có thể đến đây.
SC 5Khi nghe nói vậy, các vị du sĩ đều giữ yên lặng.
SC 6PTS cs 4 Rồi gia chủ Sandhāna đến tại chỗ của du sĩ Nigrodha, khi đến nơi, nói lên những lời chúc tụng, viếng thăm xã giao rồi ngồi với du sĩ Nigrodha
SC 7—Thật sự khác thay, khi các Tôn giả ngoại đạo, các du sĩ này hội họp lại, quy tụ lại, ồn ào, cao giọng lớn tiếng, họ sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích như câu chuyện về vua chúa … câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Thật sai khác thay, Thế Tôn an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng động, có gió đồng thổi, lánh xa mắt người đời, thích hợp cho sự tịnh tu.
SC 8PTS cs 5 Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha nói với gia chủ Sandhāna
SC 9—Gia chủ có biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai? Ðối thoại với ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài. Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ. Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến vấn đề ngoại biên. Này gia chủ, nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi chúng tôi có thể chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ, chúng tôi có thể lăn tròn Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không.
SC 10PTS cs 6 Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh hơn người, nghe được câu chuyện giữa gia chủ Sandhāna với du sĩ Nigrodha. Rồi Thế Tôn từ núi Gijjhakùtà bước xuống, đi đến vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, bên bờ sông Sumàgaghà, khi đến nơi liền đi qua lại giữa trời. Du sĩ Nigrodha thấy Thế Tôn đi qua lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, trên bờ sông Sumàgadhà, khi thấy vậy liền dặn dò hội chúng
SC 11—Các Tôn giả hãy giữ im lặng; các Tôn giả chớ có làm ồn; Sa môn Gotama này đang đi lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước trên bờ sông Sumàgadhà. Vị tôn giả này ưa an tịnh, tán thán sự an tịnh, nếu biết được hội chúng này an tịnh, chúng tôi nghĩ, Sa môn Gotama có thể đến đây. Nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi câu hỏi này: “Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào Thế Tôn muốn dạy các đệ tử, với Pháp nào các đệ tử của Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc, và xác nhận là căn bản phạm hạnh?”
SC 12Khi được nói vậy, các vị du sĩ ấy giữ im lặng.
SC 13PTS cs 7 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đến tại chỗ du sĩ Nigrodha ở. Và du sĩ Nigrodha nói với Thế Tôn như sau
SC 14—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến đây; xin đón mừng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, đã lâu Thế Tôn mới có dịp đến đây; bạch Thế Tôn, xin mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 15Thế Tồn ngồi xuống chỗ ngồi đã soạn sẵn. Du sĩ Nigrodha lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Nigrodha đang ngồi xuống một bên
SC 16—Này Nigrodha, Quí vị đang ngồi bàn luận vấn đề gì? Vấn đề gì đang nói giữa quí vị thì bị dừng lại?
SC 17Khi được nói vậy, du sĩ Nigrodha bạch Thế Tôn
SC 18—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con thấy Thế Tôn đang đi qua lại, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, trên bờ sông Sumāgadhā. Khi thấy vậy, chúng con nói: “Nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi câu hỏi:” Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào Thế Tôn huấn dạy các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh?” Bạch Thế Tôn, đó là vấn đề đang được bàn luận giữa chúng con, thì được dừng lại khi Thế Tôn đến.
SC 19- Này Nigrodha, thật khó cho Ngươi, khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu khác, theo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để hiểu được Pháp nào Ta huấn dạy các đệ tử của Ta, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh. Này Nigrodha, hãy hỏi về tối thắng khổ hạnh theo truyền thống của Ngươi: “Bạch Thế Tôn, thế nào là sự thành tựu của khổ hạnh, thế nào là sự không thành tựu?”
SC 20Khi nghe nói vậy, các Du sĩ ngoại đạo liền lớn tiếng, cao giọng la: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, đại thần lực và đại uy lực của Sa môn Gotama! Ngài không đề cập đến giáo lý của mình, lại đề nghị thảo luận giáo lý của người khác.”
SC 21PTS cs 8 Du sĩ Nigrodha bảo các du sĩ ấy im lặng rồi bạch Thế Tôn
SC 22—Bạch Thế Tôn, chúng con sống thuyết giảng về khổ hạnh, xem khổ hạnh là căn bản, chấp trì khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, thế nào là sự thành tựu khổ hạnh? Thế nào là sự không thành tựu khổ hạnh?
SC 23- Này Nigrodha, ở đây có người tu khổ hạnh, sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận lời mời đi ăn, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống nước nấu rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà hay chỉ nhận ăn một miếng, chỉ nhận ăn tại bảy nhà hay chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị này chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột vải nīvaraṇa, ăn da vụn, ăn trấu, ăn nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các khác vải khác, mặc vải tẩm liệm đã quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vải vỏ cây tipiṭaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người sống theo tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, không ngồi, là người ngồi chõ hỏ; sống theo hạnh ngồi chõ hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che kín thân mình, sống và ngủ ngoài trời; theo hạnh bạ đâu nằm đầy, sống ăn các uế vật; theo hạnh ăn các uế vật, sống không uống các nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Như vậy có phải là thành tựu các pháp khổ hạnh hay không thành tựu?
SC 24- Bạch Thế Tôn, như vậy là thành tựu các pháp khổ hạnh, không phải không thành tựu.
SC 25- Này Nigrodha, sự thành tựu khổ hạnh như vậy, Ta nói rằng sẽ đưa đến nhiều loại cấu uế.
SC 26- Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn nói rằng sự thành tựu khổ hạnh như vậy sẽ đưa đến nhiều loại cấu uế?
SC 27- Này Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy hoan hỷ tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, vị khổ hạnh do siêng tu khổ hạnh, phát sanh hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 28Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ hạnh này, vị này khen mình chê người. Này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy khen mình chê người. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 29Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ hạnh này trở thành mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, vị tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 30PTS cs 10 Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được thọ lãnh cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào; do khổ hạnh ấy được thọ lãnh cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, như vậy đó là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 31Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, nên khen mình chê người. Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng này, nên khen mình chê người. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 32Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành mê say, chấp trước, phóng dật. Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng này, trở thành mê say, chấp trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 33Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, phân biệt các thức ăn: “Món này thích hợp với ta, món này không thích hợp với ta.” Ðối với các thức ăn không thích hợp thì cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích hợp thì nắm giữ, tham đắm, chấp trước, không thấy các sự nguy hiểm, không phân biệt chúng là không giải thoát, thọ hưởng chúng … Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 34Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, nhân vì mong mỏi được cúng dường cung kính danh vọng, nghĩ rằng: “Các vua chúa sẽ cung kính ta, cũng vậy các vị đại thần, các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các vị Gia chủ, các vị Giáo chủ các giáo phái”. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 35PTS cs 11 Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh chống báng một Sa môn hay Bà la môn khác như sau: “Người này sống ăn uống đủ mọi thứ. Như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền chúng tất cả với tầm sét không bánh xe được gọi là xương quai hàm và người ta gọi vị ấy là một vị Sa môn. Này Nigrodha, như vậy, là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 36Lại nữa này Nigrodha, người khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà la môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường. Thấy vậy vị ấy nghĩ rằng: “Các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn uống đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường ta, một người tu khổ hạnh. Do vậy sanh tật đố, ganh ghét đối với các gia đình. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 37Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh trở thành người ngồi giữa công chúng. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 38Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình (để khất thực) không cho người ta thấy mình: “Như vậy là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh của ta.”. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 39Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh làm bộ có vẻ bí mật. Khi được hỏi: “Có chấp nhận việc này không?”, tuy không chấp nhận nhưng trả lời: “Có chấp nhận”; tuy chấp nhận, nhưng trả lời: “Không chấp nhận.” Như vậy, vị này cố tình nói láo. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 40PTS cs 12 Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận thì người khổ hạnh không chấp nhận. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 41Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh hay tức giận và ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh hay tức giận và ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 42Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh thường hay giả dối lừa đảo, tật đố và hà tiện, giảo hoạt và ngụy trá, cứng cỏi và quá mạn, có ác ý và bị ác ý chi phối, có tà kiến và tư tưởng cực đoan, chấp trước kinh nghiệm tự thân, cứng đầu và khó giải thoát. Này Nigrodha, vì một người khổ hạnh chấp trước kinh nghiệm tự thân, cứng đầu và khó giải thoát. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
SC 43Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự thật là như vậy thì những khổ hạnh có phải là cấu uế hay không cấu uế?
SC 44- Bạch Thế Tôn, những khổ hạnh như vậy thật là cấu uế, không phải cấu uế. Sự tình này có thể xảy ra, có người khổ hạnh có đầy đủ tất cả sự cấu uế trên, nói gì đến câu có cấu uế này hay cấu uế khác.
SC 45PTS cs 13 - Này Nigrodha, ở đây người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không thỏa mãn. Này Nigrodha, người khổ hạnh, tu khổ hạnh này, vì khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không thỏa mãn. Như vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 46Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không khen mình chê người … Như vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 47Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không mê say, không nhiễm trước, không phóng dật. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 48Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không hoan hỷ; tâm tư không thỏa mãn. Này Nigrodha, người khổ hạnh … Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 49Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không khen mình chê người. Này Nigrodha, người khổ hạnh … Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 50Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy không mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, người khổ hạnh … Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 51Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh, không phân biệt các thức ăn: “Món này thích hợp với ta, món này không hợp với ta.” Ðối với các thức ăn không thích hợp, vị ấy không cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích hợp, vị ấy không nắm giữ, tham đắm, chấp trước, thấy các sự nguy hiểm, phân biệt chúng là không giải thoát, không thọ hưởng chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 52Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Vị ấy không nghĩ rằng: “Vì mong mỏi được cúng dường, cung kính, danh vọng, các vua chúa sẽ cung kính ta; cũng vậy các vị đại thần, các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các vị Gia chủ, các vị Giáo chủ các giáo phái.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 53PTS cs 14 Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không chống báng một vị Sa môn hay Bà la môn khác: “Người này sống ăn đủ mọi thứ. Như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhành cây sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền chúng tất cả, với tầm sét không bánh xe được gọi là xương quai hàm. Và người ta gọi vị ấy là vị Sa môn. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 54Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà là môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường. Thấy vậy, vị ấy không nghĩ rằng: “Các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn uống đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính trọng, lễ bái, cũng dường ta, một người tu khổ hạnh.” Do vậy vị ấy không sanh tật đố, ganh ghét đối với các gia đình. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 55Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không trở thành người ngồi giữa công chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 56Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình (để khất thực), không dấu diếm mà để cho người ta thấy mình: “Như vậy là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh của ta.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 57Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không làm bộ có vẻ bí mật. Khi được hỏi: “Có chấp nhận điều này không?” Nếu không chấp nhận thì trả lời: “Không chấp nhận.”; nếu có chấp nhận thì trả lời: “Có chấp nhận.” Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 58PTS cs 15 Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận, thì vị khổ hạnh chấp nhận. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 59Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không tức giận và không ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh không tức giận và không ôm lòng oán thù, như vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 60Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không giả dối và lừa đảo, không tật đố và hà tiện, không giảo hoạt và ngụy trá, không cứng cỏi và quá mạn, không có ác ý và bị ác ý chi phối, không có tà kiến và tư tưởng cực đoan, không chấp trước kinh nghiệm tự thân, không cứng đầu và khó giải thoát. Vì người khổ hạnh không chấp trước kinh nghiệm tự thân và không cứng đầu khó giải thoát, nên vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
SC 61Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các khổ hạnh ấy là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
SC 62- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh ấy là thanh tịnh, không phải phải không thanh tịnh; các khổ hạnh ấy đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
SC 63- Này Nigrodha, những khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ mới đạt đến vỏ bên ngoài mà thôi.
SC 64PTS cs 16 - Bạch Thế Tôn, như thế nào các khổ hạnh đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn, thật tốt đẹp thay, nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của chúng con đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
SC 65- Này Nigrodha, ở đây, có vị khổ hạnh tu bốn pháp chế ngự. Và này Nigrodha, thế nào là bốn pháp chế ngự? Này Nigrodha, vị khổ hạnh không có tự sát sanh, không có bảo người khác sát sanh, không có tùy hỷ sát sanh; không có lấy của không cho, không có khiến người khác lấy của không cho, không có tùy hỷ lấy của không cho, không có nói láo, không có khiến người khác nói láo, không có tán thán nói láo; không có tham vọng dục tình, không có khiến người khác có tham vọng dục tình, không có tán thán tham vọng dục tình. Như vậy, này Nigrodha người khổ hạnh ấy tu hành bốn pháp chế ngự. Này Nigrodha, do người khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, sự khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, vị ấy tiến lên, chớ không rơi xuống hạ phẩm.
SC 66Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như ngôi rừng, gốc cây, trên khe núi, trong hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, hay đống rơm. Sau khi ăn xong đi khất thực về, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, an trú với tâm thoát ly tham ái, gột sạch tâm hết tham ái. Từ bỏ sân tâm, an trú với tâm thoát ly sân tâm, khởi lòng thương tưởng mọi loài chúng sanh, gột sạch tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, an trú với tâm thoát ly hôn trầm thụy miên, tưởng niệm đến ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo hối, an trú tâm thoát ly trạo hối, nội tâm an tịnh, gột sạch tâm hết trạo hối. Từ bỏ nghi hoặc, an trú với tâm thoát ly nghi ngờ, không còn nghi hoặc, gột sạch tâm không còn nghi ngờ đối với các thiện pháp.
SC 67PTS cs 17 Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu uế giảm nhẹ, vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
SC 68- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản.
SC 69- Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chỉ đạt đến ngoài vỏ thôi.
SC 70PTS cs 18 - Bạch Thế Tôn, những khổ hạnh phải như thế nào mới đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Lành thay, nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản.
SC 71- Này Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Và như thế nào … như vậy, này Nigrodha, vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Này Nigrodha, do vị khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, sự khổ hạnh của vị ấy là như vậy, vị ấy tiến lên chớ không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng … Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ … quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn tâm hướng đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ ấy, ta được sanh ra ở đây.” Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 72Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
SC 73- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, và đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
SC 74- Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng, chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ đạt đến phía gỗ xung quanh lõi mà thôi.
SC 75PTS cs 19 - Bạch Thế Tôn, các khổ hạnh phải như thế nào mới đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt được tối thượng và đạt đến căn bản.
SC 76- Này Nigrodha, ở đây vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Và thế nào … Như vậy, này Nigrodha, vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự, Này Nigrodha, do vị khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, vị ấy tiến lên chứ không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng … Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho tâm cấu uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ … Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn tâm hướng đến Túc mạng minh, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời … Như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. “Này các Hiền giả, những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phê phán các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên đời này”. Như vậy vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
SC 77Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
SC 78- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
SC 79- Này Nigrodha, các khổ hạnh như vậy đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản. Này Nigrodha, như Ngươi hỏi Ta: “Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào, Thế Tôn muốn dạy các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử của Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh?” Này Nigrodha, Ta nói rằng thật là một vấn đề cao thượng hơn và thuần nhất hơn mà Ta huấn dạy các đệ tử, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm hạnh.
SC 80Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy lớn tiếng cao giọng ồn ào nói lớn
SC 81—Ở đây, các Tôn sư của chúng ta hoàn toàn bất lực. Chúng ta không biết gì tốt hơn và cao hơn lời dạy của họ.
SC 82PTS cs 20 Khi gia chủ Sandhāna biết được: “Nay các du sĩ ngoại đạo ấy đã bắt đầu nghe, đã bắt đầu để tai, đã bắt đầu chú tâm vào lời Thế Tôn dạy”, liền nói với du sĩ Nigrodha
SC 83—Này Tôn giả Nigrodha, Tôn giả nói với tôi như sau: “Gia chủ có biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai. Ðối thoại với ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi để điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài. Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi để điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Này Gia chủ, nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi, chúng tôi có thể chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể lăn tròn Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không.” Này Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến đây. Hãy nêu rõ Thế Tôn không thể điều khiển hội chúng, hãy chứng tỏ Thế Tôn như con bò một mắt, chỉ biết đi vòng xung quanh, với một câu hỏi, hãy chận đứng Thế Tôn lại, và làm cho Thế Tôn lăn tròn, như Tôn giả nghĩ, như một cái bình không.
SC 84Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha ngồi im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, gục đầu, ưu tư, câm miệng.
SC 85PTS cs 21 Thế Tôn khi biết được du sĩ Nigrodha im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, gục đầu, ưu tư, câm miệng như vậy, liền nói với du sĩ Nigrodha
SC 86—Này Nigrodha, có phải Ngươi nói như vậy chăng?
SC 87- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nói như vậy, thật là ngu ngốc, si ám và bất thiện.
SC 88- Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có bao giờ nghe các vị du sĩ niên cao, trưởng thượng, bậc Tổ sư truyền thống nói như sau: “Các vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội họp lại, quy tụ lại, ồn ào, cao giọng, lớn tiếng, chung sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm … câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu, như Ngươi và Sư trưởng của Ngươi hiện nay đang làm? Hay là những bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió đồng thổi, lánh xa mắt của người đời, thích hợp cho sự tĩnh tu, như hiện Ta đang sống chăng?
SC 89- Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị du sĩ niên cao, trưởng thượng, bậc Tổ sư truyền thống nói như sau: “Các vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác, trong quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội họp lại, quy tụ lại, thời không ồn ào, cao giọng, lớn tiếng, chung sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa … câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu”, như con và Sư trưởng của con đang làm. Những bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió đồng thổi, lánh xa mắt của người đời, thích hợp cho sự tịnh tu, như hiện nay Thế Tôn đang sống.
SC 90- Này Nigrodha, Ngươi là bậc có trí và niên trưởng, có bao giờ Ngươi suy nghĩ như sau: “Ðức Phật, bậc Giác Ngộ, thuyết giảng giáo pháp đưa đến giác ngộ; Thế Tôn là vị đã điều phục, thuyết giảng giáo pháp đưa đến sự điều phục; Thế Tôn bậc An Chỉ, thuyết giảng giáo pháp đưa đến An Chỉ; Thế Tôn là bậc đến bờ bên kia, thuyết giảng giáo pháp đưa đến bờ bên kia; Thế Tôn bậc Tịnh Lạc, thuyết giảng giáo pháp đưa đến sự tịnh lạc.
SC 91PTS cs 22 Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha, bạch Thế Tôn
SC 92—Bạch Thế Tôn, con đã phạm tội một cách ngu si, mờ ám, bất thiện, khi con nói về Thế Tôn như vậy. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp thuận cho tội ấy là phạm tội, để con ngăn ngừa về sau.
SC 93- Này Nigrodha, thật sự Ngươi đã phạm tội một cách ngu si, mờ ám, bất thiện, khi Ngươi nói về Ta như vậy. Này Nigrodha, khi Ngươi đã thấy phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng với hành động, Ta chấp nhận tội của Ngươi. Này Nigrodha, như vậy là thông lệ giới luật của bậc Thánh, là ai thấy phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng với hành động, thời tương lai sẽ được ngăn ngừa. Này Nigrodha, Ta nói cho Ngươi như sau: “Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo, chân trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp”. Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo. Vị ấy cần có bảy năm. Này Nigrodha, đâu cần phải bảy năm! Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục tiêu vô thượng mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, chỉ cần có sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm … chỉ cần bảy tháng, một tháng, nửa tháng. Này Nigrodha, đâu cần có nửa tháng! Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo, chơn trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp. Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại, phạm hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các thiện nam tử từ bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, vị ấy chỉ cần có bảy ngày.
SC 94PTS cs 23 Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn có đệ tử.” Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như vậy. Bổn sư Ngươi là ai, hãy giữ nguyên vị Bổn sư ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn chúng tôi từ bỏ kinh tụng của chúng tôi”. Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như vậy. Kinh tụng của Ngươi là gì, hãy giữ nguyên kinh tụng ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói như vậy là muốn chúng tôi từ bỏ nghề sống của chúng tôi.” Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Nghề sống của Ngươi là gì, hãy giữ nguyên nghề sống ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn xác tín cho chúng tôi đối với các pháp bất thiện mà truyền thống Tổ sư chúng tôi đã xem là bất thiện.” Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Những pháp thiện gì của Ngươi và được xem là bất thiện do Tổ sư truyền thống, hãy giữ chúng nguyên như cũ. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: “Sa môn Gotama nói vậy là muốn cho chúng tôi từ bỏ những thiện pháp mà truyền thống Tổ sư chúng tôi đã xem là thiện pháp”. Này Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Những thiện pháp của Ngươi và được xem là thiện pháp do Tổ sư truyền thống, hãy giữ chúng nguyên như cũ. Này Nigrodha, Ta nói vậy không phải vì muốn có đệ tử; Ta nói vậy không phải vì mốn khiến các Ngươi từ bỏ kinh tụng, Ta nói vậy không phải vì muốn khiến các Ngươi từ bỏ nghề sống; Ta nói vậy không phải vì muốn xác tín cho các Ngươi đối với các pháp bất thiện mà truyền thống Tổ sư đã xem là bất thiện; Ta nói vậy không phải vì muốn cho các Ngươi từ bỏ những thiện pháp mà truyền thống Tổ sư đã xem là thiện pháp.
SC 95Và này Nigrodha, có những pháp bất thiện không được từ bỏ, làm cho cấu uế, đưa đến tái sanh, đem lại đau khổ, đưa lại quả khổ, đem lại già, bệnh, chết trong tương lai. Những pháp ấy, Ta thuyết giảng để diệt trừ chúng. Nếu các Ngươi thực hành đúng theo lời giảng dạy, thời các pháp cấu uế của ngươi được trừ diệt, các pháp thanh tịnh được tăng trưởng, và các ngươi sẽ tự chứng biết, chứng ngộ, đạt đến an trú ngay trong hiện tại, trí tuệ cụ túc, viên mãn.
SC 96PTS cs 24 Khi được nói vậy, các du sĩ ấy đều ngồi im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống, cúi đầu, ưu tư, câm miệng, như tâm của họ bị Ma vương chi phối.
SC 97Lúc bấy giờ, Thế Tôn tự nghĩ: “Tất cả kẻ ngu si này bị ác ma xâm nhập, không có một ai có ý nghĩ: “Hãy đến, chúng ta hãy sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama”. Còn nói gì đến thời gian bảy ngày!”
SC 98Rồi Thế Tôn rống tiếng rống con sư tử trong ngôi vườn của nữ hoàng Udumbarikà dành cho hàng du sĩ, bay trên hư không, và hạ xuống núi Kỳ xà quật. Còn gia chủ Sandhāna trở vào thành Vương Xá.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 25
The Lion’s Roar at the Monastery of Lady Udumbarikā
2. Kinh Udumbarika
1. Nigrodhaparibbājakavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
1. The Story of the Wanderer Nigrodha
So I have heard.
Câu chuyện về du sĩ Nigrodha
Tena kho pana samayena nigrodho paribbājako udumbarikāya paribbājakārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ tiṁsamattehi paribbājakasatehi. Atha kho sandhāno gahapati divā divassa rājagahā nikkhami bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho sandhānassa gahapatissa etadahosi: “akālo kho bhagavantaṁ dassanāya. Paṭisallīno bhagavā. Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ asamayo dassanāya. Paṭisallīnā manobhāvanīyā bhikkhū. Yannūnāhaṁ yena udumbarikāya paribbājakārāmo, yena nigrodho paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho sandhāno gahapati yena udumbarikāya paribbājakārāmo, tenupasaṅkami.
Now at that time the wanderer Nigrodha was residing in the lady Udumbarikā’s monastery for wanderers, together with a large assembly of three thousand wanderers. Then the householder Sandhāna left Rājagaha in the middle of the day to see the Buddha.
Then it occurred to him, “It’s the wrong time to see the Buddha, as he’s in retreat. And it’s the wrong time to see the esteemed mendicants, as they’re in retreat. Why don’t I visit the wanderer Nigrodha at the lady Udumbarikā’s monastery for wanderers?” So he went to the monastery for the wanderers.
49. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), ở Rājagaha (Vương Xá). Lúc bấy giờ, du sĩ Nigrodha đang cư ngụ tại tu viện của các du sĩ của hoàng hậu Udumbarikā, cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo, khoảng ba ngàn vị. Bấy giờ, gia chủ Sandhāna vào lúc xế chiều đi ra khỏi thành Rājagaha để yết kiến Thế Tôn. Khi ấy, gia chủ Sandhāna khởi lên ý nghĩ này: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang độc cư. Cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỳ-khưu đáng tu tập tâm. Các vị Tỳ-khưu đáng tu tập tâm cũng đang độc cư. Hay là ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ của hoàng hậu Udumbarikā, nơi du sĩ Nigrodha đang ở.” Rồi gia chủ Sandhāna đi đến tu viện của các du sĩ của hoàng hậu Udumbarikā.
Tena kho pana samayena nigrodho paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Now at that time, Nigrodha was sitting together with a large assembly of wanderers making an uproar, a colossal racket. They engaged in all kinds of low talk, such as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place.
50. Lúc bấy giờ, du sĩ Nigrodha đang ngồi cùng với hội chúng du sĩ đông đảo, họ đang nói chuyện ồn ào, lớn tiếng, vang dội, với nhiều loại hý luận. Tức là: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện kinh sợ, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện ngã ba đường, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện thế gian, chuyện biển cả, và chuyện thịnh suy như vậy đó.
Addasā kho nigrodho paribbājako sandhānaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvā sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati sandhāno gahapati. Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā rājagahe paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro sandhāno gahapati. Appasaddakāmā kho panete āyasmanto appasaddavinītā, appasaddassa vaṇṇavādino. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti. Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Nigrodha saw Sandhāna coming off in the distance, and hushed his own assembly: “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. The householder Sandhāna, a disciple of the ascetic Gotama, is coming. He is included among the white-clothed lay disciples of the ascetic Gotama, who is residing near Rājagaha. Such venerables like the quiet, are educated to be quiet, and praise the quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.” Then those wanderers fell silent.
51. Du sĩ Nigrodha thấy gia chủ Sandhāna từ xa đi đến. Thấy vậy, ông ra hiệu cho hội chúng của mình: “Này quý vị, hãy im lặng! Này quý vị, đừng làm ồn! Vị gia chủ Sandhāna này là đệ tử của Sa-môn Gotama đang đi đến. Trong số các đệ tử tại gia mặc y trắng của Sa-môn Gotama đang sống tại Rājagaha, vị gia chủ Sandhāna này là một trong số họ. Các vị tôn giả ấy ưa thích sự im lặng, được huấn luyện trong sự im lặng, và tán thán sự im lặng. Có lẽ khi biết hội chúng này im lặng, vị ấy sẽ nghĩ rằng nên đến gần.” Khi được nói vậy, các du sĩ ấy liền im lặng.
Atha kho sandhāno gahapati yena nigrodho paribbājako tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā nigrodhena paribbājakena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sandhāno gahapati nigrodhaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “aññathā kho ime bhonto aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ …pe… itibhavābhavakathaṁ iti vā. Aññathā kho pana so bhagavā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppānī”ti.
Then Sandhāna went up to the wanderer Nigrodha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Nigrodha, “The way the wanderers make an uproar as they sit together and talk about all kinds of low topics is one thing. It’s quite different to the way the Buddha frequents remote lodgings in the wilderness and the forest that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat.”
52. Rồi gia chủ Sandhāna đến chỗ du sĩ Nigrodha; đến nơi, ông cùng du sĩ Nigrodha chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, gia chủ Sandhāna nói với du sĩ Nigrodha điều này: “Thật khác biệt, này quý vị, các du sĩ ngoại đạo này, khi tụ tập, hội họp, lại ồn ào, lớn tiếng, vang dội, chuyên tâm vào nhiều loại hý luận. Tức là: chuyện vua chúa... cho đến... chuyện thịnh suy như vậy đó. Nhưng thật khác biệt, Thế Tôn kia lại thường lui tới những trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư.”
Evaṁ vutte, nigrodho paribbājako sandhānaṁ gahapatiṁ etadavoca: “yagghe, gahapati, jāneyyāsi, kena samaṇo gotamo saddhiṁ sallapati, kena sākacchaṁ samāpajjati, kena paññāveyyattiyaṁ samāpajjati? Suññāgārahatā samaṇassa gotamassa paññā aparisāvacaro samaṇo gotamo nālaṁ sallāpāya. So antamantāneva sevati. Seyyathāpi nāma gokāṇā pariyantacārinī antamantāneva sevati. Evameva suññāgārahatā samaṇassa gotamassa paññā; aparisāvacaro samaṇo gotamo; nālaṁ sallāpāya. So antamantāneva sevati. Iṅgha, gahapati, samaṇo gotamo imaṁ parisaṁ āgaccheyya, ekapañheneva naṁ saṁsādeyyāma, tucchakumbhīva naṁ maññe orodheyyāmā”ti.
When Sandhāna said this, Nigrodha said to him, “Surely, householder, you should know better! With whom does the ascetic Gotama converse? With whom does he engage in discussion? With whom does he achieve lucidity of wisdom? Staying in empty huts has destroyed the ascetic Gotama’s wisdom. Not frequenting assemblies, he is unable to hold a discussion. He just lurks on the periphery. He’s just like a one-eyed cow, circling around and lurking on the periphery. Go on, householder! Were the ascetic Gotama to come to this assembly, I’d sink him with just one question! I’d tie him up like a hollow pot!”
53. Khi được nói vậy, du sĩ Nigrodha nói với gia chủ Sandhāna điều này: “Này gia chủ, ông có biết Sa-môn Gotama nói chuyện với ai không, thảo luận với ai không, đạt đến sự tỏ rõ trí tuệ với ai không? Trí tuệ của Sa-môn Gotama đã bị hủy hoại bởi nơi vắng vẻ. Sa-môn Gotama không quen với hội chúng, không có khả năng đàm luận. Vị ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Ví như con bò cái chột mắt, chỉ đi ở rìa đàn, chỉ lui tới những nơi rìa mép. Cũng vậy, trí tuệ của Sa-môn Gotama đã bị hủy hoại bởi nơi vắng vẻ; Sa-môn Gotama không quen với hội chúng; không có khả năng đàm luận. Vị ấy chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Này gia chủ, nếu Sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng tôi chỉ cần một câu hỏi là có thể làm cho ngài ấy im bặt, tôi nghĩ chúng tôi có thể vây hãm ngài ấy như một cái bình rỗng.”
Assosi kho bhagavā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya sandhānassa gahapatissa nigrodhena paribbājakena saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho bhagavā gijjhakūṭā pabbatā orohitvā yena sumāgadhāya tīre moranivāpo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sumāgadhāya tīre moranivāpe abbhokāse caṅkami.
Addasā kho nigrodho paribbājako bhagavantaṁ sumāgadhāya tīre moranivāpe abbhokāse caṅkamantaṁ. Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha, ayaṁ samaṇo gotamo sumāgadhāya tīre moranivāpe abbhokāse caṅkamati. Appasaddakāmo kho pana so āyasmā, appasaddassa vaṇṇavādī. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyya. Sace samaṇo gotamo imaṁ parisaṁ āgaccheyya, imaṁ taṁ pañhaṁ puccheyyāma: ‘ko nāma so, bhante, bhagavato dhammo, yena bhagavā sāvake vineti, yena bhagavatā sāvakā vinītā assāsappattā paṭijānanti ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyan’”ti? Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
2. Tapojigucchāvāda
With clairaudience that is purified and superhuman, the Buddha heard this discussion between the householder Sandhāna and the wanderer Nigrodha. Then the Buddha descended from Vulture’s Peak Mountain and went to the peacocks’ feeding ground on the bank of the Sumāgadhā, where he walked mindfully in the open air.
Nigrodha saw him, and hushed his own assembly: “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. Here, the ascetic Gotama is walking mindfully on the bank of the Sumāgadhā. The venerable likes quiet and praises quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach. If he comes, I’ll ask him this question: ‘Sir, what teaching do you use to guide your disciples, through which they claim solace in the fundamental goal of the spiritual life?’” Then those wanderers fell silent.
2. Mortification in Disgust of Sin
54. Thế Tôn với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, đã nghe được cuộc đối thoại này giữa gia chủ Sandhāna và du sĩ Nigrodha. Rồi Thế Tôn từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, đến nơi cho công ăn ở bờ hồ Sumāgadhā; đến nơi, Ngài kinh hành ngoài trời tại nơi cho công ăn ở bờ hồ Sumāgadhā. Du sĩ Nigrodha thấy Thế Tôn đang kinh hành ngoài trời tại nơi cho công ăn ở bờ hồ Sumāgadhā. Thấy vậy, ông ra hiệu cho hội chúng của mình: “Này quý vị, hãy im lặng! Này quý vị, đừng làm ồn! Sa-môn Gotama kia đang kinh hành ngoài trời tại nơi cho công ăn ở bờ hồ Sumāgadhā. Vị tôn giả ấy ưa thích sự im lặng, tán thán sự im lặng. Có lẽ khi biết hội chúng này im lặng, vị ấy sẽ nghĩ rằng nên đến gần. Nếu Sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi ngài câu hỏi này: ‘Thưa ngài, pháp của Thế Tôn là gì, pháp mà Thế Tôn dùng để giáo huấn các đệ tử, pháp mà nhờ đó các đệ tử được Thế Tôn giáo huấn, đạt được sự an ổn và tuyên bố về ý hướng của phạm hạnh căn bản?’” Khi được nói vậy, các du sĩ ấy liền im lặng.
Atha kho bhagavā yena nigrodho paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho nigrodho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “etu kho, bhante, bhagavā, svāgataṁ, bhante, bhagavato. Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu, bhante, bhagavā, idamāsanaṁ paññattan”ti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nigrodhopi kho paribbājako aññataraṁ nīcāsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho nigrodhaṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca: “kāya nuttha, nigrodha, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
Evaṁ vutte, nigrodho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “idha mayaṁ, bhante, addasāma bhagavantaṁ sumāgadhāya tīre moranivāpe abbhokāse caṅkamantaṁ, disvāna evaṁ avocumhā: ‘sace samaṇo gotamo imaṁ parisaṁ āgaccheyya, imaṁ taṁ pañhaṁ puccheyyāma: “ko nāma so, bhante, bhagavato dhammo, yena bhagavā sāvake vineti, yena bhagavatā sāvakā vinītā assāsappattā paṭijānanti ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyan”’ti? Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā; atha bhagavā anuppatto”ti.
Then the Buddha went up to the wanderer Nigrodha, who said to him, “Let the Blessed One come, sir! Welcome to the Blessed One, sir! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, here, a seat is ready.” The Buddha sat down on the seat spread out, while Nigrodha took a low seat and sat to one side. The Buddha said to him, “Nigrodha, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
Nigrodha said, “Well, sir, I saw you walking mindfully and said: ‘If the ascetic Gotama comes, I’ll ask him this question: “Sir, what teaching do you use to guide your disciples, through which they claim solace in the fundamental goal of the spiritual life?”’ This is the conversation that was unfinished when the Buddha arrived.”
55. Bấy giờ, Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Nigrodha. Lúc ấy, du sĩ Nigrodha bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy đến. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo đến. Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ngồi, chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.” Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Nigrodha cũng lấy một chỗ ngồi thấp khác rồi ngồi sang một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Nigrodha đang ngồi một bên rằng: “Này Nigrodha, hiện các ông đang ngồi hội họp bàn luận về chuyện gì? Và câu chuyện gì của các ông đã bị gián đoạn?” Khi được nói vậy, du sĩ Nigrodha bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con đã thấy Thế Tôn đang đi kinh hành ngoài trời tại nơi nuôi công (Moranivāpa) bên bờ hồ Sumāgadhā. Thấy vậy, chúng con đã nói với nhau rằng: ‘Nếu Sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi ngài câu hỏi này: ‘Bạch Thế Tôn, giáo pháp của Thế Tôn là gì, giáo pháp mà Thế Tôn dùng để giáo huấn các đệ tử, giáo pháp mà các đệ tử được Thế Tôn giáo huấn, đã đạt được sự an ổn và tuyên bố về mục đích của phạm hạnh tối thượng?’’. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện của chúng con bị gián đoạn; rồi thì Thế Tôn đã đến.”
“Dujjānaṁ kho etaṁ, nigrodha, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena, yenāhaṁ sāvake vinemi, yena mayā sāvakā vinītā assāsappattā paṭijānanti ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyaṁ. Iṅgha tvaṁ maṁ, nigrodha, sake ācariyake adhijegucche pañhaṁ puccha: ‘kathaṁ santā nu kho, bhante, tapojigucchā paripuṇṇā hoti, kathaṁ aparipuṇṇā’”ti?
Evaṁ vutte, te paribbājakā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṁ: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, samaṇassa gotamassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma sakavādaṁ ṭhapessati, paravādena pavāressatī”ti.
“It’s hard for you to understand this, Nigrodha, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination. Please ask me a question about the higher disgust of sin in your own denomination: ‘How are the conditions for the fervent mortification in disgust of sin completed, and how are they incomplete?’”
When he said this, those wanderers made an uproar, “Oh lord, how incredible, how amazing! The ascetic Gotama has such power and might! For he sets aside his own doctrine and invites discussion on the doctrine of others!”
56. “Này Nigrodha, thật khó cho ông, một người có tà kiến, có khuynh hướng khác, có sở thích khác, có sự thực hành khác, có thầy dạy khác, để hiểu được giáo pháp mà Ta dùng để giáo huấn các đệ tử, giáo pháp mà các đệ tử được Ta giáo huấn, đã đạt được sự an ổn và tuyên bố về mục đích của phạm hạnh tối thượng. Thôi nào Nigrodha, ông hãy hỏi Ta một câu hỏi về giáo lý của thầy ông, về sự ghê tởm khổ hạnh: ‘Bạch Thế Tôn, làm thế nào để sự ghê tởm khổ hạnh được viên mãn, và làm thế nào để không được viên mãn?’” Khi được nói vậy, các du sĩ ấy đã trở nên ồn ào, la ó lớn tiếng: “Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Sa-môn Gotama thật có đại thần lực, đại oai đức, khi ngài gác lại giáo lý của mình và mời gọi tranh luận bằng giáo lý của người khác!”
Atha kho nigrodho paribbājako te paribbājake appasadde katvā bhagavantaṁ etadavoca: “mayaṁ kho, bhante, tapojigucchāvādā tapojigucchāsārā tapojigucchāallīnā viharāma. Kathaṁ santā nu kho, bhante, tapojigucchā paripuṇṇā hoti, kathaṁ aparipuṇṇā”ti?
Then Nigrodha, having quieted those wanderers, said to the Buddha, “Sir, we teach fervent mortification in disgust of sin, regarding it as essential and sticking to it. How are the conditions for the fervent mortification in disgust of sin completed, and how are they incomplete?”
57. Lúc ấy, du sĩ Nigrodha bảo các du sĩ ấy im lặng rồi bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng con là những người chủ trương sự ghê tởm khổ hạnh, xem sự ghê tởm khổ hạnh là cốt lõi, sống nương tựa vào sự ghê tởm khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, làm thế nào để sự ghê tởm khổ hạnh được viên mãn, và làm thế nào để không được viên mãn?”
“Idha, nigrodha, tapassī acelako hoti muttācāro, hatthāpalekhano, naehibhaddantiko, natiṭṭhabhaddantiko, nābhihaṭaṁ, na uddissakataṁ, na nimantanaṁ sādiyati, so na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāti, na eḷakamantaraṁ, na daṇḍamantaraṁ, na musalamantaraṁ, na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī, na macchaṁ, na maṁsaṁ, na suraṁ, na merayaṁ, na thusodakaṁ pivati, so ekāgāriko vā hoti ekālopiko, dvāgāriko vā hoti dvālopiko, sattāgāriko vā hoti sattālopiko, ekissāpi dattiyā yāpeti, dvīhipi dattīhi yāpeti, sattahipi dattīhi yāpeti; ekāhikampi āhāraṁ āhāreti, dvīhikampi āhāraṁ āhāreti, sattāhikampi āhāraṁ āhāreti, iti evarūpaṁ addhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. So sākabhakkho vā hoti, sāmākabhakkho vā hoti, nīvārabhakkho vā hoti, daddulabhakkho vā hoti, haṭabhakkho vā hoti, kaṇabhakkho vā hoti, ācāmabhakkho vā hoti, piññākabhakkho vā hoti, tiṇabhakkho vā hoti, gomayabhakkho vā hoti; vanamūlaphalāhāro yāpeti pavattaphalabhojī. So sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi dhāreti, chavadussānipi dhāreti, paṁsukūlānipi dhāreti, tirīṭānipi dhāreti, ajinampi dhāreti, ajinakkhipampi dhāreti, kusacīrampi dhāreti, vākacīrampi dhāreti, phalakacīrampi dhāreti, kesakambalampi dhāreti, vāḷakambalampi dhāreti, ulūkapakkhampi dhāreti, kesamassulocakopi hoti kesamassulocanānuyogamanuyutto, ubbhaṭṭhakopi hoti āsanapaṭikkhitto, ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto, kaṇṭakāpassayikopi hoti kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappeti, phalakaseyyampi kappeti, thaṇḍilaseyyampi kappeti, ekapassayikopi hoti rajojalladharo, abbhokāsikopi hoti yathāsanthatiko, vekaṭikopi hoti vikaṭabhojanānuyogamanuyutto, apānakopi hoti apānakattamanuyutto, sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha, yadi evaṁ sante tapojigucchā paripuṇṇā vā hoti aparipuṇṇā vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tapojigucchā paripuṇṇā hoti, no aparipuṇṇā”ti.
“Evaṁ paripuṇṇāyapi kho ahaṁ, nigrodha, tapojigucchāya anekavihite upakkilese vadāmī”ti.
2.1. Upakkilesa
“Nigrodha, it’s when a mortifier goes naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared on their behalf, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breast-feeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live committed to the practice of eating food at set intervals. They eat herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. They survive on forest roots and fruits, or eating fallen fruit. They wear robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. They tear out their hair and beard, committed to this practice. They constantly stand, turning down seats. They squat, committed to the endeavor of squatting. They lie on a mat of thorns, making a mat of thorns their bed. They make their bed on a plank, or the bare ground. They lie only on one side. They wear dust and dirt. They stay in the open air. They sleep wherever they lay their mat. They eat unnatural things, committed to the practice of eating unnatural foods. They don’t drink, committed to the practice of not drinking liquids. They’re devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk.
What do you think, Nigrodha? If this is so, is the fervent mortification in disgust of sin complete, or incomplete?”
“Clearly, sir, if that is so the fervent mortification in disgust of sin is complete, not incomplete.”
“But even such a completed mortification has many defects, I say.”
2.1. Defects
“Này Nigrodha, ở đây, có vị khổ hạnh không mặc quần áo, sống phóng túng, liếm tay cho sạch, không nhận lời mời ‘xin mời ngài đến’, không nhận lời mời ‘xin ngài hãy đứng lại’, không nhận vật thực được mang đến, không nhận vật thực được nấu riêng cho mình, không nhận lời mời. Vị ấy không nhận vật thực từ miệng nồi, không nhận vật thực từ miệng giỏ, không nhận khi có ngưỡng cửa ở giữa, khi có cây gậy ở giữa, khi có cái chày ở giữa, không nhận từ một trong hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang giao hợp với đàn ông, không nhận vật thực được quyên góp, không nhận vật thực ở nơi có chó đứng chờ, không nhận vật thực ở nơi có ruồi bu. Vị ấy không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu men, không uống nước cháo chua. Vị ấy chỉ nhận vật thực ở một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc nhận ở hai nhà, ăn hai miếng; hoặc nhận ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Vị ấy sống chỉ với một bát nhỏ, hoặc sống với hai bát nhỏ, hoặc sống với bảy bát nhỏ. Vị ấy ăn một ngày một lần, hoặc ăn hai ngày một lần, hoặc ăn bảy ngày một lần. Cứ như thế, vị ấy sống theo lối thực hành ăn uống theo định kỳ, cho đến nửa tháng một lần. Vị ấy ăn rau, ăn lúa hoang, ăn gạo lức, ăn da vụn, ăn rêu, ăn cám, ăn váng cháo, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bò; sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn các loại quả tự rụng. Vị ấy mặc y bằng vải gai, y bằng vải gai pha trộn, y bằng vải liệm người chết, y bằng vải lượm từ đống rác, y bằng vỏ cây, y bằng da sơn dương, y bằng mảnh da sơn dương, y bằng cỏ kusa, y bằng vỏ cây sợi, y bằng mảnh gỗ, y bằng lông tóc người, y bằng lông đuôi ngựa, y bằng cánh cú. Vị ấy nhổ râu tóc, chuyên tâm thực hành việc nhổ râu tóc. Vị ấy chỉ đứng, từ chối chỗ ngồi. Vị ấy chỉ ngồi xổm, chuyên tâm thực hành việc ngồi xổm. Vị ấy nằm trên gai, thực hành việc nằm trên giường gai. Vị ấy cũng nằm trên tấm ván, cũng nằm trên đất trống. Vị ấy chỉ nằm một bên, mình mẩy lấm lem bụi bẩn. Vị ấy sống ngoài trời, sống ở bất cứ nơi nào được sắp đặt. Vị ấy ăn đồ dơ bẩn, chuyên tâm thực hành việc ăn đồ dơ bẩn. Vị ấy không uống nước, chuyên tâm thực hành việc không uống nước. Vị ấy sống chuyên tâm thực hành việc xuống nước ba lần mỗi ngày, kể cả buổi tối. Ông nghĩ thế nào, này Nigrodha, khi sự việc là như vậy, sự ghê tởm khổ hạnh có được viên mãn hay không viên mãn?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn khi sự việc là như vậy, sự ghê tởm khổ hạnh được viên mãn, chứ không phải không viên mãn.” “Ta nói rằng, này Nigrodha, ngay cả trong sự ghê tởm khổ hạnh viên mãn như vậy cũng có nhiều loại phiền não cấu uế.”
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā evaṁ paripuṇṇāya tapojigucchāya anekavihite upakkilese vadatī”ti?
“Idha, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
“But how does the Buddha say that even such a completed mortification has many defects?”
“Firstly, a mortifier undertakes a practice of mortification. They’re happy with that, as they’ve got all they wished for. This is a defect in that mortifier.
58. “Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn lại nói về các loại phiền não cấu uế đa dạng trong pháp khổ hạnh ghê tởm tội lỗi đã được viên mãn như vậy?” “Này Nigrodha, ở đây, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy hoan hỷ với khổ hạnh ấy, có ý nguyện được viên mãn. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy hoan hỷ với khổ hạnh ấy, có ý nguyện được viên mãn. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā attānukkaṁseti paraṁ vambheti. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā attānukkaṁseti paraṁ vambheti. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They glorify themselves and put others down on account of that. This too is a defect in that mortifier.
“Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tán dương mình, chê bai người. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tán dương mình, chê bai người. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā majjati mucchati pamādamāpajjati. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā majjati mucchati pamādamāpajjati. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They become indulgent and infatuated and fall into negligence on account of that. This too is a defect in that mortifier.
“Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà say sưa, mê đắm, đi đến phóng dật. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà say sưa, mê đắm, đi đến phóng dật. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They generate possessions, honor, and popularity through that mortification. They’re happy with that, as they’ve got all they wished for. This too is a defect in that mortifier.
59. “Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà hoan hỷ, có ý nguyện được viên mãn. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà hoan hỷ, có ý nguyện được viên mãn. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena attānukkaṁseti paraṁ vambheti. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena attānukkaṁseti paraṁ vambheti. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They generate possessions, honor, and popularity through that mortification. They glorify themselves and put others down on account of that. This too is a defect in that mortifier.
“Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà tán dương mình, chê bai người. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà tán dương mình, chê bai người. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena majjati mucchati pamādamāpajjati. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena majjati mucchati pamādamāpajjati. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They generate possessions, honor, and popularity through that mortification. They become indulgent and infatuated and fall into negligence on account of that. This too is a defect in that mortifier.
“Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà say sưa, mê đắm, đi đến phóng dật. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, vị ấy vì khổ hạnh ấy mà tạo ra lợi lộc, cung kính, danh tiếng; vị ấy vì lợi lộc, cung kính, danh tiếng ấy mà say sưa, mê đắm, đi đến phóng dật. Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī bhojanesu vodāsaṁ āpajjati: ‘idaṁ me khamati, idaṁ me nakkhamatī’ti. So yañca khvassa nakkhamati, taṁ sāpekkho pajahati. Yaṁ panassa khamati, taṁ gadhito mucchito ajjhāpanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier becomes fussy about food, saying, ‘This is acceptable to me, this is not acceptable to me.’ What is not acceptable they give up in expectation. But what is acceptable they eat tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape. This too is a defect in that mortifier.
60. “Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh đi đến sự phân biệt trong các món ăn: ‘Món này tôi thích, món này tôi không thích.’ Vị ấy từ bỏ món mình không thích với lòng luyến tiếc. Còn món mình thích, vị ấy thọ dụng với sự tham lam, mê đắm, dính mắc, không thấy sự nguy hại, không có trí tuệ thoát ly. ... Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati lābhasakkārasilokanikantihetu: ‘sakkarissanti maṁ rājāno rājamahāmattā khattiyā brāhmaṇā gahapatikā titthiyā’ti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification out of longing for possessions, honor, and popularity, thinking, ‘Kings, royal ministers, aristocrats, brahmins, householders, and sectarians will honor me!’ This too is a defect in that mortifier.
“Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh vì mục đích ưa thích lợi lộc, cung kính, danh tiếng, với ý nghĩ: ‘Các vị vua, các vị đại thần, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các gia chủ, các người theo ngoại giáo sẽ cung kính ta.’ ... Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī aññataraṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā apasādetā hoti: ‘kiṁ panāyaṁ sambahulājīvo sabbaṁ sambhakkheti. Seyyathidaṁ—mūlabījaṁ khandhabījaṁ phaḷubījaṁ aggabījaṁ bījabījameva pañcamaṁ, asanivicakkaṁ dantakūṭaṁ, samaṇappavādenā’ti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī passati aññataraṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā kulesu sakkariyamānaṁ garukariyamānaṁ māniyamānaṁ pūjiyamānaṁ. Disvā tassa evaṁ hoti: ‘imañhi nāma sambahulājīvaṁ kulesu sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Maṁ pana tapassiṁ lūkhājīviṁ kulesu na sakkaronti na garuṁ karonti na mānenti na pūjentī’ti, iti so issāmacchariyaṁ kulesu uppādetā hoti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī āpāthakanisādī hoti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī attānaṁ adassayamāno kulesu carati: ‘idampi me tapasmiṁ idampi me tapasmin’ti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier rebukes a certain ascetic or brahmin, ‘What is it with this one living in abundance, devouring everything—plants propagated from roots, trunks, cuttings, or joints; and those from regular seeds as the fifth. According to this ascetic’s doctrine, the crown of the tooth is forked lightning!’ This too is a defect in that mortifier.
Furthermore, a mortifier sees a certain ascetic or brahmin being honored, respected, esteemed, and venerated among good families. They think, ‘This one, who lives in abundance, is honored, respected, esteemed, and venerated among good families. But I, a fervent mortifier who lives rough, am not honored, respected, esteemed, and venerated among good families.’ Thus they give rise to jealousy and stinginess regarding families. This too is a defect in that mortifier.
Furthermore, a mortifier sits meditation only when people can see them. This too is a defect in that mortifier.
Furthermore, a mortifier sneaks about among families, thinking, ‘This is part of my mortification; this is part of my mortification.’ This too is a defect in that mortifier.
61. “Lại nữa, này Nigrodha, người tu khổ hạnh có thói quen chê bai một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó: ‘Vị này sống sung túc, ăn đủ mọi thứ. Cụ thể là: các loại hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là chính hạt giống. Kẻ có hàm răng như cối xay, kẻ mang danh là Sa-môn này thì có gì hay ho?’ ... Này Nigrodha, đây cũng là phiền não cấu uế của người tu khổ hạnh.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī kiñcideva paṭicchannaṁ sevati. So ‘khamati te idan’ti puṭṭho samāno akkhamamānaṁ āha: ‘khamatī’ti. Khamamānaṁ āha: ‘nakkhamatī’ti. Iti so sampajānamusā bhāsitā hoti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā dhammaṁ desentassa santaṁyeva pariyāyaṁ anuññeyyaṁ nānujānāti …pe… ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī kodhano hoti upanāhī. Yampi, nigrodha, tapassī kodhano hoti upanāhī. Ayampi kho, nigrodha, tapassino upakkileso hoti.
Furthermore, a mortifier sometimes behaves in an underhand manner. When asked whether something is acceptable to them, they say it is, even though it isn’t. Or they say it isn’t, even though it is. Thus they tell a deliberate lie. This too is a defect in that mortifier.
Furthermore, a mortifier disagrees with the way that the Realized One or their disciple teaches Dhamma, even when they make a valid point. This too is a defect in that mortifier.
Furthermore, a mortifier is irritable and acrimonious …
68. Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không phải là người ngồi ở nơi dễ thấy... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy tạo ra được lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng. Do lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng ấy, vị ấy không say sưa, không mê muội, không rơi vào sự dễ duôi... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh là người hay gièm pha, là người hay ganh đua, ... là người tật đố, là người keo kiệt, ... là người xảo trá, là người gian trá, ... là người cứng đầu, là người quá mạn, ... là người có ác dục, bị các ác dục chi phối, ... là người có tà kiến, thành tựu với quan điểm cực đoan, ... là người chấp thủ vào quan điểm của mình, là người nắm giữ một cách kiên cố, khó từ bỏ. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh là người chấp thủ vào quan điểm của mình, là người nắm giữ một cách kiên cố, khó từ bỏ, này Nigrodha, đây cũng là sự uế nhiễm của người tu khổ hạnh.
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha, yadime tapojigucchā upakkilesā vā anupakkilesā vā”ti?
“Addhā kho ime, bhante, tapojigucchā upakkilesā, no anupakkilesā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhante, vijjati yaṁ idhekacco tapassī sabbeheva imehi upakkilesehi samannāgato assa; ko pana vādo aññataraññatarenā”ti.
What do you think, Nigrodha? Are such mortifications defective or not?”
“Clearly, sir, they’re defective. It’s possible that a mortifier might have all of these defects, let alone one or other of them.”
Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào về điều này, những điều ghê tởm trong khổ hạnh này là uế nhiễm hay không phải là uế nhiễm?" "Bạch Thế Tôn, chắc chắn những điều ghê tởm trong khổ hạnh này là uế nhiễm, không phải là không uế nhiễm. Bạch Thế Tôn, có trường hợp này, ở đây có người tu khổ hạnh thành tựu với tất cả những uế nhiễm này; huống nữa là với một vài uế nhiễm trong số đó."
2.2. Parisuddhapapaṭikappattakathā
2.2. On Reaching the Shoots
Lời thuyết giảng về sự thanh tịnh tương tự như vỏ cây
“Idha, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. Yampi, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo. Evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
“Firstly, Nigrodha, a mortifier undertakes a practice of mortification. But they’re not happy with that, as they still haven’t got all they wished for. So they’re pure on that point.
64. Này Nigrodha, ở đây, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy không hoan hỷ, không có ý nghĩ rằng mình đã viên mãn. Này Nigrodha, việc người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, và do khổ hạnh ấy, vị ấy không hoan hỷ, không có ý nghĩ rằng mình đã viên mãn, như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā na attānukkaṁseti na paraṁ vambheti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They don’t glorify themselves or put others down on account of that. So they’re pure on that point.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy không tán dương mình, không chê bai người khác... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā na majjati na mucchati na pamādamāpajjati …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
They don’t become indulgent …
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy không say sưa, không mê muội, không rơi vào sự dễ duôi... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena na attamano hoti na paripuṇṇasaṅkappo …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier undertakes a practice of mortification. They generate possessions, honor, and popularity through that mortification. They’re not happy with that, as they still haven’t got all they wished for …
65. Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy tạo ra được lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng. Do lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng ấy, vị ấy không hoan hỷ, không có ý nghĩ rằng mình đã viên mãn... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena na attānukkaṁseti na paraṁ vambheti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tapaṁ samādiyati, so tena tapasā lābhasakkārasilokaṁ abhinibbatteti, so tena lābhasakkārasilokena na majjati na mucchati na pamādamāpajjati …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
They don’t glorify themselves and put others down on account of possessions, honor, and popularity …
They don’t become indulgent because of it … So they’re pure on that point.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thực hành khổ hạnh, do khổ hạnh ấy, vị ấy tạo ra được lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng. Do lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng ấy, vị ấy không tán dương mình, không chê bai người khác... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī bhojanesu na vodāsaṁ āpajjati: ‘idaṁ me khamati, idaṁ me nakkhamatī’ti. So yañca khvassa nakkhamati, taṁ anapekkho pajahati. Yaṁ panassa khamati, taṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier doesn’t become fussy about food, saying, ‘This is acceptable to me, this is not acceptable to me.’ What is not acceptable they give up without concern. But what is acceptable they eat without being tied, infatuated, attached, seeing the drawbacks, and understanding the escape. So they’re pure on that point.
66. Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không phân biệt trong các món ăn rằng: ‘Món này tôi thích, món này tôi không thích.’ Vị ấy từ bỏ món mà mình không thích một cách không luyến tiếc. Còn món mà mình thích, vị ấy thọ dụng không tham đắm, không mê muội, không dính mắc, thấy được sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī na tapaṁ samādiyati lābhasakkārasilokanikantihetu: ‘sakkarissanti maṁ rājāno rājamahāmattā khattiyā brāhmaṇā gahapatikā titthiyā’ti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier doesn’t undertake a practice of mortification out of longing for possessions, honor, and popularity … ‘Kings, royal ministers, aristocrats, brahmins, householders, and sectarians will honor me!’ So they’re pure on that point.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không thực hành khổ hạnh vì lý do ưa thích lợi lộc, sự cung kính, và danh tiếng, với ý nghĩ rằng: ‘Các vị vua, các vị đại thần, các vị Sát-đế-lỵ, các vị Bà-la-môn, các vị gia chủ, các người theo ngoại đạo sẽ cung kính ta’... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī aññataraṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā nāpasādetā hoti: ‘kiṁ panāyaṁ sambahulājīvo sabbaṁ sambhakkheti. Seyyathidaṁ—mūlabījaṁ khandhabījaṁ phaḷubījaṁ aggabījaṁ bījabījameva pañcamaṁ, asanivicakkaṁ dantakūṭaṁ, samaṇappavādenā’ti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier doesn’t rebuke a certain ascetic or brahmin, ‘What is it with this one living in abundance, devouring everything—plants propagated from roots, trunks, cuttings, or joints; and those from regular seeds as the fifth. According to this ascetic’s doctrine, the crown of the tooth is like forked lightning!’ So they’re pure on that point.
67. Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không phải là người hay chỉ trích một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác rằng: ‘Tại sao vị này có sinh kế đa dạng lại ăn tất cả mọi thứ? Cụ thể là: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là chính hạt giống. Răng như búa sét, chỉ là danh xưng Sa-môn mà thôi’... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī passati aññataraṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā kulesu sakkariyamānaṁ garu kariyamānaṁ māniyamānaṁ pūjiyamānaṁ. Disvā tassa na evaṁ hoti: ‘imañhi nāma sambahulājīvaṁ kulesu sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti. Maṁ pana tapassiṁ lūkhājīviṁ kulesu na sakkaronti na garuṁ karonti na mānenti na pūjentī’ti, iti so issāmacchariyaṁ kulesu nuppādetā hoti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī na āpāthakanisādī hoti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier sees a certain ascetic or brahmin being honored, respected, esteemed, and venerated among good families. It never occurs to them, ‘This one, who lives in abundance, is honored, respected, esteemed, and venerated among good families. But I, a fervent mortifier who lives rough, am not honored, respected, esteemed, and venerated among good families.’ Thus they don’t give rise to jealousy and stinginess regarding families. So they’re pure on that point.
Furthermore, a mortifier doesn’t sit meditation only when people can see them. So they’re pure on that point.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh thấy một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác được các gia đình cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Sau khi thấy, vị ấy không khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Vị này có sinh kế đa dạng mà được các gia đình cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường. Còn ta, một người tu khổ hạnh, sống đạm bạc, lại không được các gia đình cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường.’ Như vậy, vị ấy không phải là người khởi lên lòng ganh tỵ và keo kiệt đối với các gia đình... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī na attānaṁ adassayamāno kulesu carati: ‘idampi me tapasmiṁ, idampi me tapasmin’ti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī na kiñcideva paṭicchannaṁ sevati, so:
Furthermore, a mortifier doesn’t sneak about among families, thinking, ‘This is part of my mortification; this is part of my mortification.’ So they’re pure on that point.
Furthermore, a mortifier never behaves in an underhand manner.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không đi lại giữa các gia đình trong khi phô trương bản thân rằng: ‘Đây cũng là khổ hạnh của tôi, đây cũng là khổ hạnh của tôi’... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không thực hành bất cứ điều gì một cách che giấu. Khi được hỏi: ‘Ông có thích điều này không?’, nếu không thích, vị ấy nói: ‘Không thích.’ Nếu thích, vị ấy nói: ‘Thích.’ Như vậy, vị ấy không phải là người cố ý nói dối... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā dhammaṁ desentassa santaṁyeva pariyāyaṁ anuññeyyaṁ anujānāti …pe… evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier agrees with the way that the Realized One or their disciple teaches Dhamma when they make a valid point. So they’re pure on that point.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh, khi Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai đang thuyết Pháp, vị ấy thừa nhận những điểm đáng tán thán đúng như thật... như vậy vị ấy được thanh tịnh ở mức độ đó.
Puna caparaṁ, nigrodha, tapassī akkodhano hoti anupanāhī. Yampi, nigrodha, tapassī akkodhano hoti anupanāhī evaṁ so tasmiṁ ṭhāne parisuddho hoti.
Furthermore, a mortifier is not irritable and acrimonious …
69. Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không phẫn nộ, không ôm hận. Này Nigrodha, do vì người tu khổ hạnh không phẫn nộ, không ôm hận, như vậy vị ấy được thanh tịnh ở trong trường hợp ấy.
Này Nigrodha, lại nữa, người tu khổ hạnh không gièm pha, không ganh tị, ... cho đến ... không tật đố, không xan tham, ... không xảo trá, không lừa đảo, ... không ngoan cố, không quá mạn, ... không có ác dục, không bị các ác dục chi phối, ... không có tà kiến, không đi đến kết luận cực đoan, ... không cố chấp vào tà kiến của mình, không phải là người nắm giữ một cách cứng nhắc, mà là người dễ từ bỏ. Này Nigrodha, do vì người tu khổ hạnh không cố chấp vào tà kiến của mình, không phải là người nắm giữ một cách cứng nhắc, mà là người dễ từ bỏ. Như vậy vị ấy được thanh tịnh ở trong trường hợp ấy.
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha, yadi evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā vā hoti aparisuddhā vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā hoti no aparisuddhā, aggappattā ca sārappattā cā”ti.
“Na kho, nigrodha, ettāvatā tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca; api ca kho papaṭikappattā hotī”ti.
What do you think, Nigrodha? If this is so, is the fervent mortification in disgust of sin purified or not?”
“Clearly, sir, it is purified. It has reached the peak and the pith.”
“No, Nigrodha, at this point the fervent mortification in disgust of sin has not yet reached the peak and the pith. Rather, it has only reached the shoots.”
Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Nếu như vậy, pháp môn khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?" "Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng, nếu như vậy, pháp môn khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đã đạt đến tột đỉnh và đã đạt đến cốt lõi." "Này Nigrodha, chừng ấy chưa đủ để pháp môn khổ hạnh đạt đến tột đỉnh và đạt đến cốt lõi; mà chỉ mới đạt đến lớp vỏ cây bên ngoài mà thôi."
2.3. Parisuddhatacappattakathā
2.3. On Reaching the Bark
Câu chuyện về sự thanh tịnh đạt đến lớp vỏ cây
“Kittāvatā pana, bhante, tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca? Sādhu me, bhante, bhagavā tapojigucchāya aggaññeva pāpetu, sāraññeva pāpetū”ti.
“Idha, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti. Kathañca, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti? Idha, nigrodha, tapassī na pāṇaṁ atipāteti, na pāṇaṁ atipātayati, na pāṇamatipātayato samanuñño hoti. Na adinnaṁ ādiyati, na adinnaṁ ādiyāpeti, na adinnaṁ ādiyato samanuñño hoti. Na musā bhaṇati, na musā bhaṇāpeti, na musā bhaṇato samanuñño hoti. Na bhāvitamāsīsati, na bhāvitamāsīsāpeti, na bhāvitamāsīsato samanuñño hoti. Evaṁ kho, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti.
“But at what point, sir, does the fervent mortification in disgust of sin reach the peak and the pith? Please help me reach the peak and the pith!”
“Nigrodha, take a mortifier who is restrained in the fourfold constraint. And how is a mortifier restrained in the fourfold constraint? It’s when a mortifier doesn’t kill living creatures, doesn’t get others to kill, and doesn’t approve of killing. They don’t steal, get others to steal, or approve of stealing. They don’t lie, get others to lie, or approve of lying. They don’t expect rewards from their practice, they don’t lead others to expect rewards, and they don’t approve of expecting rewards. That’s how a mortifier is restrained in the fourfold constraint.
70. "Bạch Thế Tôn, đến mức độ nào thì pháp môn khổ hạnh đạt đến tột đỉnh và đạt đến cốt lõi? Bạch Thế Tôn, mong thay Thế Tôn hãy làm cho pháp môn khổ hạnh của con đạt đến tột đỉnh, đạt đến cốt lõi." "Này Nigrodha, ở đây, người tu khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ. Và này Nigrodha, thế nào là người tu khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ? Này Nigrodha, ở đây, người tu khổ hạnh không sát sanh, không bảo người khác sát sanh, không đồng tình với người sát sanh. Không lấy của không cho, không bảo người khác lấy của không cho, không đồng tình với người lấy của không cho. Không nói dối, không bảo người khác nói dối, không đồng tình với người nói dối. Không hưởng thụ dục lạc, không bảo người khác hưởng thụ dục lạc, không đồng tình với người hưởng thụ dục lạc. Này Nigrodha, như vậy là người tu khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ.
Yato kho, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti, aduṁ cassa hoti tapassitāya. So abhiharati no hīnāyāvattati. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti. Byāpādappadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādappadosā cittaṁ parisodheti. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
When a mortifier is restrained in the fourfold constraint, that is their mortification. They step forward, not falling back. They frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
Này Nigrodha, khi người tu khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ, đây là khổ hạnh của vị ấy. Vị ấy tiến tới, không lui sụt về đời sống thấp kém. Vị ấy tìm đến một nơi trú ngụ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, hang động, bãi tha ma, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, vị ấy ngồi xuống, xếp bằng, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với tâm an tịnh nội tại, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then they meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
71. Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, liền an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đáo đại, vô lượng, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... cho đến... với tâm câu hữu với hỷ... cho đến... với tâm câu hữu với xả, vị ấy an trú, biến mãn một phương. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp tất cả, cùng khắp thế giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đáo đại, vô lượng, không hận, không sân.
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha. Yadi evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā vā hoti aparisuddhā vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā hoti no aparisuddhā, aggappattā ca sārappattā cā”ti.
“Na kho, nigrodha, ettāvatā tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca; api ca kho tacappattā hotī”ti.
What do you think, Nigrodha? If this is so, is the fervent mortification in disgust of sin purified or not?”
“Clearly, sir, it is purified. It has reached the peak and the pith.”
“No, Nigrodha, at this point the fervent mortification in disgust of sin has not yet reached the peak and the pith. Rather, it has only reached the bark.”
Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Nếu như vậy, pháp môn khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?" "Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng, nếu như vậy, pháp môn khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, đã đạt đến tột đỉnh và đã đạt đến cốt lõi." "Này Nigrodha, chừng ấy chưa đủ để pháp môn khổ hạnh đạt đến tột đỉnh và đạt đến cốt lõi; mà chỉ mới đạt đến lớp vỏ cây mà thôi."
2.4. Parisuddhaphegguppattakathā
2.4. On Reaching the Softwood
Câu chuyện về sự thanh tịnh đạt đến lớp giác cây
“Kittāvatā pana, bhante, tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca? Sādhu me, bhante, bhagavā tapojigucchāya aggaññeva pāpetu, sāraññeva pāpetū”ti.
“Idha, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti. Kathañca, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti …pe… yato kho, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti, aduṁ cassa hoti tapassitāya. So abhiharati no hīnāyāvattati. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā …pe… karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ, tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
“But at what point, sir, does the fervent mortification in disgust of sin reach the peak and the pith? Please help me reach the peak and the pith!”
“Nigrodha, take a mortifier who is restrained in the fourfold constraint. They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then they meditate spreading a heart full of love … compassion … rejoicing … equanimity.
They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
72. “Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì sự chán ghét khổ hạnh đạt đến mức cao tột và đạt đến cốt lõi? Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy chỉ dạy cho con về sự chán ghét khổ hạnh để đạt đến mức cao tột, để đạt đến cốt lõi.” “Này Nigrodha, ở đây, vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ. Và này Nigrodha, thế nào là vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ? ... Này Nigrodha, khi vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ, điều này là do sự khổ hạnh của vị ấy. Vị ấy tiến tới, không lui sụt về đời sống thấp hèn. Vị ấy tìm đến trú xứ vắng vẻ... Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ... với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không sân hận, không ác ý. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta sanh ra ở nơi kia. Ở đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết ở nơi đó, ta sanh ra ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các tướng trạng và chi tiết.”
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha, yadi evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā vā hoti aparisuddhā vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā hoti, no aparisuddhā, aggappattā ca sārappattā cā”ti.
“Na kho, nigrodha, ettāvatā tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca; api ca kho phegguppattā hotī”ti.
What do you think, Nigrodha? If this is so, is the fervent mortification in disgust of sin purified or not?”
“Clearly, sir, it is purified. It has reached the peak and the pith.”
“No, Nigrodha, at this point the fervent mortification in disgust of sin has not yet reached the peak and the pith. Rather, it has only reached the softwood.”
“Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Nếu được như vậy, sự chán ghét khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng nếu được như vậy, sự chán ghét khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, và đã đạt đến mức cao tột, đã đạt đến cốt lõi.” “Này Nigrodha, chỉ với chừng ấy, sự chán ghét khổ hạnh chưa đạt đến mức cao tột, chưa đạt đến cốt lõi; mà chỉ mới đạt đến phần vỏ cây mà thôi.”
3. Parisuddhaaggappattasārappattakathā
3. On Reaching the Heartwood
Bàn về sự thanh tịnh, đạt đến mức cao tột và cốt lõi.
“Kittāvatā pana, bhante, tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca? Sādhu me, bhante, bhagavā tapojigucchāya aggaññeva pāpetu, sāraññeva pāpetū”ti.
“Idha, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti. Kathañca, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti …pe… yato kho, nigrodha, tapassī cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti, aduṁ cassa hoti tapassitāya. So abhiharati no hīnāyāvattati. So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe mettāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti.
“But at what point, sir, does the fervent mortification in disgust of sin reach the peak and the pith? Please help me reach the peak and the pith!”
“Nigrodha, take a mortifier who is restrained in the fourfold constraint. They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then they meditate spreading a heart full of love … equanimity … They recollect many kinds of past lives, with features and details.
With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
73. “Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì sự chán ghét khổ hạnh đạt đến mức cao tột và đạt đến cốt lõi? Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy chỉ dạy cho con về sự chán ghét khổ hạnh để đạt đến mức cao tột, để đạt đến cốt lõi.” “Này Nigrodha, ở đây, vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ. Và này Nigrodha, thế nào là vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ? ... Này Nigrodha, khi vị khổ hạnh được hộ trì bởi bốn sự phòng hộ, điều này là do sự khổ hạnh của vị ấy. Vị ấy tiến tới, không lui sụt về đời sống thấp hèn. Vị ấy tìm đến trú xứ vắng vẻ... Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này, là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ... với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô lượng, không sân hận, không ác ý. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời... Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các tướng trạng và chi tiết. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị hiền giả, các chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các nghiệp tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, các chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các nghiệp chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ.”
Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha, yadi evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā vā hoti aparisuddhā vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tapojigucchā parisuddhā hoti no aparisuddhā, aggappattā ca sārappattā cā”ti.
What do you think, Nigrodha? If this is so, is the fervent mortification in disgust of sin purified or not?”
“Clearly, sir, it is purified. It has reached the peak and the pith.”
“Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Nếu được như vậy, sự chán ghét khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng nếu được như vậy, sự chán ghét khổ hạnh là thanh tịnh, không phải không thanh tịnh, và đã đạt đến mức cao tột, đã đạt đến cốt lõi.”
“Ettāvatā kho, nigrodha, tapojigucchā aggappattā ca hoti sārappattā ca. Iti kho, nigrodha, yaṁ maṁ tvaṁ avacāsi: ‘ko nāma so, bhante, bhagavato dhammo, yena bhagavā sāvake vineti, yena bhagavatā sāvakā vinītā assāsappattā paṭijānanti ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyan’ti. Iti kho taṁ, nigrodha, ṭhānaṁ uttaritarañca paṇītatarañca, yenāhaṁ sāvake vinemi, yena mayā sāvakā vinītā assāsappattā paṭijānanti ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyan”ti.
“Nigrodha, at this point the fervent mortification in disgust of sin has reached the peak and the pith. Nigrodha, remember you said this to me: ‘Sir, what teaching do you use to guide your disciples, through which they claim solace in the fundamental goal of the spiritual life?’ Well, there is something better and finer than this. That’s what I use to guide my disciples, through which they claim solace in the fundamental goal of the spiritual life.”
74. “Này Nigrodha, chỉ với chừng ấy, sự chán ghét khổ hạnh mới đạt đến mức cao tột và đạt đến cốt lõi. Và này Nigrodha, về điều ngươi đã hỏi Ta: ‘Bạch Thế Tôn, pháp nào của Thế Tôn mà Thế Tôn dùng để huấn luyện các đệ tử, và nhờ đó các đệ tử được Thế Tôn huấn luyện, đã đạt được sự an ổn, tuyên bố về mục đích của phạm hạnh căn bản?’ Này Nigrodha, pháp ấy, mà Ta dùng để huấn luyện các đệ tử, và nhờ đó các đệ tử của Ta được huấn luyện, đã đạt được sự an ổn, tuyên bố về mục đích của phạm hạnh căn bản, thì pháp ấy còn cao thượng hơn và vi diệu hơn nữa.”
Evaṁ vutte, te paribbājakā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṁ: “ettha mayaṁ anassāma sācariyakā, na mayaṁ ito bhiyyo uttaritaraṁ pajānāmā”ti.
When he said this, those wanderers made an uproar, “In that case, we’re lost, and so is our denomination! We don’t know anything better or finer than that!”
Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy la ó, làm ồn ào, la hét lớn tiếng: – ‘Cả thầy lẫn trò chúng ta đều bị thất bại ở đây rồi! Chúng ta không biết được pháp nào cao thượng hơn, thù thắng hơn pháp này!’
4. Nigrodhassapajjhāyana
4. Nigrodha Feels Depressed
Sự bối rối của Nigrodha
Yadā aññāsi sandhāno gahapati: “aññadatthu kho dānime aññatitthiyā paribbājakā bhagavato bhāsitaṁ sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññācittaṁ upaṭṭhāpentī”ti.
Atha nigrodhaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “iti kho, bhante nigrodha, yaṁ maṁ tvaṁ avacāsi: ‘yagghe, gahapati, jāneyyāsi, kena samaṇo gotamo saddhiṁ sallapati, kena sākacchaṁ samāpajjati, kena paññāveyyattiyaṁ samāpajjati, suññāgārahatā samaṇassa gotamassa paññā, aparisāvacaro samaṇo gotamo nālaṁ sallāpāya, so antamantāneva sevati; seyyathāpi nāma gokāṇā pariyantacārinī antamantāneva sevati. Evameva suññāgārahatā samaṇassa gotamassa paññā, aparisāvacaro samaṇo gotamo nālaṁ sallāpāya; so antamantāneva sevati; iṅgha, gahapati, samaṇo gotamo imaṁ parisaṁ āgaccheyya, ekapañheneva naṁ saṁsādeyyāma, tucchakumbhīva naṁ maññe orodheyyāmā’ti. Ayaṁ kho so, bhante, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho idhānuppatto, aparisāvacaraṁ pana naṁ karotha, gokāṇaṁ pariyantacāriniṁ karotha, ekapañheneva naṁ saṁsādetha, tucchakumbhīva naṁ orodhethā”ti. Evaṁ vutte, nigrodho paribbājako tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Then the householder Sandhāna realized, “Obviously, now these wanderers want to listen to what the Buddha says. They’re actively listening and trying to understand!”
So he said to the wanderer Nigrodha, “Honorable Nigrodha, remember you said this to me: ‘Surely, householder, you should know better! With whom does the ascetic Gotama converse? With whom does he engage in discussion? With whom does he achieve lucidity of wisdom? Staying in empty huts has destroyed the ascetic Gotama’s wisdom. Not frequenting assemblies, he is unable to hold a discussion. He just lurks on the periphery. He’s just like a one-eyed cow, circling around and lurking on the periphery. Please, householder, let the ascetic Gotama come to this assembly. I’ll sink him with just one question! I’ll roll him over and wrap him up like a hollow pot!’ Now the Blessed One, perfected and fully awakened, has arrived here. Why don’t you send him out of the assembly to the periphery like a one-eyed cow? Why don’t you sink him with just one question? Why don’t you roll him over and wrap him up like a hollow pot?” When he said this, Nigrodha sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
75. Khi gia chủ Sandhāna biết rằng: “Nay, các du sĩ ngoại đạo này quả thực muốn nghe lời dạy của Thế Tôn, họ lắng tai nghe, họ chú tâm để hiểu.” Bấy giờ, ông nói với du sĩ Nigrodha điều này: “Thưa tôn giả Nigrodha, ngài đã nói với tôi rằng: ‘Này gia chủ, nên biết rằng, Sa-môn Gotama đàm luận với ai? Thảo luận với ai? Đạt được sự sáng suốt về trí tuệ với ai? Trí tuệ của Sa-môn Gotama đã bị hủy hoại bởi các trú xứ trống vắng. Sa-môn Gotama không quen với hội chúng, không có khả năng đàm luận, ông ta chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Ví như con bò cái chột mắt, chỉ đi lại ở ven rìa, chỉ lui tới những nơi ven rìa. Cũng vậy, trí tuệ của Sa-môn Gotama đã bị hủy hoại bởi các trú xứ trống vắng. Sa-môn Gotama không quen với hội chúng, không có khả năng đàm luận; ông ta chỉ lui tới những nơi hẻo lánh. Này gia chủ, nếu Sa-môn Gotama đến hội chúng này, chúng ta sẽ làm cho ông ta phải im lặng chỉ với một câu hỏi, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ dồn ép ông ta như dồn ép một cái bình rỗng.’ Thưa tôn giả, này là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã đến đây rồi. Vậy xin ngài hãy làm cho vị ấy thành người không quen với hội chúng đi, hãy làm cho vị ấy như con bò cái chột mắt chỉ đi lại ở ven rìa đi, hãy làm cho vị ấy phải im lặng chỉ với một câu hỏi đi, hãy dồn ép vị ấy như dồn ép một cái bình rỗng đi.” Khi được nói như vậy, du sĩ Nigrodha ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, cúi gằm mặt, trầm ngâm, không thể đối đáp.
Atha kho bhagavā nigrodhaṁ paribbājakaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā nigrodhaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “saccaṁ kira, nigrodha, bhāsitā te esā vācā”ti?
“Saccaṁ, bhante, bhāsitā me esā vācā, yathābālena yathāmūḷhena yathāakusalenā”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, nigrodha. Kinti te sutaṁ paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, evaṁ su te bhagavanto saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ …pe… itibhavābhavakathaṁ iti vā. Seyyathāpi tvaṁ etarahi sācariyako. Udāhu, evaṁ su te bhagavanto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni, seyyathāpāhaṁ etarahī’”ti.
Knowing this, the Buddha said to him, “Is it really true, Nigrodha—are those your words?”
“It’s true, sir, those are my words. It was foolish, stupid, and unskillful of me.”
“What do you think, Nigrodha? Have you heard that wanderers of the past who were elderly and senior, the tutors of tutors, said that when the perfected ones, the fully awakened Buddhas of the past came together, they made an uproar, a colossal racket as they sat and talked about all kinds of low topics, like you do in your denomination these days? Or did they say that the Buddhas frequented remote lodgings in the wilderness and the forest that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat, like I do these days?”
76. Bấy giờ, Thế Tôn, khi biết du sĩ Nigrodha đang ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, cúi gằm mặt, trầm ngâm, không thể đối đáp, đã nói với du sĩ Nigrodha điều này: “Này Nigrodha, có thật là ngươi đã nói những lời ấy không?” “Bạch Thế Tôn, thật vậy, con đã nói những lời ấy, do sự ngu dại, do sự si mê, do sự bất thiện của con.” “Này Nigrodha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi đã nghe các du sĩ bậc trưởng thượng, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, nói như thế nào: ‘Về những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, có phải các vị Thế Tôn ấy, sau khi tụ tập, hội họp, đã trú bằng cách chuyên tâm vào các loại hý luận đa dạng, với tiếng la ó, ồn ào, la hét lớn tiếng, như là: chuyện vua, chuyện trộm cướp... cho đến... chuyện thịnh suy, giống như ngươi và các thầy của ngươi hiện nay không? Hay là các vị Thế Tôn ấy đã lui tới các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư, giống như Ta hiện nay?’”
“Sutaṁ metaṁ, bhante. Paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, na evaṁ su te bhagavanto saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ …pe… itibhavābhavakathaṁ iti vā, seyyathāpāhaṁ etarahi sācariyako. Evaṁ su te bhagavanto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni, seyyathāpi bhagavā etarahī’”ti.
“I have heard that wanderers of the past who were elderly and senior, said that when the perfected ones, the fully awakened Buddhas of the past came together, they didn’t make an uproar, like I do in my denomination these days. They said that the Buddhas of the past frequented remote lodgings in the wilderness, like the Buddha does these days.”
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các du sĩ bậc trưởng thượng, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, nói rằng: ‘Về những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, các vị Thế Tôn ấy đã không, sau khi tụ tập, hội họp, trú bằng cách chuyên tâm vào các loại hý luận đa dạng, với tiếng la ó, ồn ào, la hét lớn tiếng, như là: chuyện vua, chuyện trộm cướp... cho đến... chuyện thịnh suy, giống như con và các thầy của con hiện nay. Các vị Thế Tôn ấy đã lui tới các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư, giống như Thế Tôn hiện nay.’”
“Tassa te, nigrodha, viññussa sato mahallakassa na etadahosi: ‘buddho so bhagavā bodhāya dhammaṁ deseti, danto so bhagavā damathāya dhammaṁ deseti, santo so bhagavā samathāya dhammaṁ deseti, tiṇṇo so bhagavā taraṇāya dhammaṁ deseti, parinibbuto so bhagavā parinibbānāya dhammaṁ desetī’”ti?
“Nigrodha, you are a sensible and mature man. Did it not occur to you: ‘The Blessed One is awakened, tamed, serene, crossed over, and quenched. And he teaches Dhamma for awakening, taming, serenity, crossing over, and extinguishment’?”
“Này Nigrodha, là một người có trí, một bậc cao niên, sao ngươi lại không có ý nghĩ này: ‘Thế Tôn là bậc Giác Ngộ, Ngài thuyết pháp vì sự giác ngộ; Thế Tôn là bậc đã được điều phục, Ngài thuyết pháp vì sự điều phục; Thế Tôn là bậc đã được tịch tịnh, Ngài thuyết pháp vì sự tịch tịnh; Thế Tôn là bậc đã vượt qua, Ngài thuyết pháp vì sự vượt qua; Thế Tôn là bậc đã đạt Niết-bàn, Ngài thuyết pháp vì sự chứng đạt Niết-bàn’?”
5. Brahmacariyapariyosānasacchikiriyā
5. The Culmination of the Spiritual Path
Sự chứng ngộ cứu cánh của phạm hạnh
Evaṁ vutte, nigrodho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yvāhaṁ evaṁ bhagavantaṁ avacāsiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, nigrodha, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yo maṁ tvaṁ evaṁ avacāsi. Yato ca kho tvaṁ, nigrodha, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhi hesā, nigrodha, ariyassa vinaye, yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati. Ahaṁ kho pana, nigrodha, evaṁ vadāmi:
Nigrodha said, “I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to speak in that way. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
“Indeed, Nigrodha, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to speak in that way. But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future. Nigrodha, this is what I say:
77. Khi được nói như vậy, du sĩ Nigrodha bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do sự ngu dại, do sự si mê, do sự bất thiện, khi con đã nói về Thế Tôn như vậy. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con có thể thu thúc trong tương lai.” “Chắc chắn vậy, này Nigrodha, lỗi lầm đã xâm chiếm ngươi, do sự ngu dại, do sự si mê, do sự bất thiện, khi ngươi đã nói về Ta như vậy. Và này Nigrodha, vì ngươi thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sám hối đúng theo pháp, nên Ta chấp nhận lỗi lầm ấy của ngươi. Này Nigrodha, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh: người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sám hối đúng theo pháp, và thực hành sự thu thúc trong tương lai. Và này Nigrodha, Ta nói như sau: –
‘Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati sattavassāni. Tiṭṭhantu, nigrodha, satta vassāni. Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati cha vassāni. Pañca vassāni … cattāri vassāni … tīṇi vassāni … dve vassāni … ekaṁ vassaṁ. Tiṭṭhatu, nigrodha, ekaṁ vassaṁ. Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati satta māsāni. Tiṭṭhantu, nigrodha, satta māsāni … cha māsāni … pañca māsāni … cattāri māsāni … tīṇi māsāni … dve māsāni … ekaṁ māsaṁ … aḍḍhamāsaṁ. Tiṭṭhatu, nigrodha, aḍḍhamāso. Etu viññū puriso asaṭho amāyāvī ujujātiko, ahamanusāsāmi ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamāno—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati sattāhaṁ’.
Let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. By practicing as instructed they will realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, in seven years. They will live having achieved with their own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness. Let alone seven years. Let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. By practicing as instructed they will realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, in six years … five years … four years … three years … two years … one year … seven months … six months … five months … four months … three months … two months … one month … a fortnight. Let alone a fortnight. Let a sensible person come—neither devious nor deceitful, a person of integrity. I teach and instruct them. By practicing as instructed they will realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life, in seven days.
‘Hãy để người có trí, không xảo trá, không gian dối, có bản tánh ngay thẳng đến đây, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Vị ấy thực hành đúng theo lời giáo huấn, mục đích mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, là sự kết thúc vô thượng của phạm hạnh, vị ấy sẽ an trú sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, làm cho chứng thực ngay trong hiện tại, trong vòng bảy năm. Này Nigrodha, hãy khoan nói đến bảy năm. Hãy để người có trí, không xảo trá, không gian dối, có bản tánh ngay thẳng đến đây, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Vị ấy thực hành đúng theo lời giáo huấn, mục đích mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, là sự kết thúc vô thượng của phạm hạnh, vị ấy sẽ an trú sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, làm cho chứng thực ngay trong hiện tại, trong vòng sáu năm. Năm năm… bốn năm… ba năm… hai năm… một năm. Này Nigrodha, hãy khoan nói đến một năm. Hãy để người có trí, không xảo trá, không gian dối, có bản tánh ngay thẳng đến đây, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Vị ấy thực hành đúng theo lời giáo huấn, mục đích mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, là sự kết thúc vô thượng của phạm hạnh, vị ấy sẽ an trú sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, làm cho chứng thực ngay trong hiện tại, trong vòng bảy tháng. Này Nigrodha, hãy khoan nói đến bảy tháng… sáu tháng… năm tháng… bốn tháng… ba tháng… hai tháng… một tháng… nửa tháng. Này Nigrodha, hãy khoan nói đến nửa tháng. Hãy để người có trí, không xảo trá, không gian dối, có bản tánh ngay thẳng đến đây, Ta sẽ giáo huấn, Ta sẽ thuyết Pháp. Vị ấy thực hành đúng theo lời giáo huấn, mục đích mà các thiện gia nam tử chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, là sự kết thúc vô thượng của phạm hạnh, vị ấy sẽ an trú sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, làm cho chứng thực ngay trong hiện tại, trong vòng bảy ngày’.
6. Paribbājakānaṁpajjhāyana
6. The Wanderers Feel Depressed
Sự trầm tư của các du sĩ
Siyā kho pana te, nigrodha, evamassa: ‘antevāsikamyatā no samaṇo gotamo evamāhā’ti. Na kho panetaṁ, nigrodha, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Yo eva vo ācariyo, so eva vo ācariyo hotu.
Siyā kho pana te, nigrodha, evamassa: ‘uddesā no cāvetukāmo samaṇo gotamo evamāhā’ti. Na kho panetaṁ, nigrodha, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Yo eva vo uddeso so eva vo uddeso hotu.
Siyā kho pana te, nigrodha, evamassa: ‘ājīvā no cāvetukāmo samaṇo gotamo evamāhā’ti. Na kho panetaṁ, nigrodha, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Yo eva vo ājīvo, so eva vo ājīvo hotu.
Siyā kho pana te, nigrodha, evamassa: ‘ye no dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sācariyakānaṁ, tesu patiṭṭhāpetukāmo samaṇo gotamo evamāhā’ti. Na kho panetaṁ, nigrodha, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Akusalā ceva vo te dhammā hontu akusalasaṅkhātā ca sācariyakānaṁ.
Siyā kho pana te, nigrodha, evamassa: ‘ye no dhammā kusalā kusalasaṅkhātā sācariyakānaṁ, tehi vivecetukāmo samaṇo gotamo evamāhā’ti. Na kho panetaṁ, nigrodha, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Kusalā ceva vo te dhammā hontu kusalasaṅkhātā ca sācariyakānaṁ.
Iti khvāhaṁ, nigrodha, neva antevāsikamyatā evaṁ vadāmi, napi uddesā cāvetukāmo evaṁ vadāmi, napi ājīvā cāvetukāmo evaṁ vadāmi, napi ye vo dhammā akusalā akusalasaṅkhātā sācariyakānaṁ, tesu patiṭṭhāpetukāmo evaṁ vadāmi, napi ye vo dhammā kusalā kusalasaṅkhātā sācariyakānaṁ, tehi vivecetukāmo evaṁ vadāmi. Santi ca kho, nigrodha, akusalā dhammā appahīnā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā, yesāhaṁ pahānāya dhammaṁ desemi. Yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodānīyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Nigrodha, you might think, ‘The ascetic Gotama speaks like this because he wants pupils.’ But you should not see it like this. Let your tutor remain your tutor.
You might think, ‘The ascetic Gotama speaks like this because he wants us to give up our recitation.’ But you should not see it like this. Let your recitation remain as it is.
You might think, ‘The ascetic Gotama speaks like this because he wants us to give up our livelihood.’ But you should not see it like this. Let your livelihood remain as it is.
You might think, ‘The ascetic Gotama speaks like this because he wants us to start doing things that are unskillful and considered unskillful in our denomination.’ But you should not see it like this. Let those things that are unskillful and considered unskillful in your denomination remain as they are.
You might think, ‘The ascetic Gotama speaks like this because he wants us to stop doing things that are skillful and considered skillful in our denomination.’ But you should not see it like this. Let those things that are skillful and considered skillful in your denomination remain as they are.
I do not speak for any of these reasons. Nigrodha, there are things that are unskillful, corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death. I teach Dhamma so that those things may be given up. When you practice accordingly, corrupting qualities will be given up in you and cleansing qualities will grow. You’ll enter and remain in the fullness and abundance of wisdom, having realized it with your own insight in this very life.”
78. ‘Này Nigrodha, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta làm đệ tử của ngài.’ Này Nigrodha, sự việc này không nên được hiểu như vậy. Vị nào là thầy của các ông, hãy cứ để vị ấy là thầy của các ông. Này Nigrodha, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta từ bỏ pháp học của mình.’ Này Nigrodha, sự việc này không nên được hiểu như vậy. Pháp học nào của các ông, hãy cứ để đó là pháp học của các ông. Này Nigrodha, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta từ bỏ phương tiện sinh sống của mình.’ Này Nigrodha, sự việc này không nên được hiểu như vậy. Phương tiện sinh sống nào của các ông, hãy cứ để đó là phương tiện sinh sống của các ông. Này Nigrodha, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Có những pháp mà các vị thầy của chúng ta cho là bất thiện, được xem là bất thiện, Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta an lập vào các pháp ấy.’ Này Nigrodha, sự việc này không nên được hiểu như vậy. Các pháp ấy của các ông cùng với các vị thầy hãy cứ là bất thiện và được xem là bất thiện. Này Nigrodha, có thể ông sẽ nghĩ như vầy: ‘Có những pháp mà các vị thầy của chúng ta cho là thiện, được xem là thiện, Sa-môn Gotama nói như vậy vì muốn chúng ta xa lìa các pháp ấy.’ Này Nigrodha, sự việc này không nên được hiểu như vậy. Các pháp ấy của các ông cùng với các vị thầy hãy cứ là thiện và được xem là thiện. Này Nigrodha, Ta nói như vậy không phải vì muốn các ông làm đệ tử, Ta nói như vậy không phải vì muốn các ông từ bỏ pháp học, Ta nói như vậy không phải vì muốn các ông từ bỏ phương tiện sinh sống, Ta nói như vậy không phải vì muốn các ông an lập vào các pháp bất thiện và được xem là bất thiện của các ông cùng với các vị thầy, Ta nói như vậy cũng không phải vì muốn các ông xa lìa các pháp thiện và được xem là thiện của các ông cùng với các vị thầy. Này Nigrodha, có những pháp bất thiện chưa được đoạn trừ, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, gây phiền muộn, có quả báo đau khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai, Ta thuyết pháp vì mục đích đoạn trừ các pháp ấy. Đối với các ông, những người thực hành đúng theo lời dạy, các pháp ô nhiễm sẽ được đoạn trừ, các pháp thanh tịnh sẽ được tăng trưởng, và các ông sẽ an trú sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, làm cho chứng thực và đạt đến sự viên mãn và quảng đại của trí tuệ ngay trong hiện tại.’
Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacittā. Atha kho bhagavato etadahosi: “sabbepime moghapurisā phuṭṭhā pāpimatā. Yatra hi nāma ekassapi na evaṁ bhavissati: ‘handa mayaṁ aññāṇatthampi samaṇe gotame brahmacariyaṁ carāma, kiṁ karissati sattāho’”ti?
Atha kho bhagavā udumbarikāya paribbājakārāme sīhanādaṁ naditvā vehāsaṁ abbhuggantvā gijjhakūṭe pabbate paccupaṭṭhāsi. Sandhāno pana gahapati tāvadeva rājagahaṁ pāvisīti.
When this was said, those wanderers sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say, as if their minds were possessed by Māra. Then it occurred to the Buddha, “All these silly people have been touched by the Wicked One! For not even a single one thinks, ‘Come, let us lead the spiritual life under the ascetic Gotama for the sake of enlightenment—for what do seven days matter?’”
Then the Buddha, having roared his lion’s roar in the lady Udumbarikā’s monastery for wanderers, rose into the air and landed on Vulture’s Peak. Meanwhile, the householder Sandhāna went right back to Rājagaha.
79. Khi được nói như vậy, các du sĩ ấy ngồi im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không thể đối đáp, giống như tâm trí bị Ma vương chiếm đoạt. Bấy giờ, Đức Thế Tôn suy nghĩ thế này: ‘Tất cả những kẻ ngu si này đã bị Ác ma chạm đến. Không một ai trong số họ có ý nghĩ rằng: ‘Nào, chúng ta hãy thực hành phạm hạnh với Sa-môn Gotama, dù chỉ để tìm hiểu trong bảy ngày. Bảy ngày thì có là gì!’’ Bấy giờ, Đức Thế Tôn, sau khi cất lên tiếng rống sư tử tại tu viện của các du sĩ ở Udumbarikā, đã bay lên không trung và hiện ra ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Còn gia chủ Sandhāna thì ngay lúc ấy đã đi vào thành Rājagaha (Vương Xá).
Udumbarikasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Kinh Udumbarika, kinh thứ hai, đã chấm dứt.