- Dīgha Nikāya 24
Bản dịch
DN 24 — Kinh Pāthika
Pāthikasutta
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời Thế Tôn ở giữa bộ lạc Malla (Mạt-la), tại Anupiya (A-dật-di), một thành của bộ lạc Mallà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Anupiya để khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Thật là quá sớm để vào thành Anupiya khất thực. Ta hãy đến tịnh xá của du sĩ Bhaggava và thăm vị này.” Thế Tôn liền đi đến tịnh xá du sĩ Bhaggava.
SC 3PTS cs 2~2 Rồi du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 4—Thế Tôn hãy đến gần! Xin chào đón Thế Tôn. Ðã lâu, Thế Tôn mới có dịp đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 5Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và du sĩ Bhaggava lấy một ghế ngồi khác thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, ngày xưa và nhiều ngày xưa nữa, Sunakkhatta (Thiện Tịnh) thuộc bộ lạc Licchavi (Ly-xa tử) đến con và nói như sau: “Này Bhaggava, nay tôi từ bỏ Thế Tôn! Nay tôi không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.” Bạch Thế Tôn, sự việc có phải như Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi nói hay không?
SC 7- Này Bhaggava, sự việc thật như Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đã nói.
SC 8PTS cs 3~3 Này Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta. Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.”
SC 9Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 10“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ dẫn của Ta” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 11“- Hay Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 12“- Này Sunakkhatta, Ta không nói: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta”, và Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn”. Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 13PTS cs 4~4 “- Bạch Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.
SC 14“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 15“- Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 16“- Này Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông; Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 17“- Bạch Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 18“- Này Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!
SC 19PTS cs 5~5 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.
SC 20“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của Thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 21“- Này Sunakkhatta, Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 22“- Này Sunakkhatta, như vậy Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của thế giới.” Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.” Này kẻ ngu kia, sự kiện là như vậy, thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 23“- Bạch Thế Tôn, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 24“- Này Sunakkhatta, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích của Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời giải thích về khởi nguyên thế giới có ích lợi gì cho Ngươi? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 25PTS cs 6~6 “- Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī: “Như vậy, Thế Tôn là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī.
SC 26“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi nói lời tán thán Pháp tại làng Vajjī: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người có trí mới thâm hiểu.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Chánh pháp tại làng Vajjī.
SC 27“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi đã tán thán Tăng tại làng Vajjī: “Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh chơn, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh trực, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Khuôn phép, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng được kính trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay cúi chào, vì là phước điền tối thượng ở đời”. Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Tăng tại làng Vajjī.
SC 28“Này Sunakkhatta, Ta nói cho Ngươi biết; này Sunakkhatta ta tin cho Ngươi biết; sẽ có lời luận bàn về Ngươi như sau: “Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi không thể sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Vì không kham nổi, nên từ bỏ tu học trở về với đời sống thấp kém”. Này Sunakkhatta, sẽ có lời luận bàn về Ngươi như vậy.
SC 29Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rớt vào đọa xứ, địa ngục.
SC 30PTS cs 7~7 Này Bhaggava, một thời Ta ở bộ lạc Bumu, tại thị trấn của bộ lạc Bumu tên là Uttaraka. Này Bhaggava, rồi buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát cùng với Sa di Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi theo sau, vào thị trấn Uttaraka khất thực. Lúc bấy giờ, lõa thể Korakkhattiya, tu theo hạnh chó đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 31Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 32Này Bhaggava, Ta biết được tâm tư của Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi với tâm tư của Ta cà Ta nói với ông ta như sau:
SC 33“- Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích Tử không?
SC 34“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói: “Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi tự nhân Ngươi là Thích Tử không”?
SC 35“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi, sau khi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, liền suy nghĩ: “Thật tốt đẹp thay vị A la hán Sa môn đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm”?
SC 36“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một bị A la hán?
SC 37“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán? Chính Ngươi tự sinh ác tà kiến ấy, hãy bỏ nó đi. Chớ để tự mình lâu ngày bị khổ đau thiệt hại. Này Sunakkhatta, lõa thể Korakkhattiya mà Ngươi nghĩ là tốt đẹp, là vị Sa môn, sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, nó sẽ bị quăng trong nghĩa địa đặt trên đống cỏ Bìrana. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy đến hỏi lõa thể Korakkhattiya như sau: “Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết bạn thác sanh cảnh giới nào không?” Này Sunakkhatta, sự kiện này có thể xảy ra, lõa thể Korakkhatta ấy có thể trả lời với Ngươi: “Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi sẽ thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất”.
SC 38PTS cs 8~8 Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, đi đến lõa thể Korakkhattiya và nói
SC 39—Này bạn Korakkhattiya, Sa môn Gotama có nói như sau: “Lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta sẽ bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa”. Này Bạn Korakkhattiya, vậy Bạn hãy ăn cho có tiết độ, vậy Bạn hãy uống cho có tiết độ, để lời nói của Sa môn Gotama trở thành nói láo.”
SC 40Này Bhaggava, vì không tin tưởng Như Lai, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày. Nhưng này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày bị trúng thực mà chết. Sau khi chết, bị tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa.
SC 41PTS cs 9~9 Này Bhaggava, Sunakkhatta được nghe: “Lõa thể Korakkhattiya bị trúng thực chết, quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bìrana.” Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi liền đi đến đống cỏ Bìrana tại nghĩa địa, đến lõa thể Korakkhattiya, lấy tay đánh ba lần và hỏi:
SC 42“- Này bạn Korakkhattiya, Bạn có biết cảnh giới thác sanh của Bạn không?”
SC 43Này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy:
SC 44“- Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất.” Sau khi nói xong, ông ta ngã ngửa xuống.
SC 45PTS cs 10~10 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 46“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Korakkhattiya, có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 47“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Korakkhattiya như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác!
SC 48“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện có phải không?
SC 49“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 50“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!”
SC 51Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 52PTS cs 11~11 Này Bhaggava, một thời, Ta trú tại Vesālī (Tỳ xá ly), rừng Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Kandaramasuka ở tại Vesālī được sự cúng dường tối thượng, được xưng danh tối thượng tại làng Vajjī. Vị này có phát nguyện tuân theo bảy giới hạnh: “Trọn đời, ta theo hạnh lõa thể, không mặc quần áo; trọn đời, ta sống phạm hạnh, không có hành dâm; trọn đời ta tự nuôi sống với rượu và thịt, không phải với cháo cơm; ta không bao giờ đi quá tháp Udāna phía Ðông thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Gotamaka, phía Nam thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Sattamba, phía Tây thành Vesà; ta không bao giờ đi quá tháp Bahuputta, phía Bắc thành Vesālī.” Vị này, nhờ tuân theo bảy giới hạnh này mà được sự cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng tại làng Vajjī.
SC 53PTS cs 12~12 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi; lõa thể Kandaramasuka khi bị hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi, vì không theo dõi, nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi suy nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có gì xảy ra khiến chúng ta có thể bất lợi đau khổ lâu đời.”
SC 54PTS cs 13~13 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 55“- Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?
SC 56“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: “Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?’
SC 57“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi đã đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi. Lõa thể Kandaramasuka khi được Ngươi hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi; vì không theo dõi nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Rồi ngươi tự nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán, Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có có gì xảy ra khiến chúng có thể bất lợi đau khổ lâu đời!”.
SC 58“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một vị A la hán?
SC 59“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán! Chính Ngươi tự sanh ác tà kiến ấy, hãy từ bỏ nó đi. Chớ để mình lâu ngày bị thiệt hại đau khổ! Này Sunakkhatta, lõa thể Kandaramasuka mà Ngươi nghĩ là vị A la hán, là vị Sa môn tốt đẹp, không bao lâu sẽ sống mặc áo và lập gia đình, sẽ ăn cơm cháo, sẽ đi vượt quá các tháp ở Vesālī và sẽ chết mất hết cả danh xưng”.
SC 60Này Bhaggava, lõa thể Kandaramasuka, không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết cả danh xưng.
SC 61PTS cs 14~14 Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi được nghe tin lõa thể Kandaramasuka không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết danh xưng. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta đi đến chỗ Ta ở, sau khi đến đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, và Ta nói với Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 62“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Kandaramasuka có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 63“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Kandaramasuka như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác.
SC 64“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, có phải không?
SC 65“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 66“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy rõ sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 67Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 68PTS cs 15~15 Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesālī, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Pātikaputta sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong các buổi họp ở Vesālī, ông ta thường tuyên bố như sau:
SC 69“Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông của mình, nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiều pháp thần thông thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 70PTS cs 16~16 Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đã đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta:
SC 71“- Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta (Ba-lê tử) sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong buổi họp ở Vesālī, thường tuyên bố như sau: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama có thể thực hiện một pháp thượng nhân thần thông … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 72Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 73“- Này Sunakkhatta, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ta sẽ bị bể tan.
SC 74PTS cs 17~17 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói! Thiện Thệ hãy thận trọng lời nói!
SC 75“- Này Sunakkhatta, tại sao Ngươi lại nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói.”?
SC 76“- Bạch Thế Tôn, lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách cực đoan: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu ông ấy sẽ bị bể tan”! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta có thể đến gặp mặt Thế Tôn với một hóa thân khác, và như vậy Thế Tôn trở thành nói không thật!
SC 77PTS cs 18~18 “- Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ nói lời nói nào có hai nghĩa không?
SC 78“- Bạch Thế Tôn, có phải do tự tâm phán xét mà Thế Tôn đã được biết về Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Hay là có vị Thiên thần nào đã báo tin cho Như Lai biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan!”
SC 79“- Này Sunakkhatta, chính tự tâm phán xét mà ta đã biết về lõa thể Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Và cũng có vị Thiên thần đã báo tin cho Ta biết: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn … đầu ông ấy sẽ bị bể tan”. Vị tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita, khi mệnh chung vào ngày kia đã được sanh vào Tam thập tam thiên. Rồi vị ấy đến bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta đã nói về con, ở giữa làng Vajjī như sau: “Tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita sẽ thác sanh vào Ðại địa ngục,” Bạch Thế Tôn, con không thác sanh vào Ðại địa ngục, Bạch Thế Tôn, con được sanh vào cõi Tam thập tam thiên! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý. Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Này Sunakkhatta, như vậy chính tự tâm phán xét mà Ta biết về lõa thể Pātikaputta. Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Và một vị thiên Thần đã báo tin cho ta biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 80“Này Sunakkhatta, sau khi Ta đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và khất thực trở về, Ta sẽ đến tại vườn Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy tin cho ông ấy biết.”
SC 81PTS cs 19~19 Này Bhaggava, rồi Ta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, Ta đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi vội vàng vào thành Vesālī, đến những Licchavi có danh tiếng và báo tin cho những vị ấy biết:
SC 82“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa! Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 83Này Bhaggava, các Licchavi có danh tiếng suy nghĩ như sau: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 84Và chỗ nào có những Bà la môn có địa vị, những gia chủ giàu sang, các Bà la môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng, ông ta đi đến các vị này và báo tin cho biết:
SC 85“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 86Này Bhaggava, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng suy nghĩ: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 87Này Bhaggava, rồi các Licchavi có danh tiếng, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cùng đi đến vườn của Pātikaputta. Này Bhaggava, như vậy Hội chúng này lên đến hàng trăm hàng ngàn người.
SC 88PTS cs 20~20 Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta được nghe: “Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến, còn Sa môn Gotama thì ngồi nghỉ trưa tại vườn của ta.” Khi nghe vậy ông ấy hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược. Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược, liền đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.
SC 89Này Bhaggava, Hội chúng ấy được nghe: “Lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược đã đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.” Này Bhaggava, Hội chúng liền cho gọi một người và bảo:
SC 90“- Này bạn hãy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta và nói như sau: “Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến. Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau đây được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện hai pháp thượng thần thông, thời ta sẽ thực hiện bốn pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiêu pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần. “Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả!”.
SC 91PTS cs 21~21 Này Bhaggava, người ấy vâng theo lời Hội chúng ấy, đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta, sau khi gặp xong, liền thưa:
SC 92“- Này bạn Pātikaputta, hãy đi đến. Các Licchavi danh tiếng … Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường, Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường và ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.”
SC 93Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta trả lời:
SC 94“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”.
SC 95Nhưng ông ấy như trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Này Bhaggava, người ấy nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 96“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại như vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả?
SC 97“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến.”
SC 98Tuy nói vậy nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 99Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”; nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 100PTS cs 22~22 Này Bhaggava, khi người ấy biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm hại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 101“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.”
SC 102Này Bhaggava, khi nghe vậy Ta nói Hội chúng:
SC 103“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
Tụng phẩm II
SC 104PTS cs 1~23 Này Bhaggava, một vị đại thần Licchavi, từ chỗ ngồi đứng dậy, nói với Hội chúng ấy:
SC 105“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi, xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này không?”
SC 106Này Bhaggava, rồi vị đại thần Licchavi ấy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 107“- Này bạn Pātikaputta hãy đến! Các Licchavi danh tiếng đã đến, và các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến; còn Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … ông ấy có thể đến gặp mặt Thế Tôn thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến! Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 108PTS cs 2~24 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, vị đại thần Licchavi liền nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 109“- Này Hiền giả Pātikaputta, sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 110Này Bhaggava, khi được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.
SC 111PTS cs 3~25 Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 112“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 113Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Hội chúng ấy:
SC 114“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quí vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … ” Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không từ bỏ lời nói ấy … ”, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 115PTS cs 4~26 Này Bhaggava, lúc ấy Jāliya, đệ tử của Dārupatti, từ chỗ ngồi đứng dậy và nói với Hội chúng ấy:
SC 116“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này hay không?”
SC 117Này Bhaggava, rồi Jāliya, đệ tử của Dārupatti đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 118“- Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến … Sa môn Gotama nay đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī như sau: “Sa môn Gotama là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.” Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta nếu không từ bỏ lời nói ấy … Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … ”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây”, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến. Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng, và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 119PTS cs 5~27 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 120“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 121Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 122Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 123PTS cs 6~28 Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của Dārupatti biết được lõa thể Pātikaputta nay đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền nói với ông ấy:
SC 124“- Này Hiền giả Pātikaputta, thuở xưa con sư tử vua các loài thú suy nghĩ: “Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại”.
SC 125“Này Hiền giả, con sư tử ấy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, nó đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại.
SC 126PTS cs 7~29 “Này Hiền giả Pātikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Con chó rừng ấy suy nghĩ: “Ta là ai, và con sư tử, vua các loài thú, là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi trở về sào huyệt lại.”
SC 127“Này Hiền giả, con chó rừng kia ý cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng. Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng đê tiện với tiếng rống con sư tử?
SC 128“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 129PTS cs 8~30 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti dầu có dùng ví dụ ấy cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 130Chó rừng nhìn tự thân,
Tự nghĩ là sư tử.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 131“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A lán hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 132PTS cs 10~31 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy cũng không có thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 133Ăn cóc, chuột kho thóc,
Ăn xác quăng nghĩa địa,
Sống Ðại lâm, Không lâm,
Tự nghĩ là vua thú.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 134“Cũng vậy này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 135PTS cs 11~32 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy, cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền về Hội chúng ấy và báo tin:
SC 136“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 137PTS cs 12~33 Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với hội chúng ấy:
SC 138“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta tuy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng và dùng bò kéo ông ấy lại đây”. Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 139PTS cs 13~34 Này Bhaggava, rồi Ta giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp. Sau khi giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp, Ta khiến cho họ giải thoát đại kiết sử, cứu vớt tám vạn bốn ngàn chúng sanh thoát khỏi đại đọa xứ, Ta nhập thiền quang giới tam muội, bay lên hư không cao đến bảy cây ta-la, phóng hào quang cao đến hơn bảy cây ta-la, khiến cho cháy sáng, rực sáng và Ta hiện ra tại Trùng Các giảng đường ở Ðại Lâm. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 140“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải điều Ta nói cho Ngươi về lõa thể Pātikaputta, đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác?
SC 141“- Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn nói cho con về lõa thể Pātikaputta đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác.
SC 142“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thì có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện hay không được thực hiện?
SC 143“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, không phải không thực hiện.
SC 144: “Này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi lại nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 145Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 146PTS cs 14~35 Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi. Này Bhaggava, có những vị Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên (Issara) tạo ra, do Phạm thiên (Brahmā) tạo ra. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 147“- Có phải chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra?”
SC 148Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng!”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 149“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo thuyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra”?
SC 150Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 151PTS cs 15~36 “- Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, phần lớn các loài hữu tình chuyển sanh qua Ābhassara (Quang Âm thiên) ở tại đây, những loài hữu tình nào do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một loài hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không để làm bạn với vị hữu tình kia. Các loại hữu tình này ở đây cũng có ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.
SC 152PTS cs 16~37 “Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau”.
SC 153PTS cs 17~38 “Này các Hiền giả, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy, sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn, và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn, và được ít uy quyền hơn. Này các Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng Tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không biến chuyển, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”! Này các Hiền giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, là do Phạm thiên tạo ra…?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 154“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 155PTS cs 18~39 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi dục lạc. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 156“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc?”
SC 157Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng.”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 158“- Sao chư Hiền giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới truyền thống, là do nhiễm hoặc bởi dục lạc?”
SC 159Ðược Ta hỏi như vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 160“- Này các Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể của họ. Sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói: “Những vị Thiên không bị nhiễm hoặc vì dục lạc, họ sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên Chư thiên ấy không thác sanh, không từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến chỗ này”. Này các Tôn giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc có phải không?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 161“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 162PTS cs 19~40 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 163“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 164Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời
:“Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 165“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 166Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 167“- Chư Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (nhiễm hoặc bởi tâm trí.) Họ sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân họ mệt mỏi, tâm họ mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân này của họ. Các Hiền giả, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia, khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi sanh đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, họ sống lâu ngày không bị nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ không oán ghét nhau. Vì tâm trí họ không oán ghét nhau, nên thân họ không mệt mỏi, tâm họ không mệt mỏi. Hạng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”. Như vậy, này các Hiền giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên của thế giới theo truyền thống là do bị nhiễm hoặc bởi tâm trí.”
Họ trả lời như sau:
SC 168“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên của thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 169PTS cs 20~41 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 170“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh?”
SC 171Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 172“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truền thống là do vô nhân sanh?”
SC 173Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 174“- Chư Hiền giả, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Chư Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm … nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói: “Bản ngã về thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng: Tôi trước kia không có, nay có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loại hữu tình”. Như vậy, này các Tôn giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh có phải như vậy không?”
Họ trả lời:
SC 175“- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 176PTS cs 21~42 Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: “Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo. Sa môn Gotama đã tuyên bố: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh”. Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh.” Này Bhaggava, Ta nói như sau: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là thanh tịnh”
SC 177- Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo. Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.
SC 178- Này Bhaggava, thật khó cho Ngươi khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để có thể đạt được thanh tịnh, giải thoát. Này Bhaggava, hãy đặt nặng lòng tin ở nơi Ta, hãy khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 179- Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, khi con theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác, để có thể đạt được thanh tịnh giải thoát, thời Bạch Thế Tôn, ít nhất con cũng đặt nặng lòng tin vào Thế Tôn, và con sẽ khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 180Thế Tôn thuyết giảng như vậy, du sĩ Bhaggava hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 24
About Pāṭikaputta
1. Kinh Pāthika
1. Sunakkhattavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
1. The Story of Sunakkhatta
So I have heard.
Câu chuyện về Sunakkhatta
1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Malla, tại một thị trấn của dòng họ Malla tên là Anupiya. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi vào Anupiya để khất thực. Khi ấy, Thế Tôn suy nghĩ như vầy: 'Còn quá sớm để đi khất thực ở Anupiya. Ta nên đi đến khu vườn của du sĩ Bhaggavagotta, nơi du sĩ Bhaggavagotta đang ở thì tốt biết mấy.'
Atha kho bhagavā yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkami. Atha kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “etu kho, bhante, bhagavā. Svāgataṁ, bhante, bhagavato. Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya. Nisīdatu, bhante, bhagavā, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Bhaggavagottopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca: ‘paccakkhāto dāni mayā, bhaggava, bhagavā. Na dānāhaṁ bhagavantaṁ uddissa viharāmī’ti. Kaccetaṁ, bhante, tatheva, yathā sunakkhatto licchaviputto avacā”ti?
“Tatheva kho etaṁ, bhaggava, yathā sunakkhatto licchaviputto avaca.
So that’s what he did. Then the wanderer of the Bhaggava clan said to the Buddha, “Let the Blessed One come, sir! Welcome to the Blessed One, sir! It’s been a long time since you took the opportunity to come here. Please, sir, sit down, here, a seat is ready.”
The Buddha sat down on the seat spread out, while the wanderer of the Bhaggava clan took a low seat, sat to one side, and said to the Buddha, “Sir, a few days ago Sunakkhatta the Licchavi came to me and said: ‘Now, Bhaggava, I have disavowed the Buddha. Now I no longer live dedicated to him.’ Sir, is what Sunakkhatta said true?”
“Indeed it is, Bhaggava.
2. Bấy giờ, Thế Tôn đi đến khu vườn của du sĩ Bhaggavagotta, nơi du sĩ Bhaggavagotta đang ở. Khi ấy, du sĩ Bhaggavagotta nói với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, xin mời ngài đến. Bạch Thế Tôn, hay thay sự quang lâm của ngài! Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi ngài mới có dịp đến đây. Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy ngồi, chỗ ngồi này đã được soạn sẵn.' Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Du sĩ Bhaggavagotta cũng lấy một chỗ ngồi thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggavagotta bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, mấy ngày trước, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã đến chỗ con; sau khi đến đã nói với con rằng: 'Này Bhaggava, bây giờ tôi đã từ bỏ Thế Tôn. Bây giờ tôi không còn sống vì Thế Tôn nữa.' Bạch Thế Tôn, có thật đúng như lời Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã nói không?' 'Này Bhaggava, thật đúng như lời Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã nói.'
Purimāni, bhaggava, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca: ‘paccakkhāmi dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ. Na dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ, ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhīti. Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmīti. Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
A few days ago Sunakkhatta the Licchavi came to me, bowed, sat down to one side, and said: ‘Now I disavow the Buddha! Now I shall no longer live dedicated to you.’
When Sunakkhatta said this, I said to him, ‘But Sunakkhatta, did I ever say to you: “Come, live dedicated to me”?’
‘No, sir.’
‘Or did you ever say to me: “Sir, I shall live dedicated to the Buddha”?’
‘No, sir.’
‘So it seems that I did not ask you to live dedicated to me, nor did you say you would live dedicated to me. In that case, you futile man, who are you and what do you disavow?
3. Này Bhaggava, mấy ngày trước, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã đến chỗ Ta; sau khi đến, đã đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, sau khi ngồi xuống một bên, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã nói với Ta rằng: 'Bạch Thế Tôn, bây giờ con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, bây giờ con sẽ không còn sống vì Thế Tôn nữa.' Khi được nói vậy, này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, rằng: 'Này Sunakkhatta, Ta có bao giờ nói với ngươi rằng: 'Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống vì Ta' không?' 'Thưa không, bạch Thế Tôn.' 'Hay ngươi có bao giờ nói với Ta rằng: 'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn' không?' 'Thưa không, bạch Thế Tôn.' 'Này Sunakkhatta, như vậy là Ta chưa từng nói với ngươi: 'Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống vì Ta,' và ngươi cũng chưa từng nói với Ta: 'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn.' Đã như vậy, này kẻ rỗng tuếch, ngươi là ai mà từ bỏ ai? Này kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.'
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī’ti.
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—
‘But sir, the Buddha never performs any superhuman demonstrations of psychic power for me.’
‘But Sunakkhatta, did I ever say to you:
4. 'Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện thần thông siêu nhân cho con xem.' 'Này Sunakkhatta, Ta có bao giờ nói với ngươi rằng: 'Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống vì Ta, Ta sẽ thực hiện thần thông siêu nhân cho ngươi xem' không?' 'Thưa không, bạch Thế Tôn.' 'Hay ngươi có bao giờ nói với Ta rằng: 'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn, nếu Thế Tôn thực hiện thần thông siêu nhân cho con xem' không?' 'Thưa không, bạch Thế Tôn.' 'Này Sunakkhatta, như vậy là Ta chưa từng nói với ngươi: 'Này Sunakkhatta, hãy đến đây, hãy sống vì Ta, Ta sẽ thực hiện thần thông siêu nhân cho ngươi xem,' và ngươi cũng chưa từng nói với Ta: 'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn, nếu Thế Tôn thực hiện thần thông siêu nhân cho con xem.' Đã như vậy, này kẻ rỗng tuếch, ngươi là ai mà từ bỏ ai? Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào, dù có thực hiện thần thông siêu nhân hay không, giáo pháp mà Ta đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, có dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh không?' 'Bạch Thế Tôn, dù có thực hiện thần thông siêu nhân hay không, giáo pháp mà Thế Tôn đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, vẫn dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh.' 'Này Sunakkhatta, như vậy là dù có thực hiện thần thông siêu nhân hay không, giáo pháp mà Ta đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, vẫn dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Vậy thì, này Sunakkhatta, việc thực hiện thần thông siêu nhân có ích gì? Này kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào.'
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissāmīti; napi kira maṁ tvaṁ vadesi—ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatīti. Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi? Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya mayā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Kate vā, bhante, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya bhagavatā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Tatra, sunakkhatta, kiṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kataṁ karissati? Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā aggaññaṁ paññapetī’ti?
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
‘No, sir.’
‘Or did you ever say to me: “Sir, I shall live dedicated to the Buddha, and the Buddha will perform a superhuman demonstration of psychic power for me”?’
‘No, sir.’
‘So it seems that I did not ask this of you, and you did not require it of me. In that case, you futile man, who are you and what do you disavow? What do you think, Sunakkhatta? Whether or not there is a demonstration of psychic power, and regardless of the goal for which I taught the Dhamma, does it deliver one who applies it to the complete ending of suffering?’
‘It does, sir.’
‘So it seems that whether or not there is a demonstration of psychic power, and regardless of the goal for which I taught the Dhamma, it delivers one who applies it to the complete ending of suffering. In that case, what is the point of superhuman demonstrations of psychic power? See how far you have strayed, you silly man!’
‘But sir, the Buddha never describes the origin of the world to me.’
‘But Sunakkhatta, did I ever say to you: “Come, live dedicated to me and I will describe the origin of the world to you”?’
‘No, sir.’
‘Or did you ever say to me:
10. Này Bhaggava, khi ấy Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến gần, đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đang ngồi một bên, lời này: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Điều Ta đã tiên tri về kẻ lõa thể Korakkhattiya, kết quả đã xảy ra đúng như vậy hay khác đi?’ ‘Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn đã tiên tri về kẻ lõa thể Korakkhattiya, kết quả đã xảy ra đúng như vậy, không khác.’ ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Nếu như vậy, thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người đã được thực hiện hay chưa?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng nếu như vậy, thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người đã được thực hiện, chứ không phải là chưa.’ ‘Này kẻ rỗng tuếch, dù Ta đã thực hiện thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người như vậy, ngươi vẫn nói rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con thần thông kỳ diệu nào vượt trên pháp của loài người.’ Này kẻ rỗng tuếch, hãy xem lỗi lầm này của ngươi lớn đến mức nào!’ Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, vẫn rời bỏ Pháp và Luật này, giống như một kẻ đáng sanh vào cõi dữ, vào địa ngục.
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmīti. Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṁ paññapessatīti. Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi? Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Paññatte vā, bhante, aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya bhagavatā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Tatra, sunakkhatta, kiṁ aggaññaṁ paññattaṁ karissati? Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhaṁ.
‘No, sir.’
‘So it seems that I did not ask this of you, and you did not require it of me. In that case, you futile man, who are you and what do you disavow? What do you think, Sunakkhatta? Whether or not the origin of the world is described, and regardless of the goal for which I taught the Dhamma, does it deliver one who applies it to the complete ending of suffering?’
‘It does, sir.’
‘So it seems that whether or not the origin of the world is described, and regardless of the goal for which I taught the Dhamma, it delivers one who applies it to the complete ending of suffering. In that case, what is the point of describing the origin of the world? See how far you have strayed, you silly man!
5. ‘Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã không tuyên thuyết cho con về sự khởi nguyên.’ ‘Này Sunakkhatta, Như Lai có từng nói với ngươi như vầy không: ‘Này Sunakkhatta, ngươi hãy đến, hãy sống vì Như Lai, Như Lai sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự khởi nguyên’?’ ‘Bạch Thế Tôn, không phải vậy.’ ‘Hay ngươi có từng nói với Như Lai như vầy không: ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn, Thế Tôn sẽ tuyên thuyết cho con về sự khởi nguyên’?’ ‘Bạch Thế Tôn, không phải vậy.’ ‘Này Sunakkhatta, như vậy là Như Lai đã không nói với ngươi: ‘Này Sunakkhatta, ngươi hãy đến, hãy sống vì Như Lai, Như Lai sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự khởi nguyên.’ Và ngươi cũng đã không nói với Như Lai: ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ sống vì Thế Tôn, Thế Tôn sẽ tuyên thuyết cho con về sự khởi nguyên.’ Này kẻ rỗng tuếch, trong trường hợp như vậy, là ai mà ngươi lại từ bỏ ai? Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào về điều này, dù sự khởi nguyên có được tuyên thuyết hay không được tuyên thuyết, Pháp mà Như Lai đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, Pháp ấy có dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh không?’ ‘Bạch Thế Tôn, dù sự khởi nguyên có được tuyên thuyết hay không được tuyên thuyết, Pháp mà Thế Tôn đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, Pháp ấy vẫn dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh.’ ‘Này Sunakkhatta, như vậy là dù sự khởi nguyên có được tuyên thuyết hay không được tuyên thuyết, Pháp mà Như Lai đã thuyết giảng vì mục đích nào đó, Pháp ấy vẫn dẫn dắt người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này Sunakkhatta, trong trường hợp đó, việc tuyên thuyết về sự khởi nguyên sẽ có tác dụng gì? Này kẻ rỗng tuếch, hãy xem, đây là lỗi lầm của ngươi lớn đến mức nào’.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme—itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
In many ways, Sunakkhatta, you have praised me like this in the Vajjian capital: “That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.”
6. ‘Này Sunakkhatta, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Như Lai ở làng của người Vajjī: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Này Sunakkhatta, như vậy, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Như Lai ở làng của người Vajjī.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti. Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
In many ways you have praised the teaching like this in the Vajjian capital: “The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”
‘Này Sunakkhatta, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Pháp ở làng của người Vajjī: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu.’ Này Sunakkhatta, như vậy, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Pháp ở làng của người Vajjī.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti. Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
In many ways you have praised the Saṅgha like this in the Vajjian capital: “The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
‘Này Sunakkhatta, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Tăng chúng ở làng của người Vajjī: ‘Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc trực hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc như lý hạnh, Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị. Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn ấy là bậc đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.’ Này Sunakkhatta, như vậy, ngươi đã từng dùng nhiều phương cách tán thán các phẩm hạnh của Tăng chúng ở làng của người Vajjī.
Ārocayāmi kho te, sunakkhatta, paṭivedayāmi kho te, sunakkhatta. Bhavissanti kho te, sunakkhatta, vattāro, no visahi sunakkhatto licchaviputto samaṇe gotame brahmacariyaṁ carituṁ, so avisahanto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattoti. Iti kho te, sunakkhatta, bhavissanti vattāro’ti.
Evaṁ kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
I declare this to you, Sunakkhatta, I announce this to you! There will be some who say to you that Sunakkhatta was unable to lead the spiritual life under the ascetic Gotama. That’s why he resigned the training and returned to a lesser life. That’s what they’ll say.’
Though I spoke to Sunakkhatta like this, he still left this teaching and training, like someone on the highway to hell.
‘Như Lai báo cho ngươi hay, này Sunakkhatta, Như Lai cho ngươi biết, này Sunakkhatta. Này Sunakkhatta, sẽ có những người nói rằng: ‘Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã không thể thực hành phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Sa-môn Gotama; do không thể thực hành, vị ấy đã từ bỏ học pháp và quay trở lại đời sống thấp kém.’ Này Sunakkhatta, như vậy, sẽ có những người nói về ngươi như thế.’
2. Korakkhattiyavatthu
2. On the Aristocrat of Kuru
Câu chuyện về Korakkhattiya
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ thūlūsu viharāmi uttarakā nāma thūlūnaṁ nigamo. Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sunakkhattena licchaviputtena pacchāsamaṇena uttarakaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Tena kho pana samayena acelo korakkhattiyo kukkuravatiko catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjati.
Addasā kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ. Disvānassa etadahosi:
Bhaggava, this one time I was staying in the land of the Kurus where they have a town named Uttarakā. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, entered Uttarakā for alms with Sunakkhatta the Licchavi as my second monk. Now at that time a naked ascetic who was an aristocrat of Kuru had taken a vow to behave like a dog. When food is tossed on the ground, he gets down on all fours, eating and devouring it just with his mouth.
Sunakkhatta saw him doing this and thought,
7. ‘Này Bhaggava, một thời Như Lai trú ở xứ Thūlu, tại một thị trấn của người Thūlu tên là Uttarakā. Bấy giờ, này Bhaggava, vào buổi sáng, Như Lai đắp y, mang bát và y, cùng với Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, làm thị giả đi sau, vào Uttarakā để khất thực. Vào lúc ấy, có một người tu khổ hạnh lõa thể tên là Korakkhattiya, thực hành hạnh của loài chó, đi bằng bốn chi, ăn và dùng thức ăn đã được rải trên đất chỉ bằng miệng. Này Bhaggava, Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã thấy người tu khổ hạnh lõa thể Korakkhattiya, thực hành hạnh của loài chó, đi bằng bốn chi, đang ăn và dùng thức ăn đã được rải trên đất chỉ bằng miệng. Sau khi thấy, vị ấy đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ôi, vị Sa-môn này thật là một bậc thiện nhân, đi bằng bốn chi, ăn và dùng thức ăn đã được rải trên đất chỉ bằng miệng.’
Atha khvāhaṁ, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
Then, knowing Sunakkhatta’s train of thought, I said to him,
Này Bhaggava, khi ấy, Ta dùng tâm biết được tâm tư của Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, nên đã nói với Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, lời này: ‘Này kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự nhận mình là Sa-môn Thích tử ư!’ ‘Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: ‘Này kẻ rỗng tuếch, ngươi cũng tự nhận mình là Sa-môn Thích tử ư!?’ ‘Này Sunakkhatta, chẳng phải sau khi thấy kẻ lõa thể Korakkhattiya này, người thực hành hạnh con chó, đi bằng bốn chi, ăn thức ăn vứt dưới đất bằng miệng, nhai bằng miệng, ngươi đã khởi lên ý nghĩ này sao: ‘Chư vị ơi, vị Sa-môn này thật là bậc thiện nhân thay! Ngài đi bằng bốn chi, ăn thức ăn vứt dưới đất bằng miệng, nhai bằng miệng.’?’ ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Nhưng bạch Thế Tôn, phải chăng Thế Tôn keo kiệt về quả A-la-hán?’ ‘Này kẻ rỗng tuếch, Ta không keo kiệt về quả A-la-hán. Mà chính tà kiến xấu ác này đã khởi lên nơi ngươi, hãy từ bỏ nó đi. Mong rằng nó sẽ không đem lại bất hạnh, đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài. Này Sunakkhatta, kẻ lõa thể Korakkhattiya mà ngươi cho rằng ‘vị Sa-môn này là bậc thiện nhân’, người ấy vào ngày thứ bảy sẽ chết vì bệnh kiết lỵ. Và sau khi chết, sẽ tái sanh vào cõi A-tu-la thấp kém nhất, làm loài A-tu-la tên là Kālakañcikā. Và sau khi chết, người ta sẽ vứt xác y vào nghĩa địa có bụi cỏ bīraṇa. Này Sunakkhatta, nếu muốn, ngươi hãy đến gần kẻ lõa thể Korakkhattiya và hỏi: ‘Này hiền hữu Korakkhattiya, hiền hữu có biết cảnh giới của mình không?’ Này Sunakkhatta, có khả năng là kẻ lõa thể Korakkhattiya sẽ trả lời ngươi: ‘Này hiền hữu Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới của mình; tôi đã sanh vào cõi A-tu-la thấp kém nhất, làm loài A-tu-la tên là Kālakañcikā’.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha: “tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī”’ti?
‘Nanu te, sunakkhatta, imaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ disvāna etadahosi—sādhurūpo vata bho ayaṁ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti?
‘Evaṁ, bhante. Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi. Api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ korakkhattiyaṁ—sādhurūpo ayaṁ samaṇoti. So sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati. Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati. Kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessanti. Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ korakkhattiyaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi—jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatinti? Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ te acelo korakkhattiyo byākarissati—jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ; kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ etadavoca: ‘byākato khosi, āvuso korakkhattiya, samaṇena gotamena—acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati. Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati.
‘But why does the Buddha say this to me?’
‘When you saw that naked ascetic of Kuru, didn’t you think, “That ascetic is a holy man!”?’
‘Yes, sir. But sir, are you jealous of the perfected ones?’
‘I’m not jealous of the perfected ones, you silly man. Rather, you should give up this harmful misconception that has arisen in you. Don’t create lasting harm and suffering for yourself!
That naked ascetic the aristocrat of Kuru, who you imagine to be a holy man, will die of flatulence in seven days. And when he dies, he’ll be reborn in the very lowest rank of titans, named the Kālakañjas. And they’ll throw him in the charnel ground on a clump of vetiver. If you wish, Sunakkhatta, go to the aristocrat of Kuru and ask him whether he knows his own destiny. It’s possible that he will answer: “Reverend Sunakkhatta, I know my own destiny. I’ve been reborn in the very lowest rank of titans, named the Kālakañjas.”’
So, Bhaggava, Sunakkhatta went to see the aristocrat of Kuru and said to him, ‘Reverend aristocrat of Kuru, the ascetic Gotama has declared that you will die of flatulence in seven days. And when you die, you’ll be reborn in the very lowest rank of titans, named the Kālakañjas.
13. Này Bhaggava, rồi thì vương tử Licchavi Sunakkhatta đã đi đến chỗ của ta. Sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, khi vương tử Licchavi Sunakkhatta đã ngồi xuống một bên, ta đã nói điều này: ‘Này kẻ trống rỗng kia, ngươi lại còn tự nhận mình là sa-môn, là Thích tử nữa sao!’ ‘Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: ‘Này kẻ trống rỗng kia, ngươi lại còn tự nhận mình là sa-môn, là Thích tử nữa sao!’?’ ‘Này Sunakkhatta, có phải ngươi đã đi đến chỗ vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka và hỏi một câu hỏi? Khi được ngươi hỏi, vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đã không thể trả lời được. Vì không trả lời được, vị ấy đã biểu lộ sự tức giận, sự sân hận, và sự không hài lòng. Rồi ngươi đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Chư vị ơi, thật vậy, chúng ta đã xúc phạm đến một vị sa-môn A-la-hán thiện hảo. Mong rằng điều ấy sẽ không đem lại bất hạnh và đau khổ cho chúng ta trong một thời gian dài.’?’ ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn lại keo kiệt đối với quả vị A-la-hán?’ ‘Này kẻ trống rỗng, ta không keo kiệt đối với quả vị A-la-hán, nhưng chính ngươi đã khởi lên tà kiến xấu xa này, hãy từ bỏ nó đi. Mong rằng điều ấy sẽ không đem lại bất hạnh và đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài. Này Sunakkhatta, người mà ngươi nghĩ là vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka – ‘vị sa-môn này thật thiện hảo’ – không bao lâu nữa, vị ấy sẽ mặc y phục, đi lại cùng với người nữ tùy tùng, ăn cơm và cháo bột, đi vượt qua tất cả các đền thờ ở Vesālī, rồi sẽ bị suy giảm danh tiếng và qua đời.’
Này Bhaggava, khi ấy Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã đi đến chỗ kẻ lõa thể Korakkhattiya; sau khi đến gần, đã nói với kẻ lõa thể Korakkhattiya lời này: ‘Này hiền hữu Korakkhattiya, hiền hữu đã được Sa-môn Gotama tiên tri rằng: ‘Kẻ lõa thể Korakkhattiya vào ngày thứ bảy sẽ chết vì bệnh kiết lỵ. Và sau khi chết, sẽ tái sanh vào cõi A-tu-la thấp kém nhất, làm loài A-tu-la tên là Kālakañcikā. Và sau khi chết, người ta sẽ vứt xác y vào nghĩa địa có bụi cỏ bīraṇa.’ Do đó, này hiền hữu Korakkhattiya, hiền hữu hãy ăn thức ăn có chừng mực, uống nước có chừng mực, để cho lời nói của Sa-môn Gotama trở thành sai lầm.’
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto ekadvīhikāya sattarattindivāni gaṇesi, yathā taṁ tathāgatassa asaddahamāno. Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālamakāsi. kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajji. kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍesuṁ.
Then Sunakkhatta counted up the days until the seventh day, as happens when you have no faith in the Realized One. But on the seventh day, the naked ascetic who was an aristocrat of Kuru died of flatulence. And when he passed away, he was reborn in the very lowest rank of titans, named the Kālakañjas. And when he passed away, they threw him in the charnel ground on a clump of vetiver.
8. Này Bhaggava, khi ấy Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, vì không tin lời của Như Lai, đã đếm bảy ngày đêm, từng ngày một, từng ngày hai. Này Bhaggava, khi ấy, kẻ lõa thể Korakkhattiya vào ngày thứ bảy đã chết vì bệnh kiết lỵ. Và sau khi chết, đã tái sanh vào cõi A-tu-la thấp kém nhất, làm loài A-tu-la tên là Kālakañcikā. Và sau khi chết, người ta đã vứt xác y vào nghĩa địa có bụi cỏ bīraṇa.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto: ‘acelo kira korakkhattiyo alasakena kālaṅkato bīraṇatthambake susāne chaḍḍito’ti. Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena bīraṇatthambakaṁ susānaṁ, yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ tikkhattuṁ pāṇinā ākoṭesi: ‘jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatin’ti?
Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo pāṇinā piṭṭhiṁ paripuñchanto vuṭṭhāsi. ‘Jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ. Kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti vatvā tattheva uttāno papati.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti. Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti. Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
Sunakkhatta the Licchavi heard about this. So he went to see the aristocrat of Kuru in the charnel ground on the clump of vetiver. There he struck him with his fist three times, ‘Reverend aristocrat of Kuru, do you know your destiny?’
Then the aristocrat of Kuru got up, rubbing his back with his hands, and said, ‘Reverend Sunakkhatta, I know my own destiny. I’ve been reborn in the very lowest rank of titans, named the Kālakañjas.’ After speaking, he fell flat right there.
Then Sunakkhatta came to me, bowed, and sat down to one side. I said to him, ‘What do you think, Sunakkhatta? Did the prediction I made about the aristocrat of Kuru turn out to be correct, or not?’
‘It turned out to be correct.’
‘What do you think, Sunakkhatta? If that is so, has a superhuman demonstration of psychic power been performed or not?’
‘Clearly, sir, a superhuman demonstration of psychic power has been performed.’
‘Though I performed such a superhuman demonstration of psychic power you say this: “But sir, the Buddha never performs any superhuman demonstrations of psychic power for me.” See how far you have strayed!’ Though I spoke to Sunakkhatta like this, he still left this teaching and training, like someone on the highway to hell.
9. Này Bhaggava, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã nghe tin: ‘Kẻ lõa thể Korakkhattiya nghe nói đã chết vì bệnh kiết lỵ và bị vứt ở nghĩa địa có bụi cỏ bīraṇa.’ Này Bhaggava, khi ấy Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đã đi đến nghĩa địa có bụi cỏ bīraṇa, đến chỗ kẻ lõa thể Korakkhattiya; sau khi đến gần, đã dùng tay gõ vào kẻ lõa thể Korakkhattiya ba lần và hỏi: ‘Này hiền hữu Korakkhattiya, hiền hữu có biết cảnh giới của mình không?’ Này Bhaggava, khi ấy, kẻ lõa thể Korakkhattiya đã ngồi dậy, dùng tay phủi lưng, nói rằng: ‘Này hiền hữu Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới của mình. Tôi đã sanh vào cõi A-tu-la thấp kém nhất, làm loài A-tu-la tên là Kālakañcikā,’ rồi ngã ngửa ra ngay tại chỗ đó.
3. Acelakaḷāramaṭṭakavatthu
3. On the Naked Ascetic Kaḷāramaṭṭaka
Câu chuyện về kẻ lõa thể Kaḷāramaṭṭaka.
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena acelo kaḷāramaṭṭako vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. Tassa sattavatapadāni samattāni samādinnāni honti: ‘yāvajīvaṁ acelako assaṁ, na vatthaṁ paridaheyyaṁ, yāvajīvaṁ brahmacārī assaṁ, na methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyyaṁ, yāvajīvaṁ surāmaṁseneva yāpeyyaṁ, na odanakummāsaṁ bhuñjeyyaṁ. Puratthimena vesāliṁ udenaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, dakkhiṇena vesāliṁ gotamakaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, pacchimena vesāliṁ sattambaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, uttarena vesāliṁ bahuputtaṁ nāma cetiyaṁ taṁ nātikkameyyan’ti. So imesaṁ sattannaṁ vatapadānaṁ samādānahetu lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
This one time, Bhaggava, I was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time the naked ascetic Kaḷāramaṭṭaka was residing in Vesālī. And in the Vajjian capital he had reached the peak of material things and fame. He had undertaken these seven vows. ‘As long as I live, I will be a naked ascetic, not wearing clothes. As long as I live, I will be chaste, not having sex. As long as I live, I will consume only meat and beer, not eating rice and porridge. And I will not go past the following shrines near Vesālī: the Udena Shrine to the east, the Gotamaka to the south, the Seven Maidens to the west, and the Many Sons to the north.’ And it was due to undertaking these seven vows that he had reached the peak of material things and fame.
11. Này Bhaggava, có một thời ta trú ở Vesālī, tại Đại Lâm (Mahāvana), trong Trùng Các Giảng Đường (Kūṭāgārasālā). Vào lúc bấy giờ, có vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đang cư ngụ ở Vesālī, tại một ngôi làng của xứ Vajji, là người đã đạt đến tột đỉnh về lợi lộc và tột đỉnh về danh vọng. Vị ấy đã thọ trì và thực hành bảy điều giới luật sau đây: ‘Trọn đời, ta sẽ là người lõa thể, sẽ không mặc y phục.’ ‘Trọn đời, ta sẽ là người sống phạm hạnh, sẽ không hành dâm pháp.’ ‘Trọn đời, ta sẽ chỉ sống bằng rượu và thịt, sẽ không ăn cơm và cháo bột.’ ‘Ở phía đông của Vesālī có ngôi đền thờ tên là Udena, ta sẽ không đi vượt qua nơi ấy.’ ‘Ở phía nam của Vesālī có ngôi đền thờ tên là Gotamaka, ta sẽ không đi vượt qua nơi ấy.’ ‘Ở phía tây của Vesālī có ngôi đền thờ tên là Sattamba, ta sẽ không đi vượt qua nơi ấy.’ ‘Ở phía bắc của Vesālī có ngôi đền thờ tên là Bahuputta, ta sẽ không đi vượt qua nơi ấy.’ Do nhân duyên thọ trì bảy điều giới luật này, vị ấy đã đạt đến tột đỉnh về lợi lộc và tột đỉnh về danh vọng tại một ngôi làng của xứ Vajji.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo kaḷāramaṭṭako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ pañhaṁ apucchi. Tassa acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi. Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Atha kho, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa etadahosi: ‘sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase. Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha—tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti?
‘Nanu tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ upasaṅkamitvā pañhaṁ apucchi. Tassa te acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi. Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi. Tassa te etadahosi: “sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase. Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”’ti.
‘Evaṁ, bhante. Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi, api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ—sādhurūpo ayaṁ samaṇoti, so nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṁ karissatī’ti.
So, Bhaggava, Sunakkhatta went to see Kaḷāramaṭṭaka and asked him a question. But when it stumped him, he displayed annoyance, hate, and bitterness. So Sunakkhatta thought, ‘I’ve offended the holy man, the perfected one, the ascetic. I mustn’t create lasting harm and suffering for myself!’
Then Sunakkhatta came to me, bowed, and sat down to one side. I said to him, ‘Don’t you claim to be an ascetic who follows the Sakyan, you silly man?’
‘But why does the Buddha say this to me?’
‘Didn’t you go to see the naked ascetic Kaḷāramaṭṭaka and ask him a question? But when it stumped him, he displayed annoyance, hate, and bitterness. Then you thought, “I’ve offended the holy man, the perfected one, the ascetic. I mustn’t create lasting harm and suffering for myself!”’
‘Yes, sir. But sir, are you jealous of perfected ones?’
‘I’m not jealous of the perfected ones, you silly man. Rather, you should give up this harmful misconception that has arisen in you. Don’t create lasting harm and suffering for yourself!
That naked ascetic Kaḷāramaṭṭaka, who you imagine to be a true holy man, will shortly be clothed, living with a partner, eating rice and porridge, having gone past all the shrines near Vesālī. And he will die after losing all his fame.’
12. Này Bhaggava, rồi thì vương tử Licchavi tên là Sunakkhatta đã đi đến chỗ vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka. Sau khi đến, vị ấy đã hỏi một câu hỏi với vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka. Khi được hỏi, vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đã không thể trả lời được. Vì không trả lời được, vị ấy đã biểu lộ sự tức giận, sự sân hận, và sự không hài lòng. Này Bhaggava, rồi thì vương tử Licchavi Sunakkhatta đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Chư vị ơi, thật vậy, chúng ta đã xúc phạm đến một vị sa-môn A-la-hán thiện hảo. Mong rằng điều ấy sẽ không đem lại bất hạnh và đau khổ cho chúng ta trong một thời gian dài.’
Atha kho, bhaggava, acelo kaḷāramaṭṭako nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālamakāsi.
And that’s exactly what happened.
Này Bhaggava, rồi thì không bao lâu sau, vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka đã mặc y phục, đi lại cùng với người nữ tùy tùng, ăn cơm và cháo bột, đi vượt qua tất cả các đền thờ ở Vesālī, rồi bị suy giảm danh tiếng và đã qua đời.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto: ‘acelo kira kaḷāramaṭṭako parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṅkato’ti. Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṁ acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi: “na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī”ti. Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti. Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
Sunakkhatta heard about this. He came to me, bowed, and sat down to one side. I said to him, ‘What do you think, Sunakkhatta? Did the declaration I made about Kaḷāramaṭṭaka turn out to be correct, or not?’
‘It turned out to be correct.’
‘What do you think, Sunakkhatta? If that is so, has a superhuman demonstration of psychic power been performed or not?’
‘Clearly, sir, a superhuman demonstration of psychic power has been performed.’
‘Though I perform such a superhuman demonstration of psychic power you say this: “But sir, the Buddha never performs any superhuman demonstrations of psychic power for me.” See how far you have strayed!’ Though I spoke to Sunakkhatta like this, he still left this teaching and training, like someone on the highway to hell.
14. Này Bhaggava, vương tử Licchavi Sunakkhatta đã nghe được rằng: ‘Nghe nói, vị lõa thể Kaḷāramaṭṭako đã mặc y phục, đi lại cùng với người nữ tùy tùng, ăn cơm và cháo bột, đi vượt qua tất cả các đền thờ ở Vesālī, rồi bị suy giảm danh tiếng và đã qua đời.’ Này Bhaggava, rồi thì vương tử Licchavi Sunakkhatta đã đi đến chỗ của ta. Sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, khi vương tử Licchavi Sunakkhatta đã ngồi xuống một bên, ta đã nói điều này: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Điều mà ta đã tuyên bố liên quan đến vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka, kết quả đã xảy ra đúng như vậy hay là khác đi?’ ‘Bạch Thế Tôn, điều mà Thế Tôn đã tuyên bố liên quan đến vị lõa thể Kaḷāramaṭṭaka, kết quả đã xảy ra đúng như vậy, không khác đi.’ ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự việc là như vậy, thì thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người đã được thực hiện hay chưa?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng nếu sự việc là như vậy, thì thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người đã được thực hiện, chứ không phải là chưa được thực hiện.’ ‘Này kẻ trống rỗng, dù ta đã thực hiện thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người như vậy, mà ngươi vẫn nói rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con thần thông kỳ diệu nào vượt trên pháp của loài người.’ Này kẻ trống rỗng, hãy xem tội lỗi của ngươi lớn đến mức nào!’ Này Bhaggava, dù đã được ta nói như vậy, vương tử Licchavi Sunakkhatta vẫn từ bỏ Giáo Pháp và Luật này, giống như một chúng sanh đáng bị rơi vào đọa xứ, vào địa ngục.
4. Acelapāthikaputtavatthu
4. On the Naked Ascetic Pāṭikaputta
Câu chuyện về người con của Pāthika, một người lõa thể.
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ tattheva vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena acelo pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati: ‘samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo. Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ. Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ. Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma. Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi. Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi. Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi. Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī’ti.
This one time, Bhaggava, I was staying right there near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time the naked ascetic Pāṭikaputta was residing in Vesālī. And in the Vajjian capital he had reached the peak of material things and fame. He was telling a crowd in Vesālī: ‘Both the ascetic Gotama and I speak from knowledge. One who speaks from knowledge ought to display a superhuman demonstration of psychic power to another who speaks from knowledge. If the ascetic Gotama meets me half-way, there we should both perform a superhuman demonstration of psychic power. If he performs one demonstration of psychic power, I’ll perform two. If he performs two, I’ll perform four. If he performs four, I’ll perform eight. However many demonstrations of psychic power the ascetic Gotama performs, I’ll perform double.’
15. “Này Bhaggava, có một thời Ta đang trú tại giảng đường Kūṭāgāra ở Đại Lâm, tại Vesālī. Vào lúc ấy, lõa thể Pāthikaputta đang sống ở một ngôi làng của xứ Vajjī tại Vesālī, là người đã đạt đến tột đỉnh của lợi lộc và danh vọng. Vị ấy đã nói lời này trong hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương về trí tuệ, và ta cũng là người chủ trương về trí tuệ. Một người chủ trương về trí tuệ xứng đáng thị hiện thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người cho một người chủ trương về trí tuệ khác. Sa-môn Gotama hãy đi nửa đường, và ta cũng sẽ đi nửa đường. Tại đó, cả hai chúng ta sẽ thực hiện thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện một thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện hai. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện hai thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện bốn. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện bốn thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện tám. Như vậy, Sa-môn Gotama thực hiện bao nhiêu thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện gấp đôi bấy nhiêu.’”
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca: ‘acelo, bhante, pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme. So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati: “samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo. Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ. Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ. Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma. Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi. Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi. Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi. Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī”’ti.
Then Sunakkhatta came to me, bowed, sat down to one side, and told me of all this.
16. “Này Bhaggava, rồi thì Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã đi đến nơi Ta ở; sau khi đến, đã đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, sau khi ngồi xuống một bên, Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, đã nói với Ta lời này: ‘Bạch Thế Tôn, lõa thể Pāthikaputta đang sống ở một ngôi làng của xứ Vajjī tại Vesālī, là người đã đạt đến tột đỉnh của lợi lộc và danh vọng. Vị ấy đã nói lời này trong hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama là người chủ trương về trí tuệ, và ta cũng là người chủ trương về trí tuệ. Một người chủ trương về trí tuệ xứng đáng thị hiện thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người cho một người chủ trương về trí tuệ khác. Sa-môn Gotama hãy đi nửa đường, và ta cũng sẽ đi nửa đường. Tại đó, cả hai chúng ta sẽ thực hiện thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện một thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện hai. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện hai thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện bốn. Nếu Sa-môn Gotama thực hiện bốn thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện tám. Như vậy, Sa-môn Gotama thực hiện bao nhiêu thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của con người, ta sẽ thực hiện gấp đôi bấy nhiêu.”’”
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘abhabbo kho, sunakkhatta, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
I said to him, ‘Sunakkhatta, the naked ascetic Pāṭikaputta is not capable of meeting me face to face, unless he gives up that statement and that intention, and lets go of that view. If he thinks he can meet me face to face without giving up those things, his head may explode.’
“Khi được nói như vậy, này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta, con trai của dòng Licchavi, lời này: ‘Này Sunakkhatta, lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đi đến trước mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy. Và nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: “Ta sẽ đi đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy,” thì đầu của vị ấy cũng sẽ vỡ ra.’”
‘Rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti.
‘Kiṁ pana maṁ tvaṁ, sunakkhatta, evaṁ vadesi—rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti?
‘Bhagavatā cassa, bhante, esā vācā ekaṁsena odhāritā—abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. Acelo ca, bhante, pāthikaputto virūparūpena bhagavato sammukhībhāvaṁ āgaccheyya, tadassa bhagavato musā’ti.
‘Careful what you say, Blessed One! Careful what you say, Holy One!’
‘But why do you say this to me, Sunakkhatta?’
‘Sir, the Buddha has categorically asserted that Pāṭikaputta is not capable of meeting the Buddha face to face, otherwise his head may explode. But Pāṭikaputta might meet the Buddha face to face in disguise, proving the Buddha wrong.’
17. “‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giữ gìn lời nói này, xin Thiện Thệ hãy giữ gìn lời nói này.’ ‘Này Sunakkhatta, tại sao ngươi lại nói với Ta như vậy: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giữ gìn lời nói này, xin Thiện Thệ hãy giữ gìn lời nói này”?’ ‘Bạch Thế Tôn, vì lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách dứt khoát: “Lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đi đến trước mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy. Và nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy,’ thì đầu của vị ấy cũng sẽ vỡ ra.” Và bạch Thế Tôn, nếu lõa thể Pāthikaputta, bằng một hình thức khác lạ, đi đến trước mặt Thế Tôn, khi ấy lời của Thế Tôn sẽ là lời nói dối.’”
‘Api nu, sunakkhatta, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā dvayagāminī’ti?
‘Kiṁ pana, bhante, bhagavatā acelo pāthikaputto cetasā ceto paricca vidito—abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti?
‘Sunakkhatta, would the Realized One make an ambiguous statement?’
‘But sir, did you make that statement after encompassing Pāṭikaputta’s mind with your mind?
18. “‘Này Sunakkhatta, Như Lai có nói lời nói nước đôi không?’ ‘Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn đã biết rõ tâm của lõa thể Pāthikaputta bằng tâm của Ngài rằng: “Lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đi đến trước mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy. Và nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy,’ thì đầu của vị ấy cũng sẽ vỡ ra”?’
“‘Hay là, chư thiên đã trình báo ý nghĩa này lên Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đi đến trước mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy. Và nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đi đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy,’ thì đầu của vị ấy cũng sẽ vỡ ra”?’”
‘Cetasā ceto paricca vidito ceva me, sunakkhatta, acelo pāthikaputto—abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
‘Both, Sunakkhatta.
19. Này Sunakkhatta, Ta đã dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của kẻ lõa thể Pāthikaputta và đã biết rõ rằng: ‘Kẻ lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đến trước mặt Ta nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu y có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của y cũng sẽ vỡ tan.’
Chư thiên cũng đã trình báo cho Ta về việc này: ‘Bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đến trước mặt Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu y có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của y cũng sẽ vỡ tan.’
Na kho panāhaṁ, bhante, mahānirayaṁ upapanno; tāvatiṁsakāyamhi upapanno. Alajjī, bhante, acelo pāthikaputto; musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto; abhabbo ca, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
But that is not true—I have been reborn in the host of the thirty-three. The naked ascetic Pāṭikaputta is shameless, sir, he is a liar. Pāṭikaputta is not capable of meeting the Buddha face to face, otherwise his head may explode.”
Vị tướng quân của dòng họ Licchavi tên là Ajita, hiện nay đã qua đời và đã tái sanh ở cõi trời Tāvatiṃsa. Vị ấy cũng đã đến gặp Ta và trình báo như sau: ‘Bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta là kẻ không biết hổ thẹn; bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta là kẻ nói dối. Bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta đã tuyên bố về con ở làng Vajjī rằng: ‘Tướng quân Ajita của dòng họ Licchavi đã tái sanh vào đại địa ngục.’ Nhưng bạch Thế Tôn, con không tái sanh vào đại địa ngục; con đã tái sanh ở cõi trời Tāvatiṃsa. Bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta là kẻ không biết hổ thẹn; bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta là kẻ nói dối; và bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đến trước mặt Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu y có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của y cũng sẽ vỡ tan.’
Iti kho, sunakkhatta, cetasā ceto paricca vidito ceva me acelo pāthikaputto abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ—abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Thus I both made that statement after encompassing Pāṭikaputta’s mind with my mind, and deities told me about it.
Này Sunakkhatta, như vậy, Ta đã dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của kẻ lõa thể Pāthikaputta và đã biết rõ rằng: ‘Kẻ lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đến trước mặt Ta nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu y có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của y cũng sẽ vỡ tan.’ Chư thiên cũng đã trình báo cho Ta về việc này: ‘Bạch Thế Tôn, kẻ lõa thể Pāthikaputta không có khả năng đến trước mặt Thế Tôn nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu y có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của y cũng sẽ vỡ tan.’
So kho panāhaṁ, sunakkhatta, vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamissāmi divāvihārāya. Yassadāni tvaṁ, sunakkhatta, icchasi, tassa ārocehī’ti.
So Sunakkhatta, I’ll wander for alms in Vesālī. After the meal, on my return from almsround, I’ll go to Pāṭikaputta’s monastery for the day’s meditation. Now you may tell him, if you so wish.’
Này Sunakkhatta, Ta, sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, sau khi trở về từ chuyến khất thực, sẽ đi đến khu vườn của kẻ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, bây giờ ngươi muốn báo cho ai thì hãy báo cho người ấy.
5. Iddhipāṭihāriyakathā
5. On Demonstrations of Psychic Power
Câu chuyện về thần thông
Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁ divāvihārāya. Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto taramānarūpo vesāliṁ pavisitvā yena abhiññātā abhiññātā licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte licchavī etadavoca: ‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya. Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti. Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ licchavīnaṁ etadahosi: ‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati; handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Yena ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte nānātitthiye samaṇabrāhmaṇe etadavoca: ‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya. Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti. Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ etadahosi: ‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati; handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Then, Bhaggava, I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, entered Vesālī for alms. After the meal, on my return from almsround, I went to Pāṭikaputta’s monastery for the day’s meditation. Then Sunakkhatta rushed into Vesālī to see the very well-known Licchavis and said to them, ‘Respectable sirs, after his almsround, the Buddha has gone to Pāṭikaputta’s monastery for the day’s meditation. Come forth, good sirs, come forth! There will be a superhuman demonstration of psychic power by the holy ascetics!’ So the very well-known Licchavis thought, ‘It seems there will be a superhuman demonstration of psychic power by the holy ascetics! Let’s go!’
Then he went to see the very well-known well-to-do brahmins, rich householders, and ascetics and brahmins who follow various other religions, and said the same thing. They all said, ‘It seems there will be a superhuman demonstration of psychic power by the holy ascetics! Let’s go!’
20. Này Bhaggava, rồi Ta, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, đã vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, sau khi trở về từ chuyến khất thực, Ta đã đi đến khu vườn của kẻ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, con trai của dòng họ Licchavi, một cách vội vã, đã vào thành Vesālī và đi đến nơi có các vị Licchavi danh tiếng; sau khi đến, đã nói với các vị Licchavi danh tiếng rằng: ‘Thưa quý ngài, Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, sau khi trở về từ chuyến khất thực, đã đi đến khu vườn của kẻ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Các ngài hãy đi đến, các ngài hãy đi đến, sẽ có một phép thần thông siêu nhân của các vị Sa-môn có phẩm hạnh tốt đẹp.’ Này Bhaggava, rồi các vị Licchavi danh tiếng đã có ý nghĩ này: ‘Ồ, nghe nói sẽ có một phép thần thông siêu nhân của các vị Sa-môn có phẩm hạnh tốt đẹp; thôi nào, chúng ta hãy đi.’ Và y đã đi đến nơi có các vị Bà-la-môn đại phú, các gia chủ giàu có, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn danh tiếng thuộc các giáo phái khác nhau. Sau khi đến, y đã nói với các vị Sa-môn, Bà-la-môn danh tiếng thuộc các giáo phái khác nhau rằng: ‘Thưa quý ngài, Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, sau khi trở về từ chuyến khất thực, đã đi đến khu vườn của kẻ lõa thể Pāthikaputta để nghỉ trưa. Các ngài hãy đi đến, các ngài hãy đi đến, sẽ có một phép thần thông siêu nhân của các vị Sa-môn có phẩm hạnh tốt đẹp.’ Này Bhaggava, rồi các vị Sa-môn, Bà-la-môn danh tiếng thuộc các giáo phái khác nhau đã có ý nghĩ này: ‘Ồ, nghe nói sẽ có một phép thần thông siêu nhân của các vị Sa-môn có phẩm hạnh tốt đẹp; thôi nào, chúng ta hãy đi.’
Atha kho, bhaggava, abhiññātā abhiññātā licchavī, abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁsu. Sā esā, bhaggava, parisā mahā hoti anekasatā anekasahassā.
Then all those very well-known people went to Pāṭikaputta’s monastery. That assembly was large, Bhaggava; there were many hundreds, many thousands of them.
Này Bhaggava, khi ấy, các vị Licchavi rất danh tiếng, các vị Bà-la-môn đại phú và các gia chủ giàu có rất danh tiếng, các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo đã đi đến khu vườn của lõa thể Pāthikaputta. Này Bhaggava, hội chúng ấy rất đông, có đến hàng trăm, hàng ngàn người.
Assosi kho, bhaggava, acelo pāthikaputto: ‘abhikkantā kira abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo mayhaṁ ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti. Sutvānassa bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso udapādi. Atha kho, bhaggava, acelo pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkami.
Pāṭikaputta heard, ‘It seems that very well-known Licchavis, well-to-do brahmins, rich householders, and ascetics and brahmins who follow various other religions have come forth. And the ascetic Gotama is sitting in my monastery for the day’s meditation.’ When he heard that, he became frightened, scared, his hair standing on end. In fear he went to the Pale-Moon Ebony Trunk monastery for the wanderers.
21. Này Bhaggava, lõa thể Pāthikaputta đã nghe rằng: ‘Các vị Licchavi rất danh tiếng đã đến, các vị Bà-la-môn đại phú và các gia chủ giàu có rất danh tiếng, các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo cũng đã đến. Và Sa-môn Gotama đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của ta.’ Nghe vậy, ông ta khởi lên sự sợ hãi, kinh hoàng, và dựng tóc gáy. Rồi này Bhaggava, lõa thể Pāthikaputta, do sợ hãi, kinh hoàng, và dựng tóc gáy, đã đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu.
Assosi kho, bhaggava, sā parisā: ‘acelo kira pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkanto’ti. Atha kho, bhaggava, sā parisā aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
The assembly heard of this, and instructed a man,
Này Bhaggava, hội chúng ấy đã nghe rằng: ‘Lõa thể Pāthikaputta, do sợ hãi, kinh hoàng, và dựng tóc gáy, đã đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu.’ Rồi này Bhaggava, hội chúng ấy đã gọi một người đàn ông và bảo rằng:
‘Này ông, hãy đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu, đến chỗ của lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, hãy nói với lõa thể Pāthikaputta như sau: “Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây. Các vị Licchavi rất danh tiếng đã đến, các vị Bà-la-môn đại phú và các gia chủ giàu có rất danh tiếng, các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo cũng đã đến, và Sa-môn Gotama đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của tôn giả. Này hiền giả Pāthikaputta, ông đã từng nói lời này trong hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương về trí tuệ, tôi cũng là người chủ trương về trí tuệ. Một người chủ trương về trí tuệ xứng đáng thi thố thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người với một người chủ trương về trí tuệ khác. Sa-môn Gotama hãy đi nửa đường, tôi cũng sẽ đi nửa đường. Tại đó, cả hai chúng ta sẽ thi thố thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người. Nếu Sa-môn Gotama thi thố một thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người, tôi sẽ thi thố hai. Nếu Sa-môn Gotama thi thố hai thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người, tôi sẽ thi thố bốn. Nếu Sa-môn Gotama thi thố bốn thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người, tôi sẽ thi thố tám. Như vậy, bất kể Sa-môn Gotama thi thố bao nhiêu thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người, tôi sẽ thi thố gấp đôi số đó.’ Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đi nửa đường. Sa-môn Gotama đã đến trước nhất và đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của tôn giả.”’
Evaṁ, bhoti kho, bhaggava, so puriso tassā parisāya paṭissutvā yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno. Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—samaṇopi gotamo ñāṇavādo; ahampi ñāṇavādo. Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ …pe… taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti. Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ. Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
‘Yes, worthy sir,’ replied that man, and delivered the message.
22. Này Bhaggava, người đàn ông ấy vâng theo lời của hội chúng: ‘Thưa vâng,’ rồi đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu, đến chỗ của lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, ông ta nói với lõa thể Pāthikaputta như sau: ‘Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây. Các vị Licchavi rất danh tiếng đã đến, các vị Bà-la-môn đại phú và các gia chủ giàu có rất danh tiếng, các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo cũng đã đến. Và Sa-môn Gotama đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của tôn giả. Này hiền giả Pāthikaputta, ông đã từng nói lời này trong hội chúng ở Vesālī: “Sa-môn Gotama là người chủ trương về trí tuệ; tôi cũng là người chủ trương về trí tuệ. Một người chủ trương về trí tuệ xứng đáng thi thố thần thông kỳ diệu vượt trên pháp của loài người với một người chủ trương về trí tuệ khác… (như trên)… tôi sẽ thi thố gấp đôi số đó.” Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đi nửa đường. Sa-môn Gotama đã đến trước nhất và đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của tôn giả.’
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ. Atha kho so, bhaggava, puriso acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ? Āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
When he had spoken, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat. Then that man said to Pāṭikaputta, ‘What’s up, Reverend Pāṭikaputta? Is your bottom stuck to the bench, or is the bench stuck to your bottom? You say “I’m coming, respectable sir, I’m coming!” But wriggle as you might, you can’t get up from your seat.’ And as he was speaking, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat.
Này Bhaggava, khi được nói như vậy, lõa thể Pāthikaputta nói: ‘Tôi đến đây, hiền giả, tôi đến đây,’ nhưng chỉ cựa quậy tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Rồi này Bhaggava, người đàn ông ấy nói với lõa thể Pāthikaputta: ‘Này hiền giả Pāthikaputta, có chuyện gì vậy? Phải chăng mông của ông dính vào ghế, hay ghế dính vào mông của ông? Ông nói: “Tôi đến đây, hiền giả, tôi đến đây,” nhưng chỉ cựa quậy tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Này Bhaggava, dù được nói như vậy, lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Tôi đến đây, hiền giả, tôi đến đây,’ nhưng chỉ cựa quậy tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
Yadā kho so, bhaggava, puriso aññāsi: ‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto. Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi: ‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto. Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ: ‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Atha kho, bhaggava, aññataro licchavimahāmatto uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca: ‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi.
When that man knew that Pāṭikaputta had lost, he returned to the assembly and said, ‘Pāṭikaputta has lost, worthies. He says “I’m coming, respectable sir, I’m coming!” But wriggle as he might, he can’t get up from his seat.’ When he said this, I said to the assembly, ‘The naked ascetic Pāṭikaputta is not capable of meeting me face to face, unless he gives up that statement and that intention, and lets go of that view. If he thinks he can meet me face to face without giving up those things, his head may explode.’
The first recitation section is complete.
Then, Bhaggava, a certain Licchavi minister stood up and said to the assembly, ‘Well then, worthies, wait a while, I’ll go.
23. Này Bhaggava, khi người đàn ông ấy biết rằng: ‘Vị lõa thể Pāthikaputta này có vẻ đã thất bại. Sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ ông ta cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Bấy giờ, sau khi đến hội chúng ấy, người ấy đã báo cáo như vầy: ‘Thưa quý vị, vị lõa thể Pāthikaputta có vẻ đã thất bại. Sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ ông ta cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Này Bhaggava, khi được nói như vậy, Ta đã nói với hội chúng ấy điều này: ‘Này các hiền giả, vị lõa thể Pāthikaputta, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có khả năng đến trước mặt Ta. Nếu ông ta có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của ông ta sẽ vỡ tung.’
24. Này Bhaggava, bấy giờ, một vị đại thần Licchavi nọ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và nói với hội chúng ấy điều này: ‘Thưa quý vị, vậy thì, xin hãy đợi một lát cho đến khi tôi đi. Biết đâu tôi có thể đưa được vị lõa thể Pāthikaputta đến hội chúng này.’
Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno. Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe… taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti. Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ. Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno. Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—abhabbo kho acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti. Abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṁ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.
So that minister went to see Pāṭikaputta and said, ‘Come forth, Reverend Pāṭikaputta! It’s best for you to come forth. All these very well-known people have come forth, and the ascetic Gotama is sitting in your monastery for the day’s meditation. You said you’d meet the ascetic Gotama half-way. The ascetic Gotama has come the first half, and is sitting in your monastery. The ascetic Gotama has told the assembly that you’re not capable of meeting him face to face. Come forth, Pāṭikaputta! When you come forth we’ll make you win and the ascetic Gotama lose.’
Này Bhaggava, bấy giờ, vị đại thần Licchavi ấy đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu, nơi có vị lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, vị ấy nói với vị lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Thưa hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây, việc ngài đến là điều tốt đẹp. Các vị Licchavi danh tiếng đã đến, các vị Bà-la-môn đại phú, các gia chủ giàu có, và các Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau cũng đã đến. Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của ngài. Thưa hiền giả Pāthikaputta, chính ngài đã nói lời này trong hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama cũng tự nhận là người có trí tuệ… (v.v.)… ta sẽ thực hiện thần thông gấp đôi, gấp đôi như thế.’ Thưa hiền giả Pāthikaputta, xin hãy đi được nửa đường thôi. Sa-môn Gotama đã đến trước nhất và đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của ngài. Thưa hiền giả Pāthikaputta, Sa-môn Gotama đã nói lời này trong hội chúng: ‘Vị lõa thể Pāthikaputta, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có khả năng đến trước mặt Ta. Nếu ông ta có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của ông ta sẽ vỡ tung.’ Thưa hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây, chỉ bằng việc ngài đến, chúng tôi sẽ mang lại chiến thắng cho ngài và sự thất bại cho Sa-môn Gotama.’
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ. Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ? Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
When he had spoken, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat. Then the minister said to Pāṭikaputta, ‘What’s up, Reverend Pāṭikaputta? Is your bottom stuck to the bench, or is the bench stuck to your bottom? You say “I’m coming, respectable sir, I’m coming!” But wriggle as you might, you can’t get up from your seat.’ And as he was speaking, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat.
Này Bhaggava, khi được nói như vậy, vị lõa thể Pāthikaputta, sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Bấy giờ, này Bhaggava, vị đại thần Licchavi ấy nói với vị lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Thưa hiền giả Pāthikaputta, có chuyện gì vậy? Phải chăng mông của ngài dính vào ghế, hay ghế dính vào mông của ngài? Ngài cứ nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ rồi quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Này Bhaggava, dù được nói như vậy, vị lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ rồi cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
Yadā kho so, bhaggava, licchavimahāmatto aññāsi: ‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi: ‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
When the Licchavi minister knew that Pāṭikaputta had lost, he returned to the assembly and said, ‘Pāṭikaputta has lost, worthies.’
25. Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi ấy biết rằng: ‘Vị lõa thể Pāthikaputta này có vẻ đã thất bại. Sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ ông ta cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Bấy giờ, sau khi đến hội chúng ấy, người ấy đã báo cáo như vầy: ‘Thưa quý vị, vị lõa thể Pāthikaputta có vẻ đã thất bại. Sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ ông ta cứ quằn quại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Này Bhaggava, khi được nói như vậy, Ta đã nói với hội chúng ấy điều này: ‘Này các hiền giả, vị lõa thể Pāthikaputta, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có khả năng đến trước mặt Ta. Nếu ông ta có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của ông ta sẽ vỡ tung. Và nếu các hiền giả Licchavi có ý nghĩ rằng: ‘Chúng ta hãy dùng dây da trói vị lõa thể Pāthikaputta lại rồi dùng các cặp bò kéo đi,’ thì những sợi dây da ấy sẽ đứt, hoặc chính Pāthikaputta sẽ bị gãy. Nhưng vị lõa thể Pāthikaputta, nếu không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có khả năng đến trước mặt Ta. Nếu ông ta có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của ông ta sẽ vỡ tung.’
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca: ‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi; appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ imaṁ parisaṁ ānetun’ti.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo. Abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno. Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe… taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti. Abhikkamasseva, kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ. Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno. Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—
Then, Bhaggava, Jāliya, the pupil of the wood-bowl ascetic, stood up and said to the assembly, ‘Well then, worthies, wait a while, I’ll go. Hopefully I’ll be able to lead Pāṭikaputta back to the assembly.’
So Jāliya went to see Pāṭikaputta and said, ‘Come forth, Reverend Pāṭikaputta! It’s best for you to come forth. All these very well-known people have come forth, and the ascetic Gotama is sitting in your monastery for the day’s meditation. You said you’d meet the ascetic Gotama half-way. The ascetic Gotama has come the first half, and is sitting in your monastery. The ascetic Gotama has told the assembly
33. ‘Khi được nói vậy, này Bhaggava, Ta đã nói với hội chúng ấy như sau: ‘Này các hiền giả, vị lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến trước mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu vị ấy nghĩ rằng: “Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,” thì đầu của vị ấy sẽ vỡ tan. Nếu các vị Licchavi khả kính nghĩ rằng: “Chúng ta hãy dùng dây da trói vị lõa thể Pāthikaputta lại rồi dùng voi kéo đi,” thì những sợi dây da ấy sẽ đứt, hoặc Pāthikaputta sẽ bị xé tan. Nhưng vị lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến trước mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu vị ấy nghĩ rằng: “Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,” thì đầu của vị ấy sẽ vỡ tan.’’
Này Bhaggava, bấy giờ, Jāliya, đệ tử của du sĩ Dārupattika, đi đến khu vườn của du sĩ Tindukakhāṇu, nơi có vị lõa thể Pāthikaputta. Sau khi đến, vị ấy nói với vị lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây, sự đến của hiền giả là điều tốt đẹp. Các vị Licchavi danh tiếng đã đến, các vị Bà-la-môn đại phú, các gia chủ giàu có, và các Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau cũng đã đến. Sa-môn Gotama cũng đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của hiền giả. Này hiền giả Pāthikaputta, hiền giả đã từng tuyên bố lời này trong hội chúng ở Vesālī: ‘Sa-môn Gotama cũng tự nhận là người có trí tuệ... ta sẽ thực hiện thần thông gấp đôi, gấp đôi như thế.’ Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đi, dù chỉ nửa đường thôi. Sa-môn Gotama đã đến trước hết và đang ngồi nghỉ ban ngày trong khu vườn của hiền giả. Này hiền giả Pāthikaputta, Sa-môn Gotama đã nói lời này trong hội chúng: ‘Vị lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến trước mặt ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của vị ấy sẽ vỡ tung. Nếu các vị Licchavi có ý nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ dùng dây thừng trói vị lõa thể Pāthikaputta lại rồi dùng các cặp bò kéo đi,’ thì những sợi dây thừng ấy sẽ đứt, hoặc Pāthikaputta sẽ đứt. Vị lõa thể Pāthikaputta không thể nào đến trước mặt ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu vị ấy có ý nghĩ rằng: ‘Ta sẽ đến trước mặt Sa-môn Gotama mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm niệm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy,’ thì đầu của vị ấy sẽ vỡ tung.’ Này hiền giả Pāthikaputta, hãy đến đây, chỉ bằng sự đến của hiền giả, chúng tôi sẽ làm cho hiền giả chiến thắng và Sa-môn Gotama thất bại.’”
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ. Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca: ‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ? Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti. Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātunti.
When he had spoken, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat. Then Jāliya said to Pāṭikaputta, ‘What’s up, Reverend Pāṭikaputta? Is your bottom stuck to the bench, or is the bench stuck to your bottom? You say “I’m coming, respectable sir, I’m coming!” But wriggle as you might, you can’t get up from your seat.’ And as he was speaking, Pāṭikaputta said: ‘I’m coming, respectable sir, I’m coming!’ But wriggle as he might, he couldn’t get up from his seat.
Này Bhaggava, khi được nói như vậy, vị lõa thể Pāthikaputta, sau khi nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ liền quằn quại ngay tại chỗ, không thể nào đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Bấy giờ, này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của du sĩ Dārupattika, nói với vị lõa thể Pāthikaputta điều này: ‘Này hiền giả Pāthikaputta, có chuyện gì vậy? Phải chăng mông của hiền giả dính vào ghế, hay là ghế dính vào mông của hiền giả? Hiền giả nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ rồi lại quằn quại ngay tại chỗ, không thể nào đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’ Này Bhaggava, dù được nói như vậy, vị lõa thể Pāthikaputta vẫn nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ rồi quằn quại ngay tại chỗ, không thể nào đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
Yadā kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī aññāsi: ‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti, atha naṁ etadavoca—
When Jāliya knew that Pāṭikaputta had lost, he said to him,
27. Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của du sĩ Dārupattika, biết rằng: ‘Vị lõa thể Pāthikaputta này có vẻ đã thất bại, nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đến đây, thưa hiền giả, tôi đến đây,’ rồi lại quằn quại ngay tại chỗ, không thể nào đứng dậy khỏi chỗ ngồi,’ bấy giờ vị ấy nói với Pāthikaputta điều này:
Bhūtapubbaṁ, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño etadahosi: ‘yannūnāhaṁ aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ. Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ.
‘Once upon a time, Reverend Pāṭikaputta, it occurred to a lion, king of beasts, “Why don’t I make my lair near a certain forest? Towards evening I can emerge from my den, yawn, survey the four quarters, roar my lion’s roar three times, and set out on the hunt.
‘Này hiền giả Pāthikaputta, thuở xưa, có một con sư tử, vua của các loài thú, đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta hãy nương vào một khu rừng nào đó để làm hang ổ. Sau khi làm hang ổ ở đó, vào buổi chiều, ta sẽ ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, ta sẽ vươn vai. Sau khi vươn vai, ta sẽ nhìn khắp bốn phương. Sau khi nhìn khắp bốn phương, ta sẽ rống lên tiếng rống của sư tử ba lần. Sau khi rống lên tiếng rống của sư tử ba lần, ta sẽ đi tìm mồi. Ta sẽ giết những con thú tốt nhất trong bầy, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi trở về chính hang ổ ấy.’”
Atha kho, āvuso, so sīho migarājā aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi. Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadi, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkāmi. So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupesi.
And so that’s what he did.
‘Này hiền giả, bấy giờ, con sư tử ấy, vua của các loài thú, đã nương vào một khu rừng nọ để làm hang ổ. Sau khi làm hang ổ ở đó, vào buổi chiều, nó ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó vươn vai. Sau khi vươn vai, nó nhìn khắp bốn phương. Sau khi nhìn khắp bốn phương, nó rống lên tiếng rống của sư tử ba lần. Sau khi rống lên tiếng rống của sư tử ba lần, nó đi tìm mồi. Nó đã giết những con thú tốt nhất trong bầy, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi trở về chính hang ổ ấy.
Tasseva kho, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño vighāsasaṁvaḍḍho jarasiṅgālo ditto ceva balavā ca. Atha kho, āvuso, tassa jarasiṅgālassa etadahosi: ‘ko cāhaṁ, ko sīho migarājā. Yannūnāhampi aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ. Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ. So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupeyyan’ti.
Now, there was an old jackal who had grown fat on the lion’s leavings, becoming arrogant and strong. He thought: “What does the lion, king of beasts, have that I don’t? Why don’t I also make my lair near a certain forest? Towards evening I can emerge from my den, yawn, survey the four quarters, roar my lion’s roar three times, and set out on the hunt. Having slain the very best of the deer herd, and eaten the most tender flesh, I could return to my den.”
28. ‘Này hiền giả Pāthikaputta, có một con chó rừng già sống nhờ vào thức ăn thừa của con sư tử, vua của các loài thú, nên nó trở nên mập mạp và mạnh mẽ. Rồi này hiền giả, con chó rừng già ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta là ai, và sư tử, vua của các loài thú, là ai? Hay là ta cũng nên nương vào một khu rừng nào đó và làm một cái hang cho mình. Sau khi làm hang ở đó, vào buổi chiều, ta sẽ ra khỏi hang; ra khỏi hang, ta sẽ vươn vai; vươn vai xong, ta sẽ nhìn quanh bốn phương; nhìn quanh bốn phương xong, ta sẽ rống lên tiếng rống sư tử ba lần; rống lên tiếng rống sư tử ba lần xong, ta sẽ đi tìm mồi. Ta sẽ giết những con thú tốt nhất trong bầy, ăn những miếng thịt mềm nhất, rồi trở về lại chính cái hang ấy.’
Atha kho so, āvuso, jarasiṅgālo aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi. Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadissāmīti siṅgālakaṁyeva anadi bheraṇḍakaṁyeva anadi, ke ca chave siṅgāle, ke pana sīhanādeti.
And so that’s what he did. But when he tried to roar a lion’s roar, he only managed to squeal and yelp like a jackal. And what is a pathetic jackal’s squeal next to the roar of a lion?
‘Rồi này hiền giả, con chó rừng già ấy đã nương vào một khu rừng và làm một cái hang. Sau khi làm hang ở đó, vào buổi chiều, nó ra khỏi hang; ra khỏi hang, nó vươn vai; vươn vai xong, nó nhìn quanh bốn phương; nhìn quanh bốn phương xong, nó định rống lên tiếng rống sư tử ba lần, nhưng nó chỉ tru lên tiếng tru của chó rừng, tiếng tru ghê rợn. Con chó rừng hèn hạ là gì, mà tiếng rống sư tử là gì?’
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi. Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanāti.
In the same way, reverend, while living off the leavings of the Holy One, enjoying the leftovers of the Holy One, you presume to attack the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha! Who are the pathetic Pāṭikaputtas to attack the Realized Ones, the perfected ones, the fully awakened Buddhas?’
‘Cũng vậy, này hiền giả Pāthikaputta, ngươi sống nhờ vào những lời dạy của bậc Thiện Thệ, hưởng thụ những gì còn lại của bậc Thiện Thệ, mà lại cho rằng có thể chỉ trích được bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, mà sự chỉ trích các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác là gì?’
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī iminā opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ. Atha naṁ etadavoca:
When Jāliya couldn’t get Pāṭikaputta to shift from his seat even with this simile, he said to him:
29. ‘Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của vị du sĩ cầm bát gỗ, dùng ví dụ này mà vẫn không thể làm cho vị lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi, ông ta bèn nói với vị ấy như sau:’
‘Sīhoti attānaṁ samekkhiyāna, Amaññi kotthu migarājāhamasmi; Tatheva so siṅgālakaṁ anadi, Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi. Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
‘Seeing himself as equal to the lion, the jackal presumed “I’m the king of the beasts!” But he actually only managed to yelp, and what’s a sad jackal’s squeal to the roar of a lion?
In the same way, reverend, while living off the leavings of the Holy One, you presume to attack him!’
‘Tự cho mình là sư tử, con chó rừng nghĩ rằng: “Ta là vua của các loài thú.” Nhưng nó vẫn tru lên tiếng tru của chó rừng. Con chó rừng hèn hạ là gì, mà tiếng rống sư tử là gì?’
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ. Atha naṁ etadavoca:
‘Aññaṁ anucaṅkamanaṁ, Attānaṁ vighāse samekkhiya; Yāva attānaṁ na passati,
When Jāliya couldn’t get Pāṭikaputta to shift from his seat even with this simile, he said to him:
‘Following in the steps of another, seeing himself grown fat on scraps, until he doesn’t even see himself,
31. ‘Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của vị du sĩ cầm bát gỗ, dùng cả ví dụ này mà vẫn không thể làm cho vị lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi, ông ta bèn nói với vị ấy như sau:’
‘Đi theo sau một kẻ khác, nhìn thấy mình trong thức ăn thừa, chừng nào con chó rừng chưa thấy được bản chất thật của mình, chừng đó nó còn tưởng mình là cọp.’
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi, Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
But he actually only managed to yelp, and what’s a sad jackal’s squeal to the roar of a lion?
‘Nhưng nó vẫn tru lên tiếng tru của chó rừng. Con chó rừng hèn hạ là gì, mà tiếng rống sư tử là gì?’
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi. Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ. Atha naṁ etadavoca:
In the same way, reverend, while living off the leavings of the Holy One, you presume to attack him!’
When Jāliya couldn’t get Pāṭikaputta to shift from his seat even with this simile, he said to him:
‘Cũng vậy, này hiền giả Pāthikaputta, ngươi sống nhờ vào những lời dạy của bậc Thiện Thệ, hưởng thụ những gì còn lại của bậc Thiện Thệ, mà lại cho rằng có thể chỉ trích được bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, mà sự chỉ trích các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác là gì?’
‘Bhutvāna bheke khalamūsikāyo, Kaṭasīsu khittāni ca koṇapāni; Mahāvane suññavane vivaḍḍho, Amaññi kotthu migarājāhamasmi;
‘Gorged on frogs, and mice from the barn, and carcasses tossed in the cemetery, thriving in the great, empty wood, the jackal presumed “I’m the king of the beasts!”
‘Ăn những con ếch, những con chuột đồng, và những xác chết vứt trong nghĩa địa; lớn lên trong rừng rậm, trong khu rừng hoang vắng, con chó rừng nghĩ rằng: “Ta là vua của các loài thú.”’
‘Nhưng nó vẫn tru lên tiếng tru của chó rừng. Con chó rừng hèn hạ là gì, mà tiếng rống sư tử là gì?’
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi. Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
In the same way, reverend, while living off the leavings of the Holy One, enjoying the leftovers of the Holy One, you presume to attack the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha! Who are the pathetic Pāṭikaputtas to attack the Realized Ones, the perfected ones, the fully awakened Buddhas?’
‘Cũng vậy, này hiền giả Pāthikaputta, ngươi sống nhờ vào những lời dạy của bậc Thiện Thệ, hưởng thụ những gì còn lại của bậc Thiện Thệ, mà lại cho rằng có thể chỉ trích được bậc Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Pāthikaputta hèn hạ là gì, mà sự chỉ trích các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác là gì?’
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ. Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi: ‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ: ‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya. Sacepāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā nāgehi āviñcheyyāmāti. Tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā. Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ. Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
When Jāliya couldn’t get Pāṭikaputta to shift from his seat even with this simile, he returned to the assembly and said, ‘Pāṭikaputta has lost, worthies. He says “I’m coming, respectable sirs, I’m coming!” But wriggle as he might, he can’t get up from his seat.’
When he said this, I said to the assembly, ‘The naked ascetic Pāṭikaputta is not capable of meeting me face to face, unless he gives up that statement and that intention, and lets go of that view. If he thinks he can meet me face to face without giving up those things, his head may explode. The good Licchavis might even think, “Let’s bind Pāṭikaputta with straps and drag him with a pair of oxen!” But either the straps will break or Pāṭikaputta will. Pāṭikaputta is not capable of meeting me face to face, otherwise his head may explode.’
32. ‘Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của vị du sĩ cầm bát gỗ, dùng cả ví dụ này mà vẫn không thể làm cho vị lõa thể Pāthikaputta rời khỏi chỗ ngồi, ông ta bèn trở lại hội chúng và báo rằng: ‘Thưa quý vị, vị lõa thể Pāthikaputta trông có vẻ đã bị đánh bại. Ông ta cứ nói: “Tôi đến đây, hiền giả, tôi đến đây,” rồi cứ lăn lộn tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.’’
Atha khvāhaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassesiṁ samādapesiṁ samuttejesiṁ sampahaṁsesiṁ, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā mahābandhanā mokkhaṁ karitvā caturāsītipāṇasahassāni mahāviduggā uddharitvā tejodhātuṁ samāpajjitvā sattatālaṁ vehāsaṁ abbhuggantvā aññaṁ sattatālampi acciṁ abhinimminitvā pajjalitvā dhūmāyitvā mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ paccuṭṭhāsiṁ.
Then, Bhaggava, I educated, encouraged, fired up, and inspired that assembly with a Dhamma talk. I released that assembly from the great bondage, and lifted 84,000 beings from the great swamp. Next I entered upon the fire element, rose into the air to the height of seven palm trees, and created a flame another seven palm trees high, blazing and smoking. Finally I landed at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
34. Này Bhaggava, khi ấy Ta đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ hội chúng ấy. Sau khi đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ hội chúng ấy, Ta đã giải thoát tám mươi bốn ngàn chúng sanh khỏi sự trói buộc lớn lao, đã cứu vớt họ khỏi con đường hiểm trở vĩ đại, rồi nhập vào hỏa giới, bay lên không trung cao bằng bảy cây tala, lại hóa hiện ra ngọn lửa cao thêm bảy cây tala nữa, làm cho bốc cháy, làm cho tỏa khói, rồi trở về hiện ra tại giảng đường có nóc nhọn trong Đại Lâm.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ: ‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yatheva te ahaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
Then Sunakkhatta came to me, bowed, and sat down to one side. I said to him, ‘What do you think, Sunakkhatta? Did the declaration I made about Pāṭikaputta turn out to be correct, or not?’
‘It turned out to be correct.’
35. Này Bhaggava, khi ấy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đã đảnh lễ Ta rồi ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta đã nói với Sunakkhatta con trai dòng Licchavi đang ngồi một bên rằng: ‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Về Pāthikaputta lõa thể, như Ta đã tiên tri cho ngươi, kết quả đã xảy ra đúng như vậy hay là khác đi?’ ‘Bạch Thế Tôn, về Pāthikaputta lõa thể, như Thế Tôn đã tiên tri cho con, kết quả đã xảy ra đúng như vậy, không khác đi.’
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta, yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti. Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘What do you think, Sunakkhatta? If that is so, has a superhuman demonstration of psychic power been performed or not?’
‘Clearly, sir, a superhuman demonstration of psychic power has been performed.’
‘Though I perform such a superhuman demonstration of psychic power you say this: “But sir, the Buddha never performs any superhuman demonstrations of psychic power for me.” See how far you have strayed!’
‘Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự việc là như vậy, thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của loài người có được xem là đã thực hiện hay không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chắc chắn nếu sự việc là như vậy, thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của loài người đã được thực hiện, không phải là không.’ ‘Này kẻ trống rỗng, dù Ta đã thực hiện thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của loài người như vậy, mà ngươi lại nói rằng: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện cho con thần thông kỳ diệu vượt trên các pháp của loài người.” Này kẻ trống rỗng, hãy xem ngươi đã phạm lỗi lầm đến mức nào!’
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
Though I spoke to Sunakkhatta like this, he still left this teaching and training, like someone on the highway to hell.
Này Bhaggava, dù được Ta nói như vậy, Sunakkhatta con trai dòng Licchavi vẫn rời bỏ khỏi Pháp và Luật này, giống như một người đáng phải sanh vào cõi dữ, địa ngục.
6. Aggaññapaññattikathā
6. On Describing the Origin of the World
Bài giảng về sự chế định điều khởi nguyên
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi. Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā, yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Bhaggava, I understand the origin of the world. I understand this, and what goes beyond it. Yet since I do not misapprehend that understanding, I have realized quenching within myself. Directly knowing this, the Realized One does not come to ruin.
36. Này Bhaggava, Ta biết rõ điều khởi nguyên. Ta biết rõ điều đó, và Ta biết rõ điều cao tột hơn thế nữa. Và khi biết điều đó, Ta không chấp thủ. Do không chấp thủ, Ta tự mình biết rõ sự tịch tịnh. Do thắng tri điều đó, Như Lai không đi đến khổ nạn.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te ca me evaṁ puṭṭhā, ‘āmo’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati. Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti. Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
There are some ascetics and brahmins who describe the origin of the world in their denomination as created by the God Almighty, by the Divinity. I go up to them and say, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ And they answer, ‘Yes’. I say to them, ‘But how do you describe in your denomination that the origin of the world came about as created by the God Almighty, by the Divinity?’ But they are stumped by my question, and they even question me in return. So I answer them,
‘There comes a time when, reverends, after a very long period has passed, this cosmos contracts. As the cosmos contracts, sentient beings are mostly headed for the realm of streaming radiance. There they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
41. Này Bhaggava, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố rằng nguồn gốc tối sơ là giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Khiḍḍāpadosikā (Hỷ-hóa-lạc-thiên). Ta đến gặp họ và hỏi: ‘Có thật các Ngài tuyên bố rằng nguồn gốc tối sơ là giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Khiḍḍāpadosikā không?’. Khi được Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta lại hỏi họ: ‘Vậy các Ngài tuyên bố giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Khiḍḍāpadosikā là nguồn gốc tối sơ như thế nào?’. Khi được Ta hỏi, họ không thể trả lời, và khi không thể trả lời, họ lại hỏi lại Ta. Khi được hỏi, Ta giải thích cho họ:
Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati.
There comes a time when, after a very long period has passed, this cosmos expands.
38. ‘Này các hiền giả, có thời điểm, khi mà một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này hoại diệt. Khi thế giới hoại diệt, phần lớn chúng sanh sanh về cõi Quang Âm. Ở đó, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ, tự thân có ánh sáng, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại trong một thời gian rất dài.
‘Này các hiền giả, có thời điểm, khi mà một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này thành lập. Khi thế giới thành lập, một cung điện Phạm Thiên trống không xuất hiện. Khi ấy, một chúng sanh nào đó, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, chết từ cõi Quang Âm và sanh vào cung điện Phạm Thiên trống không. Vị ấy ở đó do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ, tự thân có ánh sáng, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại trong một thời gian rất dài.
Tassa tattha ekakassa dīgharattaṁ nivusitattā anabhirati paritassanā uppajjati—aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti.
Atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṁ. Tepi tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
But after staying there all alone for a long time, they become dissatisfied and anxious, “Oh, if only other beings would come to this place.”
Then other sentient beings—due to the running out of their lifespan or merit—pass away from that host of radiant deities and are reborn in that mansion of divinity in company with that being. There they too are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
‘Do vị ấy ở một mình tại đó trong một thời gian dài, sự không hoan hỷ, sự khao khát khởi lên: ‘Ôi, mong rằng các chúng sanh khác cũng đến nơi này!’ Khi ấy, các chúng sanh khác, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, chết từ cõi Quang Âm và sanh vào cung điện Phạm Thiên làm bạn đồng hành với vị ấy. Họ cũng ở đó do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ, tự thân có ánh sáng, đi lại trong hư không, an trú trong sự tốt đẹp, và tồn tại trong một thời gian rất dài.
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, tassa evaṁ hoti—ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ, mayā ime sattā nimmitā. Taṁ kissa hetu? Mamañhi pubbe etadahosi—aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti; iti mama ca manopaṇidhi. Ime ca sattā itthattaṁ āgatāti.
Now, the being who was reborn there first thinks, “I am the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. And these beings were created by me. Why is that? Because first I thought, ‘Oh, if only other beings would come to this place.’ Such was my heart’s wish, and then these creatures came to this place.”
39. ‘Này các hiền giả, trong số đó, chúng sanh nào sanh ra trước tiên, vị ấy nghĩ như vầy: ‘Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, đấng chinh phục, không bị chinh phục, đấng thấy tất cả, đấng tự tại, đấng chúa tể, đấng sáng tạo, đấng hóa sanh, đấng tối thượng, đấng sắp đặt, đấng quyền năng, là cha của những gì đã sanh và sẽ sanh. Những chúng sanh này do Ta tạo ra. Vì cớ sao? Vì trước đây Ta đã có ý nghĩ: ‘Ôi, mong rằng các chúng sanh khác cũng đến nơi này!’; đó là tâm nguyện của Ta, và những chúng sanh này đã đến nơi này.’
Yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṁ hoti—ayaṁ kho bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ; iminā mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā. Taṁ kissa hetu? Imañhi mayaṁ addasāma idha paṭhamaṁ upapannaṁ; mayaṁ panāmha pacchā upapannāti.
And the beings who were reborn there later also think, “This must be the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. And we were created by him. Why is that? Because we see that he was reborn here first, and we arrived later.”
‘Và những chúng sanh nào sanh ra sau, họ cũng nghĩ như vầy: ‘Vị Phạm Thiên tôn quý này là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, đấng chinh phục, không bị chinh phục, đấng thấy tất cả, đấng tự tại, đấng chúa tể, đấng sáng tạo, đấng hóa sanh, đấng tối thượng, đấng sắp đặt, đấng quyền năng, là cha của những gì đã sanh và sẽ sanh; chúng ta được tạo ra bởi vị Phạm Thiên tôn quý này. Vì cớ sao? Vì chúng ta đã thấy vị này sanh ra trước tiên ở đây, còn chúng ta thì sanh ra sau.’
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca mahesakkhataro ca. Ye pana te sattā pacchā upapannā, te appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca.
And the being who was reborn first is more long-lived, beautiful, and illustrious than those who arrived later.
40. ‘Này các hiền giả, trong số đó, chúng sanh nào sanh ra trước tiên, vị ấy có tuổi thọ dài hơn, dung sắc đẹp hơn, và quyền lực lớn hơn. Còn những chúng sanh nào sanh ra sau, họ có tuổi thọ ngắn hơn, dung sắc xấu hơn, và quyền lực ít hơn.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say:
‘Này các Hiền giả, có trường hợp này xảy ra, khi một chúng sanh nào đó, sau khi mệnh chung từ cõi ấy, được sanh vào cõi này. Khi được sanh vào cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy sống không gia đình, nhờ tinh tấn, nỗ lực, siêng năng, không dể duôi, như lý tác ý, chứng được tâm định như vậy, và với tâm định tĩnh như vậy, vị ấy nhớ lại tiền kiếp ấy, nhưng không nhớ gì xa hơn nữa.
Te evamāhaṁsu: ‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi. Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti, tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
They say, ‘That is what we have heard, Reverend Gotama, just as you say.’
Bhaggava, I understand the origin of the world. I understand this, and what goes beyond it. Yet since I do not misapprehend that understanding, I have realized quenching within myself. Directly knowing this, the Realized One does not come to ruin.
There are some ascetics and brahmins who describe the origin of the world in their denomination as due to those depraved by play. I go up to them and say, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ And they answer, ‘Yes’. I say to them, ‘But how do you describe in your denomination that the origin of the world came about due to those depraved by play?’ But they are stumped by my question, and they even question me in return. So I answer them,
‘Vị ấy nói như sau: ‘Vị Phạm thiên kia, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Bất bại, Toàn kiến, Vạn tự tại, đấng Sáng tạo, đấng Hóa sanh, đấng Tối tôn, đấng Thi thiết, đấng Quyền uy, Cha của tất cả chúng sanh đã sanh và sẽ sanh. Chúng tôi do vị Phạm thiên ấy hóa sanh ra. Vị ấy thường hằng, thường tồn, vĩnh cửu, bất biến, và sẽ vĩnh viễn như vậy. Còn chúng tôi, do vị Phạm thiên ấy hóa sanh ra, là vô thường, bất ổn, đoản thọ, phải chịu sự biến hoại, và đã sanh vào cõi này’. Các Ngài có tuyên bố rằng giáo lý của các vị đạo sư về sự sáng tạo của đấng Tối cao, sự sáng tạo của Phạm thiên, là nguồn gốc tối sơ không?’. Họ trả lời: ‘Thưa Hiền giả Gotama, chúng tôi đã nghe như vậy, đúng như Tôn giả Gotama đã nói’. Này Bhaggava, Ta biết rõ về nguồn gốc tối sơ. Ta biết rõ điều đó, và Ta biết rõ những điều vượt xa hơn thế nữa. Khi biết như vậy, Ta không chấp thủ, và vì không chấp thủ, Ta tự mình chứng ngộ Niết-bàn. Với sự thắng tri ấy, Như Lai không rơi vào khổ ách.
‘Santāvuso, khiḍḍāpadosikā nāma devā. Te ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati, satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavanti.
‘Reverends, there are gods named “depraved by play”. They spend too much time laughing, playing, and making merry. And in doing so, they lose their mindfulness, and they pass away from that host of gods.
42. ‘Này các Hiền giả, có những vị trời tên là Khiḍḍāpadosikā. Họ sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc. Do sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc, họ bị thất niệm. Do thất niệm, các vị trời ấy mệnh chung từ cõi đó.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati, itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say,
‘Này các Hiền giả, có trường hợp này xảy ra, khi một chúng sanh nào đó, sau khi mệnh chung từ cõi ấy, được sanh vào cõi này. Khi được sanh vào cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy sống không gia đình, nhờ tinh tấn, nỗ lực, siêng năng, không dể duôi, như lý tác ý, chứng được tâm định như vậy, và với tâm định tĩnh như vậy, vị ấy nhớ lại tiền kiếp ấy, nhưng không nhớ gì xa hơn nữa.
Te evamāhaṁsu: ‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe… yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
They say, ‘That is what we have heard, Reverend Gotama, just as you say.’
Bhaggava, I understand the origin of the world. Directly knowing this, the Realized One does not come to ruin.
‘Vị ấy nói như sau: ‘Các vị trời không phải là Khiḍḍāpadosikā không sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc. Do không sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc, họ không bị thất niệm. Do không thất niệm, các vị trời ấy không mệnh chung từ cõi đó; họ thường hằng, thường tồn, vĩnh cửu, bất biến, và sẽ vĩnh viễn như vậy. Còn chúng tôi, là những vị trời Khiḍḍāpadosikā, đã sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc. Do sống quá lâu trong trạng thái vui đùa, thích thú, và hoan lạc, chúng tôi bị thất niệm. Do thất niệm, chúng tôi đã mệnh chung từ cõi đó, là vô thường, bất ổn, đoản thọ, phải chịu sự biến hoại, và đã sanh vào cõi này’. Các Ngài có tuyên bố rằng giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Khiḍḍāpadosikā là nguồn gốc tối sơ không?’. Họ trả lời: ‘Thưa Hiền giả Gotama, chúng tôi đã nghe như vậy, đúng như Tôn giả Gotama đã nói’. Này Bhaggava, Ta biết rõ về nguồn gốc tối sơ... (như trên)... Với sự thắng tri ấy, Như Lai không rơi vào khổ ách.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
There are some ascetics and brahmins who describe the origin of the world in their denomination as due to those who are malevolent. I go up to them and say, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ And they answer, ‘Yes’. I say to them, ‘But how do you describe in your denomination that the origin of the world came about due to those who are malevolent?’ But they are stumped by my question, and they even question me in return. So I answer them,
43. Này Bhaggava, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố rằng nguồn gốc tối sơ là giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Manopadosikā (Tâm-sân-thiên). Ta đến gặp họ và hỏi: ‘Có thật các Ngài tuyên bố rằng nguồn gốc tối sơ là giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Manopadosikā không?’. Khi được Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy’. Ta lại hỏi họ: ‘Vậy các Ngài tuyên bố giáo lý của các vị đạo sư về các vị trời Manopadosikā là nguồn gốc tối sơ như thế nào?’. Khi được Ta hỏi, họ không thể trả lời, và khi không thể trả lời, họ lại hỏi lại Ta. Khi được hỏi, Ta giải thích cho họ:
‘Santāvuso, manopadosikā nāma devā. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. Te aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Te devā tamhā kāyā cavanti.
‘Reverends, there are gods named “malevolent”. They spend too much time gazing at each other, so they grow angry with each other, and their bodies and minds get tired. They pass away from that host of gods.
44. ‘Này các Hiền giả, có những vị trời tên là Manopadosikā. Họ nhìn nhau chằm chằm quá lâu. Do nhìn nhau chằm chằm quá lâu, tâm họ khởi lên sân hận đối với nhau. Khi tâm họ khởi lên sân hận đối với nhau, thân họ mệt mỏi và tâm họ mệt mỏi. Các vị trời ấy mệnh chung từ cõi đó.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say,
Này chư hiền, lại có trường hợp này, một chúng sanh nào đó sau khi mệnh chung từ cõi ấy, sanh vào cõi này. Sau khi sanh vào cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ tinh cần, nỗ lực, chuyên chú, không lơ là, và chánh tư duy, vị ấy đạt được định tâm như vậy, và khi tâm đã định, vị ấy nhớ lại đời sống quá khứ ấy, nhưng không nhớ xa hơn nữa.
Te evamāhaṁsu: ‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe… yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
They say, ‘That is what we have heard, Reverend Gotama, just as you say.’
Bhaggava, I understand the origin of the world. Directly knowing this, the Realized One does not come to ruin.
Vị ấy nói như sau: ‘Chư vị chư thiên nào không phải là hạng bị hư hoại bởi tâm, các vị ấy không nhìn nhau chằm chằm quá lâu. Do không nhìn nhau chằm chằm quá lâu, tâm của họ không khởi lên sân hận đối với nhau. Do tâm không sân hận đối với nhau, thân không mệt mỏi, tâm không mệt mỏi. Các vị chư thiên ấy không mệnh chung từ cõi ấy, họ là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại, và sẽ tồn tại mãi mãi như thế. Còn chúng ta, những người đã là hạng bị hư hoại bởi tâm, chúng ta đã nhìn nhau chằm chằm quá lâu. Do nhìn nhau chằm chằm quá lâu, tâm chúng ta đã khởi lên sân hận đối với nhau. Do tâm sân hận đối với nhau, thân mệt mỏi, tâm mệt mỏi. Vì vậy, chúng ta đã mệnh chung từ cõi ấy, là vô thường, không bền vững, đoản mệnh, phải chịu sự mệnh chung, và đã sanh vào cõi này.’ Các ngài có tuyên bố về nguồn gốc tối sơ, một học thuyết của thầy, về hạng bị hư hoại bởi tâm như vậy không?’ Họ trả lời: ‘Thưa hiền giả Gotama, chúng tôi đã nghe như vậy, đúng như Tôn giả Gotama đã nói.’ Này Bhaggava, Ta biết rõ về nguồn gốc tối sơ… cho đến… do biết rõ điều đó, Như Lai không rơi vào khổ ách.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi: ‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi: ‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti? Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti. Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
There are some ascetics and brahmins who describe the origin of the world in their denomination as having arisen as an anomaly. I go up to them and say, ‘Is it really true that this is the venerables’ view?’ And they answer, ‘Yes’. I say to them, ‘But how do you describe in your denomination that the origin of the world came about anomalously?’ But they are stumped by my question, and they even question me in return. So I answer them,
45. Này Bhaggava, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố về nguồn gốc tối sơ, một học thuyết của thầy, là sự ngẫu nhiên sanh. Ta đến gần họ và hỏi: ‘Có thật chăng quý vị tuyên bố về nguồn gốc tối sơ, một học thuyết của thầy, là sự ngẫu nhiên sanh?’ Khi được Ta hỏi như vậy, họ thừa nhận: ‘Đúng vậy.’ Ta lại hỏi họ: ‘Quý vị tuyên bố về nguồn gốc tối sơ, một học thuyết của thầy, là sự ngẫu nhiên sanh, theo cách thức như thế nào?’ Khi được Ta hỏi, họ không thể giải thích, và vì không thể giải thích, họ lại hỏi ngược lại Ta. Khi được hỏi, Ta giải thích cho họ:
‘Santāvuso, asaññasattā nāma devā. Saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti.
‘Reverends, there are gods named “non-percipient beings”. When perception arises they pass away from that host of gods.
46. ‘Này chư hiền, có các vị trời tên là Vô Tưởng. Và do tưởng sanh khởi, các vị trời ấy mệnh chung từ cõi đó.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ saññuppādaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati’.
So evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect the arising of perception, but no further.
They say,
Này chư hiền, lại có trường hợp này. Một chúng sanh nào đó sau khi mệnh chung từ cõi ấy, sanh vào cõi này. Sau khi sanh vào cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ tinh cần, nỗ lực, chuyên chú, không lơ là, và chánh tư duy, vị ấy đạt được định tâm như vậy, và khi tâm đã định, vị ấy nhớ lại sự sanh khởi của tưởng ấy, nhưng không nhớ xa hơn nữa.
Te evamāhaṁsu: ‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
They say, ‘That is what we have heard, Reverend Gotama, just as you say.’
I understand this, and what goes beyond it. Yet since I do not misapprehend that understanding, I have realized quenching within myself. Directly knowing this, the Realized One does not come to ruin.
Vị ấy nói như sau: ‘Tự ngã và thế giới là ngẫu nhiên sanh. Tại sao vậy? Vì trước đây tôi không tồn tại, nay tôi từ không tồn tại đã trở thành hiện hữu.’ Các ngài có tuyên bố về nguồn gốc tối sơ, một học thuyết của thầy, là sự ngẫu nhiên sanh như vậy không?’ Họ trả lời: ‘Thưa hiền giả Gotama, chúng tôi đã nghe như vậy, đúng như Tôn giả Gotama đã nói.’ Này Bhaggava, Ta biết rõ về nguồn gốc tối sơ, Ta biết rõ điều đó, và Ta biết rõ điều cao hơn thế nữa. Và khi biết điều đó, Ta không chấp thủ. Do không chấp thủ, Ta tự mình biết được Niết-bàn. Do biết rõ điều đó, Như Lai không rơi vào khổ ách.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhaggava, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti: ‘viparīto samaṇo gotamo bhikkhavo ca.
Samaṇo gotamo evamāha—yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti.
Na kho panāhaṁ, bhaggava, evaṁ vadāmi: ‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti. Evañca khvāhaṁ, bhaggava, vadāmi: ‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṁ samaye pajānātī’”ti.
Though I state and assert this, certain ascetics and brahmins misrepresent me with the incorrect, hollow, false, untruthful claim: ‘The ascetic Gotama has a distorted perspective, and so have his monks.
He says, “When one enters and remains in the liberation of the beautiful, at that time one only perceives what is ugly.”’
But I don’t say that. I say this: ‘When one enters and remains in the liberation of the beautiful, at that time one only perceives what is beautiful.’”
47. Này Bhaggava, có một số Sa-môn, Bà-la-môn đã vu khống Ta, người có thuyết như vậy, người tuyên bố như vậy, bằng những lời không thật, trống rỗng, sai lầm, không có thực: ‘Sa-môn Gotama và các Tỳ-kheo là những người có nhận thức sai lạc. Sa-môn Gotama nói rằng: “Khi một vị an trú và chứng đắc tịnh giải thoát, vào lúc ấy, vị ấy nhận biết tất cả là bất tịnh.”’ Nhưng này Bhaggava, Ta không nói như vậy: ‘Khi một vị an trú và chứng đắc tịnh giải thoát, vào lúc ấy, vị ấy nhận biết tất cả là bất tịnh.’ Mà này Bhaggava, Ta nói như thế này: ‘Khi một vị an trú và chứng đắc tịnh giải thoát, vào lúc ấy, vị ấy nhận biết đó là tịnh.’
“Te ca, bhante, viparītā, ye bhagavantaṁ viparītato dahanti bhikkhavo ca. Evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati. Pahoti me bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ, yathā ahaṁ subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja vihareyyan”ti.
“They are the ones with a distorted perspective, sir, who regard the Buddha and the mendicants in this way. Sir, I am quite confident that the Buddha is capable of teaching me so that I can enter and remain in the liberation on the beautiful.”
‘Bạch Thế Tôn, chính những người vu khống Thế Tôn và các Tỳ-kheo một cách sai lạc mới là những người có nhận thức sai lạc. Bạch Thế Tôn, con có lòng tịnh tín nơi Thế Tôn như vậy. Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể an trú và chứng đắc tịnh giải thoát.’
“Dukkaraṁ kho etaṁ, bhaggava, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ. Iṅgha tvaṁ, bhaggava, yo ca te ayaṁ mayi pasādo, tameva tvaṁ sādhukamanurakkhā”ti.
“Sace taṁ, bhante, mayā dukkaraṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ. Yo ca me ayaṁ, bhante, bhagavati pasādo, tamevāhaṁ sādhukamanurakkhissāmī”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamano bhaggavagotto paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
“It’s hard for you to enter and remain in the liberation on the beautiful, since you have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination. Come on, Bhaggava, carefully preserve the confidence that you have in me.”
“If it’s hard for me to enter and remain in the liberation on the beautiful, since I have a different view, creed, and belief, and another discipline and denomination. I shall carefully preserve the confidence that I have in the Buddha.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the wanderer of the Bhaggava clan approved what the Buddha said.
48. ‘Này Bhaggava, thật khó cho ông, một người theo quan điểm khác, có khuynh hướng khác, có sở thích khác, tu tập theo pháp môn khác, theo một vị thầy khác, để có thể an trú và chứng đắc tịnh giải thoát. Này Bhaggava, thôi thì, lòng tịnh tín nào ông đã có nơi Ta, ông hãy khéo bảo vệ lòng tịnh tín ấy.’ ‘Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, một người theo quan điểm khác, có khuynh hướng khác, có sở thích khác, tu tập theo pháp môn khác, theo một vị thầy khác, để có thể an trú và chứng đắc tịnh giải thoát, thì lòng tịnh tín nào con đã có nơi Thế Tôn, con sẽ khéo bảo vệ lòng tịnh tín ấy.’ Thế Tôn đã nói như vậy. Du sĩ Bhaggavagotta hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāthikasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Pāthika, kinh thứ nhất, chấm dứt.