- Dīgha Nikāya 21
Sakkapañhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sakkapañhasutta
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasāla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
SC 3Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: “Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?” Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasāla. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên
SC 4—Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 5- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.—Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
SC 6PTS cs 2~2 Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà
SC 7—Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasaṇḍa, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasāla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 8- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 9Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
SC 10Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
SC 11PTS cs 3~3 Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng
SC 12—Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
SC 13Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.
SC 14PTS cs 4~4 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 15—Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỷ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư. Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỷ, sau sự hoan hỷ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
SC 16- Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.
SC 17Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasāla. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: “Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe”.
SC 18Ðứng một bên, Pancasikha, con của Càn Thát Bà gảy cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 20Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 21PTS cs 6~6 Khi được nghe vậy, Thế Tôn nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 22—Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?
SC 23- Bạch Thế Tôn, một thời Thế Tôn an trú ở Uruvelà, bên bờ sông Neranjara (Ni-liên-thiền), dưới gốc cây Ajapāla-Nigrodha, khi mới thành Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, con yêu con gái của Timbaru, vua Càn Thát Bà, tên là Bhaddà với biệt hiệu Suriya Vaccasà. Nhưng bạch Thế Tôn, thiếu nữ lại yêu một người khác, tên là Sikhaddhi, con của Mātali người đánh xe. Bạch Thế Tôn, con không có phương tiện nào khác để chiếm được thiếu nữ. Con cầm đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva, đến tại trú xá của Timbaru, vua Càn Thát Bà. Khi đến xong, con gảy đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và nói lên bài kệ này, liên hệ đến Phật, đến Pháp, đến A La Hán và đến ái dục:
SC 25Ôi Suriya Vaccasa!
Ta đảnh lễ Timbaru,
Bậc phụ thân của nàng,
Ðã sanh nàng thiện nữ,
Nguồn hạnh phúc của ta,
Như gió cho kẻ mệt.
Như nước cho kẻ khát,
Nàng là tình của ta.
Như pháp với Ứng Cúng,
Như thuốc cho kẻ bệnh,
Như đồ ăn kẻ đói,
Thiên nữ với nước mắt.
Hãy dập tắt lửa tình!
Như voi bị nắng thiêu,
Tẩm mình hồ nước mát,
Có cánh sen, nhụy sen.
Cũng vậy, ta muốn chìm,
Chìm sâu vào ngực nàng.
Như voi bị xiềng xích,
Hất móc câu, gậy nhọn,
Ta điên vì ngực nàng,
Hành động ta rối loạn.
Tâm ta bị nàng trói,
Di chuyển thật vô phương,
Rút lui cũng bất lực,
Như cá đã mắc câu.
Hiền nữ hãy ôm ta,
Trong cánh tay của nàng!
Hãy ôm ta, nhìn ta,
Trong ánh mắt dịu hiền.
Hãy ghì chặt lấy ta,
Thiện nữ! Ta van nàng!
Ôi Hiền nữ suối tóc,
Ái dục ta có bao!
Nhưng nay đã tăng bội,
Như đồ chúng La Hán!
Mọi công đức ta làm,
Dâng lên bậc La Hán,
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả cho ta.
Công đức khác của ta,
Ðã làm trên đời này!
Ôi Kiều nữ toàn thiện,
Nàng là quả của ta!
Vị Thích tử thiền tu,
Nhứt tâm và giác tỉnh,
Tìm cầu đạo Bất tử,
Cũng vậy ta cầu nàng!
Như người tu sung sướng,
Chứng Bồ Ðề tối thượng.
Kiều nữ, ta sung sướng,
Ðược nhập một với nàng,
Nếu Thiên chủ Sakka,
Cho ta một ước nguyện,
Ta ước nguyện được nàng,
Vì ta quá yêu nàng!
Như ta-la sanh quả,
Tuệ Nữ, phụ thân nàng!
Ta sẽ đảnh lễ ngài,
Vì sanh nàng vẹn toàn!
SC 26Bạch Thế Tôn, sau khi nghe nói vậy, Bhaddà Suriya Vaccasà nói với con như sau:
SC 27“Này Hiền giả, tôi chưa được thấy Thế Tôn tận mặt. Nhưng tôi có nghe đến Thế Tôn, khi tôi đến múa tại Thiện Pháp đường của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì Hiền giả đã tán dương Thế Tôn như vậy, vậy hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau”.
SC 28Bạch Thế Tôn, rồi con được gặp nàng, không phải hôm ấy, nhưng về sau.
SC 29PTS cs 8~8 Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ như sau:
SC 30“Pancasikha, con của Càn Thát Bà hoan hỷ đàm luận với Thế Tôn. Và Thế Tôn đối với Pancasikha cũng vậy”.
SC 31Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà
SC 32—Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 33- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
SC 34Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng theo lời dặn của Thiên chủ Sakka, đảnh lễ Thế Tôn và nói
SC 35—Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ, đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn.
SC 36- Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.
SC 37Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasāla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
SC 38PTS cs 9~9 Lúc bấy giờ, trong hang Indasāla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên. Rồi Thế Tôn nói với Thiên chủ Sakka
SC 39—Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!
SC 40- Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salaḷa. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sāvatthi để yết kiến Thế Tôn.
SC 41PTS cs 10~10 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
SC 42“- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 43Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
SC 44“- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
SC 45“- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 46Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
SC 47- Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
SC 48PTS cs 11~11 Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: “Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong”. Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopikā, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con. Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà, Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: “Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà. Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.
SC 50Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỷ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.
Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
Như voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajāpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vāsava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vāsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
Nhờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.
SC 51PTS cs 13~13 Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng”.
SC 52Rồi Thế Tôn nói bài kệ sau đây với Thiên chủ Sakka:
SC 53Vāsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.
SC 54PTS cs 1~14 Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên
SC 55—Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
SC 56Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau
SC 57—Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: “Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù”. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
SC 58Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 59—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.
SC 60PTS cs 2~15 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 61—Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
SC 62- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
SC 63- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
SC 64- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
SC 65- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
SC 66- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.
SC 67- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
SC 68- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt”.
SC 69PTS cs 3~16 Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như thế nào? Phải thành tựu con đường nào thích hợp và hướng dẫn diệt trừ các loại vọng tưởng hý luận?
SC 70- Này Thiên chủ, Ta nói hý luận có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa.
SC 71Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 72Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 73Này Thiên chủ, Ta nói ưu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời ưu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại ưu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với ưu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời ưu ấy nên thân cận. Ở đây, có ưu câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại ưu không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 74Này Thiên chủ, Ta nói ưu là hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 75Này Thiên chủ, Ta nói xả cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì, tuyên bố như vậy? Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thời xả ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại xả nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với xả này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thời xả ấy nên thân cận. Ở đây, có xả câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại xả không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
SC 76Này Thiên chủ, Ta nói rằng xả có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 77Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải chứng đạt như vậy, phải thành tựu con đường như vậy, mới thích hợp và hướng dẫn đến sự diệt trừ các vọng tưởng hý luận.
SC 78Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 79—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con được diệt tận, do dự của con được tiêu tan.
SC 80PTS cs 4~17 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ câu trả lời của Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 81—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như thế nào?
SC 82Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 83Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì thân hành ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại thân hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với thân hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì thân hành ấy cần phải thân cận.
SC 84Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại, một loại cần thân cận, một loại cần tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 85Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì khẩu hành ấy phải tránh xa. Ở đây, loại khẩu hành nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với khẩu hành này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì khẩu hành ấy cần phải thân cận.
SC 86Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy, là do nhân duyên như vậy.
SC 87Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu cũng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận với tầm cầu này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm”, thì loại tầm cầu ấy cần phải tránh xa. Ở đây, loại tầm cầu nào có thể biết được: “Khi tôi thân cận loại tầm cầu này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng”, thì loại tầm cầu ấy nên thân cận.
SC 88Này Thiên chủ, Ta nói rằng tầm cầu có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Sở dĩ có lời tuyên bố như vậy là do nhân duyên như vậy.
SC 89Này Thiên chủ, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như vậy, phải thành tựu biệt giải thoát luật nghi như vậy!
SC 90Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 91—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 92PTS cs 5~18 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu hỏi tiếp
SC 93—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ Kheo phải thành tựu như thế nào, phải thành tựu hộ trì các căn như thế nào?
SC 94- Này Thiên chủ, sắc do mắt phân biệt. Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa. Này Thiên chủ, tiếng do tai phân biệt … hương do mũi phân biệt … vị do lưỡi phân biệt … xúc do thân phân biệt … Này Thiên chủ, pháp do ý phân biệt, Ta nói rằng có hai loại, một loại nên thân cận, một loại nên tránh xa.
SC 95Ðược nghe như vậy, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn
SC 96—Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt được con hiểu một cách rộng rãi. Bạch Thế Tôn, loại sắc do mắt phân biệt, khi con thân cận mà bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại sắc nào do mắt phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại sắc do mắt phân biệt ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, loại tiếng nào do tai phân biệt … loại hương nào do mũi phân biệt … loại vị nào do lưỡi phân biệt … loại xúc nào do thân phân biệt … loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm, thời loại pháp ấy nên tránh xa. Bạch Thế Tôn, loại pháp nào do ý phân biệt, khi con thân cận, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng, thời loại pháp ấy nên thân cận. Bạch Thế Tôn, vấn đề Thế Tôn nói một cách tóm tắt, được con hiểu một cách rộng rãi. Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con tiêu tan, do dự của con diệt tận.
SC 97PTS cs 6~19 Như vậy sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn, Thiên chủ Sakka lại hỏi câu hỏi tiếp
SC 98—Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một tư tưởng, đồng một giới hạnh, đồng một mong cầu, đồng một chí hướng?
SC 99- Này Thiên chủ, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng!
SC 100- Bạch Thế Tôn, vì sao cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một giới hạnh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng?
SC 101- Này Thiên chủ, thế giới này gồm có nhiều loại giới, nhiều giới sai biệt. Trong thế giới gồm có nhiều loại giới và nhiều giới sai biệt này, các loại hữu tình tự nhiên thiên chấp một loại giới nào, và khi đã thiên chấp, trở thành Kiên trì, cố thủ, với định kiến: “Ðây là sự thật, ngoài ra toàn là si mê”. Do vậy, tất cả Sa Môn, Bà La Môn không đồng một tư tưởng, không đồng một giới hạnh, không đồng một cứu cánh, không đồng một mong cầu, không đồng một chí hướng.
SC 102- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?
SC 103- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 104Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
SC 105- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích. Do vậy, tất cả vị Sa môn, Bà la môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
SC 106Ðó là hình thức câu trả lời Thế Tôn cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói
SC 107—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Sau khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ con được diệt tận, do dự con được tiêu tan.
SC 108PTS cs 7~20 Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn liền hỏi câu tiếp
SC 109—Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.
SC 110- Này Thiên chủ, Ngươi có biết những câu hỏi ấy cũng được Ngươi hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác không?
SC 111- Bạch Thế Tôn, con được biết những câu hỏi ấy cũng được con hỏi các vị Sa môn, Bà la môn khác.
SC 112- Này Thiên chủ, những vị ấy trả lời với Ngươi như thế nào, nếu không gì trở ngại hãy nói cho biết.
SC 113- Bạch Thế Tôn, không gì trở ngại cho con, khi Thế Tôn ngồi nghe hay những vị như Thế Tôn.
SC 114- Này Thiên chủ, vậy Ngươi hãy nói đi.
SC 115- Bạch Thế Tôn, những vị Sa môn, Bà la môn mà con nghĩ là những vị sống trong rừng an tịnh, xa vắng, con đi đến những vị ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị này không trả lời cho con, không trả lời lại hỏi ngược con: “Tôn giả tên gì?” Ðược hỏi vậy con trả lời: “Chư Hiền giả, tên là Thiên chủ Sakka.” Rồi những vị ấy lại hỏi thêm con câu nữa: “Do công việc gì Tôn giả Thiên chủ lại đến chỗ này?” Con liền giảng cho những vị ấy Chánh pháp như con đã được nghe và đã được học. Chỉ được từng ấy, các vị hoan hỷ và nói: “Chúng tôi đã được thấy Thiên chủ Sakka. Những điều gì chúng tôi hỏi, vị ấy đều trả lời cho chúng tôi.” Không những vậy, các vị này trở thành đệ tử của con, chớ không phải con là đệ tử của các vị ấy. Bạch Thế Tôn, nhưng con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ được giác ngộ.
SC 116- Này Thiên chủ, Ngươi có biết trước kia Ngươi không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 117- Bạch Thế Tôn, trước kia con không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được an lạc như vậy.
SC 118- Này Thiên chủ, như thế nào, Ngươi biết được trước kia không bao giờ có sự thoải mái như vậy, có được sự hỷ lạc như vậy?
SC 119- Bạch Thế Tôn, thuở xưa, một trận chiến tranh xẩy ra giữa chư Thiên và các vị Asurà. Bạch Thế Tôn, trong trận chiến tranh này, chư Thiên thắng trận, các loài Asurà bại trận. Bạch Thế Tôn sau khi thắng trận, con là người thắng trận, con suy nghĩ: “Nay cam lồ của chư Thiên và cam lồ của Asurà, cả hai loại cam lồ, chư Thiên sẽ được nếm.” Bạch Thế Tôn, thoải mái ấy, hỷ lạc ấy do gậy trượng đem lại, do đao kiếm đem lại, không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Bạch Thế Tôn, thoải mái này, hỷ lạc này nhờ nghe Chánh pháp Thế Tôn đem lại, không do gậy trượng, không do đao kiếm, sẽ đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn.
SC 120PTS cs 8~21 - Này Thiên chủ, khi Ngươi cảm thọ sự thoải mái và hỷ lạc như vậy, Ngươi cảm thấy những lợi ích gì?
SC 121- Bạch Thế Tôn, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy, con cảm thấy có sáu lợi ích như sau:
SC 122Nay con đứng tại đây,
Với thân một vị Thiên.
Con thấy được tái sanh,
Bạch Ngài, hãy biết vậy.
SC 123Bạch Thế Tôn đó là điều lợi thứ nhất con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái hỷ lạc như vậy.
SC 124Sau khi chết con bỏ,
Thân chư Thiên, phi nhân,
Không muội lược, con đi,
Ðến bào thai con thích.
SC 125Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ hai, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 126Câu hỏi được đáp rõ,
Hoan hỷ trong Chánh giáo.
Con sống với Chánh trí,
Giác tỉnh và Chánh niệm.
SC 127Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi thứ ba, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 128Con sống với Chánh trí,
Sẽ được quả Bồ đề,
Sống làm vị Chánh giác,
Ðời này đời cuối cùng.
SC 129Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ tư, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 130Chết từ thân con Người,
Con từ bỏ thân Người,
Con sẽ thành chư Thiên,
Trong Thiên giới vô thượng.
SC 131Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ năm, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái, và hỷ lạc như vậy.
SC 132Thù thắng hơn chư Thiên,
Akaniṭṭḥa danh xưng,
Sống đời sống cuối cùng,
Như vậy nơi an trú.
SC 133Bạch Thế Tôn, đó là điều lợi ích thứ sáu, con cảm thấy, khi con cảm thọ thoải mái và hỷ lạc như vậy.
SC 135Tâm tư không thỏa mãn,
Nghi ngờ và do dự,
Con sống cầu Như Lai,
Thời gian khá lâu dài!
Con nghĩ các Sa môn,
Sống một mình cô độc,
Là bậc Chánh Ðẳng Giác,
Nghĩ vậy con tìm gặp.
Làm thế nào thành công?
Làm thế nào thất bại?
Ðược hỏi câu hỏi vậy?
Không thể chỉ đường hướng.
Biết con là Sakka,
Bậc Thiên chủ, đã đến!
Họ liền gạn hỏi con,
Ðến đây có việc gì?
Con liền giảng Chánh pháp,
Con cho họ được nghe.
Hoan hỷ, họ bèn nói:
” Vāsava làm họ thấy!”
Khi con được thấy Phật,
Nghi ngờ đều tiêu tan.
Nay con sống vô úy,
Hầu hạ bậc Chánh Giác.
Mũi tên độc tham ái,
Ðấng Chánh Giác nhổ lên,
Con đảnh lễ Ðại Hùng,
Bậc thân tộc mặt trời.
Tôn giả như Phạm thiên,
Nay con đảnh lễ Ngài,
Nay con kính lễ Ngài!
Ngài là bậc Chánh Giác,
Bậc Ðạo Sư vô thượng,
Trong đời kể chư Thiên,
Không ai so sánh Ngài!
SC 136PTS cs 10~23 Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn thát bà
SC 137—Này Khanh Pancasikha, Ngươi đã giúp ta nhiều việc. Trước nhờ Ngươi làm Thế Tôn bằng lòng, sau khi Ngươi làm cho bằng lòng, ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Ta sẽ đóng vai trò thân phụ cho Ngươi, Ngươi sẽ là Vua loài Càn thát bà. Ta sẽ cho Ngươi Bhaddà Suriya Vaccasà, người mà ngươi ao ước.
SC 138Rồi Thiên chủ Sakka, lấy tay sờ đất, đọc lên ba lần bài kệ cảm hứng như sau:
SC 139Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
Ðảnh lễ đấng Thế Tôn,
Bậc La hán, Chánh Giác!
SC 140Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: “Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt.” Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Xem bản Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Đế Thích Vấn
Tena kho pana samayena sakkassa devānamindassa ussukkaṁ udapādi bhagavantaṁ dassanāya. Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi: “kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
Addasā kho sakko devānamindo bhagavantaṁ magadhesu viharantaṁ pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ. Disvāna deve tāvatiṁse āmantesi: “ayaṁ, mārisā, bhagavā magadhesu viharati, pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ. Yadi pana, mārisā, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho devā tāvatiṁsā sakkassa devānamindassa paccassosuṁ.
Now at that time Sakka, the lord of gods, grew eager to see the Buddha. He thought, “Where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
Seeing that the Buddha was at Indra’s hill cave, he addressed the gods of the thirty-three, “Good fellows, the Buddha is staying in the land of the Magadhans at Indra’s hill cave. What if we were to go and see that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“Yes, lord,” replied the gods.
344. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha (Ma-kiệt-đà), tại hang Indasāla (Ấn-đà-sa-la) trên núi Vediyaka (Phệ-đí-già-ca), ở phía bắc của làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā (Am-bà-san-đà), về phía đông của thành Rājagaha (Vương Xá). Bấy giờ, Sakka (Đế Thích), vua của các vị trời, khởi lên lòng mong muốn được yết kiến Thế Tôn. Khi ấy, Sakka, vua của các vị trời, suy nghĩ như sau: ‘Hiện nay, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang trú ở đâu?’ Rồi Sakka, vua của các vị trời, thấy Thế Tôn đang trú ở giữa dân chúng Magadha, tại hang Indasāla trên núi Vediyaka, ở phía bắc của làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, về phía đông của thành Rājagaha. Sau khi thấy vậy, ngài nói với các vị trời ở cõi Tāvatiṃsa (Đao-lợi): ‘Này các hiền hữu, Thế Tôn đang trú ở giữa dân chúng Magadha, tại hang Indasāla trên núi Vediyaka, ở phía bắc của làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, về phía đông của thành Rājagaha. Này các hiền hữu, thật tốt thay nếu chúng ta đi đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Các vị trời ở cõi Tāvatiṃsa đã đáp lời Sakka, vua của các vị trời: ‘Thưa vâng, lạy đức vua.’
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi: “ayaṁ, tāta pañcasikha, bhagavā magadhesu viharati pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate indasālaguhāyaṁ. Yadi pana, tāta pañcasikha, mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya sakkassa devānamindassa anucariyaṁ upāgami.
Then Sakka addressed the centaur Pañcasikha, “Dear Pañcasikha, the Buddha is staying in the land of the Magadhans at Indra’s hill cave. What if we were to go and see that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
“Yes, lord,” replied the centaur Pañcasikha. Taking his arched harp made from the pale timber of wood-apple, he went as Sakka’s attendant.
345. Khi ấy, Sakka, vua của các vị trời, gọi thiên tử Gandhabba (Càn-thát-bà) tên là Pañcasikha (Ngũ-kế): ‘Này hiền giả Pañcasikha, Thế Tôn đang trú ở giữa dân chúng Magadha, tại hang Indasāla trên núi Vediyaka, ở phía bắc của làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, về phía đông của thành Rājagaha. Này hiền giả Pañcasikha, thật tốt thay nếu chúng ta đi đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Thiên tử Gandhabba Pañcasikha đã đáp lời Sakka, vua của các vị trời: ‘Thưa vâng, lạy đức vua.’ và sau khi vâng lời, vị ấy lấy cây đàn tỳ bà beluvapaṇḍu (bối-lâu-bà-bàn-đầu) và đến đi theo sau Sakka, vua của các vị trời.
Atha kho sakko devānamindo devehi tāvatiṁsehi parivuto pañcasikhena gandhabbadevaputtena purakkhato—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito magadhesu pācīnato rājagahassa ambasaṇḍā nāma brāhmaṇagāmo, tassuttarato vediyake pabbate paccuṭṭhāsi.
Tena kho pana samayena vediyako pabbato atiriva obhāsajāto hoti ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena. Apissudaṁ parito gāmesu manussā evamāhaṁsu: “ādittassu nāmajja vediyako pabbato jhāyatisu nāmajja vediyako pabbato jalatisu. Nāmajja vediyako pabbato. Kiṁsu nāmajja vediyako pabbato atiriva obhāsajāto ambasaṇḍā ca brāhmaṇagāmo”ti; saṁviggā lomahaṭṭhajātā ahesuṁ.
Then Sakka went at the head of a retinue consisting of the gods of the thirty-three and the godling centaur Pañcasikha. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the heaven of the gods of the thirty-three and landed on Mount Vediyaka north of Ambasaṇḍā.
Now at that time a dazzling light appeared over Mount Vediyaka and Ambasaṇḍā, as happens through the glory of the gods. People in the villages round about, terrified, shocked, and awestruck, said, “Mount Vediyaka must be on fire today, blazing and burning! Oh why has such a dazzling light appeared over Mount Vediyaka and Ambasaṇḍā?”
346. Khi ấy, Sakka, vua của các vị trời, được các vị trời ở cõi Tāvatiṃsa vây quanh, với thiên tử Gandhabba Pañcasikha đi trước, giống như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi cõi trời Tāvatiṃsa và hiện ra trên núi Vediyaka, ở phía bắc của làng Bà-la-môn tên là Ambasaṇḍā, về phía đông của thành Rājagaha. Bấy giờ, do thần lực của các vị trời, núi Vediyaka và làng Bà-la-môn Ambasaṇḍā trở nên vô cùng sáng chói. Những người dân ở các làng xung quanh đã nói như vầy: ‘Hôm nay, núi Vediyaka dường như bốc cháy, hôm nay núi Vediyaka dường như rực lửa, hôm nay núi Vediyaka dường như bừng sáng! Tại sao hôm nay núi Vediyaka và làng Bà-la-môn Ambasaṇḍā lại sáng chói lạ thường như vậy?’ Họ kinh hãi, lông tóc dựng đứng.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi: “durupasaṅkamā kho, tāta pañcasikha, tathāgatā mādisena, jhāyī jhānaratā, tadantaraṁ paṭisallīnā. Yadi pana tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādeyyāsi, tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyāma arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena indasālaguhā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā: “ettāvatā me bhagavā neva atidūre bhavissati nāccāsanne, saddañca me sossatī”ti—ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Then Sakka addressed the centaur Pañcasikha, “My dear Pañcasikha, it is hard for one like me to get near the Realized Ones while they are on retreat practicing absorption, enjoying absorption. But if you were to charm the Buddha first, then I could go to see him.”
“Yes, lord,” replied the centaur Pañcasikha. Taking his arched harp made from the pale timber of wood-apple, he went to Indra’s hill cave. When he had drawn near, he stood to one side, thinking, “This is neither too far nor too near; and he’ll hear my voice.”
347. Khi ấy, Sakka, vua của các vị trời, nói với thiên tử Gandhabba Pañcasikha: ‘Này hiền giả Pañcasikha, các đấng Như Lai, những vị thường nhập thiền, ưa thích thiền định, và trong thời gian đó các ngài độc cư, thật khó cho người như ta tiếp cận. Này hiền giả Pañcasikha, nếu hiền giả đi trước làm cho Thế Tôn hoan hỷ, thì sau khi hiền giả đã làm cho ngài hoan hỷ, chúng ta sẽ đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Thiên tử Gandhabba Pañcasikha đã đáp lời Sakka, vua của các vị trời: ‘Thưa vâng, lạy đức vua.’ và sau khi vâng lời, vị ấy lấy cây đàn tỳ bà beluvapaṇḍu, đi đến hang Indasāla. Sau khi đến, vị ấy đứng sang một bên, nghĩ rằng: ‘Ở khoảng cách này, Thế Tôn sẽ không quá xa cũng không quá gần ta, và ngài sẽ nghe được tiếng đàn của ta.’
Kệ Tụng của Pañcasikha
Ekamantaṁ ṭhito kho pañcasikho gandhabbadevaputto beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesi, imā ca gāthā abhāsi buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā:
Standing to one side, Pañcasikha played his arched harp, and sang these verses on the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the perfected ones, and sensual love.
348. Đứng sang một bên, thiên tử Gandhabba Pañcasikha gảy cây đàn tỳ bà beluvapaṇḍu và hát những câu kệ này, liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, các bậc A-la-hán, và liên quan đến ái dục:
“Vande te pitaraṁ bhadde, timbaruṁ sūriyavacchase; Yena jātāsi kalyāṇī, ānandajananī mama.
“O Bhaddā Suriyavaccasā, my Darling Sunshine, I pay homage to your father Timbaru, through whom was born a lady so fine, to fill me with a joy I never knew.
‘Này nàng Suriyavacchasā hiền thục, ta xin đảnh lễ cha của nàng, vua Timbaru; nhờ ngài mà nàng, người xinh đẹp, người mang lại niềm vui cho ta, đã được sinh ra.’
Vātova sedataṁ kanto, pānīyaṁva pipāsato; Aṅgīrasi piyāmesi, dhammo arahatāmiva.
As sweet as a breeze to one who’s sweating, or when thirsty, a sweet and cooling drink, so dear are you, Aṅgīrasi, to me—just like the teaching is to all the saints!
‘Như cơn gió đối với người đẫm mồ hôi, như nước uống đối với người khát, nàng, hỡi Aṅgīrasī, thật đáng yêu với ta, như Chánh pháp đối với các bậc A-la-hán.’
Āturasseva bhesajjaṁ, bhojanaṁva jighacchato; Parinibbāpaya maṁ bhadde, jalantamiva vārinā.
Like a cure when you’re struck by fever dire, or food to ease the hunger pain, come on, Bhaddā, please put out my fire, quench me like water on a flame.
‘Như thuốc chữa cho người bệnh, như thức ăn cho người đói, xin nàng, hỡi người hiền thục, hãy dập tắt lửa lòng của ta, như người ta dùng nước dập tắt lửa đang cháy.’
Sītodakaṁ pokkharaṇiṁ, yuttaṁ kiñjakkhareṇunā; Nāgo ghammābhitattova, ogāhe te thanūdaraṁ.
As elephants burning in the heat of summer, sink down in a lotus pond to rest, so cool, full of petals and of pollen—that’s how I would plunge into your breast.
‘Như con voi bị nóng bức hành hạ, đắm mình vào hồ sen mát lạnh, đầy phấn hoa, ta cũng muốn được đắm mình vào giữa đôi nhũ của nàng.’
Accaṅkusova nāgova, jitaṁ me tuttatomaraṁ; Kāraṇaṁ nappajānāmi, sammatto lakkhaṇūruyā.
Like elephants bursting bonds in rutting season, beating off the pricks of lance and pikes—I just don’t understand what is the reason I’m so crazy for your shapely thighs!
‘Như con voi đã vượt khỏi tầm kiểm soát của móc sắt, đã chiến thắng cả lao nhọn, ta không còn biết lý lẽ gì nữa, vì say đắm bởi cặp đùi hoàn hảo của nàng.’
Tayi gedhitacittosmi, cittaṁ vipariṇāmitaṁ; Paṭigantuṁ na sakkomi, vaṅkaghastova ambujo.
For you, my heart is full of passion, I’m in a besotted state of mind. There is no going back, I’m just not able, I’m like a fish that’s hooked up on the line.
“Nơi nàng, tâm ta đã say đắm, tâm ta đã đổi khác. Ta không thể quay về, như con cá đã nuốt phải lưỡi câu.”
Vāmūru saja maṁ bhadde, saja maṁ mandalocane; Palissaja maṁ kalyāṇi, etaṁ me abhipatthitaṁ.
Come on, my Bhaddā, hold me, fair of thighs! Embrace me, maid of captivating eyes! Take me in your arms, my lovely lady, that’s all I’d ever want or could desire.
“Này nàng hiền thục có cặp đùi thon, hãy ôm lấy ta. Này nàng có đôi mắt hiền dịu, hãy ôm lấy ta. Này nàng diễm kiều, hãy ôm choàng lấy ta. Đây là điều ta hằng mong mỏi.”
Appako vata me santo, kāmo vellitakesiyā; Anekabhāvo samuppādi, arahanteva dakkhiṇā.
Ah, then my desire was such a small thing, my sweet, with your curling wavy hair; now, like to arahants an offering, it’s grown so very much from there.
“Ái dục của ta vốn dĩ nhỏ nhoi, nhưng đối với nàng, người có mái tóc gợn sóng, nó đã khởi lên gấp bội, giống như vật cúng dường dâng lên bậc A-la-hán.”
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ, arahantesu tādisu; Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi, tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Whatever the merit I have forged by giving to such perfected beings—may that, my altogether gorgeous, ripen in togetherness with you.
“Này nàng toàn thiện toàn mỹ, phước báu nào ta đã tạo ra đối với các bậc A-la-hán, những bậc như vậy, nguyện cho phước báu ấy của ta được trổ quả cùng với nàng.”
Yaṁ me atthi kataṁ puññaṁ, asmiṁ pathavimaṇḍale; Taṁ me sabbaṅgakalyāṇi, tayā saddhiṁ vipaccataṁ.
Whatever the merit I have forged in this vast territory, may that, my altogether gorgeous, ripen in togetherness with you.
“Này nàng toàn thiện toàn mỹ, phước báu nào ta đã tạo ra trên cõi đất này, nguyện cho phước báu ấy của ta được trổ quả cùng với nàng.”
Sakyaputtova jhānena, ekodi nipako sato; Amataṁ muni jigīsāno, tamahaṁ sūriyavacchase.
As the Sakyan, absorbed, did meditate at one, alert, and mindful too, the sage seeking the state free of death—so I, oh my Sunshine, seek for you!
“Này nàng Suriyavacchasā, như bậc Thích Tử, bậc Mâu-ni, với thiền định, nhất tâm, trí tuệ, chánh niệm, tìm cầu sự bất tử, ta cũng tìm cầu nàng như vậy.”
Yathāpi muni nandeyya, patvā sambodhimuttamaṁ; Evaṁ nandeyyaṁ kalyāṇi, missībhāvaṁ gato tayā.
And just like the sage would delight, once he had awakened to the truth, so I would delight, my fine lady, were I to become one with you.
“Này nàng diễm kiều, như bậc Mâu-ni hoan hỷ khi chứng đắc Vô Thượng Chánh Giác, ta cũng sẽ hoan hỷ như vậy khi được kết hợp cùng nàng.”
Sakko ce me varaṁ dajjā, tāvatiṁsānamissaro; Tāhaṁ bhadde vareyyāhe, evaṁ kāmo daḷho mama.
If Sakka were to grant me one wish, as Lord of the Thirty and Three, my Bhaddā, you’re all I would wish for, so strong is the love in me.
“Này nàng hiền thục, nếu Sakka, vị chúa của chư thiên Ba Mươi Ba, ban cho ta một điều ước, ta sẽ chọn nàng. Lòng ái mộ của ta mãnh liệt dường ấy.”
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ, pitaraṁ te sumedhase; Vandamāno namassāmi, yassāsetādisī pajā”ti.
Like a freshly blossoming sal tree is your father, my lady so wise. I pay homage to he, bowing humbly, whose daughter is of such a kind.”
“Này nàng hiền trí, ta xin cúi đầu đảnh lễ thân phụ của nàng, người có một người con gái như nàng, giống như cây sa-la luôn nở hoa rực rỡ.”
Evaṁ vutte, bhagavā pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ etadavoca: “saṁsandati kho te, pañcasikha, tantissaro gītassarena, gītassaro ca tantissarena; na ca pana te, pañcasikha, tantissaro gītassaraṁ ativattati, gītassaro ca tantissaraṁ. Kadā saṁyūḷhā pana te, pañcasikha, imā gāthā buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā”ti?
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho. Tena kho panāhaṁ, bhante, samayena bhaddā nāma sūriyavacchasā timbaruno gandhabbarañño dhītā, tamabhikaṅkhāmi. Sā kho pana, bhante, bhaginī parakāminī hoti; sikhaṇḍī nāma mātalissa saṅgāhakassa putto, tamabhikaṅkhati. Yato kho ahaṁ, bhante, taṁ bhaginiṁ nālatthaṁ kenaci pariyāyena. Athāhaṁ beluvapaṇḍuvīṇaṁ ādāya yena timbaruno gandhabbarañño nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā beluvapaṇḍuvīṇaṁ assāvesiṁ, imā ca gāthā abhāsiṁ buddhūpasañhitā dhammūpasañhitā saṅghūpasañhitā arahantūpasañhitā kāmūpasañhitā—
When Pañcasikha had spoken, the Buddha said to him, “Pañcasikha, the sound of your strings blends well with the sound of your singing, so that neither overpowers the other. But when did you compose these verses on the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the perfected ones, and sensual love?”
“This one time, sir, when you were first awakened, you were staying in Uruvelā at the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River. And at that time I was in love with Bhaddā Suriyavaccasā, who they call ‘Darling Sunshine’, the daughter of the centaur king Timbaru. But the sister desired another. It was the one named Sikhaṇḍī, the son of Mātali the chariot handler, who she loved. Since I couldn’t win that sister by any means, I took my arched harp to Timbaru’s home, where I played those verses.
349. Khi được nói vậy, Thế Tôn đã nói điều này với thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha: “Này Pañcasikha, tiếng đàn của ngươi hòa hợp với tiếng hát, và tiếng hát hòa hợp với tiếng đàn. Này Pañcasikha, tiếng đàn của ngươi không vượt quá tiếng hát, và tiếng hát không vượt quá tiếng đàn. Này Pañcasikha, ngươi đã sáng tác những bài kệ này liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, các vị A-la-hán, và dục lạc từ khi nào?” “Bạch Thế Tôn, có một thời, khi Thế Tôn mới thành Chánh Giác, đang trú ở Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây ajapālanigrodha. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, con đang khao khát nàng Bhaddā Suriyavacchasā, con gái của vua Càn-thát-bà Timbaru. Nhưng bạch Thế Tôn, nàng ấy lại yêu một người khác; nàng khao khát Sikhaṇḍī, con trai của Mātali, người đánh xe. Bạch Thế Tôn, vì con không thể có được nàng ấy bằng bất cứ cách nào, nên con đã lấy cây đàn tỳ-bà bằng gỗ beluva vàng óng, đi đến dinh thự của vua Càn-thát-bà Timbaru; sau khi đến, con đã gảy đàn tỳ-bà bằng gỗ beluva vàng óng và đã hát những bài kệ này liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, các vị A-la-hán, và dục lạc:–
Vande te pitaraṁ bhadde, timbaruṁ sūriyavacchase; Yena jātāsi kalyāṇī, ānandajananī mama.
…pe…
“‘Này nàng hiền thục Suriyavacchasā, con xin đảnh lễ thân phụ của nàng, vua Timbaru, người đã sinh ra nàng, một trang tuyệt thế, người mang lại niềm hoan hỷ cho con. …v.v…
Sālaṁva na ciraṁ phullaṁ, pitaraṁ te sumedhase; Vandamāno namassāmi, yassāsetādisī pajāti.
Này nàng hiền trí, ta xin cúi đầu đảnh lễ thân phụ của nàng, người có một người con gái như nàng, giống như cây sa-la luôn nở hoa rực rỡ.’”
Evaṁ vutte, bhante, bhaddā sūriyavacchasā maṁ etadavoca: ‘na kho me, mārisa, so bhagavā sammukhā diṭṭho, api ca sutoyeva me so bhagavā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sudhammāyaṁ sabhāyaṁ upanaccantiyā. Yato kho tvaṁ, mārisa, taṁ bhagavantaṁ kittesi, hotu no ajja samāgamo’ti. Soyeva no, bhante, tassā bhaginiyā saddhiṁ samāgamo ahosi. Na ca dāni tato pacchā”ti.
When I finished, Suriyavaccasā said to me, ‘Good fellow, I have not personally seen the Buddha. But I did hear about him when I went to dance for the gods of the thirty-three in the Hall of Clear Right. Since you extol the Buddha, let us meet up today.’ And that’s when I met up with that sister. But we have not met since.”
“Bạch Thế Tôn, khi con nói vậy, nàng Bhaddā Suriyavacchasā đã nói với con điều này: ‘Thưa ngài, tôi chưa từng trực tiếp thấy Thế Tôn, nhưng tôi đã nghe về Ngài khi đang múa ở hội trường Sudhammā của chư thiên Ba Mươi Ba. Thưa ngài, vì ngài đã tán thán Thế Tôn, nên hôm nay chúng ta hãy gặp nhau.’ Bạch Thế Tôn, đó là cuộc gặp gỡ duy nhất của chúng con với nàng ấy. Và từ đó về sau, không còn nữa.”
Sakka đến yết kiến
Atha kho sakkassa devānamindassa etadahosi: “paṭisammodati pañcasikho gandhabbadevaputto bhagavatā, bhagavā ca pañcasikhenā”ti.
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbadevaputtaṁ āmantesi: “abhivādehi me tvaṁ, tāta pañcasikha, bhagavantaṁ: ‘sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti.
“Evaṁ, bhaddantavā”ti kho pañcasikho gandhabbadevaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā bhagavantaṁ abhivādeti: “sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
“Evaṁ sukhī hotu, pañcasikha, sakko devānamindo sāmacco saparijano; sukhakāmā hi devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā”ti.
Then Sakka, lord of gods, thought, “Pañcasikha is exchanging pleasantries with the Buddha.”
So he addressed Pañcasikha, “My dear Pañcasikha, please bow to the Buddha for me, saying: ‘Sir, Sakka, lord of gods, with his ministers and retinue, bows with his head at your feet.’”
“Yes, lord,” replied Pañcasikha. He bowed to the Buddha and said, “Sir, Sakka, lord of gods, with his ministers and retinue, bows with his head at your feet.”
“So may Sakka with his ministers and retinue be happy, Pañcasikha,” said the Buddha, “for all want to be happy—whether gods, humans, titans, dragons, centaurs, or any of the other diverse creatures there may be.”
350. Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, khởi lên ý nghĩ này: “Thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha đang trò chuyện thân mật với Thế Tôn, và Thế Tôn cũng đang trò chuyện với Pañcasikha.” Rồi Sakka, vua của chư thiên, gọi thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha: “Này hiền giả Pañcasikha, ngươi hãy thay ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các vị bộ trưởng và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’” “Vâng, thưa ngài,” thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha vâng lời Sakka, vua của chư thiên, và đảnh lễ Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các vị bộ trưởng và tùy tùng, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.” “Này Pañcasikha, mong rằng Sakka, vua của chư thiên, cùng với các vị bộ trưởng và tùy tùng, được an lạc. Vì chư thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà, và bất cứ chúng sanh nào khác trong các loài, đều mong cầu an lạc.”
Evañca pana tathāgatā evarūpe mahesakkhe yakkhe abhivadanti. Abhivadito sakko devānamindo bhagavato indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Devāpi tāvatiṁsā indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Pañcasikhopi gandhabbadevaputto indasālaguhaṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
For that is how the Realized Ones salute such illustrious spirits. And being saluted by the Buddha, Sakka entered Indra’s hill cave, bowed to the Buddha, and stood to one side. And the gods of the thirty-three did likewise, as did Pañcasikha.
351. Và các đấng Như Lai thường chào đón các vị dạ-xoa có đại thần lực như vậy. Được chào đón, Sakka, vua của chư thiên, đi vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba cũng đi vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Thiên tử Càn-thát-bà Pañcasikha cũng đi vào hang Indasāla, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên.
Tena kho pana samayena indasālaguhā visamā santī samā samapādi, sambādhā santī urundā samapādi, andhakāro guhāyaṁ antaradhāyi, āloko udapādi yathā taṁ devānaṁ devānubhāvena.
And at that time the uneven places were evened out, the cramped places were opened up, the darkness vanished in the cave and light appeared, as happens through the glory of the gods.
Vào lúc ấy, hang Indasāla, vốn không bằng phẳng, đã trở nên bằng phẳng; vốn chật hẹp, đã trở nên rộng rãi. Bóng tối trong hang tan biến, và ánh sáng xuất hiện, như thường xảy ra nhờ vào thần lực của chư thiên.
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca: “acchariyamidaṁ āyasmato kosiyassa, abbhutamidaṁ āyasmato kosiyassa tāva bahukiccassa bahukaraṇīyassa yadidaṁ idhāgamanan”ti.
“Cirapaṭikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamitukāmo; api ca devānaṁ tāvatiṁsānaṁ kehici kehici kiccakaraṇīyehi byāvaṭo; evāhaṁ nāsakkhiṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati salaḷāgārake. Atha khvāhaṁ, bhante, sāvatthiṁ agamāsiṁ bhagavantaṁ dassanāya. Tena kho pana, bhante, samayena bhagavā aññatarena samādhinā nisinno hoti, bhūjati ca nāma vessavaṇassa mahārājassa paricārikā bhagavantaṁ paccupaṭṭhitā hoti, pañjalikā namassamānā tiṭṭhati.
Atha khvāhaṁ, bhante, bhūjatiṁ etadavocaṁ: ‘abhivādehi me tvaṁ, bhagini, bhagavantaṁ: “sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā bhūjati maṁ etadavoca: ‘akālo kho, mārisa, bhagavantaṁ dassanāya; paṭisallīno bhagavā’ti.
‘Tena hi, bhagini, yadā bhagavā tamhā samādhimhā vuṭṭhito hoti, atha mama vacanena bhagavantaṁ abhivādehi: “sakko, bhante, devānamindo sāmacco saparijano bhagavato pāde sirasā vandatī”’ti. Kacci me sā, bhante, bhaginī bhagavantaṁ abhivādesi? Sarati bhagavā tassā bhaginiyā vacanan”ti?
“Abhivādesi maṁ sā, devānaminda, bhaginī, sarāmahaṁ tassā bhaginiyā vacanaṁ. Api cāhaṁ āyasmato nemisaddena tamhā samādhimhā vuṭṭhito”ti.
“Ye te, bhante, devā amhehi paṭhamataraṁ tāvatiṁsakāyaṁ upapannā, tesaṁ me sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yadā tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti. Taṁ me idaṁ, bhante, sakkhidiṭṭhaṁ yato tathāgato loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho, dibbā kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyāti.
Then the Buddha said to Sakka, “It’s incredible and amazing that you, the venerable Kosiya, who has so many duties and so much to do, should come here.”
“For a long time I’ve wanted to come and see the Buddha, but I wasn’t able, being prevented by my many duties and responsibilities for the gods of the thirty-three. This one time, sir, the Buddha was staying near Sāvatthī in the <i lang='pi' translate='no'>salaḷa</i> tree hut. Then I went to Sāvatthī to see the Buddha. But at that time the Buddha was sitting immersed in some kind of meditation. And a divine maiden of Great King Vessavaṇa named Bhūjati was attending on the Buddha, standing there paying homage to him with cupped palms.
So I said to her, ‘Sister, please bow to the Buddha for me, saying: “Sir, Sakka, lord of gods, with his ministers and retinue, bows with his head at your feet.”’
When I said this, she said to me, ‘It’s the wrong time to see the Buddha, as he’s in retreat.’
‘Well then, sister, please convey my message when the Buddha emerges from that immersion.’ I hope that sister bowed to you? Do you remember what she said?”
“She did bow, lord of gods, and I remember what she said. I also remember that it was the sound of your chariot wheels that pulled me out of that immersion.”
“Sir, I have heard and learned this in the presence of the gods who were reborn in the host of the thirty-three before me: ‘When a Realized One arises in the world, perfected and fully awakened, the heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle.’ And I have seen this with my own eyes.
352. Bấy giờ, Thế Tôn nói với Sakka, vua của chư thiên: ‘Thật là kỳ diệu, này hiền giả Kosiya, thật là phi thường, này hiền giả Kosiya, ngài có nhiều công việc, nhiều phận sự như vậy mà vẫn đến được đây.’ ‘Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã muốn đến yết kiến Thế Tôn; nhưng vì bận rộn với các công việc và phận sự của chư thiên cõi Ba Mươi Ba, nên con đã không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, có một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Tịnh xá Sala. Bấy giờ, bạch Thế Tôn, con đã đi đến Sāvatthī để yết kiến Thế Tôn. Nhưng lúc ấy, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang ngồi nhập một định nào đó, và một nữ tỳ của đại vương Vessavaṇa tên là Bhūjati đang hầu cận Thế Tôn, đứng chắp tay đảnh lễ. Bấy giờ, bạch Thế Tôn, con đã nói với Bhūjati rằng: ‘Này chị, chị hãy thay tôi đảnh lễ Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các vị cận thần và quyến thuộc, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, cô Bhūjati ấy đã nói với con rằng: ‘Thưa ngài, đây không phải là lúc để yết kiến Thế Tôn; Thế Tôn đang độc cư thiền tịnh.’ ‘Vậy thì, này chị, khi nào Thế Tôn xuất khỏi định ấy, chị hãy thay lời tôi đảnh lễ Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, cùng với các vị cận thần và quyến thuộc, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Bạch Thế Tôn, không biết người chị ấy của con đã đảnh lễ Thế Tôn chưa? Thế Tôn có nhớ lời của người chị ấy không?’ ‘Này vua của chư thiên, người chị ấy đã đảnh lễ Ta, Ta nhớ lời của người chị ấy. Hơn nữa, Ta đã xuất khỏi định ấy chính vì tiếng vành xe của hiền giả.’ ‘Bạch Thế Tôn, những vị chư thiên nào đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba trước chúng con, con đã được trực tiếp nghe từ các vị ấy, trực tiếp lãnh thọ từ các vị ấy rằng: ‘Khi các vị Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, các cõi trời thì được sung mãn, còn các cõi a-tu-la thì bị suy giảm.’ Điều này, bạch Thế Tôn, chính con đã tận mắt chứng kiến: từ khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, các cõi trời thì được sung mãn, còn các cõi a-tu-la thì bị suy giảm.’
Câu chuyện về Gopaka
Idheva, bhante, kapilavatthusmiṁ gopikā nāma sakyadhītā ahosi buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī. Sā itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā. Devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ amhākaṁ puttattaṁ ajjhupagatā. Tatrapi naṁ evaṁ jānanti: ‘gopako devaputto, gopako devaputto’ti.
Aññepi, bhante, tayo bhikkhū bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā. Te pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārayamānā amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti amhākaṁ pāricariyaṁ.
Te amhākaṁ upaṭṭhānaṁ āgate amhākaṁ pāricariyaṁ gopako devaputto paṭicodesi: ‘kutomukhā nāma tumhe, mārisā, tassa bhagavato dhammaṁ assuttha—ahañhi nāma itthikā samānā buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārinī itthittaṁ virājetvā purisattaṁ bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ sakkassa devānamindassa puttattaṁ ajjhupagatā. Idhāpi maṁ evaṁ jānanti: “gopako devaputto gopako devaputto”ti. Tumhe pana, mārisā, bhagavati brahmacariyaṁ caritvā hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapannā. Duddiṭṭharūpaṁ vata bho addasāma, ye mayaṁ addasāma sahadhammike hīnaṁ gandhabbakāyaṁ upapanne’ti.
Tesaṁ, bhante, gopakena devaputtena paṭicoditānaṁ dve devā diṭṭheva dhamme satiṁ paṭilabhiṁsu kāyaṁ brahmapurohitaṁ, eko pana devo kāme ajjhāvasi.
Right here in Kapilavatthu there was a Sakyan lady named Gopikā who had confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and had fulfilled her ethics. Losing her attachment to femininity, she developed masculinity. When her body broke up, after death, she was reborn in a good place, a heavenly realm. In the company of the gods of the thirty-three she became one of my sons. There they knew him as the godling Gopaka.
Meanwhile three others, mendicants who had led the spiritual life under the Buddha, were reborn in the inferior centaur realm. There they amused themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, and became my servants and attendants.
At that, Gopaka scolded them, ‘Where on earth were you at, good fellows, when you heard the Buddha’s teaching! For while I was still a woman I had confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and had fulfilled my ethics. I lost my attachment to femininity and developed masculinity. When my body broke up, after death, I was reborn in a good place, a heavenly realm. In the company of the gods of the thirty-three I became one of Sakka’s sons. Here they know me as the godling Gopaka. But you, having led the spiritual life under the Buddha, were reborn in the inferior centaur realm. It is a sad sight indeed to see fellow practitioners reborn in the inferior centaur realm.’
When scolded by Gopaka, two of those gods regained their memory right away. They went to the host of the priests of Divinity, but one god remained attached to sensual pleasures.
353. ‘Bạch Thế Tôn, ngay tại Kapilavatthu này, có một người con gái dòng Sakya tên là Gopikā, có lòng tịnh tín nơi Phật, tịnh tín nơi Pháp, tịnh tín nơi Tăng, và là người viên mãn các giới. Nàng, sau khi nhàm chán thân nữ, đã tu tập để được thân nam, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh về cõi lành, thế giới chư thiên, làm bạn đồng hành với chư thiên cõi Ba Mươi Ba, và trở thành con trai của chúng con. Ở đó, họ biết đến vị ấy như sau: ‘Thiên tử Gopaka, thiên tử Gopaka.’ Bạch Thế Tôn, lại có ba vị tỳ-khưu khác, sau khi sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn, đã sanh vào loài gandhabba (càn-thát-bà) hạ liệt. Các vị ấy, được cung phụng, đầy đủ và hưởng thụ năm dục công đức, đến hầu hạ chúng con, phục vụ chúng con. Khi các vị ấy đến hầu hạ, phục vụ chúng con, thiên tử Gopaka đã quở trách rằng: ‘Thưa các ngài, các ngài đã nghe Pháp của Thế Tôn ấy với tâm hướng về đâu? Còn tôi, vốn là một người nữ, có lòng tịnh tín nơi Phật, tịnh tín nơi Pháp, tịnh tín nơi Tăng, và là người viên mãn các giới, sau khi nhàm chán thân nữ, đã tu tập để được thân nam, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh về cõi lành, thế giới chư thiên, làm bạn đồng hành với chư thiên cõi Ba Mươi Ba, và trở thành con trai của Sakka, vua của chư thiên. Ở đây, họ cũng biết đến tôi là ‘thiên tử Gopaka, thiên tử Gopaka.’ Còn các ngài, thưa các ngài, đã sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn mà lại sanh vào loài gandhabba hạ liệt. Thật là một cảnh tượng đáng buồn thay, thưa các ngài, khi chúng tôi phải thấy những người bạn đồng tu trong Chánh pháp lại sanh vào loài gandhabba hạ liệt!’ Bạch Thế Tôn, trong số các vị bị thiên tử Gopaka quở trách, có hai vị chư thiên đã phục hồi chánh niệm ngay trong đời hiện tại và đạt đến cõi Phạm Chúng Thiên, còn một vị chư thiên thì vẫn còn đắm chìm trong các dục lạc.’
‘Upāsikā cakkhumato ahosiṁ,
‘“I was a laywoman disciple of the Clear-eyed One,
354. ‘Con từng là nữ cận sự của bậc có mắt,
Tên của con là ‘Gopikā’; Con hết lòng tịnh tín nơi Phật và Pháp, Với tâm hoan hỷ, con đã phụng sự Tăng đoàn.
Tasseva buddhassa sudhammatāya, Sakkassa puttomhi mahānubhāvo; Mahājutīko tidivūpapanno, Jānanti maṁ idhāpi “gopako”ti.
Because of the clear rightness of the Buddha’s teaching, I’m now a mighty, dazzling son of Sakka, reborn in the Third Heaven. And here they know me as Gopaka.
‘Chính nhờ Chánh pháp của Đức Phật ấy, Con đã sanh về cõi trời, trở thành con trai của Sakka, có đại thần lực, đại quang minh. Ngay tại đây, họ cũng biết con là ‘Gopaka’.
Athaddasaṁ bhikkhavo diṭṭhapubbe, Gandhabbakāyūpagate vasīne; Imehi te gotamasāvakāse, Ye ca mayaṁ pubbe manussabhūtā.
Then I saw some mendicants who I’d seen before, dwelling in the host of centaurs. They were disciples of Gotama when I used to be a human.
‘Rồi con thấy các vị tỳ-khưu đã từng thấy trước đây, nay đã sanh vào loài gandhabba, những vị đệ tử của Gotama này, mà chúng con khi xưa còn là người,
Annena pānena upaṭṭhahimhā, Pādūpasaṅgayha sake nivesane; Kutomukhā nāma ime bhavanto, Buddhassa dhammāni paṭiggahesuṁ.
I served them with food and drink, and clasped their feet in my own home. Where on earth were these good fellows at when they learned the Buddha’s teachings?
‘Đã từng phụng sự với đồ ăn, thức uống, đã từng hầu hạ chân các ngài tại nhà riêng. Các vị tôn giả này đã tiếp nhận các pháp của Đức Phật với tâm hướng về đâu?
Paccattaṁ veditabbo hi dhammo, Sudesito cakkhumatānubuddho; Ahañhi tumheva upāsamāno, Sutvāna ariyāna subhāsitāni.
For each must know for themselves the teaching so well-taught, realized by the Clear-eyed One. I was one who followed you, having heard the fine words of the noble ones.
‘Pháp do bậc có mắt giác ngộ và khéo thuyết giảng, phải được mỗi người tự mình chứng nghiệm. Con đây, chính nhờ hầu cận các ngài, đã được nghe những lời khéo nói của các bậc Thánh.
Sakkassa puttomhi mahānubhāvo, Mahājutīko tidivūpapanno; Tumhe pana seṭṭhamupāsamānā, Anuttaraṁ brahmacariyaṁ caritvā.
I’m now a mighty, dazzling son of Sakka, reborn in the Third Heaven. But you followed the best of men, and led the supreme spiritual life,
‘Con đã sanh về cõi trời, trở thành con trai của Sakka, có đại thần lực, đại quang minh. Còn các ngài, đã hầu cận bậc Tối Thắng, đã sống đời phạm hạnh vô thượng,
Hīnaṁ kāyaṁ upapannā bhavanto, Anānulomā bhavatūpapatti; Duddiṭṭharūpaṁ vata addasāma, Sahadhammike hīnakāyūpapanne.
but still you’re born in this lesser realm, a rebirth unbefitting. It’s a sad sight I see, good fellows, fellow practitioners in a lesser realm.
‘Lại sanh vào loài hạ liệt. Sự tái sanh của các ngài thật không tương xứng! Thật là một cảnh tượng đáng buồn thay khi chúng con phải thấy những người bạn đồng tu lại sanh vào loài hạ liệt.’
Gandhabbakāyūpagatā bhavanto, Devānamāgacchatha pāricariyaṁ; Agāre vasato mayhaṁ, Imaṁ passa visesataṁ.
Reborn in the host of centaurs, only to wait upon the gods. Meanwhile, I dwelt in a house—but see my distinction now!
‘Này các ngài, các ngài đã sanh vào chúng Càn-thát-bà, đến để phục vụ chư Thiên. Hãy xem sự đặc biệt này của tôi, người từng sống ở tại gia.’
Itthī hutvā svajja pumomhi devo, Dibbehi kāmehi samaṅgibhūto’; Te coditā gotamasāvakena, Saṁvegamāpādu samecca gopakaṁ.
Having been a woman now I’m a male god, blessed with heavenly sensual pleasures.” Scolded by that disciple of Gotama, comprehending Gopaka, <j>they were struck with urgency.
‘Trước kia là người nữ, nay tôi là vị trời nam, được trang bị đầy đủ các dục lạc cõi trời.’ Ba vị trời ấy, được đệ tử của Gotama sách tấn, đã sanh lòng kinh cảm, rồi cùng nhau đến gặp Gopaka.
‘Handa viyāyāma byāyāma, Mā no mayaṁ parapessā ahumhā’; Tesaṁ duve vīriyamārabhiṁsu, Anussaraṁ gotamasāsanāni.
“Let’s strive, let’s try hard—we won’t serve others any more!” Two of them roused up energy, recalling the Buddha’s instructions.
‘Nào, chúng ta hãy cố gắng, hãy nỗ lực! Mong rằng chúng ta không trở thành kẻ phục dịch cho người khác.’ Trong số họ, hai vị đã khởi sự tinh tấn, thường xuyên tưởng niệm giáo huấn của Đức Gotama.
Idheva cittāni virājayitvā, Kāmesu ādīnavamaddasaṁsu; Te kāmasaṁyojanabandhanāni, Pāpimayogāni duraccayāni.
Right away they became dispassionate, seeing the drawbacks in sensual pleasures. The fetters and bonds of sensual pleasures—the ties of the Wicked One so hard to break—
Ngay tại đây, sau khi làm cho tâm ly tham, họ đã thấy sự nguy hại trong các dục. Họ đã cắt đứt các dây trói buộc là dục kiết sử, là sự trói buộc của ác ma khó vượt qua,
Nāgova sannāni guṇāni chetvā, Deve tāvatiṁse atikkamiṁsu; Saindā devā sapajāpatikā, Sabbe sudhammāya sabhāyupaviṭṭhā.
they burst them like a bull elephant his ropes, and passed right over the thirty-three. The gods with Indra and the Progenitor were all gathered in the Hall of Clear Right.
như voi chúa cắt đứt những sợi dây trói chắc chắn, và đã vượt qua các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Tất cả chư Thiên, cùng với Đế Thích, cùng với Pajāpati, đang ngồi trong pháp đường Sudhammā.
Tesaṁ nisinnānaṁ abhikkamiṁsu, Vīrā virāgā virajaṁ karontā; Te disvā saṁvegamakāsi vāsavo, Devābhibhū devagaṇassa majjhe.
As they sat there, they passed over them, the heroes desireless, practicing purity. Seeing them, Vāsava was struck with urgency; the master of gods in the midst of the group said,
Hai vị anh hùng đã ly tham, đang thực hành để đạt đến trạng thái vô trần, đã vượt qua các vị trời ấy đang ngồi. Sau khi thấy họ, Vāsava, người làm chủ chư Thiên, đã sanh lòng kinh cảm ở giữa chúng chư Thiên.
‘Imehi te hīnakāyūpapannā, Deve tāvatiṁse abhikkamanti’; Saṁvegajātassa vaco nisamma, So gopako vāsavamajjhabhāsi.
“These were born in the lesser centaur realm, but now they pass us by!” Heeding the speech of one so moved, Gopaka addressed Vāsava,
‘Những vị này đã sanh vào chúng hạ liệt, vậy mà họ đã vượt qua các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba.’ Sau khi nghe lời của vị đã sanh lòng kinh cảm, vị trời Gopaka ấy đã nói với Vāsava.
‘Buddho janindatthi manussaloke, Kāmābhibhū sakyamunīti ñāyati; Tasseva te puttā satiyā vihīnā, Coditā mayā te satimajjhalatthuṁ’.
“There is a Buddha, a lord of men, in the world. Known as the Sakyan Sage, <j>he’s mastered the senses. Those sons of his lost their memory; but when scolded by me they gained it back.
‘Hỡi vị vua của chúng sanh, trong cõi người có một vị Phật, được biết đến là Sakyamuni, người đã chinh phục các dục. Họ chính là con của vị Phật đó, đã thiếu sót niệm. Được tôi sách tấn, họ đã đạt lại được niệm.’
Tiṇṇaṁ tesaṁ āvasinettha eko, Gandhabbakāyūpagato vasīno; Dve ca sambodhipathānusārino, Devepi hīḷenti samāhitattā.
Of the three, there is one who remains dwelling in the host of centaurs. But two, recollecting the path to awakening, serene, spurn even the gods.
‘Trong ba vị ấy, một vị đã trở thành người thường trú tại đây, trong chúng Càn-thát-bà. Còn hai vị, đang đi theo con đường giác ngộ, có tâm định tĩnh, nên xem ngay cả chư Thiên cũng là thấp kém.’
Etādisī dhammappakāsanettha, Na tattha kiṅkaṅkhati koci sāvako; Nitiṇṇaoghaṁ vicikicchachinnaṁ, Buddhaṁ namassāma jinaṁ janindaṁ.
Such is the explanation of the teaching here: not a single disciple doubts that. We venerate the Buddha, the victor, lord of men, who has crossed the flood and cut off doubt.
‘Trong giáo pháp này, có sự tuyên thuyết pháp như vậy, không có vị đệ tử nào còn hoài nghi điều gì. Chúng ta hãy đảnh lễ Đức Phật, bậc Chiến Thắng, bậc Tối Thắng giữa chúng sanh, người đã vượt qua bộc lưu, đã cắt đứt hoài nghi.’
Yaṁ te dhammaṁ idhaññāya, visesaṁ ajjhagaṁsu te; Kāyaṁ brahmapurohitaṁ, duve tesaṁ visesagū.
They attained distinction to the extent they understood the teaching here; two of them distinguished in the host of the priests of Divinity.”’
Do đã biết giáo pháp của ngài ở đây, hai vị trong số họ, những người đã đạt được sự đặc biệt, đã chứng đắc thân Phạm Phụ Bật và đạt đến trạng thái siêu việt.
Tassa dhammassa pattiyā, āgatamhāsi mārisa; Katāvakāsā bhagavatā, pañhaṁ pucchemu mārisā”ti.
We have come here, dear sir, to realize this same teaching. If the Buddha would give me a chance, I would ask a question, dear sir.”
‘Thưa ngài, chúng con cũng đã đến đây để đạt được pháp ấy. Thưa ngài, nếu được Đức Thế Tôn cho phép, chúng con xin được hỏi một câu hỏi.’
Atha kho bhagavato etadahosi: “dīgharattaṁ visuddho kho ayaṁ yakkho, yaṁ kiñci maṁ pañhaṁ pucchissati, sabbaṁ taṁ atthasañhitaṁyeva pucchissati, no anatthasañhitaṁ. Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Then it occurred to the Buddha, “For a long time now this spirit has led a pure life. Any question he asks me will be beneficial, not unbeneficial. And he will quickly understand any answer I give to his question.”
355. Khi ấy, Đức Thế Tôn khởi lên suy nghĩ này: ‘Vị dạ-xoa này đã thanh tịnh trong một thời gian dài. Bất cứ câu hỏi nào vị ấy hỏi ta, tất cả sẽ chỉ liên quan đến lợi ích, không phải vô ích. Và bất cứ câu hỏi nào ta trả lời sau khi được hỏi, vị ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.’
Atha kho bhagavā sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
So the Buddha addressed Sakka in verse:
356. Khi ấy, Đức Thế Tôn đã nói với Sakka, vua của chư Thiên, bằng một bài kệ:
“Puccha vāsava maṁ pañhaṁ, yaṁ kiñci manasicchasi; Tassa tasseva pañhassa, ahaṁ antaṁ karomi te”ti.
“Ask me your question, Vāsava, whatever you want. I’ll solve each and every question you have.”
‘Này Vāsava, hãy hỏi ta bất cứ câu hỏi nào ngài mong muốn trong tâm. Ta sẽ giải đáp đến cùng mỗi câu hỏi ấy cho ngài.’
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first recitation section is complete.
Dứt chương thứ nhất.
Katāvakāso sakko devānamindo bhagavatā imaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pañhaṁ apucchi:
Having been granted an opportunity by the Buddha, Sakka asked the first question.
357. Được Đức Thế Tôn cho phép, Sakka, vua của chư Thiên, đã hỏi Đức Thế Tôn câu hỏi đầu tiên này:
“Kiṁsaṁyojanā nu kho, mārisa, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te: ‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti?
Itthaṁ sakko devānamindo bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi. Tassa bhagavā pañhaṁ puṭṭho byākāsi:
“Good fellow, what fetters bind the gods, humans, titans, dragons, centaurs—and any of the other diverse creatures—so that, though they wish to be free of enmity, violence, hostility, and hate, they still have enmity, violence, hostility, and hate?”
Such was Sakka’s question to the Buddha. And the Buddha answered him:
‘Thưa ngài, do bị trói buộc bởi điều gì mà chư Thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà và các chúng sanh đa dạng khác, dù họ mong muốn rằng: ‘Mong rằng chúng ta sống không oán thù, không bị trừng phạt, không có kẻ địch, không bị phiền não, không có kẻ thù,’ nhưng họ vẫn sống có oán thù, bị trừng phạt, có kẻ địch, và bị phiền não?’ Bằng cách ấy, Sakka, vua của chư Thiên, đã hỏi Đức Thế Tôn câu hỏi. Sau khi được hỏi, Đức Thế Tôn đã trả lời câu hỏi của vị ấy:
“Issāmacchariyasaṁyojanā kho, devānaminda, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te: ‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi. Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
“Lord of gods, the fetters of jealousy and stinginess bind the gods, humans, titans, dragons, centaurs—and any of the other diverse creatures—so that, though they wish to be free of enmity, violence, hostility, and hate, they still have enmity, violence, hostility, and hate.”
Such was the Buddha’s answer to Sakka. Delighted, Sakka approved and agreed with what the Buddha said, saying, “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Hearing the Buddha’s answer, I’ve gone beyond doubt and got rid of indecision.”
‘Này vua của chư Thiên, do bị trói buộc bởi tật đố và xan tham mà chư Thiên, loài người, a-tu-la, rồng, càn-thát-bà và các chúng sanh đa dạng khác, dù họ mong muốn rằng: ‘Mong rằng chúng ta sống không oán thù, không bị trừng phạt, không có kẻ địch, không bị phiền não, không có kẻ thù,’ nhưng họ vẫn sống có oán thù, bị trừng phạt, có kẻ địch, và bị phiền não.’ Bằng cách ấy, Đức Thế Tôn, sau khi được hỏi, đã trả lời câu hỏi của Sakka, vua của chư Thiên. Sakka, vua của chư Thiên, hoan hỷ, đã tán thán và tùy hỷ lời dạy của Đức Thế Tôn: ‘Đúng vậy, bạch Đức Thế Tôn, đúng vậy, bạch Đức Thiện Thệ. Sau khi nghe lời giải đáp của Đức Thế Tôn, con đã vượt qua hoài nghi, đã hết sự phân vân.’
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
And then, having approved and agreed with what the Buddha said, Sakka asked another question:
358. Như vậy, Sakka, vua của chư Thiên, sau khi tán thán và tùy hỷ lời dạy của Đức Thế Tôn, đã hỏi Đức Thế Tôn một câu hỏi khác:
“Issāmacchariyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ; kismiṁ sati issāmacchariyaṁ hoti; kismiṁ asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti?
“Issāmacchariyaṁ kho, devānaminda, piyāppiyanidānaṁ piyāppiyasamudayaṁ piyāppiyajātikaṁ piyāppiyapabhavaṁ; piyāppiye sati issāmacchariyaṁ hoti, piyāppiye asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti.
“Piyāppiyaṁ pana, mārisa, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ;
“But good fellow, what is the source, origin, birthplace, and inception of jealousy and stinginess? When what exists is there jealousy and stinginess? When what doesn’t exist is there no jealousy and stinginess?”
“The liked and the disliked, lord of gods, are the source of jealousy and stinginess. When the liked and the disliked exist there is jealousy and stinginess. When the liked and the disliked don’t exist there is no jealousy and stinginess.”
“But good fellow, what is the source of what is liked and disliked?”
‘Thưa ngài, tật đố và xan tham có gì làm nhân, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm nơi phát sanh? Khi có cái gì thì tật đố và xan tham sanh khởi? Khi không có cái gì thì tật đố và xan tham không sanh khởi?’ ‘Này vua của chư Thiên, tật đố và xan tham có thương và ghét làm nhân, có thương và ghét làm nguồn sanh, có thương và ghét làm nguồn gốc, có thương và ghét làm nơi phát sanh. Khi có thương và ghét thì tật đố và xan tham sanh khởi, khi không có thương và ghét thì tật đố và xan tham không sanh khởi.’
“Piyāppiyaṁ kho, devānaminda, chandanidānaṁ chandasamudayaṁ chandajātikaṁ chandapabhavaṁ; chande sati piyāppiyaṁ hoti; chande asati piyāppiyaṁ na hotī”ti.
“Desire is the source of what is liked and disliked.”
‘Thưa ngài, còn thương và ghét có gì làm nhân, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm nơi phát sanh? Khi có cái gì thì thương và ghét sanh khởi? Khi không có cái gì thì thương và ghét không sanh khởi?’ ‘Này vua của chư Thiên, thương và ghét có dục làm nhân, có dục làm nguồn sanh, có dục làm nguồn gốc, có dục làm nơi phát sanh. Khi có dục thì thương và ghét sanh khởi, khi không có dục thì thương và ghét không sanh khởi.’
“Chando pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo; kismiṁ sati chando hoti; kismiṁ asati chando na hotī”ti?
“Chando kho, devānaminda, vitakkanidāno vitakkasamudayo vitakkajātiko vitakkapabhavo; vitakke sati chando hoti; vitakke asati chando na hotī”ti.
“Vitakko pana, mārisa, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo;
“But what is the source of desire?”
“Thought is the source of desire.”
“But what is the source of thought?”
‘Thưa ngài, còn dục có gì làm nhân, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm nơi phát sanh? Khi có cái gì thì dục sanh khởi? Khi không có cái gì thì dục không sanh khởi?’ ‘Này vua của chư Thiên, dục có tầm làm nhân, có tầm làm nguồn sanh, có tầm làm nguồn gốc, có tầm làm nơi phát sanh. Khi có tầm thì dục sanh khởi, khi không có tầm thì dục không sanh khởi.’
“Vitakko kho, devānaminda, papañcasaññāsaṅkhānidāno papañcasaññāsaṅkhāsamudayo papañcasaññāsaṅkhājātiko papañcasaññāsaṅkhāpabhavo; papañcasaññāsaṅkhāya sati vitakko hoti; papañcasaññāsaṅkhāya asati vitakko na hotī”ti.
“Judgments driven by the proliferation of perceptions are the source of thoughts.”
“Thưa ngài, vậy thì tầm có nhân gì, có nguồn sanh khởi gì, có nguồn gốc gì, có nguồn phát sanh gì? Khi có cái gì thì tầm sanh khởi; khi không có cái gì thì tầm không sanh khởi?” “Này Thiên chủ, tầm có các uẩn tưởng hý luận làm nhân, có các uẩn tưởng hý luận làm nguồn sanh khởi, có các uẩn tưởng hý luận làm nguồn gốc, có các uẩn tưởng hý luận làm nguồn phát sanh. Khi có các uẩn tưởng hý luận thì tầm sanh khởi; khi không có các uẩn tưởng hý luận thì tầm không sanh khởi.”
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti?
“But how does a mendicant fittingly practice for the cessation of judgments driven by the proliferation of perceptions?”
“Thưa ngài, vậy thì vị tỳ khưu thực hành như thế nào được gọi là đã thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các uẩn tưởng hý luận một cách thích hợp?”
“Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi. Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi. Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi.
“Lord of gods, there are two kinds of happiness, I say: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. There are two kinds of sadness, I say: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. There are two kinds of equanimity, I say: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate.
Đề mục thiền về thọ
Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ ‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ na sevitabbaṁ. Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ ‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ sevitabbaṁ. Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare. Somanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti. Iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Why did I say that there are two kinds of happiness? Well, should you know of a happiness: ‘When I cultivate this kind of happiness, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not cultivate that kind of happiness. Whereas, should you know of a happiness: ‘When I cultivate this kind of happiness, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should cultivate that kind of happiness. And that which is free of placing the mind and keeping it connected is better than that which still involves placing the mind and keeping it connected. That’s why I said there are two kinds of happiness.
360. “Này Thiên chủ, Ta nói về thọ hỷ theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành. Lời này đã được nói ra, và do duyên vào đâu mà lời này được nói ra? Ở đây, thọ hỷ nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ hỷ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm,’ thì thọ hỷ như vậy không nên thực hành. Ở đây, thọ hỷ nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ hỷ này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì thọ hỷ như vậy nên thực hành. Trong đó, có loại có tầm có tứ, và có loại không tầm không tứ; loại không tầm không tứ thì thù thắng hơn. ‘Này Thiên chủ, Ta nói về thọ hỷ theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành.’ Lời đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà được nói ra.”
Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ ‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ na sevitabbaṁ. Tattha yaṁ jaññā domanassaṁ ‘imaṁ kho me domanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ domanassaṁ sevitabbaṁ. Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare. Domanassampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Why did I say that there are two kinds of sadness? Well, should you know of a sadness: ‘When I cultivate this kind of sadness, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not cultivate that kind of sadness. Whereas, should you know of a sadness: ‘When I cultivate this kind of sadness, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should cultivate that kind of sadness. And that which is free of placing the mind and keeping it connected is better than that which still involves placing the mind and keeping it connected. That’s why I said there are two kinds of sadness.
361. “Này Thiên chủ, Ta nói về thọ ưu theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành. Lời này đã được nói ra, và do duyên vào đâu mà lời này được nói ra? Ở đây, thọ ưu nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ ưu này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm,’ thì thọ ưu như vậy không nên thực hành. Ở đây, thọ ưu nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ ưu này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì thọ ưu như vậy nên thực hành. Trong đó, có loại có tầm có tứ, và có loại không tầm không tứ; loại không tầm không tứ thì thù thắng hơn. ‘Này Thiên chủ, Ta nói về thọ ưu theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành.’ Lời đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà được nói ra.”
Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ ‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā upekkhā na sevitabbā. Tattha yaṁ jaññā upekkhaṁ ‘imaṁ kho me upekkhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā upekkhā sevitabbā. Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare. Upekkhampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi, asevitabbampīti iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Why did I say that there are two kinds of equanimity? Well, should you know of an equanimity: ‘When I cultivate this kind of equanimity, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not cultivate that kind of equanimity. Whereas, should you know of an equanimity: ‘When I cultivate this kind of equanimity, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should cultivate that kind of equanimity. And that which is free of placing the mind and keeping it connected is better than that which still involves placing the mind and keeping it connected. That’s why I said there are two kinds of equanimity.
362. “Này Thiên chủ, Ta nói về thọ xả theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành. Lời này đã được nói ra, và do duyên vào đâu mà lời này được nói ra? Ở đây, thọ xả nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ xả này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm,’ thì thọ xả như vậy không nên thực hành. Ở đây, thọ xả nào mà người ấy biết rằng: ‘Khi ta thực hành thọ xả này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng,’ thì thọ xả như vậy nên thực hành. Trong đó, có loại có tầm có tứ, và có loại không tầm không tứ; loại không tầm không tứ thì thù thắng hơn. ‘Này Thiên chủ, Ta nói về thọ xả theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành.’ Lời đã được nói ra như vậy là do duyên vào điều này mà được nói ra.”
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu papañcasaññāsaṅkhānirodhasāruppagāminiṁ paṭipadaṁ paṭipanno hotī”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi. Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
That’s how a mendicant fittingly practices for the cessation of judgments driven by the proliferation of perceptions.”
Such was the Buddha’s answer to Sakka. Delighted, Sakka approved and agreed with what the Buddha said, saying, “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Hearing the Buddha’s answer, I’ve gone beyond doubt and got rid of indecision.”
363. “Này Thiên chủ, vị tỳ khưu thực hành như vậy được gọi là đã thực hành con đường đưa đến sự đoạn diệt các uẩn tưởng hý luận một cách thích hợp.” Như vậy, Đức Thế Tôn, khi được Sakka, thiên chủ, hỏi, đã giải đáp câu hỏi. Hoan hỷ, Sakka, thiên chủ, tán thán và tùy hỷ lời dạy của Đức Thế Tôn: “Thật đúng như vậy, bạch Đức Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Nhờ nghe lời giải đáp câu hỏi của Đức Thế Tôn, nghi ngờ của con ở đây đã được vượt qua, sự phân vân đã được xua tan.”
“Thưa ngài, vậy thì vị tỳ khưu thực hành như thế nào được gọi là đã thực hành sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha?” “Này Thiên chủ, Ta nói về thân hành theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói về khẩu hành theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói về sự tìm cầu theo hai cách: nên thực hành và không nên thực hành.”
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi. Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi. Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi.
Kāyasamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ ‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā kāyasamācāraṁ ‘imaṁ kho me kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
And then Sakka asked another question:
“But good fellow, how does a mendicant practice for restraint in the monastic code?”
“Lord of gods, I say that there are two kinds of bodily behavior: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. I say that there are two kinds of verbal behavior: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. There are two kinds of search, I say: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate.
Why did I say that there are two kinds of bodily behavior? Well, should you know of a bodily behavior: ‘When I cultivate this kind of bodily behavior, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not cultivate that kind of bodily conduct. Whereas, should you know of a bodily behavior: ‘When I cultivate this kind of bodily behavior, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should cultivate that kind of bodily conduct.
365. Khi ấy, Sakka, Thiên chủ, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, đã hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác nữa:
Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo vacīsamācāro na sevitabbo. Tattha yaṁ jaññā vacīsamācāraṁ ‘imaṁ kho me vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo vacīsamācāro sevitabbo. Vacīsamācārampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampīti iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampīti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpā pariyesanā na sevitabbā. Tattha yaṁ jaññā pariyesanaṁ ‘imaṁ kho me pariyesanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpā pariyesanā sevitabbā. Pariyesanaṁpāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampīti iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Evaṁ paṭipanno kho, devānaminda, bhikkhu pātimokkhasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti.
Why did I say that there are two kinds of verbal behavior? Well, should you know of a kind of verbal behavior that it causes unskillful qualities to grow while skillful qualities decline, you should not cultivate it. Whereas, should you know of a kind of verbal behavior that it causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow, you should cultivate it. That’s why I said there are two kinds of verbal behavior.
Why did I say that there are two kinds of search? Well, should you know of a kind of search that it causes unskillful qualities to grow while skillful qualities decline, you should not cultivate it. Whereas, should you know of a kind of search that it causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow, you should cultivate it. That’s why I said there are two kinds of search.
That’s how a mendicant practices for restraint in the monastic code.”
‘Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy được Thế Tôn nói một cách tóm tắt như sau: Bạch Thế Tôn, đối với loại sắc pháp do mắt nhận biết nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, thì loại sắc pháp do mắt nhận biết như vậy không nên thực hành. Và bạch Thế Tôn, đối với loại sắc pháp do mắt nhận biết nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thì loại sắc pháp do mắt nhận biết như vậy nên được thực hành. Và bạch Thế Tôn, đối với loại thanh do tai nhận biết nào mà khi thực hành... hương do mũi nhận biết... vị do lưỡi nhận biết... xúc do thân nhận biết... pháp do ý nhận biết nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, thì loại pháp do ý nhận biết như vậy không nên thực hành. Và bạch Thế Tôn, đối với loại pháp do ý nhận biết nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thì loại pháp do ý nhận biết như vậy nên được thực hành.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi. Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Such was the Buddha’s answer to Sakka. Delighted, Sakka approved and agreed with what the Buddha said, saying, “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Hearing the Buddha’s answer, I’ve gone beyond doubt and got rid of indecision.”
Như vậy, Đức Thế Tôn, khi được Sakka, Thiên chủ hỏi, đã giải đáp câu hỏi. Sakka, Thiên chủ, với tâm hoan hỷ, đã tán thán và tùy hỷ lời dạy của Đức Thế Tôn: “Bạch Đức Thế Tôn, đúng là như vậy! Bạch Đức Thiện Thệ, đúng là như vậy! Nhờ nghe lời giải đáp câu hỏi của Đức Thế Tôn, mối nghi ngờ của con ở đây đã được vượt qua, sự phân vân đã được xua tan.”
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
“Kathaṁ paṭipanno pana, mārisa, bhikkhu indriyasaṁvarāya paṭipanno hotī”ti?
“Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, devānaminda, duvidhena vadāmi—sevitabbampi, asevitabbampi.
And then Sakka asked another question:
“But good fellow, how does a mendicant practice for restraint of the sense faculties?”
“Lord of gods, I say that there are two kinds of sight known by the eye: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate.
367. Như vậy, Sakka, Thiên chủ, sau khi tán thán và tùy hỷ lời dạy của Đức Thế Tôn, đã bạch với Đức Thế Tôn điều này:
‘Thưa ngài, vị tỳ khưu thực hành như thế nào là vị thực hành để thu thúc các căn?’ ‘Này Thiên chủ, Ta nói rằng sắc pháp do mắt nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng thanh do tai nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng hương do mũi nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng vị do lưỡi nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng xúc do thân nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng pháp do ý nhận biết có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành.’
Evaṁ vutte, sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
“Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. Yathārūpaṁ, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ na sevitabbaṁ. Yathārūpañca kho, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevitabbaṁ. Yathārūpañca kho, bhante, sotaviññeyyaṁ saddaṁ sevato …pe… ghānaviññeyyaṁ gandhaṁ sevato … jivhāviññeyyaṁ rasaṁ sevato … kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbaṁ sevato … manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo na sevitabbo. Yathārūpañca kho, bhante, manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo manoviññeyyo dhammo sevitabbo.
When the Buddha said this, Sakka said to him:
“Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement: You should not cultivate the kind of sight known by the eye which causes unskillful qualities to grow while skillful qualities decline. And you should cultivate the kind of sight known by the eye which causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow. You should not cultivate the kind of sound, smell, taste, touch, or idea known by the mind which causes unskillful qualities to grow while skillful qualities decline. And you should cultivate the kind of idea known by the mind which causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow.
Khi được nói như vậy, Sakka, Thiên chủ, đã bạch với Thế Tôn rằng:
Imassa kho me, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānato tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Sir, that’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Hearing the Buddha’s answer, I’ve gone beyond doubt and got rid of indecision.”
Bạch Thế Tôn, do con đã hiểu ý nghĩa chi tiết của lời dạy được Thế Tôn nói một cách tóm tắt như vậy, và nhờ nghe câu trả lời của Thế Tôn, mối nghi ngờ của con ở đây đã được vượt qua, sự phân vân đã được loại bỏ.’
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttari pañhaṁ apucchi:
And then Sakka asked another question:
366. Khi ấy, Sakka, Thiên chủ, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, đã hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác nữa:
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Good fellow, do all ascetics and brahmins have a single doctrine, ethics, desire, and attachment?”
“No, lord of gods, they do not.”
“Thưa ngài, có phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều có cùng một quan điểm, cùng một giới hạnh, cùng một ý muốn, cùng một mục đích cuối cùng không?” “Thưa Thiên chủ, không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều có cùng một quan điểm, cùng một giới hạnh, cùng một ý muốn, cùng một mục đích cuối cùng.”
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti?
“Anekadhātu nānādhātu kho, devānaminda, loko. Tasmiṁ anekadhātunānādhātusmiṁ loke yaṁ yadeva sattā dhātuṁ abhinivisanti, taṁ tadeva thāmasā parāmāsā abhinivissa voharanti: ‘idameva saccaṁ moghamaññan’ti. Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā ekantavādā ekantasīlā ekantachandā ekantaajjhosānā”ti.
“Why not?”
“The world has many and diverse elements. Whatever element sentient beings insist on in this world of many and diverse elements, they obstinately stick to it, insisting that: ‘This is the only truth, anything else is futile.’ That’s why not all ascetics and brahmins have a single doctrine, ethics, desire, and attachment.”
“Thưa ngài, tại sao không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều có cùng một quan điểm, cùng một giới hạnh, cùng một ý muốn, cùng một mục đích cuối cùng?” “Thưa Thiên chủ, thế gian này có nhiều giới và nhiều loại giới khác nhau. Trong thế gian có nhiều giới và nhiều loại giới khác nhau ấy, chúng sanh chấp thủ vào giới nào, họ liền bám chặt vào giới ấy một cách mạnh mẽ, cố chấp và tuyên bố rằng: ‘Chỉ có điều này là chân thật, điều khác là hư vọng.’ Vì thế, không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều có cùng một quan điểm, cùng một giới hạnh, cùng một ý muốn, cùng một mục đích cuối cùng.”
“Sabbeva nu kho, mārisa, samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Na kho, devānaminda, sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
“Good fellow, have all ascetics and brahmins reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal?”
“No, lord of gods, they have not.”
“Thưa ngài, có phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, sống đời phạm hạnh viên mãn, và đạt đến sự kết thúc tối hậu không?” “Thưa Thiên chủ, không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, sống đời phạm hạnh viên mãn, và đạt đến sự kết thúc tối hậu.”
“Kasmā pana, mārisa, na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti?
“Ye kho, devānaminda, bhikkhū taṇhāsaṅkhayavimuttā te accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā. Tasmā na sabbe samaṇabrāhmaṇā accantaniṭṭhā accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosānā”ti.
Itthaṁ bhagavā sakkassa devānamindassa pañhaṁ puṭṭho byākāsi. Attamano sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinandi anumodi: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Tiṇṇā mettha kaṅkhā vigatā kathaṅkathā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Itiha sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“Why not?”
“Those mendicants who are freed through the ending of craving have reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. That’s why not all ascetics and brahmins have reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal.”
Such was the Buddha’s answer to Sakka. Delighted, Sakka approved and agreed with what the Buddha said, saying, “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! Hearing the Buddha’s answer, I’ve gone beyond doubt and got rid of indecision.”
And then Sakka, having approved and agreed with what the Buddha said, said to him,
“Thưa ngài, tại sao không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, sống đời phạm hạnh viên mãn, và đạt đến sự kết thúc tối hậu?” “Thưa Thiên chủ, những vị Tỳ-khưu nào đã được giải thoát nhờ sự đoạn tận ái dục, các vị ấy đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, sống đời phạm hạnh viên mãn, và đạt đến sự kết thúc tối hậu. Vì thế, không phải tất cả các vị Sa-môn, Bà-la-môn đều đạt đến đích cuối cùng, đạt đến sự an ổn khỏi các ách phược, sống đời phạm hạnh viên mãn, và đạt đến sự kết thúc tối hậu.”
“Ejā, bhante, rogo, ejā gaṇḍo, ejā sallaṁ, ejā imaṁ purisaṁ parikaḍḍhati tassa tasseva bhavassa abhinibbattiyā. Tasmā ayaṁ puriso uccāvacamāpajjati. Yesāhaṁ, bhante, pañhānaṁ ito bahiddhā aññesu samaṇabrāhmaṇesu okāsakammampi nālatthaṁ, te me bhagavatā byākatā. Dīgharattānusayitañca pana me vicikicchākathaṅkathāsallaṁ, tañca bhagavatā abbuḷhan”ti.
“Turbulence, sir, is a disease, a boil, a dart. Turbulence drags a person to be regenerated in one state of existence or another. That’s why a person finds themselves in states high and low. Elsewhere, among other ascetics and brahmins, I wasn’t even given a chance to ask these questions that the Buddha has answered. The dart of doubt and indecision has lain within me for a long time, but the Buddha has plucked it out.”
“Bạch Thế Tôn, sự dao động là bệnh hoạn, sự dao động là khối u, sự dao động là mũi tên. Sự dao động này lôi kéo con người đến sự tái sanh trong các kiếp sống khác nhau. Vì thế, con người này phải chịu cảnh cao thấp. Bạch Thế Tôn, những câu hỏi này, con đã không có cơ hội để hỏi các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác ở ngoài giáo pháp này, nay đã được Đức Thế Tôn giải đáp cho con. Và mũi tên nghi ngờ, phân vân đã ngủ ngầm trong con từ lâu, mũi tên ấy đã được Đức Thế Tôn nhổ lên.”
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ime pañhe aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, devānaminda, byākaṁsu? Sace te agaru bhāsassū”ti.
“Na kho me, bhante, garu yatthassa bhagavā nisinno bhagavantarūpo vā”ti.
“Tena hi, devānaminda, bhāsassū”ti.
“Yesvāhaṁ, bhante, maññāmi samaṇabrāhmaṇā āraññikā pantasenāsanāti, tyāhaṁ upasaṅkamitvā ime pañhe pucchāmi, te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaṁyeva paṭipucchanti: ‘ko nāmo āyasmā’ti? Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi: ‘ahaṁ kho, mārisa, sakko devānamindo’ti. Te mamaṁyeva uttari paṭipucchanti: ‘kiṁ panāyasmā, devānaminda, kammaṁ katvā imaṁ ṭhānaṁ patto’ti? Tesāhaṁ yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ desemi. Te tāvatakeneva attamanā honti: ‘sakko ca no devānamindo diṭṭho, yañca no apucchimhā, tañca no byākāsī’ti. Te aññadatthu mamaṁyeva sāvakā sampajjanti, na cāhaṁ tesaṁ. Ahaṁ kho pana, bhante, bhagavato sāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
“Lord of gods, do you recall having asked this question of other ascetics and brahmins?”
“I do, sir.”
“If you wouldn’t mind, lord of gods, tell me how they answered.”
“It’s no trouble when someone such as the Blessed One is sitting here.”
“Well, speak then, lord of gods.”
“Sir, I approached those who I imagined were ascetics and brahmins living in the wilderness, in remote lodgings. But they were stumped by my question, and they even questioned me in return: ‘What is the venerable’s name?’ So I answered them: ‘Good fellow, I am Sakka, lord of gods.’ So they asked me another question: ‘But lord of gods, what deed brought you to this position?’ So I taught them the Dhamma as I had learned and memorized it. And they were pleased with just that much: ‘We have seen Sakka, lord of gods! And he answered our questions!’ Invariably, they become my disciples, I don’t become theirs. But sir, I am the Buddha’s disciple, a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
“Thưa Thiên chủ, ngài có nhớ đã từng hỏi các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác những câu hỏi này không?” “Bạch Thế Tôn, con có nhớ đã từng hỏi các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác những câu hỏi này.” “Thưa Thiên chủ, vậy họ đã trả lời như thế nào? Nếu ngài không phiền, xin hãy nói ra.” “Bạch Thế Tôn, con không phiền khi có Đức Thế Tôn hoặc một vị như Đức Thế Tôn đang ngự ở đây.” “Vậy thì, thưa Thiên chủ, hãy nói đi.” “Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ về các vị Sa-môn, Bà-la-môn rằng họ là những người sống trong rừng, ở nơi vắng vẻ. Con đã đến gần họ và hỏi những câu hỏi này. Khi được con hỏi, họ không thể trả lời. Không trả lời được, họ lại hỏi ngược lại con: ‘Thưa tôn giả, ngài tên là gì?’ Khi được họ hỏi, con đã trả lời: ‘Thưa các ngài, tôi là Sakka, Thiên chủ.’ Họ lại hỏi con thêm: ‘Thưa Thiên chủ, tôn giả đã làm nghiệp gì để đạt được địa vị này?’ Con đã thuyết lại cho họ pháp mà con đã nghe, đã học. Chỉ với chừng ấy, họ đã hoan hỷ: ‘Chúng ta đã được thấy Sakka, Thiên chủ, và những gì chúng ta hỏi, ngài đã giải đáp cho chúng ta.’ Trái lại, họ đã trở thành đệ tử của con, chứ con không trở thành đệ tử của họ. Nhưng bạch Thế Tôn, con là đệ tử của Đức Thế Tôn, một vị Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ.”
Câu chuyện về việc đạt được sự hoan hỷ
“Abhijānāsi no tvaṁ, devānaminda, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, devānaminda, abhijānāsi ito pubbe evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhan”ti?
“Lord of gods, do you recall ever feeling such joy and happiness before?”
“I do, sir.”
“But how?”
368. “Thưa Thiên chủ, ngài có nhớ trước đây đã từng có được sự cảm thọ và sự hoan hỷ như thế này không?” “Bạch Thế Tôn, con có nhớ trước đây đã từng có được sự cảm thọ và sự hoan hỷ như thế này.” “Thưa Thiên chủ, ngài nhớ lại việc trước đây đã từng có được sự cảm thọ và sự hoan hỷ như thế này như thế nào?”
“Bhūtapubbaṁ, bhante, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi. Tasmiṁ kho pana, bhante, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājayiṁsu. Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmassa etadahosi: ‘yā ceva dāni dibbā ojā yā ca asurā ojā, ubhayametaṁ devā paribhuñjissantī’ti. So kho pana me, bhante, vedapaṭilābho somanassapaṭilābho sadaṇḍāvacaro sasatthāvacaro na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati. Yo kho pana me ayaṁ, bhante, bhagavato dhammaṁ sutvā vedapaṭilābho somanassapaṭilābho, so adaṇḍāvacaro asatthāvacaro ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī”ti.
“Once upon a time, sir, a battle was fought between the gods and the titans. In that battle the gods won and the titans lost. It occurred to me as victor, ‘Now the gods shall enjoy both the nectar of the gods and the nectar of the titans.’ But sir, that joy and happiness is in the sphere of the rod and the sword. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. But the joy and happiness I feel listening to the Buddha’s teaching is not in the sphere of the rod and the sword. It does lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.”
“Bạch Thế Tôn, thuở xưa, có một trận chiến xảy ra giữa các vị trời và các vị a-tu-la. Trong trận chiến ấy, bạch Thế Tôn, các vị trời đã chiến thắng, các vị a-tu-la đã bại trận. Bạch Thế Tôn, sau khi chiến thắng trận chiến ấy, con, người chiến thắng, đã nghĩ rằng: ‘Bây giờ, tinh túy của cõi trời và tinh túy của cõi a-tu-la, cả hai thứ này các vị trời sẽ được hưởng thụ.’ Nhưng bạch Thế Tôn, sự cảm thọ và sự hoan hỷ ấy của con đi kèm với gậy gộc, đi kèm với vũ khí; không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn. Còn sự cảm thọ và sự hoan hỷ này của con, bạch Thế Tôn, sau khi nghe pháp của Đức Thế Tôn, thì không đi kèm với gậy gộc, không đi kèm với vũ khí; hoàn toàn đưa đến sự nhàm chán, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn.”
“Kiṁ pana tvaṁ, devānaminda, atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedesī”ti?
“Cha kho ahaṁ, bhante, atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
“But lord of gods, what reason do you see for speaking of such joy and happiness?”
“I see six reasons to speak of such joy and happiness, sir.
369. “Này Thiên chủ, do thấy được lợi ích gì mà ngài tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy?” “Bạch Thế Tôn, do thấy được sáu lợi ích mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Idheva tiṭṭhamānassa, devabhūtassa me sato; Punarāyu ca me laddho, evaṁ jānāhi mārisa.
While staying right here, remaining in the godly form, I have gained an extended life: know this, dear sir.
“Thưa ngài, ngay tại đây, trong khi vẫn còn là một vị trời, mạng sống của tôi lại được tái lập. Xin ngài hãy biết như vậy.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, paṭhamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the first reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ nhất này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Cutāhaṁ diviyā kāyā, āyuṁ hitvā amānusaṁ; Amūḷho gabbhamessāmi, yattha me ramatī mano.
When I fall from the heavenly host, leaving behind the non-human life, I shall consciously go to a new womb, wherever my mind delights.
“Sau khi mạng chung từ thân chư thiên, từ bỏ mạng sống phi nhân, con sẽ nhập thai một cách không si mê, vào nơi nào tâm con ưa thích.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, dutiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the second reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ hai này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Svāhaṁ amūḷhapaññassa, viharaṁ sāsane rato; Ñāyena viharissāmi, sampajāno paṭissato.
Living happily under the guidance of the one of unclouded wisdom, I shall practice systematically, aware and mindful.
“Con, với trí tuệ không si mê, hoan hỷ trong giáo pháp, sẽ sống đúng theo chánh đạo, với tỉnh giác và chánh niệm.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, tatiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the third reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ ba này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Ñāyena me carato ca, sambodhi ce bhavissati; Aññātā viharissāmi, sveva anto bhavissati.
And if awakening should arise as I practice systematically, I shall live as one who understands, and my end shall come right there.
“Khi con thực hành đúng theo chánh đạo, nếu sự giác ngộ xảy đến, con sẽ sống với sự liễu tri, và đó sẽ là sự kết thúc.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, catutthaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the fourth reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ tư này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Cutāhaṁ mānusā kāyā, āyuṁ hitvāna mānusaṁ; Puna devo bhavissāmi, devalokamhi uttamo.
When I fall from the human realm, leaving behind the human life, I shall become a god again, supreme in the heaven realm.
“Sau khi mạng chung từ thân người, từ bỏ mạng sống của con người, con sẽ lại trở thành một vị trời, bậc tối thượng trong cõi trời.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, pañcamaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the fifth reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ năm này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Te paṇītatarā devā, akaniṭṭhā yasassino; Antime vattamānamhi, so nivāso bhavissati.
They are the finest of gods, the glorious Akaniṭṭhas. So long as my final life goes on, there my home will be.
“Các vị trời Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭhā) là những vị cao thượng hơn, đầy danh tiếng. Trong kiếp sống cuối cùng, đó sẽ là nơi trú ngụ của con.
Imaṁ kho ahaṁ, bhante, chaṭṭhaṁ atthavasaṁ sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
This is the sixth reason.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được lợi ích thứ sáu này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Ime kho ahaṁ, bhante, cha atthavase sampassamāno evarūpaṁ vedapaṭilābhaṁ somanassapaṭilābhaṁ pavedemi.
Seeing these six reasons I speak of such joy and happiness.
“Bạch Thế Tôn, do thấy được sáu lợi ích này mà con tuyên bố sự thành tựu hỷ lạc và sự thành tựu ưu ý như vậy.
Apariyositasaṅkappo, vicikiccho kathaṅkathī;
My wishes unfulfilled, doubting and indecisive,
370. “Với những ý định chưa hoàn mãn, với sự hoài nghi, với sự phân vân.
Con đã lang thang một thời gian dài, tìm kiếm Như Lai.
Yassu maññāmi samaṇe, pavivittavihārino; Sambuddhā iti maññāno, gacchāmi te upāsituṁ.
I imagined that ascetics living in seclusion must surely be awakened, so I went to sit near them.
“Những vị sa-môn nào mà con cho là sống độc cư, con nghĩ rằng họ là những bậc Chánh Đẳng Giác, và con đã đến để hầu cận họ.
‘Kathaṁ ārādhanā hoti, kathaṁ hoti virādhanā’; Iti puṭṭhā na sampāyanti, magge paṭipadāsu ca.
‘How is there success? How is there failure?’ But they were stumped by such questions about the path and practice.
“Khi được hỏi: ‘Làm thế nào để thành tựu? Làm thế nào là không thành tựu?’, họ không thể giải thích về đạo và con đường thực hành.
Tyassu yadā maṁ jānanti, sakko devānamāgato; Tyassu mameva pucchanti, ‘kiṁ katvā pāpuṇī idaṁ’.
And when they found out that I was Sakka, come from the gods, they questioned me instead about the deed that brought me to this state.
“Khi họ nhận ra con là Sakka, vua của chư thiên, đã đến, họ lại hỏi chính con: ‘Ngài đã làm gì để đạt được địa vị này?’
Tesaṁ yathāsutaṁ dhammaṁ, desayāmi jane sutaṁ; Tena attamanā honti, ‘diṭṭho no vāsavoti ca’.
I taught them the Dhamma as I had learned it among men. They were delighted with that, saying: ‘We’ve seen Vāsava!’
“Con đã thuyết giảng cho họ pháp mà con đã được nghe, được biết đến trong dân gian. Nhờ đó, họ hoan hỷ và nói: ‘Chúng ta đã thấy Vāsava (Sakka).’
Yadā ca buddhamaddakkhiṁ, vicikicchāvitāraṇaṁ; Somhi vītabhayo ajja, sambuddhaṁ payirupāsiya.
Now since I’ve seen the Buddha, who helps us overcome doubt, today, free of fear, I pay homage to the awakened one.
“Và khi con đã thấy Đức Phật, bậc vượt qua mọi hoài nghi, hôm nay con không còn sợ hãi, sau khi đã hầu cận bậc Chánh Đẳng Giác.
Taṇhāsallassa hantāraṁ, buddhaṁ appaṭipuggalaṁ; Ahaṁ vande mahāvīraṁ, buddhamādiccabandhunaṁ.
Destroyer of the dart of craving, the Buddha is unrivaled. I bow to the great hero, the Buddha, Kinsman of the Sun.
“Con đảnh lễ Đức Phật, bậc đã nhổ mũi tên ái dục, bậc vô song, bậc Đại Hùng, bậc bà con của mặt trời.
Yaṁ karomasi brahmuno, samaṁ devehi mārisa; Tadajja tuyhaṁ kassāma, handa sāmaṁ karoma te.
In the same way that divinity ought be revered by we gods, dear sir, today we shall revere you—come, let us revere you ourselves!
“Thưa ngài, sự đảnh lễ mà chúng con cùng với chư thiên đã từng làm cho Phạm thiên, hôm nay chúng con sẽ làm điều đó cho ngài. Nào, chúng con xin tự mình đảnh lễ ngài.
Tvameva asi sambuddho, tuvaṁ satthā anuttaro; Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi te paṭipuggalo”ti.
You alone are the Awakened! You are the Teacher supreme! In the world with its gods, you have no rival.”
“Chỉ có ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, ngài là bậc Đạo Sư vô thượng. Trong thế giới cùng với chư thiên, không có ai sánh bằng ngài.”
Atha kho sakko devānamindo pañcasikhaṁ gandhabbaputtaṁ āmantesi: “bahūpakāro kho mesi tvaṁ, tāta pañcasikha, yaṁ tvaṁ bhagavantaṁ paṭhamaṁ pasādesi. Tayā, tāta, paṭhamaṁ pasāditaṁ pacchā mayaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamimhā arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Pettike vā ṭhāne ṭhapayissāmi, gandhabbarājā bhavissasi, bhaddañca te sūriyavacchasaṁ dammi, sā hi te abhipatthitā”ti.
Then Sakka addressed the centaur Pañcasikha, “Dear Pañcasikha, you were very helpful to me, since you first charmed the Buddha, after which I went to see him. I shall appoint you to your father’s position—you shall be king of the centaurs. And I give you Bhaddā Suriyavaccasā, for she loves you very much.”
371. Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, nói với Pañcasikha, con trai của Càn-thát-bà: “Này hiền giả Pañcasikha, ông đã giúp ta rất nhiều, vì ông đã làm cho Thế Tôn hoan hỷ trước. Này hiền giả, sau khi ông đã làm cho ngài hoan hỷ trước, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Ta sẽ đặt ông vào địa vị của cha ông, ông sẽ là vua của các Càn-thát-bà, và ta sẽ gả nàng Bhaddā Suriyavacchasā cho ông, người mà ông hằng mong ước.”
Atha kho sakko devānamindo pāṇinā pathaviṁ parāmasitvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
Then Sakka, touching the ground with his hand, expressed this heartfelt sentiment three times:
“Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!”
Bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, dùng tay chạm đất và thốt lên lời cảm hứng ba lần: “Nam mô Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa (Con xin đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác).”
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sakkassa devānamindassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. Aññesañca asītiyā devatāsahassānaṁ;
iti ye sakkena devānamindena ajjhiṭṭhapañhā puṭṭhā, te bhagavatā byākatā. Tasmā imassa veyyākaraṇassa sakkapañhātveva adhivacananti.
And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in Sakka, lord of gods: “Everything that is liable to arise is liable to cease.” And also for another 80,000 deities.
Such were the questions Sakka was invited to ask, and which were answered by the Buddha. And that’s why the name of this discussion is “Sakka’s Questions”.
Và trong khi bài pháp giải này đang được thuyết giảng, pháp nhãn không trần, không cấu uế đã khởi lên cho Sakka, vua của chư thiên: “Bất cứ cái gì có pháp sanh khởi, tất cả cái đó đều có pháp diệt tận.” Và cho tám mươi ngàn vị trời khác cũng vậy. Như vậy, những câu hỏi do Sakka, vua của chư thiên, thỉnh cầu đã được Thế Tôn giải đáp. Do đó, tên gọi của bài pháp giải này là “Những câu hỏi của Sakka”.
Sakkapañhasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Kinh Những Câu Hỏi Của Sakka, kinh thứ tám, kết thúc.