- Dīgha Nikāya 20
Mahāsamayasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsamayasutta
SC 1PTS cs 1 Như vậy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú tại bộ lạc Sakka (Thích-ca), thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở Ðại Lâm (Mahāvana), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
SC 3PTS cs 2 Lúc bấy giờ, bốn vị Tịnh Cư thiên (Suddhāvāsa) suy nghĩ như sau: “Thế Tôn nay trú tại bộ lạc Sakka, thành Kapilavatthu, ở Ðại Lâm, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong mỗi chúng ta sẽ đọc một bài kệ dâng lên Thế Tôn”.
SC 4PTS cs 3 Rồi chư Thiên ấy, nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co cánh tay duỗi ra, biến mất từ Tịnh Cư thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:
SC 5Ðại hội tại Ðại Lâm
Chư Thiên đồng tụ tập.
Chúng con đến Pháp hội
Ðảnh lễ chúng Bất Thắng.
SC 6Rồi một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
SC 7Tại đây chúng Tỷ-kheo
Thiền định, tâm chánh trực.
Như chủ xe nắm cương,
Bậc trí hộ các căn.
SC 8Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
SC 9Như khóa gãy, chốt tháo,
Cửa trụ bị đào lên.
Sống thanh tịnh, có mắt
Như voi khéo điều phục.
SC 10Lại một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế Tôn:
SC 11Những ai quy y Phật,
Sẽ không đọa ác thú,
Sau khi bỏ thân người,
Sẽ sanh làm chư Thiên.
SC 12PTS cs 4 Rồi Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 13—Này các Tỷ-kheo, phần lớn chư Thiên mười phương thế giới tụ họp để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, những vị nào trong thời quá khứ đã là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những vị này được một Thiên chúng tối thắng tụ hội xung quanh, như Ta hiện nay vậy. Này các Tỷ-kheo, những vị nào trong thời vị lai sẽ là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những vị này cũng sẽ được một Thiên chúng tối thắng tụ hội xung quanh, như Ta hiện nay vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ tuyên bố danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ cáo tri danh tánh của chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng danh tánh của chư Thiên. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 14- Xin vâng, bạch Thế Tôn!—Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn.
SC 15PTS cs 5 Thế Tôn giảng như sau:
SC 16Bài kệ Ta sẽ giảng
Chư Thiên trú Thiên giới,
Những vị trú hang núi,
Tâm tịnh, an thiền định.
Như sư tử, tuy nằm
Làm hoảng sợ quần sanh,
Tâm tư thuần tịnh bạch,
Trong sáng, không cấu uế.SC 17Biết hơn năm trăm vị,
Họp tại Ca-tỳ-la
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng
Chúng đệ tử thích nghe:
“Các Tỷ-kheo, hãy xem
Chư Thiên chúng đến gần”.
Nghe lời dạy đức Phật
Ðại chúng nhiệt tình xem.
SC 19Và hiện ra trước chúng
Thấy rõ hàng phi nhân
Kẻ thấy trăm thiên thần,
Ngàn thần, và hơn nữa.
Kẻ thấy bảy mươi ngàn
Toàn các bậc phi nhân.
Kẻ thấy vô lượng vị,
Cùng khắp mọi phương hướng.
Với pháp nhãn thấy rõ
Và phân biệt tất cả
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng,
Chúng đệ tử thích nghe:
“Các Tỷ-kheo hãy xem,
Chư Thiên chúng đến gần”.
Ta sẽ theo thứ lớp
Thuyết kệ cho người nghe.
SC 21Bảy ngàn loại Dạ-xoa
Trú tại Ca-tỳ-la,
Có thần lực hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
Sáu ngàn từ Tuyết Sơn
Dạ-xoa đủ sắc mặt
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheoSC 22Ba ngàn từ Sàtà,
Dạ-xoa đủ sắc mặt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.SC 23Như vậy mười sáu ngàn
Dạ-xoa đủ sắc mặt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 25Năm trăm từ Vessà
Dạ-xoa đủ sắc mặt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
Kumbhīra, Vương Xá,
Trú tại Vepulla,
Hơn trăm ngàn Dạ-xoa,
Hầu hạ vây xung quanh.
Kumbhīra, Vương Xá
Cũng đến họp rừng này.
SC 27Vua Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương)
Trị vì tại phương Ðông,
Chúa tể Càn-thát-bà
Bậc đại vương danh tiếng.
Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Inda
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.SC 28Quốc vương Virùlha (Tăng Trưởng Thiên vương).
Trị vì tại phương Nam,
Chúa tể Cưu-bàn-trà ( Kumbhaṇḍa)
Bậc đại vương danh tiếng,
Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Inda
Có thần lực, hào quang.
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.SC 29Vua Virùpakkha, (Quảng Mục Thiên vương)
Trị vì tại phương Tây,
Chúa tể loài Nàgà
Bậc đại vương danh tiếng.
Vị này có nhiều con
Ðại lực, tên Inda,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.SC 30Quốc vương Kuvera, (Ða Văn Thiên vương)
Trị vì tại phương Bắc,
Chúa tể, loài Dạ-xoa,
Bậc đại vương, danh tiếng.
Vị này có nhiều con,
Ðại lực, tên Inda,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.SC 31Trì Quốc vương, phương Ðông
Tăng Trưởng vương, phương Nam
Quảng Mục vương, phương Tây,
Ða Văn vương, phương Bắc,
Bốn bậc đại vương này,
Khắp cả bốn phương trời,
Cùng đứng, chói hào quang,
Khắp rừng Ca-tỳ-la.
SC 33Cũng đến các bộ hạ,
Giả dối và xảo quyệt,
Màyà, Kuṭeṇḍu, Veṭeṇḍu, Vitu,
Viṭuca, Candana, Kāmaseṭṭha,
Kinnughaṇḍu,
Nighaṇḍu chín vị đến.
Panāda, Opamañño, Madti,
(người đánh xe chư Thiên).
Càn-thát-bà Cittasena;
Vua Nala, Janesabha
Pancasikha, Timbarù,
Suriyavaccasà cũng đến.
Như vậy cả vua chúa,
Cùng với Càn-thát-bà,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo!
SC 35Từ Nābhāsa, Vesālī, Tacchakà,
Các Nàgà cũng đến.
Kambala, Assatara, Pàyàgà,
Cũng đến với quyến thuộc.
Các Nàgà có danh tiếng,
Dhataraṭṭha và Yàmunà cũng đến.
Erāvaṇa, Long vương,
Cũng đến tại ngôi rừng.
Những thiên điểu nhị sanh,
Với cặp mắt thanh tịnh,
Mãnh liệt chống Long vương,
Nay bay đến ngôi rừng.
Tên chúng là Citrà,
Và tên Supannà.
Long vương không sợ hãi,
Nhờ ơn Phật an toàn
Với những lời nhẹ nhàng,
Chúng tự khuyên bảo nhau,
Nàgà, Supannà (Kim Sí điểu)
Ðều đến quy y Phật.
SC 37Asura ở biển,
Bị sét Kim Cang thủ,
Anh của Vāsava,
Có thần lực danh xưng.
Kàlakanjà, dị hình, (Tu-la)
Dànaveghasà, Vepacitti
Cùng với Sucitti,
Với Pahārada, ác quỷ Namucì.
Cùng con của Bali,
Ðặt tên Veroca.
Huy động toàn quân lực,
Dâng cho vị thủ lãnh.
Rāhu nói: “Mong thay
Pháp hội được an toàn.
Phó hội chúng Tỷ-kheo
Ðều đến tại rừng này”.
SC 39Thần nước, đất, lửa, gió,
Cũng đến Varunà,
Với thủy tộc, Soma,
Cả Yasa cũng đến.
Chư Thiên Từ Bi sanh
Có danh xưng cũng đến
Mười vị thiên tộc này
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 41Venhù, Sahali,
Asamà, Yamà,
Chư Thiên thuộc Nguyệt tộc,
Vị thủ lãnh cũng đến.
Chư Thiên thuộc Nhật tộc
Vân thần tên Manda,
Quần tinh vị thủ lãnh
Vāsava, Vasù
Thần Sakka cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng.
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 43Sahavhù cũng đến,
Với đầu lửa đỏ rực,
Aritthakà, Rojà,
Như bông hoa Ummà
Varunà, Sahadhammà,
Accutà, Anejakà
Sùleyya-rucirà,
Vāsavanesī cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 45Samànà, Mahàsamànà,
Mànusà, Mànusuttamà,
Khiddà-padùsikà, Mano-padùsikà
Harayo, Lohita- vāsino,
Pàragà, Mahà-Pàragà
Có danh xưng cũng đến.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng,
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 47Sukkà, Karumhà,
Arunà, Veghanasà
Odāta-gayhà,
Vicakkhanà cũng đến,
Sadàmattà, Hāragajā,
Missakà có danh xưng cũng đến.
Pajjuna thần sét,
Làm mưa khắp mọi phương.
Mười vị Thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 49Khemiyà, Tusità, Yamà,
Danh xưng Katthakà, Lambitakà,
Thủ lãnh các Làmà,
Jotinàmà, Āsava,
Tha Hóa Tự Tại thiên,
Hóa Lạc thiên cũng đến.
Mười vị thiên tộc này,
Dung mạo thật dị biệt,
Có thần lực, hào quang,
Có sắc tướng, danh xưng
Hoan hỷ đến rừng này,
Chiêm ngưỡng chúng Tỷ-kheo.
SC 51Sáu mươi Thiên chúng này,
Với diện mạo dị biệt,
Theo danh tộc chúng đến,
Cũng nhiều vị khác nữa.
Nói rằng: “Sanh đã tận,
Then cài không còn nữa.
Bộc lưu đã vượt qua,
Ðã thành bậc Vô Lậu.
Chúng con thấy vị ấy,
Như voi vượt bộc lưu,
Như trăng thoát mây tối”.
SC 53Subrahmà, Paramattha,
Con các vị thần lực,
Sanankumāra Tissa,
Ðến hội tại ngôi rừng.
Ðại Phạm thiên, chúa tể,
Ngự trị ngàn Phạm giới,
Thác sanh có hào quang,
Dị hình có danh xưng,
Mười đấng Tự Tại đến,
Ngự trị mỗi mỗi cõi,
Giữa vị này Hārita,
Cũng đến với đồ chúng.
SC 55Tất cả đều cùng đến,
Với Inda, Phạm thiên,
Ma quân cũng tiến đến,
Xem Hắc quỷ ngu si.
“Hãy đến và bắt trói,
Những ai bị tham triền,
Hãy bao vây bốn phía,
Chớ để ai thoát ly!”
Như vậy Ðại Tướng quân,
Truyền lệnh đoàn Hắc quỷ,
Với bàn tay vỗ đất,
Tiếng dội vang khiếp đảm.
Như trong cơn giông tố,
Sấm chớp và mưa rào,
Nó liền thối quân lui,
Phẫn nộ nhưng bất lực.
SC 57Với pháp nhãn thấy rõ,
Và phân biệt tất cả,
Bậc Ðạo Sư thuyết giảng,
Chúng đệ tử thích nghe:
“Ma quân đã tiến đến;
Tỷ-kheo hãy biết chúng”.
Nghe lời dạy đức Phật,
Ðại chúng tâm nhiệt tình.
Kẻ thù đã bỏ đi,
Xa vô tham, vô úy.
Tất cả đều chiến thắng,
Vô úy và vô xưng!
Ðệ tử những vị này,
Danh xưng, tâm hoan hỷ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Xem Bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 17–04–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Đại Hội Chúng
Atha kho catunnaṁ suddhāvāsakāyikānaṁ devatānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ mahāvane mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi; dasahi ca lokadhātūhi devatā yebhuyyena sannipatitā honti bhagavantaṁ dassanāya bhikkhusaṅghañca. Yannūna mayampi yena bhagavā tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā bhagavato santike paccekaṁ gāthaṁ bhāseyyāmā”ti.
Then four deities of the pure abodes, aware of what was happening, thought: “Why don’t we go to the Buddha and each recite a verse in his presence?”
331. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu rừng lớn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và phần lớn chư Thiên từ mười thế giới hệ đã tụ tập để yết kiến Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Bấy giờ, bốn vị Thiên ở Tịnh Cư Thiên khởi lên ý nghĩ: “Thế Tôn này đang trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, trong khu rừng lớn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, khoảng năm trăm vị, tất cả đều là bậc A-la-hán. Và phần lớn chư Thiên từ mười thế giới hệ đã tụ tập để yết kiến Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, mỗi vị chúng ta hãy nói lên một bài kệ trước sự hiện diện của Thế Tôn.”
Atha kho tā devatā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—suddhāvāsesu devesu antarahitā bhagavato purato pāturahesuṁ. Atha kho tā devatā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, they vanished from the Pure Abodes and reappeared in front of the Buddha. They bowed to the Buddha and stood to one side. Standing to one side, one deity spoke this verse in the Buddha’s presence:
332. Rồi các vị Thiên ấy, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, các vị ấy biến mất khỏi Tịnh Cư Thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi các vị Thiên ấy, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, đứng một bên. Đứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Mahāsamayo pavanasmiṁ, Devakāyā samāgatā; Āgatamha imaṁ dhammasamayaṁ, Dakkhitāye aparājitasaṅghan”ti.
“There’s a great congregation in the woods, where heavenly hosts have assembled. We’ve come to this righteous congregation to see the invincible Saṅgha!”
“Đại hội chúng trong khu rừng, Chư Thiên hội chúng tụ về. Chúng con đến pháp hội này, Để xem chúng Tăng bất bại.”
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then another deity spoke this verse in the Buddha’s presence:
Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Tatra bhikkhavo samādahaṁsu, Cittamattano ujukaṁ akaṁsu; Sārathīva nettāni gahetvā, Indriyāni rakkhanti paṇḍitā”ti.
“The mendicants there are immersed in samādhi, they’ve straightened their own minds. Like a charioteer holding the reins, the astute ones protect their senses.”
“Ở đấy, các Tỷ-kheo định tĩnh, Khiến tâm mình được chánh trực. Như người đánh xe cầm dây cương, Bậc trí phòng hộ các căn.”
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then another deity spoke this verse in the Buddha’s presence:
Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Chetvā khīlaṁ chetvā palighaṁ, Indakhīlaṁ ūhacca manejā; Te caranti suddhā vimalā, Cakkhumatā sudantā susunāgā”ti.
“They snapped the post and snapped the cross-bar, unstirred, they tore out Indra’s pillar. They live pure and immaculate, the young giants tamed by the Clear-eyed One.”
“Bẻ cọc, nhổ then cài, Trụ cửa nhổ lên, không dao động, Các vị ấy đi lại thanh tịnh, không tỳ vết, Được bậc Mắt sáng khéo điều phục, những con voi rồng trẻ.”
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then another deity spoke this verse in the Buddha’s presence:
Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Ye keci buddhaṁ saraṇaṁ gatāse, Na te gamissanti apāyabhūmiṁ; Pahāya mānusaṁ dehaṁ, Devakāyaṁ paripūressantī”ti.
“Anyone who has gone to the Buddha for refuge won’t go to a plane of loss. After giving up this human body, they swell the heavenly host.”
“Những ai quy y Phật, Sẽ không đi đường ác. Sau khi bỏ thân người, Sẽ sanh vào thiên chúng.”
Sự Tụ Họp Của Chư Thiên
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yebhuyyena, bhikkhave, dasasu lokadhātūsu devatā sannipatitā honti, tathāgataṁ dassanāya bhikkhusaṅghañca. Yepi te, bhikkhave, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva devatā sannipatitā ahesuṁ seyyathāpi mayhaṁ etarahi. Yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva devatā sannipatitā bhavissanti seyyathāpi mayhaṁ etarahi. Ācikkhissāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni; kittayissāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni; desessāmi, bhikkhave, devakāyānaṁ nāmāni. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Then the Buddha said to the mendicants:
“Mendicants, most of the deities from ten solar systems have gathered to see the Realized One and the mendicant Saṅgha. Those who were perfected ones, fully awakened Buddhas in the past also had gatherings of deities that were at best like the gathering for me now. Those who will be perfected ones, fully awakened Buddhas in the future will also have gatherings of deities that will be at best like the gathering for me now. I shall declare the names of the heavenly hosts; I shall extol the names of the heavenly hosts; I shall teach the names of the heavenly hosts. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied.
333. Bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, phần lớn chư Thiên từ mười thế giới hệ đã tụ tập để yết kiến Như Lai và chúng Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nào trong thời quá khứ, chư Thiên tụ tập yết kiến các Thế Tôn ấy cũng đông như của ta hiện nay. Này các Tỷ-kheo, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nào trong thời vị lai, chư Thiên tụ tập yết kiến các Thế Tôn ấy cũng sẽ đông như của ta hiện nay. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ kể tên các chúng Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ tuyên thuyết tên các chúng Thiên. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng dạy tên các chúng Thiên. Các ngươi hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
334. Thế Tôn đã nói điều này:
“Silokamanukassāmi, yattha bhummā tadassitā; Ye sitā girigabbharaṁ, pahitattā samāhitā.
“I invoke a paean of praise! Where the earth-gods dwell, there, in mountain caves, resolute and composed,
“Ta sẽ đọc lên vần kệ, Nơi các vị Địa thần nương tựa; Các vị trú trong hang núi, Tinh cần, tâm được định tĩnh.
Puthūsīhāva sallīnā, lomahaṁsābhisambhuno; Odātamanasā suddhā, vippasannamanāvilā.
dwell many like lonely lions, who have mastered their fears. Their minds are bright and pure, clear and unclouded.”
“Nhiều vị như sư tử, ẩn mình, Vượt qua sự sợ hãi rụng lông; Tâm trắng trong, thanh tịnh, Trong sáng, không vẩn đục.”
Bhiyyo pañcasate ñatvā, vane kāpilavatthave; Tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate.
Over five hundred were known in the wood at Kapilavatthu. Consequently, the Teacher addressed the disciples who love the teaching:
“Biết hơn năm trăm vị, Trong rừng Kapilavatthu; Bậc Đạo Sư liền gọi, Các đệ tử mến giáo pháp.
‘Devakāyā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo’; Te ca ātappamakaruṁ, sutvā buddhassa sāsanaṁ.
“The heavenly hosts have come forth; mendicants, you should be aware of them.” Those monks grew keen, hearing the Buddha’s instruction.
“Này các Tỷ-kheo, các chúng Thiên, Đã quang lâm, hãy biết rõ họ.” Nghe lời Phật dạy, các vị ấy, Đã nỗ lực tinh tấn.”
Tesaṁ pāturahu ñāṇaṁ, amanussānadassanaṁ; Appeke satamaddakkhuṁ, sahassaṁ atha sattariṁ.
Knowledge manifested in them, seeing those non-human beings. Some saw a hundred, a thousand, even seventy thousand,
“Tri kiến khởi lên cho họ, Thấy được các hàng phi nhân; Có vị thấy một trăm vị, Có vị thấy một ngàn, bảy mươi ngàn.”
Sataṁ eke sahassānaṁ, amanussānamaddasuṁ; Appekenantamaddakkhuṁ, disā sabbā phuṭā ahuṁ.
while some saw a hundred thousand non-human beings. But some saw an endless number spread out in every direction.
“Có vị thấy trăm ngàn, Các hàng phi nhân tụ tập; Có vị thấy vô lượng, Khắp mọi phương đều tràn đầy.”
Tañca sabbaṁ abhiññāya, vavatthitvāna cakkhumā; Tato āmantayī satthā, sāvake sāsane rate.
‘Devakāyā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo; Ye vohaṁ kittayissāmi, girāhi anupubbaso’.
Sattasahassā te yakkhā,
And all that was known and distinguished by the Clear-eyed One. Consequently, the Teacher addressed the disciples who love the teaching:
“The heavenly hosts have come forth; mendicants, you should be aware of them. I shall extol them for you, with lyrics in proper order.
There are seven thousand spirits,
“Và bậc Mắt sáng, sau khi biết, Phân biệt tất cả điều ấy; Bậc Đạo Sư liền gọi, Các đệ tử mến giáo pháp.”
335. Bảy ngàn vị Dạ-xoa ấy là những vị ở cõi đất, tại thành Ca-tỳ-la-vệ.
Họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Chasahassā hemavatā, yakkhā nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
From the Himalayas there are six thousand spirits of different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Sáu ngàn vị Dạ-xoa ở núi Tuyết Sơn, có nhiều loại dung sắc khác nhau; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Sātāgirā tisahassā, yakkhā nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
From Mount Sātā there are three thousand spirits of different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Ba ngàn vị Dạ-xoa ở núi Sātāgiri, có nhiều loại dung sắc khác nhau; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Iccete soḷasasahassā, yakkhā nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
And thus there are sixteen thousand spirits of different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Tổng cộng là mười sáu ngàn vị Dạ-xoa, có nhiều loại dung sắc khác nhau; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Vessāmittā pañcasatā, yakkhā nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
From Vessāmitta’s mountain there are five hundred spirits of different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Năm trăm vị Dạ-xoa ở núi Vessāmitta, có nhiều loại dung sắc khác nhau; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Kumbhīro rājagahiko, vepullassa nivesanaṁ; Bhiyyo naṁ satasahassaṁ, yakkhānaṁ payirupāsati; Kumbhīro rājagahiko, sopāgā samitiṁ vanaṁ.
And there’s Kumbhīra of Rājagaha, whose home is on Mount Vepulla. Attended by more than a hundred thousand spirits, Kumbhīra of Rājagaha also came to the meeting in the wood.
Vị Kumbhīra ở thành Vương Xá, trú xứ của vị ấy là núi Vepulla. Hơn một trăm ngàn vị Dạ-xoa hầu cận vị ấy. Vị Kumbhīra ở thành Vương Xá, vị ấy cũng đã đến khu rừng, nơi hội chúng.
Purimañca disaṁ rājā, dhataraṭṭho pasāsati;
King Dhataraṭṭha rules the eastern quarter.
336. Vị vua Dhataraṭṭha cai quản phương Đông.
Vị ấy là chúa tể của các Càn-thát-bà, là vị đại vương có danh tiếng.
Puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
And he has many mighty sons all of them named Indra. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Các người con của vị ấy cũng rất nhiều, tên là Inda, có đại lực; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Dakkhiṇañca disaṁ rājā, virūḷho taṁ pasāsati; Kumbhaṇḍānaṁ adhipati, mahārājā yasassiso.
King Virūḷhaka rules the southern quarter. Lord of the gnomes, he’s a great king, glorious.
Vị vua Virūḷha cai quản phương Nam; vị ấy là chúa tể của các Cưu-bàn-trà, là vị đại vương có danh tiếng.
Puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
And he has many mighty sons all of them named Indra. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Các người con của vị ấy cũng rất nhiều, tên là Inda, có đại lực; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Pacchimañca disaṁ rājā, virūpakkho pasāsati; Nāgānañca adhipati, mahārājā yasassiso.
King Virūpakkha rules the western quarter. Lord of the dragons, he’s a great king, glorious.
Vị vua Virūpakkha cai quản phương Tây; vị ấy là chúa tể của các loài Rồng, là vị đại vương có danh tiếng.
Puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
And he has many mighty sons all of them named Indra. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Các người con của vị ấy cũng rất nhiều, tên là Inda, có đại lực; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Uttarañca disaṁ rājā, kuvero taṁ pasāsati; Yakkhānañca adhipati, mahārājā yasassiso.
King Kuvera rules the northern quarter. Lord of spirits, he’s a great king, glorious.
Vị vua Kuvera cai quản phương Bắc; vị ấy là chúa tể của các Dạ-xoa, là vị đại vương có danh tiếng.
Puttāpi tassa bahavo, indanāmā mahabbalā; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
And he has many mighty sons all of them named Indra. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Các người con của vị ấy cũng rất nhiều, tên là Inda, có đại lực; họ có thần thông, có hào quang, có dung sắc, có danh tiếng; với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Purimaṁ disaṁ dhataraṭṭho, dakkhiṇena virūḷhako; Pacchimena virūpakkho, kuvero uttaraṁ disaṁ.
Dhataraṭṭha in the east, Virūḷhaka to the south, Virūpakkha to the west, and Kuvera in the north.
Phương Đông là Dhataraṭṭha, phương Nam là Virūḷhaka, phương Tây là Virūpakkha, Kuvera là phương Bắc.
Cattāro te mahārājā, samantā caturo disā; Daddallamānā aṭṭhaṁsu, vane kāpilavatthave.
These four great kings, all around in the four quarters, stood there dazzling in the wood at Kapilavatthu.
Bốn vị đại vương ấy, ở bốn phương xung quanh, đang đứng chói sáng trong khu rừng ở Ca-tỳ-la-vệ.
Tesaṁ māyāvino dāsā, āguṁ vañcanikā saṭhā;
Their deceitful heathens came, so treacherous and crafty—
337. Những người đầy tớ của họ, những kẻ lừa dối, xảo trá, ngoan cố cũng đã đến.
Māyā, Kuṭeṇḍu, Viṭeṇḍu, cùng với Viṭucca và Viṭuṭo.
Candano kāmaseṭṭho ca, kinnighaṇḍu nighaṇḍu ca; Panādo opamañño ca, devasūto ca mātali.
And Candana and Kāmaseṭṭha, Kinnughaṇḍu and Nighaṇḍu, Panāda and Opamañña, and Mātali, the god’s equerry.
Candana, Kāmaseṭṭha, Kinnighaṇḍu, và Nighaṇḍu; Panāda, Opamañña, và Mātali, người đánh xe của chư Thiên.
Cittaseno ca gandhabbo, naḷorājā janesabho; Āgā pañcasikho ceva, timbarū sūriyavacchasā.
Cittasena the centaur came too, and the kings Nala and Janesabha. Pañcasikha came too, with Timbaru and Suriyavaccasā.
Cittasena là vị Càn-thát-bà, vua Naḷa, Janesabha; Pañcasikha cũng đã đến, Timbarū, và Sūriyavacchasā.
Ete caññe ca rājāno, gandhabbā saha rājubhi; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
These and other kings there were, the centaurs with their kings. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Những vị vua Càn-thát-bà này và những vị khác, cùng với các vị vua, với tâm hoan hỷ, họ đã đến khu rừng, nơi hội chúng của các Tỳ khưu.
Athāguṁ nāgasā nāgā, vesālā sahatacchakā;
Then came the dragons of Nābhasa lake, and those from Vesālī with those from Takkasilā.
338. Rồi các loài Rồng ở Nāgasa đã đến, và các loài Rồng ở Vesālī cùng với các vị Tacchaka.
Các vị Kambala và Assatara đã đến, và các vị ở Pāyāga cùng với quyến thuộc.
Yāmunā dhataraṭṭhā ca, āgū nāgā yasassino; Erāvaṇo mahānāgo, sopāgā samitiṁ vanaṁ.
Those from Yamunā, and the Dhataraṭṭha dragons came, so glorious. And Erāvaṇa the great dragon also came to the meeting in the wood.
Các loài Rồng có danh tiếng ở sông Yamunā và thuộc dòng Dhataraṭṭha cũng đã đến; Erāvaṇa, vị đại Long, vị ấy cũng đã đến khu rừng, nơi hội chúng.
Ye nāgarāje sahasā haranti, Dibbā dijā pakkhi visuddhacakkhū; Vehāyasā te vanamajjhapattā, Citrā supaṇṇā iti tesa nāmaṁ.
Those who seize the dragon kings by force—Heavenly, twice-born birds with piercing vision—swoop down to the wood from the sky; their name is ‘Rainbow Phoenix’.
Những vị có thể dùng sức mạnh bắt đi các vua Rồng, là loài trời, sanh hai lần, có cánh, mắt trong sạch; những vị ấy đã bay đến giữa khu rừng. Tên của họ là Citrā Supaṇṇā.
Abhayaṁ tadā nāgarājānamāsi, Supaṇṇato khemamakāsi buddho; Saṇhāhi vācāhi upavhayantā, Nāgā supaṇṇā saraṇamakaṁsu buddhaṁ.
But the dragon kings remained fearless, for the Buddha kept them safe from the phoenixes. Wooing each other with gentle words, the dragons and phoenixes <j>took the Buddha as refuge.
Lúc bấy giờ, các vua Rồng được an ổn, Đức Phật đã làm cho họ được an toàn khỏi loài Supaṇṇa. Với những lời nói nhẹ nhàng, các loài Rồng và Supaṇṇa đã quy y nơi Đức Phật.
Jitā vajirahatthena, samuddaṁ asurāsitā;
Defeated by Vajirahattha, the titans live in the ocean.
339. Bị chinh phục bởi vị có kim cang trong tay, các A-tu-la sống nương tựa nơi biển cả.
Họ là những người anh em của Vāsava (Đế Thích), có thần lực, có danh tiếng.
Kālakañcā mahābhismā, asurā dānaveghasā; Vepacitti sucitti ca, pahārādo namucī saha.
There’s the terrifying Kālakañjas, the Dānava and Ghasa titans, Vepacitti and Sucitti, Pahārāda with Namuci,
Các vị a-tu-la Kālakañcā, thân hình to lớn đáng sợ hãi, và các vị a-tu-la Dānaveghasā; Vepacitti và Sucitti, Pahārāda cùng với Namucī (cũng đã đến).
Satañca baliputtānaṁ, sabbe verocanāmakā; Sannayhitvā balisenaṁ, rāhubhaddamupāgamuṁ; ‘Samayo dāni bhaddante, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ’.
and Bali’s hundred sons, all named after Virocana. Bali’s army armed themselves and went to the auspicious Rāhu, saying: ‘Now is the time, sir, for the meeting of mendicants in the wood.’
Và một trăm người con của Bali, tất cả đều có tên là Verocana, sau khi trang bị đội quân của Bali, đã đến gần Rāhu và nói: 'Thưa ngài, mong ngài được an lành! Bây giờ là thời điểm thích hợp để đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.'
Āpo ca devā pathavī, tejo vāyo tadāgamuṁ;
The gods of water and earth, and fire and wind came there.
340. Các vị trời thuộc nhóm Āpo (Thủy), Pathavī (Địa), Tejo (Hỏa), và Vāyo (Phong) cũng đã đến vào lúc ấy.
Các vị trời Varuṇā, Vāraṇā, và Soma cùng với Yasa (cũng đã đến).
Mettā karuṇā kāyikā, āguṁ devā yasassino; Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.
A host of the gods of love and compassion came, so glorious. These ten hosts of gods shone in all different colors.
Các vị trời Mettā và Karuṇā, những vị có danh tiếng, cũng đã đến. Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau.
Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Veṇḍudevā sahali ca, asamā ca duve yamā; Candassūpanisā devā, candamāguṁ purakkhatvā.
The Vishnu and Sahalī gods, and the unequaled pair of twins. The gods living on the moon came, with the Moon before them.
Các vị trời Veṇḍu và Sahali, Asamā và hai vị Yama; các vị trời tùy tùng của Mặt Trăng đã đến, với Mặt Trăng đi trước dẫn đầu.
Sūriyassūpanisā devā, sūriyamāguṁ purakkhatvā; Nakkhattāni purakkhatvā, āguṁ mandavalāhakā.
The gods living on the sun came, with the Sun before them. And with the stars before them came the languid gods of clouds.
Các vị trời tùy tùng của Mặt Trời đã đến, với Mặt Trời đi trước dẫn đầu. Các vị trời (tùy tùng của các vì sao) đã đến, với các vì sao đi trước dẫn đầu; và các vị trời Mây Mưa (Mandavalāhakā) cũng đã đến.
Vasūnaṁ vāsavo seṭṭho, sakkopāgā purindado; Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.
And Vāsava came, the greatest of the Vasus, who is Sakka the Able, Purindada the Firstgiver: These ten hosts of gods shone in all different colors.
Vị trời Vāsava, người đứng đầu các vị trời Vasu, cũng là Sakka, vị Purindada (Thí Thành), đã đến. Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau.
Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Athāguṁ sahabhū devā, jalamaggi sikhāriva; Ariṭṭhakā ca rojā ca, umāpupphanibhāsino.
Then came the Sahabhū gods, blazing like a crested flame; and the Ariṭṭhakas and Rojas too, and the gods hued blue as flax.
Rồi các vị trời Sahabhū đã đến, rực rỡ như ngọn lửa. Và các vị trời Ariṭṭhaka và Rojā, có màu sắc như hoa cây lanh (ummā), (cũng đã đến).
Varuṇā sahadhammā ca, accutā ca anejakā; Sūleyyarucirā āguṁ, āguṁ vāsavanesino; Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.
The Varuṇas and Sahadhammas, the Accutas and Anejakas, the Sūleyyas and Ruciras all came, as did the Vāsavanesi gods. These ten hosts of gods shone in all different colors.
Các vị trời Varuṇā và Sahadhammā, Accutā và Anejakā, Sūleyya và Rucirā đã đến. Các vị trời Vāsavanesino cũng đã đến. Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau.
Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Samānā mahāsamanā, mānusā mānusuttamā; Khiḍḍāpadosikā āguṁ, āguṁ manopadosikā.
The Samānas, Mahāsamānas, Mānusas, and Mānusuttamas all came, and the gods depraved by play, and those who are malevolent.
Các vị trời Samānā và Mahāsamānā, Mānusā và Mānusuttamā; các vị trời Khiḍḍāpadosikā đã đến, và các vị trời Manopadosikā cũng đã đến.
Athāguṁ harayo devā, ye ca lohitavāsino; Pāragā mahāpāragā, āguṁ devā yasassino; Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino.
Then came the gods of Mercury, and those who live on Mars. The Pāragas and Mahāpāragas came, such glorious gods. These ten hosts of gods shone in all different colors.
Rồi các vị trời Harayo đã đến, và những vị mặc y phục màu đỏ (Lohitavāsino). Các vị trời Pāragā và Mahāpāragā, những vị có danh tiếng, cũng đã đến. Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau.
Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Sukkā karambhā aruṇā, āguṁ veghanasā saha; Odātagayhā pāmokkhā, āguṁ devā vicakkhaṇā.
The gods of Venus, the newborn Sun, <j>and the Dawn came along with those from Saturn. And the gods of the white globe came leading the brilliant gods.
Các vị trời Sukkā, Karambhā, Aruṇā đã đến cùng với Veghanasā. Các vị trời Odātagayhā, những vị lãnh đạo, và các vị trời Vicakkhaṇā, những vị sáng suốt, cũng đã đến.
Sadāmattā hāragajā, missakā ca yasassino; Thanayaṁ āga pajjunno, yo disā abhivassati.
The Sadāmattas and Hāragajas, and assorted glorious ones; Pajjuna came thundering, he who rains on all quarters.
Các vị trời Sadāmatta, Hāragajā, và Missakā, những vị có danh tiếng, (cũng đã đến). Vị trời Mưa Pajjunna, người làm mưa khắp các phương trời, đã đến trong tiếng sấm.
Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
These ten hosts of gods shone in all different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau. Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Khemiyā tusitā yāmā, kaṭṭhakā ca yasassino; Lambītakā lāmaseṭṭhā, jotināmā ca āsavā; Nimmānaratino āguṁ, athāguṁ paranimmitā.
The Khemiyas from the realms of Tusita and Yama, and the glorious Kaṭṭhakas came; the Lambītakas, Lāmaseṭṭhas, those called the Shining, and those Yonder. The gods who love to create came too, and those who control what is created by others.
Các vị trời Khemiyā, Tusitā, Yāmā, và Kaṭṭhakā, những vị có danh tiếng; Lambītakā, Lāmaseṭṭhā, Jotināmā, và Āsavā; các vị trời Nimmānaratino đã đến, rồi các vị trời Paranimmitā cũng đã đến.
Dasete dasadhā kāyā, sabbe nānattavaṇṇino; Iddhimanto jutimanto, vaṇṇavanto yasassino; Modamānā abhikkāmuṁ, bhikkhūnaṁ samitiṁ vanaṁ.
These ten hosts of gods shone in all different colors. They’re powerful and brilliant, so beautiful and glorious. Rejoicing, they’ve come forth to the meeting of mendicants in the wood.
Mười nhóm (chư thiên) này, được chia thành mười loại, tất cả đều có màu sắc khác nhau. Họ, những vị có thần lực, có hào quang, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã hoan hỷ tiến đến khu rừng, nơi hội chúng của các vị tỳ-khưu.
Saṭṭhete devanikāyā, sabbe nānattavaṇṇino; Nāmanvayena āgacchuṁ, ye caññe sadisā saha.
These sixty hosts of gods shone in all different colors. They came organized by name, these and others likewise, thinking:
Sáu mươi nhóm chư thiên này, tất cả đều có màu sắc khác nhau, đã đến theo tên gọi của họ, cùng với những vị khác có cùng đặc tính.
‘Pavuṭṭhajātimakhilaṁ, oghatiṇṇamanāsavaṁ; Dakkhemoghataraṁ nāgaṁ, candaṁva asitātigaṁ’.
‘They who have shed rebirth, the kindly ones, the undefiled ones who have crossed the flood—let us see them, <j>with the dragon who brought them across, who like the Moon has overcome darkness.’
(Họ đến với ý nghĩ:) 'Chúng ta hãy đến xem vị Nāga (Bậc Vĩ Nhân), người đã hoàn tất sự sinh, không còn phiền não, đã vượt qua bộc lưu, không còn lậu hoặc, người giúp chúng sanh vượt qua bộc lưu, giống như mặt trăng thoát khỏi sự bám víu (của Rāhu).'
Subrahmā paramatto ca, puttā iddhimato saha;
Subrahmā and Paramatta came, with sons of those powerful ones.
341. Subrahmā và Paramattha, những người con của Đấng Có Thần Lực (Đức Phật), cũng đã đến cùng nhau.
Sanaṅkumāra và Tissa, các vị ấy cũng đã đến khu rừng, nơi hội chúng (đang tụ họp).
Sahassaṁ brahmalokānaṁ, mahābrahmābhitiṭṭhati; Upapanno jutimanto, bhismākāyo yasassiso.
Of a thousand realms of divinity, the Great Divinity stands forth. He has arisen, brilliant, his formidable body so glorious.
Một ngàn thế giới Phạm thiên (đã đến), và vị Đại Phạm thiên đứng đầu tất cả. Ngài là vị hóa sanh, có hào quang, thân hình to lớn, và có danh tiếng.
Dasettha issarā āguṁ, paccekavasavattino; Tesañca majjhato āga, hārito parivārito.
Ten Gods Almighty came there, each one of them wielding power, and in the middle of them came Hārita with his following.”
Trong số họ, mười vị chúa tể đã đến, mỗi vị đều có quyền lực riêng. Và ở giữa họ, Hārita đã đến, được vây quanh bởi đoàn tùy tùng.
Te ca sabbe abhikkante, sainde deve sabrahmake;
When they had all come forth—the gods with their Lord, and the divinities—
342. Và khi tất cả họ đã đến, các vị trời cùng với Indra, và các vị Phạm thiên,
Đội quân Ma vương đã tiến đến, hãy xem sự ngu muội của Kẻ Đen (Ma vương)!
‘Etha gaṇhatha bandhatha, rāgena baddhamatthu vo; Samantā parivāretha, mā vo muñcittha koci naṁ’.
“Come, seize them and bind them,” he said, “let them be bound by desire! Surround them on all sides, don’t let any escape!”
‘Hãy đến, hãy bắt, hãy trói, hãy dùng ái dục trói buộc chúng; hãy bao vây khắp bốn phía, đừng để một ai trong chúng thoát khỏi các ngươi’.
Iti tattha mahāseno, kaṇho senaṁ apesayi; Pāṇinā talamāhacca, saraṁ katvāna bheravaṁ.
And so there the great general, the Dark Lord sent forth his army. He struck the ground with his fist to make a horrifying sound
Như vậy, tại nơi ấy, Hắc Thần (Ma vương) có đại quân, đã phái binh đoàn đi, sau khi dùng tay đập xuống đất và tạo ra âm thanh khủng khiếp.
Yathā pāvussako megho, thanayanto savijjuko; Tadā so paccudāvatti, saṅkuddho asayaṁvase.
like a monsoon cloud, thundering and flashing. But then turned back, furious, out of control.
Giống như đám mây mùa mưa, sấm sét vang rền cùng với chớp giật; khi ấy, Ma vương phẫn nộ, không tự chủ được, đã phải rút lui.
Tañca sabbaṁ abhiññāya, vavatthitvāna cakkhumā;
And all that was known and distinguished by the Clear-eyed One.
343. Và bậc Hữu Nhãn (Phật), sau khi đã thắng tri và xác định được tất cả sự việc ấy.
Bấy giờ, bậc Đạo Sư gọi các vị đệ tử đang hoan hỷ trong giáo pháp.
‘Mārasenā abhikkantā, te vijānātha bhikkhavo’; Te ca ātappamakaruṁ, sutvā buddhassa sāsanaṁ; Vītarāgehi pakkāmuṁ, nesaṁ lomāpi iñjayuṁ.
“Māra’s army has arrived; mendicants, you should be aware of them.” Those monks grew keen, hearing the Buddha’s instruction. The army fled from those free of passion, and not a single hair was stirred!
‘Này các Tỳ-khưu, đội quân Ma vương đã tiến đến, các ngươi hãy nhận biết chúng.’ Sau khi nghe lời dạy của Đức Phật, các vị ấy đã nỗ lực tinh tấn. Đội quân Ma vương đã rút lui khỏi các bậc ly tham, chúng không thể làm lay động dù chỉ một sợi lông của các vị ấy.
‘Sabbe vijitasaṅgāmā, bhayātītā yasassino; Modanti saha bhūtehi, sāvakā te janesutā’”ti.
“All triumphant in battle, so fearless and glorious. They rejoice with all the spirits, the disciples renowned among men.”
‘Tất cả các vị đệ tử ấy, những người đã chiến thắng trận mạc, đã vượt qua sợ hãi, có danh tiếng, được mọi người biết đến, cùng với các bậc thánh hân hoan vui mừng.’
Mahāsamayasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kinh Đại Hội, kinh thứ bảy, đã chấm dứt.