- Dīgha Nikāya 22
Mahāsatipaṭṭhānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsatipaṭṭhānasutta
Tôi nghe như vậy.
SC 11 Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), tại Kammāsadhamma (Kiềm ma sắt đàm)—đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo.” Các Tỷ kheo trả lời Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn.” Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.
SC 3Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.
SC 4PTS cs 2 Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán thân trên thân?
SC 5Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”; Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
SC 6Này các tỷ kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay tuệ tri thiện xảo, khi quay dài, tuệ tri rằng: “Tôi quay dài”; hay khi quay ngắn, tuệ tri rằng: “Tôi quay ngắn.” Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
SC 7Như vậy, vị ấy sống, quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 8PTS cs 3 Lại nữa, này các Tỷ keo, Tỷ kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”; hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”; hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy.
SC 9Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 10PTS cs 4 Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo, khi bước tới, bước lui, biết rõ việc mình đang làm. Khi ngó tới, ngó lui, biết rõ việc mình đang làm. Khi co tay khi duỗi tay biết rõ việc mình đang làm. Khi mang áo Sanghàti (Tăng-già-lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm. Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, biết rõ việc mình đang làm.
SC 11Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 12PTS cs 5 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu.”
SC 13Này các Tỷ kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu đỏ, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi.” Cũng vậy, này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu.”
SC 14Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 15PTS cs 6 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.”
SC 16Này các Tỷ kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo quán sát thân nay về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.”
SC 17Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ keo sống quán thân trên thân.
SC 18PTS cs 7 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo, như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”
SC 19Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 20PTS cs 8 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”
SC 21Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thên trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 22PTS cs 9 Này các Tỷ kheo, lại nữa Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa; với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại, với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu, … Tỷ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
SC 23Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 24PTS cs 10 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc … chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm … chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”
SC 25Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
SC 26PTS cs 11 Này các Tỷ kheo, như thế nào Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ?
SC 27Này các Tỷ kheo, ở nơi đây Tỷ kheo khi cảm giác lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.
SC 28Như vậy vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên cả các nội thọ, ngoại thọ. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ.
SC 29PTS cs 12 Này các Tỷ kheo, như thế nào Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm?
SC 30Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo: “Với tâm có tham, biết rằng tâm có tham”; hay “Với tâm không tham, biết rằng tâm không tham”; hay “Với tâm có sân, biết rằng tâm có sân”; hay “Với tâm không sân, biết rằng tâm không sân”; hay “Với tâm có si, biết rằng tâm có si”; hay “Với tâm không si, biết rằng tâm không si”; hay “Với tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm được thâu nhiếp”; hay “Với tâm tán loạn, biết rằng tâm bị tán loạn”; hay “Với tâm quảng đại, biết rằng tâm được quảng đại”; hay “Với tâm không quảng đại, biết rằng tâm không được quảng đại”; hay “Với tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn”; hay “Với tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng”; hay “Với tâm có định, biết rằng tâm có định”; hay “Với tâm không định, biết rằng tâm không định”; hay “Với tâm giải thoát, biết rằng tâm có giải thoát”; hay “Với tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát”.
SC 31Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm.
SC 32PTS cs 13 Này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp?
SC 33Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ kheo, thế nào là vị Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?
SC 34Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, nội tâm có tham dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có tham dục”; hay nội tâm không có tham dục, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có tham dục”. Và với tham dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 35Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có sân hận.” Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với sân hận đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 36Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 37Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 38Hay nội tâm có nghi, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có nghi.” Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với nghi đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy, và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 39Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp, đối với năm triền cái.
SC 40PTS cs 14 Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn?
SC 41Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt”. Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp; hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Năm Thủ uẩn.
SC 42PTS cs 15 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ.
SC 43Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ?
SC 44Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy … và tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng … và tuệ tri mũi và tuệ tri các hương … và tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị … và tuệ tri thân và tuệ tri các xúc … và tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 45Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp; hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp, đối với Sáu Nội Ngoại xứ.
SC 46PTS cs 16 Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
SC 47Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, nội tâm có Niệm Giác chi, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có Niệm Giác chi”, hay nội tâm không có Niệm Giác chi, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có Niệm Giác chi”; và với Niệm Giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với Niệm Giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 48Hay nội tâm có Trạch pháp Giác chi …
SC 49Hay nội tâm có Tinh tấn Giác chi …
SC 50Hay nội tâm có Hỷ Giác chi …
SC 51Hay nội tâm có Khinh an Giác chi …
SC 52Hay nội tâm có Ðịnh Giác chi …
SC 53Hay nội tâm có Xả Giác chi; tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi có Xả Giác chi”; hay nội tâm không có Xả Giác chi, tuệ tri rằng: “Nội tâm tôi không có Xả Giác chi.” Và với Xả Giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với Xả Giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
SC 54Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên cả các nội pháp, ngoại pháp. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”; vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
SC 55PTS cs 17 Lại nữa này các Tỷ kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự thật.
SC 56Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự thật? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo như thật tuệ tri: “Ðây là khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
SC 57PTS cs 18 Và này các Tỷ kheo, thế nào Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi. Khổ, ưu, não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
SC 58Này các Tỷ kheo thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh của họ, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sanh.
SC 59Này các Tỷ kheo, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới hạn, sự niên lão, sự hủy hoại, trạng thái rụng răng, trạng thái tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này các Tỷ kheo, như vậy là già.
SC 60Này các Tỷ kheo, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là chết.
SC 61Này các Tỷ kheo, thế nào gọi là sầu? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu, sự sầu lo, sự sầu muộn, nội sầu, mọi khổ sầu của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là sầu.
SC 62Này các Tỷ kheo, thế nào là bi? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than van, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là bi.
SC 63Này các Tỷ kheo, thế nào là khổ? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là khổ.
SC 64Này các Tỷ kheo, thế nào là ưu? Này các Tỷ kheo, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là ưu.
SC 65Này các Tỷ kheo, thế nào là não? Này các Tỷ kheo, với những ai gặp tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là não.
SC 66Này các Tỷ kheo, thế nào là cầu bất đắc khổ? Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối, mong rằng ta khỏi phải đi thác sanh”. Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Như vậy gọi là cầu bất đắc khổ! Này các Tỷ kheo, chúng sanh bị già chi phối … chúng sanh bị bệnh chi phối … chúng sanh bị chết chi phối. Chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối! Mong rằng ta khỏi đương chịu sầu, bi, khổ, ưu, não”. Lời mong cầu ấy không được thành tựu. Như vậy là cầu bất đắc khổ.
SC 67Này các Tỷ kheo, như thế nào là tóm lại, Năm Thủ uẩn là khổ? Như Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn. Này các Tỷ kheo, như vậy tóm lại Năm Thủ uẩn là khổ.
SC 68PTS cs 19 Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
SC 69Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai … ở đời mũi … ở đời lưỡi … ở đời thân … ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 70Ở đời các sắc … ở đời các tiếng … ở đời các hương … ở đời các vị … ở đời các cảm xúc … ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 71Ở đời nhãn thức … ở đời nhĩ thức … ở đời tỷ thức … ở đời thiệt thức … ở đời thân thức … ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 72Ở đời nhãn xúc … ở đời nhĩ xúc … ở đời tỷ xúc … ở đời thiệt xúc … ở đời thân xúc … ở đời ý xúc là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 73Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ … ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ … ở đời tỷ xúc sở sanh thọ … ở đời thiệt xúc sở thanh thọ … ở đời thân xúc sở sanh thọ … ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 74Ở đời sắc tưởng … ở đời thanh tưởng … ở đời hương tưởng … ở đời vị tưởng … ở đời xúc tưởng … ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 75Ở đời sắc tư … ở đời thanh tư … ở đời hương tư … ở đời vị tư … ở đời xúc tư … ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 76Ở đời sắc ái … ở đời thanh ái … ở đời hương ái … ở đời vị ái … ở đời xúc ái … ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đây.
SC 77Ở đời sắc tầm … ở đời thanh tầm … ở đời hương tầm … ở đời vị tầm … ở đời xúc tầm … ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
SC 78Ở đời sắc tứ … ở đời thanh tứ … ở đời hương tứ … ở đời vị tứ … ở đời xúc tứ … ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
SC 79PTS cs 20 Này các Tỷ kheo, và thế nào là Khổ diệt Thánh đế? Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm (tham ái ấy).
SC 80Này các Tỷ kheo, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đâu, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đâu? Ở đời các sắc gì thân, các sắc gì ái, sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 81Ở đời sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy. Ở đời lỗ tai … ở đời mũi … ở đời lưỡi … ở đời thân … ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 82Ở đời các sắc … ở đời các tiếng … ở đời các mùi hương … ở đời các vị. Ở đời các xúc … ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 83Ở đời nhãn thức … ở đời nhĩ thức … ở đời tỷ thức … ở đời thiệt thức … ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 84Ở đời nhãn xúc … ở đời nhĩ xúc … ở đời tỷ xúc … ở đời thiệt xúc … ở đời thân xúc … ở đời ý xúc là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 85Ở đời nhãn xúc sở sanh thọ … ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ … ở đời tỷ xúc sở sanh thọ … ở đời thiệt xúc sở sanh thọ … ở đời thân xúc sở sanh thọ. Ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 86Ở đời sắc tưởng … ở đời thanh tưởng … ở đời hương tưởng … ở đời vị tưởng … ở đời xúc tưởng … ở đời pháp tưởng là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 87Ở đời sắc tư … ở đời thanh tư … ở đời hương tư … ở đời vị tư … ở đời xúc tư … ở đời pháp tư là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 88Ở đời sắc ái … ở đời thanh ái … ở đời hương ái … ở đời vị ái … ở đời xúc ái … ở đời pháp ái là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 89Ở đời sắc tầm … ở đời thanh tầm … ở đời hương tầm … ở đời vị tầm … ở đời xúc tầm … ở đời pháp tầm là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 90Ở đời sắc tứ … ở đời thanh tứ … ở đời hương tứ … ở đời vị tứ … ở đời xúc tứ … ở đời pháp tứ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi xả ly thì xả ly ở đấy, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đấy.
SC 91Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế.
SC 92PTS cs 21 Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế. Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
SC 93Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến.
SC 94Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này các tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tư duy.
SC 95Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.
SC 96Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
SC 97Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.
SC 98Này các Tỷ kheo, và thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.
SC 99Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ … trên các tâm … quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.
SC 100Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh định? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh định.
SC 101Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Khổ diệt đạo thánh đế.
SC 102Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.
SC 103PTS cs 22 Này các Tỷ kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm … trong năm năm … trong bốn năm … trong ba năm … trong hai năm … trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng … trong năm tháng … trong bốn tháng … trong ba tháng … trong hai tháng … trong một tháng … trong nửa tháng … vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
SC 104Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh lý, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
SC 105Thế Tôn thuyết pháp đã xong. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Xem bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Đại Niệm Xứ
“Bhaddante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
372. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadhamma. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Ekāyano ayaṁ, bhikkhave, maggo sattānaṁ visuddhiyā, sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṁ cattāro satipaṭṭhānā.
“Mendicants, the four kinds of mindfulness meditation are the path to convergence. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment.
373. Này các Tỳ khưu, đây là con đường độc nhất, đưa đến sự thanh tịnh cho chúng sanh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để thành tựu chánh trí, để chứng ngộ Niết-bàn, đó là bốn niệm xứ.
Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ, vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ, citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ, dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of the mind—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
Thế nào là bốn? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Uddeso niṭṭhito.
Dứt phần Đề Cương.
Quán Thân - Phẩm Hơi Thở
Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So satova assasati, satova passasati.
Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti.
Rassaṁ vā assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāti.
‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati.
‘Passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati.
And how does a mendicant meditate observing an aspect of the body?
It’s when a mendicant—gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut—sits down cross-legged, sets their body straight, and brings mindfulness to the present. Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out.
Breathing in heavily they know: ‘I’m breathing in heavily.’ Breathing out heavily they know: ‘I’m breathing out heavily.’
Breathing in lightly they know: ‘I’m breathing in lightly.’ Breathing out lightly they know: ‘I’m breathing out lightly.’
They practice like this: ‘I’ll breathe in experiencing the whole body.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out experiencing the whole body.’
They practice like this: ‘I’ll breathe in stilling the physical process.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out stilling the physical process.’
374. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi ngồi kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy thở ra chánh niệm, thở vào chánh niệm. Khi thở ra dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra dài’; hay khi thở vào dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở vào dài’. Khi thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra ngắn’; hay khi thở vào ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở vào ngắn’. Vị ấy tập: ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra’; vị ấy tập: ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào’. Vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra’; vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vào’.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho bhamakāro vā bhamakārantevāsī vā dīghaṁ vā añchanto ‘dīghaṁ añchāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā añchanto ‘rassaṁ añchāmī’ti pajānāti; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāti. ‘Sabbakāyapaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyapaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati.
Iti ajjhattaṁ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
It’s like a deft lathe-turner or lathe-turner’s apprentice. When drawing a long pull they know: ‘I’m drawing a long pull,’ and when drawing a short pull they know: ‘I’m drawing a short pull.’
And so they meditate observing an aspect of the body internally, externally, and both internally and externally. With respect to the body, they meditate observing the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that the body exists, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Này các Tỳ khưu, ví như người thợ tiện thiện xảo hay đệ tử của người thợ tiện, khi quay một vòng dài, tuệ tri: ‘Tôi quay một vòng dài’; hay khi quay một vòng ngắn, tuệ tri: ‘Tôi quay một vòng ngắn’. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khi thở ra dài, tuệ tri: ‘Tôi thở ra dài’; hay khi thở vào dài, tuệ tri: ‘Tôi thở vào dài’; khi thở ra ngắn, tuệ tri: ‘Tôi thở ra ngắn’; hay khi thở vào ngắn, tuệ tri: ‘Tôi thở vào ngắn’. Vị ấy tập: ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra’; vị ấy tập: ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra’; vị ấy tập: ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vào’. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân, hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân, hay sống quán tánh diệt tận trên thân, hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Hay chánh niệm ‘có thân đây’ được an trú nơi vị ấy, cho đến mức độ chánh trí và chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Ānāpānapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Dứt phẩm Hơi Thở.
Quán Thân - Phẩm Oai Nghi
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu gacchanto vā ‘gacchāmī’ti pajānāti, ṭhito vā ‘ṭhitomhī’ti pajānāti, nisinno vā ‘nisinnomhī’ti pajānāti, sayāno vā ‘sayānomhī’ti pajānāti, yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti tathā tathā naṁ pajānāti.
Iti ajjhattaṁ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
Furthermore, when a mendicant is walking they know: ‘I am walking.’ When standing they know: ‘I am standing.’ When sitting they know: ‘I am sitting.’ And when lying down they know: ‘I am lying down.’ Whatever posture their body is in, they know it.
And so they meditate observing an aspect of the body internally, externally, and both internally and externally. They meditate observing, with respect to the body, the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that the body exists, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
375. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khi đi, tuệ tri: ‘Tôi đi’; khi đứng, tuệ tri: ‘Tôi đứng’; khi ngồi, tuệ tri: ‘Tôi ngồi’; khi nằm, tuệ tri: ‘Tôi nằm’. Thân này được an trú như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân, hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên cả nội thân và ngoại thân. Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân, hay sống quán tánh diệt tận trên thân, hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Hay chánh niệm ‘có thân đây’ được an trú nơi vị ấy, cho đến mức độ chánh trí và chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Iriyāpathapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Dứt phẩm Oai Nghi.
Quán Thân - Phẩm Tỉnh Giác
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
Iti ajjhattaṁ vā …pe…
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
Furthermore, a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl, and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
And so they meditate observing an aspect of the body internally …
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
376. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khi bước tới, khi bước lui, đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y tăng-già-lê, y bát, y vai, đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân... (như trên)... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Sampajānapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Dứt phẩm Tỉnh Giác.
Quán Thân - Phẩm Quán Sự Bất Tịnh
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā nakhā dantā taco, maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ, hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ, antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ, pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo, assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttan’ti.
Furthermore, a mendicant examines their own body, up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. ‘In this body there is head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine.’
377. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, đầy những vật bất tịnh sai khác: ‘Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tủy xương, thận; tim, gan, màng nhầy, lá lách, phổi; ruột, màng ruột, thức ăn trong dạ dày, phân; mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu’.
Seyyathāpi, bhikkhave, ubhatomukhā putoḷi pūrā nānāvihitassa dhaññassa, seyyathidaṁ—sālīnaṁ vīhīnaṁ muggānaṁ māsānaṁ tilānaṁ taṇḍulānaṁ. Tamenaṁ cakkhumā puriso muñcitvā paccavekkheyya: ‘ime sālī, ime vīhī ime muggā ime māsā ime tilā ime taṇḍulā’ti.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā …pe… muttan’ti.
It’s as if there were a bag with openings at both ends, filled with various kinds of grains, such as fine rice, wheat, mung beans, peas, sesame, and ordinary rice. And a person with clear eyes were to open it and examine the contents: ‘These grains are fine rice, these are wheat, these are mung beans, these are peas, these are sesame, and these are ordinary rice.’
Này các Tỳ khưu, ví như có một cái túi có hai miệng, đầy các loại hạt khác nhau, nghĩa là: gạo salī, lúa, đậu xanh, đậu muồng, mè, gạo lứt. Một người có mắt mở túi ra và quán xét: ‘Đây là gạo salī, đây là lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu muồng, đây là mè, đây là gạo lứt’. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên, từ ngọn tóc trở xuống, được bao bọc bởi da, đầy những vật bất tịnh sai khác: ‘Trong thân này có: tóc, lông... cho đến... nước tiểu’.
Iti ajjhattaṁ vā …pe…
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
And so they meditate observing an aspect of the body internally …
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần... cho đến... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Paṭikūlamanasikārapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần Tác Ý Về Sự Ghê Tởm đã kết thúc.
Quán Thân - Phần Tác Ý Về Các Giới
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ yathāṭhitaṁ yathāpaṇihitaṁ dhātuso paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.
Furthermore, a mendicant examines their own body, whatever its placement or posture, according to the elements: ‘In this body there is the earth element, the water element, the fire element, and the air element.’
378. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, dù được đặt để ra sao, theo các giới: ‘Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại’.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā catumahāpathe bilaso vibhajitvā nisinno assa; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ yathāṭhitaṁ yathāpaṇihitaṁ dhātuso paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti.
It’s as if a deft butcher or butcher’s apprentice were to kill a cow and sit down at the crossroads with the meat cut into chops.
Này các Tỳ khưu, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử của người đồ tể, sau khi giết một con bò, chia nó ra từng phần và ngồi ở ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, dù được đặt để ra sao, theo các giới: ‘Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại’.
Iti ajjhattaṁ vā kāye kāyānupassī viharati …pe…
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
And so they meditate observing an aspect of the body internally …
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần... cho đến... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Dhātumanasikārapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần Tác Ý Về Các Giới đã kết thúc.
Quán Thân - Phần Chín Loại Tử Thi Ở Nghĩa Địa
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ ekāhamataṁ vā dvīhamataṁ vā tīhamataṁ vā uddhumātakaṁ vinīlakaṁ vipubbakajātaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti.
Furthermore, suppose a mendicant were to see a corpse discarded in a charnel ground. And it had been dead for one, two, or three days, bloated, livid, and festering. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’
379. Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ví như thấy một tử thi bị vất bỏ trong nghĩa địa, chết một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, sình trướng, xanh tím, rỉ mủ. Vị ấy so sánh với chính thân này: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi điều đó’.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần... cho đến... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ kākehi vā khajjamānaṁ kulalehi vā khajjamānaṁ gijjhehi vā khajjamānaṁ kaṅkehi vā khajjamānaṁ sunakhehi vā khajjamānaṁ byagghehi vā khajjamānaṁ dīpīhi vā khajjamānaṁ siṅgālehi vā khajjamānaṁ vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti.
Furthermore, suppose they were to see a corpse discarded in a charnel ground being devoured by crows, hawks, vultures, herons, hounds, tigers, leopards, jackals, and many kinds of little creatures. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ví như thấy một tử thi bị vất bỏ trong nghĩa địa, đang bị quạ, hoặc diều hâu, hoặc kền kền, hoặc diệc, hoặc chó, hoặc cọp, hoặc báo, hoặc chó rừng, hoặc các loài sinh vật khác nhau ăn. Vị ấy so sánh với chính thân này: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi điều đó’.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần... cho đến... Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ samaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ …pe…
Aṭṭhikasaṅkhalikaṁ nimaṁsalohitamakkhitaṁ nhārusambandhaṁ …pe…
Aṭṭhikasaṅkhalikaṁ apagatamaṁsalohitaṁ nhārusambandhaṁ …pe…
Aṭṭhikāni apagatasambandhāni disā vidisā vikkhittāni, aññena hatthaṭṭhikaṁ aññena pādaṭṭhikaṁ aññena gopphakaṭṭhikaṁ aññena jaṅghaṭṭhikaṁ aññena ūruṭṭhikaṁ aññena kaṭiṭṭhikaṁ aññena phāsukaṭṭhikaṁ aññena piṭṭhiṭṭhikaṁ aññena khandhaṭṭhikaṁ aññena gīvaṭṭhikaṁ aññena hanukaṭṭhikaṁ aññena dantaṭṭhikaṁ aññena sīsakaṭāhaṁ. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti.
Furthermore, suppose they were to see a corpse discarded in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together by sinews …
A skeleton without flesh but smeared with blood, and held together by sinews …
A skeleton rid of flesh and blood, held together by sinews …
Bones rid of sinews scattered in every direction. Here a hand-bone, there a foot-bone, here an ankle bone, there a shin-bone, here a thigh-bone, there a hip-bone, here a rib-bone, there a back-bone, here an arm-bone, there a neck-bone, here a jaw-bone, there a tooth, here the skull. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ví như thấy một tử thi bị vất bỏ trong nghĩa địa, một bộ xương còn dính thịt và máu, được nối với nhau bằng gân... cho đến... một bộ xương không còn thịt nhưng dính máu, được nối với nhau bằng gân... cho đến... một bộ xương không còn thịt và máu, được nối với nhau bằng gân... cho đến... những khúc xương không còn nối với nhau, vương vãi khắp nơi, xương tay một nơi, xương chân một nơi, xương mắt cá một nơi, xương ống chân một nơi, xương đùi một nơi, xương hông một nơi, xương sườn một nơi, xương sống một nơi, xương vai một nơi, xương cổ một nơi, xương hàm một nơi, xương răng một nơi, xương sọ một nơi. Vị ấy so sánh với chính thân này: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi điều đó’.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần... cho đến... sống.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu seyyathāpi passeyya sarīraṁ sivathikāya chaḍḍitaṁ aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni …pe…
Aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni …pe…
Aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni. So imameva kāyaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti. Iti ajjhattaṁ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṁ viharati. ‘Atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati.
White bones, the color of shells …
Decrepit bones, heaped in a pile …
Bones rotted and crumbled to powder. They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’ And so they meditate observing an aspect of the body internally, externally, and both internally and externally. With respect to the body, they meditate observing the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that the body exists, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That too is how a mendicant meditates by observing an aspect of the body.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ví như thấy một tử thi bị vất bỏ trong nghĩa địa, những khúc xương trắng như màu vỏ ốc... cho đến... những khúc xương chất thành đống, đã hơn một năm... cho đến... những khúc xương mục nát, đã thành bột. Vị ấy so sánh với chính thân này: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, sẽ trở thành như vậy, không thể thoát khỏi điều đó’. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên thân ở nội phần, hoặc sống quán thân trên thân ở ngoại phần, hoặc sống quán thân trên thân ở cả nội phần và ngoại phần. Vị ấy sống quán các pháp sanh khởi trên thân, hoặc sống quán các pháp diệt tận trên thân, hoặc sống quán các pháp sanh diệt trên thân. Hoặc chánh niệm của vị ấy được thiết lập với sự hiểu biết: ‘Có thân này’, chỉ trong chừng mực cần thiết cho trí tuệ và chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, và không chấp thủ bất cứ điều gì trên đời. Này các Tỳ khưu, như vậy vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân.
Navasivathikapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần Chín Loại Tử Thi Ở Nghĩa Địa đã kết thúc.
Cuddasa kāyānupassanā niṭṭhitā.
Mười Bốn Pháp Quán Thân đã kết thúc.
Quán Thọ
Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sukhaṁ vā vedanaṁ vedayamāno ‘sukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Dukkhaṁ vā vedanaṁ vedayamāno ‘dukkhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Adukkhamasukhaṁ vā vedanaṁ vedayamāno ‘adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Sāmisaṁ vā sukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘sāmisaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Nirāmisaṁ vā sukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘nirāmisaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Sāmisaṁ vā dukkhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘sāmisaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Nirāmisaṁ vā dukkhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘nirāmisaṁ dukkhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Sāmisaṁ vā adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘sāmisaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Nirāmisaṁ vā adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘nirāmisaṁ adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
Iti ajjhattaṁ vā vedanāsu vedanānupassī viharati, bahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā vedanāsu vedanānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā vedanāsu viharati, vayadhammānupassī vā vedanāsu viharati, samudayavayadhammānupassī vā vedanāsu viharati. ‘Atthi vedanā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati.
And how does a mendicant meditate observing an aspect of feelings?
It’s when a mendicant who feels a pleasant feeling knows: ‘I feel a pleasant feeling.’
When they feel a painful feeling, they know: ‘I feel a painful feeling.’
When they feel a neutral feeling, they know: ‘I feel a neutral feeling.’
When they feel a pleasant feeling of the flesh, they know: ‘I feel a pleasant feeling of the flesh.’
When they feel a pleasant feeling not of the flesh, they know: ‘I feel a pleasant feeling not of the flesh.’
When they feel a painful feeling of the flesh, they know: ‘I feel a painful feeling of the flesh.’
When they feel a painful feeling not of the flesh, they know: ‘I feel a painful feeling not of the flesh.’
When they feel a neutral feeling of the flesh, they know: ‘I feel a neutral feeling of the flesh.’
When they feel a neutral feeling not of the flesh, they know: ‘I feel a neutral feeling not of the flesh.’
And so they meditate observing an aspect of feelings internally, externally, and both internally and externally. With respect to feelings, they meditate observing the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that feelings exist, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of feelings.
380. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu khi cảm giác một lạc thọ, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một lạc thọ’. Khi cảm giác một khổ thọ, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một khổ thọ’. Khi cảm giác một thọ không khổ không lạc, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một thọ không khổ không lạc’. Khi cảm giác một lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một lạc thọ thuộc vật chất’, hay khi cảm giác một lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một lạc thọ không thuộc vật chất’. Khi cảm giác một khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một khổ thọ thuộc vật chất’, hay khi cảm giác một khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một khổ thọ không thuộc vật chất’. Khi cảm giác một thọ không khổ không lạc thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một thọ không khổ không lạc thuộc vật chất’, hay khi cảm giác một thọ không khổ không lạc không thuộc vật chất, tuệ tri: ‘Tôi đang cảm giác một thọ không khổ không lạc không thuộc vật chất’. Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các thọ ở nội tâm, hay sống quán thọ trên các thọ ở ngoại cảnh, hay sống quán thọ trên các thọ ở cả nội tâm và ngoại cảnh. Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ, hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. Hay chánh niệm ‘có thọ đây’ được thiết lập nơi vị ấy, chỉ với mục đích cho trí tuệ và cho chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp thủ bất cứ điều gì ở trên đời. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu sống quán thọ trên các thọ.
Vedanānupassanā niṭṭhitā.
Phần Quán Thọ đã hoàn tất.
Quán Tâm
Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu citte cittānupassī viharati?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānāti. Vītarāgaṁ vā cittaṁ ‘vītarāgaṁ cittan’ti pajānāti. Sadosaṁ vā cittaṁ ‘sadosaṁ cittan’ti pajānāti. Vītadosaṁ vā cittaṁ ‘vītadosaṁ cittan’ti pajānāti. Samohaṁ vā cittaṁ ‘samohaṁ cittan’ti pajānāti. Vītamohaṁ vā cittaṁ ‘vītamohaṁ cittan’ti pajānāti. Saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘saṅkhittaṁ cittan’ti pajānāti. Vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘vikkhittaṁ cittan’ti pajānāti. Mahaggataṁ vā cittaṁ ‘mahaggataṁ cittan’ti pajānāti. Amahaggataṁ vā cittaṁ ‘amahaggataṁ cittan’ti pajānāti. Sauttaraṁ vā cittaṁ ‘sauttaraṁ cittan’ti pajānāti. Anuttaraṁ vā cittaṁ ‘anuttaraṁ cittan’ti pajānāti. Samāhitaṁ vā cittaṁ ‘samāhitaṁ cittan’ti pajānāti. Asamāhitaṁ vā cittaṁ ‘asamāhitaṁ cittan’ti pajānāti. Vimuttaṁ vā cittaṁ ‘vimuttaṁ cittan’ti pajānāti. Avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānāti.
Iti ajjhattaṁ vā citte cittānupassī viharati, bahiddhā vā citte cittānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā citte cittānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā cittasmiṁ viharati, vayadhammānupassī vā cittasmiṁ viharati, samudayavayadhammānupassī vā cittasmiṁ viharati. ‘Atthi cittan’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu citte cittānupassī viharati.
And how does a mendicant meditate observing an aspect of the mind?
It’s when a mendicant understands mind with greed as ‘mind with greed,’ and mind without greed as ‘mind without greed.’ They understand mind with hate as ‘mind with hate,’ and mind without hate as ‘mind without hate.’ They understand mind with delusion as ‘mind with delusion,’ and mind without delusion as ‘mind without delusion.’ They know constricted mind as ‘constricted mind,’ and scattered mind as ‘scattered mind.’ They know expansive mind as ‘expansive mind,’ and unexpansive mind as ‘unexpansive mind.’ They know mind that is not supreme as ‘mind that is not supreme,’ and mind that is supreme as ‘mind that is supreme.’ They know mind immersed in samādhi as ‘mind immersed in samādhi,’ and mind not immersed in samādhi as ‘mind not immersed in samādhi.’ They know freed mind as ‘freed mind,’ and unfreed mind as ‘unfreed mind.’
And so they meditate observing an aspect of the mind internally, externally, and both internally and externally. With respect to the mind, they meditate observing the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that the mind exists, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of the mind.
381. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu sống quán tâm trên tâm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu, với tâm có tham, tuệ tri: ‘Tâm có tham’, hay với tâm không tham, tuệ tri: ‘Tâm không tham’. Với tâm có sân, tuệ tri: ‘Tâm có sân’, hay với tâm không sân, tuệ tri: ‘Tâm không sân’. Với tâm có si, tuệ tri: ‘Tâm có si’, hay với tâm không si, tuệ tri: ‘Tâm không si’. Với tâm co rút, tuệ tri: ‘Tâm co rút’, hay với tâm phân tán, tuệ tri: ‘Tâm phân tán’. Với tâm quảng đại, tuệ tri: ‘Tâm quảng đại’, hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: ‘Tâm không quảng đại’. Với tâm hữu hạn, tuệ tri: ‘Tâm hữu hạn’, hay với tâm vô thượng, tuệ tri: ‘Tâm vô thượng’. Với tâm có định, tuệ tri: ‘Tâm có định’, hay với tâm không có định, tuệ tri: ‘Tâm không có định’. Với tâm được giải thoát, tuệ tri: ‘Tâm được giải thoát’. Hay với tâm không được giải thoát, tuệ tri: ‘Tâm không được giải thoát’. Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên tâm ở nội tâm, hay sống quán tâm trên tâm ở ngoại cảnh, hay sống quán tâm trên tâm ở cả nội tâm và ngoại cảnh. Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên tâm, hay sống quán tánh diệt tận trên tâm, hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm, hay chánh niệm ‘có tâm đây’ được thiết lập nơi vị ấy, chỉ với mục đích cho trí tuệ và cho chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp thủ bất cứ điều gì ở trên đời. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu sống quán tâm trên tâm.
Cittānupassanā niṭṭhitā.
Phần Quán Tâm đã hoàn tất.
Quán Pháp - Phần Các Triền Cái
Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu?
And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles?
It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the five hindrances. And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles with respect to the five hindrances?
382. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?
Idha, bhikkhave, bhikkhu santaṁ vā ajjhattaṁ kāmacchandaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ kāmacchando’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ kāmacchandaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ kāmacchando’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa kāmacchandassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa kāmacchandassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa kāmacchandassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
It’s when a mendicant who has sensual desire in them understands: ‘I have sensual desire in me.’ When they don’t have sensual desire in them, they understand: ‘I don’t have sensual desire in me.’ They understand how sensual desire arises; how, when it’s already arisen, it’s given up; and how, once it’s given up, it doesn’t arise again in the future.
Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu, khi có tham dục ở nội tâm, tuệ tri: ‘Có tham dục ở nội tâm tôi’, hay khi không có tham dục ở nội tâm, tuệ tri: ‘Không có tham dục ở nội tâm tôi’, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà tham dục chưa sanh lại sanh khởi, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà tham dục đã sanh được đoạn trừ, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà tham dục đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Santaṁ vā ajjhattaṁ byāpādaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ byāpādo’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ byāpādaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ byāpādo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa byāpādassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa byāpādassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa byāpādassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
When they have ill will in them, they understand: ‘I have ill will in me.’ When they don’t have ill will in them, they understand: ‘I don’t have ill will in me.’ They understand how ill will arises; how, when it’s already arisen, it’s given up; and how, once it’s given up, it doesn’t arise again in the future.
Khi có sân hận ở nội tâm, tuệ tri: ‘Có sân hận ở nội tâm tôi’, hay khi không có sân hận ở nội tâm, tuệ tri: ‘Không có sân hận ở nội tâm tôi’, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà sân hận chưa sanh lại sanh khởi, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà sân hận đã sanh được đoạn trừ, và vị ấy tuệ tri như thế nào mà sân hận đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Santaṁ vā ajjhattaṁ thinamiddhaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ thinamiddhan’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ thinamiddhaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ thinamiddhan’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa thinamiddhassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa thinamiddhassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa thinamiddhassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
When they have dullness and drowsiness in them, they understand: ‘I have dullness and drowsiness in me.’ When they don’t have dullness and drowsiness in them, they understand: ‘I don’t have dullness and drowsiness in me.’ They understand how dullness and drowsiness arise; how, when they’ve already arisen, they’re given up; and how, once they’re given up, they don’t arise again in the future.
“Hoặc khi có hôn trầm thụy miên nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi có hôn trầm thụy miên’; hoặc khi không có hôn trầm thụy miên nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi không có hôn trầm thụy miên’; và vị ấy tuệ tri do duyên nào hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào hôn trầm thụy miên đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Santaṁ vā ajjhattaṁ uddhaccakukkuccaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ uddhaccakukkuccan’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ uddhaccakukkuccaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ uddhaccakukkuccan’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa uddhaccakukkuccassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa uddhaccakukkuccassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa uddhaccakukkuccassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
When they have restlessness and remorse in them, they understand: ‘I have restlessness and remorse in me.’ When they don’t have restlessness and remorse in them, they understand: ‘I don’t have restlessness and remorse in me.’ They understand how restlessness and remorse arise; how, when they’ve already arisen, they’re given up; and how, once they’re given up, they don’t arise again in the future.
“Hoặc khi có trạo cử hối quá nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi có trạo cử hối quá’; hoặc khi không có trạo cử hối quá nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi không có trạo cử hối quá’; và vị ấy tuệ tri do duyên nào trạo cử hối quá chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào trạo cử hối quá đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào trạo cử hối quá đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Santaṁ vā ajjhattaṁ vicikicchaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ vicikicchā’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ vicikicchaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ vicikicchā’ti pajānāti, yathā ca anuppannāya vicikicchāya uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannāya vicikicchāya pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnāya vicikicchāya āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
When they have doubt in them, they understand: ‘I have doubt in me.’ When they don’t have doubt in them, they understand: ‘I don’t have doubt in me.’ They understand how doubt arises; how, when it’s already arisen, it’s given up; and how, once it’s given up, it doesn’t arise again in the future.
“Hoặc khi có nghi ngờ nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi có nghi ngờ’; hoặc khi không có nghi ngờ nội tại, vị ấy tuệ tri: ‘Trong tôi không có nghi ngờ’; và vị ấy tuệ tri do duyên nào nghi ngờ chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào nghi ngờ đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào nghi ngờ đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Iti ajjhattaṁ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu nīvaraṇesu.
And so they meditate observing an aspect of principles internally, externally, and both internally and externally. They meditate observing the principles as liable to originate, as liable to fall, and as liable to both originate and vanish. Or mindfulness is established that principles exist, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the five hindrances.
“Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp ở nội tâm, hay sống quán pháp trên các pháp ở ngoại cảnh, hay sống quán pháp trên các pháp ở cả nội tâm lẫn ngoại cảnh. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. ‘Có các pháp đây’, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các tỳ khưu, tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái là như vậy.
Nīvaraṇapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần về các Triền cái đã kết thúc.
Quán Pháp – Phần Uẩn
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu?
Idha, bhikkhave, bhikkhu: ‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā, iti vedanāya samudayo, iti vedanāya atthaṅgamo; iti saññā, iti saññāya samudayo, iti saññāya atthaṅgamo; iti saṅkhārā, iti saṅkhārānaṁ samudayo, iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo, iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti, iti ajjhattaṁ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati pañcasu upādānakkhandhesu.
Furthermore, a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the five grasping aggregates. And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles with respect to the five grasping aggregates?
It’s when a mendicant contemplates: ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ And so they meditate observing an aspect of principles internally …
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the five grasping aggregates.
383. “Lại nữa, này các tỳ khưu, tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Và này các tỳ khưu, thế nào là tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Ở đây, này các tỳ khưu, tỳ khưu (quán như sau): ‘Đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Đây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Đây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Đây là các hành, đây là các hành tập khởi, đây là các hành đoạn diệt. Đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt’. Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp ở nội tâm, hay sống quán pháp trên các pháp ở ngoại cảnh, hay sống quán pháp trên các pháp ở cả nội tâm lẫn ngoại cảnh. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. ‘Có các pháp đây’, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các tỳ khưu, tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn là như vậy.
Khandhapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần Uẩn – Dứt.
Quán Pháp – Phần Xứ
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu?
Furthermore, a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the six interior and exterior sense fields. And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles with respect to the six interior and exterior sense fields?
384. “Lại nữa, này các tỳ khưu, tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Và này các tỳ khưu, thế nào là tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhuñca pajānāti, rūpe ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
It’s when a mendicant understands the eye, sights, and the fetter that arises dependent on both of these. They understand how the fetter that has not arisen comes to arise; how the arisen fetter comes to be abandoned; and how the abandoned fetter comes to not rise again in the future.
“Ở đây, này các tỳ khưu, tỳ khưu tuệ tri con mắt, tuệ tri các sắc, và tuệ tri kiết sử sanh khởi do duyên cả hai; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Sotañca pajānāti, sadde ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
They understand the ear, sounds, and the fetter …
“Vị ấy tuệ tri cái tai, tuệ tri các tiếng, và tuệ tri kiết sử sanh khởi do duyên cả hai; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Ghānañca pajānāti, gandhe ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
They understand the nose, smells, and the fetter …
“Vị ấy tuệ tri cái mũi, tuệ tri các mùi hương, và tuệ tri kiết sử sanh khởi do duyên cả hai; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã sanh được đoạn trừ; và vị ấy tuệ tri do duyên nào kiết sử đã được đoạn trừ trong tương lai không sanh khởi nữa.
Jivhañca pajānāti, rase ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
They understand the tongue, tastes, and the fetter …
Vị ấy tuệ tri về lưỡi, tuệ tri về các vị; và kiết sử nào sanh khởi do duyên cả hai, vị ấy cũng tuệ tri về kiết sử ấy. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã sanh được đoạn trừ. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã được đoạn trừ sẽ không sanh khởi trong tương lai.
Kāyañca pajānāti, phoṭṭhabbe ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
They understand the body, touches, and the fetter …
Vị ấy tuệ tri về thân, tuệ tri về các xúc; và kiết sử nào sanh khởi do duyên cả hai, vị ấy cũng tuệ tri về kiết sử ấy. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã sanh được đoạn trừ. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã được đoạn trừ sẽ không sanh khởi trong tương lai.
Manañca pajānāti, dhamme ca pajānāti, yañca tadubhayaṁ paṭicca uppajjati saṁyojanaṁ tañca pajānāti, yathā ca anuppannassa saṁyojanassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa saṁyojanassa pahānaṁ hoti tañca pajānāti, yathā ca pahīnassa saṁyojanassa āyatiṁ anuppādo hoti tañca pajānāti.
They understand the mind, ideas, and the fetter that arises dependent on both of these. They understand how the fetter that has not arisen comes to arise; how the arisen fetter comes to be abandoned; and how the abandoned fetter comes to not rise again in the future.
Vị ấy tuệ tri về ý, tuệ tri về các pháp; và kiết sử nào sanh khởi do duyên cả hai, vị ấy cũng tuệ tri về kiết sử ấy. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã sanh được đoạn trừ. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà kiết sử đã được đoạn trừ sẽ không sanh khởi trong tương lai.
Iti ajjhattaṁ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu.
And so they meditate observing an aspect of principles internally …
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the six interior and exterior sense fields.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp ở nội thân, hoặc sống quán pháp trên các pháp ở ngoại thân, hoặc sống quán pháp trên các pháp ở cả nội thân và ngoại thân. Hoặc vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hoặc sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hoặc sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. Hoặc chánh niệm ‘có các pháp’ được thiết lập nơi vị ấy, chỉ ở mức độ cần thiết cho trí tuệ, chỉ ở mức độ cần thiết cho chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, và không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với sáu xứ nội ngoại là như vậy đó.
Āyatanapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần về các xứ đã chấm dứt.
Quán Pháp - Phần Giác Chi
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu?
Idha, bhikkhave, bhikkhu santaṁ vā ajjhattaṁ satisambojjhaṅgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ satisambojjhaṅgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ satisambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa satisambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.
Furthermore, a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the seven awakening factors. And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles with respect to the seven awakening factors?
It’s when a mendicant who has the awakening factor of mindfulness in them understands: ‘I have the awakening factor of mindfulness in me.’ When they don’t have the awakening factor of mindfulness in them, they understand: ‘I don’t have the awakening factor of mindfulness in me.’ They understand how the awakening factor of mindfulness that has not arisen comes to arise; and how the awakening factor of mindfulness that has arisen becomes fully developed.
385. Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bảy giác chi. Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bảy giác chi? Này các Tỳ khưu, ở đây, khi niệm giác chi có mặt bên trong, Tỳ khưu tuệ tri: ‘Niệm giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi niệm giác chi không có mặt bên trong, Tỳ khưu tuệ tri: ‘Niệm giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà niệm giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Santaṁ vā ajjhattaṁ dhammavicayasambojjhaṅgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammavicayasambojjhaṅgo’ti pajānāti, asantaṁ vā ajjhattaṁ dhammavicayasambojjhaṅgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammavicayasambojjhaṅgo’ti pajānāti, yathā ca anuppannassa dhammavicayasambojjhaṅgassa uppādo hoti tañca pajānāti, yathā ca uppannassa dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūrī hoti tañca pajānāti.
When they have the awakening factor of investigation of principles …
Khi trạch pháp giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Trạch pháp giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi trạch pháp giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Trạch pháp giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà trạch pháp giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Khi tấn giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Tấn giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi tấn giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Tấn giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà tấn giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà tấn giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Khi hỷ giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Hỷ giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi hỷ giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Hỷ giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà hỷ giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Khi khinh an giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Khinh an giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi khinh an giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Khinh an giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà khinh an giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Khi định giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Định giác chi có mặt bên trong ta’; hoặc khi định giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: ‘Định giác chi không có mặt bên trong ta’. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà định giác chi chưa sanh được sanh khởi. Vị ấy cũng tuệ tri về nguyên nhân mà định giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Hoặc khi xả giác chi có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: 'Xả giác chi có mặt bên trong ta'; hoặc khi xả giác chi không có mặt bên trong, vị ấy tuệ tri: 'Xả giác chi không có mặt bên trong ta'; và vị ấy tuệ tri do nhân duyên nào xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; và vị ấy tuệ tri do nhân duyên nào xả giác chi đã sanh được tu tập viên mãn.
Iti ajjhattaṁ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati sattasu bojjhaṅgesu.
And so they meditate observing an aspect of principles internally, externally, and both internally and externally. They meditate observing, with respect to the principles, the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that principles exist, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the seven awakening factors.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp ở nội tâm, hay sống quán pháp trên các pháp ở ngoại giới, hay sống quán pháp trên các pháp ở cả nội tâm lẫn ngoại giới. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. Hoặc chánh niệm 'có các pháp đây' được an lập nơi vị ấy, cho đến mức độ chánh trí và chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, và không chấp thủ bất cứ gì ở đời. Này các Tỳ khưu, như vậy Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bảy giác chi.
Bojjhaṅgapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần Giác Chi đã xong.
Quán Pháp - Phần Thánh Đế
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Furthermore, a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the four noble truths. And how does a mendicant meditate observing an aspect of principles with respect to the four noble truths?
It’s when a mendicant truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’
386. Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế. Và thế nào, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu tuệ tri như thật: 'Đây là Khổ', tuệ tri như thật: 'Đây là Khổ tập', tuệ tri như thật: 'Đây là Khổ diệt', tuệ tri như thật: 'Đây là con đường đưa đến Khổ diệt'.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first recitation section is complete.
Phần Tụng Thứ Nhất đã xong.
Giải Thích Về Khổ Đế
Katamañca, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ?
Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṁ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogopi dukkho, piyehi vippayogopi dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
And what is the noble truth of suffering?
Rebirth is suffering; old age is suffering; death is suffering; sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are suffering; being coupled with the disliked is suffering; separation from the liked is suffering; not getting what you wish for is suffering. In brief, the five grasping aggregates are suffering.
387. Và này các Tỳ khưu, thế nào là Khổ thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, gặp gỡ người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người mình ưa thích là khổ, mong cầu mà không được cũng là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Katamā ca, bhikkhave, jāti? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ pātubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho, ayaṁ vuccati, bhikkhave, jāti.
And what is rebirth? The rebirth, inception, conception, regeneration, manifestation of the aggregates, and acquisition of the sense fields of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called rebirth.
388. Và này các Tỳ khưu, thế nào là sanh? Sự sanh, sự xuất sanh, sự nhập thai, sự hiện hữu, sự xuất hiện của các uẩn, sự thành tựu các xứ của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác trong mỗi giới chúng sanh, này các Tỳ khưu, đây được gọi là sanh.
Katamā ca, bhikkhave, jarā? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko, ayaṁ vuccati, bhikkhave, jarā.
And what is old age? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age.
389. Và này các Tỳ khưu, thế nào là già? Sự già, sự suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm dần, các căn suy hoại của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác trong mỗi giới chúng sanh, này các Tỳ khưu, đây được gọi là già.
Katamañca, bhikkhave, maraṇaṁ? Yaṁ tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo, idaṁ vuccati, bhikkhave, maraṇaṁ.
And what is death? The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, laying to rest of the corpse, and cutting off of the life faculty of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death.
390. Và này các Tỳ khưu, thế nào là chết? Sự từ bỏ, sự ra đi, sự tan rã, sự biến mất, sự tử vong, sự qua đời, sự mệnh chung, sự hoại diệt của các uẩn, sự vất bỏ thân xác, sự đoạn tuyệt mạng căn của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác từ mỗi giới chúng sanh, này các Tỳ khưu, đây được gọi là chết.
Katamo ca, bhikkhave, soko? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṁ antosoko antoparisoko, ayaṁ vuccati, bhikkhave, soko.
And what is sorrow? The sorrow, sorrowing, state of sorrow, inner sorrow, inner deep sorrow in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called sorrow.
391. Và này các Tỳ khưu, thế nào là sầu? Này các Tỳ khưu, khi gặp phải một tai họa nào đó, khi bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, thì sự sầu muộn, sự than khóc, tình trạng sầu muộn, nội sầu, nội sầu muộn triền miên, này các Tỳ khưu, đây được gọi là sầu.
Katamo ca, bhikkhave, paridevo? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṁ paridevitattaṁ, ayaṁ vuccati, bhikkhave, paridevo.
And what is lamentation? The wail, lament, wailing, lamenting, state of wailing and lamentation in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called lamentation.
392. Và này các Tỳ khưu, thế nào là bi? Này các Tỳ khưu, khi gặp phải một tai họa nào đó, khi bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, thì sự than van, sự kể lể, sự than van kể lể, tình trạng than van, tình trạng kể lể, này các Tỳ khưu, đây được gọi là bi.
Katamañca, bhikkhave, dukkhaṁ? Yaṁ kho, bhikkhave, kāyikaṁ dukkhaṁ kāyikaṁ asātaṁ kāyasamphassajaṁ dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhaṁ.
And what is pain? Physical pain, physical unpleasantness, the painful, unpleasant feeling that’s born from physical contact. This is called pain.
393. Và này các Tỳ khưu, thế nào là khổ? Này các Tỳ khưu, sự đau khổ về thân, sự không thoải mái về thân, cảm giác đau khổ và không thoải mái sanh ra từ thân xúc, này các Tỳ khưu, đây được gọi là khổ.
Katamañca, bhikkhave, domanassaṁ? Yaṁ kho, bhikkhave, cetasikaṁ dukkhaṁ cetasikaṁ asātaṁ manosamphassajaṁ dukkhaṁ asātaṁ vedayitaṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, domanassaṁ.
And what is sadness? Mental pain, mental displeasure, the painful, unpleasant feeling that’s born from mind contact. This is called sadness.
394. Và này các Tỳ khưu, thế nào là ưu? Này các Tỳ khưu, sự đau khổ về tâm, sự không thoải mái về tâm, cảm giác đau khổ và không thoải mái sanh ra từ ý xúc, này các Tỳ khưu, đây được gọi là ưu.
Katamo ca, bhikkhave, upāyāso? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṁ upāyāsitattaṁ, ayaṁ vuccati, bhikkhave, upāyāso.
And what is distress? The stress, distress, state of stress and distress in someone who has undergone misfortune, who has experienced suffering. This is called distress.
395. Và này các Tỳ khưu, thế nào là não? Này các Tỳ khưu, khi gặp phải một tai họa nào đó, khi bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, thì sự phiền muộn, sự tuyệt vọng, tình trạng phiền muộn, tình trạng tuyệt vọng, này các Tỳ khưu, đây được gọi là não.
Katamo ca, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho? Idha yassa te honti aniṭṭhā akantā amanāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukakāmā ayogakkhemakāmā, yā tehi saddhiṁ saṅgati samāgamo samodhānaṁ missībhāvo, ayaṁ vuccati, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho.
And what is meant by ‘being coupled with the disliked is suffering’? There are sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, which are unlikable, undesirable, and disagreeable. And there are those who want to harm, injure, disturb, and threaten you. The coming together with these, the joining, inclusion, mixing with them: this is what is meant by ‘being coupled with the disliked is suffering’.
396. Và này các Tỳ khưu, thế nào là khổ do gặp gỡ người mình không ưa thích? Ở đây, đối với người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không mong muốn, không khả ái, không vừa ý; hoặc những người không muốn lợi ích, không muốn hạnh phúc, không muốn an ổn, không muốn thoát khỏi ách nạn cho mình; sự gặp gỡ, hội họp, sum vầy, chung đụng với họ, này các Tỳ khưu, đây được gọi là khổ do gặp gỡ người mình không ưa thích.
Katamo ca, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho? Idha yassa te honti iṭṭhā kantā manāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukakāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā mittā vā amaccā vā ñātisālohitā vā, yā tehi saddhiṁ asaṅgati asamāgamo asamodhānaṁ amissībhāvo, ayaṁ vuccati, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho.
And what is meant by ‘separation from the liked is suffering’? There are sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas, which are likable, desirable, and agreeable. And there are those who want to help, benefit, comfort, and protect you: mother and father, brother and sister, friends and colleagues, relatives and kin. The division from these, the disconnection, segregation, and parting from them: this is what is meant by ‘separation from the liked is suffering’.
397. Và này các Tỳ khưu, thế nào là khổ do xa lìa người mình ưa thích? Ở đây, đối với người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mong muốn, khả ái, vừa ý; hoặc những người muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn an ổn, muốn thoát khỏi ách nạn cho mình, như mẹ, cha, anh, chị, em, bạn bè, thân hữu, hoặc bà con huyết thống; sự không gặp gỡ, không hội họp, không sum vầy, không chung đụng với họ, này các Tỳ khưu, đây được gọi là khổ do xa lìa người mình ưa thích.
Katamañca, bhikkhave, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ? Jātidhammānaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati: ‘aho vata mayaṁ na jātidhammā assāma, na ca vata no jāti āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ, idampi yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Jarādhammānaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati: ‘aho vata mayaṁ na jarādhammā assāma, na ca vata no jarā āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ, idampi yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Byādhidhammānaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṁ na byādhidhammā assāma, na ca vata no byādhi āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ, idampi yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Maraṇadhammānaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṁ na maraṇadhammā assāma, na ca vata no maraṇaṁ āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ, idampi yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṁ, bhikkhave, sattānaṁ evaṁ icchā uppajjati ‘aho vata mayaṁ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma, na ca vata no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā āgaccheyyun’ti. Na kho panetaṁ icchāya pattabbaṁ, idampi yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ.
And what is meant by ‘not getting what you wish for is suffering’? In sentient beings who are liable to be reborn, such a wish arises: ‘Oh, if only we were not liable to be reborn! If only rebirth would not come to us!’ But you can’t get that by wishing. This is what is meant by ‘not getting what you wish for is suffering’. In sentient beings who are liable to grow old … fall ill … die … experience sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress, such a wish arises: ‘Oh, if only we were not liable to experience sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress! If only sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress would not come to us!’ But you can’t get that by wishing. This is what is meant by ‘not getting what you wish for is suffering’.
398. “Và này các Tỳ khưu, thế nào là khổ vì mong cầu mà không được? Này các Tỳ khưu, đối với các chúng sanh có bản chất sanh, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có bản chất sanh, và mong rằng sự sanh không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng cách mong muốn. Đây cũng là khổ vì mong cầu mà không được. Đối với các chúng sanh có bản chất già, này các Tỳ khưu, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có bản chất già, và mong rằng sự già không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng cách mong muốn. Đây cũng là khổ vì mong cầu mà không được. Đối với các chúng sanh có bản chất bệnh, này các Tỳ khưu, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có bản chất bệnh, và mong rằng bệnh tật không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng cách mong muốn. Đây cũng là khổ vì mong cầu mà không được. Đối với các chúng sanh có bản chất chết, này các Tỳ khưu, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có bản chất chết, và mong rằng cái chết không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng cách mong muốn. Đây cũng là khổ vì mong cầu mà không được. Đối với các chúng sanh có bản chất sầu, bi, khổ, ưu, não, này các Tỳ khưu, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không có bản chất sầu, bi, khổ, ưu, não, và mong rằng sầu, bi, khổ, ưu, não không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng cách mong muốn. Đây cũng là khổ vì mong cầu mà không được.”
Katame ca, bhikkhave, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ.
And what is meant by ‘in brief, the five grasping aggregates are suffering’? They are the grasping aggregates that consist of form, feeling, perception, choices, and consciousness. This is what is meant by ‘in brief, the five grasping aggregates are suffering’.
This is called the noble truth of suffering.
399. “Và này các Tỳ khưu, thế nào là năm thủ uẩn là khổ, nói một cách tóm tắt? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ khưu, những điều này được gọi là năm thủ uẩn là khổ, nói một cách tóm tắt. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về Khổ.”
Katamañca, bhikkhave, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ?
And what is the noble truth of the origin of suffering?
Phần giải thích về Thánh đế Tập Khởi
Yāyaṁ taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
It’s the craving that leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights. That is, craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence.
400. “Và này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về sự tập khởi của khổ? Chính là ái này, cái dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm thấy sự vui thích nơi này nơi kia, tức là: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái.”
Sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisati? Yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
But where does that craving arise and where does it settle? Whatever in the world seems nice and pleasant, it is there that craving arises and settles.
“Này các Tỳ khưu, ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đâu? Khi an trú, nó an trú ở đâu? Bất cứ cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý, ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Kiñca loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ? Cakkhu loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Sotaṁ loke …pe… ghānaṁ loke … jivhā loke … kāyo loke … mano loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Rūpā loke … saddā loke … gandhā loke … rasā loke …
And what in the world seems nice and pleasant? The eye in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles. The ear … nose … tongue … body … mind in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
Sights … sounds … smells … tastes …
“Và cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý? Con mắt ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy. Lỗ tai ở đời... lỗ mũi ở đời... lưỡi ở đời... thân ở đời... ý ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
“Các sắc ở đời... các tiếng ở đời... các mùi ở đời... các vị ở đời... các vật xúc chạm ở đời... các pháp ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Cakkhuviññāṇaṁ loke … sotaviññāṇaṁ loke … ghānaviññāṇaṁ loke … jivhāviññāṇaṁ loke … kāyaviññāṇaṁ loke … manoviññāṇaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Eye consciousness … ear consciousness … nose consciousness … tongue consciousness … body consciousness … mind consciousness in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Nhãn thức ở đời... nhĩ thức ở đời... tỷ thức ở đời... thiệt thức ở đời... thân thức ở đời... ý thức ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Cakkhusamphasso loke … sotasamphasso loke … ghānasamphasso loke … jivhāsamphasso loke … kāyasamphasso loke … manosamphasso loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Eye contact … ear contact … nose contact … tongue contact … body contact … mind contact in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Nhãn xúc ở đời... nhĩ xúc ở đời... tỷ xúc ở đời... thiệt xúc ở đời... thân xúc ở đời... ý xúc ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Cakkhusamphassajā vedanā loke … sotasamphassajā vedanā loke … ghānasamphassajā vedanā loke … jivhāsamphassajā vedanā loke … kāyasamphassajā vedanā loke … manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Feeling born of eye contact … feeling born of ear contact … feeling born of nose contact … feeling born of tongue contact … feeling born of body contact … feeling born of mind contact in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Thọ do nhãn xúc sanh ở đời... thọ do nhĩ xúc sanh ở đời... thọ do tỷ xúc sanh ở đời... thọ do thiệt xúc sanh ở đời... thọ do thân xúc sanh ở đời... thọ do ý xúc sanh ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Rūpasaññā loke … saddasaññā loke … gandhasaññā loke … rasasaññā loke … phoṭṭhabbasaññā loke … dhammasaññā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Perception of sights … perception of sounds … perception of smells … perception of tastes … perception of touches … perception of ideas in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Sắc tưởng ở đời... thanh tưởng ở đời... hương tưởng ở đời... vị tưởng ở đời... xúc tưởng ở đời... pháp tưởng ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Rūpasañcetanā loke … saddasañcetanā loke … gandhasañcetanā loke … rasasañcetanā loke … phoṭṭhabbasañcetanā loke … dhammasañcetanā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Intention regarding sights … intention regarding sounds … intention regarding smells … intention regarding tastes … intention regarding touches … intention regarding ideas in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Sắc tư ở đời... thanh tư ở đời... hương tư ở đời... vị tư ở đời... xúc tư ở đời... pháp tư ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Rūpataṇhā loke … saddataṇhā loke … gandhataṇhā loke … rasataṇhā loke … phoṭṭhabbataṇhā loke … dhammataṇhā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Craving for sights … craving for sounds … craving for smells … craving for tastes … craving for touches … craving for ideas in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Sắc ái ở đời... thanh ái ở đời... hương ái ở đời... vị ái ở đời... xúc ái ở đời... pháp ái ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Rūpavitakko loke … saddavitakko loke … gandhavitakko loke … rasavitakko loke … phoṭṭhabbavitakko loke … dhammavitakko loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Thoughts about sights … thoughts about sounds … thoughts about smells … thoughts about tastes … thoughts about touches … thoughts about ideas in the world seem nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
“Sắc tầm ở đời... thanh tầm ở đời... hương tầm ở đời... vị tầm ở đời... xúc tầm ở đời... pháp tầm ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả ý; ái này khi sanh khởi, nó sanh khởi ở đấy; khi an trú, nó an trú ở đấy.”
Rūpavicāro loke … saddavicāro loke … gandhavicāro loke … rasavicāro loke … phoṭṭhabbavicāro loke … dhammavicāro loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ.
Considerations regarding sights … considerations regarding sounds … considerations regarding smells … considerations regarding tastes … considerations regarding touches … considerations regarding ideas in the world seem nice and pleasant, and it is there that craving arises and settles.
This is called the noble truth of the origin of suffering.
“Sự khảo sát về sắc ở trong đời… sự khảo sát về thinh ở trong đời… sự khảo sát về hương ở trong đời… sự khảo sát về vị ở trong đời… sự khảo sát về xúc ở trong đời… sự khảo sát về pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ. Chính ở nơi đây, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi, khi an trú thì an trú. Này các tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về sự tập khởi của khổ.”
Phần giải về Diệt Đế
Katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ?
Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
And what is the noble truth of the cessation of suffering?
It’s the fading away and cessation of that very same craving with no residue left behind; giving it away, letting it go, releasing it, and not clinging to it.
401. “Và này các tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về sự diệt khổ? Chính là sự đoạn diệt, ly tham không còn tàn tích, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ đối với chính ái ấy.”
Sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha pahīyamānā pahīyati, kattha nirujjhamānā nirujjhati? Yaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
Whatever in the world seems nice and pleasant, it is there that craving is given up and ceases.
“Và này các tỳ khưu, ái ấy khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đâu, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt ở đâu? Cái gì ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Kiñca loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ? Cakkhu loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. Sotaṁ loke …pe… ghānaṁ loke … jivhā loke … kāyo loke … mano loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
Rūpā loke … saddā loke … gandhā loke … rasā loke …
And what in the world seems nice and pleasant? The eye in the world seems nice and pleasant, and it is there that craving is given up and ceases. …
“Và cái gì ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ? Mắt ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt. Tai ở trong đời… Tương tự… mũi ở trong đời… lưỡi ở trong đời… thân ở trong đời… ý ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
“Các sắc ở trong đời… các thinh ở trong đời… các hương ở trong đời… các vị ở trong đời… các xúc ở trong đời… các pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Cakkhuviññāṇaṁ loke … sotaviññāṇaṁ loke … ghānaviññāṇaṁ loke … jivhāviññāṇaṁ loke … kāyaviññāṇaṁ loke … manoviññāṇaṁ loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Nhãn thức ở trong đời… nhĩ thức ở trong đời… tỷ thức ở trong đời… thiệt thức ở trong đời… thân thức ở trong đời… ý thức ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Cakkhusamphasso loke … sotasamphasso loke … ghānasamphasso loke … jivhāsamphasso loke … kāyasamphasso loke … manosamphasso loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Nhãn xúc ở trong đời… nhĩ xúc ở trong đời… tỷ xúc ở trong đời… thiệt xúc ở trong đời… thân xúc ở trong đời… ý xúc ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Cakkhusamphassajā vedanā loke … sotasamphassajā vedanā loke … ghānasamphassajā vedanā loke … jivhāsamphassajā vedanā loke … kāyasamphassajā vedanā loke … manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Thọ sanh do nhãn xúc ở trong đời… thọ sanh do nhĩ xúc ở trong đời… thọ sanh do tỷ xúc ở trong đời… thọ sanh do thiệt xúc ở trong đời… thọ sanh do thân xúc ở trong đời… thọ sanh do ý xúc ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Rūpasaññā loke … saddasaññā loke … gandhasaññā loke … rasasaññā loke … phoṭṭhabbasaññā loke … dhammasaññā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Tưởng về sắc ở trong đời… tưởng về thinh ở trong đời… tưởng về hương ở trong đời… tưởng về vị ở trong đời… tưởng về xúc ở trong đời… tưởng về pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Rūpasañcetanā loke … saddasañcetanā loke … gandhasañcetanā loke … rasasañcetanā loke … phoṭṭhabbasañcetanā loke … dhammasañcetanā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Tư duy về sắc ở trong đời… tư duy về thinh ở trong đời… tư duy về hương ở trong đời… tư duy về vị ở trong đời… tư duy về xúc ở trong đời… tư duy về pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Rūpataṇhā loke … saddataṇhā loke … gandhataṇhā loke … rasataṇhā loke … phoṭṭhabbataṇhā loke … dhammataṇhā loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Ái đối với sắc ở trong đời… ái đối với thinh ở trong đời… ái đối với hương ở trong đời… ái đối với vị ở trong đời… ái đối với xúc ở trong đời… ái đối với pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Rūpavitakko loke … saddavitakko loke … gandhavitakko loke … rasavitakko loke … phoṭṭhabbavitakko loke … dhammavitakko loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Sự tầm cầu về sắc ở trong đời… sự tầm cầu về thinh ở trong đời… sự tầm cầu về hương ở trong đời… sự tầm cầu về vị ở trong đời… sự tầm cầu về xúc ở trong đời… sự tầm cầu về pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt.”
Rūpavicāro loke … saddavicāro loke … gandhavicāro loke … rasavicāro loke … phoṭṭhabbavicāro loke … dhammavicāro loke piyarūpaṁ sātarūpaṁ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ.
Considerations regarding ideas in the world seem nice and pleasant, and it is there that craving is given up and ceases.
This is called the noble truth of the cessation of suffering.
“Sự khảo sát về sắc ở trong đời… sự khảo sát về thinh ở trong đời… sự khảo sát về hương ở trong đời… sự khảo sát về vị ở trong đời… sự khảo sát về xúc ở trong đời… sự khảo sát về pháp ở trong đời là pháp khả ái, pháp khả hỷ, chính ở nơi đây, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ, khi được đoạn diệt thì được đoạn diệt. Này các tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về sự diệt khổ.”
Phần giải về Đạo Đế
Katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
And what is the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering?
It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
402. “Và này các tỳ khưu, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ? Chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.”
Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Yaṁ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṁ, dukkhasamudaye ñāṇaṁ, dukkhanirodhe ñāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.
And what is right view? Knowing about suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. This is called right view.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh kiến? Này các tỳ khưu, trí tuệ về khổ, trí tuệ về sự tập khởi của khổ, trí tuệ về sự diệt khổ, trí tuệ về con đường đưa đến sự diệt khổ. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh kiến.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo abyāpādasaṅkappo avihiṁsāsaṅkappo. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.
And what is right purpose? Purposes of renunciation, good will, and harmlessness. This is called right purpose.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy? Sự tư duy về xuất ly, sự tư duy về vô sân, sự tư duy về vô hại. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh tư duy.”
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Musāvādā veramaṇī pisuṇāya vācāya veramaṇī pharusāya vācāya veramaṇī samphappalāpā veramaṇī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.
And what is right speech? Refraining from lying, backbiting, harsh speech, and talking nonsense. This is called right speech.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh ngữ? Sự từ bỏ nói láo, sự từ bỏ nói hai lưỡi, sự từ bỏ nói lời thô ác, sự từ bỏ nói lời vô ích. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh ngữ.”
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Pāṇātipātā veramaṇī adinnādānā veramaṇī kāmesumicchācārā veramaṇī. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.
And what is right action? Refraining from killing living creatures, stealing, and sexual misconduct. This is called right action.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh nghiệp? Sự từ bỏ sát sanh, sự từ bỏ lấy của không cho, sự từ bỏ tà hạnh trong các dục. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh nghiệp.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvitaṁ kappeti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.
And what is right livelihood? It’s when a noble disciple gives up wrong livelihood and earns a living by right livelihood. This is called right livelihood.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là chánh mạng? Này các tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh mạng.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.
And what is right effort? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise. They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. This is called right effort.
“Này các tỳ khưu, thế nào là chánh tinh tấn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh khởi, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi, khởi lên ý muốn đoạn trừ, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các pháp thiện chưa sanh khởi, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các pháp thiện đã sanh khởi, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho lu mờ, được tăng trưởng, được lớn mạnh, được tu tập, được viên mãn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh tinh tấn.”
Katamā ca, bhikkhave, sammāsati? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsati.
And what is right mindfulness? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of the mind—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. This is called right mindfulness.
“Này các tỳ khưu, thế nào là chánh niệm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh niệm.”
Katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhi.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ.
And what is right immersion? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. This is called right immersion.
This is called the noble truth of the practice that leads to the cessation of suffering.
“Này các tỳ khưu, thế nào là chánh định? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy làm cho tầm và tứ được lắng dịu, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các tỳ khưu, đây được gọi là chánh định. Này các tỳ khưu, đây được gọi là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ.”
Iti ajjhattaṁ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati. Samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu.
And so they meditate observing an aspect of principles internally, externally, and both internally and externally. They meditate observing, with respect to the principles, the liability to originate, to vanish, and to originate and vanish. Or mindfulness is established that principles exist, to the extent necessary for knowledge and mindfulness. They meditate independent, not grasping at anything in the world.
That’s how a mendicant meditates by observing an aspect of principles with respect to the four noble truths.
403. “Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp nội thân, hay sống quán pháp trên các pháp ngoại thân, hay sống quán pháp trên các pháp cả nội thân và ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. ‘Có các pháp đây’, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước bất cứ cái gì ở trên đời. Này các tỳ khưu, như vậy vị tỳ khưu sống quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế.”
Saccapabbaṁ niṭṭhitaṁ.
Phần về các Thánh Đế đã kết thúc.
Dhammānupassanā niṭṭhitā.
Phần quán pháp đã kết thúc.
Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṁ bhāveyya sattavassāni, tassa dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.
Anyone who develops these four kinds of mindfulness meditation in this way for seven years can expect one of two results: enlightenment in this very life, or if there’s residue left behind, non-return.
404. “Này các tỳ khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy năm, một trong hai quả có thể được chờ đợi: hoặc là chứng đắc A-la-hán ngay trong hiện tại; hoặc nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất lai.”
Tiṭṭhantu, bhikkhave, sattavassāni. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṁ bhāveyya cha vassāni …pe… pañca vassāni … cattāri vassāni … tīṇi vassāni … dve vassāni … ekaṁ vassaṁ … tiṭṭhatu, bhikkhave, ekaṁ vassaṁ. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṁ bhāveyya sattamāsāni, tassa dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.
Let alone seven years, anyone who develops these four kinds of mindfulness meditation in this way for six years … five years … four years … three years … two years … one year … seven months …
“Này các tỳ khưu, hãy để bảy năm qua một bên. Này các tỳ khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong sáu năm... năm năm... bốn năm... ba năm... hai năm... một năm... Này các tỳ khưu, hãy để một năm qua một bên. Này các tỳ khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy tháng, một trong hai quả có thể được chờ đợi: hoặc là chứng đắc A-la-hán ngay trong hiện tại; hoặc nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất lai.”
“Này các tỳ khưu, hãy để bảy tháng qua một bên. Này các tỳ khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong sáu tháng... năm tháng... bốn tháng... ba tháng... hai tháng... một tháng... nửa tháng... Này các tỳ khưu, hãy để nửa tháng qua một bên. Này các tỳ khưu, người nào tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy ngày, một trong hai quả có thể được chờ đợi: hoặc là chứng đắc A-la-hán ngay trong hiện tại; hoặc nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất lai.”
Ekāyano ayaṁ, bhikkhave, maggo sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya yadidaṁ cattāro satipaṭṭhānāti. Iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
‘The four kinds of mindfulness meditation are the path to convergence. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment.’ That’s what I said, and this is why I said it.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
405. “‘Này các tỳ khưu, đây là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh cho các chúng sanh, vượt qua sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ.’ Điều đã được nói như vậy, chính là do duyên này mà được nói đến.” Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Mahāsatipaṭṭhānasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Kinh Đại Niệm Xứ, kinh thứ chín, đã chấm dứt.