- Dīgha Nikāya 19
Mahāgovindasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāgovindasutta
SC 1PTS cs 1 Như vậy tôi nghe.
SC 2Một thời Thế Tôn ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu. Khi đêm đã gần mãn, Pancasikha (Ngũ Kế), thuộc giòng họ Càn-thát-bà (Gandhabba), với dung mạo đoan chánh, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Pancasikha, thuộc giòng họ Càn-thát-bà bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, những điều con đã tự thân nghe và chấp nhận trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bạch Thế Tôn con muốn bạch lại Thế Tôn.
SC 4- Này Pancasikha, hãy nói cho ta nghe!—Thế Tôn nói như vậy.
SC 5PTS cs 2 - Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát (Uposatha), trong tháng nhập cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía; tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi. Ðại vương Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương), vua ở phương Ðông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùlhaka (Tăng Trưởng thiên vương), vua ở phương Nam, ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương), vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng Ðông, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương), vua ở phương Bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mặt Thiên chúng. Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự các chỗ ngồi của các vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch Thế Tôn, chư Thiên nào trước sống phạm hạnh theo Thế Tôn và nay mới sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đẹp lòng, thoải mái, hoan hỷ sanh: Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt.
SC 6PTS cs 3 Bạch Thế Tôn, lại bây giờ Thiên chủ Ðế-thích (Sakka) thấy chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ bèn tùy hỷ nói lên bài kệ như sau:
SC 7Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này.
Họ thắng về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng.
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.
SC 8Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng đẹp lòng thoải mái hoan hỷ hơn nữa và nói:
SC 9“- Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.
SC 10PTS cs 4 Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích biết được chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền nói với Chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 11“- Các vị có muốn nghe tám pháp như thật của Thế Tôn không?
SC 12“- Chúng tôi muốn nghe tám pháp Như thật của Thế Tôn”.
SC 13Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích ở Tam thập tam thiên giải thích về tám pháp Như thật của Thế Tôn như sau:
SC 14PTS cs 5 “- Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên các vị nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Một vị Ðại sư dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và loài Người như vậy, một vị Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 15PTS cs 6 “Chánh pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí tự mình giác hiểu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 16PTS cs 7 “Ðây là thiện”, “đây là bất thiện” đã được Thế Tôn khéo giải thích. “Ðây có tội”, “đây không tội”, “đây cần phải tuân theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đẳng”, được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 17PTS cs 8 “Con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã được Thế Tôn khéo giải thích như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước sông Yamuna (Diệm-mâu-na). Cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 18PTS cs 9 “Thế Tôn cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tản chúng nhưng sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 19PTS cs 10 : “Lợi dưỡng cúng dường cho Thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ (Khattiyà) sống với gương mặt rất quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn. Một vị sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 20PTS cs 11 “Thế Tôn nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Một vị nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, làm gì thời nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy. Một vị đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 21PTS cs 12 “Thế Tôn đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 22PTS cs 13 “Bạch Thế Tôn, rồi một số chư Thiên nói như sau:
SC 23“- Chư Thiện hữu, nếu có được bốn vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng Chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời”.
SC 24“Một số chư Thiên khác lại nói như sau:
SC 25“- Chư Thiện hữu, cần gì có bốn vị Chánh Ðẳng Giác. Chư Thiện hữu, nếu có được ba vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng Chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.
SC 26“Một số chư Thiên khác lại nói như sau:
SC 27“- Chư Thiện hữu, cần gì có ba vị Chánh Ðẳng Giác. Chư Thiện hữu, nếu có được hai vị Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, diễn giảng chánh pháp như Thế Tôn. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.
SC 28PTS cs 14 “Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Thiên chủ Ðế-thích nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 29“- Chư Thiện hữu, không một chỗ nào, không một thời gian nào cùng chung một thế giới mà có hai vị Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác đồng thời ra đời, không ra trước, không ra sau, không bao giờ sự kiện như vậy có thể xảy ra. Chư Thiện hữu, một bậc Thế Tôn như vậy, không có tật bệnh, không có đau khổ, sống như vậy trong khoảng thời gian rất dài. Như vậy mới đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho loài Người và loài Trời.
SC 30“Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư, thảo luận về mục đích ấy. Và tùy thuộc về mục đích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng: Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình.
SC 31Các đại vương chấp nhận,
Lời giảng dạy khuyết giáo,
Thanh thoát và an tịnh,
Ðứng bên chỗ mình ngồi.
SC 32PTS cs 15 “Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra thắng xa oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn, rồi Thiên chủ Sakka, nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 33“- Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra. Như vậy là báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra.
SC 34Theo hiện tượng được thấy,
Phạm thiên sẽ xuất hiện,
Hiện tượng bậc Phạm thiên,
Là hào quang vi diệu.
SC 35“Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói rằng:
SC 36“- Chúng tôi sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy.
SC 37Cũng vậy bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế của mình và nói rằng:
SC 38“- Chúng tôi sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy.
SC 39“Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý: “Chúng ta sẽ tìm hiểu kết quả của hào quang này là thế nào, sau khi đã được biết, chúng ta sẽ gặp vị ấy”.
SC 40PTS cs 16 “Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, các tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên vị này thắng xa chư THiên khác về sắc tướng và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy bạch Thế Tôn khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên trong chúng này đảnh lễ hoặc đứng dậy mời Phạm thiên ngồi. Tất cả đều yên lặng, chắp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ rằng: “Nếu nay Phạm thiên Sanankumāra muốn gì với vị Thiên nào, thì hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quán đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ.
SC 41PTS cs 17 “Bạch Thế Tôn, rồi Phạm thiên Sanankumāra biết được sự thoải mái hoan hỷ của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền ân hình tùy hỷ nói lên bài kệ sau đây:
SC 42Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này,
Thắng xa về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi nầy.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế Thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Và Chánh pháp vi diệu.
SC 43PTS cs 18 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm Thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn tiếng nói của Phạm Thiên Sanankumāra có tám đặc điểm sau đây: Lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy được gọi là Phạm âm.
SC 44PTS cs 19 “Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên nói với Phạm thiên Sanankumāra như sau:
SC 45“- Này Phạm thiên, chúng tôi thật sự hoan hỷ với những điều chúng tôi đã được chú ý. Hơn nữa Thiên chủ Sakka đã nói đến tám pháp như thật của Thế Tôn; và chúng tôi hoan hỷ với tám pháp này.
SC 46“Bạch Thế Tôn, rồi Phạm thiên Sanankumāra nói với Thiên chủ Ðế-thích:
SC 47“- Thật lành thay, Thiên chủ, nếu chúng tôi được nghe tám pháp như thật của Thế Tôn.
SC 48“- Vâng, Ðại Phạm thiên.
SC 49Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Ðế-thích, giải thích tám pháp như thật của Thế Tôn cho Phạm thiên Sanankumāra:
SC 50PTS cs 20 “- Này Thiện hữu Ðại Phạm thiên, Ngài nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời, loài Người. Một vị Ðạo sư dấn thân vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời, loài Người như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy chúng ta khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 51PTS cs 21 “- Chánh pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thiện, chỉ người có trí tự mình giác hiểu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 52PTS cs 22 “Ðây là thiện”, “đây là bất thiện”, đã được Thế Tôn khéo giải thích. “Ðây là có tội”, “đây là không tội”, “Ðây cần phải tuân theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đẳng”, đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 53PTS cs 23 “Con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã được Thế Tôn khéo léo giải thích. Như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước sông Yamunà, cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 54PTS cs 24 “Thế Tôn cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tản chúng, nhưng sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 55PTS cs 25 “Lợi dưỡng cúng dường cho thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ sống với diện mạo rất quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn. Một vị sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 56PTS cs 26 “Thế Tôn nói gì thì làm vậy, làm gì thời nói vậy, một vị nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 57PTS cs 27 “Thế Tôn đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư hoặc thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
SC 58“Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka giải thích tám pháp như thật của Thế Tôn cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, lại càng thích thú, hỷ duyệt sung mãn khi được nghe tám pháp như thật của Thế Tôn.
SC 59PTS cs 28 “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện với hình tướng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha (Ngũ Kế) trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bay bổng lên trời, vị này, ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kiết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng trên một mặt đất thăng bằng, cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không và nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 60PTS cs 29 “- Chư thiện hữu ở Tam thập tam thiên nghĩ thế nào? Thế Tôn đã được đại trí tuệ bao lâu rồi?
SC 61“Chư Thiện hữu, thuở xưa có vị vua tên là Disampati (Thành Chủ). Vua Disampati có vị quốc sư tên Govinda (Ðiển Tôn), và có vị hoàng tử tên là Renu (Lê-nô). Bà-la-môn Govinda có người con trai tên là Jotipāla (Hộ Minh đồng tử). Hoàng tử Renu, đồng tử Jotipāla cùng sáu người Sát-đế-lỵ nữa, tám người này là thân hữu. Sau một thời gian, Bà-la-môn Govinda mệnh chung. Khi nghe Bà-la-môn Govinda mệnh chung, vua Sīsampati than khóc như sau:
SC 62“- Tiếc thay, khi chúng ta giao mọi công việc cho Bà-la-môn Govinda để chúng ta có thể được đầy đủ và thọ hưởng năm món dục tăng thịnh, chính khi ấy Bà-la-môn lại mệnh chung.
SC 63“Nghe nói vậy, hoàng tử Renu tâu với vua Disampati:
SC 64“- Tâu Ðại vương, chớ có quá sầu khổ than khóc vì Bà-la-môn Govinda từ trần. Tâu Ðại vương, con của Bà-la-môn Govinda, thanh niên Jotipāla còn sáng suốt hơn phụ thân, còn biết kế hoạch sinh lợi hơn phụ thân. Những trách nhiệm gì Ðại vương giao cho phụ thân, nay hãy giao cho thanh niên Jotipāla.
SC 65“- Như vậy là phải, Hoàng tử.
SC 66“- Xin vâng, tâu Ðại vương.
SC 67PTS cs 30 “Rồi vua Disampati cho gọi một người và bảo:
SC 68“- Khanh hãy đi đến thanh niên Jotipāla, và nói như sau: “Mong rằng mọi tốt lành hãy đến với thanh niên Jotipāla! Vua Disampati có cho gọi thanh niên Jotipāla! Vua Disampati muốn được gặp thanh niên Jotipāla!”.
SC 69“- Tâu Ðại vương, xin vâng!
SC 70“Người ấy vâng lệnh vua Disampati, đến chỗ thanh niên Jotipāla ở, khi đến xong liền nói với thanh niên Jotipāla:
SC 71“- Mong rằng mọi tốt lành hãy đến với thanh niên Jotipāla! Vua Disampati cho gọi thanh niên Jotipāla! Vua Disampati muốn được gặp thanh nhiên Jotipāla!
SC 72“- Xin vâng, này Thiện hữu!
SC 73“Thanh nhiên Jotipāla vâng theo lời người ấy, đi đến chỗ vua Disampati ở, khi đến xong liền nói lên những lời viếng thăm, và những lời khen tặng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Vua Disampati nói với thanh niên Jotipāla đang ngồi bên như sau:
SC 74“- Này thanh niên Jotipāla! Nay ta muốn khanh chấp chánh! Thanh niên Jotipāla, chớ có từ chối chấp chánh! Ta sẽ đặt Khanh trong địa vị của phụ thân. Ta sẽ phong cho Khanh chức chưởng của Govinda!
SC 75“- Tâu Ðại vương, xin vâng!
SC 76“Thanh niên Jotipāla vâng theo lời dạy của vua Disampati.
SC 77PTS cs 31 “Rồi vua Disampati phong cho thanh niên Jotipāla chức chưởng của Govinda và đặt vào địa vị của phụ thân. Thanh niên Jotipāla được phong chức chưởng của Govinda như vậy và được đặt vào địa vị của phụ thân như vậy, những phần việc gì phụ thân điều hành, những phần việc ấy thanh niên Jotipāla điều hành, những phần việc gì phụ thân không điều hành, những phần việc ấy thanh niên Jotipāla không điều hành. Những công tác gì phụ thân thực hiện, những công tác ấy thanh niên Jotipāla thực hiện; những công tác gì phụ thân không thực hiện, những công tác ấy thanh niên Jotipāla không thực hiện. Do vậy, dân chúng nói về Jotipāla:
SC 78“- Vị Bà-la-môn thật sự là Govinda! Vị Bà-la-môn thật sự là Mahà Govinda và được danh tiếng là Mahà Govinda!
SC 79PTS cs 32 “Rồi Mahà Govinda đến tại chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong, liền nói với sáu vị Sát-đế-lỵ như sau:
SC 80“-Vua Disampati nay đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện Hữu, ai có thể biết được thọ mạng của vua? Sự việc này có thể xảy ra, nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Chư Thiện hữu, quí vị hãy đến chỗ hoàng tử Renu an trú, khi đến xong hãy thưa với hoàng tử Renu:
SC 81“- Chúng tôi là những bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với Thiện hữu Renu! Chúng tôi sung sướng khi thiện hữu sung sướng, chúng tôi đau khổ khi Thiện hữu đau khổ. Nay vua Disampati đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện hữu, ai có thể biết thọ mạng của vua. Sự việc này có thể xảy ra. Nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Nếu Thiện hữu Renu lên vương vị, hãy chia xẻ vương vị với chúng tôi!
SC 82PTS cs 33 “-Xin vâng, Thiện hữu!
SC 83“Sáu vị Sát-đế-lỵ này, vâng theo lời của Bà la môn Mahà Govinda, đến tại chỗ của hoàng tử Renu, khi đến xong liền thưa với hoàng tử Renu
SC 84—Chúng tôi là những bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hợp với Thiện hữu Renu, chúng tôi sung sướng khi Thiện hữu sung sướng, chúng tôi đau khổ khi thiện hữu đau khổ. Nay vua Disampati đã già, trọng tuổi, lớn tuổi, đã đến thời, đã đến hạn cuối cuộc đời. Này Thiện hữu, ai có thể biết được thọ mạng của vua. Sự việc này có thể xảy ra. Nếu vua Disampati mệnh chung, thời những vị có trách nhiệm phong vua, hãy phong hoàng tử Renu lên vương vị. Nếu Thiện hữu Renu lên vương vị, hãy chia vương vị với chúng tôi!
SC 85- Chư Thiện hữu, có ai khác có quyền hưởng an lạc trong quốc độ của tôi, ngoài Quý vị? Nếu tôi được lên vương vị, tôi sẽ chia xẻ vương vị cho Quý vị.
SC 86PTS cs 34 “Chư Thiện hữu, sau một thời gian vua Disampati mệnh chung. Khi vua Disampati mệnh chung, những vị có trách nhiệm phong vua, liền phong hoàng tử Renu lên vương vị. Khi được phong vương vị, hoàng tử Renu sống đầy đủ và thọ hưởng năm pháp dục tăng thịnh. Khi ấy Bà la môn Mahà Govinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong liền nói rằng:
SC 87“- Chư Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung. Thiện hữu Renu được phong vương vị lại sống đầy đủ và thọ hưởng năm pháp dục tăng thịnh. Chư Thiện hữu, ai có thể biết được? Dục vọng khiến con người si loạn. Chư Thiện hữu, hãy đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong, hãy nói với vua Renu như sau: ”—Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung. Thiện hữu Renu được phong vương vị. Thiện hữu có nhớ lời hứa của mình không?”
SC 88“- Xin vâng, này Thiện hữu.
SC 89“Sáu vị Sát-đế-lỵ này vâng theo lời của Bà la môn Mahà Govinda đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong, liền tâu vua Renu như sau:
SC 90“- Thiện hữu, vua Disampati đã mệnh chung, Thiện hữu Renu đã được phong vương vị. Thiện hữu có nhớ lời hứa của mình không?
SC 91“- Chư Thiện hữu, tôi có nhớ lời hứa của tôi. Chư Thiện hữu, ai có thể khéo phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều. Ðại địa này, phía Bắc thì rộng, phía Nam như bộ phận trước của cỗ xe?
SC 92“- Này Thiện hữu, ai có thể làm được, ngoại trừ Bà la môn Mahà Govinda?
SC 93PTS cs 35 “Rồi vua Renu cho gọi một người và nói:
SC 94“- Này Khanh, Khanh hãy đi đến chỗ Bà la môn Mahà Govinda, khi đến xong hãy nói với Bà la môn Govinda: “Này Thiện hữu, vua Renu cho gọi Thiện hữu.”
SC 95“- Xin vâng, tâu đại vương!
SC 96“ Người ấy vâng theo lời của vua Renu, đến tại chỗ của Bà la môn Ma hà Govinda ở, khi đến xong liền nói với Bà la môn Mahà Govinda::”—Thiện hữu, vua Renu cho gọi Thiện hữu.
“- Xin vâng, Thiện hữu!
SC 97“Bà-la-môn Mahà Govinda vâng theo lời nói của người ấy, đến tại chỗ vua Renu ở, khi đến xong liền nói lên những lời thăm viếng và những lời khen tặng xã giao với vua Renu rồi ngồi xuống một bên. Và vua Renu nói với Bà-la-môn Govinda đang ngồi xuống một bên như sau:
SC 98“- Này Thiện hữu Govinda, hãy đến và phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều, đại địa này phía Bắc thời rộng, phía Nam như bộ phận trước của cỗ xe.
SC 99“Bà-la-môn Mahà Govinda vâng theo lời nói của vua Renu phân chia đại địa này thành bảy phần đồng đều, đại địa này phía Bắc rộng, phía Nam như bộ phận trước của cỗ xe, tất cả phần như hình phần trước của cỗ xe.
SC 100PTS cs 36 “Và vua Reṇu giữ phần quốc độ trung ương.
SC 101“Dantapūra (Nại-đa-bố-la) cho dân Kàlingà (Ca-lăng-giới) và Potana (Bao-tĩnh-noa) cho dân Assaka (Ma-thấp-na-ka).
SC 102“Mahissatī (Ma-hê-sa-ma) cho dân Avanti (Ương-đế-na) và Roruka (Lao-lỗ-ca) cho dân Sovira (Tô-vĩ-la).
SC 103“Mithilà (Di-thế-la) cho dân Videhà (Vi-đề-hê) và Campà (Thiềm-ba) được tạo ra cho dân Anga (Ương-già),
SC 104“Bàrànasì (Ba-la-nại) cho dân Kāsi (Ca-thi).
SC 105“Tất cả đều do Govinda tạo lập.
SC 106“Và sáu vị Sát-đế-lỵ này đều hoan hỷ về khu phần của mình được và sự thành tựu của điều mong ước:
SC 107“- Những điều gì chúng tôi muốn, những điều gì chúng tôi ao ước, những điều gì chúng tôi nhắm đến, những điều gì chúng tôi hy vọng, chúng tôi đều được hết.
SC 108“Sattabhù (Phá Oan vương) và Brahmadatta (Phạm Thọ vương), Vessabhũ (Thắng Tôn vương) và Bharata (Minh Ái vương), Renu (Lê-nô vương) và hai Dhataratthà (Trì Quốc vương). Tất cả là bảy vị Bharata (Bà-la-đa vương).
SC 109PTS cs 37 “Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ ấy đến tại chỗ Bà-la-môn Màhà Govinda ở, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn Mahà Govinda (Ðại Ðiển Tôn)
SC 110“- Như thiện hữu Govinda là bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với vua Renu, cũng vậy Thiện hữu Mahà Govinda và bạn hữu thân tình, thân ái, tâm đầu ý hiệp với chúng tôi. Thiện hữu Govinda hãy giáo hóa chúng tôi, Thiện hữu Govinda chớ có từ chối giáo hóa.
SC 111“- Xin vâng, chư Thiện hữu.
SC 112“Thiện hữu Mahà Govinda trả lời cho sáu vị Sát-đế-lỵ này. Rồi Thiện hữu Mahà Govinda giáo hóa về vương chánh cho bảy vị Sát-đế-lỵ đã được phong vua, và Mahà Govinda dạy các chú thuật cho bảy vị triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh.
SC 113PTS cs 38 “Sau một thời gian, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về Bà-la-môn Mahà Govinda:
SC 114“- Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy Phạm thiên; Bà-la-môn Mahā Govinda tự thân nói chuyện thảo luận, luận nghị với Phạm thiên.
SC 115“Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về ta: Bà-la-môn Mahā Govinda tự thân thấy Phạm thiên; Bà-la-môn Mahā Govinda tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Nhưng ta không thấy Phạm thiên, ta không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên, không nghị luận với Phạm thiên. Ta có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử nói rằng: Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, người ấy sẽ thấy Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên. Vậy ta hãy sống tịnh cư trong bốn tháng mưa và tu tập thiền định về bi tâm”.
SC 116PTS cs 39 “Rồi Thiện hữu Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến vua Renu, khi đến xong liền tâu với vua Renu:
SC 117“Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về Thần: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng Thần không thấy được Phạm thiên, không nói chuyện được với Phạm thiên, không thảo luận được với Phạm thiên, không luận nghị được với Phạm thiên. Thần có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi nói ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay Thần muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, và tu tập thiền định về bi tâm. Không một ai được đến gặp thần, trừ chỉ một người đem đồ ăn.
SC 118“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Khanh nghĩ là hợp thời.
SC 119PTS cs 40 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đến tại chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong liền nói với sáu vị Sát-đế-lỵ:
SC 120“- Danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Tôi không được thấy Phạm thiên, không nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm Thiên. Nhưng tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm. Không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.
SC 121“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Thiện hữu nghĩ là hợp thời.
SC 122PTS cs 41 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ bảy vị triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh ở, khi đến xong liền nói với các vị này như sau:
SC 123“- Chư Thiện hữu, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng tôi không thấy được Phạm thiên, không nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.
SC 124“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì Thiện hữu nghĩ là hợp thời.
SC 125PTS cs 42 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng của mình, khi đến xong liền nói với bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng như sau:
SC 126“- Chư Thiện hữu, danh tiếng tốt đẹp sau đây được truyền tụng về tôi: “Bà-la-môn Mahà Govinda tự thân thấy được Phạm thiên, tự thân nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên”. Nhưng tôi không được thấy Phạm thiên, tôi không nói chuyện, thảo luận, luận nghị với Phạm thiên. Tôi có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và luận nghị với Phạm thiên”. Nay tôi muốn sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, không một ai được đến gặp tôi, chỉ trừ một người đem đồ ăn.
SC 127“- Này Thiện hữu Govinda, hãy làm những gì thiện hữu nghĩ là hợp thời.
SC 128PTS cs 43 “Rồi Thiện hữu Mahà Govinda cho làm một hội đường mới về phương Ðông kinh thành, tịnh cư trong bốn tháng mưa và tu tập thiền định về bi tâm, không một ai đến gặp, trừ người đem đồ ăn. Sau bốn tháng, sự thất vọng và sợ hãi sau đây khởi lên cho Bà-la-môn Mahà Govinda: “Ta có nghe các vị Bà-la-môn trưởng thượng, lớn tuổi, cả giáo thọ và đệ tử đều nói rằng: “Những ai sống tịnh cư trong bốn tháng mưa, tu tập thiền định về bi tâm, sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ nói chuyện, thảo luận và nghị luận với Phạm thiên. Nhưng nay ta không thấy Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên, không nghị luận với Phạm thiên”.
SC 129PTS cs 44 “Rồi Phạm thiên Sanankumāra với tâm của mình biết được tâm của Bà-la-môn Mahà Govinda, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Bà-la-môn Mahà Govinda. Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda hoảng hốt, run sợ, lông tóc dựng ngược, thốt lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên):
SC 130Ôi đoan tướng quang vinh,
Thiện hữu thật là ai?
Không biết nên hỏi Ngài.
Ðể chúng tôi biết Ngài!
Phạm thiên giới biết ta,
Là Ðồng tử thường hằng!
Ta là bậc thiên vương,
Hãy biết ta là vậy,
Hãy đem đến sàng tọa,
Nước rửa chân, thục mật.
Hiền giả muốn nhận gì,
Hãy cho chúng tôi biết!
Ta chấp nhận cúng vật,
Mà Ngươi vừa đề cập.
Vì hạnh phúc hiện tại,
Vì an lạc tương lai,
Dịp may nay đã đến,
Hãy hỏi điều Ngươi muốn.
SC 131PTS cs 45 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Ðây là dịp may Phạm thiên Sanankumāra dành cho ta. Ta nay hỏi Phạm thiên Sanankumāra điều gì đã được ích lợi cho hiện tại và tương lai?”.
SC 132“Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda suy nghĩ: “Ta rất giỏi về những lợi ích hiện tại. Chính người khác cũng hỏi ta về những lợi ích hiện tại. Vậy ta hãy hỏi Phạm thiên Sanankumāra lợi ích tương lai”.
SC 133“Rồi Ba-la-môn Mahà nói bài kệ sau đây với Phạm thiên Sanaṅkumāra:
SC 134Nay ta hỏi Phạm thiên,
Sanankumāra!
Ta hỏi điều nghi ngờ,
Người khác đều muốn biết!
An trú tại chỗ nào,
Tu tập tại chỗ nào,
Ðể chứng quả bất tử?SC 135Chính tại Phạm thiên giới:
Này Ngươi Bà-la-môn.
Ai bỏ ngã, ngã sở,
Tâm chuyên chú nhứt cảnh,
Tu tập đại bi tâm,
Thoát ly mọi xú uế,
Lánh xa mọi tà dục,
An trú ở nơi đây!
Ðể chứng quả bất tử,
Chính tại Phạm thiên giới.
SC 136PTS cs 46 “- Từ bỏ ngã và ngã sở hữu, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thưa Tôn giả, như vậy ta hiểu nghĩa từ bỏ ngã và ngã sở hữu.
SC 137“Tâm chuyên nhất cảnh, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người lựa một chỗ an trú thanh vắng, một khu rừng, một gốc cây, một ngọn núi, một hang cốc, một bãi tha ma, một sơn lâm, giữa trời không, một đống rơm. Thưa, Tôn giả, như vậy tôi hiểu nghĩa tâm chuyên nhất cảnh.
SC 138“Tu tập bi tâm, thưa Tôn giả, câu ấy tôi hiểu. Trong đời có người an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với bi quảng đại vô biên, không hận, không sân. Thưa Tôn giả, như vậy tôi hiểu nghĩa tu tập bi tâm.
SC 139“Thưa Tôn giả, riêng câu nói về xú uế tôi không được hiểu.
SC 140“Này Phạm thiên, trong loài người cái gì là xú uế?
SC 141“Ðó là điều ở nơi đây tôi không hiểu. Tôn giả hãy nói đi!
SC 142- Loài người bị gì che,
Bị trói buộc cái gì,
Phải chịu sanh đọa xứ,
Bị đóng cửa Phạm thiên?SC 143Phẫn nộ và vọng ngữ,
Gian manh và lừa đảo,
Hà tiện và quá mạn,
Tật đố và dục cầu,
Nghi ngờ và hại người,
Tham, sân, si kiêu mạn.
Những tánh này trói buộc,
Khiến con người xú uế,
Phải chịu sanh đọa xứ,
Bị đóng cửa Phạm thiên.
SC 144“- Như tôi hiểu lời Tôn giả giải thích về các xú uế, chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 145“- Hiền giả Govinda, hãy làm gì Hiền giả xem là hợp thời.
SC 146PTS cs 47 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ vua Renu ở, khi đến xong liền tâu với vua Renu:
SC 147“- Này Tôn giả, hãy tìm một phụ tá khác, vị này sẽ điều khiển quốc sự cho Tôn giả. Tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích các xú uế, chúng tôi dễ gì mà được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 148- Vua Renu quốc chủ,
Thần xin tâu Ngài rõ.
Hãy biết quốc độ Ngài,
Thần không thiết chức vụ.SC 149- Nếu Khanh thiếu dục lạc,
Ta cho Khanh đầy đủ!
Nếu có ai hại Khanh,
Quốc chủ, ta ngăn chận.
Khanh là cha, ta con,
Khanh chớ bỏ rơi ta.SC 150- Thần không thiếu dục lạc
Không có ai hại thần.
Vì nghe bậc phi nhân,
Thần không thiết gia đình.SC 151- Phi nhân ấy là ai,
Vị ấy đã nói gì,
Khanh nghe, bỏ gia đình,
Bỏ ta, bỏ tất cả?SC 152- Trước kia ở nơi đây,
Lòng thần chỉ nguyện cầu
Lo đốt nén lửa thiêng,
Và rải cỏ cát tường.
Nay Phạm thiên hiện ra,
Hiện từ Phạm thiên giới,
Trả lời câu hỏi thần,
Nghe xong thần bỏ nhà.SC 153- Này Khanh Govinda,
Ta tin lời Khanh nói!
Ðược nghe bậc phi nhân,
Làm sao làm khác được?
Ta sẽ theo gương Khanh,
Bậc thầy của chúng ta.
Như hòn ngọc lưu ly,
Không tỳ vết, cấu uế,
Thật trong sạch như vậy,
Ta theo giáo lý Người!
SC 154“- Nếu Thiện hữu Govinda xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thời tôi cũng xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 155PTS cs 48 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ ở, khi đến xong liền nói với sáu vị ấy như sau:
SC 156“- Chư Hiền giả, hãy tìm một vị phụ tá khác. Vị này sẽ điều khiển quốc sự cho quý vị Hiền giả. Tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 157“Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ đi qua một bên và thảo luận như sau:
SC 158“- Những người Bà-la-môn này rất tham tài sản. Chúng ta hãy lấy tài sản để dụ dỗ Bà-la-môn này.
SC 159“Các vị này đến tại chỗ của Bà-la-môn Mahà Govinda và nói:
SC 160“- Thiện hữu, tài sản trong bảy quốc độ này rất là phong phú, Thiện hữu muốn bao nhiêu, Thiện hữu cứ lấy bấy nhiêu.
SC 161“- Thôi thôi, chư Thiện hữu! Tài sản của tôi rất là phong phú, nhờ sự giúp đỡ của quý vị. Nay tôi đã bỏ mọi danh lợi ấy để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế, chúng không dễ gì được điều phục, nếu phải sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 162PTS cs 49 “Rồi sáu vị Sát-đế-lỵ, đi qua một bên và thảo luận như sau:
SC 163“Những người Bà-la-môn này rất tham đàn bà. Chúng tôi hãy lấy đàn bà để dụ dỗ Bà-la-môn này.
SC 164“Các vị này đến tại chỗ của Bà-la-môn Mahà Govinda và nói:
SC 165“- Thiện hữu, đàn bà trong bảy quốc độ này rất nhiều. Thiện hữu muốn bao nhiêu, Thiện hữu cứ lấy bấy nhiêu.
SC 166“- Thôi thôi, chư Thiện hữu, tôi có đến bốn mươi vị phu nhân, thảy đều đồng đẳng. Tôi nay muốn từ bỏ tất cả các vị ấy để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 167PTS cs 50 “- Nếu Thiện hữu Govinda sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, thì chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 168Nếu từ bỏ dục vọng,
Mà kẻ phàm say đắm.
Tinh cần và cương quyết,
Vững chắc trong nhẫn lực,
Ðó là con đường chánh,
Con đường hướng vô thượng,
Ðược Thiện nhân hộ trì,
Sanh lên cõi Phạm thiên.
SC 169PTS cs 51 “Do vậy, Thiện hữu Govinda hãy chờ bảy năm nữa, sau bảy năm chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi đi.
SC 170“- Chư Thiện hữu, bảy năm quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến bảy năm. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không gì được điều phục nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 171PTS cs 52 “- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ trong sáu năm nữa … hãy chờ trong năm năm nữa … hãy chờ trong bốn năm nữa … hãy chờ trong ba năm nữa … hãy chờ trong hai năm nữa … hãy chờ trong một năm nữa. Sau một năm chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 172PTS cs 53 “- Chư Thiện hữu, một năm quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến một năm. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh, chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 173“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ trong bảy tháng nữa. Sau bảy tháng chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 174PTS cs 54 “- Chư Thiện hữu, bảy tháng quá lâu dài. Tôi không thể chờ các Hiền giả đến bảy tháng. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 175“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ sáu tháng nữa … hãy chờ năm tháng nữa … hãy chờ bốn tháng nữa … hãy chờ ba tháng nữa … hãy chờ hai tháng nữa … hãy chờ một tháng nữa … hãy chờ nửa tháng nữa. Sau nửa tháng, chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 176PTS cs 55 “- Chư Thiện hữu, nửa tháng quá lâu dài, tôi không thể chờ các Hiền giả đến nửa tháng. Ai có thể biết được về mạng sống? Chúng ta phải bước đi, hướng về tương lai. Chúng ta phải học nhờ tuệ tri. Việc thiện chúng ta cần phải làm. Phạm hạnh chúng ta cần phải thực hành. Không ai tránh khỏi sự chết khi phải sanh ra. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 177“- Vậy Thiện hữu Govinda, hãy chờ cho bảy ngày cho đến khi chúng tôi giao quốc độ cho các người con và người anh của chúng tôi. Sau bảy ngày, chúng tôi sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 178“- Chư Thiện hữu, bảy ngày không lâu gì. Tôi sẽ chờ chư Thiện hữu cho đến bảy ngày.
SC 179PTS cs 56 “Rồi Bà-la-môn Mahā Govinda đi đến chỗ bảy triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh ở, khi đến xong liền nói với bảy vị triệu phú Bà-la-môn và bảy trăm vị tịnh hạnh như sau:
SC 180“- Này các Thiện hữu, hãy tìm một vị giáo thọ khác, vị ấy sẽ dạy các thần chú cho chư Thiện hữu, nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 181“- Thiện hữu Bà-la-môn Govinda, chớ có xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Thiện hữu, xuất gia ít có quyền thế, và ít có lợi dưỡng. Làm người Bà-la-môn có nhiều quyền thế và có nhiều lợi dưỡng.
SC 182“- Chư Thiện hữu chớ có nói như vậy: “Xuất gia ít có quyền thế và ít có lợi dưỡng. Làm người Bà-la-môn có nhiều quyền thế và có nhiều lợi dưỡng”. Chư Thiện hữu, có ai nhiều quyền thế và nhiều lợi dưỡng hơn tôi. Tôi nay là vua các vị vua, là Phạm thiên cho các vị Bà-la-môn, và là vị Trời cho các Gia chủ, và tất cả điều này, tôi muốn vất bỏ, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà điều phục nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!
SC 183“- Nếu Thiện hữu Govinda xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Thiện hữu đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 184PTS cs 57 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda đi đến bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng, khi đến xong liền nói với bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng như sau:
SC 185“- Các phu nhân, nếu muốn hãy trở về gia đình của mình hay gia đình quyến thuộc và tìm một người chồng khác. Tôi nay muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôi được nghe Phạm thiên giải thích về các xú uế. Chúng không dễ gì mà được điều phục, nếu sống tại gia. Nay tôi muốn xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 186“- Ngài là người quyến thuộc của chúng tôi, người quyến thuộc mà chúng tôi ao ước. Ngài là chồng của chúng tôi, người chồng mà chúng tôi ao ước. Nếu Tôn giả Govinda xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Chỗ nào Tôn giả đi, chỗ ấy chúng tôi sẽ đi.
SC 187PTS cs 58 “Rồi Bà-la-môn Mahà Govinda, sau bảy ngày liền cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi Bà-la-môn Mahà Govinda xuất gia, bảy vị Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh lên vương vị, bảy vị Bà-la-môn triệu phú, bảy trăm vị tịnh hạnh, bốn mươi vị phu nhân đồng đẳng, vài ngàn vị Sát-đế-lỵ, vài ngàn vị Bà-la-môn, vài ngàn cư sĩ, và một số thiếu phụ trẻ từ các cư xá thiếu phụ, những vị này đều cạo bỏ râu tóc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình theo Bà-la-môn Mahà Govinda. Và được bao vây bởi hội chúng như vậy, Bà-la-môn Mahà Govinda du hành đi qua làng, qua quận, qua các đô thị. Và đến tại làng nào, hay quận nào, hay đô thị nào, Bà-la-môn Mahà Govinda được xem là vua các vị vua, là Phạm thiên cho các Bà-la-môn, là vị Trời cho các cư sĩ. Trong thời gian ấy nếu có người nào nhảy mũi hay trượt chân, người ấy liền nói: “Ðảnh lễ Bà-la-môn Mahà Govinda! Ðảnh lễ vị phụ tá bảy quốc độ!”
SC 188PTS cs 59 “Bà-la-môn Mahà Govinda an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Bà-la-môn Mahà Govinda, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Và vị ấy dạy cho các đệ tử con đường đưa đến sự thân hữu với Phạm thiên giới.
SC 189PTS cs 60 “Và tất cả những vị nào, trong thời ấy là đệ tử của Bà-la-môn Mahà Govinda đều hiểu được toàn diện giáo lý của Bà-la-môn Mahà Govinda. Những vị này, khi thân hoại, mạng chung đều được sanh lên thiện thú, Phạm thiên giới. Những vị nào không hiểu một cách toàn diện tất cả giáo lý, sau khi thân hoại, mạng chung, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Tha Hóa Tự Tại thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh làm thân hữu với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, một số được sanh làm thân hữu với Tứ Thiên vương thiên. Cho đến những vị phải thành tựu các thân thấp kém nhất, cũng được thành tựu thân Càn-thát-bà.
SC 190Như vậy tất cả những thiện nam tử đã xuất gia không phải vô hiệu, không phải trống không, trái lại thật sự có hiệu quả, có tiến bộ.
SC 191PTS cs 61 Thế Tôn có nhớ không?
SC 192- Này Pancasikha, Ta có nhớ. Ta thuở ấy là Mahà Govinda. Ta dạy cho các đệ tử của Ta con đường đưa đến sự thân hữu ở Phạm thiên quốc. Nhưng này Pancasikha, con đường phạm hạnh ấy không đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Con đường ấy chỉ đưa sanh lên cõi Phạm thiên. Này Pancasikha, con đường phạm hạnh của Ta hoàn toàn đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Ðó là con đường Thánh đạo tám ngành tức là Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh. Này Pancasikha, con đường phạm hạnh này hoàn toàn đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
SC 193PTS cs 62 Này Pancasikha, những vị đệ tử nào đã hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, những vị ấy trừ diệt các lậu hoặc, vô lậu, tự mình hiện chứng thắng trí giác ngộ, sống an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Trong những vị không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một số những vị ấy, diệt trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (lên Thiên giới) và ở tại chỗ ấy được nhập Niết-bàn, không phải sanh lại thế giới này. Trong những vị không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một trong những vị ấy diệt trừ ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ phải sanh vào thế giới này một lần nữa rồi diệt tận khổ đau. Trong những vị này không hiểu được toàn diện tất cả giáo lý của Ta, một số những vị ấy từ diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải sanh vào đọa xứ, nhất định chứng quả Bồ-đề. Này Pancasikha, như vậy tất cả những thiện nam tử đã xuất gia, không phải vô hiệu, không phải trống không, trái lại thật sự có hiệu quả, có tiến bộ.
SC 194Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Pancasikha, con của Càn-thát-bà, sung sướng, hoan hỷ nghe lời dạy của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Mahāgovinda
Atha kho pañcasikho gandhabbaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ gijjhakūṭaṁ pabbataṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho pañcasikho gandhabbaputto bhagavantaṁ etadavoca: “yaṁ kho me, bhante, devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, ārocemi taṁ bhagavato”ti.
“Ārocehi me tvaṁ, pañcasikhā”ti bhagavā avoca.
Then, late at night, the centaur Pañcasikha, lighting up the entire Vulture’s Peak, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, I would tell you of what I heard and learned directly from the gods of the thirty-three.”
“Tell me, Pañcasikha,” said the Buddha.
293. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Bấy giờ, Pañcasikha, con trai của một vị Càn-thát-bà, vào lúc đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm toàn thể núi Gijjhakūṭa tỏa sáng, đã đi đến nơi Đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi đứng một bên. Đứng một bên, Pañcasikha, con trai của một vị Càn-thát-bà, bạch với Đức Thế Tôn lời này: 'Bạch Thế Tôn, điều con đã được nghe trực tiếp, được thọ nhận trực tiếp từ chư thiên cõi Tāvatiṃsa (Ba Mươi Ba), con xin trình bày điều ấy lên Đức Thế Tôn.' Đức Thế Tôn phán: 'Này Pañcasikha, ngươi hãy trình bày cho Ta.'
“Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni tadahuposathe pannarase pavāraṇāya puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā kevalakappā ca devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā; mahatī ca dibbaparisā samantato nisinnā honti, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti;
puratthimāya disāya dhataraṭṭho mahārājā pacchimābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; dakkhiṇāya disāya virūḷhako mahārājā uttarābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; pacchimāya disāya virūpakkho mahārājā puratthābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; uttarāya disāya vessavaṇo mahārājā dakkhiṇābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā.
Yadā, bhante, kevalakappā ca devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā, mahatī ca dibbaparisā samantato nisinnā honti, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti, idaṁ nesaṁ hoti āsanasmiṁ; atha pacchā amhākaṁ āsanaṁ hoti.
“Sir, it was more than a few days ago—on the fifteenth day sabbath on the full moon day at the invitation to admonish held at the end of the rainy season—when all the gods of the thirty-three were sitting together in the Hall of Clear Right. A large assembly of gods was sitting all around, and the four great kings were seated at the four quarters.
The Great King Dhataraṭṭha was seated to the east, facing west, in front of his gods. The Great King Virūḷhaka was seated to the south, facing north, in front of his gods. The Great King Virūpakkha was seated to the west, facing east, in front of his gods. The Great King Vessavaṇa was seated to the north, facing south, in front of his gods.
When the gods of the thirty-three have a gathering like this, that is how they are seated. After that come our seats.
294. Bạch Thế Tôn, vào những ngày trước, những ngày trước nữa, vào ngày bố-tát thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn của lễ Pavāraṇā, toàn thể chư thiên cõi Tāvatiṃsa đã ngồi họp lại, tụ tập tại hội trường Sudhammā. Và một hội chúng chư thiên đông đảo đã ngồi xung quanh, và bốn vị Đại vương đã ngồi ở bốn phương. Ở phương đông, Đại vương Dhataraṭṭha ngồi hướng về phương tây, với chư thiên ở phía trước. Ở phương nam, Đại vương Virūḷhaka ngồi hướng về phương bắc, với chư thiên ở phía trước. Ở phương tây, Đại vương Virūpakkha ngồi hướng về phương đông, với chư thiên ở phía trước. Ở phương bắc, Đại vương Vessavaṇa ngồi hướng về phương nam, với chư thiên ở phía trước. Bạch Thế Tôn, khi toàn thể chư thiên cõi Tāvatiṃsa đã ngồi họp lại, tụ tập tại hội trường Sudhammā, và một hội chúng chư thiên đông đảo đã ngồi xung quanh, và bốn vị Đại vương đã ngồi ở bốn phương, đây là chỗ ngồi của họ; sau đó mới đến chỗ ngồi của chúng con.
Ye te, bhante, devā bhagavati brahmacariyaṁ caritvā adhunūpapannā tāvatiṁsakāyaṁ, te aññe deve atirocanti vaṇṇena ceva yasasā ca. Tena sudaṁ, bhante, devā tāvatiṁsā attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā; ‘dibbā vata bho kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti.
Sir, those gods who had been recently reborn in the company of the thirty-three after leading the spiritual life under the Buddha outshine the other gods in beauty and glory. The gods of the thirty-three became uplifted and overjoyed at that, full of rapture and happiness, saying, ‘The heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle!’
Bạch Thế Tôn, những vị trời nào đã thực hành phạm hạnh dưới sự giáo hóa của Đức Thế Tôn, nay vừa sanh lên cõi Tāvatiṃsa, những vị trời ấy vượt trội hơn các vị trời khác về dung sắc và danh tiếng. Do đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṃsa hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan, vui mừng, nghĩ rằng: 'Chư vị ơi, thật vậy, các thiên chúng được sung mãn, còn các chúng a-tu-la bị suy giảm.'
Atha kho, bhante, sakko devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sampasādaṁ viditvā imāhi gāthāhi anumodi:
Seeing the joy of those gods, Sakka, lord of gods, celebrated with these verses:
295. Bạch Thế Tôn, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṃsa, đã tùy hỷ bằng những kệ ngôn này:
‘Modanti vata bho devā, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammataṁ.
‘The gods rejoice—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching;
“Chư hiền hữu, chư Thiên cõi Ba mươi ba cùng với Thiên chủ Sakka thật hoan hỷ khi đảnh lễ Đức Như Lai và tính chất khéo thuyết của Pháp.”
Nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine; Sugatasmiṁ brahmacariyaṁ, caritvāna idhāgate.
and seeing the new gods, so beautiful and glorious, who have come here after leading the spiritual life under the Buddha!
Và khi thấy các vị trời mới, có dung sắc, có danh tiếng, đã đến đây sau khi thực hành phạm hạnh dưới sự giáo hóa của Đức Thiện Thệ.
Te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā; Sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.
They outshine the others in beauty, glory, and lifespan. Here are the distinguished disciples of he whose wisdom is vast.
Các vị ấy, những đệ tử của bậc Trí Tuệ Rộng Lớn, đã đạt đến sự đặc thù ở đây, vượt trội hơn những vị khác về dung sắc, danh tiếng và tuổi thọ.
Idaṁ disvāna nandanti, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammatan’ti.
Seeing this, they delight—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching!’
Thấy điều này, chư thiên cõi Tāvatiṃsa cùng với vua Sakka vui mừng, khi đảnh lễ Đức Như Lai và thiện pháp tính của Giáo Pháp.
Tena sudaṁ, bhante, devā tāvatiṁsā bhiyyoso mattāya attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā; ‘dibbā vata bho, kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā’ti.
The gods of the thirty-three became even more uplifted and overjoyed at that, full of rapture and happiness, saying, ‘The heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle!’
Bạch Thế Tôn, do đó, chư thiên cõi Tāvatiṃsa lại càng thêm hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan, vui mừng, nghĩ rằng: 'Chư vị ơi, thật vậy, các thiên chúng được sung mãn, còn các chúng a-tu-la bị suy giảm.'
Tám phẩm chất chân thật
Atha kho, bhante, sakko devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sampasādaṁ viditvā deve tāvatiṁse āmantesi: ‘iccheyyātha no tumhe, mārisā, tassa bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe sotun’ti?
‘Icchāma mayaṁ, mārisa, tassa bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe sotun’ti.
Atha kho, bhante, sakko devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe payirudāhāsi:
‘Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā? Yāvañca so bhagavā bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Evaṁ bahujanahitāya paṭipannaṁ bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Seeing the joy of those gods, Sakka, lord of gods, addressed them, ‘Gentlemen, would you like to hear eight genuine praises of the Buddha?’
‘Indeed we would, sir.’
Then Sakka proffered these eight genuine praises of the Buddha:
‘What do the good gods of the thirty-three think? How the Buddha has acted for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans! I don’t see any Teacher, past or present, who has such sympathy for the world, apart from the Buddha.
296. Bạch Thế Tôn, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṃsa, đã nói với chư thiên cõi Tāvatiṃsa rằng: 'Này các hiền hữu, các vị có muốn nghe tám phẩm chất chân thật của Đức Thế Tôn ấy không?' 'Thưa hiền hữu, chúng tôi muốn nghe tám phẩm chất chân thật của Đức Thế Tôn ấy.' Bấy giờ, bạch Thế Tôn, Sakka, vua của chư thiên, đã tuyên thuyết tám phẩm chất chân thật của Đức Thế Tôn cho chư thiên cõi Tāvatiṃsa: 'Chư thiên cõi Tāvatiṃsa, các hiền hữu nghĩ thế nào? Đức Thế Tôn ấy đã thực hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc của chư thiên và loài người. Một vị Đạo sư có đầy đủ đặc tính thực hành vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc của chư thiên và loài người như vậy, chúng ta chưa từng thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài Đức Thế Tôn ấy.'
Svākkhāto kho pana tena bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi. Evaṁ opaneyyikassa dhammassa desetāraṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Also, the Buddha has explained the teaching well—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. I don’t see any Teacher, past or present, who explains such a relevant teaching, apart from the Buddha.
Lại nữa, Giáo Pháp đã được Đức Thế Tôn ấy khéo thuyết giảng, là pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình chứng ngộ. Một vị Đạo sư có đầy đủ đặc tính là người thuyết giảng Giáo Pháp có tính hướng thượng như vậy, chúng ta chưa từng thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài Đức Thế Tôn ấy.
“Idaṁ kusalan”ti kho pana tena bhagavatā supaññattaṁ, “idaṁ akusalan”ti supaññattaṁ. “Idaṁ sāvajjaṁ idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan”ti supaññattaṁ. Evaṁ kusalākusalasāvajjānavajjasevitabbāsevitabbahīnapaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgānaṁ dhammānaṁ paññāpetāraṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Also, the Buddha has well described what is skillful and what is unskillful, what is blameworthy and what is blameless, what should be cultivated and what should not be cultivated, what is inferior and what is superior, and what has a portion of dark or bright. I don’t see any Teacher, past or present, who so clearly describes all these things, apart from the Buddha.
‘Đức Thế Tôn ấy đã khéo thuyết giảng rằng: ‘Đây là thiện,’ đã khéo thuyết giảng rằng: ‘Đây là bất thiện.’ Ngài đã khéo thuyết giảng rằng: ‘Đây là có tội, đây là không có tội; đây là điều nên thực hành, đây là điều không nên thực hành; đây là điều hèn hạ, đây là điều cao thượng; đây là điều có phần đen và phần trắng.’ Vị Đạo Sư thành tựu đặc điểm này, là người tuyên thuyết về các pháp thiện và bất thiện, có tội và không có tội, nên thực hành và không nên thực hành, hèn hạ và cao thượng, có phần đen và phần trắng, một vị như thế chúng tôi chưa từng thấy trong quá khứ, và hiện nay cũng không thấy, ngoại trừ đức Thế Tôn ấy.
Supaññattā kho pana tena bhagavatā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā, saṁsandati nibbānañca paṭipadā ca. Seyyathāpi nāma gaṅgodakaṁ yamunodakena saṁsandati sameti; evameva supaññattā tena bhagavatā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā, saṁsandati nibbānañca paṭipadā ca. Evaṁ nibbānagāminiyā paṭipadāya paññāpetāraṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Abhinipphanno kho pana tassa bhagavato lābho abhinipphanno siloko, yāva maññe khattiyā sampiyāyamānarūpā viharanti, vigatamado kho pana so bhagavā āhāraṁ āhāreti. Evaṁ vigatamadaṁ āhāraṁ āharayamānaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Also, the Buddha has well described the practice that leads to extinguishment for his disciples. And extinguishment converges with the practice, as the waters of the Ganges join together and converge with the waters of the Yamunā. I don’t see any Teacher, past or present, who so clearly describes the practice that leads to extinguishment for his disciples, apart from the Buddha.
Also, possessions and popularity have accrued to the Buddha, so much that you’d think it would thrill even the aristocrats. But he takes his food free of vanity. I don’t see any Teacher, past or present, who takes their food so free of vanity, apart from the Buddha.
‘Đức Thế Tôn ấy đã khéo thuyết giảng cho các đệ tử về con đường thực hành đưa đến Niết-bàn; và Niết-bàn cùng con đường thực hành ấy tương ứng với nhau. Ví như nước sông Gaṅgā hòa hợp và tương ứng với nước sông Yamunā, cũng vậy, đức Thế Tôn ấy đã khéo thuyết giảng cho các đệ tử về con đường thực hành đưa đến Niết-bàn; và Niết-bàn cùng con đường thực hành ấy tương ứng với nhau. Vị Đạo Sư thành tựu đặc điểm này, là người tuyên thuyết về con đường thực hành đưa đến Niết-bàn, một vị như thế chúng tôi chưa từng thấy trong quá khứ, và hiện nay cũng không thấy, ngoại trừ đức Thế Tôn ấy.
Laddhasahāyo kho pana so bhagavā sekhānañceva paṭipannānaṁ khīṇāsavānañca vusitavataṁ. Te bhagavā apanujja ekārāmataṁ anuyutto viharati. Evaṁ ekārāmataṁ anuyuttaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Yathāvādī kho pana so bhagavā tathākārī, yathākārī tathāvādī, iti yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī. Evaṁ dhammānudhammappaṭipannaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Tiṇṇavicikiccho kho pana so bhagavā vigatakathaṅkatho pariyositasaṅkappo ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyaṁ. Evaṁ tiṇṇavicikicchaṁ vigatakathaṅkathaṁ pariyositasaṅkappaṁ ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā’ti.
Ime kho, bhante, sakko devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe payirudāhāsi. Tena sudaṁ, bhante, devā tāvatiṁsā bhiyyoso mattāya attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe sutvā.
Tatra, bhante, ekacce devā evamāhaṁsu: ‘aho vata, mārisā, cattāro sammāsambuddhā loke uppajjeyyuṁ dhammañca deseyyuṁ yathariva bhagavā. Tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Also, the Buddha has gained companions, both trainees who are practicing, and those with defilements ended who have completed their journey. The Buddha is committed to the joy of solitude, but doesn’t send them away. I don’t see any Teacher, past or present, so committed to the joy of solitude, apart from the Buddha.
Also, the Buddha does as he says, and says as he does, thus: he does as he says, and says as he does. I don’t see any Teacher, past or present, who so practices in line with the teaching, apart from the Buddha.
Also, the Buddha has gone beyond doubt and got rid of indecision. He has achieved all he wished for regarding the fundamental goal of the spiritual life. I don’t see any Teacher, past or present, who has achieved these things, apart from the Buddha.’
These are the eight genuine praises of the Buddha proffered by Sakka. Hearing them, the gods of the thirty-three became even more uplifted and overjoyed.
Then some gods thought, ‘If only four fully awakened Buddhas might arise in the world and teach the Dhamma, just like the Blessed One! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans!’
Đức Thế Tôn ấy dù đã có được các bạn đồng hành là các bậc hữu học đang thực hành và các bậc lậu tận đã hoàn tất phạm hạnh, nhưng Ngài đã lánh xa họ để sống chuyên tâm vào sự vui thích độc cư. Một vị Đạo Sư thành tựu chi phần này, là người chuyên tâm vào sự độc cư như vậy, chúng tôi không tìm thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Ekacce devā evamāhaṁsu: ‘tiṭṭhantu, mārisā, cattāro sammāsambuddhā, aho vata, mārisā, tayo sammāsambuddhā loke uppajjeyyuṁ dhammañca deseyyuṁ yathariva bhagavā. Tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Ekacce devā evamāhaṁsu: ‘tiṭṭhantu, mārisā, tayo sammāsambuddhā, aho vata, mārisā, dve sammāsambuddhā loke uppajjeyyuṁ dhammañca deseyyuṁ yathariva bhagavā. Tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Other gods thought, ‘Let alone four fully awakened Buddhas; if only three fully awakened Buddhas, or two fully awakened Buddhas might arise in the world and teach the Dhamma, just like the Blessed One! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans!’
297. “Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka đã tuyên thuyết cho chư Thiên cõi Ba mươi ba về tám lời tán dương chân thật này về Đức Thế Tôn. Do đó, bạch Thế Tôn, chư Thiên cõi Ba mươi ba lại càng thêm hân hoan, phấn khởi, phát khởi hỷ lạc và vui mừng sau khi nghe tám lời tán dương chân thật về Đức Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, ở đó có một số chư Thiên đã nói thế này: ‘Chư hiền hữu, thật tốt đẹp thay nếu có bốn vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết Pháp giống như Đức Thế Tôn! Điều đó sẽ vì lợi ích cho đa số, vì hạnh phúc cho đa số, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’ Một số chư Thiên khác đã nói thế này: ‘Chư hiền hữu, hãy khoan nói đến bốn vị Chánh Đẳng Giác, thật tốt đẹp thay nếu có ba vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết Pháp giống như Đức Thế Tôn! Điều đó sẽ vì lợi ích cho đa số, vì hạnh phúc cho đa số, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’ Lại có một số chư Thiên khác đã nói thế này: ‘Chư hiền hữu, hãy khoan nói đến ba vị Chánh Đẳng Giác, thật tốt đẹp thay nếu có hai vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết Pháp giống như Đức Thế Tôn! Điều đó sẽ vì lợi ích cho đa số, vì hạnh phúc cho đa số, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’”
Evaṁ vutte, bhante, sakko devānamindo deve tāvatiṁse etadavoca: ‘aṭṭhānaṁ kho etaṁ, mārisā, anavakāso, yaṁ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddhā apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Aho vata, mārisā, so bhagavā appābādho appātaṅko ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya. Tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Atha kho, bhante, yenatthena devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā, taṁ atthaṁ cintayitvā taṁ atthaṁ mantayitvā vuttavacanāpi taṁ cattāro mahārājāno tasmiṁ atthe honti. Paccānusiṭṭhavacanāpi taṁ cattāro mahārājāno tasmiṁ atthe honti, sakesu sakesu āsanesu ṭhitā avipakkantā.
When they said this, Sakka said, ‘It is impossible, gentlemen, for two perfected ones, fully awakened Buddhas to arise in the same solar system at the same time. May that Blessed One be healthy and well, and remain with us for a long time! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans!’
Then the gods of the thirty-three, having considered and deliberated on the matter for which they were seated together in the Hall of Clear Right, advised and instructed the four great kings on the subject. Each one, having been advised, stood at his own seat without leaving.
298. “Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Thiên chủ Sakka đã nói với chư Thiên cõi Ba mươi ba rằng: ‘Này chư hiền hữu, đây là điều không thể xảy ra, không có cơ hội, rằng trong một thế giới mà hai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác cùng xuất hiện không trước không sau, chuyện này không thể có. Chư hiền hữu, thật tốt đẹp thay nếu Đức Thế Tôn ấy ít bệnh, ít đau, trụ thế lâu dài trong một thời gian dài! Điều đó sẽ vì lợi ích cho đa số, vì hạnh phúc cho đa số, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài người.’ Bạch Thế Tôn, khi ấy vì mục đích mà chư Thiên cõi Ba mươi ba đã ngồi lại họp mặt tại pháp đường Sudhammā, sau khi đã suy tư và bàn bạc về mục đích đó, Tứ Đại Thiên Vương cũng là những vị đã nói lời của mình về mục đích đó, cũng là những vị đã nhận lời hướng dẫn về mục đích đó, các vị ấy vẫn đứng tại chỗ ngồi của mình và chưa rời đi.”
Te vuttavākyā rājāno, paṭiggayhānusāsaniṁ; Vippasannamanā santā, aṭṭhaṁsu samhi āsaneti.
The Kings were instructed, and heeded good advice. With clear and peaceful minds, they stood by their own seats.
“Các vị vua ấy, sau khi nói lời của mình và tiếp nhận lời hướng dẫn, với tâm trong sáng và an tịnh, đã đứng tại chỗ ngồi của mình.”
Atha kho, bhante, uttarāya disāya uḷāro āloko sañjāyi, obhāso pāturahosi atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Atha kho, bhante, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi: ‘yathā kho, mārisā, nimittāni dissanti, uḷāro āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā pātubhavissati; brahmuno hetaṁ pubbanimittaṁ pātubhāvāya, yadidaṁ āloko sañjāyati obhāso pātubhavatīti.
Then in the northern quarter a magnificent light arose and radiance appeared, surpassing the glory of the gods. Then Sakka, lord of gods, addressed the gods of the thirty-three, ‘As indicated by the signs—light arising and radiance appearing—the Divinity will appear. For this is the harbinger for the appearance of the Divinity, namely light arising and radiance appearing.’
299. “Bạch Thế Tôn, khi ấy ở phương Bắc, một luồng ánh sáng vĩ đại phát sanh, một hào quang xuất hiện vượt xa cả oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn, khi ấy Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên cõi Ba mươi ba: ‘Này chư hiền hữu, theo như các điềm tướng được thấy, ánh sáng vĩ đại phát sanh, hào quang xuất hiện, thì Phạm Thiên sẽ xuất hiện; vì đây là điềm báo trước cho sự xuất hiện của Phạm Thiên, tức là ánh sáng phát sanh, hào quang xuất hiện.’”
Yathā nimittā dissanti, brahmā pātubhavissati; Brahmuno hetaṁ nimittaṁ, obhāso vipulo mahā’ti.
As indicated by the signs, the Divinity will appear. For this is the sign of the Divinity: a light vast and great.
“‘Theo như các điềm tướng được thấy, Phạm Thiên sẽ xuất hiện; đây là điềm báo của Phạm Thiên, một hào quang rộng lớn và vĩ đại.’”
“Câu chuyện về Phạm Thiên Sanaṅkumāra.”
Atha kho, bhante, devā tāvatiṁsā yathāsakesu āsanesu nisīdiṁsu: ‘obhāsametaṁ ñassāma, yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā’ti. Cattāropi mahārājāno yathāsakesu āsanesu nisīdiṁsu: ‘obhāsametaṁ ñassāma, yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā’ti. Idaṁ sutvā devā tāvatiṁsā ekaggā samāpajjiṁsu: ‘obhāsametaṁ ñassāma, yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā’ti.
Then the gods of the thirty-three sat in their own seats, saying, ‘We shall find out what has caused that light, and only when we have realized it shall we go to it.’ And the four great kings did likewise. Hearing that, the gods of the thirty-three agreed in unison, ‘We shall find out what has caused that light, and only when we have realized it shall we go to it.’
300. “Bạch Thế Tôn, khi ấy chư Thiên cõi Ba mươi ba đã ngồi xuống tại các chỗ ngồi của mình (với ý nghĩ): ‘Chúng ta sẽ biết được hào quang này có kết quả như thế nào, sau khi đã chứng kiến tận mắt thì mới đi.’ Cả Tứ Đại Thiên Vương cũng ngồi xuống tại các chỗ ngồi của mình (với ý nghĩ): ‘Chúng ta sẽ biết được hào quang này có kết quả như thế nào, sau khi đã chứng kiến tận mắt thì mới đi.’ Sau khi nghe điều này, chư Thiên cõi Ba mươi ba tâm chuyên nhất đi sâu vào định (với ý nghĩ): ‘Chúng ta sẽ biết được hào quang này có kết quả như thế nào, sau khi đã chứng kiến tận mắt thì mới đi.’”
Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, oḷārikaṁ attabhāvaṁ abhinimminitvā pātubhavati. Yo kho pana, bhante, brahmuno pakativaṇṇo, anabhisambhavanīyo so devānaṁ tāvatiṁsānaṁ cakkhupathasmiṁ. Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca. Seyyathāpi, bhante, so vaṇṇo viggaho mānusaṁ viggahaṁ atirocati; evameva kho, bhante, yadā brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca. Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, na tassaṁ parisāyaṁ koci devo abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti. Sabbeva tuṇhībhūtā pañjalikā pallaṅkena nisīdanti: ‘yassadāni devassa pallaṅkaṁ icchissati brahmā sanaṅkumāro, tassa devassa pallaṅke nisīdissatī’ti. Yassa kho pana, bhante, devassa brahmā sanaṅkumāro pallaṅke nisīdati, uḷāraṁ so labhati devo vedapaṭilābhaṁ, uḷāraṁ so labhati devo somanassapaṭilābhaṁ. Seyyathāpi, bhante, rājā khattiyo muddhāvasitto adhunābhisitto rajjena, uḷāraṁ so labhati vedapaṭilābhaṁ, uḷāraṁ so labhati somanassapaṭilābhaṁ; evameva kho, bhante, yassa devassa brahmā sanaṅkumāro pallaṅke nisīdati, uḷāraṁ so labhati devo vedapaṭilābhaṁ, uḷāraṁ so labhati devo somanassapaṭilābhaṁ.
Atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sampasādaṁ viditvā antarahito imāhi gāthāhi anumodi:
When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, he does so after manifesting in a solid life-form. For a Divinity’s normal appearance is imperceptible in the visual range of the gods of the thirty-three. When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, he outshines the other gods in beauty and glory, as a golden statue outshines the human form. When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, not a single god in that assembly greets him by bowing down or rising up or inviting him to a seat. They all sit silently on their couches with their cupped palms raised, thinking, ‘Now the divinity Sanaṅkumāra will sit on the couch of whatever god he chooses.’ And the god on whose couch the Divinity sits is overjoyed and brimming with happiness, like a king on the day of his coronation.
Seeing the joy of those gods, the divinity Sanaṅkumāra celebrated with these verses:
Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa, ngài hóa hiện một thân tướng thô hiển rồi xuất hiện. Bạch Thế Tôn, sắc tướng tự nhiên của Phạm thiên không thể hiện ra trước tầm mắt của chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa, ngài vượt trội hơn các vị trời khác về sắc đẹp và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, ví như một hình tướng bằng vàng ròng vượt trội hơn hình tướng của loài người, cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa, ngài vượt trội hơn các vị trời khác về sắc đẹp và danh tiếng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa, trong hội chúng ấy không có vị trời nào đảnh lễ, hay đứng dậy đón tiếp, hay mời ngồi trên bảo tọa. Tất cả đều im lặng, chắp tay, ngồi tư thế kiết già và nghĩ rằng: 'Phạm thiên Sanaṅkumāra muốn ngồi trên bảo tọa của vị trời nào, ngài sẽ ngồi trên bảo tọa của vị trời ấy.' Bạch Thế Tôn, vị trời nào mà Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên bảo tọa của vị ấy, vị trời ấy có được sự hân hoan vĩ đại, vị trời ấy có được sự mãn ý vĩ đại. Bạch Thế Tôn, ví như một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, vừa mới được đăng cơ, vị ấy có được sự hân hoan vĩ đại, vị ấy có được sự mãn ý vĩ đại; cũng vậy, bạch Thế Tôn, vị trời nào mà Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên bảo tọa của vị ấy, vị trời ấy có được sự hân hoan vĩ đại, vị trời ấy có được sự mãn ý vĩ đại. Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra, biết được sự tịnh tín của chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa, ngài biến mất và tùy hỷ bằng những câu kệ này:
‘Modanti vata bho devā, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammataṁ.
‘The gods rejoice—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching;
‘Chư thiên cõi Tāvatiṃsa cùng với vua Sakka thật hoan hỷ thay, khi đảnh lễ đức Như Lai và sự thiện thuyết của Chánh pháp.
Nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine; Sugatasmiṁ brahmacariyaṁ, caritvāna idhāgate.
and seeing the new gods, so beautiful and glorious, who have come here after leading the spiritual life under the Buddha!
'(Họ hoan hỷ) khi thấy các vị trời mới, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã thực hành phạm hạnh trong giáo pháp của bậc Thiện Thệ, và đã đến đây.
Te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā; Sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.
They outshine the others in beauty, glory, and lifespan. Here are the distinguished disciples of he whose wisdom is vast.
‘Các đệ tử của bậc Quảng Tuệ ấy, những vị đã đạt đến sự thù thắng ở đây, đang vượt trội hơn các vị trời khác về sắc đẹp, danh tiếng và thọ mạng.
Idaṁ disvāna nandanti, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammatan’ti.
Seeing this, they delight—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching!’
‘Thấy rõ điều này, chư thiên Tāvatiṃsa cùng với vua Sakka vui mừng, khi đảnh lễ đức Như Lai và sự thiện thuyết của Chánh pháp.’
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro abhāsittha. Imamatthaṁ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti vissaṭṭho ca viññeyyo ca mañju ca savanīyo ca bindu ca avisārī ca gambhīro ca ninnādī ca. Yathāparisaṁ kho pana, bhante, brahmā sanaṅkumāro sarena viññāpeti, na cassa bahiddhā parisāya ghoso niccharati. Yassa kho pana, bhante, evaṁ aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti, so vuccati ‘brahmassaro’ti.
Atha kho, bhante, devā tāvatiṁsā brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ etadavocuṁ: ‘sādhu, mahābrahme, etadeva mayaṁ saṅkhāya modāma; atthi ca sakkena devānamindena tassa bhagavato aṭṭha yathābhuccā vaṇṇā bhāsitā; te ca mayaṁ saṅkhāya modāmā’ti.
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And while he was speaking on that topic, his voice had eight qualities: it was clear, comprehensible, charming, audible, lucid, undistorted, deep, and resonant. He makes sure his voice is intelligible as far as the assembly goes, but the sound doesn’t extend outside the assembly. When someone has a voice like this, they’re said to have the voice of the Divinity.
Then the gods of the thirty-three said to the divinity Sanaṅkumāra, ‘Good, Great Divinity! Having appraised this, we rejoice. And there are the eight genuine praises of the Buddha spoken by Sakka—having appraised them, too, we rejoice.’
301. Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói lên ý nghĩa này, giọng nói của ngài hội đủ tám đặc điểm: thanh thoát, dễ hiểu, ngọt ngào, dễ nghe, tròn trịa, không tán loạn, sâu lắng, và vang dội. Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra dùng giọng nói để truyền đạt cho hội chúng nghe, nhưng âm thanh của ngài không truyền ra ngoài hội chúng ấy. Bạch Thế Tôn, người nào có giọng nói hội đủ tám đặc điểm như vậy, vị ấy được gọi là người có ‘giọng Phạm thiên’. Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa thưa với Phạm thiên Sanaṅkumāra rằng: ‘Lành thay, thưa Đại Phạm thiên, chúng con hoan hỷ khi biết rõ điều này; cũng có tám lời ca ngợi đúng sự thật về đức Thế Tôn đã được Sakka, vua của chư thiên, nói lên; và chúng con cũng hoan hỷ khi biết rõ những điều ấy.’
Tám lời ca ngợi đúng sự thật
Atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca: ‘sādhu, devānaminda, mayampi tassa bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe suṇeyyāmā’ti.
‘Evaṁ, mahābrahme’ti kho, bhante, sakko devānamindo brahmuno sanaṅkumārassa bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe payirudāhāsi.
Then the Divinity said to Sakka, ‘It would be good, lord of gods, if I could also hear the eight genuine praises of the Buddha.’
Saying, ‘Yes, Great Divinity,’ Sakka repeated the eight genuine praises for him.
302. Bạch Thế Tôn, khi ấy Phạm thiên Sanaṅkumāra thưa với Sakka, vua của chư thiên rằng: ‘Lành thay, thưa vua của chư thiên, chúng tôi cũng muốn được nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về đức Thế Tôn ấy.’ Bạch Thế Tôn, vua trời Sakka đáp: ‘Thưa vâng, Đại Phạm thiên,’ rồi vua trời Sakka đã trình bày cho Phạm thiên Sanaṅkumāra tám lời ca ngợi đúng sự thật về đức Thế Tôn.
‘Taṁ kiṁ maññati, bhavaṁ mahābrahmā? Yāvañca so bhagavā bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Evaṁ bahujanahitāya paṭipannaṁ bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
‘Thưa ngài Đại Phạm thiên, ngài nghĩ thế nào? Đức Thế Tôn ấy đã thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, vì sự tốt đẹp, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người. Một vị Đạo sư thành tựu đặc điểm là thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, vì sự tốt đẹp, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người như vậy, chúng tôi không thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Svākkhāto kho pana tena bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi. Evaṁ opaneyyikassa dhammassa desetāraṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Lại nữa, Pháp đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Một vị Đạo sư thành tựu đặc điểm là người thuyết giảng Pháp có khả năng hướng thượng như vậy, chúng tôi không thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
“Idaṁ kusalan”ti kho pana tena bhagavatā supaññattaṁ, “idaṁ akusalan”ti supaññattaṁ, “idaṁ sāvajjaṁ idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan”ti supaññattaṁ. Evaṁ kusalākusalasāvajjānavajjasevitabbāsevitabbahīnapaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgānaṁ dhammānaṁ paññāpetāraṁ. Imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
‘Đây là thiện’ đã được đức Thế Tôn khéo tuyên thuyết, ‘đây là bất thiện’ đã được khéo tuyên thuyết, ‘đây là có tội, đây là không có tội; đây là nên thực hành, đây là không nên thực hành; đây là hạ liệt, đây là cao thượng; đây là có phần đen và phần trắng đối đãi’ đã được khéo tuyên thuyết. Một vị Đạo sư thành tựu đặc điểm là người tuyên thuyết các pháp thiện và bất thiện, có tội và không có tội, nên thực hành và không nên thực hành, hạ liệt và cao thượng, có phần đen và phần trắng đối đãi như vậy, chúng tôi không thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.’
Supaññattā kho pana tena bhagavatā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā saṁsandati nibbānañca paṭipadā ca. Seyyathāpi nāma gaṅgodakaṁ yamunodakena saṁsandati sameti; evameva supaññattā tena bhagavatā sāvakānaṁ nibbānagāminī paṭipadā saṁsandati nibbānañca paṭipadā ca. Evaṁ nibbānagāminiyā paṭipadāya paññāpetāraṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Con đường đưa đến Niết-bàn đã được đức Thế Tôn khéo chế định cho các đệ tử, và Niết-bàn cùng với con đường ấy là tương ứng với nhau. Ví như nước sông Hằng hòa hợp và tương ứng với nước sông Yamunā; cũng vậy, con đường đưa đến Niết-bàn đã được đức Thế Tôn khéo chế định cho các đệ tử, và Niết-bàn cùng với con đường ấy là tương ứng với nhau. Một vị Đạo Sư thành tựu chi phần này, là người thuyết giảng con đường đưa đến Niết-bàn như vậy, chúng tôi không tìm thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Abhinipphanno kho pana tassa bhagavato lābho abhinipphanno siloko, yāva maññe khattiyā sampiyāyamānarūpā viharanti. Vigatamado kho pana so bhagavā āhāraṁ āhāreti. Evaṁ vigatamadaṁ āhāraṁ āharayamānaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Laddhasahāyo kho pana so bhagavā sekhānañceva paṭipannānaṁ khīṇāsavānañca vusitavataṁ, te bhagavā apanujja ekārāmataṁ anuyutto viharati. Evaṁ ekārāmataṁ anuyuttaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Lợi lộc và danh tiếng của đức Thế Tôn ấy đã được thành tựu viên mãn, đến mức tôi nghĩ rằng ngay cả các vị Sát-đế-lỵ cũng sống với vẻ mặt rất mực kính mến Ngài. Và đức Thế Tôn ấy thọ dụng vật thực mà không hề có sự say đắm (kiêu mạn). Một vị Đạo Sư thành tựu chi phần này, là người thọ dụng vật thực mà không còn sự say đắm như vậy, chúng tôi không tìm thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Yathāvādī kho pana so bhagavā tathākārī, yathākārī tathāvādī; iti yathāvādī tathākārī, yathākārī tathāvādī. Evaṁ dhammānudhammappaṭippannaṁ imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā.
Đức Thế Tôn ấy nói sao làm vậy, làm sao nói vậy; đúng thật là nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Một vị Đạo Sư thành tựu chi phần này, là người thực hành đúng theo pháp và tùy pháp như vậy, chúng tôi không tìm thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Tiṇṇavicikiccho kho pana so bhagavā vigatakathaṅkatho pariyositasaṅkappo ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyaṁ. Evaṁ tiṇṇavicikicchaṁ vigatakathaṅkathaṁ pariyositasaṅkappaṁ ajjhāsayaṁ ādibrahmacariyaṁ. Imināpaṅgena samannāgataṁ satthāraṁ neva atītaṁse samanupassāma, na panetarahi, aññatra tena bhagavatā’ti.
Đức Thế Tôn ấy đã vượt qua hoài nghi, không còn sự phân vân, ý nguyện đã viên mãn về ý hướng và phạm hạnh căn bản. Một vị Đạo Sư thành tựu chi phần này, là người đã vượt qua hoài nghi, không còn sự phân vân, ý nguyện đã viên mãn về ý hướng và phạm hạnh căn bản như vậy, chúng tôi không tìm thấy trong quá khứ, và hiện tại cũng không thấy ai khác ngoài đức Thế Tôn ấy.
Ime kho, bhante, sakko devānamindo brahmuno sanaṅkumārassa bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe payirudāhāsi. Tena sudaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro attamano hoti pamudito pītisomanassajāto bhagavato aṭṭha yathābhucce vaṇṇe sutvā. Atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro oḷārikaṁ attabhāvaṁ abhinimminitvā kumāravaṇṇī hutvā pañcasikho devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāturahosi. So vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīdi. Seyyathāpi, bhante, balavā puriso supaccatthate vā pallaṅke same vā bhūmibhāge pallaṅkena nisīdeyya; evameva kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīditvā deve tāvatiṁse āmantesi:
Hearing them, the divinity Sanaṅkumāra was uplifted and overjoyed, full of rapture and happiness. Then the divinity Sanaṅkumāra manifested in a solid life-form, taking on the appearance of the youth Pañcasikha, and appeared to the gods of the thirty-three. Rising into the air, he sat cross-legged in the sky, like a strong man might sit cross-legged on a well-appointed couch or on level ground. There he addressed the gods of the thirty-three:
303. Bạch ngài, đây là tám lời tán dương chân thật về đức Thế Tôn mà Sakka, vua của chư thiên, đã tuyên thuyết cho Phạm thiên Sanaṅkumāra. Bạch ngài, do đó, sau khi nghe tám lời tán dương chân thật về đức Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã hoan hỷ, phấn khởi, sinh tâm vui mừng và thỏa thích. Kế đó, bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra, sau khi hóa hiện thân thể thô thiển, đã hiện ra trước chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba trong hình tướng của một đồng tử có năm bím tóc. Vị ấy bay lên không trung rồi ngồi kiết-già ở khoảng không giữa hư không. Bạch ngài, ví như người đàn ông có sức mạnh ngồi kiết-già trên chiếc ghế dài được trải sẵn hoặc trên mặt đất bằng phẳng, cũng vậy, bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra, sau khi bay lên không trung rồi ngồi kiết-già ở khoảng không giữa hư không, đã nói với chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba rằng:
Câu chuyện về Bà-la-môn Govinda
‘Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāva dīgharattaṁ mahāpaññova so bhagavā ahosi.
Bhūtapubbaṁ, bho, rājā disampati nāma ahosi. Disampatissa rañño govindo nāma brāhmaṇo purohito ahosi. Disampatissa rañño reṇu nāma kumāro putto ahosi. Govindassa brāhmaṇassa jotipālo nāma māṇavo putto ahosi. Iti reṇu ca rājaputto jotipālo ca māṇavo aññe ca cha khattiyā iccete aṭṭha sahāyā ahesuṁ.
Atha kho, bho, ahorattānaṁ accayena govindo brāhmaṇo kālamakāsi. Govinde brāhmaṇe kālaṅkate rājā disampati paridevesi: “yasmiṁ vata, bho, mayaṁ samaye govinde brāhmaṇe sabbakiccāni sammā vossajjitvā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārema, tasmiṁ no samaye govindo brāhmaṇo kālaṅkato”ti.
Evaṁ vutte, bho, reṇu rājaputto rājānaṁ disampatiṁ etadavoca: “mā kho tvaṁ, deva, govinde brāhmaṇe kālaṅkate atibāḷhaṁ paridevesi. Atthi, deva, govindassa brāhmaṇassa jotipālo nāma māṇavo putto paṇḍitataro ceva pitarā, alamatthadasataro ceva pitarā; yepissa pitā atthe anusāsi, tepi jotipālasseva māṇavassa anusāsaniyā”ti.
“Evaṁ, kumārā”ti?
“Evaṁ, devā”ti.
‘What do the gods of the thirty-three think about the extent of the Buddha’s great wisdom?
Once upon a time, there was a king named Disampati. He had a brahmin high priest named the Steward. Disampati’s son was the prince named Reṇu, while the Steward’s son was the student named Jotipāla. There were Reṇu the prince, Jotipāla the student, and six other aristocrats; these eight became friends.
In due course the brahmin Steward passed away. At his passing, King Disampati lamented, “At a time when I have relinquished all my duties to the brahmin Steward and amuse myself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, he passes away!”
When he said this, Prince Reṇu said to him, “Your Majesty, don’t lament too much at the Steward’s passing. He has a son named Jotipāla, who is even more astute and expert than his father. He should manage the affairs that were managed by his father.”
“Is that so, my prince?”
“That is so, Your Majesty.”
304. Này hỡi chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, các ngài nghĩ thế nào? Đức Thế Tôn ấy đã là bậc đại trí tuệ trong một thời gian thật dài. Này các ngài, thuở xưa, có vị vua tên là Disampati. Vua Disampati có vị Bà-la-môn tế tự tên là Govinda. Vua Disampati có người con trai là hoàng tử tên là Reṇu. Bà-la-môn Govinda có người con trai là thanh niên tên là Jotipāla. Như vậy, hoàng tử Reṇu, thanh niên Jotipāla, và sáu vị Sát-đế-lỵ khác, tám vị này là bạn bè của nhau. Này các ngài, sau đó, một thời gian trôi qua, Bà-la-môn Govinda qua đời. Khi Bà-la-môn Govinda qua đời, vua Disampati than khóc rằng: ‘Này các ngài, vào lúc chúng ta, sau khi đã giao phó đúng đắn mọi công việc cho Bà-la-môn Govinda, đang tận hưởng, được cung phụng và đầy đủ năm dục trưởng dưỡng, thì ngay lúc ấy, Bà-la-môn Govinda của chúng ta đã qua đời!’ Này các ngài, khi được nói vậy, hoàng tử Reṇu đã thưa với vua Disampati rằng: ‘Tâu Đại vương, xin ngài chớ quá đau buồn về việc Bà-la-môn Govinda qua đời. Tâu Đại vương, Bà-la-môn Govinda có người con trai là thanh niên tên là Jotipāla, người này còn thông thái hơn cả cha mình, và còn có khả năng thấy được lợi ích hơn cả cha mình. Những công việc nào mà cha của vị ấy đã chỉ dạy, thì những việc ấy cũng nên được thanh niên Jotipāla chỉ dạy.’ ‘Có phải vậy không, hoàng tử?’ ‘Tâu Đại vương, đúng là như vậy.’
Câu chuyện về Đại Govinda
Atha kho, bho, rājā disampati aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yena jotipālo māṇavo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā jotipālaṁ māṇavaṁ evaṁ vadehi: ‘bhavamatthu bhavantaṁ jotipālaṁ, rājā disampati bhavantaṁ jotipālaṁ māṇavaṁ āmantayati, rājā disampati bhoto jotipālassa māṇavassa dassanakāmo’”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho, bho, so puriso disampatissa rañño paṭissutvā yena jotipālo māṇavo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca: “bhavamatthu bhavantaṁ jotipālaṁ, rājā disampati bhavantaṁ jotipālaṁ māṇavaṁ āmantayati, rājā disampati bhoto jotipālassa māṇavassa dassanakāmo”ti. “Evaṁ, bho”ti kho, bho, jotipālo māṇavo tassa purisassa paṭissutvā yena rājā disampati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā disampatinā raññā saddhiṁ sammodi;
sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho, bho, jotipālaṁ māṇavaṁ rājā disampati etadavoca: “anusāsatu no bhavaṁ jotipālo, mā no bhavaṁ jotipālo anusāsaniyā paccabyāhāsi. Pettike taṁ ṭhāne ṭhapessāmi, govindiye abhisiñcissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho, bho, so jotipālo māṇavo disampatissa rañño paccassosi.
Atha kho, bho, rājā disampati jotipālaṁ māṇavaṁ govindiye abhisiñci, taṁ pettike ṭhāne ṭhapesi. Abhisitto jotipālo māṇavo govindiye pettike ṭhāne ṭhapito yepissa pitā atthe anusāsi tepi atthe anusāsati, yepissa pitā atthe nānusāsi tepi atthe anusāsati; yepissa pitā kammante abhisambhosi tepi kammante abhisambhoti, yepissa pitā kammante nābhisambhosi tepi kammante abhisambhoti. Tamenaṁ manussā evamāhaṁsu: “govindo vata, bho, brāhmaṇo, mahāgovindo vata, bho, brāhmaṇo”ti. Iminā kho evaṁ, bho, pariyāyena jotipālassa māṇavassa govindo mahāgovindotveva samaññā udapādi.
So King Disampati addressed one of his men, “Please, my man, go to the student Jotipāla, and say to him, ‘Best wishes, Jotipāla! You are summoned by King Disampati; he wants to see you.’”
“Yes, Your Majesty,” replied that man, and did as he was asked. Then Jotipāla went to the king and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and the king said to him, “May you, Jotipāla, manage my affairs—please don’t turn me down! I shall appoint you to your father’s position, and anoint you as Steward.”
“Yes, worthy sir,” replied Jotipāla.
So the king anointed him as Steward and appointed him to his father’s position. After his appointment, the Steward Jotipāla managed both the affairs that his father had managed, and other affairs that his father had not managed. He organized both the works that his father had organized, and other works that his father had not organized. When people noticed this they said, “The brahmin is indeed a Steward, a Great Steward!” And that’s how the student Jotipāla came to be known as the Great Steward.
305. “Khi ấy, này các vị, vua Disampati cho gọi một người đàn ông và bảo rằng: ‘Này người kia, ngươi hãy đi đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, hãy nói với thanh niên Jotipāla như sau: ‘Chúc Tôn giả Jotipāla được an lành, vua Disampati cho mời Tôn giả thanh niên Jotipāla, vua Disampati muốn được gặp Tôn giả thanh niên Jotipāla.’’ ‘Thưa vâng, tâu Thiên tử.’ Này các vị, người đàn ông ấy vâng lời vua Disampati rồi đi đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, người ấy đã nói với thanh niên Jotipāla điều này: ‘Chúc Tôn giả Jotipāla được an lành, vua Disampati cho mời Tôn giả thanh niên Jotipāla, vua Disampati muốn được gặp Tôn giả thanh niên Jotipāla.’ ‘Thưa vâng, Tôn giả.’ Này các vị, thanh niên Jotipāla vâng lời người đàn ông ấy rồi đi đến chỗ vua Disampati; sau khi đến, vị ấy đã cùng với vua Disampati thăm hỏi nhau; sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Này các vị, vua Disampati đã nói điều này với thanh niên Jotipāla đang ngồi một bên: ‘Mong Tôn giả Jotipāla hãy giáo huấn chúng tôi, mong Tôn giả Jotipāla chớ từ chối việc giáo huấn chúng tôi. Ta sẽ đặt ngài vào địa vị của phụ thân ngài, sẽ làm lễ quán đảnh cho ngài vào chức vụ Govinda.’ ‘Thưa vâng, Tôn giả.’ Này các vị, thanh niên Jotipāla ấy đã vâng lời vua Disampati. Khi ấy, này các vị, vua Disampati đã làm lễ quán đảnh cho thanh niên Jotipāla vào chức vụ Govinda, đã đặt vị ấy vào địa vị của phụ thân vị ấy. Thanh niên Jotipāla, sau khi được quán đảnh vào chức vụ Govinda và được đặt vào địa vị của phụ thân, đã giáo huấn về những công việc mà phụ thân của vị ấy đã từng giáo huấn, và cũng giáo huấn về những công việc mà phụ thân của vị ấy đã không giáo huấn; vị ấy đã chu toàn những công việc mà phụ thân của vị ấy đã từng chu toàn, và cũng chu toàn những công việc mà phụ thân của vị ấy đã không chu toàn. Mọi người đã nói về vị ấy như sau: ‘Thật vậy, này các vị, vị Bà-la-môn Govinda! Thật vậy, này các vị, vị Bà-la-môn Mahāgovinda!’ Này các vị, chính do duyên cớ này mà thanh niên Jotipāla đã có được danh xưng là Govinda, Mahāgovinda.”
Sự Phân Chia Vương Quốc
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te cha khattiyā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te cha khattiye etadavoca: “disampati kho, bho, rājā jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, ko nu kho pana, bho, jānāti jīvitaṁ? Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ disampatimhi raññe kālaṅkate rājakattāro reṇuṁ rājaputtaṁ rajje abhisiñceyyuṁ. Āyantu, bhonto, yena reṇu rājaputto tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājaputtaṁ evaṁ vadetha: ‘mayaṁ kho bhoto reṇussa sahāyā piyā manāpā appaṭikūlā, yaṁsukho bhavaṁ taṁsukhā mayaṁ, yaṁdukkho bhavaṁ taṁdukkhā mayaṁ. Disampati kho, bho, rājā jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, ko nu kho pana, bho, jānāti jīvitaṁ? Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ disampatimhi raññe kālaṅkate rājakattāro bhavantaṁ reṇuṁ rajje abhisiñceyyuṁ. Sace bhavaṁ reṇu rajjaṁ labhetha, saṁvibhajetha no rajjenā’”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho, bho, te cha khattiyā mahāgovindassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena reṇu rājaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājaputtaṁ etadavocuṁ: “mayaṁ kho bhoto reṇussa sahāyā piyā manāpā appaṭikūlā; yaṁsukho bhavaṁ taṁsukhā mayaṁ, yaṁdukkho bhavaṁ taṁdukkhā mayaṁ. Disampati kho, bho, rājā jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, ko nu kho pana bho jānāti jīvitaṁ? Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ disampatimhi raññe kālaṅkate rājakattāro bhavantaṁ reṇuṁ rajje abhisiñceyyuṁ. Sace bhavaṁ reṇu rajjaṁ labhetha, saṁvibhajetha no rajjenā”ti.
“Ko nu kho, bho, añño mama vijite sukho bhavetha, aññatra bhavantebhi? Sacāhaṁ, bho, rajjaṁ labhissāmi, saṁvibhajissāmi vo rajjenā”ti.
Then the Great Steward went to the six aristocrats and said, “King Disampati is old, elderly and senior, advanced in years, and has reached the final stage of life. Who knows how long he has to live? It’s likely that when he passes away the king-makers will anoint Prince Reṇu as king. Come, sirs, go to Prince Reṇu and say, ‘Prince Reṇu, we are your friends, dear, beloved, and cherished. We have shared your joys and sorrows. King Disampati is old, elderly and senior, advanced in years, and has reached the final stage of life. Who knows how long he has to live? It’s likely that when he passes away the king-makers will anoint you as king. If you should gain kingship, share it with us.’”
“Yes, worthy sir,” replied the six aristocrats. They went to Prince Reṇu and put the proposal to him.
The prince replied, “Who else, sirs, in my realm ought to prosper if not you? If I gain kingship, I will share it with you all.”
306. “Khi ấy, này các vị, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, vị ấy đã nói với sáu vị Sát-đế-lỵ kia điều này: ‘Thưa các Tôn giả, vua Disampati đã già yếu, cao niên, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Này các Tôn giả, ai mà biết được mạng sống chứ? Có khả năng rằng, sau khi vua Disampati băng hà, những người có quyền lập vua sẽ làm lễ quán đảnh cho vương tử Reṇu lên ngôi vua. Các Tôn giả hãy đến, hãy đi đến chỗ vương tử Reṇu; sau khi đến, hãy nói với vương tử Reṇu như sau: ‘Chúng tôi là bạn bè của Tôn giả Reṇu, thân thiết, quý mến, không trái ý. Khi Tôn giả được an lạc, chúng tôi cũng được an lạc; khi Tôn giả bị đau khổ, chúng tôi cũng bị đau khổ. Thưa Tôn giả, vua Disampati đã già yếu, cao niên, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Này Tôn giả, ai mà biết được mạng sống chứ? Có khả năng rằng, sau khi vua Disampati băng hà, những người có quyền lập vua sẽ làm lễ quán đảnh cho Tôn giả Reṇu lên ngôi vua. Nếu Tôn giả Reṇu nhận được vương quốc, xin hãy phân chia vương quốc cho chúng tôi.’’ ‘Thưa vâng, Tôn giả.’ Này các vị, sáu vị Sát-đế-lỵ kia vâng lời Bà-la-môn Mahāgovinda rồi đi đến chỗ vương tử Reṇu; sau khi đến, họ đã nói với vương tử Reṇu điều này: ‘Chúng tôi là bạn bè của Tôn giả Reṇu, thân thiết, quý mến, không trái ý. Khi Tôn giả được an lạc, chúng tôi cũng được an lạc; khi Tôn giả bị đau khổ, chúng tôi cũng bị đau khổ. Thưa Tôn giả, vua Disampati đã già yếu, cao niên, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều. Này Tôn giả, ai mà biết được mạng sống chứ? Có khả năng rằng, sau khi vua Disampati băng hà, những người có quyền lập vua sẽ làm lễ quán đảnh cho Tôn giả Reṇu lên ngôi vua. Nếu Tôn giả Reṇu nhận được vương quốc, xin hãy phân chia vương quốc cho chúng tôi.’ ‘Này các Tôn giả, ngoài các ngài ra, còn ai khác trong vương quốc của ta được an lạc chứ? Này các Tôn giả, nếu ta nhận được vương quốc, ta sẽ phân chia vương quốc cho các ngài.’”
Atha kho, bho, ahorattānaṁ accayena rājā disampati kālamakāsi. Disampatimhi raññe kālaṅkate rājakattāro reṇuṁ rājaputtaṁ rajje abhisiñciṁsu. Abhisitto reṇu rajjena pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te cha khattiyā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te cha khattiye etadavoca: “disampati kho, bho, rājā kālaṅkato. Abhisitto reṇu rajjena pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti. Ko nu kho pana, bho, jānāti, madanīyā kāmā? Āyantu, bhonto, yena reṇu rājā tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājānaṁ evaṁ vadetha: ‘disampati kho, bho, rājā kālaṅkato, abhisitto bhavaṁ reṇu rajjena, sarati bhavaṁ taṁ vacanan’”ti?
In due course King Disampati passed away. At his passing, the king-makers anointed Prince Reṇu as king. But after being anointed, King Reṇu amused himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation.
Then the Great Steward went to the six aristocrats and said, “King Disampati has passed away. But after being anointed, King Reṇu amused himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. Who knows the intoxicating power of sensual pleasures? Come, sirs, go to King Reṇu and say, ‘Worthy sir, King Disampati has passed away, and you have been anointed as king. Do you remember what you said?’”
307. “Khi ấy, này các vị, sau một thời gian, vua Disampati băng hà. Sau khi vua Disampati băng hà, những người có quyền lập vua đã làm lễ quán đảnh cho vương tử Reṇu lên ngôi vua. Vua Reṇu, sau khi được quán đảnh lên ngôi, đã tận hưởng, được cung phụng, được hầu hạ bởi năm loại dục lạc. Khi ấy, này các vị, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, vị ấy đã nói với sáu vị Sát-đế-lỵ kia điều này: ‘Thưa các Tôn giả, vua Disampati đã băng hà. Vua Reṇu, sau khi được quán đảnh lên ngôi, đang tận hưởng, được cung phụng, được hầu hạ bởi năm loại dục lạc. Này các Tôn giả, ai mà biết được chứ, các dục lạc có thể làm say đắm. Các Tôn giả hãy đến, hãy đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, hãy nói với vua Reṇu như sau: ‘Thưa Tôn giả, vua Disampati đã băng hà, Tôn giả Reṇu đã được quán đảnh lên ngôi, Tôn giả có còn nhớ lời hứa đó không?’’”
“Evaṁ, bho”ti kho, bho, te cha khattiyā mahāgovindassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena reṇu rājā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājānaṁ etadavocuṁ: “disampati kho, bho, rājā kālaṅkato, abhisitto bhavaṁ reṇu rajjena, sarati bhavaṁ taṁ vacanan”ti?
“Sarāmahaṁ, bho, taṁ vacanaṁ. Ko nu kho, bho, pahoti imaṁ mahāpathaviṁ uttarena āyataṁ dakkhiṇena sakaṭamukhaṁ sattadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhajitun”ti?
“Ko nu kho, bho, añño pahoti, aññatra mahāgovindena brāhmaṇenā”ti?
Atha kho, bho, reṇu rājā aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yena mahāgovindo brāhmaṇo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ evaṁ vadehi: ‘rājā taṁ, bhante, reṇu āmantetī’”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho, bho, so puriso reṇussa rañño paṭissutvā yena mahāgovindo brāhmaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “rājā taṁ, bhante, reṇu āmantetī”ti. “Evaṁ, bho”ti kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo tassa purisassa paṭissutvā yena reṇu rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā reṇunā raññā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho, bho, mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ reṇu rājā etadavoca: “etu, bhavaṁ govindo imaṁ mahāpathaviṁ uttarena āyataṁ dakkhiṇena sakaṭamukhaṁ sattadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhajatū”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho bho mahāgovindo brāhmaṇo reṇussa rañño paṭissutvā imaṁ mahāpathaviṁ uttarena āyataṁ dakkhiṇena sakaṭamukhaṁ sattadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhaji. Sabbāni sakaṭamukhāni paṭṭhapesi. Tatra sudaṁ majjhe reṇussa rañño janapado hoti.
“Yes, worthy sir,” replied the six aristocrats. They went to King Reṇu and said, “Worthy sir, King Disampati has passed away, and you have been anointed as king. Do you remember what you said?”
“I remember, sirs. Who is able to neatly divide into seven equal parts this great land, so broad in the north and narrow as the front of a cart in the south?”
“Who else, sir, if not the Great Steward?”
So King Reṇu addressed one of his men, “Please, my man, go to the brahmin Great Steward and say that King Reṇu summons him.”
“Yes, Your Majesty,” replied that man, and did as he was asked. Then the Great Steward went to the king and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and the king said to him, “Come, let the good Steward neatly divide into seven equal parts this great land, so broad in the north and narrow as the front of a cart in the south.”
“Yes, worthy sir,” replied the Great Steward, and did as he was asked. All were arranged like the fronts of carts, and right in the middle was King Reṇu’s nation.
308. “Thưa vâng, Tôn giả.” Này các Tôn giả, sáu vị Sát-đế-lỵ ấy sau khi vâng lời vị Bà-la-môn Mahāgovinda, đã đi đến nơi vua Reṇu đang ở. Sau khi đến, họ thưa với vua Reṇu rằng: “Thưa Tôn giả, đức vua Disampati đã băng hà, và Tôn giả Reṇu đã được tấn phong vương vị. Tôn giả có còn nhớ lời hứa đó không?” “Thưa các Tôn giả, tôi vẫn nhớ lời hứa đó. Nhưng thưa các Tôn giả, ai có thể phân chia vùng đại địa này, dài ở phương bắc, có hình dạng như đầu chiếc xe ở phương nam, thành bảy phần bằng nhau và được phân định rõ ràng?” “Thưa Tôn giả, ngoài Bà-la-môn Mahāgovinda, còn ai có thể làm được điều đó?” Bấy giờ, này các Tôn giả, vua Reṇu cho gọi một người đàn ông và bảo: “Này khanh, hãy đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda. Sau khi đến, hãy thưa với Bà-la-môn Mahāgovinda rằng: ‘Thưa Tôn giả, vua Reṇu cho mời ngài.’” “Tâu Thiên tử, xin vâng.” Này các Tôn giả, người đàn ông ấy sau khi vâng lệnh vua Reṇu, đã đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda. Sau khi đến, ông ta thưa với Bà-la-môn Mahāgovinda rằng: “Thưa Tôn giả, vua Reṇu cho mời ngài.” “Thưa vâng, Tôn giả.” Này các Tôn giả, Bà-la-môn Mahāgovinda sau khi nghe lời người đàn ông ấy, đã đi đến chỗ vua Reṇu. Sau khi đến, ngài đã cùng vua Reṇu thăm hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Khi Bà-la-môn Mahāgovinda đã ngồi xuống một bên, này các Tôn giả, vua Reṇu thưa với ngài rằng: “Xin Tôn giả Govinda hãy đến và phân chia vùng đại địa này, dài ở phương bắc, có hình dạng như đầu chiếc xe ở phương nam, thành bảy phần bằng nhau và được phân định rõ ràng.” “Thưa vâng, Tôn giả.” Bà-la-môn Mahāgovinda sau khi vâng lời vua Reṇu, đã phân chia vùng đại địa này, dài ở phương bắc, có hình dạng như đầu chiếc xe ở phương nam, thành bảy phần bằng nhau và được phân định rõ ràng. Ngài đã thiết lập tất cả các lãnh thổ đều có hình dạng như đầu chiếc xe. Trong đó, ở giữa là quốc độ của vua Reṇu.
Dantapuraṁ kaliṅgānaṁ, assakānañca potanaṁ; Mahesayaṁ avantīnaṁ,
Dantapura for the Kaliṅgas; Potana for the Assakas; Māhissatī for the Avantis;
309. Thành Dantapura cho xứ Kaliṅga, và thành Potana cho xứ Assaka.
Thành Mahesaya cho xứ Avantī, và thành Roruka cho xứ Sovīra.
Mithilā ca videhānaṁ, campā aṅgesu māpitā; Bārāṇasī ca kāsīnaṁ, ete govindamāpitāti.
Mithilā for the Videhas; Campā was laid out for the Aṅgas; and Varanasi for the Kāsis: these were laid out by the Steward.
Và thành Mithilā cho xứ Videha, thành Campā được xây dựng ở xứ Aṅga; và thành Bārāṇasī cho xứ Kāsī. Những thành này do Govinda xây dựng.
Atha kho, bho, te cha khattiyā yathāsakena lābhena attamanā ahesuṁ paripuṇṇasaṅkappā: “yaṁ vata no ahosi icchitaṁ, yaṁ ākaṅkhitaṁ, yaṁ adhippetaṁ, yaṁ abhipatthitaṁ, taṁ no laddhan”ti.
Then those six aristocrats were delighted with their respective gains, having achieved all they wished for, “We have received exactly what we wanted, what we wished for, what we desired, what we yearned for.”
310. Bấy giờ, này các Tôn giả, sáu vị Sát-đế-lỵ ấy, với phần lãnh thổ của riêng mình, đã được hoan hỷ, mãn nguyện, (nghĩ rằng): ‘Điều mà chúng ta đã mong muốn, điều mà chúng ta đã ao ước, điều mà chúng ta đã chủ định, điều mà chúng ta đã khát khao, điều ấy chúng ta đã đạt được.’
Sattabhū brahmadatto ca, vessabhū bharato saha; Reṇu dve dhataraṭṭhā ca, tadāsuṁ satta bhāradhāti.
Sattabhū and Brahmadatta, Vessabhū and Bharata, Reṇu and the two Dhataraṭṭhas: these were the seven Bhāratas.
Sattabhū và Brahmadatta, Vessabhū cùng với Bharata; Reṇu và hai vị Dhataraṭṭha, bấy giờ có bảy vị vua gánh vác trọng trách ấy.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first recitation section is complete.
Dứt chương tụng thứ nhất.
Sự Lan Truyền Tiếng Tăm
Atha kho, bho, te cha khattiyā yena mahāgovindo brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ: “yathā kho bhavaṁ govindo reṇussa rañño sahāyo piyo manāpo appaṭikūlo. Evameva kho bhavaṁ govindo amhākampi sahāyo piyo manāpo appaṭikūlo, anusāsatu no bhavaṁ govindo; mā no bhavaṁ govindo anusāsaniyā paccabyāhāsī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho mahāgovindo brāhmaṇo tesaṁ channaṁ khattiyānaṁ paccassosi. Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo satta ca rājāno khattiye muddhāvasitte rajje anusāsi, satta ca brāhmaṇamahāsāle satta ca nhātakasatāni mante vācesi.
Then the six aristocrats approached the Great Steward and said, “Steward, just as you are King Reṇu’s friend, dear, beloved, and cherished, you are also our friend. Would you manage our affairs? Please don’t turn us down!”
“Yes, worthy sirs,” replied the Great Steward. Then the Great Steward managed the realms of the seven kings. And he taught seven well-to-do brahmins, and seven hundred bathed initiates to recite the hymns.
311. Bấy giờ, này các Tôn giả, sáu vị Sát-đế-lỵ ấy đã đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda. Sau khi đến, họ thưa với Bà-la-môn Mahāgovinda rằng: ‘Cũng như Tôn giả Govinda là người bạn thân thiết, được yêu mến, được quý trọng của vua Reṇu, mong rằng Tôn giả Govinda cũng sẽ là người bạn thân thiết, được yêu mến, được quý trọng của chúng tôi. Xin Tôn giả Govinda hãy giáo huấn chúng tôi; xin Tôn giả Govinda chớ từ chối việc giáo huấn chúng tôi.’ ‘Thưa vâng, các Tôn giả.’ Bà-la-môn Mahāgovinda đã vâng lời sáu vị Sát-đế-lỵ ấy. Bấy giờ, này các Tôn giả, Bà-la-môn Mahāgovinda đã giáo huấn bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh về vương pháp, và đã dạy các thần chú cho bảy vị Bà-la-môn đại phú và bảy trăm vị thanh niên Bà-la-môn đã làm lễ tắm gội.
Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa aparena samayena evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchi: “sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī”ti.
Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa etadahosi: “mayhaṁ kho evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī’ti. Na kho panāhaṁ brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi, na brahmunā sallapāmi, na brahmunā mantemi. Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati brahmunā sākaccheti brahmunā sallapati brahmunā mantetī’ti. Yannūnāhaṁ vassike cattāro māse paṭisallīyeyyaṁ, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyeyyan”ti.
After some time he got this good reputation, “The Great Steward sees the Divinity in person! The Great Steward discusses, converses, and consults with the Divinity in person!”
The Great Steward thought, “I have the reputation of seeing the Divinity in person, and discussing with him in person. But I don’t. I have heard that brahmins of the past who were elderly and senior, the tutors of tutors, said: ‘Whoever goes on retreat for the four months of the rainy season and practices the absorption on compassion sees the Divinity and discusses with him.’ Why don’t I do that?”
312. Bấy giờ, này các Tôn giả, sau một thời gian, tiếng tăm tốt đẹp như sau đã được lan truyền về Bà-la-môn Mahāgovinda: ‘Bà-la-môn Mahāgovinda thấy được Phạm thiên một cách trực tiếp, Bà-la-môn Mahāgovinda đàm luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên một cách trực tiếp.’ Bấy giờ, này các Tôn giả, Bà-la-môn Mahāgovinda đã suy nghĩ như sau: ‘Tiếng tăm tốt đẹp này đã được lan truyền về ta: “Bà-la-môn Mahāgovinda thấy được Phạm thiên một cách trực tiếp, Bà-la-môn Mahāgovinda đàm luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên một cách trực tiếp.” Nhưng ta không thấy Phạm thiên, không đàm luận, không trò chuyện, không bàn bạc với Phạm thiên. Tuy nhiên, ta đã nghe các vị Bà-la-môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, nói rằng: “Người nào ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập thiền bi mẫn, người ấy thấy được Phạm thiên, đàm luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên.” Vậy ta hãy ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa và tu tập thiền bi mẫn.’
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena reṇu rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājānaṁ etadavoca: “mayhaṁ kho, bho, evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī’ti. Na kho panāhaṁ, bho, brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi, na brahmunā sallapāmi, na brahmunā mantemi. Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati, brahmunā sākaccheti brahmunā sallapati brahmunā mantetī’ti. Icchāmahaṁ, bho, vassike cattāro māse paṭisallīyituṁ, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyituṁ; namhi kenaci upasaṅkamitabbo aññatra ekena bhattābhihārenā”ti.
“Yassadāni bhavaṁ govindo kālaṁ maññatī”ti.
So the Great Steward went to King Reṇu and told him of the situation, saying, “Sir, I wish to go on retreat for the four months of the rainy season and practice the absorption on compassion. No one should approach me, except the one who serves my meal.”
“Please do so, Steward, at your convenience.”
313. “Này chư vị, rồi Bà la môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, vị ấy nói với vua Reṇu điều này: ‘Thưa ngài, quả thật, tiếng đồn tốt đẹp như vầy đã được lan truyền về tôi: ‘Bà la môn Mahāgovinda tận mặt thấy được Phạm thiên, Bà la môn Mahāgovinda tận mặt hội luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên.’ Nhưng thưa ngài, quả thật tôi không thấy Phạm thiên, không hội luận với Phạm thiên, không trò chuyện với Phạm thiên, không bàn bạc với Phạm thiên. Tuy nhiên, tôi đã được nghe điều này từ các vị Bà la môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, khi họ nói rằng: ‘Vị nào sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập thiền bi mẫn, vị ấy thấy được Phạm thiên, hội luận với Phạm thiên, trò chuyện với Phạm thiên, bàn bạc với Phạm thiên.’ Thưa ngài, tôi muốn sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, để tu tập thiền bi mẫn; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.’” (Vua Reṇu đáp): “Bây giờ là lúc mà tôn giả Govinda xem là phải thời.”
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te cha khattiyā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te cha khattiye etadavoca: “mayhaṁ kho, bho, evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī’ti. Na kho panāhaṁ, bho, brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi, na brahmunā sallapāmi, na brahmunā mantemi. Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ, ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati brahmunā sākaccheti brahmunā sallapati brahmunā mantetī’ti. Icchāmahaṁ, bho, vassike cattāro māse paṭisallīyituṁ, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyituṁ; namhi kenaci upasaṅkamitabbo aññatra ekena bhattābhihārenā”ti. “Yassadāni bhavaṁ govindo kālaṁ maññatī”ti.
Then the Great Steward went to the six aristocrats to put the same proposal, and received the same reply.
314. “Này chư vị, rồi Bà la môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị vua Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, vị ấy nói với sáu vị vua Sát-đế-lỵ điều này: ‘Thưa các ngài, quả thật, tiếng đồn tốt đẹp như vầy đã được lan truyền về tôi: ‘Bà la môn Mahāgovinda tận mặt thấy được Phạm thiên, Bà la môn Mahāgovinda tận mặt hội luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên.’ Nhưng thưa các ngài, quả thật tôi không thấy Phạm thiên, không hội luận với Phạm thiên, không trò chuyện với Phạm thiên, không bàn bạc với Phạm thiên. Tuy nhiên, tôi đã được nghe điều này từ các vị Bà la môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, khi họ nói rằng: ‘Vị nào sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập thiền bi mẫn, vị ấy thấy được Phạm thiên, hội luận với Phạm thiên, trò chuyện với Phạm thiên, bàn bạc với Phạm thiên.’ Thưa các ngài, tôi muốn sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, để tu tập thiền bi mẫn; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.’” (Sáu vị vua đáp): “Bây giờ là lúc mà tôn giả Govinda xem là phải thời.”
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te satta ca brāhmaṇamahāsālā satta ca nhātakasatāni tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te satta ca brāhmaṇamahāsāle satta ca nhātakasatāni etadavoca: “mayhaṁ kho, bho, evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī’ti. Na kho panāhaṁ, bho, brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi, na brahmunā sallapāmi, na brahmunā mantemi. Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati, brahmunā sākaccheti, brahmunā sallapati, brahmunā mantetī’ti. Tena hi, bho, yathāsute yathāpariyatte mante vitthārena sajjhāyaṁ karotha, aññamaññañca mante vācetha; icchāmahaṁ, bho, vassike cattāro māse paṭisallīyituṁ, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyituṁ;
namhi kenaci upasaṅkamitabbo aññatra ekena bhattābhihārenā”ti. “Yassadāni bhavaṁ govindo kālaṁ maññatī”ti.
He also went to the seven well-to-do brahmins and seven hundred bathed initiates and put to them the same proposal, adding, “Sirs, rehearse the hymns in detail as you have learned and memorized them, and teach each other how to recite.”
And they too said, “Please do so, Steward, at your convenience.”
315. “Này chư vị, rồi Bà la môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà la môn đại phú và bảy trăm thanh niên Bà la môn đã làm lễ quán đảnh; sau khi đến, vị ấy nói với bảy vị Bà la môn đại phú và bảy trăm thanh niên Bà la môn đã làm lễ quán đảnh điều này: ‘Thưa các ngài, quả thật, tiếng đồn tốt đẹp như vầy đã được lan truyền về tôi: ‘Bà la môn Mahāgovinda tận mặt thấy được Phạm thiên, Bà la môn Mahāgovinda tận mặt hội luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên.’ Nhưng thưa các ngài, quả thật tôi không thấy Phạm thiên, không hội luận với Phạm thiên, không trò chuyện với Phạm thiên, không bàn bạc với Phạm thiên. Tuy nhiên, tôi đã được nghe điều này từ các vị Bà la môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, khi họ nói rằng: ‘Vị nào sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập thiền bi mẫn, vị ấy thấy được Phạm thiên, hội luận với Phạm thiên, trò chuyện với Phạm thiên, bàn bạc với Phạm thiên.’ Vì vậy, thưa các ngài, các ngài hãy tụng đọc một cách chi tiết các câu thần chú đã được nghe, đã được học; và hãy dạy các câu thần chú cho nhau. Thưa các ngài, tôi muốn sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, để tu tập thiền bi mẫn; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.’” (Họ đáp): “Bây giờ là lúc mà tôn giả Govinda xem là phải thời.”
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena cattārīsā bhariyā sādisiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cattārīsā bhariyā sādisiyo etadavoca: “mayhaṁ kho, bhotī, evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ passati, sakkhi mahāgovindo brāhmaṇo brahmunā sākaccheti sallapati mantetī’ti. Na kho panāhaṁ, bhotī, brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi, na brahmunā sallapāmi, na brahmunā mantemi. Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati, brahmunā sākaccheti, brahmunā sallapati, brahmunā mantetī’ti, icchāmahaṁ, bhotī, vassike cattāro māse paṭisallīyituṁ, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyituṁ; namhi kenaci upasaṅkamitabbo aññatra ekena bhattābhihārenā”ti. “Yassadāni bhavaṁ govindo kālaṁ maññatī”ti.
Then the Great Steward went to his forty equal wives to put the same proposal to them, and received the same reply.
316. “Này chư vị, rồi Bà la môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ cùng dòng dõi; sau khi đến, vị ấy nói với bốn mươi người vợ cùng dòng dõi điều này: ‘Thưa các bà, quả thật, tiếng đồn tốt đẹp như vầy đã được lan truyền về tôi: ‘Bà la môn Mahāgovinda tận mặt thấy được Phạm thiên, Bà la môn Mahāgovinda tận mặt hội luận, trò chuyện, bàn bạc với Phạm thiên.’ Nhưng thưa các bà, quả thật tôi không thấy Phạm thiên, không hội luận với Phạm thiên, không trò chuyện với Phạm thiên, không bàn bạc với Phạm thiên. Tuy nhiên, tôi đã được nghe điều này từ các vị Bà la môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, khi họ nói rằng: ‘Vị nào sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập thiền bi mẫn, vị ấy thấy được Phạm thiên, hội luận với Phạm thiên, trò chuyện với Phạm thiên, bàn bạc với Phạm thiên.’ Thưa các bà, tôi muốn sống độc cư trong bốn tháng mùa mưa, để tu tập thiền bi mẫn; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến.’” (Những người vợ đáp): “Bây giờ là lúc mà tôn giả Govinda xem là phải thời.”
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo puratthimena nagarassa navaṁ sandhāgāraṁ kārāpetvā vassike cattāro māse paṭisallīyi, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyi; nāssudha koci upasaṅkamati aññatra ekena bhattābhihārena.
Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa catunnaṁ māsānaṁ accayena ahudeva ukkaṇṭhanā ahu paritassanā: “sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo vassike cattāro māse paṭisallīyati, karuṇaṁ jhānaṁ jhāyati, so brahmānaṁ passati, brahmunā sākaccheti brahmunā sallapati brahmunā mantetī’ti. Na kho panāhaṁ brahmānaṁ passāmi, na brahmunā sākacchemi na brahmunā sallapāmi na brahmunā mantemī”ti.
Then the Great Steward had a new ceremonial hall built to the east of his citadel, where he went on retreat for the four months of the rainy season and practiced the absorption on compassion. And no one approached him except the one who served his meals.
But then, when the four months had passed, the Great Steward became dissatisfied and anxious, “I have heard that brahmins of the past said that whoever goes on retreat for the four months of the rainy season and practices the absorption on compassion sees the Divinity and discusses with him. But I neither see the Divinity nor discuss with him.”
317. Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda cho xây một giảng đường mới ở phía đông của thành phố, rồi độc cư trong bốn tháng mùa mưa, thực hành thiền bi. Không một ai đến gần ngài, ngoại trừ một người mang thức ăn. Này các vị, khi ấy, sau bốn tháng trôi qua, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy bất mãn và khao khát: ‘Ta đã từng nghe các vị Bà-la-môn lão thành, cao niên, là thầy và thầy của các thầy, nói rằng: ‘Người nào độc cư trong bốn tháng mùa mưa, thực hành thiền bi, người ấy sẽ thấy được Phạm thiên, sẽ đàm đạo với Phạm thiên, sẽ trò chuyện với Phạm thiên, sẽ bàn luận với Phạm thiên.’ Nhưng ta đây không thấy được Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không trò chuyện với Phạm thiên, không bàn luận với Phạm thiên.’
Đàm đạo với Phạm thiên
Atha kho, bho, brahmā sanaṅkumāro mahāgovindassa brāhmaṇassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito mahāgovindassa brāhmaṇassa sammukhe pāturahosi. Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa ahudeva bhayaṁ ahu chambhitattaṁ ahu lomahaṁso yathā taṁ adiṭṭhapubbaṁ rūpaṁ disvā. Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ gāthāya ajjhabhāsi:
And then the divinity Sanaṅkumāra, knowing the Great Steward’s train of thought, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from the realm of divinity and reappeared in the Great Steward’s presence. At that, the Great Steward became frightened, scared, his hair standing on end, as he had never seen such a sight before. So he addressed the divinity Sanaṅkumāra in verse:
318. Này các vị, khi ấy, Phạm thiên Sanaṅkumāra, với tâm của mình, biết được tư duy trong tâm của Bà-la-môn Mahāgovinda, rồi cũng như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Bà-la-môn Mahāgovinda. Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy sợ hãi, kinh hoàng, và dựng tóc gáy, giống như khi thấy một hình sắc chưa từng thấy trước đây. Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda, trong lòng sợ hãi, kinh động, và dựng tóc gáy, đã nói với Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng một bài kệ:
“Vaṇṇavā yasavā sirimā, ko nu tvamasi mārisa; Ajānantā taṁ pucchāma, kathaṁ jānemu taṁ mayan”ti.
“Who might you be, sir, so beautiful, glorious, majestic? Not knowing, I ask—how am I to know who you are?”
‘Thưa ngài, ngài có dung sắc, có danh tiếng, có uy đức; ngài là ai vậy? Vì không biết, chúng tôi xin hỏi ngài; làm sao chúng tôi có thể biết được ngài?’
“Maṁ ve kumāraṁ jānanti, brahmaloke sanantanaṁ; Sabbe jānanti maṁ devā, evaṁ govinda jānahi”.
“In the realm of divinity they know me as ‘The Eternal Youth’. All the gods know me thus, and so you should know me, Steward.”
‘Ở cõi Phạm thiên, họ biết ta là vị Thường Thanh Niên; tất cả các vị trời đều biết ta. Này Govinda, hãy biết ta như vậy.’
“Āsanaṁ udakaṁ pajjaṁ, madhusākañca brahmuno; Agghe bhavantaṁ pucchāma, agghaṁ kurutu no bhavaṁ”.
“A Divinity deserves a seat and water, foot-salve, and sweet cakes. Sir, I ask you to please accept these gifts of hospitality.”
‘Chỗ ngồi, nước uống, nước rửa chân, và rau ngon ngọt dành cho Phạm thiên. Chúng tôi xin dâng lên ngài những vật phẩm hiếu khách này; mong ngài hãy nhận lấy lễ vật của chúng tôi.’
“Paṭiggaṇhāma te agghaṁ, yaṁ tvaṁ govinda bhāsasi; Diṭṭhadhammahitatthāya, samparāya sukhāya ca; Katāvakāso pucchassu, yaṁ kiñci abhipatthitan”ti.
“I accept the gifts of hospitality of which you speak. I grant you the opportunity to ask whatever you desire—about welfare and benefit in this life, or happiness in lives to come.”
‘Này Govinda, chúng ta nhận lễ vật của ngươi như lời ngươi nói. Vì lợi ích trong hiện tại và hạnh phúc trong tương lai, ngươi đã được cho phép, hãy hỏi bất cứ điều gì ngươi mong muốn.’
Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa etadahosi: “katāvakāso khomhi brahmunā sanaṅkumārena. Kiṁ nu kho ahaṁ brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ puccheyyaṁ diṭṭhadhammikaṁ vā atthaṁ samparāyikaṁ vā”ti?
Atha kho, bho, mahāgovindassa brāhmaṇassa etadahosi: “kusalo kho ahaṁ diṭṭhadhammikānaṁ atthānaṁ, aññepi maṁ diṭṭhadhammikaṁ atthaṁ pucchanti. Yannūnāhaṁ brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ samparāyikaññeva atthaṁ puccheyyan”ti. Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then the Great Steward thought, “the divinity Sanaṅkumāra has granted me an opportunity. Should I ask him about what is beneficial for this life or lives to come?”
Then he thought, “I’m skilled in what is beneficial for this life, and others even ask me about it. Why don’t I ask the Divinity about the benefit that specifically applies to lives to come?” So he addressed the divinity Sanaṅkumāra in verse:
319. Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda suy nghĩ thế này: ‘Phạm thiên Sanaṅkumāra đã cho phép ta. Ta nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra điều gì đây? Về lợi ích trong hiện tại hay về lợi ích trong tương lai?’ Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda lại suy nghĩ thế này: ‘Ta vốn thiện xảo về những lợi ích trong hiện tại, và những người khác cũng hỏi ta về lợi ích trong hiện tại. Vậy, tốt hơn hết là ta nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra về lợi ích trong tương lai.’ Này các vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda đã hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng một bài kệ:
“Pucchāmi brahmānaṁ sanaṅkumāraṁ, Kaṅkhī akaṅkhiṁ paravediyesu; Katthaṭṭhito kimhi ca sikkhamāno, Pappoti macco amataṁ brahmalokan”ti.
“I’m in doubt, so I ask the Divinity—<j>who is free of doubt—about things one may learn from another. Standing on what, training in what may a mortal reach the deathless realm of divinity?”
‘Con xin hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra, người không còn hoài nghi, trong khi con vẫn còn hoài nghi về những điều người khác nên biết: Một người phải an trú vào đâu và thực hành điều gì để đạt đến cõi Phạm thiên bất tử?’
“Hitvā mamattaṁ manujesu brahme, Ekodibhūto karuṇedhimutto; Nirāmagandho virato methunasmā, Etthaṭṭhito ettha ca sikkhamāno; Pappoti macco amataṁ brahmalokan”ti.
“He among mankind, O brahmin, <j>has given up possessiveness, at one, compassionate, free of putrefaction, and refraining from sex. Standing on that, training in that a mortal may reach the deathless realm of divinity.”
‘Này vị Bà-la-môn, sau khi từ bỏ tâm sở hữu đối với những gì thuộc về con người, sống một mình, hướng tâm đến lòng bi, không còn mùi hôi tanh, từ bỏ việc dâm dục; một người an trú trong pháp này và thực hành pháp này sẽ đạt đến cõi Phạm thiên bất tử.’
“‘Hitvā mamattan’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi. Idhekacco appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, iti ‘hitvā mamattan’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi.
‘Ekodibhūto’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi. Idhekacco vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ, iti ‘ekodibhūto’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi.
‘Karuṇedhimutto’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi. Idhekacco karuṇāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadhotiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ karuṇāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Iti ‘karuṇedhimutto’ti ahaṁ, bhoto, ājānāmi.
Āmagandhe ca kho ahaṁ, bhoto, bhāsamānassa na ājānāmi.
“Sir, I understand what ‘giving up possessiveness’ means. It’s when someone gives up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. That’s how I understand ‘giving up possessiveness’.
Sir, I understand what ‘at one’ means. It’s when someone frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. That’s how I understand ‘at one’.
Sir, I understand what ‘compassionate’ means. It’s when someone meditates spreading a heart full of compassion to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of compassion to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. That’s how I understand ‘compassionate’.
But I don’t understand what you say about putrefaction.
320. ‘Con hiểu lời ngài nói ‘từ bỏ tâm sở hữu’. Ở đây, có người từ bỏ tài sản, dù ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc, dù ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình. Như vậy, con hiểu lời ngài nói ‘từ bỏ tâm sở hữu’. Con hiểu lời ngài nói ‘sống một mình’. Ở đây, có người tìm đến nơi trú ngụ thanh vắng: trong rừng, dưới gốc cây, trên núi, trong hang đá, trong sơn động, ngoài nghĩa địa, trong lùm cây, ngoài trời, trên đống rơm. Như vậy, con hiểu lời ngài nói ‘sống một mình’. Con hiểu lời ngài nói ‘hướng tâm đến lòng bi’. Ở đây, có người an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp thế giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại, vô lượng, không hận, không sân. Như vậy, con hiểu lời ngài nói ‘hướng tâm đến lòng bi’. Nhưng con không hiểu lời ngài nói về ‘mùi hôi tanh’.’
Ke āmagandhā manujesu brahme, Ete avidvā idha brūhi dhīra; Kenāvaṭā vāti pajā kurutu, Āpāyikā nivutabrahmalokā”ti.
What among mankind, O the Divinity, is putrefaction? I don’t understand, so tell me, attentive one: wrapped in what do people stink, headed for hell, shut out of the realm of divinity?”
‘Thưa Phạm thiên, những gì là mùi hôi tanh nơi con người? Con không biết điều này, xin bậc hiền trí hãy nói rõ. Bị cái gì che lấp mà chúng sanh bốc mùi hôi thối, bị đọa vào ác xứ, và bị ngăn che khỏi cõi Phạm thiên?’
“Kodho mosavajjaṁ nikati ca dubbho, Kadariyatā atimāno usūyā; Icchā vivicchā paraheṭhanā ca, Lobho ca doso ca mado ca moho; Etesu yuttā anirāmagandhā, Āpāyikā nivutabrahmalokā”ti.
“Anger, lies, cheating, and treachery, miserliness, vanity, jealousy, desire, stinginess, harassing others, greed, hate, vanity, and delusion—those bound to such things <j>are not devoid of putrefaction; they’re headed for hell, <j>shut out of the realm of divinity.”
‘Sân hận, nói dối, lừa đảo và phản trắc, keo kiệt, kiêu mạn, ganh tỵ, tham muốn, xan tham, hãm hại người khác, tham lam, sân hận, kiêu căng và si mê; chúng sanh nào bị ràng buộc bởi những điều này thì không thoát khỏi mùi hôi tanh, bị đọa vào ác xứ, và bị ngăn che khỏi cõi Phạm thiên.’
“Yathā kho ahaṁ, bhoto, āmagandhe bhāsamānassa ājānāmi. Te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā. Pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
“Yassadāni bhavaṁ govindo kālaṁ maññatī”ti.
“As I understand what you say about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness!”
“Please do so, Steward, at your convenience.”
‘Theo như con hiểu lời ngài nói về mùi hôi tanh, những điều ấy không dễ gì loại bỏ đối với người sống tại gia. Thưa ngài, con sẽ từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.’ ‘Bây giờ, ngài Govinda hãy làm theo những gì ngài cho là phải thời.’
Thỉnh cầu vua Reṇu
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena reṇu rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā reṇuṁ rājānaṁ etadavoca: “aññaṁ dāni bhavaṁ purohitaṁ pariyesatu, yo bhoto rajjaṁ anusāsissati. Icchāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā. Pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
So the Great Steward went to King Reṇu and said, “Worthy sir, please now find another high priest to manage the affairs of state for you. I wish to go forth from the lay life to homelessness. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness.
321. “Này chư Thiên, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, bèn nói với vua Reṇu như sau: ‘Bây giờ, mong Ngài hãy tìm một vị tế tự khác, người sẽ cai quản vương quốc của Ngài. Thưa Ngài, tôi muốn từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vì rằng, như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về mùi hôi tanh, những mùi ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Thưa Ngài, tôi sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’”
“Āmantayāmi rājānaṁ, reṇuṁ bhūmipatiṁ ahaṁ; Tvaṁ pajānassu rajjena, nāhaṁ porohicce rame”.
I announce to King Reṇu, the lord of the land: you must learn how to rule, for I no longer care for my ministry.”
“Con xin thưa cùng quốc vương, cùng vua Reṇu, đấng chúa tể cõi đất. Ngài hãy tự mình cai quản vương quốc, còn con không còn vui thích với chức vụ tế tự nữa.”
“Sace te ūnaṁ kāmehi, ahaṁ paripūrayāmi te; Yo taṁ hiṁsati vāremi, bhūmisenāpati ahaṁ; Tuvaṁ pitā ahaṁ putto, mā no govinda pājahi”.
“If you’re lacking any pleasures, I’ll supply them for you. I’ll protect you from any harm, for I command the nation’s army. You are my father, I am your son! O Steward, please don’t leave!”
“Nếu Ngài thiếu thốn các dục lạc, tôi sẽ làm cho Ngài được sung túc. Kẻ nào hãm hại Ngài, tôi sẽ ngăn cản. Tôi là chúa tể cõi đất, là thống lãnh quân đội. Ngài là cha, tôi là con. Này Govinda, xin đừng từ bỏ chúng tôi.”
“Namatthi ūnaṁ kāmehi, hiṁsitā me na vijjati; Amanussavaco sutvā, tasmāhaṁ na gahe rame”.
“I’m lacking no pleasures, and no one is harming me. I’ve heard a non-human voice, so I no longer care for lay life.”
“Con không thiếu thốn các dục lạc, cũng không có ai hãm hại con. Vì đã nghe lời của vị phi nhân, nên con không còn vui thích ở nhà nữa.”
“Amanusso kathaṁvaṇṇo, kiṁ te atthaṁ abhāsatha; Yañca sutvā jahāsi no, gehe amhe ca kevalī”.
“What was that non-human like? What did he say to you, hearing which you would abandon our house and all our people?”
“Vị phi nhân ấy hình sắc thế nào? Vị ấy đã nói với Ngài về điều gì? Ngài đã nghe điều gì mà lại từ bỏ chúng tôi, từ bỏ nhà cửa, và tất cả mọi người?”
“Upavutthassa me pubbe, yiṭṭhukāmassa me sato; Aggi pajjalito āsi, kusapattaparitthato.
“Before entering this retreat, I only liked to sacrifice. I kindled the sacred flame, strewn about with kusa grass.
“Tâu Đại vương, thuở trước, khi con đang an trú tu tập, với mong muốn được tế tự, ngọn lửa đã được con thắp lên, trên lớp lá cỏ kusa đã được trải sẵn.”
Tato me brahmā pāturahu, brahmalokā sanantano; So me pañhaṁ viyākāsi, taṁ sutvā na gahe rame”.
But then the Divinity the Eternal Youth appeared to me from the realm of divinity. He answered my question, hearing which I no longer care for lay life.”
“Khi ấy, vị Phạm thiên Sanantana từ cõi Phạm thiên hiện ra trước mặt con. Vị ấy đã giải đáp câu hỏi cho con. Nghe xong, con không còn vui thích ở nhà nữa.”
“Saddahāmi ahaṁ bhoto, yaṁ tvaṁ govinda bhāsasi; Amanussavaco sutvā, kathaṁ vattetha aññathā.
“I have faith, O Steward, in that of which you speak. Having heard a non-human voice, what else could you do?
“Này Govinda, tôi tin lời Ngài nói. Đã nghe lời của vị phi nhân, làm sao các Ngài có thể hành xử khác được.
Te taṁ anuvattissāma, satthā govinda no bhavaṁ; Maṇi yathā veḷuriyo, akāco vimalo subho; Evaṁ suddhā carissāma, govindassānusāsaneti.
We will follow your example, Steward, be my Teacher! Like a gem of beryl—flawless, immaculate, beautiful—that’s how pure we shall live, in the Steward’s dispensation.
Chúng tôi sẽ đi theo Ngài. Này Govinda, Ngài hãy là bậc Đạo sư của chúng tôi. Như viên ngọc lưu ly, không tỳ vết, trong sạch, sáng chói; cũng vậy, chúng tôi sẽ sống thanh tịnh theo lời giáo huấn của Govinda.’”
Sace bhavaṁ govindo agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati, mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma. Atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
If the Steward is going forth from the lay life to homelessness, we shall do so too. Your destiny shall be ours.”
“‘Nếu Tôn giả Govinda từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của Ngài cũng sẽ là cảnh giới của chúng tôi.’”
Lời thưa gửi đến sáu vị Sát-đế-lỵ
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te cha khattiyā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te cha khattiye etadavoca: “aññaṁ dāni bhavanto purohitaṁ pariyesantu, yo bhavantānaṁ rajje anusāsissati. Icchāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā. Pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
Atha kho, bho, te cha khattiyā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: “ime kho brāhmaṇā nāma dhanaluddhā; yannūna mayaṁ mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ dhanena sikkheyyāmā”ti.
Te mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: “saṁvijjati kho, bho, imesu sattasu rajjesu pahūtaṁ sāpateyyaṁ, tato bhoto yāvatakena attho, tāvatakaṁ āharīyatan”ti.
“Alaṁ, bho, mamapidaṁ pahūtaṁ sāpateyyaṁ bhavantānaṁyeva vāhasā. Tamahaṁ sabbaṁ pahāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā, pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
Atha kho, bho, te cha khattiyā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: “ime kho brāhmaṇā nāma itthiluddhā; yannūna mayaṁ mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ itthīhi sikkheyyāmā”ti.
Te mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: “saṁvijjanti kho, bho, imesu sattasu rajjesu pahūtā itthiyo, tato bhoto yāvatikāhi attho, tāvatikā ānīyatan”ti.
“Alaṁ, bho, mamapimā cattārīsā bhariyā sādisiyo. Tāpāhaṁ sabbā pahāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā, pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyanti”.
Then the Great Steward went to the six aristocrats and said, “Good fellows, please now find another high priest to manage the affairs of state for you. I wish to go forth from the lay life to homelessness. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness!”
Then the six aristocrats withdrew to one side and thought up a plan, “These brahmins are greedy for wealth. Why don’t we bestow him with wealth?”
They returned to the Great Steward and said, “In these seven kingdoms there is abundant wealth. We’ll get you as much as you want.”
“Enough, sirs. I already have abundant wealth, owing to my lords. Giving up all that, I shall go forth.”
Then the six aristocrats withdrew to one side and thought up a plan, “These brahmins are greedy for women. Why don’t we bestow him with women?”
They returned to the Great Steward and said, “In these seven kingdoms there are many women. We’ll get you as many as you want.”
“Enough, sirs. I already have forty equal wives. Giving up all them, I shall go forth.”
322. “Này chư Thiên, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ; sau khi đến, bèn nói với sáu vị Sát-đế-lỵ như sau: ‘Bây giờ, mong các Ngài hãy tìm một vị tế tự khác, người sẽ cai quản vương quốc của các Ngài. Thưa các Ngài, tôi muốn từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vì rằng, như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về mùi hôi tanh, những mùi ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Thưa các Ngài, tôi sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Này chư Thiên, khi ấy, sáu vị Sát-đế-lỵ ấy đi ra một nơi riêng và cùng nhau suy nghĩ như sau: ‘Các vị Bà-la-môn này vốn tham lam của cải; hay là chúng ta dùng của cải để thuyết phục Bà-la-môn Mahāgovinda.’ Họ bèn đến gần Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như sau: ‘Thưa Ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều tài sản, Ngài cần bao nhiêu, xin cứ lấy bấy nhiêu.’ ‘Thôi đủ rồi, thưa các Ngài, chính tôi cũng có nhiều tài sản này là nhờ các Ngài. Tôi sẽ từ bỏ tất cả mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vì rằng, như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về mùi hôi tanh, những mùi ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Thưa các Ngài, tôi sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Này chư Thiên, khi ấy, sáu vị Sát-đế-lỵ ấy đi ra một nơi riêng và cùng nhau suy nghĩ như sau: ‘Các vị Bà-la-môn này vốn tham đắm nữ sắc; hay là chúng ta dùng phụ nữ để thuyết phục Bà-la-môn Mahāgovinda.’ Họ bèn đến gần Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như sau: ‘Thưa Ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều phụ nữ, Ngài cần bao nhiêu, xin cứ cho mang đến bấy nhiêu.’ ‘Thôi đủ rồi, thưa các Ngài, chính tôi cũng có bốn mươi người vợ cùng dòng dõi. Tôi sẽ từ bỏ tất cả họ mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vì rằng, như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về mùi hôi tanh, những mùi ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Thưa các Ngài, tôi sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’”
“Sace bhavaṁ govindo agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati, mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma, atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
“If the Steward is going forth from the lay life to homelessness, we shall do so too. Your destiny shall be ours.”
323. “Nếu Tôn giả Govinda từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của Ngài cũng sẽ là cảnh giới của chúng tôi.”
“Sace jahatha kāmāni, yattha satto puthujjano; Ārambhavho daḷhā hotha, khantībalasamāhitā.
“If you all give up sensual pleasures, to which ordinary people are attached, exert yourselves, being strong, and possessing the power of patience.
“Nếu các Ngài từ bỏ các dục lạc, nơi mà kẻ phàm phu bị trói buộc, hãy khởi sự tinh tấn, hãy thật kiên cố, và hãy an trú trong sức mạnh của sự kham nhẫn.
Esa maggo ujumaggo, esa maggo anuttaro; Saddhammo sabbhi rakkhito, brahmalokūpapattiyā”ti.
This path is the straight path, this path is supreme. Guarded by the good, the true teaching leads to rebirth in the realm of divinity.”
Đây là con đường thẳng, con đường chánh trực. Đây là con đường vô thượng, là Chánh pháp được các bậc chân nhân hộ trì, để được sanh lên cõi Phạm thiên.’”
“Tena hi bhavaṁ govindo satta vassāni āgametu. Sattannaṁ vassānaṁ accayena mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma, atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
“Aticiraṁ kho, bho, satta vassāni, nāhaṁ sakkomi, bhavante, satta vassāni āgametuṁ. Ko nu kho pana, bho, jānāti jīvitānaṁ. Gamanīyo samparāyo, mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā, pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
“Tena hi bhavaṁ govindo chabbassāni āgametu …pe…
“Well then, sir, please wait for seven years. When seven years have passed, we shall go forth with you. Your destiny shall be ours.”
“Seven years is too long, sirs. I cannot wait that long. Who knows what will happen to the living? We are headed for lives to come. We must be thoughtful and wake up! We must do what’s good and lead the spiritual life, for no one born can escape death. I shall go forth.”
“Well then, sir, please wait for six years,
“Nếu vậy, mong Tôn giả Govinda hãy đợi bảy năm. Sau khi bảy năm trôi qua, chúng tôi cũng sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của Ngài cũng sẽ là cảnh giới của chúng tôi.’”
‘Này các ngài, bảy năm là quá lâu. Tôi không thể chờ đợi các ngài bảy năm được. Này các ngài, ai biết được mạng sống chứ! Phải đi đến đời sau, phải hiểu biết bằng trí tuệ, phải làm điều thiện, phải thực hành phạm hạnh, kẻ đã sanh ra thì không có sự bất tử. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’” “Vậy thì, mong ngài Govinda hãy chờ sáu năm... chờ năm năm... chờ bốn năm... chờ ba năm... chờ hai năm... chờ một năm. Sau khi một năm trôi qua, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài thế nào, cảnh giới của chúng tôi cũng sẽ như vậy.”
‘Này các ngài, một năm là quá lâu. Tôi không thể chờ đợi các ngài một năm được. Này các ngài, ai biết được mạng sống chứ! Phải đi đến đời sau, phải hiểu biết bằng trí tuệ, phải làm điều thiện, phải thực hành phạm hạnh, kẻ đã sanh ra thì không có sự bất tử. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’” “Vậy thì, mong ngài Govinda hãy chờ bảy tháng. Sau khi bảy tháng trôi qua, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài thế nào, cảnh giới của chúng tôi cũng sẽ như vậy.”
‘Này các ngài, bảy tháng là quá lâu. Tôi không thể chờ đợi các ngài bảy tháng được. Này các ngài, ai biết được mạng sống chứ! Phải đi đến đời sau, phải hiểu biết bằng trí tuệ, phải làm điều thiện, phải thực hành phạm hạnh, kẻ đã sanh ra thì không có sự bất tử. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’”
“Vậy thì, mong ngài Govinda hãy chờ sáu tháng... chờ năm tháng... chờ bốn tháng... chờ ba tháng... chờ hai tháng... chờ một tháng... chờ nửa tháng. Sau khi nửa tháng trôi qua, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài thế nào, cảnh giới của chúng tôi cũng sẽ như vậy.”
“Aticiraṁ kho, bho, addhamāso, nāhaṁ sakkomi bhavante addhamāsaṁ āgametuṁ. Ko nu kho pana, bho, jānāti jīvitānaṁ. Gamanīyo samparāyo, mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā, pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
“Tena hi bhavaṁ govindo sattāhaṁ āgametu, yāva mayaṁ sake puttabhātaro rajjena anusāsissāma, sattāhassa accayena mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma, atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
“Na ciraṁ kho, bho, sattāhaṁ, āgamessāmahaṁ bhavante sattāhan”ti.
“A fortnight is too long, sirs. I cannot wait that long. Who knows what will happen to the living? We are headed for lives to come. We must be thoughtful and wake up! We must do what’s good and lead the spiritual life, for no one born can escape death. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness.”
“Well then, sir, please wait for a week, so that we can instruct our sons and brothers in kingship. When a week has passed, we shall go forth. Your destiny shall be ours.”
“A week is not too long, sirs. I will wait that long.”
‘Này các ngài, nửa tháng là quá lâu. Tôi không thể chờ đợi các ngài nửa tháng được. Này các ngài, ai biết được mạng sống chứ! Phải đi đến đời sau, phải hiểu biết bằng trí tuệ, phải làm điều thiện, phải thực hành phạm hạnh, kẻ đã sanh ra thì không có sự bất tử. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’” “Vậy thì, mong ngài Govinda hãy chờ bảy ngày, trong khi chúng tôi giáo huấn cho các con trai và em trai của mình về vương quốc. Sau khi bảy ngày trôi qua, chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài thế nào, cảnh giới của chúng tôi cũng sẽ như vậy.” “Này các ngài, bảy ngày thì không lâu. Tôi sẽ chờ đợi các ngài bảy ngày.”
Lời ngỏ cùng các vị Bà-la-môn đại phú và những người khác
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena te satta ca brāhmaṇamahāsālā satta ca nhātakasatāni tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te satta ca brāhmaṇamahāsāle satta ca nhātakasatāni etadavoca: “aññaṁ dāni bhavanto ācariyaṁ pariyesantu, yo bhavantānaṁ mante vācessati. Icchāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa. Te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā, pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
“Mā bhavaṁ govindo agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. Pabbajjā, bho, appesakkhā ca appalābhā ca; brahmaññaṁ mahesakkhañca mahālābhañcā”ti.
“Mā bhavanto evaṁ avacuttha: ‘pabbajjā appesakkhā ca appalābhā ca, brahmaññaṁ mahesakkhañca mahālābhañcā’ti. Ko nu kho, bho, aññatra mayā mahesakkhataro vā mahālābhataro vā. Ahañhi, bho, etarahi rājāva raññaṁ brahmāva brāhmaṇānaṁ devatāva gahapatikānaṁ. Tamahaṁ sabbaṁ pahāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmi. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā. Pabbajissāmahaṁ, bho, agārasmā anagāriyan”ti.
“Sace bhavaṁ govindo agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati, mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma, atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
Then the Great Steward also went to the seven well-to-do brahmins and seven hundred bathed initiates and said, “Good fellows, please now find another tutor to teach you to recite the hymns. I wish to go forth from the lay life to homelessness. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness.”
“Please don’t go forth from the lay life to homelessness! The life of one gone forth is of little influence or profit, whereas the life of a brahmin is of great influence and profit.”
“Please, good fellows, don’t say that. Who has greater influence and profit than myself? For now I am like a king to kings, like the Divinity to brahmins, like a deity to householders. Giving up all that, I shall go forth. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness.”
“If the Steward is going forth from the lay life to homelessness, we shall do so too. Your destiny shall be ours.”
324. Này các ngài, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà-la-môn đại phú và bảy trăm vị Bà-la-môn đã tắm gội. Sau khi đến, đã nói với bảy vị Bà-la-môn đại phú và bảy trăm vị Bà-la-môn đã tắm gội điều này: ‘Bây giờ, các ngài hãy tìm một vị thầy khác, người sẽ dạy các thần chú cho các ngài. Này các ngài, tôi muốn xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’” “Mong ngài Govinda đừng xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Này ngài, đời sống xuất gia có ít quyền thế và ít lợi lộc; còn địa vị Bà-la-môn thì có nhiều quyền thế và nhiều lợi lộc.” “Các ngài đừng nói như vậy: ‘Đời sống xuất gia có ít quyền thế và ít lợi lộc; còn địa vị Bà-la-môn thì có nhiều quyền thế và nhiều lợi lộc.’ Này các ngài, ngoài tôi ra, ai là người có nhiều quyền thế hơn hay nhiều lợi lộc hơn? Này các ngài, hiện nay, tôi như là vua của các vị vua, như là Phạm thiên của các vị Bà-la-môn, như là vị trời của các gia chủ. Tôi sẽ từ bỏ tất cả những thứ ấy để xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Hơn nữa, theo như tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, những thứ ấy không dễ gì trừ diệt được bởi người sống tại gia. Này các ngài, tôi sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’” “Nếu ngài Govinda xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình, thì chúng tôi cũng sẽ xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài thế nào, cảnh giới của chúng tôi cũng sẽ như vậy.”
Lời ngỏ cùng các bà vợ
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo yena cattārīsā bhariyā sādisiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cattārīsā bhariyā sādisiyo etadavoca: “yā bhotīnaṁ icchati, sakāni vā ñātikulāni gacchatu aññaṁ vā bhattāraṁ pariyesatu. Icchāmahaṁ, bhotī, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Yathā kho pana me sutaṁ brahmuno āmagandhe bhāsamānassa, te na sunimmadayā agāraṁ ajjhāvasatā. Pabbajissāmahaṁ, bhotī, agārasmā anagāriyan”ti.
“Tvaññeva no ñāti ñātikāmānaṁ, tvaṁ pana bhattā bhattukāmānaṁ. Sace bhavaṁ govindo agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati, mayampi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāma, atha yā te gati, sā no gati bhavissatī”ti.
Then the Great Steward went to his forty equal wives and said, “Ladies, please do whatever you wish, whether returning to your own families, or finding another husband. I wish to go forth from the lay life to homelessness. As I understand what the Divinity says about putrefaction, it’s not easy to quell while living at home. I shall go forth from the lay life to homelessness.”
“You are the only family we want! You are the only husband we want! If you are going forth from the lay life to homelessness, we shall do so too. Your destiny shall be ours.”
325. “Này chư vị, khi ấy, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ cùng giai cấp; sau khi đến, vị ấy nói với bốn mươi người vợ cùng giai cấp lời này: ‘Vị nào trong các bà muốn, hãy trở về gia đình quyến thuộc của mình, hoặc hãy tìm một người chồng khác. Này các bà, tôi muốn từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Theo như điều tôi đã được nghe từ Phạm thiên nói về các mùi hôi tanh, thì người sống tại gia không dễ gì trừ diệt được chúng. Này các bà, tôi sẽ từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình.’ (Họ đáp:) ‘Đối với chúng tôi, những người mong muốn quyến thuộc, chính ngài là quyến thuộc; đối với chúng tôi, những người mong muốn có chồng, chính ngài là chồng. Nếu tôn giả Govinda từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, thì chúng tôi cũng sẽ từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Khi ấy, cảnh giới của ngài sẽ là cảnh giới của chúng tôi.’”
Sự xuất gia của Mahāgovinda
Atha kho, bho, mahāgovindo brāhmaṇo tassa sattāhassa accayena kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji. Pabbajitaṁ pana mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ satta ca rājāno khattiyā muddhāvasittā satta ca brāhmaṇamahāsālā satta ca nhātakasatāni cattārīsā ca bhariyā sādisiyo anekāni ca khattiyasahassāni anekāni ca brāhmaṇasahassāni anekāni ca gahapatisahassāni anekehi ca itthāgārehi itthiyo kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā mahāgovindaṁ brāhmaṇaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajitaṁ anupabbajiṁsu.
Tāya sudaṁ, bho, parisāya parivuto mahāgovindo brāhmaṇo gāmanigamarājadhānīsu cārikaṁ carati. Yaṁ kho pana, bho, tena samayena mahāgovindo brāhmaṇo gāmaṁ vā nigamaṁ vā upasaṅkamati, tattha rājāva hoti raññaṁ, brahmāva brāhmaṇānaṁ, devatāva gahapatikānaṁ. Tena kho pana samayena manussā khipanti vā upakkhalanti vā. Te evamāhaṁsu: “namatthu mahāgovindassa brāhmaṇassa, namatthu satta purohitassā”ti.
When a week had passed, the Great Steward shaved off his hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness. And when he had gone forth, the seven anointed aristocrat kings, the seven brahmins with seven hundred initiates, the forty equal wives, and many thousands of aristocrats, brahmins, householders, and many harem women shaved off their hair and beards, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
Escorted by that assembly, the Great Steward wandered on tour among the villages, towns, and capital cities. And at that time, whenever he arrived at a village or town, he was like a king to kings, like the Divinity to brahmins, like a deity to householders. And whenever people sneezed or tripped over they’d say: “Homage to the Great Steward! Homage to the high priest for the seven!”
326. “Này chư vị, khi ấy, sau bảy ngày, Bà-la-môn Mahāgovinda cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Và khi Bà-la-môn Mahāgovinda đã xuất gia, bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, bảy vị Bà-la-môn đại phú, bảy trăm vị Bà-la-môn thanh tịnh, bốn mươi người vợ cùng giai cấp, nhiều ngàn người thuộc dòng Sát-đế-lỵ, nhiều ngàn người thuộc dòng Bà-la-môn, nhiều ngàn người thuộc dòng gia chủ, và các phụ nữ từ nhiều hậu cung cũng cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, xuất gia theo Bà-la-môn Mahāgovinda, người đã từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình. Này chư vị, được đoàn tùy tùng ấy vây quanh, Bà-la-môn Mahāgovinda du hành qua các làng, thị trấn, và kinh đô. Này chư vị, vào lúc ấy, khi Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến làng nào hay thị trấn nào, ở đó vị ấy là vua của các vua, là Phạm thiên của các Bà-la-môn, là vị trời của các gia chủ. Vào lúc ấy, khi người ta hắt hơi hay vấp ngã, họ nói như sau: ‘Đảnh lễ Bà-la-môn Mahāgovinda, đảnh lễ vị quốc sư của bảy vua.’”
Mahāgovindo, bho, brāhmaṇo mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā …pe… abyāpajjena pharitvā vihāsi. Sāvakānañca brahmalokasahabyatāya maggaṁ desesi.
And the Great Steward meditated spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. He meditated spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. And he taught his disciples the path to rebirth in the company of Divinity.
327. “Này chư vị, Bà-la-môn Mahāgovinda an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú, biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... v.v... với tâm câu hữu với hỷ... v.v... với tâm câu hữu với xả... v.v... vị ấy an trú, biến mãn với tâm không sân, và thuyết giảng con đường cho các đệ tử để được cộng trú với Phạm thiên.”
Ye kho pana, bho, tena samayena mahāgovindassa brāhmaṇassa sāvakā sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ brahmalokaṁ upapajjiṁsu. Ye na sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; appekacce nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; appekacce tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; appekacce yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; appekacce tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; appekacce cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu; ye sabbanihīnaṁ kāyaṁ paripūresuṁ te gandhabbakāyaṁ paripūresuṁ.
Iti kho, bho, sabbesaṁyeva tesaṁ kulaputtānaṁ amoghā pabbajjā ahosi avañjhā saphalā saudrayā’ti.
Those of his disciples who completely understood the Great Steward’s instructions, at the breaking up of the body, after death, were reborn in the realm of divinity. Of those disciples who only partly understood the Great Steward’s instructions, some were reborn in the company of the gods who control what is created by others, while some were reborn in the company of the gods who love to create, or the joyful gods, or the gods of Yama, or the gods of the thirty-three, or the gods of the four great kings. And at the very least they swelled the hosts of the centaurs.
And so the going forth of all those gentlemen was not in vain, was not barren, but was fruitful and fertile.’
328. “Này chư vị, vào lúc ấy, những đệ tử nào của Bà-la-môn Mahāgovinda đã hiểu biết trọn vẹn giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh vào cõi lành, thế giới Phạm thiên. Những vị nào không hiểu biết trọn vẹn giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại; một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên; một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Đâu Suất; một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Dạ Ma; một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba; một số được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương; những vị nào thành tựu thân thấp kém nhất, họ đã thành tựu thân Càn-thát-bà. Như vậy, này chư vị, sự xuất gia của tất cả các thiện nam tử ấy đã không vô ích, không vô quả, mà có kết quả, có lợi ích.’”
Sarati taṁ bhagavā”ti?
“Sarāmahaṁ, pañcasikha. Ahaṁ tena samayena mahāgovindo brāhmaṇo ahosiṁ. Ahaṁ tesaṁ sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya maggaṁ desesiṁ. Taṁ kho pana me, pañcasikha, brahmacariyaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva brahmalokūpapattiyā.
Do you remember this, Blessed One?”
“I remember, Pañcasikha. I myself was the brahmin Great Steward at that time. And I taught those disciples the path to rebirth in the company of Divinity. But that spiritual path of mine doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the realm of divinity.
329. “‘Thế Tôn có nhớ điều đó không?’ ‘Này Pañcasikha, Ta nhớ. Vào lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Mahāgovinda. Ta đã thuyết giảng con đường cho các đệ tử ấy để được cộng trú với Phạm thiên. Nhưng này Pañcasikha, phạm hạnh ấy của Ta không đưa đến yếm ly, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự tái sanh vào thế giới Phạm thiên.’”
Idaṁ kho pana me, pañcasikha, brahmacariyaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Katamañca taṁ, pañcasikha, brahmacariyaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Idaṁ kho taṁ, pañcasikha, brahmacariyaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
But this spiritual path does lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. And what is the spiritual path that leads to extinguishment? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. This is the spiritual path that leads to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
“Còn phạm hạnh này của Ta, này Pañcasikha, chắc chắn đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này Pañcasikha, phạm hạnh nào chắc chắn đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Pañcasikha, đây chính là phạm hạnh chắc chắn đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
Ye kho pana me, pañcasikha, sāvakā sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājānanti, te āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti;
ye na sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājānanti, te pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā honti tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā.
Ye na sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājānanti, appekacce tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino honti sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Ye na sabbenasabbaṁ sāsanaṁ ājānanti, appekacce tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā honti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
Iti kho, pañcasikha, sabbesaṁyeva imesaṁ kulaputtānaṁ amoghā pabbajjā avañjhā saphalā saudrayā”ti.
Those of my disciples who completely understand my instructions realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Of those disciples who only partly understand my instructions, some, with the ending of the five lower fetters, become reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world.
Some, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, become once-returners. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
And some, with the ending of three fetters, become stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
And so the going forth of all those gentlemen was not in vain, was not barren, but was fruitful and fertile.”
330. “Này Pañcasikha, những vị đệ tử nào của ta biết được giáo pháp một cách toàn diện, các vị ấy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Những vị nào không biết được giáo pháp một cách toàn diện, các vị ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa. Những vị nào không biết được giáo pháp một cách toàn diện, một số vị, do sự đoạn tận ba kiết sử, do làm cho tham, sân, si trở nên muội lược, là bậc Nhất lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau. Những vị nào không biết được giáo pháp một cách toàn diện, một số vị, do sự đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này Pañcasikha, như vậy, sự xuất gia của tất cả các thiện nam tử này không phải là vô ích, không phải là vô dụng, mà có kết quả, có lợi ích.”
Idamavoca bhagavā. Attamano pañcasikho gandhabbaputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
That is what the Buddha said. Delighted, the centaur Pañcasikha approved and agreed with what the Buddha said. He bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Pañcasikha, con trai của vị Càn-thát-bà, hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, sau khi tán dương, tùy hỷ, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
Mahāgovindasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Đại Govinda, kinh thứ sáu, đã chấm dứt.