- Dīgha Nikāya 2
Bản dịch
DN 2 — Kinh Sa Môn Quả
Sāmaññaphalasutta
SC 1PTS cs 1 Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của Jìvaka (Kỳ-bà) Komārabhacca, cùng với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajātasattu (A-xà-thế) con bà Videhi (Vi-đề-hi) vua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) nhân lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hầu hạ. Lúc bấy giờ Ajātasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: “Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?”. Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajātasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 2PTS cs 3 Lại một đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosāla (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosāla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosāla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajātasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 3PTS cs 4 Lại một đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambali (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambali này. Chiêm bái Ajita Kesakambali có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 4PTS cs 5 Lại một đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Pakudha Kaccāyana (Bà-phù-đà Ca-chiên-nê) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pakudha Kaccāyana này. Chiêm bái Pakudha Kaccāyana này có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy. Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 5PTS cs 6 Lại một đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Sanjaya Bellaṭṭhiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Sanjaya Bellaṭṭhiputta này. Chiêm bái Sanjaya Bellaṭṭhiputta này có thể khiến tâm Ðại vương tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 6PTS cs 7 Lại một đại thần khác tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, có Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền-tử) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Nigaṇṭha Nātaputta này. Chiêm bái Nigaṇṭha Nātaputta có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín”. Khi nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
SC 7PTS cs 8 Lúc bấy giờ Jìvaka Komārabhacca ngồi yên lặng cách Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komārabhacca
SC 8—Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
SC 9- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỷ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
SC 10- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Ðại vương.
SC 11PTS cs 9 Jìvaka Komārabhacca vâng theo lời dạy của Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: “Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời”. Khi bấy giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Rājagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komārabhacca.
SC 12PTS cs 10 Khi Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komārabhacca
SC 13—Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
SC 14- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
SC 15PTS cs 11 Lúc bấy giờ, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komārabhacca
SC 16—Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
SC 17- Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.
SC 18PTS cs 12 Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: “Mong hoàng tử Udāyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy”.
SC 19- Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?
SC 20- Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udāyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udāyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỷ-kheo này vậy.
SC 21PTS cs 13 Lúc bấy giờ Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn
SC 22—Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép con hỏi.
SC 23- Ðại vương cứ hỏi tùy theo ý muốn của Ðại vương.
SC 24PTS cs 14 - Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại từ công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ cho rõ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
SC 25PTS cs 15 - Này Ðại vương, Ðại vương có nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác chăng?
SC 26- Bạch Ngài, con nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với Sa-môn, Bà-la-môn khác.
SC 27- Này Ðại vương, hãy nói lại cho nghe, các vị ấy đã trả lời với Ðại vương như thế nào, nếu Ðại vương không thấy gì trở ngại.
SC 28- Bạch Thế Tôn, con không thấy gì trở ngại đối với đức Thế Tôn và các bậc như đức Thế Tôn.
SC 29- Vậy Ðại vương hãy nói đi.
SC 30PTS cs 16—Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pùrana Kassapa: “Ngài Kassapa, cũng như các công nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”
SC 31PTS cs 17 Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: “Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo”. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Pùrana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Purāna Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Thế Tôn, con nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng?” Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng như không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 32PTS cs 19 Bạch Thế Tôn, một thời con đến Makkhali Gosāla (Mạt-già-lê-cù-xá-lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào tụng thân hữu và xã giao với Makkhali Gosāla và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali Gosāla: “Ngài Gosāla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như điều tượng sư … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”
SC 33PTS cs 20 Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosāla đã nói với con: “Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Nāga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau”.
SC 34PTS cs 21 Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosāla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Makkhali Gosāla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng? “Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosāla; không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 35PTS cs 22 Bạch Thế Tôn, một thời con đến Ajita Kesakambali (A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la) khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Ajita Kesakambali, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: “Ngài Ajita Kesakambali, cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”
SC 36PTS cs 23 Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambali đã nói với con: “Này Ðại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết. ”
SC 37PTS cs 24 Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambali đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambali đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita Kesakambali. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 38PTS cs 25 Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pakudha Kaccāyana (Bà-phù-đả-ca-chiên-diên). Khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pakudha Kaccāyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pakudha Kaccāyana: “Ngài Pakudha Kaccāyana, cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”
SC 39PTS cs 26 Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccāyana nói với con: “Này Ðại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi”.
SC 40PTS cs 27 Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccāyana đã trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha Kaccāyana đã trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccāyana. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng dậy ra về.
SC 41PTS cs 28 Bạch Thế Tôn, một thời con đến Nigaṇṭha Nātaputta (Ni-kiền-tử). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Nigaṇṭha Nātaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Nigaṇṭha Nātaputta: “Ngài Aggivessana, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư, … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn?”
SC 42PTS cs 29 Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigaṇṭha Nātaputta nói với con: “Này Ðại vương, một người Nigaṇṭha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigaṇṭha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một Nigaṇṭha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigaṇṭha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigaṇṭha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatta (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Ṭhitatta (một vị đã an trú được tự tâm)”.
SC 43PTS cs 30 Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigaṇṭha Nātaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigaṇṭha Nātaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm giới. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Nigaṇṭha Nātaputta. Không tán thán không cật nạn, dù không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 44PTS cs 31 Bạch Thế Tôn, một hôm con đến Sanjaya Bellaṭṭhiputta (Tán-nhã-di-Tỳ-la-lê-phất). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xã giao với Sanjaya Bellaṭṭhiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Sanjaya Bellaṭṭhiputta: “Ngài Sanjaya, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư … (như trên) … Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?”
SC 45PTS cs 32 Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Bellaṭṭhiputta đã trả lời với con: “Nếu anh hỏi: “Có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ: “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” ( … như trên … ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?”, “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ: “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời: “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.”
SC 46PTS cs 33 Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Bellaṭṭhiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi trái mít lại trả lời trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya Bellaṭṭhiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: “Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui lòng”. Vì vậy, Bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Sanjaya Bellaṭṭhiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn. Không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 47PTS cs 34 Vậy nên bạch Thế Tôn, con cũng hỏi Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, cũng như các công nghệ chức nghiệp. Như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác. Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
SC 48- Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương.
SC 49PTS cs 35 Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả dị thục của các công đức. Ðức vua Ajātasattu, con của bà Videhi của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajātasattu con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần, còn tôi là người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của vua). Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia, ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo”. Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống chế ngự lời nói, sống chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương. “Ðại vương có biết chăng? Có người nô bộc của Ðại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói như sau chăng?: “Người ấy hãy lại với ta, hãy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái chú ý từng nét mặt?”
SC 50PTS cs 36 - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
SC 51- Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, thì đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa-môn?
SC 52- Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.
SC 53- Này Ðại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đã trình bày.
SC 54PTS cs 37 - Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh Sa-môn?
SC 55- Này Ðại vương, có thể được. Này Ðại vương. Ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương. Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Người ấy nghĩ: “Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua Ajātasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng là người. Vị vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần. Còn tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo”. Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương: “Ðại vương có biết chăng? Có người nông phu của Ðại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh”. Này Ðại vương, Ðại vương có nói: “Người hãy đến lại với ta, hãy làm lại người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố”?
SC 56PTS cs 38 - Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
SC 57- Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
SC 58- Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.
SC 59- Này Ðại vương, đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, mà Ta trình bày.
SC 60PTS cs 39 Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa-môn, vi diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn vừa kể trên?
SC 61- Này Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, hãy lóng tai nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 62- Vâng, Thế Tôn. Vua Ajātasattu con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 63PTS cs 40—Này Ðại vương, nay ở đời, Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 64PTS cs 41 Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 65PTS cs 42 Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.
SC 66PTS cs 43 Ðại Vương! Thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Ðại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 67Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 68PTS cs 44 Tỷ-kheo từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 69Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Tỷ-kheo ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 70Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 71Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 72PTS cs 45 Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch. Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 73PTS cs 46 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn vị ấy thì không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 74PTS cs 47 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn vị ấy thì từ bỏ cất chứa các vật trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 75PTS cs 48 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chơn chánh như múa, hát, nhạc kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn vị ấy thì từ bỏ các du hí không chơn chánh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 76PTS cs 49 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí. Như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả, nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn vị ấy thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 77PTS cs 50 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài có gối đầu, gối chân màu đỏ. Còn vị ấy thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 78PTS cs 51 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt và sáp mặt, vòng tay tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn vị ấy thì không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 79PTS cs 52 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn vị ấy thì từ bỏ nói những chuyện vô ích, tầm thường kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 80PTS cs 53 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đã bị bài bác, câu nói của ngươi đã bị thách đấu. Ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn vị ấy thì từ bỏ những cuộc biện luận, tranh chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 81PTS cs 54 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 82PTS cs 55 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, cầu lợi. Còn vị ấy thì từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 83PTS cs 56 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v. V … vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bò cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn vị ấy thì tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 84PTS cs 57 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn vị ấy thì tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 85PTS cs 58 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia”. Còn vị ấy thì từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 86PTS cs 59 Trong khi có một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao bằng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế này”. Còn vị ấy thì tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 87PTS cs 60 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước: “Sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình”. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 88PTS cs 61 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 89PTS cs 62 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 90PTS cs 63 Và như vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Ðại vương, như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.
SC 91PTS cs 64 Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Ðại vương, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo hộ trì các căn.
SC 92PTS cs 65 Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác? Ðại vương, ở đây, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.
SC 93PTS cs 66 Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo biết đủ? Ở đây Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ðại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Ðại vương, là Tỷ-kheo biết đủ.
SC 94PTS cs 67 Vị ấy, với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với chánh niệm tỉnh giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.
SC 95PTS cs 68 Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 96PTS cs 69 Này Ðại vương, như một người mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ.
SC 97PTS cs 70 Này Ðại vương, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
SC 98PTS cs 71 Này Ðại vương, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian, được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
SC 99PTS cs 72 Này Ðại vương, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
SC 100PTS cs 73 Này Ðại vương, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Người ấy, sau một thời gian đã đi khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm. Người ấy nghĩ: “Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm”. Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
SC 101PTS cs 74 Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.
SC 102PTS cs 75 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 103PTS cs 76 Này Ðại vương, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 104Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 105PTS cs 77 Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
SC 106PTS cs 78 Này Ðại vương, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
SC 107Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 108PTS cs 79 Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và an trú thiền thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 109PTS cs 80 Này Ðại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
SC 110Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 111PTS cs 81 Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
SC 112PTS cs 82 Này Ðại vương, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
SC 113Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 114PTS cs 83 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.
SC 115PTS cs 84 Này Ðại vương, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi giây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.
SC 116Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu và thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 117PTS cs 85 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
SC 118PTS cs 86 Này Ðại vương, ví như mọt người rút một cây lau ra ngoài vỏ. Người ấy nghĩ: Ðây là vỏ, đây là cây lau; vỏ khác, cây lau khác và cây lau từ vỏ rút ra. Này Ðại vương, ví như một người rút thanh kiếm từ bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác, và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Này Ðại vương, ví như một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: Ðây là con rắn, đây là xác rắn, con rắn khác, xác rắn khác, và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến sự hiện hóa một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý tạo thành, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
SC 119Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 120PTS cs 87 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
SC 121PTS cs 88 Này Ðại vương, ví như một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo dũa có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như người thợ vàng khéo tay hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích. Cũng vậy này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như còn chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
SC 122Này Ðại vương đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 123PTS cs 89 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
SC 124PTS cs 90 Này Ðại vương, ví như một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xõa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: “Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xõa, tiếng kiểng”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
SC 125Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 126PTS cs 91 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:
SC 127Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không có tham, biết là tâm không có tham.
Tâm có sân, biết là tâm có sân. Tâm không có sân, biết là tâm không có sân.
Tâm có si, biết là tâm có si. Tâm không có si, biết là tâm không có si.
Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn.
Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm.
Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng, Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng.
Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định.
Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát.
SC 128PTS cs 92 Này Ðại vương, ví như một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng suốt hay một chậu nước trong. Nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của mọi người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:
SC 129Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không có tham, biết tâm không có tham.
Tâm có sân biết tâm có sân. Tâm không có sân, biết tâm không có sân.
Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không có si, biết tâm không có si.
Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn.
Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải là đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm.
Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng.
Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định.
Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.
SC 130PTS cs 93 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 131PTS cs 94 Này Ðại vương, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Như vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp và thành kiếp. Vị ấy nhớ: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra chỗ nọ, tại đây, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
SC 132Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 133PTS cs 95 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: “Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.
SC 134PTS cs 96 Này Ðại vương, ví như một tòa lầu có thượng đài, giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: “Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư, trên đài thượng”. Cũng vậy, này Ðại vương với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.
SC 135Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng. Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
SC 136PTS cs 97 “Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật “đây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
SC 137PTS cs 98 Này Ðại vương, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, biết như thật “đây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật “đây là khổ diệt”, biết như thật “đây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật “đây là những lậu hoặc”, biết như thật “đây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật “đây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, biết như thật “đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
SC 138Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. Này Ðại vương, không có một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn nào vi diệu và thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn này.
SC 139PTS cs 99 Ðược nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chúng, con trọn đời quy ngưỡng. Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chánh, để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn chận về tương lai”.
SC 140PTS cs 100 - Ðại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Ðại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh, để đoạt vương quyền. Vì Ðại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận tội ấy cho Ðại vương. Ðó là một sự tiến bộ, này Ðại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.
SC 141PTS cs 101 Ðược nghe nói vậy, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận, nhiều việc phải làm”.
SC 142- Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ ra là phải thời.
SC 143Lúc bấy giờ, Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
SC 144PTS cs 102 Lúc bấy giờ, khi Ajātasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo
SC 145—Này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô uế.
SC 146Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 15–06-2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 2
The Fruits of the Ascetic Life
2. Kinh Sa Môn Quả
1. Rājāmaccakathā
Evaṁ me sutaṁ—
1. A Discussion With the King’s Ministers
So I have heard.
Câu chuyện về vua và các đại thần
Tena kho pana samayena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tadahuposathe pannarase komudiyā cātumāsiniyā puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā rājāmaccaparivuto uparipāsādavaragato nisinno hoti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tadahuposathe udānaṁ udānesi: “ramaṇīyā vata bho dosinā ratti, abhirūpā vata bho dosinā ratti, dassanīyā vata bho dosinā ratti, pāsādikā vata bho dosinā ratti, lakkhaññā vata bho dosinā ratti. Kaṁ nu khvajja samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā payirupāseyyāma, yaṁ no payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti?
Now, at that time it was the sabbath—the Komudī full moon on the fifteenth day of the fourth month—and King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, was sitting upstairs in the royal longhouse surrounded by his ministers.
Then Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, expressed this heartfelt sentiment, “Oh, sirs, this moonlit night is so very delightful, so beautiful, so glorious, so lovely, so striking. Now, what ascetic or brahmin might I pay homage to today, paying homage to whom my mind might find peace?”
150. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong vườn xoài của Jīvaka Komārabhacca, cùng với đại chúng Tỳ khưu gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ, vào ngày trai giới mười lăm, trong đêm trăng tròn của tháng Komudī, tháng thứ tư của mùa mưa, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi, đang ngự trên sân thượng của cung điện, có các đại thần vây quanh. Lúc ấy, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi, vào ngày trai giới ấy, đã thốt lên lời cảm hứng: 'Thật khả ái thay, này các khanh, đêm trăng này! Thật xinh đẹp thay, này các khanh, đêm trăng này! Thật đáng chiêm ngưỡng thay, này các khanh, đêm trăng này! Thật tĩnh lặng thay, này các khanh, đêm trăng này! Thật đáng ghi nhớ thay, này các khanh, đêm trăng này! Hôm nay, chúng ta nên đến yết kiến vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, mà khi yết kiến vị ấy, tâm của chúng ta có thể được tịnh tín?'
Evaṁ vutte, aññataro rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca: “ayaṁ, deva, pūraṇo kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Taṁ devo pūraṇaṁ kassapaṁ payirupāsatu. Appeva nāma devassa pūraṇaṁ kassapaṁ payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti. Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tuṇhī ahosi.
When he had spoken, one of the king’s ministers said to him, “Your Majesty, this Pūraṇa Kassapa leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. He is of long standing, long gone forth; he is advanced in years and has reached the final stage of life. Let Your Majesty pay homage to him. Hopefully in so doing your mind will find peace.” But when he had spoken, the king kept silent.
151. Khi được nói như vậy, một vị đại thần tâu với vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi rằng: 'Tâu Đại vương, có vị Pūraṇa Kassapa này, là người có giáo đoàn, có hội chúng, là thầy của một nhóm, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí, là bậc trưởng lão, đã xuất gia từ lâu, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi già. Xin Đại vương hãy đến yết kiến Pūraṇa Kassapa. Có lẽ khi yết kiến Pūraṇa Kassapa, tâm của Đại vương sẽ được tịnh tín.' Khi được tâu như vậy, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi, vẫn im lặng.
Aññataropi kho rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca: “ayaṁ, deva, makkhali gosālo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Taṁ devo makkhaliṁ gosālaṁ payirupāsatu. Appeva nāma devassa makkhaliṁ gosālaṁ payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti. Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tuṇhī ahosi.
Another of the king’s ministers said to him, “Your Majesty, this bamboo-staffed ascetic Gosāla leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. He is of long standing, long gone forth; he is advanced in years and has reached the final stage of life. Let Your Majesty pay homage to him. Hopefully in so doing your mind will find peace.” But when he had spoken, the king kept silent.
152. Một vị đại thần khác lại tâu với vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi rằng: 'Tâu Đại vương, có vị Makkhali Gosāla này, là người có giáo đoàn, có hội chúng, là thầy của một nhóm, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí, là bậc trưởng lão, đã xuất gia từ lâu, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi già. Xin Đại vương hãy đến yết kiến Makkhali Gosāla. Có lẽ khi yết kiến Makkhali Gosāla, tâm của Đại vương sẽ được tịnh tín.' Khi được tâu như vậy, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi, vẫn im lặng.
Aññataropi kho rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca: “ayaṁ, deva, ajito kesakambalo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Taṁ devo ajitaṁ kesakambalaṁ payirupāsatu. Appeva nāma devassa ajitaṁ kesakambalaṁ payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti. Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tuṇhī ahosi.
Aññataropi kho rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca:
Another of the king’s ministers said to him, “Your Majesty, this Ajita of the hair blanket leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. He is of long standing, long gone forth; he is advanced in years and has reached the final stage of life. Let Your Majesty pay homage to him. Hopefully in so doing your mind will find peace.” But when he had spoken, the king kept silent.
Another of the king’s ministers said to him,
153. Một vị đại thần khác lại tâu với vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi rằng: 'Tâu Đại vương, có vị Ajita Kesakambala này, là người có giáo đoàn, có hội chúng, là thầy của một nhóm, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí, là bậc trưởng lão, đã xuất gia từ lâu, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi già. Xin Đại vương hãy đến yết kiến Ajita Kesakambala. Có lẽ khi yết kiến Ajita Kesakambala, tâm của Đại vương sẽ được tịnh tín.' Khi được tâu như vậy, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con của hoàng hậu Vedehi, vẫn im lặng.
Aññataropi kho rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca:
Another of the king’s ministers said to him,
154. Lại nữa, một vị đại thần khác tâu với vua Ajātasattu (A-xà-thế), con bà Vedehi, xứ Māgadha (Ma-kiệt-đà) rằng: ‘Tâu Thiên tử, vị này là Pakudha Kaccāyana (Bà-câu-đà Ca-chiên-diên), là vị có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, có danh tiếng, có uy tín, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng xem là bậc thiện nhân, là bậc trưởng lão, xuất gia đã lâu, đã trải qua cuộc đời dài, đã đến tuổi già. Xin Thiên tử hãy đến thân cận Pakudha Kaccāyana. Biết đâu khi đến thân cận Pakudha Kaccāyana, tâm của Thiên tử sẽ được tịnh tín.’ Khi được tâu như vậy, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, vẫn giữ im lặng.
155. Lại nữa, một vị đại thần khác tâu với vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha rằng: ‘Tâu Thiên tử, vị này là Sañcaya Belaṭṭhaputta (San-xà-da Tỳ-la-thí-tử), là vị có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, có danh tiếng, có uy tín, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng xem là bậc thiện nhân, là bậc trưởng lão, xuất gia đã lâu, đã trải qua cuộc đời dài, đã đến tuổi già. Xin Thiên tử hãy đến thân cận Sañcaya Belaṭṭhaputta. Biết đâu khi đến thân cận Sañcaya Belaṭṭhaputta, tâm của Thiên tử sẽ được tịnh tín.’ Khi được tâu như vậy, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, vẫn giữ im lặng.
Aññataropi kho rājāmacco rājānaṁ māgadhaṁ ajātasattuṁ vedehiputtaṁ etadavoca: “ayaṁ, deva, nigaṇṭho nāṭaputto saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito addhagato vayoanuppatto. Taṁ devo nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ payirupāsatu. Appeva nāma devassa nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti. Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tuṇhī ahosi.
Another of the king’s ministers said to him, “Your Majesty, this Jain ascetic of the Ñātika clan leads an order and a community, and tutors a community. He’s a well-known and famous religious founder, deemed holy by many people. He is of long standing, long gone forth; he is advanced in years and has reached the final stage of life. Let Your Majesty pay homage to him. Hopefully in so doing your mind will find peace.” But when he had spoken, the king kept silent.
156. Lại nữa, một vị đại thần khác tâu với vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha rằng: ‘Tâu Thiên tử, vị này là Nigaṇṭha Nāṭaputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử), là vị có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, có danh tiếng, có uy tín, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người kính trọng xem là bậc thiện nhân, là bậc trưởng lão, xuất gia đã lâu, đã trải qua cuộc đời dài, đã đến tuổi già. Xin Thiên tử hãy đến thân cận Nigaṇṭha Nāṭaputta. Biết đâu khi đến thân cận Nigaṇṭha Nāṭaputta, tâm của Thiên tử sẽ được tịnh tín.’ Khi được tâu như vậy, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, vẫn giữ im lặng.
2. Komārabhaccajīvakakathā
2. A Discussion With Jīvaka Komārabhacca
Câu chuyện về Jīvaka Komārabhacca
Tena kho pana samayena jīvako komārabhacco rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa avidūre tuṇhībhūto nisinno hoti. Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca: “tvaṁ pana, samma jīvaka, kiṁ tuṇhī”ti?
“Ayaṁ, deva, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho amhākaṁ ambavane viharati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi. Taṁ kho pana bhagavantaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Taṁ devo bhagavantaṁ payirupāsatu. Appeva nāma devassa bhagavantaṁ payirupāsato cittaṁ pasīdeyyā”ti.
Now at that time Jīvaka Komārabhacca was sitting silently not far from the king. Then the king said to him, “But my dear Jīvaka, why are you silent?”
“Your Majesty, this Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is staying in my mango grove together with a large Saṅgha of 1,250 mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ Let Your Majesty pay homage to him. Hopefully in so doing your mind will find peace.”
157. Vào lúc bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đang ngồi im lặng không xa vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha. Bấy giờ, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: ‘Này Jīvaka, tại sao khanh lại im lặng?’ ‘Tâu Thiên tử, Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang ngự tại vườn xoài của chúng thần cùng với đại chúng Tỳ-khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-khưu. Tiếng lành đồn xa về Đức Thế Tôn ấy như sau: ‘Ngài là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Xin Thiên tử hãy đến yết kiến Đức Thế Tôn. Biết đâu khi đến yết kiến Đức Thế Tôn, tâm của Thiên tử sẽ được tịnh tín.’
“Tena hi, samma jīvaka, hatthiyānāni kappāpehī”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭissuṇitvā pañcamattāni hatthinikāsatāni kappāpetvā rañño ca ārohaṇīyaṁ nāgaṁ, rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭivedesi: “kappitāni kho te, deva, hatthiyānāni, yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
“Well then, my dear Jīvaka, have the elephants readied.”
“Yes, Your Majesty,” replied Jīvaka. He had around five hundred female elephants readied, in addition to the king’s bull elephant for riding. Then he informed the king, “The elephants are ready, Your Majesty. Please go at your convenience.”
158. ‘Vậy thì, này Jīvaka, khanh hãy cho thắng dọn voi.’ ‘Tâu vâng, Thiên tử.’ Y sĩ Jīvaka Komārabhacca vâng lời vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, cho thắng dọn khoảng năm trăm voi cái và voi ngự của nhà vua, rồi tâu lại với vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha rằng: ‘Tâu Thiên tử, voi đã được thắng dọn sẵn sàng cho ngài. Bây giờ, ngài nghĩ là đã đến lúc nào thì xin tùy nghi.’
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto pañcasu hatthinikāsatesu paccekā itthiyo āropetvā ārohaṇīyaṁ nāgaṁ abhiruhitvā ukkāsu dhāriyamānāsu rājagahamhā niyyāsi mahaccarājānubhāvena, yena jīvakassa komārabhaccassa ambavanaṁ tena pāyāsi.
Then King Ajātasattu had women mounted on each of the five hundred female elephants, while he mounted his bull elephant. With attendants carrying torches, he set out in full royal pomp from Rājagaha to Jīvaka’s Mango Grove.
159. Bấy giờ, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, cho mỗi cung nữ ngồi trên một con trong năm trăm voi cái, còn ngài thì ngự trên voi báu, với các ngọn đuốc được giơ cao, ngài ra khỏi thành Rājagaha (Vương Xá) với đại vương uy, đi đến vườn xoài của y sĩ Jīvaka Komārabhacca.
Atha kho rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa avidūre ambavanassa ahudeva bhayaṁ, ahu chambhitattaṁ, ahu lomahaṁso. Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca: “kacci maṁ, samma jīvaka, na vañcesi? Kacci maṁ, samma jīvaka, na palambhesi? Kacci maṁ, samma jīvaka, na paccatthikānaṁ desi? Kathañhi nāma tāva mahato bhikkhusaṅghassa aḍḍhateḷasānaṁ bhikkhusatānaṁ neva khipitasaddo bhavissati, na ukkāsitasaddo na nigghoso”ti.
But as he drew near the mango grove, the king became frightened, scared, his hair standing on end. He said to Jīvaka, “My dear Jīvaka, I hope you’re not deceiving me! I hope you’re not betraying me! I hope you’re not turning me over to my enemies! For how on earth can there be no sound of coughing or clearing throats or any noise in such a large Saṅgha of 1,250 mendicants?”
Bấy giờ, khi đến gần vườn xoài, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, cảm thấy sợ hãi, rúng động, và lông tóc dựng ngược. Rồi vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, trong lòng sợ hãi, kinh hoàng, lông tóc dựng ngược, nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: ‘Này Jīvaka, có phải khanh không lừa gạt trẫm chứ? Này Jīvaka, có phải khanh không phỉnh phờ trẫm chứ? Này Jīvaka, có phải khanh không trao trẫm cho kẻ thù chứ? Tại sao một đại chúng Tỳ-khưu đông đến một ngàn hai trăm năm mươi vị như vậy mà lại không có một tiếng hắt hơi, không một tiếng đằng hắng, không một tiếng nói chuyện nào cả?’
“Mā bhāyi, mahārāja, mā bhāyi, mahārāja. Na taṁ, deva, vañcemi; na taṁ, deva, palambhāmi; na taṁ, deva, paccatthikānaṁ demi. Abhikkama, mahārāja, abhikkama, mahārāja, ete maṇḍalamāḷe dīpā jhāyantī”ti.
“Do not fear, Great King, do not fear! I am not deceiving you, or betraying you, or turning you over to your enemies. Go forward, Great King, go forward! Those are lamps shining in the pavilion.”
‘Xin Đại vương đừng sợ, xin Đại vương đừng sợ. Tâu Thiên tử, thần không lừa gạt ngài; tâu Thiên tử, thần không phỉnh phờ ngài; tâu Thiên tử, thần không trao ngài cho kẻ thù. Xin Đại vương hãy tiến tới, xin Đại vương hãy tiến tới. Kìa, trong giảng đường hình tròn, những ngọn đèn đang cháy sáng.’
3. Sāmaññaphalapucchā
3. The Question About the Fruits of the Ascetic Life
Câu hỏi về quả của đời sống Sa-môn
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā, nāgā paccorohitvā, pattikova yena maṇḍalamāḷassa dvāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca: “kahaṁ pana, samma jīvaka, bhagavā”ti?
“Eso, mahārāja, bhagavā; eso, mahārāja, bhagavā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisinno purakkhato bhikkhusaṅghassā”ti.
Then King Ajātasattu rode on the elephant as far as the terrain allowed, then descended and approached the pavilion door on foot, where he asked Jīvaka, “But my dear Jīvaka, where is the Buddha?”
“That is the Buddha, Great King, that is the Buddha! He’s sitting against the central column facing east, in front of the Saṅgha of mendicants.”
160. Bấy giờ, vua Ajātasattu, con bà Vedehi, xứ Māgadha, đi voi đến nơi nào voi có thể đi được, rồi xuống voi, đi bộ đến cửa của giảng đường hình tròn. Sau khi đến, ngài nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: ‘Này Jīvaka, Đức Thế Tôn ở đâu?’ ‘Tâu Đại vương, kia là Đức Thế Tôn. Tâu Đại vương, kia là Đức Thế Tôn đang ngồi dựa vào cột trụ ở giữa, mặt hướng về phương đông, ở phía trước chúng Tỳ-khưu.’
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā rahadamiva vippasannaṁ udānaṁ udānesi: “iminā me upasamena udayabhaddo kumāro samannāgato hotu, yenetarahi upasamena bhikkhusaṅgho samannāgato”ti.
“Agamā kho tvaṁ, mahārāja, yathāpeman”ti.
“Piyo me, bhante, udayabhaddo kumāro. Iminā me, bhante, upasamena udayabhaddo kumāro samannāgato hotu yenetarahi upasamena bhikkhusaṅgho samannāgato”ti.
Then the king went up to the Buddha and stood to one side. He looked around the Saṅgha of mendicants, who were so very silent, like a still, clear lake, and expressed this heartfelt sentiment, “May my son, Prince Udāyibhadda, be blessed with such peace as the Saṅgha of mendicants now enjoys!”
“Has your mind gone to one you love, Great King?”
“I love my son, sir, Prince Udāyibhadda. May he be blessed with such peace as the Saṅgha of mendicants now enjoys!”
161. Bấy giờ, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vua đứng một bên. Đứng một bên, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi, nhìn ngắm Tăng chúng đang im lặng, im lặng, trong sáng như một hồ nước, và thốt lên lời cảm hứng: ‘Mong sao thái tử Udayabhadda của ta được thành tựu sự an tịnh này, sự an tịnh mà Tăng chúng hiện đang thành tựu.’ – ‘Thưa Đại vương, tâm của ngài đã đi đến nơi ngài yêu mến.’ – ‘Bạch Thế Tôn, thái tử Udayabhadda là người con yêu quý của con. Bạch Thế Tôn, mong sao thái tử Udayabhadda của con được thành tựu sự an tịnh này, sự an tịnh mà Tăng chúng hiện đang thành tựu.’
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavantaṁ abhivādetvā, bhikkhusaṅghassa añjaliṁ paṇāmetvā, ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavantaṁ etadavoca: “puccheyyāmahaṁ, bhante, bhagavantaṁ kañcideva desaṁ; sace me bhagavā okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Puccha, mahārāja, yadākaṅkhasī”ti.
Then the king bowed to the Buddha, raised his cupped palms toward the Saṅgha, and sat down to one side. He said to the Buddha, “Sir, I’d like to ask you about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Ask what you wish, Great King.”
162. Rồi vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi, đảnh lễ Thế Tôn, chắp tay hướng về Tăng chúng, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua xứ Māgadha, Ajātasattu, con bà Vedehi, bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vài điều, nếu Thế Tôn cho phép con giải đáp câu hỏi.’ – ‘Thưa Đại vương, hãy hỏi bất cứ điều gì ngài muốn.’
“Yathā nu kho imāni, bhante, puthusippāyatanāni, seyyathidaṁ—hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā āḷārikā kappakā nhāpakā sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā muddikā, yāni vā panaññānipi evaṅgatāni puthusippāyatanāni, te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sippaphalaṁ upajīvanti; te tena attānaṁ sukhenti pīṇenti, mātāpitaro sukhenti pīṇenti, puttadāraṁ sukhenti pīṇenti, mittāmacce sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhapenti sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikaṁ. Sakkā nu kho, bhante, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun”ti?
“Sir, there are many different professional fields. These include elephant marshals, cavalry, charioteers, archers, bannermen, adjutants, food servers, warrior-chiefs, princes, chargers, great warriors, heroes, leather-clad soldiers, and sons of bondservants. They also include bakers, barbers, bathroom attendants, cooks, garland-makers, dyers, embroiderers, basket-makers, potters, accountants, finger-talliers, or those following any similar professions. All these live off the fruits of their profession which are apparent in this very life. With that they make themselves happy and pleased. They make their parents, their children and partners, and their friends and colleagues happy and pleased. And they establish an uplifting religious donation for ascetics and brahmins that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven. Sir, can you point out a fruit of the ascetic life that’s likewise apparent in this very life?”
163. ‘Bạch Thế Tôn, có nhiều ngành nghề thủ công như thế này, chẳng hạn như: người quản tượng, kỵ sĩ, người đánh xe, cung thủ, người cầm cờ, người dàn trận, người cấp lương, các vương tử cao quý, lính xung kích, dũng sĩ, anh hùng, chiến binh mặc giáp da, con của nữ tỳ, đầu bếp, thợ cắt tóc, người phục vụ nhà tắm, người nấu ăn, người kết hoa, thợ giặt, thợ dệt, thợ đan lát, thợ gốm, kế toán, người tính toán, và bất kỳ ngành nghề thủ công nào khác tương tự. Họ sống nhờ vào thành quả hữu hình của nghề nghiệp ngay trong đời này. Nhờ đó, họ làm cho bản thân được an vui, sung túc; làm cho cha mẹ được an vui, sung túc; làm cho vợ con được an vui, sung túc; làm cho bạn bè và người thân được an vui, sung túc; họ thiết lập sự cúng dường hướng thượng đến các Sa-môn và Bà-la-môn, đem lại quả báo an lạc, sanh về cõi trời. Bạch Thế Tôn, có thể nào chỉ ra một quả báo hữu hình của đời sống Sa-môn ngay trong đời này tương tự như vậy không?’
“Abhijānāsi no tvaṁ, mahārāja, imaṁ pañhaṁ aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti?
“Abhijānāmahaṁ, bhante, imaṁ pañhaṁ aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitā”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, mahārāja, byākariṁsu, sace te agaru bhāsassū”ti.
“Na kho me, bhante, garu, yatthassa bhagavā nisinno, bhagavantarūpo vā”ti.
“Tena hi, mahārāja, bhāsassū”ti.
“Great king, do you recall having asked this question of other ascetics and brahmins?”
“I do, sir.”
“If you wouldn’t mind, Great King, tell me how they answered.”
“It’s no trouble when someone such as the Blessed One is sitting here.”
“Well, speak then, Great King.”
164. ‘Thưa Đại vương, ngài có nhớ đã từng hỏi câu hỏi này với các Sa-môn và Bà-la-môn khác không?’ – ‘Bạch Thế Tôn, con có nhớ đã từng hỏi câu hỏi này với các Sa-môn và Bà-la-môn khác.’ – ‘Thưa Đại vương, vậy họ đã trả lời như thế nào? Nếu không phiền, xin ngài hãy nói.’ – ‘Bạch Thế Tôn, không có gì phiền cho con khi có Thế Tôn hoặc một vị giống như Thế Tôn đang ngự ở đây.’ – ‘Vậy thì, thưa Đại vương, hãy nói đi.’
3.1. Pūraṇakassapavāda
3.1. The Doctrine of Pūraṇa Kassapa
Học thuyết của Pūraṇa Kassapa
“Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena pūraṇo kassapo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā pūraṇena kassapena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, pūraṇaṁ kassapaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho kassapa, puthusippāyatanāni, seyyathidaṁ—hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā āḷārikā kappakā nhāpakā sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā muddikā, yāni vā panaññānipi evaṅgatāni puthusippāyatanāni, te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sippaphalaṁ upajīvanti; te tena attānaṁ sukhenti pīṇenti, mātāpitaro sukhenti pīṇenti, puttadāraṁ sukhenti pīṇenti, mittāmacce sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhapenti sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikaṁ. Sakkā nu kho, bho kassapa, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
“This one time, sir, I approached Pūraṇa Kassapa and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
165. ‘Bạch Thế Tôn, có một lần con đã đến chỗ Pūraṇa Kassapa; sau khi đến, con đã cùng Pūraṇa Kassapa chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, ngồi một bên, con đã nói với Pūraṇa Kassapa điều này: ‘Thưa ngài Kassapa, có nhiều ngành nghề thủ công như thế này, chẳng hạn như: người quản tượng, kỵ sĩ, người đánh xe, cung thủ, người cầm cờ, người dàn trận, người cấp lương, các vương tử cao quý, lính xung kích, dũng sĩ, anh hùng, chiến binh mặc giáp da, con của nữ tỳ, đầu bếp, thợ cắt tóc, người phục vụ nhà tắm, người nấu ăn, người kết hoa, thợ giặt, thợ dệt, thợ đan lát, thợ gốm, kế toán, người tính toán, và bất kỳ ngành nghề thủ công nào khác tương tự - họ sống nhờ vào thành quả hữu hình của nghề nghiệp ngay trong đời này; nhờ đó, họ làm cho bản thân được an vui, sung túc, làm cho cha mẹ được an vui, sung túc, làm cho vợ con được an vui, sung túc, làm cho bạn bè và người thân được an vui, sung túc; họ thiết lập sự cúng dường hướng thượng đến các Sa-môn và Bà-la-môn, đem lại quả báo an lạc, sanh về cõi trời. Thưa ngài Kassapa, có thể nào chỉ ra một quả báo hữu hình của đời sống Sa-môn ngay trong đời này tương tự như vậy không?’
Evaṁ vutte, bhante, pūraṇo kassapo maṁ etadavoca: ‘karoto kho, mahārāja, kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato socayato, socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato, pāṇamatipātāpayato, adinnaṁ ādiyato, sandhiṁ chindato, nillopaṁ harato, ekāgārikaṁ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṁ gacchato, musā bhaṇato, karoto na karīyati pāpaṁ. Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pācāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo. Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Itthaṁ kho me, bhante, pūraṇo kassapo sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno akiriyaṁ byākāsi.
He said to me: ‘Great king, the one who acts does nothing wrong when they punish, mutilate, torture, aggrieve, oppress, intimidate, or when they encourage others to do the same. They do nothing wrong when they kill, steal, break into houses, plunder wealth, steal from isolated buildings, commit highway robbery, commit adultery, and lie. If you were to reduce all the living creatures of this earth to one heap and mass of flesh with a razor-edged chakram, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the south bank of the Ganges killing, mutilating, and torturing, and encouraging others to do the same, no evil comes of that, and no outcome of evil. If you were to go along the north bank of the Ganges giving and sacrificing and encouraging others to do the same, no merit comes of that, and no outcome of merit. In giving, self-control, restraint, and truthfulness there is no merit or outcome of merit.’
And so, when I asked Pūraṇa Kassapa about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with the doctrine of inaction.
166. ‘Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, Pūraṇa Kassapa đã nói với con điều này: ‘Thưa Đại vương, khi hành động hay sai người khác hành động, khi cắt xẻ hay sai người khác cắt xẻ, khi gây đau khổ hay sai người khác gây đau khổ, khi gây sầu muộn hay sai người khác gây sầu muộn, khi làm mệt mỏi hay sai người khác làm mệt mỏi, khi gây run sợ hay sai người khác gây run sợ, khi sát sanh, khi lấy của không cho, khi phá nhà, khi cướp bóc, khi đột nhập một nhà, khi chặn đường, khi ngoại tình, khi nói dối, người hành động không bị xem là làm điều ác. Dù cho có người dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo để biến chúng sanh trên trái đất này thành một đống thịt, một khối thịt, thì do nhân duyên đó không có điều ác, không có sự phát sinh của điều ác. Dù cho có người đi đến bờ nam sông Gaṅgā, vừa đi vừa giết hại, sai người giết hại, cắt xẻ, sai người cắt xẻ, gây đau khổ, sai người gây đau khổ, thì do nhân duyên đó không có điều ác, không có sự phát sinh của điều ác. Dù cho có người đi đến bờ bắc sông Gaṅgā, vừa đi vừa bố thí, sai người bố thí, cúng dường, sai người cúng dường, thì do nhân duyên đó không có công đức, không có sự phát sinh của công đức. Do bố thí, do tự chủ, do chế ngự, do nói lời chân thật, không có công đức, không có sự phát sinh của công đức.’ Bạch Thế Tôn, như vậy, khi được hỏi về quả báo hữu hình của đời sống Sa-môn, Pūraṇa Kassapa đã giải thích về thuyết vô hành.
Bạch Thế Tôn, ví như một người được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hoặc được hỏi về mít lại trả lời về xoài; cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi con hỏi Pūraṇa Kassapa về quả báo hiện thực của đời sống Sa-môn, vị ấy lại trả lời về thuyết vô hành. Bạch Thế Tôn, khi ấy con đã nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc chỉ trích một vị Sa-môn hay Bà-la-môn đang sống trong lãnh thổ của mình?’ Bạch Thế Tôn, con đã không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Pūraṇa Kassapa. Không hoan hỷ, không phản đối, lòng không hài lòng nhưng không thốt ra lời bất mãn, con đã không chấp nhận cũng không ghi tạc lời ấy vào lòng, rồi đứng dậy từ chỗ ngồi và ra đi.
3.2. Makkhaligosālavāda
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena makkhali gosālo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā makkhalinā gosālena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, makkhaliṁ gosālaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho gosāla, puthusippāyatanāni …pe… sakkā nu kho, bho gosāla, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
3.2. The Doctrine of the Bamboo-staffed Ascetic Gosāla
This one time, sir, I approached the bamboo-staffed ascetic Gosāla and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
167. Bạch ngài, có một lần con đã đến chỗ của Makkhali Gosāla; sau khi đến, con đã cùng Makkhali Gosāla thăm hỏi xã giao. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch ngài, khi đã ngồi xuống một bên, con đã nói với Makkhali Gosāla điều này: ‘Thưa ngài Gosāla, cũng như có nhiều ngành nghề thủ công này... (v.v.)... Thưa ngài Gosāla, có thể nào chỉ ra quả báo thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, ngay trong hiện tại, cũng giống như vậy không?’
Evaṁ vutte, bhante, makkhali gosālo maṁ etadavoca: ‘natthi, mahārāja, hetu natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, ahetū apaccayā sattā saṅkilissanti. Natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā, ahetū apaccayā sattā visujjhanti. Natthi attakāre, natthi parakāre, natthi purisakāre, natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo. Sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedenti. Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni kamme ca aḍḍhakamme ca dvaṭṭhipaṭipadā dvaṭṭhantarakappā chaḷābhijātiyo aṭṭha purisabhūmiyo ekūnapaññāsa ājīvakasate ekūnapaññāsa paribbājakasate ekūnapaññāsa nāgāvāsasate vīse indriyasate tiṁse nirayasate chattiṁsa rajodhātuyo satta saññīgabbhā satta asaññīgabbhā satta nigaṇṭhigabbhā satta devā satta mānusā satta pisācā satta sarā satta pavuṭā satta pavuṭasatāni satta papātā satta papātasatāni satta supinā satta supinasatāni cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti. Tattha natthi “imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmī”ti hevaṁ natthi. Doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse. Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti; evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
He said: ‘Great king, there is no cause or reason for the corruption of sentient beings. Sentient beings are corrupted without cause or reason. There’s no cause or reason for the purification of sentient beings. Sentient beings are purified without cause or reason. One does not act of one’s own volition, one does not act of another’s volition, one does not act from a person’s volition. There is no power, no energy, no human strength or vigor. All sentient beings, all living creatures, all beings, all souls lack control, power, and energy. Molded by destiny, circumstance, and nature, they experience pleasure and pain in the six classes of rebirth. There are 1.4 million main wombs, and 6,000, and 600; 500 deeds, and five, and three; deeds and half-deeds; 62 paths of practice, 62 sub-eons, six classes of rebirth, and eight stages in a person’s life; 4,900 Ājīvaka ascetics, 4,900 wanderers, and 4,900 dragon abodes; 2,000 lordships, 3,000 hells, and 36 realms of dusky sky; seven percipient embryos, seven non-percipient embryos, seven knotless embryos, seven gods, seven mental heavens, seven goblins, seven streams, seven castoff incarnations and 700 castoff incarnations, seven downfalls and 700 downfalls, seven dreams and 700 dreams, and 8.4 million great eons—through all of which the foolish and the astute transmigrate before making an end of suffering. And here there is no such thing as this: “By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice I shall force unripened deeds to bear their fruit, or eliminate old deeds by experiencing their results little by little,” for that cannot be. Pleasure and pain are allotted. Transmigration lasts only for a limited period, so there’s no increase or decrease, no getting better or worse. It’s like how, when you toss a ball of string, it rolls away unraveling. In the same way, after transmigrating the foolish and the astute will make an end of suffering.’
168. Bạch ngài, khi được hỏi như vậy, Makkhali Gosāla đã nói với con điều này: ‘Tâu Đại vương, không có nguyên nhân, không có điều kiện cho sự ô nhiễm của chúng sanh; chúng sanh bị ô nhiễm không do nguyên nhân, không do điều kiện. Không có nguyên nhân, không có điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sanh; chúng sanh được thanh tịnh không do nguyên nhân, không do điều kiện. Không có tự lực, không có tha lực, không có nhân lực; không có sức mạnh, không có tinh tấn, không có năng lực của con người, không có sự nỗ lực của con người. Tất cả chúng sanh, tất cả sinh vật, tất cả loài hữu tình, tất cả sinh mạng đều bất lực, không sức mạnh, không tinh tấn; chúng bị biến đổi bởi định mệnh, ngẫu nhiên và bản chất, chỉ trải nghiệm khổ và lạc trong sáu loại tái sanh đặc biệt mà thôi. Có một triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm loài sanh chính này, và năm trăm loại nghiệp, và năm loại nghiệp, và ba loại nghiệp, và một nghiệp và nửa nghiệp; có sáu mươi hai con đường thực hành, sáu mươi hai tiểu kiếp, sáu loại tái sanh đặc biệt, tám giai đoạn của con người, bốn ngàn chín trăm sinh kế, bốn ngàn chín trăm du sĩ, bốn ngàn chín trăm trú xứ của loài Nāga, hai ngàn giác quan, ba ngàn địa ngục, ba mươi sáu cảnh giới bụi trần, bảy loại thai tạng có tưởng, bảy loại thai tạng không tưởng, bảy loại thai tạng không có đốt, bảy loại chư thiên, bảy loại con người, bảy loại quỷ Pìsāca, bảy cái hồ, bảy cái nút, bảy trăm cái nút, bảy vực thẳm, bảy trăm vực thẳm, bảy giấc mộng, bảy trăm giấc mộng, và tám triệu bốn trăm ngàn đại kiếp mà cả kẻ ngu và người trí, sau khi đã lang thang, luân hồi qua, sẽ chấm dứt khổ đau. Ở đây, không có chuyện: ‘Ta sẽ làm cho nghiệp chưa chín được chín muồi, hoặc sẽ làm cho nghiệp đã chín chấm dứt bằng cách trải nghiệm nó nhiều lần, thông qua giới hạnh này, khổ hạnh này, tu tập này, hay phạm hạnh này.’ Điều đó không có. Khổ và lạc đã được đong đếm bằng đấu, vòng luân hồi đã được định giới hạn; không có sự tăng hay giảm, không có sự hơn hay kém. Ví như một cuộn chỉ khi được ném ra, nó sẽ lăn đi cho đến khi ξετυλίγεται hết; cũng vậy, cả kẻ ngu và người trí, sau khi đã lang thang, luân hồi qua, sẽ chấm dứt khổ đau.’
Itthaṁ kho me, bhante, makkhali gosālo sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno saṁsārasuddhiṁ byākāsi. Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya; evameva kho me, bhante, makkhali gosālo sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno saṁsārasuddhiṁ byākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ apasādetabbaṁ maññeyyā’ti. So kho ahaṁ, bhante, makkhalissa gosālassa bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano, anattamanavācaṁ anicchāretvā, tameva vācaṁ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
And so, when I asked the bamboo-staffed ascetic Gosāla about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with the doctrine of purification through transmigration. It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango. I thought: ‘How on earth could one such as I presume to rebuke an ascetic or brahmin living in my realm?’ So I neither approved nor rejected that statement of the bamboo-staffed ascetic Gosāla. I was displeased, but did not express my displeasure. Neither accepting what he said nor contradicting it, I rose from my seat and left.
169. Bạch ngài, như vậy, khi con hỏi về quả báo thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Makkhali Gosāla lại trả lời về sự thanh tịnh qua vòng luân hồi. Bạch ngài, ví như người được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hoặc được hỏi về mít lại trả lời về xoài; cũng vậy, bạch ngài, khi con hỏi về quả báo thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Makkhali Gosāla lại trả lời về sự thanh tịnh qua vòng luân hồi. Bạch ngài, khi ấy con đã nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc xua đuổi một vị Sa-môn hay Bà-la-môn đang sống trong lãnh thổ của mình chứ?’ Bạch ngài, con đã không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Makkhali Gosāla. Không hoan hỷ, không phản đối, lòng không vui, không thốt ra lời bất mãn, không tiếp thu, không ghi nhớ lời ấy, con đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
3.3. Ajitakesakambalavāda
3.3. The Doctrine of Ajita of the Hair Blanket
Thuyết của Ajita Kesakambala
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena ajito kesakambalo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ajitena kesakambalena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, ajitaṁ kesakambalaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho ajita, puthusippāyatanāni …pe… sakkā nu kho, bho ajita, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
This one time, sir, I approached Ajita of the hair blanket and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
170. Bạch ngài, có một lần con đã đến chỗ của Ajita Kesakambala; sau khi đến, con đã cùng Ajita Kesakambala thăm hỏi xã giao. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch ngài, khi đã ngồi xuống một bên, con đã nói với Ajita Kesakambala điều này: ‘Thưa ngài Ajita, cũng như có nhiều ngành nghề thủ công này... (v.v.)... Thưa ngài Ajita, có thể nào chỉ ra quả báo thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, ngay trong hiện tại, cũng giống như vậy không?’
Evaṁ vutte, bhante, ajito kesakambalo maṁ etadavoca: ‘natthi, mahārāja, dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti. Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso, yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavikāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti. Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti. Yāvāḷāhanā padāni paññāyanti. Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti, bhassantā āhutiyo. Dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ. Tesaṁ tucchaṁ musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti. Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti, na honti paraṁ maraṇā’ti.
He said: ‘Great king, there is no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight. This person is made up of the four principal states. When they die, the earth in their body merges and coalesces with the substance of earth. The water in their body merges and coalesces with the substance of water. The fire in their body merges and coalesces with the substance of fire. The air in their body merges and coalesces with the substance of air. The faculties are transferred to space. Four men with a bier carry away the corpse. Their footprints show the way to the cremation ground. The bones become bleached. Offerings dedicated to the gods end in ashes. Giving is a doctrine of morons. When anyone affirms a positive teaching it’s just hollow, false nonsense. Both the foolish and the astute are annihilated and destroyed when their body breaks up, and don’t exist after death.’
171. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, Ajita Kesakambala đã nói với con điều này: 'Tâu Đại vương, không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) đại tế tự, không có (kết quả của) cúng dường; không có quả, không có dị thục của các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các chúng sanh hóa sanh; ở trên đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đạt đến chánh đạo, đã thực hành chân chánh, là những vị đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này được tạo thành từ bốn đại chủng, khi mạng chung, địa đại đi vào và hợp với thân đất, thủy đại đi vào và hợp với thân nước, hỏa đại đi vào và hợp với thân lửa, phong đại đi vào và hợp với thân gió, các căn đi vào hư không. Bốn người khiêng và cái giường là thứ năm, họ mang người chết đi. Dấu chân của họ chỉ được thấy cho đến nghĩa địa. Xương cốt trở nên có màu bồ câu, các vật cúng dường kết thúc bằng tro bụi. Việc bố thí này là do kẻ ngu đặt ra. Lời nói của những ai chủ trương thuyết tồn tại là trống rỗng, giả dối, và than vãn. Cả kẻ ngu lẫn người trí, sau khi thân hoại mạng chung, đều bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không còn tồn tại sau khi chết.'
Itthaṁ kho me, bhante, ajito kesakambalo sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno ucchedaṁ byākāsi. Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya; evameva kho me, bhante, ajito kesakambalo sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno ucchedaṁ byākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ apasādetabbaṁ maññeyyā’ti. So kho ahaṁ, bhante, ajitassa kesakambalassa bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṁ anicchāretvā tameva vācaṁ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
And so, when I asked Ajita of the hair blanket about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with the doctrine of annihilationism. It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango. I thought: ‘How on earth could one such as I presume to rebuke an ascetic or brahmin living in my realm?’ So I neither approved nor rejected that statement of Ajita of the hair blanket. I was displeased, but did not express my displeasure. Neither accepting what he said nor contradicting it, I rose from my seat and left.
172. Bạch Thế Tôn, như vậy đó, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Ajita Kesakambala đã giải thích về thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, cũng giống như khi được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hay khi được hỏi về mít lại trả lời về xoài; cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Ajita Kesakambala đã giải thích về thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ thế này: 'Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc xua đuổi một vị Sa-môn hay Bà-la-môn đang sống trong vương quốc của mình?'. Bạch Thế Tôn, con đã không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Ajita Kesakambala. Không hoan hỷ, không phản đối, lòng không vui nhưng không thốt ra lời bất mãn, không tiếp thu, không ghi nhớ lời nói ấy, con đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.
3.4. Pakudhakaccāyanavāda
3.4. The Doctrine of Pakudha Kaccāyana
Thuyết của Pakudha Kaccāyana
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena pakudho kaccāyano tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā pakudhena kaccāyanena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, pakudhaṁ kaccāyanaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho kaccāyana, puthusippāyatanāni …pe… sakkā nu kho, bho kaccāyana, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
This one time, sir, I approached Pakudha Kaccāyana and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
173. Bạch Thế Tôn, có một lần, con đã đến gặp Pakudha Kaccāyana; sau khi đến, con đã cùng Pakudha Kaccāyana trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi đã ngồi xuống một bên, con đã nói với Pakudha Kaccāyana điều này: 'Thưa ngài Kaccāyana, cũng như có nhiều ngành nghề thủ công này... (v.v.)... Thưa ngài Kaccāyana, có thể nào chỉ ra kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn trong chính đời này hay không?'
Evaṁ vutte, bhante, pakudho kaccāyano maṁ etadavoca: ‘sattime, mahārāja, kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā. Te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti, nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Katame satta? Pathavikāyo, āpokāyo, tejokāyo, vāyokāyo, sukhe, dukkhe, jīve sattame—ime satta kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā. Te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti, nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā. Tattha natthi hantā vā ghātetā vā, sotā vā sāvetā vā, viññātā vā viññāpetā vā. Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kiñci jīvitā voropeti; sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatatī’ti.
He said: ‘Great king, these seven substances are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other. What seven? The substances of earth, water, fire, air; pleasure, pain, and the soul is the seventh. These seven substances are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other. And here there is no one who kills or who makes others kill; no one who learns or who educates others; no one who understands or who helps others understand. If you chop off someone’s head with a sharp sword, you don’t take anyone’s life. The sword simply passes through the gap between the seven substances.’
174. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, Pakudha Kaccāyana đã nói với con điều này: 'Tâu Đại vương, có bảy thân này không được tạo ra, không được làm ra, không được hóa ra, không phải do ai tạo ra, chúng bất động, vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau, không thể gây ra lạc, khổ, hay cả lạc lẫn khổ cho nhau. Bảy thân đó là gì? Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, lạc, khổ, và mạng sống là thứ bảy. Bảy thân này không được tạo ra, không được làm ra, không được hóa ra, không phải do ai tạo ra, chúng bất động, vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ. Chúng không lay động, không biến đổi, không làm hại lẫn nhau, không thể gây ra lạc, khổ, hay cả lạc lẫn khổ cho nhau. Trong đó, không có người giết hay người sai giết, không có người nghe hay người làm cho nghe, không có người biết hay người làm cho biết. Dù ai đó dùng gươm sắc bén chặt đầu, cũng không ai tước đoạt mạng sống của ai cả; thanh gươm chỉ đi vào khoảng trống giữa bảy thân ấy mà thôi.'
Itthaṁ kho me, bhante, pakudho kaccāyano sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno aññena aññaṁ byākāsi. Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya; evameva kho me, bhante, pakudho kaccāyano sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno aññena aññaṁ byākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ apasādetabbaṁ maññeyyā’ti. So kho ahaṁ, bhante, pakudhassa kaccāyanassa bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ, anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano, anattamanavācaṁ anicchāretvā tameva vācaṁ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
And so, when I asked Pakudha Kaccāyana about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with something else entirely. It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango. I thought: ‘How on earth could one such as I presume to rebuke an ascetic or brahmin living in my realm?’ So I neither approved nor rejected that statement of Pakudha Kaccāyana. I was displeased, but did not express my displeasure. Neither accepting what he said nor contradicting it, I rose from my seat and left.
175. Bạch Thế Tôn, như vậy đó, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Pakudha Kaccāyana đã trả lời một đằng, hỏi một nẻo. Bạch Thế Tôn, cũng giống như khi được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hay khi được hỏi về mít lại trả lời về xoài; cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn, Pakudha Kaccāyana đã trả lời một đằng, hỏi một nẻo. Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ thế này: 'Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc xua đuổi một vị Sa-môn hay Bà-la-môn đang sống trong vương quốc của mình?'. Bạch Thế Tôn, con đã không hoan hỷ cũng không phản đối lời nói của Pakudha Kaccāyana. Không hoan hỷ, không phản đối, lòng không vui nhưng không thốt ra lời bất mãn, không tiếp thu, không ghi nhớ lời nói ấy, con đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.
3.5. Nigaṇṭhanāṭaputtavāda
3.5. The Doctrine of the Jain Ascetic of the Ñātika Clan
Thuyết của Nigaṇṭha Nāṭaputta
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā nigaṇṭhena nāṭaputtena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho aggivessana, puthusippāyatanāni …pe… sakkā nu kho, bho aggivessana, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
This one time, sir, I approached the Jain Ñātika and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
176. Bạch Thế Tôn, có một lần, con đã đến gặp Nigaṇṭha Nāṭaputta; sau khi đến, con đã cùng Nigaṇṭha Nāṭaputta trao đổi những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự, đáng ghi nhớ, con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, khi đã ngồi xuống một bên, con đã nói với Nigaṇṭha Nāṭaputta điều này: 'Thưa ngài Aggivessana, cũng như có nhiều ngành nghề thủ công này... (v.v.)... Thưa ngài Aggivessana, có thể nào chỉ ra kết quả thiết thực hiện tại của đời sống Sa-môn trong chính đời này hay không?'
Evaṁ vutte, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto maṁ etadavoca: ‘idha, mahārāja, nigaṇṭho cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti. Kathañca, mahārāja, nigaṇṭho cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti? Idha, mahārāja, nigaṇṭho sabbavārivārito ca hoti, sabbavāriyutto ca, sabbavāridhuto ca, sabbavāriphuṭo ca. Evaṁ kho, mahārāja, nigaṇṭho cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti. Yato kho, mahārāja, nigaṇṭho evaṁ cātuyāmasaṁvarasaṁvuto hoti; ayaṁ vuccati, mahārāja, nigaṇṭho gatatto ca yatatto ca ṭhitatto cā’ti.
He said: ‘Great king, consider a Jain ascetic who is restrained in the fourfold constraint. And how is a Jain ascetic restrained in the fourfold constraint? It’s when a Jain ascetic is restrained in all that is to be restrained, is bridled in all that is to be restrained, has shaken off evil in all that is to be restrained, and is curbed in all that is to be restrained. That’s how a Jain ascetic is restrained in the fourfold constraint. When a Jain ascetic is restrained in the fourfold constraint, they’re called a knotless one who is self-realized, self-controlled, and steadfast.’
177. “Bạch ngài, khi được hỏi như vậy, Ni-kiền-tử Nātaputta đã nói với tôi điều này: ‘Tâu đại vương, ở đây, vị Ni-kiền-tử được phòng hộ bằng sự phòng hộ bốn phần. Và tâu đại vương, thế nào là vị Ni-kiền-tử được phòng hộ bằng sự phòng hộ bốn phần? Tâu đại vương, ở đây, vị Ni-kiền-tử ngăn ngừa mọi loại nước, thành tựu sự ngăn ngừa mọi điều ác, đã rũ bỏ (điều ác) bằng sự ngăn ngừa mọi điều ác, và được thấm nhuần bởi sự ngăn ngừa mọi điều ác. Tâu đại vương, chính là như vậy vị Ni-kiền-tử được phòng hộ bằng sự phòng hộ bốn phần. Tâu đại vương, khi nào vị Ni-kiền-tử được phòng hộ bằng sự phòng hộ bốn phần như vậy; thì tâu đại vương, vị Ni-kiền-tử này được gọi là người có tâm đạt đến đích, có tâm tự chế, và có tâm kiên định.’”
Itthaṁ kho me, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno cātuyāmasaṁvaraṁ byākāsi. Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya; evameva kho me, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno cātuyāmasaṁvaraṁ byākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ apasādetabbaṁ maññeyyā’ti. So kho ahaṁ, bhante, nigaṇṭhassa nāṭaputtassa bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṁ anicchāretvā tameva vācaṁ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
And so, when I asked the Jain Ñātika about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with the fourfold constraint. It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango. I thought: ‘How on earth could one such as I presume to rebuke an ascetic or brahmin living in my realm?’ So I neither approved nor rejected that statement of the Jain Ñātika. I was displeased, but did not express my displeasure. Neither accepting what he said nor contradicting it, I rose from my seat and left.
178. “Bạch ngài, như vậy đó, khi được tôi hỏi về quả vị Sa-môn hiện chứng, Ni-kiền-tử Nātaputta đã giải thích về sự phòng hộ bốn phần. Bạch ngài, ví như người được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hoặc được hỏi về mít lại trả lời về xoài; bạch ngài, cũng vậy, khi được tôi hỏi về quả vị Sa-môn hiện chứng, Ni-kiền-tử Nātaputta đã giải thích về sự phòng hộ bốn phần. Bạch ngài, khi ấy tôi đã nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc xua đuổi bất cứ vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đang cư ngụ trong vương quốc của mình?’ Bạch ngài, tôi đã không hoan hỷ cũng không chỉ trích lời nói của Ni-kiền-tử Nātaputta. Không hoan hỷ, không chỉ trích, lòng không vui, không thốt ra lời bất mãn, không tiếp thu, không ghi nhớ lời ấy, tôi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.”
3.6. Sañcayabelaṭṭhaputtavāda
3.6. The Doctrine of Sañjaya Belaṭṭhiputta
Học thuyết của Sañcaya Belaṭṭhaputta
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ yena sañcayo belaṭṭhaputto tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā sañcayena belaṭṭhaputtena saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinno kho ahaṁ, bhante, sañcayaṁ belaṭṭhaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yathā nu kho imāni, bho sañcaya, puthusippāyatanāni …pe… sakkā nu kho, bho sañcaya, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’ti?
This one time, sir, I approached Sañjaya Belaṭṭhiputta and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side, and asked him the same question.
179. “Bạch ngài, có một lần, tôi đã đến gặp Sañcaya Belaṭṭhaputta; sau khi đến, tôi đã cùng Sañcaya Belaṭṭhaputta trao đổi lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, tôi ngồi xuống một bên. Bạch ngài, khi đã ngồi xuống một bên, tôi đã nói với Sañcaya Belaṭṭhaputta điều này: ‘Thưa ngài Sañcaya, cũng như có nhiều ngành nghề thủ công này... (v.v.)... thưa ngài Sañcaya, có thể nào trình bày quả vị Sa-môn hiện chứng ngay trong đời này được không?’”
Evaṁ vutte, bhante, sañcayo belaṭṭhaputto maṁ etadavoca: ‘atthi paro lokoti iti ce maṁ pucchasi, atthi paro lokoti iti ce me assa, atthi paro lokoti iti te naṁ byākareyyaṁ. Evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no. Natthi paro loko …pe… atthi ca natthi ca paro loko …pe… nevatthi na natthi paro loko …pe… atthi sattā opapātikā …pe… natthi sattā opapātikā …pe… atthi ca natthi ca sattā opapātikā …pe… nevatthi na natthi sattā opapātikā …pe… atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… atthi ca natthi ca sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… nevatthi na natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti iti ce maṁ pucchasi, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti iti ce me assa, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti iti te naṁ byākareyyaṁ. Evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
He said: ‘Suppose you were to ask me whether there is another world. If I believed that to be the case, I would say so. But I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so. Suppose you were to ask me whether there is no other world … whether there both is and is not another world … whether there neither is nor is not another world … whether there are beings who are reborn spontaneously … whether there are no beings who are reborn spontaneously … whether there both are and are not beings who are reborn spontaneously … whether there neither are nor are not beings who are reborn spontaneously … whether there is fruit and result of good and bad deeds … whether there is no fruit and result of good and bad deeds … whether there both is and is not fruit and result of good and bad deeds … whether there neither is nor is not fruit and result of good and bad deeds … whether a realized one still exists after death … whether a realized one no longer exists after death … whether a realized one both still exists and no longer exists after death … whether a realized one neither still exists nor no longer exists after death. If I believed that to be the case, I would say so. But I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’
180. “Bạch ngài, khi được hỏi như vậy, Sañcaya Belaṭṭhaputta đã nói với tôi điều này: ‘Nếu ngài hỏi tôi: “Có thế giới khác không?”, nếu tôi cho rằng: “Có thế giới khác”, thì tôi sẽ tuyên bố với ngài rằng: “Có thế giới khác”. Nhưng tôi không cho là như vậy, tôi không cho là thế kia, tôi không cho là khác, tôi không cho là không phải, và tôi cũng không cho là không phải không phải. Không có thế giới khác... (v.v.)... Vừa có vừa không có thế giới khác... (v.v.)... Không phải có cũng không phải không có thế giới khác... (v.v.)... Có các chúng sanh hóa sanh không... (v.v.)... Không có các chúng sanh hóa sanh không... (v.v.)... Vừa có vừa không có các chúng sanh hóa sanh không... (v.v.)... Không phải có cũng không phải không có các chúng sanh hóa sanh không... (v.v.)... Có quả dị thục của các nghiệp thiện ác không... (v.v.)... Không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác không... (v.v.)... Vừa có vừa không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác không... (v.v.)... Không phải có cũng không phải không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác không... (v.v.)... Như Lai có tồn tại sau khi chết không... (v.v.)... Như Lai không tồn tại sau khi chết không... (v.v.)... Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết không... (v.v.)... Nếu ngài hỏi tôi: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?”, nếu tôi cho rằng: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết”, thì tôi sẽ tuyên bố với ngài rằng: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không cho là như vậy, tôi không cho là thế kia, tôi không cho là khác, tôi không cho là không phải, và tôi cũng không cho là không phải không phải.’”
Itthaṁ kho me, bhante, sañcayo belaṭṭhaputto sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno vikkhepaṁ byākāsi. Seyyathāpi, bhante, ambaṁ vā puṭṭho labujaṁ byākareyya, labujaṁ vā puṭṭho ambaṁ byākareyya; evameva kho me, bhante, sañcayo belaṭṭhaputto sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno vikkhepaṁ byākāsi. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘ayañca imesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ sabbabālo sabbamūḷho. Kathañhi nāma sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ puṭṭho samāno vikkhepaṁ byākarissatī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ apasādetabbaṁ maññeyyā’ti. So kho ahaṁ, bhante, sañcayassa belaṭṭhaputtassa bhāsitaṁ neva abhinandiṁ nappaṭikkosiṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṁ anicchāretvā tameva vācaṁ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
And so, when I asked Sañjaya Belaṭṭhiputta about the fruits of the ascetic life apparent in the present life, he answered with flip-flopping. It was like someone who, when asked about a mango, answered with a breadfruit, or when asked about a breadfruit, answered with a mango. I thought: ‘This is the most foolish and stupid of all these ascetics and brahmins! How on earth can he answer with flip-flopping when asked about the fruits of the ascetic life apparent in the present life?’ I thought: ‘How on earth could one such as I presume to rebuke an ascetic or brahmin living in my realm?’ So I neither approved nor rejected that statement of Sañjaya Belaṭṭhiputta. I was displeased, but did not express my displeasure. Neither accepting what he said nor contradicting it, I rose from my seat and left.
181. “Bạch ngài, như vậy đó, khi được tôi hỏi về quả vị Sa-môn hiện chứng, Sañcaya Belaṭṭhaputta đã trả lời một cách lảng tránh. Bạch ngài, ví như người được hỏi về xoài lại trả lời về mít, hoặc được hỏi về mít lại trả lời về xoài; bạch ngài, cũng vậy, khi được tôi hỏi về quả vị Sa-môn hiện chứng, Sañcaya Belaṭṭhaputta đã trả lời một cách lảng tránh. Bạch ngài, khi ấy tôi đã nghĩ rằng: ‘Vị này là người ngu dốt nhất, mê muội nhất trong số các Sa-môn và Bà-la-môn này. Làm sao mà khi được hỏi về quả vị Sa-môn hiện chứng, ông ta lại trả lời một cách lảng tránh như vậy?’ Bạch ngài, khi ấy tôi đã nghĩ rằng: ‘Làm sao một người như ta lại có thể nghĩ đến việc xua đuổi bất cứ vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đang cư ngụ trong vương quốc của mình?’ Bạch ngài, tôi đã không hoan hỷ cũng không chỉ trích lời nói của Sañcaya Belaṭṭhaputta. Không hoan hỷ, không chỉ trích, lòng không vui, không thốt ra lời bất mãn, không tiếp thu, không ghi nhớ lời ấy, tôi đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.”
4. Sāmaññaphala
4.1. Paṭhamasandiṭṭhikasāmaññaphala
4. The Fruits of the Ascetic Life
4.1. The First Fruit of the Ascetic Life
Quả vị Sa-môn hiện chứng thứ nhất
Sohaṁ, bhante, bhagavantampi pucchāmi: ‘yathā nu kho imāni, bhante, puthusippāyatanāni seyyathidaṁ—hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā āḷārikā kappakā nhāpakā sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā muddikā, yāni vā panaññānipi evaṅgatāni puthusippāyatanāni, te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sippaphalaṁ upajīvanti, te tena attānaṁ sukhenti pīṇenti, mātāpitaro sukhenti pīṇenti, puttadāraṁ sukhenti pīṇenti, mittāmacce sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhapenti sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikaṁ. Sakkā nu kho, bhante, evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun’”ti?
And so I ask the Buddha: Sir, there are many different professional fields. These include elephant marshals, cavalry, charioteers, archers, bannermen, adjutants, food servers, warrior-chiefs, princes, chargers, great warriors, heroes, leather-clad soldiers, and sons of bondservants. They also include bakers, barbers, bathroom attendants, cooks, garland-makers, dyers, embroiderers, basket-makers, potters, accountants, finger-talliers, or those following any similar professions. All these live off the fruits of their profession which are apparent in this very life. With that they make themselves happy and pleased. They make their parents, their children and partners, and their friends and colleagues happy and pleased. And they establish an uplifting religious donation for ascetics and brahmins that’s conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven. Sir, can you point out a fruit of the ascetic life that’s likewise apparent in this very life?”
182. “Bạch Thế Tôn, con xin hỏi Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có nhiều ngành nghề thủ công như thế này, chẳng hạn như: người quản tượng, người kỵ mã, người đánh xe, người bắn cung, người cầm cờ hiệu, người bày trận, người cảm tử, các vương tử ưu tú, người xung kích, các dũng sĩ, các anh hùng, các chiến sĩ mặc giáp da, các con của người nữ tỳ, người nấu ăn, người hớt tóc, người phục vụ nhà tắm, người đầu bếp, người kết hoa, người giặt giũ, người dệt vải, người đan lát, người làm gốm, người kế toán, người tính nhẩm bằng ngón tay, và bất cứ ngành nghề thủ công nào khác tương tự như vậy. Họ sống nhờ vào thành quả hữu hình của nghề nghiệp ngay trong hiện tại. Nhờ đó, họ làm cho bản thân được an lạc và sung túc, làm cho cha mẹ được an lạc và sung túc, làm cho vợ con được an lạc và sung túc, làm cho bạn bè và thuộc cấp được an lạc và sung túc. Họ thiết lập sự cúng dường hướng thượng đến các vị Sa-môn, Bà-la-môn, là sự cúng dường dẫn đến cõi trời, có quả báo an lạc, đưa đến sự tái sanh vào thiên giới. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra quả vị Sa-môn hữu hình ngay trong hiện tại tương tự như vậy được không?’”
“Sakkā, mahārāja. Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya, tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha te assa puriso dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī mukhullokako. Tassa evamassa: ‘acchariyaṁ, vata bho, abbhutaṁ, vata bho, puññānaṁ gati, puññānaṁ vipāko. Ayañhi rājā māgadho ajātasattu vedehiputto manusso; ahampi manusso. Ayañhi rājā māgadho ajātasattu vedehiputto pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, devo maññe. Ahaṁ panamhissa dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī mukhullokako. So vatassāhaṁ puññāni kareyyaṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So aparena samayena kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyya. So evaṁ pabbajito samāno kāyena saṁvuto vihareyya, vācāya saṁvuto vihareyya, manasā saṁvuto vihareyya, ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke. Tañce te purisā evamāroceyyuṁ: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, yo te so puriso dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī mukhullokako; so, deva, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. So evaṁ pabbajito samāno kāyena saṁvuto viharati, vācāya saṁvuto viharati, manasā saṁvuto viharati, ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke’ti. Api nu tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘etu me, bho, so puriso, punadeva hotu dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī mukhullokako’”ti?
“I can, Great King. Well then, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, Great King? Suppose you had a person who was a bondservant, a worker. They get up before you and go to bed after you, and are obliging, behaving nicely and speaking politely, and gazing up at your face. They’d think: ‘The outcome and result of good deeds is just so incredible, so amazing! For this King Ajātasattu is a human being, and so am I. Yet he amuses himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation as if he were a god. Whereas I’m his bondservant, his worker. I get up before him and go to bed after him, and am obliging, behaving nicely and speaking politely, and gazing up at his face. I really should do good deeds. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
After some time, that is what they do. Having gone forth they’d live restrained in body, speech, and mind, living content with nothing more than food and clothes, delighting in seclusion. And suppose your men were to report all this to you. Would you say to them: ‘Bring that person to me! Let them once more be my bondservant, my worker’?”
183. “Thưa Đại vương, có thể được. Vậy thì, thưa Đại vương, trong trường hợp này, Như Lai sẽ hỏi lại Đại vương. Đại vương thấy thế nào thì hãy trả lời như vậy. Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, giả sử ở đây Đại vương có một người đàn ông là nô lệ, người làm công, thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm vừa lòng, nói lời dễ mến, và luôn nhìn sắc mặt chủ. Người ấy có thể nghĩ như sau: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa ôi, thật hy hữu thay, thưa ôi, là cảnh giới của các phước thiện, là quả báo của các phước thiện! Vị vua A-xà-thế của xứ Ma-kiệt-đà, con của hoàng hậu Vi-đê-hi, là một con người; ta cũng là một con người. Vị vua A-xà-thế của xứ Ma-kiệt-đà, con của hoàng hậu Vi-đê-hi, được cung phụng và thụ hưởng năm dục công đức, ta ngỡ như một vị trời. Còn ta là nô lệ của vua, là người làm công, thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm vừa lòng, nói lời dễ mến, và luôn nhìn sắc mặt chủ. Ta quả thật nên làm các phước thiện. Hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!’ Rồi một thời gian sau, người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy sống phòng hộ thân, sống phòng hộ khẩu, sống phòng hộ ý, sống tri túc với những vật tối thiểu là thức ăn và y phục, và ưa thích sống nơi vắng vẻ. Nếu có các thuộc hạ của Đại vương đến tâu rằng: ‘Xin Đại vương biết cho, người đàn ông vốn là nô lệ, người làm công của Đại vương, người thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm vừa lòng, nói lời dễ mến, và luôn nhìn sắc mặt chủ; thưa Đại vương, người ấy nay đã cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia như vậy, vị ấy sống phòng hộ thân, sống phòng hộ khẩu, sống phòng hộ ý, sống tri túc với những vật tối thiểu là thức ăn và y phục, và ưa thích sống nơi vắng vẻ.’ Khi ấy, liệu Đại vương có nói rằng: ‘Này các khanh, hãy bảo người ấy trở về đây, hãy trở lại làm nô lệ, người làm công, thức dậy trước, đi ngủ sau, vâng lời, làm vừa lòng, nói lời dễ mến, và luôn nhìn sắc mặt chủ của ta như trước’ không?”
“No hetaṁ, bhante. Atha kho naṁ mayameva abhivādeyyāmapi, paccuṭṭheyyāmapi, āsanenapi nimanteyyāma, abhinimanteyyāmapi naṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi, dhammikampissa rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidaheyyāmā”ti.
“No, sir. Rather, I would bow to them, rise in their presence, and offer them a seat. I’d invite them to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And I’d organize their lawful guarding and protection.”
184. “Bạch Thế Tôn, chắc chắn là không. Trái lại, chính chúng con sẽ đảnh lễ vị ấy, sẽ đứng dậy đón chào vị ấy, sẽ mời vị ấy ngồi. Chúng con cũng sẽ thỉnh mời vị ấy nhận y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Và chúng con sẽ sắp đặt sự bảo vệ, che chở, hộ trì đúng theo chánh pháp cho vị ấy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yadi evaṁ sante hoti vā sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ no vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante hoti sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalan”ti.
“Idaṁ kho te, mahārāja, mayā paṭhamaṁ diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññattan”ti.
“What do you think, Great King? If this is so, is there a fruit of the ascetic life apparent in the present life or not?”
“Clearly, sir, there is.”
“This is the first fruit of the ascetic life that’s apparent in this very life, which I point out to you.”
185. “Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu sự việc là như vậy thì có quả vị Sa-môn hữu hình hay không?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng, nếu sự việc là như vậy thì có quả vị Sa-môn hữu hình.” “Thưa Đại vương, đây là quả vị Sa-môn hữu hình đầu tiên ngay trong hiện tại mà Như Lai đã chỉ ra cho Đại vương.”
4.2. Dutiyasandiṭṭhikasāmaññaphala
4.2. The Second Fruit of the Ascetic Life
Quả Vị Sa-môn Hữu Hình Thứ Hai
“Sakkā pana, bhante, aññampi evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetun”ti?
“Sakkā, mahārāja. Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya, tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha te assa puriso kassako gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako. Tassa evamassa: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, puññānaṁ gati, puññānaṁ vipāko. Ayañhi rājā māgadho ajātasattu vedehiputto manusso, ahampi manusso. Ayañhi rājā māgadho ajātasattu vedehiputto pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, devo maññe. Ahaṁ panamhissa kassako gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako. So vatassāhaṁ puññāni kareyyaṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
“But sir, can you point out another fruit of the ascetic life that’s likewise apparent in this very life?”
“I can, Great King. Well then, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like. What do you think, Great King? Suppose you had a person who was a farmer, a householder, a hard worker, someone who builds up their capital. They’d think: ‘The outcome and result of good deeds is just so incredible, so amazing! For this King Ajātasattu is a human being, and so am I. Yet he amuses himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation as if he were a god. Whereas I’m a farmer, a householder, a hard worker, someone who builds up their capital. I really should do good deeds. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
186. “Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra một quả vị Sa-môn hữu hình khác ngay trong hiện tại tương tự như vậy được không?” “Thưa Đại vương, có thể được. Vậy thì, thưa Đại vương, trong trường hợp này, Như Lai sẽ hỏi lại Đại vương. Đại vương thấy thế nào thì hãy trả lời như vậy. Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, giả sử ở đây Đại vương có một người đàn ông là nông phu, gia chủ, người đóng thuế, người làm gia tăng của cải. Người ấy có thể nghĩ như sau: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa ôi, thật hy hữu thay, thưa ôi, là cảnh giới của các phước thiện, là quả báo của các phước thiện! Vị vua A-xà-thế của xứ Ma-kiệt-đà, con của hoàng hậu Vi-đê-hi, là một con người; ta cũng là một con người. Vị vua A-xà-thế của xứ Ma-kiệt-đà, con của hoàng hậu Vi-đê-hi, được cung phụng và thụ hưởng năm dục công đức, ta ngỡ như một vị trời. Còn ta là nông phu, gia chủ, người đóng thuế, người làm gia tăng của cải của vua. Ta quả thật nên làm các phước thiện. Hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!’”
So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyya. So evaṁ pabbajito samāno kāyena saṁvuto vihareyya, vācāya saṁvuto vihareyya, manasā saṁvuto vihareyya, ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke. Tañce te purisā evamāroceyyuṁ: ‘yagghe, deva, jāneyyāsi, yo te so puriso kassako gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako; so deva kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. So evaṁ pabbajito samāno kāyena saṁvuto viharati, vācāya saṁvuto viharati, manasā saṁvuto viharati, ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke’ti. Api nu tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘etu me, bho, so puriso, punadeva hotu kassako gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako’”ti?
After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They’d shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness. Having gone forth they’d live restrained in body, speech, and mind, living content with nothing more than food and clothes, delighting in seclusion. And suppose your men were to report all this to you. Would you say to them: ‘Bring that person to me! Let them once more be a farmer, a householder, a hard worker, someone who builds up their capital’?”
Vào một thời khác, người ấy từ bỏ tài sản, dù ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc, dù ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, sống phòng hộ thân, sống phòng hộ khẩu, sống phòng hộ ý, biết đủ với vật thực và y phục tối thiểu, ưa thích sống nơi độc cư. Nếu các thuộc hạ của đại vương tâu lên rằng: ‘Tâu đại vương, xin ngài biết cho, người nông dân, gia chủ, người nộp thuế, người làm tăng trưởng của cải của ngài, nay đã cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, sống phòng hộ thân, sống phòng hộ khẩu, sống phòng hộ ý, biết đủ với vật thực và y phục tối thiểu, ưa thích sống nơi độc cư.’ Lúc ấy, liệu đại vương có nói rằng: ‘Này các khanh, hãy bảo người ấy trở về, hãy trở lại làm nông dân, gia chủ, người nộp thuế, người làm tăng trưởng của cải cho ta’ chăng?
“No hetaṁ, bhante. Atha kho naṁ mayameva abhivādeyyāmapi, paccuṭṭheyyāmapi, āsanenapi nimanteyyāma, abhinimanteyyāmapi naṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi, dhammikampissa rakkhāvaraṇaguttiṁ saṁvidaheyyāmā”ti.
“No, sir. Rather, I would bow to them, rise in their presence, and offer them a seat. I’d invite them to accept robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And I’d organize their lawful guarding and protection.”
187. “Bạch Thế Tôn, không nên nói như vậy. Trái lại, chính chúng con sẽ đảnh lễ vị ấy, đứng dậy đón chào, mời ngồi, và cũng sẽ thỉnh mời vị ấy nhận y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Chúng con cũng sẽ sắp đặt sự bảo vệ, che chở, và hộ trì đúng pháp cho vị ấy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja? Yadi evaṁ sante hoti vā sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ no vā”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante hoti sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalan”ti.
“Idaṁ kho te, mahārāja, mayā dutiyaṁ diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññattan”ti.
“What do you think, Great King? If this is so, is there a fruit of the ascetic life apparent in the present life or not?”
“Clearly, sir, there is.”
“This is the second fruit of the ascetic life that’s apparent in this very life, which I point out to you.”
188. “Đại vương nghĩ thế nào về điều này? Nếu sự việc là như vậy, có phải là có quả Sa-môn hiện tại hay không?” “Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng nếu sự việc là như vậy, thì có quả Sa-môn hiện tại.” “Này đại vương, đây là quả Sa-môn hiện tại thứ hai mà Như Lai đã chỉ rõ cho đại vương.”
4.3. Paṇītatarasāmaññaphala
4.3. The Finer Fruits of the Ascetic Life
Quả Sa-môn Cao Thượng Hơn
“Sakkā pana, bhante, aññampi diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ paññapetuṁ imehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañcā”ti?
“Sakkā, mahārāja. Tena hi, mahārāja, suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato paccassosi.
“But sir, can you point out a fruit of the ascetic life that’s apparent in this very life which is better and finer than these?”
“I can, Great King. Well then, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” replied the king.
189. “Bạch Thế Tôn, liệu có thể chỉ ra một quả Sa-môn hiện tại khác, ngay trong đời này, vi diệu hơn và cao thượng hơn những quả Sa-môn hiện tại này không?” “Có thể, này đại vương. Vậy thì, đại vương hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Như Lai sẽ nói.” “Xin vâng, bạch Thế Tôn,” vua Ajātasattu của xứ Māgadha, con của hoàng hậu Vedehi, đã đáp lời Thế Tôn.
Bhagavā etadavoca:
“idha, mahārāja, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
The Buddha said this:
“Consider when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
190. Thế Tôn đã nói điều này: “Này đại vương, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với cõi trời, cõi ma, cõi phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
191. “Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh trong một gia tộc nào khác, được nghe giáo pháp ấy. Sau khi nghe giáo pháp, người ấy có được niềm tin nơi Như Lai. Với niềm tin ấy, người ấy suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Thật không dễ dàng cho người sống tại gia thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’”
So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
192. “Vào một thời khác, người ấy từ bỏ tài sản, dù ít hay nhiều, từ bỏ quyến thuộc, dù ít hay nhiều, cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
So evaṁ pabbajito samāno pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, kāyakammavacīkammena samannāgato kusalena, parisuddhājīvo sīlasampanno, indriyesu guttadvāro, satisampajaññena samannāgato, santuṭṭho.
4.3.1. Sīla
4.3.1.1. Cūḷasīla
Once they’ve gone forth, they live restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. They act skillfully by body and speech. They’re purified in livelihood and accomplished in ethical conduct. They guard the sense doors, have mindfulness and situational awareness, and are content.
4.3.1. Ethics
4.3.1.1. The Shorter Section on Ethics
193. “Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, sống chế ngự với sự chế ngự của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Vị ấy có thân nghiệp và khẩu nghiệp thiện lành, có mạng sống trong sạch, đầy đủ giới hạnh, phòng hộ các căn, có chánh niệm và tỉnh giác, và biết đủ.
Kathañca, mahārāja, bhikkhu sīlasampanno hoti? Idha, mahārāja, bhikkhu pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti. Nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
And how, Great King, is a mendicant accomplished in ethics? It’s when a mendicant gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. This pertains to their ethics.
194. “Này đại vương, thế nào là vị tỳ khưu có giới hạnh đầy đủ? Này đại vương, ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh. Vị ấy bỏ trượng, bỏ kiếm, có lòng tàm quý, có lòng bi mẫn, sống vì lợi ích và hạnh phúc của tất cả chúng sanh. Đây cũng là giới của vị ấy.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharati. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving. This pertains to their ethics.
“Vị ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho. Vị ấy chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Đây cũng là giới của vị ấy.
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. This pertains to their ethics.
“Vị ấy từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa hành vi dâm dục là pháp của thế gian. Đây cũng là giới của vị ấy.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words. This pertains to their ethics.
“Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối. Vị ấy nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Đây cũng là giới của vị ấy.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti; ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya; amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā, amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony. This pertains to their ethics.
Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; nghe điều gì ở nơi này, không đi đến nơi kia nói để gây chia rẽ những người này; nghe điều gì ở nơi kia, không đi nói với những người này để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, vị ấy hàn gắn những người đã chia rẽ, khuyến khích những người đã đoàn kết, vui thích trong sự hòa hợp, ưa thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti; yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people. This pertains to their ethics.
Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; vị ấy nói những lời nhu hòa, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người hài lòng. Vị ấy nói những lời như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial. This pertains to their ethics.
Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời đúng Pháp, nói lời đúng Luật, nói lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý do, có chừng mực, hợp với mục đích. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti …pe… ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti. Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti. Chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence. This pertains to their ethics.
Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối... v.v... Vị ấy dùng một bữa mỗi ngày, không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn phi thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, và các buổi trình diễn. Vị ấy tránh xa việc trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, và mỹ phẩm. Vị ấy tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng và bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận ngũ cốc sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nô tỳ nam và nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa, và lừa. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng nương và đất đai. Vị ấy tránh xa việc làm người đưa tin và sứ giả. Vị ấy tránh xa việc mua và bán. Vị ấy tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền, và thước đo. Vị ấy tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, gian trá, và dối trá. Vị ấy tránh xa việc cắt, giết, trói, cướp bóc, tàn phá, và bạo lực. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Cūḷasīlaṁ niṭṭhitaṁ.
The shorter section on ethics is complete.
Tiểu Giới đã chấm dứt.
4.3.1.2. Majjhimasīla
4.3.1.2. The Middle Section on Ethics
Trung Giới
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ bījagāmabhūtagāmasamārambhaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—mūlabījaṁ khandhabījaṁ phaḷubījaṁ aggabījaṁ bījabījameva pañcamaṁ, iti evarūpā bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in injuring plants and seeds. These include plants propagated from roots, trunks, cuttings, or joints; and those from regular seeds as the fifth. They refrain from such injury to plants and seeds. This pertains to their ethics.
195. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các bữa ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống chuyên tâm phá hoại các loại hạt giống và cây cối. Như là: các loại giống từ rễ, từ thân, từ đốt, từ ngọn, và thứ năm là từ hạt. Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ sannidhikāraparibhogaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—annasannidhiṁ pānasannidhiṁ vatthasannidhiṁ yānasannidhiṁ sayanasannidhiṁ gandhasannidhiṁ āmisasannidhiṁ, iti vā iti evarūpā sannidhikāraparibhogā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in storing up goods for their own use. This includes such things as food, drink, clothes, vehicles, bedding, fragrance, and things of the flesh. They refrain from storing up such goods. This pertains to their ethics.
196. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các bữa ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống chuyên tâm hưởng thụ các vật cất chứa. Như là: cất chứa đồ ăn, cất chứa đồ uống, cất chứa y phục, cất chứa xe cộ, cất chứa giường nệm, cất chứa hương liệu, cất chứa vật thực. Vị ấy tránh xa việc hưởng thụ các vật cất chứa như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ visūkadassanaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—naccaṁ gītaṁ vāditaṁ pekkhaṁ akkhānaṁ pāṇissaraṁ vetāḷaṁ kumbhathūṇaṁ sobhanakaṁ caṇḍālaṁ vaṁsaṁ dhovanaṁ hatthiyuddhaṁ assayuddhaṁ mahiṁsayuddhaṁ usabhayuddhaṁ ajayuddhaṁ meṇḍayuddhaṁ kukkuṭayuddhaṁ vaṭṭakayuddhaṁ daṇḍayuddhaṁ muṭṭhiyuddhaṁ nibbuddhaṁ uyyodhikaṁ balaggaṁ senābyūhaṁ anīkadassanaṁ iti vā iti evarūpā visūkadassanā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in seeing shows. This includes such things as dancing, singing, music, performances, and storytelling; clapping, gongs, and kettledrums; beauty pageants; pole-acrobatics and bone-washing displays of the corpse-workers; battles of elephants, horses, buffaloes, bulls, goats, rams, chickens, and quails; staff-fights, boxing, and wrestling; combat, roll calls of the armed forces, battle-formations, and regimental reviews. They refrain from such shows. This pertains to their ethics.
197. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các bữa ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống chuyên tâm xem các buổi trình diễn. Như là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, vỗ tay, diễn kịch câm, đánh trống, trình diễn nghệ thuật, trò chơi nhào lộn, trò leo cột, trò rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, duyệt binh, tập trận, thao diễn quân đội, xem quân đội. Vị ấy tránh xa việc xem các buổi trình diễn như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ jūtappamādaṭṭhānānuyogaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—aṭṭhapadaṁ dasapadaṁ ākāsaṁ parihārapathaṁ santikaṁ khalikaṁ ghaṭikaṁ salākahatthaṁ akkhaṁ paṅgacīraṁ vaṅkakaṁ mokkhacikaṁ ciṅgulikaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ akkharikaṁ manesikaṁ yathāvajjaṁ iti vā iti evarūpā jūtappamādaṭṭhānānuyogā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in gambling that causes negligence. This includes such things as checkers with eight or ten rows, checkers in the air, hopscotch, spillikins, board-games, tip-cat, drawing straws, dice, leaf-flutes, toy plows, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carts, toy bows, guessing words from syllables, guessing another’s thoughts, and imitating musical instruments. They refrain from such gambling. This pertains to their ethics.
198. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các bữa ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống chuyên tâm vào các trò cờ bạc và giải trí, là nhân duyên của sự dễ duôi. Như là: cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, trò nối ô, trò tung xúc xắc, trò chơi với gậy, trò vẽ tay, trò chơi với bóng, trò thổi kèn lá, trò cày bằng cày nhỏ, trò nhào lộn, trò chơi với chong chóng, trò đo bằng lá, trò chơi với xe nhỏ, trò chơi với cung nhỏ, trò đoán chữ, trò đoán ý, trò giả dạng tật nguyền. Vị ấy tránh xa các trò cờ bạc và giải trí, là nhân duyên của sự dễ duôi như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—āsandiṁ pallaṅkaṁ gonakaṁ cittakaṁ paṭikaṁ paṭalikaṁ tūlikaṁ vikatikaṁ uddalomiṁ ekantalomiṁ kaṭṭissaṁ koseyyaṁ kuttakaṁ hatthattharaṁ assattharaṁ rathattharaṁ ajinappaveṇiṁ kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ sauttaracchadaṁ ubhatolohitakūpadhānaṁ iti vā iti evarūpā uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still make use of high and luxurious bedding. This includes such things as sofas, couches, woolen covers—shag-piled, colorful, white, embroidered with flowers, quilted, embroidered with animals, double or single fringed—and silk covers studded with gems, as well as silken sheets, wollen carpets, rugs for elephants, horses, or chariots, black antelope hides and woven rugs, and spreads of fine deer hide, with a canopy above and red cushions at both ends. They refrain from such bedding. This pertains to their ethics.
199. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các bữa ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống chuyên tâm sử dụng các loại giường cao và giường lớn. Như là: ghế bành, giường có chân chạm hình thú, thảm lông dài, thảm len nhiều màu, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, nệm nhồi bông gòn, thảm len thêu hình sư tử, cọp, v.v..., thảm len có lông ở hai bên, thảm len có lông ở một bên, thảm có đính ngọc, tấm lụa, thảm lớn cho mười sáu vũ nữ nhảy, yên voi, yên ngựa, yên xe, da sơn dương, da nai quý, có lọng che và có gối đỏ ở hai đầu. Vị ấy tránh xa việc sử dụng các loại giường cao và giường lớn như vậy. Ðó cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—ucchādanaṁ parimaddanaṁ nhāpanaṁ sambāhanaṁ ādāsaṁ añjanaṁ mālāgandhavilepanaṁ mukhacuṇṇaṁ mukhalepanaṁ hatthabandhaṁ sikhābandhaṁ daṇḍaṁ nāḷikaṁ asiṁ chattaṁ citrupāhanaṁ uṇhīsaṁ maṇiṁ vālabījaniṁ odātāni vatthāni dīghadasāni iti vā iti evarūpā maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. This includes such things as applying beauty products by anointing, massaging, bathing, and rubbing; mirrors, ointments, garlands, fragrances, and makeup; face-powder, foundation, bracelets, headbands, fancy walking-sticks or containers, rapiers, parasols, fancy sandals, turbans, jewelry, chowries, and long-fringed white robes. They refrain from such attirement and adornment. This pertains to their ethics.
200. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào việc trang điểm và tô điểm thân thể như thế này. Tức là: thoa xức, xoa bóp, tắm gội, đấm bóp, soi gương, vẽ mắt, trang điểm vòng hoa, hương liệu, và thuốc thoa, dùng phấn thoa mặt, dùng kem thoa mặt, đeo vòng tay, trang sức tóc, mang gậy, mang ống thuốc, mang gươm, mang lọng, mang giày dép có trang trí, quấn khăn đội đầu, đeo ngọc, dùng phất trần, mặc y phục màu trắng có tua dài. Vị ấy từ bỏ việc chuyên tâm vào sự trang điểm và tô điểm thân thể như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ tiracchānakathaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānakathāya paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in low talk. This includes such topics as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place. They refrain from such low talk. This pertains to their ethics.
201. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào những câu chuyện vô ích như thế này. Tức là: chuyện về vua, chuyện về kẻ trộm, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về hiểm nguy, chuyện về chiến tranh, chuyện về đồ ăn, chuyện về thức uống, chuyện về y phục, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về bà con, chuyện về xe cộ, chuyện về làng, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về xứ sở, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người đã khuất, các chuyện phiếm, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại. Vị ấy từ bỏ những câu chuyện vô ích như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ viggāhikakathaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi, micchā paṭipanno tvamasi, ahamasmi sammā paṭipanno, sahitaṁ me, asahitaṁ te, pure vacanīyaṁ pacchā avaca, pacchā vacanīyaṁ pure avaca, adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosīti iti vā iti evarūpāya viggāhikakathāya paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in arguments. They say such things as: ‘You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!’ They refrain from such argumentative talk. This pertains to their ethics.
202. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào những lời tranh luận như thế này. Tức là: ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã thực hành sai, còn tôi đã thực hành đúng. Lời của tôi thì hợp lý, lời của ông thì không hợp lý. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Lập luận mà ông đã dày công suy nghĩ đã bị đảo ngược. Luận điểm của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị bắt bẻ. Hãy đi tìm cách để gỡ lại luận điểm của mình, hoặc hãy tự gỡ rối nếu ông có thể.’ Vị ấy từ bỏ những lời tranh luận như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ dūteyyapahiṇagamanānuyogaṁ anuyuttā viharanti. Seyyathidaṁ—raññaṁ, rājamahāmattānaṁ, khattiyānaṁ, brāhmaṇānaṁ, gahapatikānaṁ, kumārānaṁ—idha gaccha, amutrāgaccha, idaṁ hara, amutra idaṁ āharā’ti iti vā iti evarūpā dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in running errands and messages. This includes running errands for rulers, ministers, aristocrats, brahmins, householders, or princes who say: ‘Go here, go there. Take this, bring that from there.’ They refrain from such errands. This pertains to their ethics.
203. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào việc làm sứ giả và chạy việc vặt như thế này. Tức là: làm người đưa tin cho các vua, đại thần của vua, Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, các công tử, với những lời nhắn như: ‘Hãy đi đến nơi này, hãy từ nơi kia đến, hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia từ nơi đó về.’ Vị ấy từ bỏ việc chuyên tâm làm sứ giả và chạy việc vặt như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te kuhakā ca honti lapakā ca nemittikā ca nippesikā ca lābhena lābhaṁ nijigīsitāro ca. Iti evarūpā kuhanalapanā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in fawning, flattery, hinting, and belittling, and using material things to chase after other material things. They refrain from such fraud and flattery. This pertains to their ethics.
204. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, họ trở thành những kẻ lừa đảo, ba hoa, ra hiệu, mạt sát, và dùng lợi lộc để tìm kiếm lợi lộc. Vị ấy từ bỏ sự lừa đảo và ba hoa như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Majjhimasīlaṁ niṭṭhitaṁ.
4.3.1.3. Mahāsīla
The middle section on ethics is complete.
4.3.1.3. The Long Section on Ethics
Trung Giới đã hoàn tất.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—aṅgaṁ nimittaṁ uppātaṁ supinaṁ lakkhaṇaṁ mūsikacchinnaṁ aggihomaṁ dabbihomaṁ thusahomaṁ kaṇahomaṁ taṇḍulahomaṁ sappihomaṁ telahomaṁ mukhahomaṁ lohitahomaṁ aṅgavijjā vatthuvijjā khattavijjā sivavijjā bhūtavijjā bhūrivijjā ahivijjā visavijjā vicchikavijjā mūsikavijjā sakuṇavijjā vāyasavijjā pakkajjhānaṁ saraparittāṇaṁ migacakkaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes such fields as augury, omenology, divining portents, interpreting dreams, divining features of men and women, divining holes in cloth gnawed by mice, fire offerings, ladle offerings, offerings of husks, rice powder, rice, ghee, or oil; offerings from the mouth, blood sacrifices, limb-reading; geomancy for building sites, fields, and cemeteries; exorcisms, earth magic, snake charming, poisons; the lore of the scorpion, the rat, the bird, and the crow; prophesying lifespan, chanting for protection, and divining omens from wild animals. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
205. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, họ mưu sinh bằng tà mạng qua những loại kiến thức thấp kém như thế này. Tức là: khoa xem tướng chi phần, khoa xem điềm báo, khoa giải thích các hiện tượng bất thường, khoa giải mộng, khoa xem tướng người, khoa xem dấu chuột cắn, cúng dường bằng lửa, cúng dường bằng muỗng, cúng dường bằng trấu, cúng dường bằng tấm, cúng dường bằng gạo, cúng dường bằng bơ lỏng, cúng dường bằng dầu, cúng dường bằng miệng, cúng dường bằng máu; khoa xem tướng các bộ phận cơ thể, khoa xem đất đai, khoa chính trị, khoa ma thuật, khoa trừ tà, khoa địa thuật, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chữa chuột cắn, khoa tiếng chim, khoa tiếng quạ, khoa đoán tuổi thọ, khoa chống tên bắn, khoa tiếng thú. Vị ấy từ bỏ việc mưu sinh bằng tà mạng qua những loại kiến thức thấp kém như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—maṇilakkhaṇaṁ vatthalakkhaṇaṁ daṇḍalakkhaṇaṁ satthalakkhaṇaṁ asilakkhaṇaṁ usulakkhaṇaṁ dhanulakkhaṇaṁ āvudhalakkhaṇaṁ itthilakkhaṇaṁ purisalakkhaṇaṁ kumāralakkhaṇaṁ kumārilakkhaṇaṁ dāsalakkhaṇaṁ dāsilakkhaṇaṁ hatthilakkhaṇaṁ assalakkhaṇaṁ mahiṁsalakkhaṇaṁ usabhalakkhaṇaṁ golakkhaṇaṁ ajalakkhaṇaṁ meṇḍalakkhaṇaṁ kukkuṭalakkhaṇaṁ vaṭṭakalakkhaṇaṁ godhālakkhaṇaṁ kaṇṇikalakkhaṇaṁ kacchapalakkhaṇaṁ migalakkhaṇaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes reading the marks of gems, cloth, clubs, swords, spears, arrows, bows, weapons, women, men, boys, girls, male and female bondservants, elephants, horses, buffaloes, bulls, cows, goats, rams, chickens, quails, monitor lizards, rabbits, tortoises, or deer. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
206. “Hay lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, họ mưu sinh bằng tà mạng qua những loại kiến thức thấp kém như thế này. Tức là: xem tướng ngọc, xem tướng vải, xem tướng gậy, xem tướng giáo, xem tướng gươm, xem tướng tên, xem tướng cung, xem tướng vũ khí, xem tướng phụ nữ, xem tướng đàn ông, xem tướng bé trai, xem tướng bé gái, xem tướng nam nô, xem tướng nữ tỳ, xem tướng voi, xem tướng ngựa, xem tướng trâu, xem tướng bò đực, xem tướng bò cái, xem tướng dê, xem tướng cừu, xem tướng gà, xem tướng cút, xem tướng kỳ đà, xem tướng hoa tai, xem tướng rùa, xem tướng thú. Vị ấy từ bỏ việc mưu sinh bằng tà mạng qua những loại kiến thức thấp kém như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—raññaṁ niyyānaṁ bhavissati, raññaṁ aniyyānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ upayānaṁ bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ apayānaṁ bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ upayānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ apayānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ jayo bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ parājayo bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ jayo bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ parājayo bhavissati, iti imassa jayo bhavissati, imassa parājayo bhavissati iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making predictions that the king will march forth or march back; or that our king will attack and the enemy king will retreat, or vice versa; or that our king will triumph and the enemy king will be defeated, or vice versa; and so there will be victory for one and defeat for the other. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
207. “Hoặc có những vị Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật dụng cúng dường do tín tâm, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này. Cụ thể là: ‘Các vua sẽ xuất quân, các vua sẽ không xuất quân; các vua trong nước sẽ tiến công, các vua ngoài nước sẽ rút lui; các vua ngoài nước sẽ tiến công, các vua trong nước sẽ rút lui; các vua trong nước sẽ chiến thắng, các vua ngoài nước sẽ thất bại; các vua ngoài nước sẽ chiến thắng, các vua trong nước sẽ thất bại.’ Hoặc là: ‘Vị vua này sẽ chiến thắng, vị vua kia sẽ thất bại.’ Vị ấy từ bỏ tà mạng bằng những loại kiến thức thấp hèn như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—candaggāho bhavissati, sūriyaggāho bhavissati, nakkhattaggāho bhavissati, candimasūriyānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, candimasūriyānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, nakkhattānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, nakkhattānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, ukkāpāto bhavissati, disāḍāho bhavissati, bhūmicālo bhavissati, devadudrabhi bhavissati, candimasūriyanakkhattānaṁ uggamanaṁ ogamanaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ bhavissati, evaṁvipāko candaggāho bhavissati, evaṁvipāko sūriyaggāho bhavissati, evaṁvipāko nakkhattaggāho bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ nakkhattānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ nakkhattānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipāko ukkāpāto bhavissati, evaṁvipāko disāḍāho bhavissati, evaṁvipāko bhūmicālo bhavissati, evaṁvipāko devadudrabhi bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyanakkhattānaṁ uggamanaṁ ogamanaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ bhavissati iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making predictions that there will be an eclipse of the moon, or sun, or stars; that the sun, moon, and stars will be in conjunction or in opposition; that there will be a meteor shower, a fiery horizon, an earthquake, or thunder in the heavens; that there will be a rising, a setting, a darkening, a brightening of the moon, sun, and stars. And it also includes making predictions about the results of all such phenomena. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
208. “Hoặc có những vị Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật dụng cúng dường do tín tâm, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này. Cụ thể là: ‘Sẽ có nguyệt thực; sẽ có nhật thực; sẽ có tinh tú giao hội; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng quỹ đạo; mặt trăng, mặt trời sẽ đi sai quỹ đạo; các tinh tú sẽ đi đúng quỹ đạo; các tinh tú sẽ đi sai quỹ đạo; sẽ có sao băng; sẽ có quầng lửa; sẽ có động đất; sẽ có sấm trời; mặt trăng, mặt trời, và các tinh tú sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ bị lu mờ, sẽ trở nên trong sáng.’ Hoặc là: ‘Nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này; nhật thực sẽ có kết quả như thế này; tinh tú giao hội sẽ có kết quả như thế này; mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; các tinh tú đi đúng quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; các tinh tú đi sai quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; sao băng sẽ có kết quả như thế này; quầng lửa sẽ có kết quả như thế này; động đất sẽ có kết quả như thế này; sấm trời sẽ có kết quả như thế này; việc mặt trăng, mặt trời, và các tinh tú mọc, lặn, lu mờ, hay trong sáng sẽ có kết quả như thế này.’ Vị ấy từ bỏ tà mạng bằng những loại kiến thức thấp hèn như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—suvuṭṭhikā bhavissati, dubbuṭṭhikā bhavissati, subhikkhaṁ bhavissati, dubbhikkhaṁ bhavissati, khemaṁ bhavissati, bhayaṁ bhavissati, rogo bhavissati, ārogyaṁ bhavissati, muddā, gaṇanā, saṅkhānaṁ, kāveyyaṁ, lokāyataṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes predicting whether there will be plenty of rain or drought; plenty to eat or famine; an abundant harvest or a bad harvest; security or peril; sickness or health. It also includes such occupations as arithmetic, accounting, calculating, poetry, and cosmology. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
209. “Hoặc có những vị Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật dụng cúng dường do tín tâm, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này. Cụ thể là: ‘Sẽ mưa thuận; sẽ bị hạn hán; sẽ được mùa; sẽ bị mất mùa; sẽ được an ổn; sẽ có nguy hiểm; sẽ có dịch bệnh; sẽ được khỏe mạnh.’ Hoặc là các môn như: thuật đếm tay, thuật tính toán, thuật đếm tổng, thi ca, học thuyết duy vật. Vị ấy từ bỏ tà mạng bằng những loại kiến thức thấp hèn như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—āvāhanaṁ vivāhanaṁ saṁvaraṇaṁ vivaraṇaṁ saṅkiraṇaṁ vikiraṇaṁ subhagakaraṇaṁ dubbhagakaraṇaṁ viruddhagabbhakaraṇaṁ jivhānibandhanaṁ hanusaṁhananaṁ hatthābhijappanaṁ hanujappanaṁ kaṇṇajappanaṁ ādāsapañhaṁ kumārikapañhaṁ devapañhaṁ ādiccupaṭṭhānaṁ mahatupaṭṭhānaṁ abbhujjalanaṁ sirivhāyanaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making arrangements for giving and taking in marriage; for engagement and divorce; and for scattering rice inwards or outwards at the wedding ceremony. It also includes casting spells for good or bad luck, treating impacted fetuses, binding the tongue, or locking the jaws; charms for the hands and ears; questioning a mirror, a girl, or a god as an oracle; worshiping the sun, worshiping the Great One, breathing fire, and invoking Siri, the goddess of luck. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
210. “Hoặc có những vị Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật dụng cúng dường do tín tâm, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này. Cụ thể là: làm lễ rước dâu, làm lễ gả con gái, làm cho hòa hợp, làm cho chia rẽ, làm cho tích tụ tài sản, làm cho phân tán tài sản, làm cho được yêu mến, làm cho bị ghét bỏ, phá thai, làm cho lưỡi bị cứng đơ, làm cho hàm bị cứng lại, đọc thần chú điều khiển tay, đọc thần chú làm tê liệt hàm, đọc thần chú làm điếc tai, hỏi đáp qua gương soi, hỏi đáp qua đồng nữ, hỏi đáp chư thiên, thờ phụng mặt trời, thờ phụng Đại Phạm Thiên, phun lửa ra từ miệng, gọi mời nữ thần tài lộc. Vị ấy từ bỏ tà mạng bằng những loại kiến thức thấp hèn như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti. Seyyathidaṁ—santikammaṁ paṇidhikammaṁ bhūtakammaṁ bhūrikammaṁ vassakammaṁ vossakammaṁ vatthukammaṁ vatthuparikammaṁ ācamanaṁ nhāpanaṁ juhanaṁ vamanaṁ virecanaṁ uddhaṁvirecanaṁ adhovirecanaṁ sīsavirecanaṁ kaṇṇatelaṁ nettatappanaṁ natthukammaṁ añjanaṁ paccañjanaṁ sālākiyaṁ sallakattiyaṁ dārakatikicchā, mūlabhesajjānaṁ anuppadānaṁ, osadhīnaṁ paṭimokkho iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṁ.
There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes rites for propitiation, for granting wishes, for ghosts, for the earth, for rain, for property settlement, and for preparing and consecrating house sites, and rites involving sipping water and bathing, and oblations. It also includes administering emetics, purgatives, expectorants, and phlegmagogues; administering ear-oils, eye restoratives, nasal medicine, ointments, and counter-ointments; surgery with needle and scalpel, treating children, prescribing root medicines, and herbal bandages. They refrain from such low lore, such wrong livelihood. This pertains to their ethics.
211. “Hoặc có những vị Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật dụng cúng dường do tín tâm, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này. Cụ thể là: làm lễ cầu an, làm lễ cúng dường, chữa bệnh do ma quỷ, thực hành các thuật ở trong nhà đất, làm cho người ái nam ái nữ thành nam giới, làm cho nam giới thành người ái nam ái nữ, xem đất cất nhà, làm lễ cúng đất, làm phép súc miệng, làm phép tắm rửa, cúng dường bằng lửa, làm cho ói mửa, làm cho xổ瀉, làm cho xổ từ trên xuống, làm cho xổ từ dưới lên, chữa bệnh đau đầu, nhỏ dầu vào tai, nhỏ dầu vào mắt, nhỏ thuốc vào mũi, thuốc nhỏ mắt, thuốc đắp mắt, chữa bệnh về mắt, phẫu thuật lấy dị vật, chữa bệnh cho trẻ em, cho các loại thuốc gốc rễ, đắp và gỡ thuốc. Vị ấy từ bỏ tà mạng bằng những loại kiến thức thấp hèn như vậy. Đây cũng là giới của vị ấy.”
Sa kho so, mahārāja, bhikkhu evaṁ sīlasampanno na kutoci bhayaṁ samanupassati, yadidaṁ sīlasaṁvarato. Seyyathāpi, mahārāja, rājā khattiyo muddhābhisitto nihatapaccāmitto na kutoci bhayaṁ samanupassati, yadidaṁ paccatthikato; evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ sīlasampanno na kutoci bhayaṁ samanupassati, yadidaṁ sīlasaṁvarato. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti. Evaṁ kho, mahārāja, bhikkhu sīlasampanno hoti.
A mendicant thus accomplished in ethics sees no danger in any quarter in regards to their ethical restraint. It’s like a king who has defeated his enemies. He sees no danger from his foes in any quarter. In the same way, a mendicant thus accomplished in ethics sees no danger in any quarter in regards to their ethical restraint. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves. That’s how a mendicant is accomplished in ethics.
212. “Thưa Đại vương, vị Tỳ-khưu ấy, sau khi đã thành tựu giới hạnh như vậy, không thấy sự nguy hiểm từ bất cứ đâu, do sự thu thúc trong giới. Thưa Đại vương, ví như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã dẹp yên kẻ thù, không thấy sự nguy hiểm từ bất cứ đâu, do từ phía kẻ thù; cũng vậy, thưa Đại vương, vị Tỳ-khưu đã thành tựu giới hạnh như vậy, không thấy sự nguy hiểm từ bất cứ đâu, do sự thu thúc trong giới. Vị ấy, được trang bị uẩn giới cao thượng này, cảm nhận được niềm lạc thú không bị chê trách ở nội tâm. Thưa Đại vương, như vậy là vị Tỳ-khưu thành tựu giới hạnh.”
Mahāsīlaṁ niṭṭhitaṁ.
4.3.2. Samādhi
The longer section on ethics is complete.
4.3.2. Immersion
Phần Đại Giới đã hoàn tất.
4.3.2.1. Indriyasaṁvara
4.3.2.1. Sense Restraint
Sự Thu Thúc Các Căn
Kathañca, mahārāja, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti? Idha, mahārāja, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhā domanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhā domanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti. Evaṁ kho, mahārāja, bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti.
And how does a mendicant guard the sense doors? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves. That’s how a mendicant guards the sense doors.
213. “Tâu Đại vương, thế nào là vị Tỳ khưu có các căn được hộ trì? Tâu Đại vương, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi nhìn thấy sắc pháp bằng mắt, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào, nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ nhãn căn ấy, gìn giữ nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi nghe âm thanh bằng tai... sau khi ngửi hương thơm bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm xúc đối tượng xúc chạm bằng thân... sau khi nhận biết pháp bằng ý, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào, nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn, các pháp ác bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm chiếm, vị ấy thực hành để phòng hộ ý căn ấy, gìn giữ ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Vị ấy, sau khi thành tựu sự phòng hộ các căn cao quý này, cảm nhận được niềm an lạc vô nhiễm ở nội tâm. Tâu Đại vương, như vậy là vị Tỳ khưu có các căn được hộ trì.”
4.3.2.2. Satisampajañña
4.3.2.2. Mindfulness and Situational Awareness
Chánh niệm và Tỉnh giác
Kathañca, mahārāja, bhikkhu satisampajaññena samannāgato hoti? Idha, mahārāja, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Evaṁ kho, mahārāja, bhikkhu satisampajaññena samannāgato hoti.
4.3.2.3. Santosa
And how does a mendicant have mindfulness and situational awareness? It’s when a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent. That’s how a mendicant has mindfulness and situational awareness.
4.3.2.3. Contentment
214. “Tâu Đại vương, thế nào là vị Tỳ khưu thành tựu chánh niệm và tỉnh giác? Tâu Đại vương, ở đây, vị Tỳ khưu có sự tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; có sự tỉnh giác khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh; có sự tỉnh giác khi co tay, khi duỗi tay; có sự tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và y; có sự tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm; có sự tỉnh giác trong việc đại tiện, tiểu tiện; có sự tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Tâu Đại vương, như vậy là vị Tỳ khưu thành tựu chánh niệm và tỉnh giác.”
Kathañca, mahārāja, bhikkhu santuṭṭho hoti? Idha, mahārāja, bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi, mahārāja, pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti, sapattabhārova ḍeti; evameva kho, mahārāja, bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. Evaṁ kho, mahārāja, bhikkhu santuṭṭho hoti.
And how is a mendicant content? It’s when a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. That’s how a mendicant is content.
215. “Tâu Đại vương, thế nào là vị Tỳ khưu biết tri túc? Tâu Đại vương, ở đây, vị Tỳ khưu biết tri túc với y phục đủ để che thân, với vật thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo y bát mà đi. Tâu Đại vương, ví như loài chim có cánh, bay đi bất cứ nơi đâu, nó cũng chỉ bay đi với gánh nặng là đôi cánh của mình. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị Tỳ khưu biết tri túc với y phục đủ để che thân, với vật thực đủ để nuôi bụng. Vị ấy đi bất cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo y bát mà đi. Tâu Đại vương, như vậy là vị Tỳ khưu biết tri túc.”
4.3.2.4. Nīvaraṇappahāna
4.3.2.4. Giving Up the Hindrances
Sự Đoạn Trừ Các Triền Cái
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble sense restraint, this noble mindfulness and situational awareness, and this noble contentment, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present.
216. “Vị ấy, sau khi thành tựu uẩn giới cao quý này, sự phòng hộ các căn cao quý này, chánh niệm và tỉnh giác cao quý này, và sự tri túc cao quý này, tìm đến một trú xứ thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang sâu, động núi, nghĩa địa, lùm cây trong rừng, ngoài trời, hoặc đống rơm. Vị ấy, sau khi đi khất thực về, sau bữa ăn, ngồi xuống, xếp chân thế kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú chánh niệm trước mặt.”
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti. Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī, sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati, ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati, akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
217. “Vị ấy, sau khi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm không còn tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Sau khi từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình, gột sạch tâm khỏi sân hận. Sau khi từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Sau khi từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, với nội tâm an tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Sau khi từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi.”
Seyyathāpi, mahārāja, puriso iṇaṁ ādāya kammante payojeyya. Tassa te kammantā samijjheyyuṁ. So yāni ca porāṇāni iṇamūlāni, tāni ca byantiṁ kareyya, siyā cassa uttariṁ avasiṭṭhaṁ dārabharaṇāya. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe iṇaṁ ādāya kammante payojesiṁ. Tassa me te kammantā samijjhiṁsu. Sohaṁ yāni ca porāṇāni iṇamūlāni, tāni ca byantiṁ akāsiṁ, atthi ca me uttariṁ avasiṭṭhaṁ dārabharaṇāyā’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a man who has gotten into debt were to apply himself to work, and his efforts proved successful. He would pay off the original loan and have enough left over to support his partner. Thinking about this, he’d be filled with joy and happiness.
218. “Tâu Đại vương, ví như một người vay nợ để làm ăn. Công việc làm ăn của người ấy được thành công. Người ấy vừa trả hết được món nợ gốc cũ, lại vừa có dư tiền để nuôi vợ con. Người ấy suy nghĩ rằng: ‘Trước đây, ta đã vay nợ để làm ăn. Công việc làm ăn của ta đã thành công. Ta vừa trả hết được món nợ gốc cũ, lại vừa có dư tiền để nuôi vợ con.’ Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.”
Seyyathāpi, mahārāja, puriso ābādhiko assa dukkhito bāḷhagilāno; bhattañcassa nacchādeyya, na cassa kāye balamattā. So aparena samayena tamhā ābādhā mucceyya; bhattaṁ cassa chādeyya, siyā cassa kāye balamattā. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe ābādhiko ahosiṁ dukkhito bāḷhagilāno; bhattañca me nacchādesi, na ca me āsi kāye balamattā. Somhi etarahi tamhā ābādhā mutto; bhattañca me chādeti, atthi ca me kāye balamattā’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose there was a person who was sick, suffering, gravely ill. They’d lose their appetite and get physically weak. But after some time they’d recover from that illness, and regain their appetite and their strength. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
219. “Tâu Đại vương, ví như một người bị bệnh, đau khổ, ốm nặng; người ấy ăn không ngon, và trong thân không có sức lực. Một thời gian sau, người ấy khỏi được bệnh ấy; người ấy ăn ngon, và trong thân có sức lực. Người ấy suy nghĩ rằng: ‘Trước đây, ta đã bị bệnh, đau khổ, ốm nặng; ta ăn không ngon, và trong thân không có sức lực. Nay ta đã khỏi được bệnh ấy; ta ăn ngon, và trong thân có sức lực.’ Do nhân duyên ấy, người ấy có được sự hân hoan, đạt được sự hoan hỷ.”
Seyyathāpi, mahārāja, puriso bandhanāgāre baddho assa. So aparena samayena tamhā bandhanāgārā mucceyya sotthinā abbhayena, na cassa kiñci bhogānaṁ vayo. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe bandhanāgāre baddho ahosiṁ, somhi etarahi tamhā bandhanāgārā mutto sotthinā abbhayena. Natthi ca me kiñci bhogānaṁ vayo’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a person was imprisoned in a jail. But after some time they were released from jail, safe and sound, with no loss of wealth. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
220. “Tâu Đại vương, ví như có người bị giam trong ngục. Một thời gian sau, người ấy được ra khỏi ngục một cách an toàn, vô sự, tài sản không bị hao tổn chút nào. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước kia ta bị giam trong ngục, nay ta đã được ra khỏi ngục một cách an toàn, vô sự. Và tài sản của ta không bị hao tổn chút nào.’ Do nhân duyên ấy, người ấy được hân hoan, đạt được hoan hỷ.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso dāso assa anattādhīno parādhīno na yenakāmaṅgamo. So aparena samayena tamhā dāsabyā mucceyya attādhīno aparādhīno bhujisso yenakāmaṅgamo. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe dāso ahosiṁ anattādhīno parādhīno na yenakāmaṅgamo. Somhi etarahi tamhā dāsabyā mutto attādhīno aparādhīno bhujisso yenakāmaṅgamo’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose a person was a bondservant. They would not be their own master, but indentured to another, unable to go where they wish. But after some time they’d be freed from servitude. They would be their own master, not indentured to another, a freeman able to go where they wish. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
221. “Tâu Đại vương, ví như có người là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đến nơi mình muốn. Một thời gian sau, người ấy được giải thoát khỏi thân phận nô lệ, được tự chủ, không phụ thuộc người khác, được tự do, có thể đi đến nơi mình muốn. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước kia ta là nô lệ, không tự chủ, phụ thuộc người khác, không thể đi đến nơi mình muốn. Nay ta đã được giải thoát khỏi thân phận nô lệ, được tự chủ, không phụ thuộc người khác, được tự do, có thể đi đến nơi mình muốn.’ Do nhân duyên ấy, người ấy được hân hoan, đạt được hoan hỷ.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso sadhano sabhogo kantāraddhānamaggaṁ paṭipajjeyya dubbhikkhaṁ sappaṭibhayaṁ. So aparena samayena taṁ kantāraṁ nitthareyya sotthinā, gāmantaṁ anupāpuṇeyya khemaṁ appaṭibhayaṁ. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho pubbe sadhano sabhogo kantāraddhānamaggaṁ paṭipajjiṁ dubbhikkhaṁ sappaṭibhayaṁ. Somhi etarahi taṁ kantāraṁ nitthiṇṇo sotthinā, gāmantaṁ anuppatto khemaṁ appaṭibhayan’ti. So tatonidānaṁ labhetha pāmojjaṁ, adhigaccheyya somanassaṁ.
Suppose there was a person with wealth and property who was traveling along a desert road, which was perilous, with nothing to eat. But after some time they crossed over the desert safely, arriving within a village, a sanctuary free of peril. Thinking about this, they’d be filled with joy and happiness.
222. “Tâu Đại vương, ví như có người có tài sản, có của cải, đi vào con đường dài qua sa mạc đói kém, hiểm nguy. Một thời gian sau, người ấy vượt qua sa mạc ấy một cách an toàn, đến được vùng ven làng yên ổn, không hiểm nguy. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Trước kia ta có tài sản, có của cải, đã đi vào con đường dài qua sa mạc đói kém, hiểm nguy. Nay ta đã vượt qua sa mạc ấy một cách an toàn, đến được vùng ven làng yên ổn, không hiểm nguy.’ Do nhân duyên ấy, người ấy được hân hoan, đạt được hoan hỷ.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu yathā iṇaṁ yathā rogaṁ yathā bandhanāgāraṁ yathā dāsabyaṁ yathā kantāraddhānamaggaṁ, evaṁ ime pañca nīvaraṇe appahīne attani samanupassati.
In the same way, as long as these five hindrances are not given up inside themselves, a mendicant regards them as a debt, a disease, a prison, slavery, and a desert crossing.
223. “Tâu Đại vương, cũng vậy, vị Tỳ khưu quán thấy năm triền cái này chưa được đoạn trừ nơi tự thân mình như là món nợ, như là bệnh tật, như là nhà tù, như là thân phận nô lệ, như là con đường dài qua sa mạc.
Seyyathāpi, mahārāja, yathā āṇaṇyaṁ yathā ārogyaṁ yathā bandhanāmokkhaṁ yathā bhujissaṁ yathā khemantabhūmiṁ; evameva kho, mahārāja, bhikkhu ime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassati.
But when these five hindrances are given up inside themselves, a mendicant regards this as freedom from debt, good health, release from prison, emancipation, and a place of sanctuary at last.
224. “Tâu Đại vương, ví như không còn nợ, như không còn bệnh, như được giải thoát khỏi tù ngục, như được tự do, như đến nơi yên ổn; tâu Đại vương, cũng vậy, vị Tỳ khưu quán thấy năm triền cái này đã được đoạn trừ nơi tự thân mình.
Tassime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Seeing that the hindrances have been given up in them, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed.
225. “Khi vị ấy quán thấy năm triền cái này đã được đoạn trừ nơi tự thân, sự hân hoan sanh khởi; khi hân hoan, hỷ sanh khởi; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; người có thân khinh an cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh.
4.3.2.5. Paṭhamajhāna
4.3.2.5. First Absorption
Sơ Thiền
So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion.
226. “Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Vị ấy làm cho chính thân này được thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn, lan khắp bởi hỷ lạc do ly dục sanh. Không có một nơi nào trong toàn thân của vị ấy mà không được thấm nhuần bởi hỷ lạc do ly dục sanh.
Seyyathāpi, mahārāja, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya, sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena, na ca paggharaṇī; evameva kho, mahārāja, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
4.3.2.6. Dutiyajhāna
It’s like when a deft bathroom attendant or their apprentice pours bath powder into a bronze dish, sprinkling it little by little with water. They knead it until the ball of bath powder is soaked and saturated with moisture, spread through inside and out; yet no moisture oozes out. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of seclusion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of seclusion. This, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
4.3.2.6. Second Absorption
227. “Tâu Đại vương, ví như một người thợ tắm lành nghề hay đệ tử của người thợ tắm, rắc bột tắm vào chậu đồng, rồi vẩy nước vào nhào trộn. Cục bột tắm ấy được thấm đẫm, bao bọc, thấm nhuần cả trong lẫn ngoài bởi nước, mà không chảy rỉ ra. Tâu Đại vương, cũng vậy, vị Tỳ khưu làm cho chính thân này được thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn, lan khắp bởi hỷ lạc do ly dục sanh. Không có một nơi nào trong toàn thân của vị ấy mà không được thấm nhuần bởi hỷ lạc do ly dục sanh. Tâu Đại vương, đây cũng là quả sa môn hiện chứng, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả sa môn hiện chứng trước đây.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. They drench, steep, fill, and spread themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion.
228. “Tâu Đại vương, lại nữa, vị Tỳ khưu diệt tầm và tứ, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái nội tĩnh, tâm chuyên nhất, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Vị ấy làm cho chính thân này được thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn, lan khắp bởi hỷ lạc do định sanh. Không có một nơi nào trong toàn thân của vị ấy mà không được thấm nhuần bởi hỷ lạc do định sanh.
Seyyathāpi, mahārāja, udakarahado gambhīro ubbhidodako tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca na kālena kālaṁ sammādhāraṁ anuppaveccheyya. Atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
4.3.2.7. Tatiyajhāna
It’s like a deep lake fed by spring water. There’s no inlet to the east, west, north, or south, and the heavens would not properly bestow showers from time to time. But the stream of cool water welling up in the lake drenches, steeps, fills, and spreads throughout the lake. There’s no part of the lake that’s not spread through with cool water.
In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with rapture and bliss born of immersion. There’s no part of the body that’s not spread with rapture and bliss born of immersion. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
4.3.2.7. Third Absorption
229. “Tâu Đại vương, ví như có một hồ nước sâu, có nước nguồn trào lên. Hồ ấy không có cửa nước vào ở phương đông, không có ở phương nam, không có ở phương tây, không có ở phương bắc, và trời cũng không thường xuyên đổ mưa xuống. Tuy nhiên, từ chính hồ nước ấy, dòng nước mát trào lên làm cho chính hồ nước ấy được thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn, lan khắp bởi nước mát. Không có một nơi nào trong toàn bộ hồ nước ấy mà không được thấm nhuần bởi nước mát. Tâu Đại vương, cũng vậy, vị Tỳ khưu làm cho chính thân này được thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn, lan khắp bởi hỷ lạc do định sanh. Không có một nơi nào trong toàn thân của vị ấy mà không được thấm nhuần bởi hỷ lạc do định sanh. Tâu Đại vương, đây cũng là quả sa môn hiện chứng, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả sa môn hiện chứng trước đây.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ They drench, steep, fill, and spread themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture.
230. Lại nữa, tâu Đại vương, vị tỳ khưu do ly hỷ nên trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà các bậc Thánh gọi là: ‘Xả niệm lạc trú,’ chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ, không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Seyyathāpi, mahārāja, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni, nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa; evameva kho, mahārāja, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. From the tip to the root they’re drenched, steeped, filled, and soaked with cool water. There’s no part of them that’s not soaked with cool water. In the same way, a mendicant drenches, steeps, fills, and spreads themselves with bliss free of rapture. There’s no part of the body that’s not spread with bliss free of rapture. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
231. Tâu Đại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, có những bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ngập chìm trong nước; những bông sen ấy từ chóp đến gốc đều được thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy bởi nước mát lạnh, không có một chỗ nào của toàn thể các bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng ấy mà không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ, không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu sa môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu sa môn hiện tại trước kia.
4.3.2.8. Catutthajhāna
4.3.2.8. Fourth Absorption
Thiền Thứ Tư
Puna caparaṁ, mahārāja, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. They sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind.
232. Lại nữa, tâu Đại vương, vị tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, và do hỷ ưu đã diệt từ trước, nên chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy ngồi, thấm nhuần thân này với tâm thuần tịnh, trong sáng, không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy thấm nhuần.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa; evameva kho, mahārāja, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
4.3.3. Aṭṭhañāṇa
It’s like someone sitting wrapped from head to foot with white cloth. There’s no part of the body that’s not spread over with white cloth. In the same way, they sit spreading their body through with pure bright mind. There’s no part of the body that’s not spread with pure bright mind. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
4.3.3. The Eight Knowledges
233. Tâu Đại vương, ví như một người ngồi, trùm khắp cả đầu bằng một tấm vải trắng, không có một chỗ nào trên toàn thân của người ấy mà không được tấm vải trắng ấy che khắp. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu ngồi, thấm nhuần thân này với tâm thuần tịnh, trong sáng, không có một chỗ nào trên toàn thân của vị ấy mà không được tâm thuần tịnh, trong sáng ấy thấm nhuần. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu sa môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu sa môn hiện tại trước kia.
4.3.3.1. Vipassanāñāṇa
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti.
4.3.3.1. Knowledge and Vision
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge and vision.
Tuệ Minh Sát
Seyyathāpi, mahārāja, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno. Tatrāssa suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā. Tamenaṁ cakkhumā puriso hatthe karitvā paccavekkheyya: ‘ayaṁ kho maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno; tatridaṁ suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā’ti.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So evaṁ pajānāti: ‘ayaṁ kho me kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo; idañca pana me viññāṇaṁ ettha sitaṁ ettha paṭibaddhan’ti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent, clear, and unclouded, endowed with all good qualities. And it was strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown. And a person with clear eyes were to take it in their hand and examine it: ‘This beryl gem is naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent, clear, and unclouded, endowed with all good qualities. And it’s strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge and vision. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
235. Tâu Đại vương, ví như có một viên ngọc bích lưu ly đẹp đẽ, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo, trong suốt, sáng sủa, không vẩn đục, đầy đủ mọi phẩm chất. Trong đó có một sợi chỉ được xỏ qua, màu xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng, cầm nó trong tay, sẽ quán xét rằng: ‘Đây là viên ngọc bích lưu ly đẹp đẽ, thuần chủng, tám cạnh, được gia công khéo léo, trong suốt, sáng sủa, không vẩn đục, đầy đủ mọi phẩm chất; và trong đó có sợi chỉ này được xỏ qua, màu xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu vàng nhạt.’ Cũng vậy, tâu Đại vương, khi tâm đã được định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị tỳ khưu hướng tâm, dẫn tâm đến trí kiến. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Thân này của ta có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, có bản chất vô thường, phải chà xát, thoa bóp, tan rã, hủy hoại; và thức này của ta y cứ vào đây, bị ràng buộc vào đây.’ Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu sa môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu sa môn hiện tại trước kia.
4.3.3.2. Manomayiddhiñāṇa
4.3.3.2. Mind-Made Body
Trí Về Thần Thông Do Ý Tạo
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte manomayaṁ kāyaṁ abhinimmānāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward the creation of a mind-made body. From this body they create another body—formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty.
236. Khi tâm đã được định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến việc hóa tạo thân do ý làm ra. Từ thân này, vị ấy hóa tạo ra một thân khác, có sắc, do ý làm ra, có đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, không thiếu căn.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso muñjamhā īsikaṁ pavāheyya. Tassa evamassa: ‘ayaṁ muñjo, ayaṁ īsikā, añño muñjo, aññā īsikā, muñjamhā tveva īsikā pavāḷhā’ti. Seyyathā vā pana, mahārāja, puriso asiṁ kosiyā pavāheyya. Tassa evamassa: ‘ayaṁ asi, ayaṁ kosi, añño asi, aññā kosi, kosiyā tveva asi pavāḷho’ti. Seyyathā vā pana, mahārāja, puriso ahiṁ karaṇḍā uddhareyya. Tassa evamassa: ‘ayaṁ ahi, ayaṁ karaṇḍo. Añño ahi, añño karaṇḍo, karaṇḍā tveva ahi ubbhato’ti.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte manomayaṁ kāyaṁ abhinimmānāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose a person was to draw a reed out from its sheath. They’d think: ‘This is the reed, this is the sheath. The reed and the sheath are different things. The reed has been drawn out from the sheath.’ Or suppose a person was to draw a sword out from its scabbard. They’d think: ‘This is the sword, this is the scabbard. The sword and the scabbard are different things. The sword has been drawn out from the scabbard.’ Or suppose a person was to draw a snake out from its slough. They’d think: ‘This is the snake, this is the slough. The snake and the slough are different things. The snake has been drawn out from the slough.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward the creation of a mind-made body. From this body they create another body—formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
237. Tâu Đại vương, ví như có người rút lõi sậy ra khỏi cây sậy. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là cây sậy, đây là lõi sậy. Cây sậy là khác, lõi sậy là khác. Chính từ cây sậy mà lõi sậy được rút ra.’ Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như có người rút gươm ra khỏi vỏ. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là gươm, đây là vỏ. Gươm là khác, vỏ là khác. Chính từ vỏ mà gươm được rút ra.’ Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như có người lôi con rắn ra khỏi lốt da. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là con rắn, đây là lốt da. Con rắn là khác, lốt da là khác. Chính từ lốt da mà con rắn được lôi ra.’ Cũng thế ấy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu với tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến việc hóa hiện thân do ý tạo thành. Vị ấy từ thân này hóa hiện ra một thân khác có sắc, do ý tạo thành, có đủ tất cả các bộ phận lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu Sa-môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu Sa-môn hiện tại trước đây.
4.3.3.3. Iddhividhañāṇa
4.3.3.3. Psychic Powers
Thần Túc Thông Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte iddhividhāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyā; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward psychic power. They wield the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity.
238. Vị ấy, với tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến các loại thần thông. Vị ấy chứng đắc được các loại thần thông khác nhau: một người hiện ra nhiều người, nhiều người hiện ra một người; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất liền như ở trong nước; đi trên nước không bị chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh. Vị ấy dùng tay chạm đến, rờ đến mặt trăng và mặt trời vốn có đại thần lực, đại oai đức như thế. Vị ấy dùng thân để làm chủ cho đến cõi Phạm Thiên.
Seyyathāpi, mahārāja, dakkho kumbhakāro vā kumbhakārantevāsī vā suparikammakatāya mattikāya yaṁ yadeva bhājanavikatiṁ ākaṅkheyya, taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Seyyathā vā pana, mahārāja, dakkho dantakāro vā dantakārantevāsī vā suparikammakatasmiṁ dantasmiṁ yaṁ yadeva dantavikatiṁ ākaṅkheyya, taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Seyyathā vā pana, mahārāja, dakkho suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā suparikammakatasmiṁ suvaṇṇasmiṁ yaṁ yadeva suvaṇṇavikatiṁ ākaṅkheyya, taṁ tadeva kareyya abhinipphādeyya.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte iddhividhāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyā; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose a deft potter or their apprentice had some well-prepared clay. They could produce any kind of pot that they like. Or suppose a deft ivory-carver or their apprentice had some well-prepared ivory. They could produce any kind of ivory item that they like. Or suppose a deft goldsmith or their apprentice had some well-prepared gold. They could produce any kind of gold item that they like.
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward psychic power. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
239. Tâu Đại vương, ví như người thợ gốm khéo léo hoặc người học việc của thợ gốm, với đất sét đã được nhồi kỹ, muốn làm loại đồ vật nào thì làm và hoàn thành loại đồ vật ấy. Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người thợ ngà khéo léo hoặc người học việc của thợ ngà, với ngà đã được chế tác tốt, muốn làm loại đồ vật bằng ngà nào thì làm và hoàn thành loại đồ vật ấy. Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người thợ vàng khéo léo hoặc người học việc của thợ vàng, với vàng đã được chế tác tốt, muốn làm loại đồ trang sức bằng vàng nào thì làm và hoàn thành loại đồ trang sức ấy. Cũng thế ấy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu với tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến các loại thần thông. Vị ấy chứng đắc được các loại thần thông khác nhau: một người hiện ra nhiều người, nhiều người hiện ra một người; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất liền như ở trong nước; đi trên nước không bị chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh. Vị ấy dùng tay chạm đến, rờ đến mặt trăng và mặt trời vốn có đại thần lực, đại oai đức như thế. Vị ấy dùng thân để làm chủ cho đến cõi Phạm Thiên. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu Sa-môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu Sa-môn hiện tại trước đây.
4.3.3.4. Dibbasotañāṇa
4.3.3.4. Clairaudience
Thiên Nhĩ Thông Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte dibbāya sotadhātuyā cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca ye dūre santike ca.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward clairaudience. With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far.
240. Vị ấy, với tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến thiên nhĩ giới. Vị ấy với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso addhānamaggappaṭipanno. So suṇeyya bherisaddampi mudiṅgasaddampi saṅkhapaṇavadindimasaddampi. Tassa evamassa: ‘bherisaddo’ itipi, ‘mudiṅgasaddo’ itipi, ‘saṅkhapaṇavadindimasaddo’ itipi.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte dibbāya sotadhātuyā cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca ye dūre santike ca. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose there was a person traveling along the road. They’d hear the sound of drums, clay drums, horns, kettledrums, and tom-toms. They’d think: ‘That’s the sound of drums,’ and ‘that’s the sound of clay drums,’ and ‘that’s the sound of horns, kettledrums, and tom-toms.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward clairaudience. With clairaudience that is purified and superhuman, they hear both kinds of sounds, human and heavenly, whether near or far. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
241. Tâu Đại vương, ví như có người đi trên đường dài. Người ấy nghe được tiếng trống lớn, tiếng trống cơm, tiếng tù và, trống nhỏ, và phèng la. Người ấy suy nghĩ: ‘Đây là tiếng trống lớn,’ ‘Đây là tiếng trống cơm,’ ‘Đây là tiếng tù và, trống nhỏ, và phèng la.’ Cũng thế ấy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu với tâm được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến thiên nhĩ giới. Vị ấy với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu Sa-môn hiện tại, thù thắng hơn và cao diệu hơn những quả báu Sa-môn hiện tại trước đây.
4.3.3.5. Cetopariyañāṇa
4.3.3.5. Encompassing the Minds of Others
Tha Tâm Thông Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte cetopariyañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti—sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ ‘vītarāgaṁ cittan’ti pajānāti, sadosaṁ vā cittaṁ ‘sadosaṁ cittan’ti pajānāti, vītadosaṁ vā cittaṁ ‘vītadosaṁ cittan’ti pajānāti, samohaṁ vā cittaṁ ‘samohaṁ cittan’ti pajānāti, vītamohaṁ vā cittaṁ ‘vītamohaṁ cittan’ti pajānāti, saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘saṅkhittaṁ cittan’ti pajānāti, vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘vikkhittaṁ cittan’ti pajānāti, mahaggataṁ vā cittaṁ ‘mahaggataṁ cittan’ti pajānāti, amahaggataṁ vā cittaṁ ‘amahaggataṁ cittan’ti pajānāti, sauttaraṁ vā cittaṁ ‘sauttaraṁ cittan’ti pajānāti, anuttaraṁ vā cittaṁ ‘anuttaraṁ cittan’ti pajānāti, samāhitaṁ vā cittaṁ ‘samāhitaṁ cittan’ti pajānāti, asamāhitaṁ vā cittaṁ ‘asamāhitaṁ cittan’ti pajānāti, vimuttaṁ vā cittaṁ ‘vimuttaṁ cittan’ti pajānāti, avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward encompassing the minds of others. They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. They understand mind with greed as ‘mind with greed’, and mind without greed as ‘mind without greed’. They understand mind with hate … mind without hate … mind with delusion … mind without delusion … constricted mind … scattered mind … expansive mind … unexpansive mind … mind that is not supreme … mind that is supreme … immersed mind … unimmersed mind … freed mind … They understand unfreed mind as ‘unfreed mind’.
242. Vị ấy, khi tâm được định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, bèn hướng tâm, xuôi tâm đến Tha Tâm Thông. Vị ấy với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác: tâm có tham, vị ấy biết là ‘tâm có tham’; hoặc tâm không tham, vị ấy biết là ‘tâm không tham’; tâm có sân, vị ấy biết là ‘tâm có sân’; hoặc tâm không sân, vị ấy biết là ‘tâm không sân’; tâm có si, vị ấy biết là ‘tâm có si’; hoặc tâm không si, vị ấy biết là ‘tâm không si’; tâm co rút, vị ấy biết là ‘tâm co rút’; hoặc tâm tán loạn, vị ấy biết là ‘tâm tán loạn’; tâm quảng đại, vị ấy biết là ‘tâm quảng đại’; hoặc tâm không quảng đại, vị ấy biết là ‘tâm không quảng đại’; tâm hữu hạn, vị ấy biết là ‘tâm hữu hạn’; hoặc tâm vô thượng, vị ấy biết là ‘tâm vô thượng’; tâm có định, vị ấy biết là ‘tâm có định’; hoặc tâm không định, vị ấy biết là ‘tâm không định’; tâm được giải thoát, vị ấy biết là ‘tâm được giải thoát’; hoặc tâm không được giải thoát, vị ấy biết là ‘tâm không được giải thoát’.
Seyyathāpi, mahārāja, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sakaṇikaṁ vā ‘sakaṇikan’ti jāneyya, akaṇikaṁ vā ‘akaṇikan’ti jāneyya; evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte cetopariyañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti—sarāgaṁ vā cittaṁ ‘sarāgaṁ cittan’ti pajānāti, vītarāgaṁ vā cittaṁ ‘vītarāgaṁ cittan’ti pajānāti, sadosaṁ vā cittaṁ ‘sadosaṁ cittan’ti pajānāti, vītadosaṁ vā cittaṁ ‘vītadosaṁ cittan’ti pajānāti, samohaṁ vā cittaṁ ‘samohaṁ cittan’ti pajānāti, vītamohaṁ vā cittaṁ ‘vītamohaṁ cittan’ti pajānāti, saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘saṅkhittaṁ cittan’ti pajānāti, vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘vikkhittaṁ cittan’ti pajānāti, mahaggataṁ vā cittaṁ ‘mahaggataṁ cittan’ti pajānāti, amahaggataṁ vā cittaṁ ‘amahaggataṁ cittan’ti pajānāti, sauttaraṁ vā cittaṁ ‘sauttaraṁ cittan’ti pajānāti, anuttaraṁ vā cittaṁ ‘anuttaraṁ cittan’ti pajānāti, samāhitaṁ vā cittaṁ ‘samāhitaṁ cittan’ti pajānāti, asamāhitaṁ vā cittaṁ ‘asamāhitaṁ cittan’ti pajānāti, vimuttaṁ vā cittaṁ ‘vimuttaṁ cittan’ti pajānāti, avimuttaṁ vā cittaṁ ‘avimuttaṁ cittan’ti pajānāti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they had a spot they’d know ‘I have a spot,’ and if they had no spots they’d know ‘I have no spots.’ In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward encompassing the minds of others. They understand the minds of other beings and individuals, having encompassed them with their own mind. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
243. Tâu Đại vương, ví như người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, thích trang điểm, khi soi bóng mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng chói, hoặc trong bát nước trong, nếu có tỳ vết thì biết là ‘có tỳ vết’, hoặc nếu không có tỳ vết thì biết là ‘không có tỳ vết’. Tâu Đại vương, cũng vậy, vị tỳ khưu, khi tâm được định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, bèn hướng tâm, xuôi tâm đến Tha Tâm Thông. Vị ấy với tâm của mình bao trùm và biết rõ tâm của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác: tâm có tham, vị ấy biết là ‘tâm có tham’; hoặc tâm không tham, vị ấy biết là ‘tâm không tham’; tâm có sân, vị ấy biết là ‘tâm có sân’; hoặc tâm không sân, vị ấy biết là ‘tâm không sân’; tâm có si, vị ấy biết là ‘tâm có si’; hoặc tâm không si, vị ấy biết là ‘tâm không si’; tâm co rút, vị ấy biết là ‘tâm co rút’; hoặc tâm tán loạn, vị ấy biết là ‘tâm tán loạn’; tâm quảng đại, vị ấy biết là ‘tâm quảng đại’; hoặc tâm không quảng đại, vị ấy biết là ‘tâm không quảng đại’; tâm hữu hạn, vị ấy biết là ‘tâm hữu hạn’; hoặc tâm vô thượng, vị ấy biết là ‘tâm vô thượng’; tâm có định, vị ấy biết là ‘tâm có định’; hoặc tâm không định, vị ấy biết là ‘tâm không định’; tâm được giải thoát, vị ấy biết là ‘tâm được giải thoát’; hoặc tâm không được giải thoát, vị ấy biết là ‘tâm không được giải thoát’. Tâu Đại vương, đây cũng là quả báu của đời sống sa-môn, thiết thực hiện tại, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả báu của đời sống sa-môn, thiết thực hiện tại đã được nói đến trước đây.
4.3.3.6. Pubbenivāsānussatiñāṇa
4.3.3.6. Recollection of Past Lives
Túc Mạng Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward recollection of past lives. They recollect many kinds of past lives, that is, one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
244. Vị ấy, khi tâm được định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, bèn hướng tâm, xuôi tâm đến Túc Mạng Minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là: một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp. ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, thức ăn như thế, cảm thọ khổ lạc như thế, tuổi thọ giới hạn như thế. Ta, sau khi chết từ nơi ấy, đã sanh ra ở nơi kia. Tại đó, ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, thức ăn như thế, cảm thọ khổ lạc như thế, tuổi thọ giới hạn như thế. Ta, sau khi chết từ nơi ấy, đã sanh ra ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các tướng trạng và chi tiết.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso sakamhā gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya, tamhāpi gāmā aññaṁ gāmaṁ gaccheyya. So tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgaccheyya. Tassa evamassa: ‘ahaṁ kho sakamhā gāmā amuṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatra evaṁ aṭṭhāsiṁ, evaṁ nisīdiṁ, evaṁ abhāsiṁ, evaṁ tuṇhī ahosiṁ, tamhāpi gāmā amuṁ gāmaṁ agacchiṁ, tatrāpi evaṁ aṭṭhāsiṁ, evaṁ nisīdiṁ, evaṁ abhāsiṁ, evaṁ tuṇhī ahosiṁ, somhi tamhā gāmā sakaṁyeva gāmaṁ paccāgato’ti.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe, ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose a person was to leave their home village and go to another village. From that village they’d go to yet another village. And from that village they’d return to their home village. They’d think: ‘I went from my home village to another village. There I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. From that village I went to yet another village. There too I stood like this, sat like that, spoke like this, or kept silent like that. And from that village I returned to my home village.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward recollection of past lives. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
245. “Tâu Đại vương, ví như có người đàn ông đi từ làng mình đến một làng khác, rồi từ làng ấy lại đi đến một làng khác nữa. Sau đó, người ấy từ làng đó trở về chính làng của mình. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Ta đã từ làng mình đi đến làng kia. Ở đó, ta đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này. Rồi từ làng ấy, ta lại đi đến làng nọ. Ở đó, ta cũng đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này. Ta, người ấy, từ làng đó đã trở về chính làng của mình.’ Tâu Đại vương, cũng vậy, vị tỳ-khưu, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, an trú, vững chắc, hướng tâm, chú tâm đến Túc Mạng Minh. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại. ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết từ nơi đó, ta đã sanh ở nơi nọ. Tại đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết từ nơi đó, ta đã sanh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các chi tiết và đặc điểm. Tâu Đại vương, đây cũng là một quả báu thiết thực của đời sống sa-môn, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả báu thiết thực của đời sống sa-môn đã nói trước đây.”
4.3.3.7. Dibbacakkhuñāṇa
4.3.3.7. Clairvoyance
Thiên Nhãn Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. With clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds: ‘These dear beings did bad things by way of body, speech, and mind. They denounced the noble ones; they had wrong view; and they chose to act out of that wrong view. When their body broke up, after death, they were reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. These dear beings, however, did good things by way of body, speech, and mind. They never denounced the noble ones; they had right view; and they chose to act out of that right view. When their body broke up, after death, they were reborn in a good place, a heavenly realm.’ And so, with clairvoyance that is purified and superhuman, they see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
246. “Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, an trú, vững chắc, hướng tâm, chú tâm đến Sanh Tử Minh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú. Vị ấy biết rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình: ‘Chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các hành vi theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các hành vi theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, cõi trời.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú. Vị ấy biết rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình.”
Seyyathāpi, mahārāja, majjhe siṅghāṭake pāsādo. Tattha cakkhumā puriso ṭhito passeyya manusse gehaṁ pavisantepi nikkhamantepi rathikāyapi vīthiṁ sañcarante majjhe siṅghāṭake nisinnepi. Tassa evamassa: ‘ete manussā gehaṁ pavisanti, ete nikkhamanti, ete rathikāya vīthiṁ sañcaranti, ete majjhe siṅghāṭake nisinnā’ti.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāti: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate; yathākammūpage satte pajānāti. Idampi kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Suppose there was a stilt longhouse at the central square. A person with clear eyes standing there might see humans entering and leaving a house, walking along the streets and paths, and sitting at the central square. They’d think: ‘These are people entering and leaving a house, walking along the streets and paths, and sitting at the central square.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge of the death and rebirth of sentient beings. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones.
247. “Tâu Đại vương, ví như có một lâu đài ở giữa ngã tư đường. Tại đó, một người có mắt sáng đứng trên lầu có thể thấy những người đang đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi lại trên đường phố, và ngồi ở giữa ngã tư. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Những người này đang đi vào nhà, những người này đang đi ra, những người này đang đi lại trên đường phố, những người này đang ngồi ở giữa ngã tư.’ Tâu Đại vương, cũng vậy, vị tỳ-khưu, với tâm định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, an trú, vững chắc, hướng tâm, chú tâm đến Sanh Tử Minh. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú. Vị ấy biết rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình: ‘Chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ các hành vi theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ các hành vi theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào thiện thú, cõi trời.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ chúng sanh đi theo nghiệp của mình. Tâu Đại vương, đây cũng là một quả báu thiết thực của đời sống sa-môn, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả báu thiết thực của đời sống sa-môn đã nói trước đây.”
4.3.3.8. Āsavakkhayañāṇa
4.3.3.8. Ending of Defilements
Lậu Tận Minh
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. So idaṁ dukkhanti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ dukkhasamudayoti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ dukkhanirodhoti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṁ pajānāti. Ime āsavāti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ āsavasamudayoti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ āsavanirodhoti yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati, vimuttasmiṁ ‘vimuttam’iti ñāṇaṁ hoti, ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’. Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
248. “Vị ấy, với tâm định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, bèn hướng tâm, xu hướng tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là tập khởi của khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự diệt khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là tập khởi của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”
Seyyathāpi, mahārāja, pabbatasaṅkhepe udakarahado accho vippasanno anāvilo. Tattha cakkhumā puriso tīre ṭhito passeyya sippisambukampi sakkharakathalampi macchagumbampi carantampi tiṭṭhantampi. Tassa evamassa: ‘ayaṁ kho udakarahado accho vippasanno anāvilo. Tatrime sippisambukāpi sakkharakathalāpi macchagumbāpi carantipi tiṭṭhantipī’ti.
Evameva kho, mahārāja, bhikkhu evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti. ‘So idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati, vimuttasmiṁ ‘vimuttam’iti ñāṇaṁ hoti, ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Idaṁ kho, mahārāja, sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca. Imasmā ca pana, mahārāja, sandiṭṭhikā sāmaññaphalā aññaṁ sandiṭṭhikaṁ sāmaññaphalaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā natthī”ti.
Suppose that in a mountain glen there was a lake that was transparent, clear, and unclouded. A person with clear eyes standing on the bank would see the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still. They’d think: ‘This lake is transparent, clear, and unclouded. And here are the clams and mussels, pebbles and gravel, and schools of fish swimming about or staying still.’
In the same way, when their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge of the ending of defilements. This too, Great King, is a fruit of the ascetic life that’s apparent in the present life which is better and finer than the former ones. And, Great King, there is no other fruit of the ascetic life apparent in the present life which is better and finer than this.”
249. “Tâu Đại vương, ví như ở trên đỉnh núi có một hồ nước trong, rất trong, không vẩn đục. Ở đó, một người có mắt đứng trên bờ có thể thấy cả vỏ sò, vỏ hến, cả sỏi đá, cả đàn cá đang bơi lội hay đứng yên. Vị ấy có thể nghĩ như sau: ‘Hồ nước này trong, rất trong, không vẩn đục. Trong đó có những vỏ sò, vỏ hến, sỏi đá, và đàn cá này đang bơi lội và đứng yên’. Tâu Đại vương, cũng vậy, vị tỳ khưu, với tâm định tĩnh, trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không lay động như vậy, bèn hướng tâm, xu hướng tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là tập khởi của khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự diệt khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là tập khởi của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt các lậu hoặc’. Đối với vị ấy, người biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Tâu Đại vương, đây chính là quả Sa-môn hiện tại, thù thắng hơn và vi diệu hơn những quả Sa-môn hiện tại trước đây. Và tâu Đại vương, ngoài quả Sa-môn hiện tại này, không có quả Sa-môn hiện tại nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”
5. Ajātasattuupāsakattapaṭivedanā
5. Ajātasattu Declares Himself a Lay Follower
Sự công nhận vua Ajātasattu là một cận sự nam
Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ, bhante, bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ pitaraṁ dhammikaṁ dhammarājānaṁ issariyakāraṇā jīvitā voropesiṁ. Tassa me, bhante bhagavā, accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
When the Buddha had spoken, King Ajātasattu said to him, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to take the life of my father, a just and principled king, for the sake of authority. Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
250. Khi được nói như vậy, vua A-xà-thế xứ Ma-kiệt-đà, con của bà Vi-đê-hi, bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Chánh pháp đã được Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng Tỳ khưu. Mong Thế Tôn nhận con là một cận sự nam, từ nay cho đến trọn đời đã quy y. Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, mê muội, bất thiện, là con, vì lý do vương quyền, đã đoạt mạng sống của phụ thân, một vị vua đúng pháp, một vị pháp vương. Mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm ấy của con là một lỗi lầm, để con có thể phòng hộ trong tương lai’.
“Taggha tvaṁ, mahārāja, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ pitaraṁ dhammikaṁ dhammarājānaṁ jīvitā voropesi. Yato ca kho tvaṁ, mahārāja, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhihesā, mahārāja, ariyassa vinaye, yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
“Indeed, Great King, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to take the life of your father, a just and principled king, for the sake of sovereignty. But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
251. “Tâu Đại vương, thật vậy, một lỗi lầm đã xâm chiếm ngài, do ngài ngu si, mê muội, bất thiện, là ngài đã đoạt mạng sống của phụ thân, một vị vua đúng pháp, một vị pháp vương. Nhưng vì, tâu Đại vương, ngài đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sám hối đúng pháp, nên chúng tôi chấp nhận lỗi lầm ấy của ngài. Tâu Đại vương, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh, là người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sám hối đúng pháp, và đạt đến sự phòng hộ trong tương lai.”
Evaṁ vutte, rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavantaṁ etadavoca: “handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When the Buddha had spoken, King Ajātasattu said to him, “Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Great King, go at your convenience.”
Then the king, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat, bowed, and respectfully circled him, keeping him on his right, before leaving.
252. Khi được nói như vậy, vua A-xà-thế xứ Ma-kiệt-đà, con của bà Vi-đê-hi, bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, vậy bây giờ chúng con xin đi, chúng con có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm’. ‘Tâu Đại vương, bây giờ ngài nghĩ là thời điểm thích hợp’. Bấy giờ, vua A-xà-thế xứ Ma-kiệt-đà, con của bà Vi-đê-hi, hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkantassa rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa bhikkhū āmantesi: “khatāyaṁ, bhikkhave, rājā. Upahatāyaṁ, bhikkhave, rājā. Sacāyaṁ, bhikkhave, rājā pitaraṁ dhammikaṁ dhammarājānaṁ jīvitā na voropessatha, imasmiññeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ uppajjissathā”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Soon after the king had left, the Buddha addressed the mendicants: “The king is broken, mendicants, he is ruined. If he had not taken the life of his father, a just and principled king, the stainless, immaculate vision of the Dhamma would have arisen in him in that very seat.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
253. Bấy giờ, khi vua A-xà-thế xứ Ma-kiệt-đà, con của bà Vi-đê-hi, vừa ra về không lâu, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, nhà vua này đã tự đào bới (nền tảng của mình). Này các Tỳ khưu, nhà vua này đã tự hủy hoại. Này các Tỳ khưu, nếu nhà vua này đã không đoạt mạng sống của phụ thân, một vị vua đúng pháp, một vị pháp vương, thì ngay tại chỗ ngồi này, pháp nhãn không bụi, không nhơ đã khởi lên cho vị ấy rồi’. Thế Tôn đã nói điều này. Các Tỳ khưu ấy, với tâm hoan hỷ, đã tán thán lời dạy của Thế Tôn.
Sāmaññaphalasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Dứt Kinh Sa Môn Quả, thứ hai.