- Dīgha Nikāya 1
Bản dịch
DN 1 — Kinh Phạm Võng
Brahmajālasutta
Tụng phẩm thứ nhất
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Rājagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Rājagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.
SC 2PTS cs 2~2 Rồi Thế Tôn đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ ngoại đạo cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
SC 3PTS cs 3~3 Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và câu chuyện sau đây được bàn đến giữa chư Tăng.
SC 4- Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
SC 5PTS cs 4~4 Lúc bấy giờ Thế Tôn được biết câu chuyện đang bàn giữa chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-Kheo:
SC 6- Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này? Vấn đề gì đã được bỏ dở chưa nói xong?
SC 7Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con, câu chuyện sau đây được bàn đến: “Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi Thế Tôn đến!
SC 9PTS cs 5~5 - Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
SC 10- Bạch Thế Tôn, không thể được!
SC 11- Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: “Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi”.
SC 12PTS cs 6~6 Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: “Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”.
SC 13PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?
(Tiểu Giới)
SC 14PTS cs 8~8 Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình.—Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 15Sa-môn Gotama từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp.—Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 16Sa-môn Gotama từ bỏ tà hạnh, tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 17PTS cs 9~9 Sa-môn Gotama từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 18Sa-môn Gotama từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa-môn Gotama sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 19Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, Sa-môn Gotama nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 20Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.—Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
SC 21PTS cs 10~10 Sa-môn Gotama không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ; Sa-môn Gotama dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Sa-môn Gotama từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Sa-môn Gotama từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Sa-môn Gotama từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận vàng và bạc. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận các hạt giống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận thịt sống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận cừu và dê. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận gia cầm và heo. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai. Sa-môn Gotama từ bỏ không phái người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Sa-môn Gotama từ bỏ không buôn bán. Sa-môn Gotama từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Sa-môn Gotama từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Sa-môn Gotama từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.—Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
(Trung Giới)
SC 22PTS cs 11~11 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối. Như các hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ ngành cây sanh, hạt giống từ đất sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn Sa-môn Gotama thì không làm hại hột giống hay cây cối nào.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 23PTS cs 12~12 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật. Như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cất chứa các vật trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 24PTS cs 13~13 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chân chánh như múa, hát, nhạc, kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ các loại du hí không chân chánh như trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 25PTS cs 14~14 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiếu trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 26PTS cs 15~15 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế dài, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 27PTS cs 16~16 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm. Như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương, kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt, sáp mặt, vòng tay, tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 28PTS cs 17~17 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống nói những câu chuyện vô ích, tầm thường như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn Sa-môn Gotama từ bỏ không nói những câu chuyện vô ích, tầm thường kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 29PTS cs 18~18 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp, như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi mới thật đúng chánh kiến; lời nói của tôi mới tương ưng, lời nói của ngươi không tương ưng; lời nói của ngươi không tương ưng, những điều đáng nói trước ngươi lại nói sau, những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước, chủ kiến của ngươi đã bị bài bác; câu nói của ngươi đã bị thách đấu; ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy; nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những cuộc biện luận tranh chấp đã kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.
SC 30PTS cs 19~19 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới, như cho các vua, cho các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ, cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia; mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cho đưa các tin tức và tự đứng làm môi giới. Như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 31PTS cs 20~20 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, lấy lợi cầu lợi. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không lừa đảo và siểm nịnh như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
(Ðại Giới)
SC 32PTS cs 21~21 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v … vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những tà hạnh kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 33PTS cs 22~22 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.
SC 34- Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 35PTS cs 23~23 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân; vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối; vua ngoại bang sẽ tấn công, vua bản xứ sẽ triệt thối; vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.
SC 36- Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 37PTS cs 24~24 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng, mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời, mặt trăng, mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhựt thực sẽ có kết quả như thế này, tinh thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương hướng sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có những kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng, mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế này. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những tà mạng kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 38PTS cs 25~25 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bịnh, sẽ không có bịnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà hạnh kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 39PTS cs 26~26 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 40PTS cs 27~27 Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bịnh đau mắt, làm thầy thuốc mổ xẻ, chữa bịnh cho con nít, cho uống thuốc làm bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
SC 41Này các Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
SC 42PTS cs 28~28 Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 43Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến?
(62 loại Tà kiến)
SC 44PTS cs 29~29 Này các Tỷ-kheo có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, với mười tám luận chấp. Và y chỉ theo gì, căn cứ theo gì, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về phía quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng ra nhiều sở kiến sai khác với mười tám luận chấp?
SC 45PTS cs 30~30 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã về thế giới là thường còn” với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp?
SC 46PTS cs 31~31 Này các Tỷ-kheo, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ, khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi do nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm … còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.
SC 47Này các Tỷ-kheo đó là lập trường thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những vị Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn.
SC 48PTS cs 32~32 Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn?
SC 49Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định, khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này … còn những loại hữu tình kia lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.
SC 50Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận và chấp rằng, bản ngã và thế giới thường còn.
SC 51PTS cs 33~33 Trường hợp thứ ba, những Sa-môn hay Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và cho rằng bản ngã và thế giới là thường còn?
SC 52Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, năm mươi thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy, chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi nhờ nhiệt tâm … nên tâm nhập định như vậy. Khi tâm nhập định như vậy, tôi nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp, hoại kiếp … bốn mươi thành kiếp hoại kiếp”. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này … tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, trụ đá … còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.
SC 53Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới thường còn.
SC 54PTS cs 34~34 Trường hợp thứ tư, những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới thường còn?
SC 55Này các Tỷ-kheo, ở đời có Sa-môn hay Bà-la-môn, là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ của suy luận, và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường còn”.
SC 56Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn.
SC 57PTS cs 35~35 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, với bốn luận chấp. Nếu có những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn”, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 58PTS cs 36~36 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 59PTS cs 37~37 Những chấp pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đã thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Tụng phẩm thứ hai
SC 60PTS cs 1~38 Này các Tỷ-kheo, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp?
SC 61PTS cs 2~39 Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Ābhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.
SC 62PTS cs 3~40 Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.
SC 63PTS cs 4~41 Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác, cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu tình kia. Những loại hữu tình ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy, trong một thời gian khá dài.
SC 64PTS cs 5~42 Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị hữu tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này—Chính do sở nguyện của ta mà những loài hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cũng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh trước ở đây rồi. Còn chúng ta thì sanh sau.”
SC 65PTS cs 6~43 Này các Tỷ-kheo, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn và được ít quyền hơn. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự Tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch”.
SC 66Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.
SC 67PTS cs 7~44 Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?
SC 68Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, các chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể chúng.
SC 69PTS cs 8~45 Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.
SC 70PTS cs 9~46 Vị ấy nói rằng: “Những chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, chúng sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên những chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.
SC 71Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.
SC 72PTS cs 10~47 Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?
SC 73Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi tâm trí). Chúng sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng mệt mỏi, tâm chúng mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh từ bỏ thân thể này của chúng.
SC 74PTS cs 11~48 Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các vị hữu tình kia, khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, nhưng không nhớ xa hơn đời sống ấy.
SC 75PTS cs 12~49 Vị ấy nói rằng: “Những vị chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, chúng sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng không oán ghét nhau. Vì tâm trí chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không mệt mỏi, tâm chúng không mệt mỏi. Những hàng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi”. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng ta thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.
SC 76Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.
SC 77PTS cs 13~50 Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.
SC 78Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuộc theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân, cái bản ngã ấy vô thường, không kiên cố, không thường trú, bị chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ý, là thức, cái bản ngã ấy là thường còn, bất biến, thường trú, không bị chuyển biến, thường hằng như vậy mãi mãi”.
SC 79Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.
SC 80PTS cs 14~51 Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 81PTS cs 15~52 Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết rằng: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 82Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 83PTS cs 16~53 Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là Hữu biên Vô biên với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp?
SC 84PTS cs 17~54 Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên. Vị ấy nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh. Vì sao vậy? Vì tôi, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là hữu biên. Do đó tôi biết rằng thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh”.
SC 85Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên.
SC 86PTS cs 18~55 Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên?
SC 87Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là vô biên. Vị ấy nói: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Tại sao vậy? Vì tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là vô biên. Do đó tôi biết: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”.
SC 88Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.
SC 89PTS cs 19~56 Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?
SC 90Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới và thế giới là Vô biên về phía bề ngang. Vị ấy nói: “Thế giới này là hữu biên và vô biên”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh, thì những vị ấy nói không đúng sự thật”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn thì những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này vừa là hữu biên, vừa là vô biên. Tại sao vậy? Vì rằng, tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống ở trong đời với tư tưởng, thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới, và thế giới là vô biên về phía bề ngang. Do vậy tôi biết: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”.
SC 91Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.
SC 92PTS cs 20~57 Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?
SC 93Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như sau: “Thế giới này không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên có giới hạn xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Lại những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn” những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Lại những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”, những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Thế giới này cũng không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên.
SC 94PTS cs 21~58 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Hữu biên Vô biên luận với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 95PTS cs 22~59 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 96Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 97PTS cs 23~60 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp?
SC 98PTS cs 24~61 Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị sai lầm. Nếu tôi sai lầm thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn sẽ thành một chướng ngại cho tôi—Như vậy, vì sợ sai lầm, vì chán ghét sai lầm, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”.
SC 99Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
SC 100PTS cs 25~62 Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?
SC 101Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể chấp thủ. Nếu tôi chấp thủ, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn, thời thành một chướng ngại cho tôi.
SC 102Như vậy, vì sợ chấp thủ, vì chán ghét chấp thủ, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”. Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
SC 103PTS cs 26~63 Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?
SC 104Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc trả lời: “Ðây là bất thiện”, có những Sa-môn, Bà-la-môn, bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của chúng, chúng có thể đọ tài, chất vấn và cật nạn tôi. Nếu chúng đọ tài, chất vấn, cật nạn tôi, tôi có thể không giải đáp được cho chúng. Nếu tôi không giải đáp được cho chúng, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn thời thành một chướng ngại cho tôi—Như vậy, vì sợ bị thử thách, vì chán ghét thử thách, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời. “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”.—Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
SC 105PTS cs 27~64 Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?
SC 106Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề nay hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Anh hỏi tôi có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ: “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi “Không có một thế giới khác phải không?” ( … như trên … ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?” “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ: “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời: “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.
SC 107Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
SC 108PTS cs 28~65 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 109PTS cs 29~66 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 110Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 111PTS cs 30~67 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?
SC 112PTS cs 31~68 Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xẩy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói: “Bản ngã và thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng tôi trước kia không có, nay tôi có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loài hữu tình”.
SC 113Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.
SC 114PTS cs 32~69 Trường hợp thứ hai, những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?
SC 115Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà biện luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị ấy tuyên bố: “Bản ngã và thế giới vô nhân sanh”.
SC 116Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.
SC 117PTS cs 33~70 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh, chúng sẽ chấp cả hai luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 118PTS cs 34~71 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 119PTS cs 35~72 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp trên. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hoặc Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác, chúng sẽ chấp cả mười tám luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 120PTS cs 36~73 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 121Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 122PTS cs 37~74 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp?
SC 123PTS cs 38~75 Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, với mười sáu luận chấp?
SC 124Những vị này chủ trương: “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”. Chúng chủ trương: “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc … ”, “Bản ngã cũng không có sắc và cũng không không có sắc … ”, “Bản ngã là hữu biên … ”, “Bản ngã là vô biên … ”, “Bản ngã là hữu biên và vô biên”, “Bản ngã cũng không hữu biên và cũng không vô biên … ”, “Bản ngã là nhất tưởng … ”, “Bản ngã là dị tưởng … ”. “Bản ngã là thiểu tưởng … ”, “Bản ngã là vô lượng tưởng … ”, “Bản ngã là thuần lạc … ”, “Bản ngã là thuần khổ … ”, “Bản ngã là khổ lạc”. Chúng chủ trương: “Bản ngã là không khổ không lạc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”.
SC 125PTS cs 39~76 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn này chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chúng sẽ chấp cả mười sáu luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 126PTS cs 40~77 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sơ tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Tụng phẩm thứ ba
SC 127PTS cs 1~78 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp?
SC 128PTS cs 2~79 Những vị này chủ trương: “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng”, “Bản ngã không có sắc … ”, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc … ”, “Bản ngã không có sắc và cũng không không có sắc … ”, “Là hữu biên … ”, “Là vô biên … ”, “Là hữu biên và vô biên … ”. Các vị này chấp bản ngã là phi hữu biên và phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng.
SC 129PTS cs 3~80 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp.—Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 130PTS cs 4~81 Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 131Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 132PTS cs 5~82 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp?
SC 133PTS cs 6~83 Những vị này chấp: “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng … ”, “Bản ngã là vô sắc … ”, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc … ”, “Bản ngã là phi hữu sắc và cũng phi vô sắc … ”, “Bản ngã là hữu biên … ”, “Bản ngã là vô biên … ”, “Bản ngã là hữu biên và vô biên … ”.
SC 134PTS cs 7~84 Những vị này chấp rằng. Bản ngã là phi hữu biên và cũng phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng, với tám luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, chủ trương phi hữu tưởng phi vô tưởng, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 135PTS cs 8~85 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 136PTS cs 9~86 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp?
SC 137PTS cs 10~87 Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương lý thuyết và ý kiến: “Vì bản ngã này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã này như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy một số người chủ trương sự đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy hoại của loài hữu tình.
SC 138PTS cs 11~88 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có, nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, thuộc dục giới, ăn các đồ ăn đoàn thực. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 139PTS cs 12~89 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, do ý tạo thành, mọi chi tiết tay chân lớn nhỏ đều đầy đủ, không khuyết một căn nào. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 140PTS cs 13~90 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả sắc tưởng, diệt trừ các tưởng chống đối, không ức niệm các dị tưởng, nhận hiểu hư không là vô biên. Ðạt đến không vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 141PTS cs 14~91 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả không vô biên xứ, nhận hiểu: Thức là vô biên. Ðạt đến Thức vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 142PTS cs 15~92 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Thức vô biên xứ, nhận hiểu: không có sở hữu. Ðạt đến Vô sở hữu xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 143PTS cs 16~93 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Vô sở hữu xứ, nhận hiểu: Ðây là tịch tịnh, đây là mỹ diệu. Ðạt đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.
SC 144PTS cs 17~94 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình, chúng chấp cả bảy luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 145PTS cs 18~95 Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri. Như vậy, Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết: và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 146PTS cs 19~96 Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp?
SC 147PTS cs 20~97 Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương và quan niệm: “Khi nào bản ngã này tận hưởng, sung mãn năm món dục lạc, như thế bản ngã ấy đạt đến tối thượng Niết Bàn của loài hữu tình”.
SC 148PTS cs 21~98 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì rằng tính của dục lạc là vô thường, khổ, biến dịch. Vì tánh của chúng là biến dịch, chuyển hóa, nên ưu, bi, khổ, muộn, não phát sanh. Khi nào bản ngã ấy ly các dục lạc, ly các ác pháp, đạt đến và an trú vào đệ nhất thiền; thiền định này có tầm, có tứ, có hỷ và có lạc, do ly dục sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.
SC 149PTS cs 22~99 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây thiền định ấy có tầm, có tứ nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy có tầm và tứ, đạt đến và an trú đệ nhị thiền. Thiền định này nội tâm yên tĩnh, trí chuyên nhất cảnh, không tầm, không tứ, hỷ lạc do định sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.
SC 150PTS cs 23~100 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm trí có hỷ và bị kích động nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy không tham hỷ, trú xả, chánh niệm, chánh trí, thân hưởng lạc mà các bậc thánh gọi là Hỷ niệm lạc trú—đạt đến và an trú đệ tam thiền. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy, có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.
SC 151PTS cs 24~101 Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm thọ lạc nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy xả lạc và xả khổ, diệt trừ hỷ và ưu về trước, đạt đến và an trú vào đệ tứ thiền. Thiền này không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.
SC 152PTS cs 25~102 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình, những vị này sẽ chấp cả năm luận chấp trên, hay một trong năm luận chấp trên, ngoài ra không còn một luận chấp nào khác nữa.
SC 153PTS cs 26~103 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
SC 154PTS cs 27~104 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, sẽ đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Chúng sẽ chấp bốn mươi bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 155PTS cs 28~105 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sư tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 156PTS cs 29~106 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về quá khứ tối sơ và luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Những vị ấy sẽ chấp sáu mươi hai luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
SC 157PTS cs 30~107 Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mệnh như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
SC 158PTS cs 31~108 Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Kết luận
SC 159PTS cs 32~109 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 160PTS cs 33~110 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 161PTS cs 34~111 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 162PTS cs 35~112 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 163PTS cs 36~113 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 164PTS cs 37~114 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 165PTS cs 38~115 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 166PTS cs 39~116 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 167PTS cs 40~117 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 168PTS cs 41~118 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 169PTS cs 42~119 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 170PTS cs 43~120 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 171PTS cs 44~121 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.
SC 172PTS cs 45~122 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 173PTS cs 46~123 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 174PTS cs 47~124 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 175PTS cs 48~125 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi là do sự xúc chạm (của các căn).
SC 176PTS cs 49~126 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 177PTS cs 50~127 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 178PTS cs 51~128 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 179PTS cs 52~129 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 180PTS cs 53~130 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 181PTS cs 54~131 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 182PTS cs 55~132 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 183PTS cs 56~133 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 184PTS cs 57~134 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).
SC 185PTS cs 58~135 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 186PTS cs 59~136 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới, là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 187PTS cs 60~137 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 188PTS cs 61~138 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 189PTS cs 62~139 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 190PTS cs 63~140 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 191PTS cs 64~141 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 192PTS cs 65~142 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 193PTS cs 66~143 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 194PTS cs 67~144 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương, trên, nếu không có cảm xúc.
SC 195PTS cs 68~145 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước hiên tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 196PTS cs 69~146 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 197PTS cs 70~147 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.
SC 198PTS cs 71~148 Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ngụy biện luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hiện tại Niết Bàn luận; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Tất cả những vị này có những cảm thọ (những chủ trương trên) do sự xúc chạm qua sáu xúc xứ. Do duyên với những cảm thọ mà tham ái phát khởi; do duyên tham ái, thủ phát khởi; do duyên thủ, hữu phát khởi; do duyên hữu, sanh phát khởi, do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát khởi. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự hiểu biết vượt ra ngoài những điều trên.
SC 199PTS cs 72~149 Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.
SC 200Này các Tỷ-kheo, cũng ví như người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ có mắt sít sao. Người ấy nghĩ: “Những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây”. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.
SC 201PTS cs 73~150 Này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.
SC 202Này các Tỷ-kheo, như nhánh có một chùm xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.
SC 203PTS cs 74~151 Khi nghe nói vậy, đại đức Ānanda bạch đức Thế Tôn
SC 204—Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Pháp môn này gọi là gì, bạch Thế Tôn?
SC 205- Này Ānanda, pháp môn này gọi là “Lợi Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Pháp Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Phạm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Kiếm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Vô thượng Chiến thắng”, hãy như vậy mà phụng trì.
SC 206Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 15–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 1
The Divine Net
1. Kinh Phạm Võng
1. Paribbājakakathā
Evaṁ me sutaṁ—
1. Talk on Wanderers
So I have heard.
Câu chuyện về các du sĩ
1. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn đang du hành trên con đường dài giữa thành Vương Xá và Nāḷandā, cùng với đại chúng Tỳ khưu, khoảng năm trăm vị. Du sĩ Suppiya cũng đang du hành trên con đường dài giữa thành Vương Xá và Nāḷandā, cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Bấy giờ, du sĩ Suppiya dùng nhiều phương cách để nói lời chê bai đức Phật, chê bai Pháp, chê bai Tăng; còn người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương cách để nói lời tán thán đức Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy, cả hai thầy trò này, với lời nói trái ngược nhau một cách trực tiếp, đã đi theo sau lưng đức Thế Tôn và chúng Tỳ khưu.
Atha kho bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ rājāgārake ekarattivāsaṁ upagacchi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Suppiyopi kho paribbājako ambalaṭṭhikāyaṁ rājāgārake ekarattivāsaṁ upagacchi antevāsinā brahmadattena māṇavena. Tatrapi sudaṁ suppiyo paribbājako anekapariyāyena buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati; suppiyassa pana paribbājakassa antevāsī brahmadatto māṇavo anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsati. Itiha te ubho ācariyantevāsī aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā viharanti.
Then the Buddha took up residence for the night in the royal rest-house in Ambalaṭṭhikā together with the Saṅgha of mendicants. And Suppiya and Brahmadatta did likewise. There too, Suppiya criticized the Buddha, the teaching, and the Saṅgha in many ways, but his pupil Brahmadatta praised them in many ways. And so both tutor and pupil kept on directly contradicting each other.
2. Rồi đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu đến nhà nghỉ của vua ở Ambalaṭṭhikā để nghỉ lại một đêm. Du sĩ Suppiya cũng cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta đến nhà nghỉ của vua ở Ambalaṭṭhikā để nghỉ lại một đêm. Ngay tại nơi đó, du sĩ Suppiya cũng dùng nhiều phương cách để nói lời chê bai đức Phật, chê bai Pháp, chê bai Tăng; còn người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương cách để nói lời tán thán đức Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy, cả hai thầy trò này đã trú ngụ với lời nói trái ngược nhau một cách trực tiếp.
Atha kho sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhitānaṁ maṇḍalamāḷe sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayaṁ saṅkhiyadhammo udapādi:
“acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso, yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sattānaṁ nānādhimuttikatā suppaṭividitā. Ayañhi suppiyo paribbājako anekapariyāyena buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati; suppiyassa pana paribbājakassa antevāsī brahmadatto māṇavo anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsati. Itihame ubho ācariyantevāsī aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti bhikkhusaṅghañcā”ti.
Then several mendicants rose at the crack of dawn and sat together in the pavilion, where the topic of judgmentalism came up:
“It’s incredible, reverends, it’s amazing how the diverse convictions of sentient beings have been well deciphered by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. For this Suppiya criticizes the Buddha, the teaching, and the Saṅgha in many ways, while his pupil Brahmadatta praises them in many ways. And so both tutor and pupil followed behind the Buddha and the Saṅgha of mendicants directly contradicting each other.”
3. Rồi, vào lúc rạng đông, khi nhiều vị Tỳ khưu đã thức dậy và đang ngồi tụ họp trong pháp đường, cuộc nói chuyện này đã khởi lên: 'Thật hy hữu, chư hiền; thật vi diệu, chư hiền! Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã khéo thấu triệt khuynh hướng đa dạng của chúng sanh. Vị du sĩ Suppiya này dùng nhiều phương cách để nói lời chê bai đức Phật, chê bai Pháp, chê bai Tăng; còn người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương cách để nói lời tán thán đức Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy, cả hai thầy trò này, với lời nói trái ngược nhau một cách trực tiếp, đã đi theo sau lưng đức Thế Tôn và chúng Tỳ khưu.'
Atha kho bhagavā tesaṁ bhikkhūnaṁ imaṁ saṅkhiyadhammaṁ viditvā yena maṇḍalamāḷo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā sannipatitā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
Evaṁ vutte, te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha, bhante, amhākaṁ rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhitānaṁ maṇḍalamāḷe sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayaṁ saṅkhiyadhammo udapādi: ‘acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso, yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sattānaṁ nānādhimuttikatā suppaṭividitā. Ayañhi suppiyo paribbājako anekapariyāyena buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati; suppiyassa pana paribbājakassa antevāsī brahmadatto māṇavo anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsati. Itihame ubho ācariyantevāsī aññamaññassa ujuvipaccanīkavādā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti bhikkhusaṅghañcā’ti. Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto”ti.
When the Buddha found out about this discussion on judgmentalism among the mendicants, he went to the pavilion, where he sat on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
The mendicants told him what had happened, adding, “This was our conversation that was unfinished when the Buddha arrived.”
4. Rồi đức Thế Tôn, biết được cuộc nói chuyện này của các Tỳ khưu ấy, đã đi đến pháp đường. Đến nơi, ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu, các ông đang ngồi tụ họp với câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện dở dang của các ông là gì?' Khi được nói như vậy, các Tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, ở đây, vào lúc rạng đông, khi chúng con đã thức dậy và đang ngồi tụ họp trong pháp đường, cuộc nói chuyện này đã khởi lên: 'Thật hy hữu, chư hiền; thật vi diệu, chư hiền! Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã khéo thấu triệt khuynh hướng đa dạng của chúng sanh. Vị du sĩ Suppiya này dùng nhiều phương cách để nói lời chê bai đức Phật, chê bai Pháp, chê bai Tăng; còn người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương cách để nói lời tán thán đức Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy, cả hai thầy trò này, với lời nói trái ngược nhau một cách trực tiếp, đã đi theo sau lưng đức Thế Tôn và chúng Tỳ khưu.' Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện dở dang của chúng con, rồi đức Thế Tôn đã đến.'
“Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi karaṇīyā. Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra ce tumhe assatha kupitā vā anattamanā vā, tumhaṁ yevassa tena antarāyo. Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra ce tumhe assatha kupitā vā anattamanā vā, api nu tumhe paresaṁ subhāsitaṁ dubbhāsitaṁ ājāneyyāthā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi abhūtaṁ abhūtato nibbeṭhetabbaṁ: ‘itipetaṁ abhūtaṁ, itipetaṁ atacchaṁ, natthi cetaṁ amhesu, na ca panetaṁ amhesu saṁvijjatī’ti.
“Mendicants, if others criticize me, the teaching, or the Saṅgha, don’t make yourselves resentful, bitter, and exasperated. You’ll get angry and upset, which would be an obstacle for you alone. If others were to criticize me, the teaching, or the Saṅgha, and you got angry and upset, would you be able to understand whether they spoke well or poorly?”
“No, sir.”
“If others criticize me, the teaching, or the Saṅgha, you should explain that what is untrue is in fact untrue: ‘This is why that’s untrue, this is why that’s false. There’s no such thing in us, it’s not found among us.’
5. “Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời không tán thán về Ta, nói lời không tán thán về Pháp, hay nói lời không tán thán về Tăng, thì ở đây các ngươi không nên phẫn uất, không nên bất mãn, không nên có tâm không hoan hỷ. Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời không tán thán về Ta, nói lời không tán thán về Pháp, hay nói lời không tán thán về Tăng, và nếu ở đây các ngươi tức giận hay không hài lòng, thì chính các ngươi sẽ gặp chướng ngại. Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời không tán thán về Ta, nói lời không tán thán về Pháp, hay nói lời không tán thán về Tăng, và nếu ở đây các ngươi tức giận hay không hài lòng, liệu các ngươi có thể biết được lời nói của người khác là khéo nói hay vụng nói chăng?” “Bạch Thế Tôn, không thể được.” “Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời không tán thán về Ta, nói lời không tán thán về Pháp, hay nói lời không tán thán về Tăng, thì ở đây các ngươi phải giải thích điều không thật là không thật rằng: ‘Vì lý do này, điều này là không thật; vì lý do này, điều này là không đúng sự thật; điều này không có nơi chúng tôi, và quả thật điều này không tồn tại nơi chúng tôi’.”
Mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyaṁ. Mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra ce tumhe assatha ānandino sumanā uppilāvitā tumhaṁ yevassa tena antarāyo. Mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi bhūtaṁ bhūtato paṭijānitabbaṁ: ‘itipetaṁ bhūtaṁ, itipetaṁ tacchaṁ, atthi cetaṁ amhesu, saṁvijjati ca panetaṁ amhesū’ti.
2. Sīla
2.1. Cūḷasīla
If others praise me, the teaching, or the Saṅgha, don’t make yourselves thrilled, elated, and excited. You’ll get thrilled, elated, and excited, which would be an obstacle for you alone. If others praise me, the teaching, or the Saṅgha, you should admit that what is true is in fact true: ‘This is why that’s true, this is why that’s correct. There is such a thing in us, it is found among us.’
2. Ethics
2.1. The Shorter Section on Ethics
6. “Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời tán thán về Ta, nói lời tán thán về Pháp, hay nói lời tán thán về Tăng, thì ở đây các ngươi không nên hoan hỷ, không nên vui mừng, không nên có tâm phấn chấn. Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời tán thán về Ta, nói lời tán thán về Pháp, hay nói lời tán thán về Tăng, và nếu ở đây các ngươi hoan hỷ, vui mừng, phấn chấn, thì chính các ngươi sẽ gặp chướng ngại. Này các Tỳ khưu, nếu có người khác nói lời tán thán về Ta, nói lời tán thán về Pháp, hay nói lời tán thán về Tăng, thì ở đây các ngươi phải thừa nhận điều có thật là có thật rằng: ‘Vì lý do này, điều này là có thật; vì lý do này, điều này là đúng sự thật; điều này có nơi chúng tôi, và quả thật điều này tồn tại nơi chúng tôi’.”
Appamattakaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, oramattakaṁ sīlamattakaṁ, yena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya. Katamañca taṁ, bhikkhave, appamattakaṁ oramattakaṁ sīlamattakaṁ, yena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya?
When an ordinary person speaks praise of the Realized One, they speak only of trivial, trifling details of mere ethics. And what are the trivial, trifling details of mere ethics that an ordinary person speaks of?
7. “Này các Tỳ khưu, quả thật, đó chỉ là những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ là giới hạnh, mà một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói. Và này các Tỳ khưu, những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ là giới hạnh ấy là gì, mà một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói?”
‘Pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato samaṇo gotamo nihitadaṇḍo, nihitasattho, lajjī, dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up killing living creatures. He has renounced the rod and the sword. He’s scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
8. “‘Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã đặt trượng xuống, đã đặt vũ khí xuống, có lòng hổ thẹn, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh và sinh vật.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato samaṇo gotamo dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharatī’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up stealing. He takes only what’s given, and expects only what’s given. He keeps himself clean by not thieving.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
“‘Sa-môn Gotama từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī samaṇo gotamo ārācārī virato methunā gāmadhammā’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up unchastity. He is chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
“‘Sa-môn Gotama từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa việc dâm dục, là pháp của thế gian.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato samaṇo gotamo saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassā’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up lying. He speaks the truth and sticks to the truth. He’s honest and dependable, and doesn’t trick the world with his words.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
9. “‘Sa-môn Gotama từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, kết hợp sự thật, kiên định, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato samaṇo gotamo, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up backbiting. He doesn’t repeat in one place what he heard in another so as to divide people against each other. Instead, he reconciles those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
“‘Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; nghe ở đây không nói ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không nói ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, là người hòa giải những kẻ chia rẽ, là người khuyến khích những người hòa hợp, thích thú trong sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, nói lời tạo ra sự hòa hợp.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato samaṇo gotamo, yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘The ascetic Gotama has given up harsh speech. He speaks in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, and likable and agreeable to the people.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
“‘Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; nói những lời không tỳ vết, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, được nhiều người quý mến.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
‘Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato samaṇo gotamo kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitan’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘Bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave …pe….
‘Ekabhattiko samaṇo gotamo rattūparato virato vikālabhojanā ….
Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato samaṇo gotamo ….
Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato samaṇo gotamo ….
Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato samaṇo gotamo ….
‘The ascetic Gotama has given up talking nonsense. His words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. He says things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
‘The ascetic Gotama refrains from injuring plants and seeds.’
‘He eats in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time.’
‘He refrains from seeing shows of dancing, singing, and music.’
‘He refrains from attiring and adorning himself with garlands, fragrance, and makeup.’
‘He refrains from high and luxurious beds.’
“‘Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói vô ích, tránh xa lời nói vô ích; nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật; nói lời đáng được ghi nhớ, đúng thời, có lý do, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích.’ – Này các Tỳ khưu, quả thật, một phàm phu khi nói lời tán thán Như Lai có thể nói như vậy.
Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo …. Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato samaṇo gotamo ….
Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato samaṇo gotamo …. Kayavikkayā paṭivirato samaṇo gotamo …. Tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato samaṇo gotamo …. Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato samaṇo gotamo …. Chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘He refrains from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land.’
‘He refrains from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
13. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm xem các buổi trình diễn làm trở ngại, như là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, vỗ tay, hòa tấu, đánh trống, múa rối, các trò của người Chiên-đà-la, múa cột, rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, chọi gà, chọi cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, diễn tập quân sự, duyệt binh, dàn trận, xem các đạo quân. Sa-môn Gotama từ bỏ việc xem các buổi trình diễn làm trở ngại như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
Cūḷasīlaṁ niṭṭhitaṁ.
The shorter section on ethics is complete.
Tiểu Giới đã chấm dứt.
2.2. Majjhimasīla
2.2. The Middle Section on Ethics
Trung Giới
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ bījagāmabhūtagāmasamārambhaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—mūlabījaṁ khandhabījaṁ phaḷubījaṁ aggabījaṁ bījabījameva pañcamaṁ; iti evarūpā bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in injuring plants and seeds. These include plants propagated from roots, trunks, cuttings, or joints; and those from regular seeds as the fifth. The ascetic Gotama refrains from such injury to plants and seeds.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
11. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm phá hoại các loại hạt giống và cây cối, như là: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là chính hạt giống; Sa-môn Gotama từ bỏ việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ sannidhikāraparibhogaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—annasannidhiṁ pānasannidhiṁ vatthasannidhiṁ yānasannidhiṁ sayanasannidhiṁ gandhasannidhiṁ āmisasannidhiṁ iti vā iti evarūpā sannidhikāraparibhogā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ visūkadassanaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—naccaṁ gītaṁ vāditaṁ pekkhaṁ akkhānaṁ pāṇissaraṁ vetāḷaṁ kumbhathūṇaṁ sobhanakaṁ caṇḍālaṁ vaṁsaṁ dhovanaṁ hatthiyuddhaṁ assayuddhaṁ mahiṁsayuddhaṁ usabhayuddhaṁ ajayuddhaṁ meṇḍayuddhaṁ kukkuṭayuddhaṁ vaṭṭakayuddhaṁ daṇḍayuddhaṁ muṭṭhiyuddhaṁ nibbuddhaṁ uyyodhikaṁ balaggaṁ senābyūhaṁ anīkadassanaṁ iti vā iti evarūpā visūkadassanā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in storing up goods for their own use. This includes such things as food, drink, clothes, vehicles, bedding, fragrance, and things of the flesh. The ascetic Gotama refrains from storing up such goods.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in seeing shows. This includes such things as dancing, singing, music, performances, and storytelling; clapping, gongs, and kettledrums; beauty pageants; pole-acrobatics and bone-washing displays of the corpse-workers; battles of elephants, horses, buffaloes, bulls, goats, rams, chickens, and quails; staff-fights, boxing, and wrestling; combat, roll calls of the armed forces, battle-formations, and regimental reviews. The ascetic Gotama refrains from such shows.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
12. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm tích trữ và sử dụng, như là: tích trữ thức ăn, tích trữ đồ uống, tích trữ vải vóc, tích trữ xe cộ, tích trữ giường nệm, tích trữ hương liệu, tích trữ vật thực. Sa-môn Gotama từ bỏ việc tích trữ và sử dụng như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ jūtappamādaṭṭhānānuyogaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—aṭṭhapadaṁ dasapadaṁ ākāsaṁ parihārapathaṁ santikaṁ khalikaṁ ghaṭikaṁ salākahatthaṁ akkhaṁ paṅgacīraṁ vaṅkakaṁ mokkhacikaṁ ciṅgulikaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ akkharikaṁ manesikaṁ yathāvajjaṁ iti vā iti evarūpā jūtappamādaṭṭhānānuyogā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in gambling that causes negligence. This includes such things as checkers with eight or ten rows, checkers in the air, hopscotch, spillikins, board-games, tip-cat, drawing straws, dice, leaf-flutes, toy plows, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carts, toy bows, guessing words from syllables, guessing another’s thoughts, and imitating musical instruments. The ascetic Gotama refrains from such gambling.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
14. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm vào các trò cờ bạc và tiêu khiển, là cơ sở của sự dễ duôi, như là: cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, trò đi vòng, trò tung hứng, trò xúc xắc, trò đánh gậy, trò vẽ tay, trò chơi với bi, trò thổi kèn lá, trò chơi với cày nhỏ, trò nhào lộn, trò chơi với chong chóng, trò chơi với đấu đong, trò chơi với xe nhỏ, trò chơi với cung nhỏ, trò đoán chữ, trò đọc suy nghĩ, trò giả dạng người tàn tật. Sa-môn Gotama từ bỏ các trò cờ bạc và tiêu khiển, là cơ sở của sự dễ duôi như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—āsandiṁ pallaṅkaṁ gonakaṁ cittakaṁ paṭikaṁ paṭalikaṁ tūlikaṁ vikatikaṁ uddalomiṁ ekantalomiṁ kaṭṭissaṁ koseyyaṁ kuttakaṁ hatthattharaṁ assattharaṁ rathattharaṁ ajinappaveṇiṁ kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ sauttaracchadaṁ ubhatolohitakūpadhānaṁ iti vā iti evarūpā uccāsayanamahāsayanā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still make use of high and luxurious bedding. This includes such things as sofas, couches, woolen covers—shag-piled, colorful, white, embroidered with flowers, quilted, embroidered with animals, double or single fringed—and silk covers studded with gems, as well as silken sheets, woollen carpets, rugs for elephants, horses, or chariots, black antelope hides and woven rugs, and spreads of fine deer hide, with a canopy above and red cushions at both ends. The ascetic Gotama refrains from such bedding.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
15. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm sử dụng các loại giường ghế cao và sang trọng, như là: ghế quá khổ, giường có chân hình thú, thảm len lông dài, thảm len nhiều màu, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, nệm nhồi bông gòn, thảm len có hình sư tử, cọp, thảm len có lông hai mặt, thảm len có lông một mặt, thảm thêu kim tuyến, thảm lụa, thảm len lớn đủ cho mười sáu vũ nữ, yên voi, yên ngựa, thảm lót xe, thảm da sơn dương, tấm trải bằng da nai hảo hạng, giường có lọng che và gối đỏ ở hai đầu. Sa-môn Gotama từ bỏ việc sử dụng các loại giường ghế cao và sang trọng như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—ucchādanaṁ parimaddanaṁ nhāpanaṁ sambāhanaṁ ādāsaṁ añjanaṁ mālāgandhavilepanaṁ mukhacuṇṇaṁ mukhalepanaṁ hatthabandhaṁ sikhābandhaṁ daṇḍaṁ nāḷikaṁ asiṁ chattaṁ citrupāhanaṁ uṇhīsaṁ maṇiṁ vālabījaniṁ odātāni vatthāni dīghadasāni iti vā iti evarūpā maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. This includes such things as applying beauty products by anointing, massaging, bathing, and rubbing; mirrors, ointments, garlands, fragrances, and makeup; face-powder, foundation, bracelets, headbands, fancy walking-sticks or containers, rapiers, parasols, fancy sandals, turbans, jewelry, chowries, and long-fringed white robes. The ascetic Gotama refrains from such beautification and adornment.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
16. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn sống chuyên tâm vào việc trang điểm và tô điểm, là cơ sở của sự dễ duôi, như là: xoa bóp, mát-xa, tắm nước thơm, đấm bóp tay chân, soi gương, kẻ mắt, đeo vòng hoa, thoa hương, thoa phấn, bôi kem mặt, đeo vòng tay, búi tóc, mang gậy, mang ống thuốc, mang gươm, che dù, mang dép trang trí, đội khăn xếp, đeo ngọc, mang phất trần, mặc y phục trắng có tua dài. Sa-môn Gotama từ bỏ việc trang điểm và tô điểm, là cơ sở của sự dễ duôi như vậy.’ Này các Tỳ khưu, đó là cách mà một người phàm phu, khi nói lời tán thán Như Lai, có thể nói.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ tiracchānakathaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānakathāya paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in low talk. This includes such topics as talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; street talk and well talk; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that place. The ascetic Gotama refrains from such low talk.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
17. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào những câu chuyện vô ích như sau: chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện quân đội, chuyện kinh dị, chuyện chiến tranh, chuyện ăn uống, chuyện y phục, chuyện giường nệm, chuyện vòng hoa, chuyện hương liệu, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng xóm, chuyện thị tứ, chuyện thành phố, chuyện xứ sở, chuyện phụ nữ, chuyện anh hùng, chuyện đường phố, chuyện bến nước, chuyện người đã khuất, chuyện tào lao, chuyện thế gian, chuyện biển cả, chuyện thịnh suy. Sa môn Gotama từ bỏ những câu chuyện vô ích như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ viggāhikakathaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi, kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi, micchā paṭipanno tvamasi, ahamasmi sammā paṭipanno, sahitaṁ me, asahitaṁ te, purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca, adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosīti iti vā iti evarūpāya viggāhikakathāya paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in arguments. They say such things as: “You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!” The ascetic Gotama refrains from such argumentative talk.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
18. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào những cuộc tranh luận như sau: ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi mới biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết được Pháp và Luật này? Ông đã thực hành sai, tôi mới thực hành đúng. Lời của tôi hợp lý, lời của ông không hợp lý. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Lập luận mà ông dày công suy ngẫm đã bị đảo ngược. Luận điểm của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi mà tìm cách gỡ lại luận điểm của mình, hoặc hãy gỡ rối đi nếu ông có thể.’ Sa môn Gotama từ bỏ những cuộc tranh luận như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṁ dūteyyapahiṇagamanānuyogaṁ anuyuttā viharanti, seyyathidaṁ—raññaṁ, rājamahāmattānaṁ, khattiyānaṁ, brāhmaṇānaṁ, gahapatikānaṁ, kumārānaṁ “idha gaccha, amutrāgaccha, idaṁ hara, amutra idaṁ āharā”ti iti vā iti evarūpā dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in running errands and messages. This includes running errands for rulers, ministers, aristocrats, brahmins, householders, or princes who say: “Go here, go there. Take this, bring that from there.” The ascetic Gotama refrains from such errands.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
19. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống chuyên tâm vào việc đưa tin và làm sứ giả như sau: cho vua chúa, cho các đại thần, cho các Sát đế lỵ, cho các Bà la môn, cho các gia chủ, cho các thanh niên, với những lời nhắn như: ‘Hãy đi đến nơi này, hãy từ nơi kia đến, hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia từ nơi đó về.’ Sa môn Gotama từ bỏ việc đưa tin và làm sứ giả như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te kuhakā ca honti, lapakā ca nemittikā ca nippesikā ca, lābhena lābhaṁ nijigīsitāro ca iti evarūpā kuhanalapanā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still engage in deceit, flattery, hinting, and belittling, and using material things to chase after other material things. The ascetic Gotama refrains from such fawning and flattery.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
20. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại trở thành những kẻ lừa đảo, ba hoa, ra hiệu, ép uổng, và dùng lợi nhỏ để câu lợi lớn. Sa môn Gotama từ bỏ những hành vi lừa đảo và ba hoa như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
Majjhimasīlaṁ niṭṭhitaṁ.
2.3. Mahāsīla
The middle section on ethics is complete.
2.3. The Large Section on Ethics
Phần Trung Giới đã chấm dứt.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—aṅgaṁ nimittaṁ uppātaṁ supinaṁ lakkhaṇaṁ mūsikacchinnaṁ aggihomaṁ dabbihomaṁ thusahomaṁ kaṇahomaṁ taṇḍulahomaṁ sappihomaṁ telahomaṁ mukhahomaṁ lohitahomaṁ aṅgavijjā vatthuvijjā khattavijjā sivavijjā bhūtavijjā bhūrivijjā ahivijjā visavijjā vicchikavijjā mūsikavijjā sakuṇavijjā vāyasavijjā pakkajjhānaṁ saraparittāṇaṁ migacakkaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes such fields as augury, omenology, divining portents, interpreting dreams, divining features of men and women, divining holes in cloth gnawed by mice, fire offerings, ladle offerings, offerings of husks, rice powder, rice, ghee, or oil; offerings from the mouth, blood sacrifices, limb-reading; geomancy for building sites, fields, and cemeteries; exorcisms, earth magic, snake charming, poisons; the lore of the scorpion, the rat, the bird, and the crow; prophesying lifespan, chanting for protection, and divining omens from wild animals. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
21. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống bằng tà mạng qua các loại kiến thức thấp kém như sau: khoa xem tướng tay chân, khoa đoán điềm, khoa giải thích điềm lạ, khoa giải mộng, khoa xem tướng người, khoa giải điềm chuột cắn, tế lễ bằng lửa, tế lễ bằng muỗng, tế lễ bằng trấu, tế lễ bằng tấm, tế lễ bằng gạo, tế lễ bằng bơ, tế lễ bằng dầu, tế lễ bằng miệng, tế lễ bằng máu; khoa xem tướng chi tiết, khoa trạch địa, khoa chính trị, khoa thuật ở nghĩa địa, khoa trừ tà, khoa thuật trong nhà đất, khoa rắn, khoa độc, khoa bọ cạp, khoa chuột, khoa chim, khoa quạ, khoa đoán tuổi thọ, khoa chống tên, khoa giải tiếng thú. Sa môn Gotama từ bỏ việc sống bằng tà mạng qua các loại kiến thức thấp kém như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—maṇilakkhaṇaṁ vatthalakkhaṇaṁ daṇḍalakkhaṇaṁ satthalakkhaṇaṁ asilakkhaṇaṁ usulakkhaṇaṁ dhanulakkhaṇaṁ āvudhalakkhaṇaṁ itthilakkhaṇaṁ purisalakkhaṇaṁ kumāralakkhaṇaṁ kumārilakkhaṇaṁ dāsalakkhaṇaṁ dāsilakkhaṇaṁ hatthilakkhaṇaṁ assalakkhaṇaṁ mahiṁsalakkhaṇaṁ usabhalakkhaṇaṁ golakkhaṇaṁ ajalakkhaṇaṁ meṇḍalakkhaṇaṁ kukkuṭalakkhaṇaṁ vaṭṭakalakkhaṇaṁ godhālakkhaṇaṁ kaṇṇikālakkhaṇaṁ kacchapalakkhaṇaṁ migalakkhaṇaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes reading the marks of gems, cloth, clubs, swords, spears, arrows, bows, weapons, women, men, boys, girls, male and female bondservants, elephants, horses, buffaloes, bulls, cows, goats, rams, chickens, quails, monitor lizards, rabbits, tortoises, or deer. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
22. “Lại nữa, có một số Sa môn, Bà la môn, sau khi dùng các món ăn do tín thí cúng dường, lại sống bằng tà mạng qua các loại kiến thức thấp kém như sau: xem tướng ngọc, xem tướng vải, xem tướng gậy, xem tướng giáo, xem tướng gươm, xem tướng tên, xem tướng cung, xem tướng vũ khí, xem tướng phụ nữ, xem tướng đàn ông, xem tướng bé trai, xem tướng bé gái, xem tướng nam nô, xem tướng nữ tỳ, xem tướng voi, xem tướng ngựa, xem tướng trâu, xem tướng bò đực, xem tướng bò cái, xem tướng dê, xem tướng cừu, xem tướng gà, xem tướng cút, xem tướng kỳ đà, xem tướng hoa tai, xem tướng rùa, xem tướng thú. Sa môn Gotama từ bỏ việc sống bằng tà mạng qua các loại kiến thức thấp kém như vậy. Này các Tỳ khưu, nếu một phàm nhân muốn tán thán Như Lai, người ấy có thể nói như vậy.”
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—raññaṁ niyyānaṁ bhavissati, raññaṁ aniyyānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ upayānaṁ bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ apayānaṁ bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ upayānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ apayānaṁ bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ jayo bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ parājayo bhavissati, bāhirānaṁ raññaṁ jayo bhavissati, abbhantarānaṁ raññaṁ parājayo bhavissati, iti imassa jayo bhavissati, imassa parājayo bhavissati iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making predictions that the king will march forth or march back; or that our king will attack and the enemy king will retreat, or vice versa; or that our king will triumph and the enemy king will be defeated, or vice versa; and so there will be victory for one and defeat for the other. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
23. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này, cụ thể là: ‘Vua sẽ xuất chinh, vua sẽ không xuất chinh; vua trong nước sẽ tiến công, vua ngoài nước sẽ thoái lui; vua ngoài nước sẽ tiến công, vua trong nước sẽ thoái lui; vua trong nước sẽ chiến thắng, vua ngoài nước sẽ thất bại; vua ngoài nước sẽ chiến thắng, vua trong nước sẽ thất bại. Vị này sẽ chiến thắng, vị kia sẽ thất bại.’ Sa-môn Gotama từ bỏ tà mạng, từ bỏ những loại kiến thức thấp hèn như vậy.’ Này các Tỷ-kheo, phàm phu khi tán thán Như Lai, có thể nói như vậy.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—candaggāho bhavissati, sūriyaggāho bhavissati, nakkhattaggāho bhavissati, candimasūriyānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, candimasūriyānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, nakkhattānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, nakkhattānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, ukkāpāto bhavissati, disāḍāho bhavissati, bhūmicālo bhavissati, devadudrabhi bhavissati, candimasūriyanakkhattānaṁ uggamanaṁ ogamanaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ bhavissati, evaṁvipāko candaggāho bhavissati, evaṁvipāko sūriyaggāho bhavissati, evaṁvipāko nakkhattaggāho bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ nakkhattānaṁ pathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipākaṁ nakkhattānaṁ uppathagamanaṁ bhavissati, evaṁvipāko ukkāpāto bhavissati, evaṁvipāko disāḍāho bhavissati, evaṁvipāko bhūmicālo bhavissati, evaṁvipāko devadudrabhi bhavissati, evaṁvipākaṁ candimasūriyanakkhattānaṁ uggamanaṁ ogamanaṁ saṅkilesaṁ vodānaṁ bhavissati iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making predictions that there will be an eclipse of the moon, or sun, or stars; that the sun, moon, and stars will be in conjunction or in opposition; that there will be a meteor shower, a fiery horizon, an earthquake, or thunder in the heavens; that there will be a rising, a setting, a darkening, a brightening of the moon, sun, and stars. And it also includes making predictions about the results of all such phenomena. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
24. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này, cụ thể là: ‘Sẽ có nguyệt thực; sẽ có nhật thực; sẽ có tinh thực; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng quỹ đạo; mặt trăng, mặt trời sẽ đi sai quỹ đạo; các tinh tú sẽ đi đúng quỹ đạo; các tinh tú sẽ đi sai quỹ đạo; sẽ có sao băng; sẽ có cháy rực các phương trời; sẽ có động đất; sẽ có sấm trời; mặt trăng, mặt trời, các tinh tú sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ lu mờ, sẽ sáng tỏ. Nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này; nhật thực sẽ có kết quả như thế này; tinh thực sẽ có kết quả như thế này; mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; các tinh tú đi đúng quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; các tinh tú đi sai quỹ đạo sẽ có kết quả như thế này; sao băng sẽ có kết quả như thế này; cháy rực các phương trời sẽ có kết quả như thế này; động đất sẽ có kết quả như thế này; sấm trời sẽ có kết quả như thế này; việc mặt trăng, mặt trời, các tinh tú mọc, lặn, lu mờ, sáng tỏ sẽ có kết quả như thế này.’ Sa-môn Gotama từ bỏ tà mạng, từ bỏ những loại kiến thức thấp hèn như vậy.’ Này các Tỷ-kheo, phàm phu khi tán thán Như Lai, có thể nói như vậy.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—suvuṭṭhikā bhavissati, dubbuṭṭhikā bhavissati, subhikkhaṁ bhavissati, dubbhikkhaṁ bhavissati, khemaṁ bhavissati, bhayaṁ bhavissati, rogo bhavissati, ārogyaṁ bhavissati, muddā, gaṇanā, saṅkhānaṁ, kāveyyaṁ, lokāyataṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes predicting whether there will be plenty of rain or drought; plenty to eat or famine; an abundant harvest or a bad harvest; security or peril; sickness or health. It also includes such occupations as arithmetic, accounting, calculating, poetry, and cosmology. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
25. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này, cụ thể là: ‘Sẽ được mùa mưa, sẽ bị hạn hán; sẽ được mùa, sẽ bị mất mùa; sẽ được an ổn, sẽ có hiểm nguy; sẽ có bệnh tật, sẽ được khỏe mạnh; thuật đếm tay, thuật tính toán, thuật tổng kế, thi ca, học thuyết duy vật.’ Sa-môn Gotama từ bỏ tà mạng, từ bỏ những loại kiến thức thấp hèn như vậy.’ Này các Tỷ-kheo, phàm phu khi tán thán Như Lai, có thể nói như vậy.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—āvāhanaṁ vivāhanaṁ saṁvaraṇaṁ vivaraṇaṁ saṅkiraṇaṁ vikiraṇaṁ subhagakaraṇaṁ dubbhagakaraṇaṁ viruddhagabbhakaraṇaṁ jivhānibandhanaṁ hanusaṁhananaṁ hatthābhijappanaṁ hanujappanaṁ kaṇṇajappanaṁ ādāsapañhaṁ kumārikapañhaṁ devapañhaṁ ādiccupaṭṭhānaṁ mahatupaṭṭhānaṁ abbhujjalanaṁ sirivhāyanaṁ iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes making arrangements for giving and taking in marriage; for engagement and divorce; and for scattering rice inwards or outwards at the wedding ceremony. It also includes casting spells for good or bad luck, treating impacted fetuses, binding the tongue, or locking the jaws; charms for the hands and ears; questioning a mirror, a girl, or a god as an oracle; worshiping the sun, worshiping the Great One, breathing fire, and invoking Siri, the goddess of luck. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
26. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này, cụ thể là: làm lễ cưới hỏi, làm lễ hòa giải, làm lễ ly dị, làm phép thu gom tài sản, làm phép phân tán tài sản, làm cho được yêu mến, làm cho bị ghét bỏ, làm cho thai nhi được an ổn, làm cho cứng lưỡi, làm cho cứng hàm, làm chú thuật về tay, làm chú thuật về tai, hỏi qua gương soi, hỏi qua đồng nữ, hỏi chư thiên, thờ cúng mặt trời, thờ cúng Đại Phạm Thiên, phun lửa ra từ miệng, cầu khẩn nữ thần Phước Đức.’ Sa-môn Gotama từ bỏ tà mạng, từ bỏ những loại kiến thức thấp hèn như vậy.’ Này các Tỷ-kheo, phàm phu khi tán thán Như Lai, có thể nói như vậy.
‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṁ kappenti, seyyathidaṁ—santikammaṁ paṇidhikammaṁ bhūtakammaṁ bhūrikammaṁ vassakammaṁ vossakammaṁ vatthukammaṁ vatthuparikammaṁ ācamanaṁ nhāpanaṁ juhanaṁ vamanaṁ virecanaṁ uddhaṁvirecanaṁ adhovirecanaṁ sīsavirecanaṁ kaṇṇatelaṁ nettatappanaṁ natthukammaṁ añjanaṁ paccañjanaṁ sālākiyaṁ sallakattiyaṁ dārakatikicchā mūlabhesajjānaṁ anuppadānaṁ osadhīnaṁ paṭimokkho iti vā iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato samaṇo gotamo’ti—iti vā hi, bhikkhave, puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
‘There are some ascetics and brahmins who, while enjoying food given in faith, still earn a living by low lore, by wrong livelihood. This includes rites for propitiation, for granting wishes, for ghosts, for the earth, for rain, for property settlement, and for preparing and consecrating house sites, and rites involving sipping water and bathing, and oblations. It also includes administering emetics, purgatives, expectorants, and phlegmagogues; administering ear-oils, eye restoratives, nasal medicine, ointments, and counter-ointments; surgery with needle and scalpel, treating children, prescribing root medicines, and herbal bandages. The ascetic Gotama refrains from such low lore, such wrong livelihood.’ Such is an ordinary person’s praise of the Realized One.
27. ‘Hoặc có những Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, lại mưu sinh bằng tà mạng, bằng những loại kiến thức thấp hèn như thế này, cụ thể là: làm lễ cầu an, làm lễ tạ ơn, chữa trị ma ám, học thuật về đất, làm cho người nam hoạn thành nam nhân, làm cho nam nhân thành người nam hoạn, xem đất cất nhà, làm lễ trấn trạch, súc miệng, tắm rửa, cúng dường bằng lửa, làm cho ói mửa, làm cho xổ瀉, làm cho xổ lên trên, làm cho xổ xuống dưới, làm cho xổ qua đường đầu, chế dầu thoa tai, chế dầu nhỏ mắt, chữa bệnh bằng cách hít thuốc qua mũi, thuốc nhỏ mắt, thuốc nhỏ mắt đối trị, chữa bệnh mắt, phẫu thuật, chữa bệnh trẻ em, cho các loại thuốc rễ cây, đắp và gỡ các loại thuốc.’ Sa-môn Gotama từ bỏ tà mạng, từ bỏ những loại kiến thức thấp hèn như vậy.’ Này các Tỷ-kheo, phàm phu khi tán thán Như Lai, có thể nói như vậy.
Idaṁ kho, bhikkhave, appamattakaṁ oramattakaṁ sīlamattakaṁ, yena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
These are the trivial, trifling details of mere ethics that an ordinary person speaks of when they speak praise of the Realized One.
Này các Tỷ-kheo, đó chỉ là những giới đức nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ là những giới đức mà phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
Mahāsīlaṁ niṭṭhitaṁ.
3. Diṭṭhi
The longer section on ethics is complete.
3. Views
Đại Giới đã chấm dứt.
3.1. Pubbantakappika
3.1. Theories About the First Beginning
Những người suy luận về quá khứ
Atthi, bhikkhave, aññeva dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ. Katame ca te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ?
There are other principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. Those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things. And what are these principles?
28. Này các tỳ khưu, có những pháp khác sâu sắc, khó thấy, khó giác ngộ, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể liễu tri, là những pháp mà Như Lai đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, đã tự mình thể nhập rồi tuyên thuyết, và do những pháp ấy mà những người tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng sự thật, mới có thể nói lên được. Và này các tỳ khưu, những pháp ấy là gì, những pháp sâu sắc, khó thấy, khó giác ngộ, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể liễu tri, là những pháp mà Như Lai đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, đã tự mình thể nhập rồi tuyên thuyết, và do những pháp ấy mà những người tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng sự thật, mới có thể nói lên được?
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino, pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi?
3.1.1. Sassatavāda
There are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning, and propose various hypotheses concerning the first beginning on eighteen grounds. And what are the eighteen grounds on which they rely?
3.1.1. Eternalism
29. Này các tỳ khưu, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người suy luận về quá khứ, có những quan điểm về quá khứ, dựa vào quá khứ mà tuyên bố nhiều loại luận điểm khác nhau dựa trên mười tám cơ sở. Và những vị sa-môn, bà-la-môn ấy, do nương vào điều gì, do dựa vào điều gì mà là những người suy luận về quá khứ, có những quan điểm về quá khứ, dựa vào quá khứ mà tuyên bố nhiều loại luận điểm khác nhau dựa trên mười tám cơ sở?
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā, sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who are eternalists, who assert that the self and the cosmos are eternal on four grounds. And what are the four grounds on which they rely?
30. Này các tỳ khưu, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người theo thường kiến luận, họ tuyên bố rằng tự ngã và thế giới là thường hằng dựa trên bốn cơ sở. Và những vị sa-môn, bà-la-môn ấy, do nương vào điều gì, do dựa vào điều gì mà là những người theo thường kiến luận, tuyên bố rằng tự ngã và thế giới là thường hằng dựa trên bốn cơ sở?
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte (…) anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekānipi jātisatāni anekānipi jātisahassāni anekānipi jātisatasahassāni: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
So evamāha:
It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their many kinds of past lives. That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
They say:
31. Này các tỳ khưu, ở đây, có sa-môn hay bà-la-môn nào đó, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do như lý tác ý, đã chứng được một loại định tâm như vậy, và khi tâm đã được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Chẳng hạn như – một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở nơi kia; ở đó ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các hình thái và chi tiết.
Imināmahaṁ etaṁ jānāmi:
“yathā sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito; te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman”’ti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
Because of this I know:
“The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.”’ This is the first ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are eternal.
Vị ấy nói như sau: ‘Tự ngã và thế giới là thường hằng, không sanh sản, đứng vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ; và những chúng sanh ấy cứ mãi lang thang, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng tự ngã và thế giới vẫn tồn tại y như trạng thái thường hằng. Vì sao vậy? Vì ta, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do như lý tác ý, đã chứng được một loại định tâm như vậy, và khi tâm đã được định tĩnh, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Chẳng hạn như – một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở nơi kia; ở đó ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở đây.’ Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các hình thái và chi tiết. Do điều này, ta biết được rằng: ‘Tự ngã và thế giới là thường hằng, không sanh sản, đứng vững như đỉnh núi, đứng yên như cột trụ; và những chúng sanh ấy cứ mãi lang thang, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng tự ngã và thế giới vẫn tồn tại y như trạng thái thường hằng.’ Này các tỳ khưu, đây là cơ sở thứ nhất, do nương vào đó, do dựa vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thường kiến luận đã tuyên bố rằng tự ngã và thế giới là thường hằng.
Dutiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—ekampi saṁvaṭṭavivaṭṭaṁ dvepi saṁvaṭṭavivaṭṭāni tīṇipi saṁvaṭṭavivaṭṭāni cattāripi saṁvaṭṭavivaṭṭāni pañcapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni dasapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
So evamāha:
And what is the second ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their many kinds of past lives. That is: one eon of the cosmos contracting and expanding; two, three, four, five, or ten eons of the cosmos contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
They say:
32. Và trường hợp thứ hai, do nương vào điều gì, do dựa vào điều gì mà những vị sa-môn, bà-la-môn theo thường kiến luận đã tuyên bố rằng tự ngã và thế giới là thường hằng? Này các tỳ khưu, ở đây, có sa-môn hay bà-la-môn nào đó, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do như lý tác ý, đã chứng được một loại định tâm như vậy, và khi tâm đã được định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Chẳng hạn như – một kiếp thành hoại, hai kiếp thành hoại, ba kiếp thành hoại, bốn kiếp thành hoại, năm kiếp thành hoại, mười kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở nơi kia; ở đó ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, giai cấp như thế, ăn uống như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ đến mức như thế. Chết ở nơi ấy, ta được sanh lại ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các hình thái và chi tiết.
Imināmahaṁ etaṁ jānāmi:
“yathā sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito, te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman”’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
Because of this I know:
“The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.”’ This is the second ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are eternal.
Vị ấy nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian là thường hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; những chúng sinh ấy luân hồi, chuyển kiếp, chết đi và tái sanh, nhưng thực sự vẫn tồn tại y như thường hằng. Vì sao vậy? Vì rằng ta nhờ nỗ lực, nhờ tinh tấn, nhờ chuyên cần, nhờ không phóng dật, nhờ chánh tác ý mà đạt được định tâm như thế, khi tâm đã định tĩnh, ta nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ sai khác. Như là: một kiếp hoại diệt và thành hình, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp hoại diệt và thành hình. Ở nơi kia, ta đã có tên như thế, dòng họ như thế, diện mạo như thế, thức ăn như thế, thọ hưởng lạc khổ như thế, tuổi thọ giới hạn như thế; từ nơi đó chết đi, ta đã tái sanh ở nơi kia; tại đó ta cũng có tên như thế, dòng họ như thế, diện mạo như thế, thức ăn như thế, thọ hưởng lạc khổ như thế, tuổi thọ giới hạn như thế; từ nơi đó chết đi, ta đã tái sanh tại đây.’ Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ sai khác cùng với những đặc điểm và chi tiết. Nhờ điều này mà ta biết rằng: “Bản ngã và thế gian là thường hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; những chúng sinh ấy luân hồi, chuyển kiếp, chết đi và tái sanh, nhưng thực sự vẫn tồn tại y như thường hằng”. Này các Tỳ-kheo, đây là trường hợp thứ hai, mà dựa vào đó, nương vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thường hằng đã tuyên bố rằng bản ngã và thế gian là thường hằng.’
Tatiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati. Seyyathidaṁ—dasapi saṁvaṭṭavivaṭṭāni vīsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni tiṁsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni cattālīsampi saṁvaṭṭavivaṭṭāni: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
So evamāha:
And what is the third ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they recollect their many kinds of past lives. That is: ten eons of the cosmos contracting and expanding; twenty, thirty, or forty eons of the cosmos contracting and expanding. They remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
They say:
33. Và trong trường hợp thứ ba, các Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính theo thuyết thường hằng, dựa vào đâu, nương vào đâu mà tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng? Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn, do tinh cần, nỗ lực, chuyên chú, không buông lung, và tác ý chân chánh, đã chứng đạt được định tâm đến mức độ mà trong tâm đã được định tĩnh, vị ấy nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Chẳng hạn như: mười kiếp thành hoại, hai mươi kiếp thành hoại, ba mươi kiếp thành hoại, bốn mươi kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ có giới hạn như thế; ta từ nơi đó chết đi, đã sanh lại ở nơi kia; ở nơi kia cũng vậy, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ có giới hạn như thế; ta từ nơi đó chết đi, đã sanh lại ở nơi này.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các đặc điểm và chi tiết của chúng.
Imināmahaṁ etaṁ jānāmi:
“yathā sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito, te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman”’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
Because of this I know:
“The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.”’ This is the third ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are eternal.
Vị ấy nói như sau: ‘Bản ngã và thế gian là thường hằng, không thay đổi, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; và các chúng sanh ấy vẫn tiếp tục di chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng bản ngã và thế gian vẫn tồn tại y như cũ, giống như sự thường hằng. Vì sao vậy? Bởi vì, do ta tinh cần, nỗ lực, chuyên chú, không buông lung, và tác ý chân chánh, ta đã chứng đạt được định tâm đến mức độ mà trong tâm đã được định tĩnh, ta nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Chẳng hạn như: mười kiếp thành hoại, hai mươi kiếp thành hoại, ba mươi kiếp thành hoại, bốn mươi kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ có giới hạn như thế; ta từ nơi đó chết đi, đã sanh lại ở nơi kia; ở nơi kia cũng vậy, ta có tên như thế, dòng họ như thế, dung sắc như thế, thức ăn như thế, trải nghiệm khổ lạc như thế, tuổi thọ có giới hạn như thế; ta từ nơi đó chết đi, đã sanh lại ở nơi này.’ Như vậy, ta nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các đặc điểm và chi tiết của chúng. Do điều này, ta biết được rằng: ‘Bản ngã và thế gian là thường hằng, không thay đổi, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; và các chúng sanh ấy vẫn tiếp tục di chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng bản ngã và thế gian vẫn tồn tại y như cũ, giống như sự thường hằng.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ ba, mà dựa vào đó, nương vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết thường hằng đã tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng.
Catutthe ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṁsī, so takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayaṁ paṭibhānaṁ evamāha: ‘sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito; te ca sattā sandhāvanti saṁsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisaman’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
And what is the fourth ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin relies on logic and inquiry. They speak of what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective: ‘The self and the cosmos are eternal, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar. They remain the same for all eternity, while these sentient beings wander and transmigrate and pass away and rearise.’ This is the fourth ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are eternal.
34. Và trong trường hợp thứ tư, các Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính theo thuyết thường hằng, dựa vào đâu, nương vào đâu mà tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng? Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn là người có lý luận, có thẩm sát. Vị ấy, dựa trên sự suy luận, theo đuổi sự thẩm sát, và bằng trí tuệ của riêng mình, đã nói như sau: ‘Bản ngã và thế gian là thường hằng, không thay đổi, vững chắc như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; và các chúng sanh ấy vẫn tiếp tục di chuyển, luân hồi, chết đi, sanh lại, nhưng bản ngã và thế gian vẫn tồn tại y như cũ, giống như sự thường hằng.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ tư, mà dựa vào đó, nương vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết thường hằng đã tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena; natthi ito bahiddhā.
These are the four grounds on which those ascetics and brahmins assert that the self and the cosmos are eternal. Any ascetics and brahmins who assert that the self and the cosmos are eternal do so on one or other of these four grounds. Outside of this there is none.
35. Này các Tỳ khưu, các Sa-môn và Bà-la-môn theo thuyết thường hằng ấy đã tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng dựa trên bốn trường hợp này. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào theo thuyết thường hằng mà tuyên bố bản ngã và thế gian là thường hằng, tất cả họ đều tuyên bố như vậy dựa trên bốn trường hợp này, hoặc một trong số đó; ngoài những trường hợp này ra, không có trường hợp nào khác.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato pajānāti: ‘ime diṭṭhiṭṭhānā evaṅgahitā evaṁparāmaṭṭhā evaṅgatikā bhavanti evaṁabhisamparāyā’ti, tañca tathāgato pajānāti, tato ca uttaritaraṁ pajānāti; tañca pajānanaṁ na parāmasati, aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā. Vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato.
The Realized One understands this: ‘If you hold on to and attach to these grounds for views it leads to such a destiny in the next life.’ He understands this, and what goes beyond this. And since he does not misapprehend that understanding, he has realized quenching within himself. Having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape from feelings, the Realized One is freed by not grasping.
36. Này các Tỳ kheo, Như Lai biết rõ điều này: ‘Những lập trường tà kiến này, khi được chấp thủ như vậy, khi được bám víu như vậy, sẽ có những xu hướng như vậy, sẽ có những cảnh giới tương lai như vậy’. Như Lai biết rõ điều đó, và Ngài biết rõ điều cao thượng hơn thế nữa. Và sự biết rõ đó, Ngài không bám víu. Vì không bám víu, đối với Ngài, Niết bàn được biết rõ một cách cá nhân. Này các Tỳ kheo, sau khi đã biết rõ như thật về sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của các cảm thọ, Như Lai được giải thoát không còn chấp thủ.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
37. Này các Tỳ kheo, đây chính là những pháp sâu xa, khó thấy, khó chứng ngộ, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm tư duy, vi diệu, chỉ bậc hiền trí mới có thể thấu hiểu, những pháp mà Như Lai, sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, đã tuyên thuyết, và nhờ những pháp này mà những người muốn tán thán Như Lai một cách chân chánh, đúng như thật, có thể tán thán.
Paṭhamabhāṇavāro.
The first recitation section.
Phẩm Tụng Thứ Nhất.
3.1.2. Ekaccasassatavāda
3.1.2. Partial Eternalism
Thuyết Một Phần Thường Hằng
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who are partial eternalists, who assert that the self and the cosmos are partially eternal and partially not eternal on four grounds. And what are the four grounds on which they rely?
38. Này các Tỳ kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần thường hằng, một phần vô thường, họ tuyên bố ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường dựa trên bốn cơ sở. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, nương vào đâu, y cứ vào đâu mà chủ trương một phần thường hằng, một phần vô thường, và tuyên bố ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường dựa trên bốn cơ sở?
Hoti kho so, bhikkhave, samayo, yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati. Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti. Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
There comes a time when, after a very long period has passed, this cosmos contracts. As the cosmos contracts, sentient beings are mostly headed for the realm of streaming radiance. There they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
39. Này các Tỳ kheo, có thời điểm, vào một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này hoại diệt. Khi thế giới hoại diệt, phần lớn chúng sanh được sanh về cõi Quang Âm. Ở đó, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ lạc, tự thân phát quang, đi lại trong hư không, an trú trong cảnh tốt đẹp, và sống trong một thời gian rất dài.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo, yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati. Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ pātubhavati. Atha kho aññataro satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati. So tattha hoti manomayo pītibhakkho sayampabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhati.
There comes a time when, after a very long period has passed, this cosmos expands. As it expands an empty mansion of divinity appears. Then a certain sentient being—due to the running out of their lifespan or merit—passes away from that host of radiant deities and is reborn in that empty mansion of divinity. There they are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
40. Này các Tỳ kheo, có thời điểm, vào một lúc nào đó, sau một thời gian dài, thế giới này thành lập. Khi thế giới thành lập, một cung điện Phạm thiên trống không xuất hiện. Bấy giờ, một chúng sanh nào đó, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, từ cõi Quang Âm mệnh chung, sanh vào cung điện Phạm thiên trống không ấy. Ở đó, vị ấy do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ lạc, tự thân phát quang, đi lại trong hư không, an trú trong cảnh tốt đẹp, và sống trong một thời gian rất dài.
Tassa tattha ekakassa dīgharattaṁ nivusitattā anabhirati paritassanā uppajjati: ‘aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyun’ti. Atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā brahmavimānaṁ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṁ. Tepi tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
But after staying there all alone for a long time, they become dissatisfied and anxious: ‘Oh, if only other beings would come to this place.’ Then other sentient beings—due to the running out of their lifespan or merit—pass away from that host of radiant deities and are reborn in that mansion of divinity in company with that being. There they too are mind-made, feeding on rapture, self-luminous, wandering in midair, steadily glorious, and they remain like that for a very long time.
41. Ở đó, do sống một mình trong một thời gian dài, vị chúng sanh ấy sanh tâm không hoan hỷ và khao khát: ‘Ôi, mong sao các chúng sanh khác cũng đến nơi này!’. Bấy giờ, các chúng sanh khác, do hết tuổi thọ hoặc hết phước, từ cõi Quang Âm mệnh chung, sanh vào cung điện Phạm thiên làm bạn đồng hành với chúng sanh ấy. Họ cũng ở đó, do ý tạo thành, nuôi sống bằng hỷ lạc, tự thân phát quang, đi lại trong hư không, an trú trong cảnh tốt đẹp, và sống trong một thời gian rất dài.
Tatra, bhikkhave, yo so satto paṭhamaṁ upapanno tassa evaṁ hoti: ‘ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ. Mayā ime sattā nimmitā. Taṁ kissa hetu? Mamañhi pubbe etadahosi:
“aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyun”ti. Iti mama ca manopaṇidhi, ime ca sattā itthattaṁ āgatā’ti.
Now, the being who was reborn there first thinks: ‘I am the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. These beings were created by me! Why is that? Because first I thought:
“Oh, if only other beings would come to this place.” Such was my heart’s wish, and then these creatures came to this place.’
42. Này các Tỳ kheo, ở đó, chúng sanh nào sanh trước tiên, vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng chinh phục, không bị ai chinh phục, người thấy tất cả, đấng tự tại, đấng chủ tể, đấng sáng tạo, đấng hóa sanh, đấng tối thượng, đấng sắp đặt, đấng quyền uy, là cha của những gì đã và sẽ sanh. Những chúng sanh này do ta tạo ra. Tại sao vậy? Vì trước đây ta đã có ý nghĩ rằng: “Ôi, mong sao các chúng sanh khác cũng đến nơi này!”. Chính do ý nguyện của ta mà những chúng sanh này đã đến đây’.
Yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṁ hoti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ. Iminā mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā. Taṁ kissa hetu? Imañhi mayaṁ addasāma idha paṭhamaṁ upapannaṁ, mayaṁ panamha pacchā upapannā’ti.
And the beings who were reborn there later also think: ‘This must be the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. And we were created by him. Why is that? Because we see that he was reborn here first, and we arrived later.’
Và những chúng sanh sanh sau đó, họ cũng có ý nghĩ như sau: ‘Vị Phạm thiên đáng kính này là Đại Phạm thiên, đấng chinh phục, không bị ai chinh phục, người thấy tất cả, đấng tự tại, đấng chủ tể, đấng sáng tạo, đấng hóa sanh, đấng tối thượng, đấng sắp đặt, đấng quyền uy, là cha của những gì đã và sẽ sanh. Chúng ta được tạo ra bởi vị Phạm thiên đáng kính này. Tại sao vậy? Vì chúng ta đã thấy vị này sanh trước ở đây, còn chúng ta thì sanh sau’.
Tatra, bhikkhave, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca mahesakkhataro ca. Ye pana te sattā pacchā upapannā, te appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca.
And the being who was reborn first is more long-lived, beautiful, and illustrious than those who arrived later.
43. Này các Tỳ kheo, ở đó, chúng sanh nào sanh trước tiên, vị ấy có tuổi thọ dài hơn, dung sắc đẹp hơn, và oai lực lớn hơn. Còn những chúng sanh sanh sau đó, họ có tuổi thọ ngắn hơn, dung sắc xấu hơn, và oai lực kém hơn.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say:
44. Này các Tỳ kheo, có trường hợp này xảy ra, khi một chúng sanh nào đó từ cõi ấy mệnh chung, đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ vào sự nhiệt tâm, sự tinh tấn, sự chuyên cần, sự không lơ là, và sự tác ý chân chánh, vị ấy đạt được một loại định tâm, mà trong tâm định tĩnh ấy, vị ấy nhớ lại kiếp sống trước đó, nhưng không nhớ xa hơn nữa.
Dutiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Santi, bhikkhave, khiḍḍāpadosikā nāma devā, te ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati. Satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavanti.
And what is the second ground on which they rely? There are gods named ‘depraved by play.’ They spend too much time laughing, playing, and making merry. And in doing so, they lose their mindfulness, and they pass away from that host of gods.
Vị ấy nói như sau: ‘Vị Phạm thiên đáng kính kia, là Đại Phạm thiên, đấng chinh phục, không bị ai chinh phục, người thấy tất cả, đấng tự tại, đấng chủ tể, đấng sáng tạo, đấng hóa sanh, đấng tối thượng, đấng sắp đặt, đấng quyền uy, là cha của những gì đã và sẽ sanh, vị Phạm thiên đáng kính đã tạo ra chúng ta, vị ấy là thường hằng, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi, sẽ tồn tại mãi mãi như vậy. Còn chúng ta, những người được vị Phạm thiên đáng kính ấy tạo ra, chúng ta là vô thường, không bền vững, tuổi thọ ngắn ngủi, có bản chất phải mệnh chung, đã đến cõi này’. Này các Tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất, mà dựa vào đó, nương vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần thường hằng, một phần vô thường, và tuyên bố ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha: ‘ye kho te bhonto devā na khiḍḍāpadosikā, te na ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ na ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati na sammussati. Satiyā asammosā te devā tamhā kāyā na cavanti; niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti. Ye pana mayaṁ ahumhā khiḍḍāpadosikā, te mayaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharimhā. Tesaṁ no ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati. Satiyā sammosā evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
Tatiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Santi, bhikkhave, manopadosikā nāma devā, te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. Te aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha: ‘ye kho te bhonto devā na manopadosikā, te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni nappadūsenti. Te aññamaññaṁ appaduṭṭhacittā akilantakāyā akilantacittā. Te devā tamhā kāyā na cavanti, niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti. Ye pana mayaṁ ahumhā manopadosikā, te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyimhā. Te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsimhā, te mayaṁ aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti.
Catutthe ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ evamāha:
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say: ‘The gods not depraved by play don’t spend too much time laughing, playing, and making merry. So they don’t lose their mindfulness, and don’t pass away from that host of gods. They are permanent, everlasting, eternal, imperishable, remaining the same for all eternity. But we who were depraved by play spent too much time laughing, playing, and making merry. In doing so, we lost our mindfulness, and passed away from that host of gods. We are impermanent, not lasting, short-lived, liable to pass away, and have come to this place.’ This is the second ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are partially eternal.
And what is the third ground on which they rely? There are gods named ‘malevolent’. They spend too much time gazing at each other, so they grow angry with each other, and their bodies and minds get tired. They pass away from that host of gods.
It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect that past life, but no further.
They say: ‘The gods who are not malevolent don’t spend too much time gazing at each other, so they don’t grow angry with each other, their bodies and minds don’t get tired, and they don’t pass away from that host of gods. They are permanent, everlasting, eternal, imperishable, remaining the same for all eternity. But we who were malevolent spent too much time gazing at each other, we grew angry with each other, our bodies and minds got tired, and we passed away from that host of gods. We are impermanent, not lasting, short-lived, liable to pass away, and have come to this place.’ This is the third ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos are partially eternal.
And what is the fourth ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin relies on logic and inquiry. They speak of what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective:
68. “Này các Tỳ khưu, có các vị trời tên là Vô Tưởng. Và do sự sanh khởi của tưởng, các vị trời ấy mệnh chung từ cõi đó. Này các Tỳ khưu, có trường hợp này xảy ra, là có chúng sanh nào đó mệnh chung từ cõi đó rồi sanh lại vào cõi này. Khi đã sanh vào cõi này, vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhờ sự nhiệt tâm, tinh cần, chuyên chú, không lơ là, và chánh tư duy, vị ấy chứng đắc được định tâm đến mức mà trong tâm đã được định tĩnh, vị ấy nhớ lại được sự sanh khởi của tưởng, nhưng không nhớ được gì xa hơn nữa. Vị ấy nói như sau: ‘Tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân. Vì sao vậy? Vì trước đây ta không có, nay ta từ chỗ không có đã biến thành có.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ nhất, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết vô nhân sanh khởi đã tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân.”
49. “Và này các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn, trong trường hợp thứ tư, do y cứ vào đâu, do dựa vào đâu mà một số vị là người chủ trương một phần thường còn, một phần không thường còn, lại tuyên bố tự ngã và thế giới một phần là thường còn, một phần là không thường còn? Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn là người lý luận, biện giải. Vị ấy, sau khi suy luận, tìm tòi, dựa vào sự thông minh của bản thân, nói như sau: ‘Cái được gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, hay thân, tự ngã này là vô thường, không bền vững, không vĩnh cửu, có bản chất biến đổi. Còn cái được gọi là tâm, hay ý, hay thức, tự ngã này là thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không có bản chất biến đổi, sẽ tồn tại y như vậy mãi mãi.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ tư, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn là người chủ trương một phần thường còn, một phần không thường còn, lại tuyên bố tự ngã và thế giới một phần là thường còn, một phần là không thường còn.”
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena; natthi ito bahiddhā.
These are the four grounds on which those ascetics and brahmins assert that the self and the cosmos are partially eternal and partially not eternal. Any ascetics and brahmins who assert that the self and the cosmos are partially eternal and partially not eternal do so on one or other of these four grounds. Outside of this there is none.
50. Này các Tỳ khưu, các Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người có quan điểm một phần thường còn, một phần không thường còn, tuyên bố rằng tự ngã và thế giới một phần là thường còn, một phần là không thường còn, dựa trên bốn cơ sở này. Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào có quan điểm một phần thường còn, một phần không thường còn, tuyên bố rằng tự ngã và thế giới một phần là thường còn, một phần là không thường còn, tất cả họ đều tuyên bố dựa trên bốn cơ sở này, hoặc một trong số đó; ngoài những cơ sở này ra, không có cơ sở nào khác.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato pajānāti: ‘ime diṭṭhiṭṭhānā evaṅgahitā evaṁparāmaṭṭhā evaṅgatikā bhavanti evaṁabhisamparāyā’ti. Tañca tathāgato pajānāti, tato ca uttaritaraṁ pajānāti, tañca pajānanaṁ na parāmasati, aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā. Vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato.
The Realized One understands this: ‘If you hold on to and attach to these grounds for views it leads to such a destiny in the next life.’ He understands this, and what goes beyond this. And since he does not misapprehend that understanding, he has realized quenching within himself. Having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape from feelings, the Realized One is freed by not grasping.
51. Này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều này: ‘Những lập trường kiến giải này, khi được chấp thủ như vậy, khi được bám víu như vậy, sẽ có xu hướng như vậy, sẽ có cảnh giới tương lai như vậy.’ Như Lai biết rõ điều đó, và biết rõ điều cao thượng hơn thế nữa, và khi biết điều đó, Ngài không bám víu. Vì không bám víu, đối với Ngài, Niết-bàn được biết đến ngay trong tự thân. Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của các cảm thọ, Như Lai được giải thoát do không còn chấp thủ.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
52. Này các Tỳ khưu, đây là những pháp thâm sâu, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi tế, chỉ bậc hiền trí mới có thể thấu hiểu, mà Như Lai, sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, đã tuyên thuyết, và nhờ những pháp này mà những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, như thật, có thể nói lên lời tán thán.
3.1.3. Antānantavāda
3.1.3. The Cosmos is Finite or Infinite
Thuyết Hữu Biên và Vô Biên
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about size, and assert that the cosmos is finite or infinite on four grounds. And what are the four grounds on which they rely?
53. Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, họ tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên dựa trên bốn cơ sở. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, nương vào đâu, dựa vào đâu mà là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên dựa trên bốn cơ sở?
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte antasaññī lokasmiṁ viharati.
So evamāha:
It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they meditate perceiving the cosmos as finite.
They say:
54. Này các Tỳ khưu, ở đây, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, vị ấy an trú với tưởng rằng thế giới là hữu biên.
“yathā antavā ayaṁ loko parivaṭumo”’ti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti.
“The cosmos is finite and restricted.”’ This is the first ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the cosmos is finite or infinite.
Vị ấy nói như sau: ‘Thế giới này là hữu biên, có chu vi. Vì sao vậy? Vì ta, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, ta an trú với tưởng rằng thế giới là hữu biên. Nhờ điều này, ta biết rằng: thế giới này là hữu biên, có chu vi.’ Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở thứ nhất, mà nương vào đó, dựa vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên.
Dutiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte anantasaññī lokasmiṁ viharati.
So evamāha:
And what is the second ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they meditate perceiving the cosmos as infinite.
They say:
55. Và ở trường hợp thứ hai, các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính nương vào đâu, dựa vào đâu mà là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên? Này các Tỳ khưu, ở đây, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, vị ấy an trú với tưởng rằng thế giới là vô biên.
“yathā ananto ayaṁ loko apariyanto”’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti.
“The cosmos is infinite and unbounded.”’ This is the second ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the cosmos is finite or infinite.
Vị ấy nói như sau: ‘Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có chu vi,” lời của họ là sai lầm. Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Vì sao vậy? Vì ta, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, ta an trú với tưởng rằng thế giới là vô biên. Nhờ điều này, ta biết rằng: thế giới này là vô biên, không có giới hạn.’ Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở thứ hai, mà nương vào đó, dựa vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên.
Tatiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte uddhamadho antasaññī lokasmiṁ viharati, tiriyaṁ anantasaññī.
So evamāha:
And what is the third ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin—by dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind—experiences an immersion of the heart of such a kind that they meditate perceiving the cosmos as finite vertically but infinite horizontally.
They say:
56. Và ở trường hợp thứ ba, các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính nương vào đâu, dựa vào đâu mà là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên? Này các Tỳ khưu, ở đây, một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, vị ấy an trú với tưởng rằng thế giới theo chiều trên và dưới là hữu biên, còn theo chiều ngang là vô biên.
“yathā antavā ca ayaṁ loko ananto cā”’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti.
“The cosmos is both finite and infinite.”’ This is the third ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the cosmos is finite or infinite.
Vị ấy nói như sau: ‘Thế giới này vừa hữu biên vừa vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có chu vi,” lời của họ là sai lầm. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn,” lời của họ cũng là sai lầm. Thế giới này vừa hữu biên vừa vô biên. Vì sao vậy? Vì ta, do nỗ lực, do tinh tấn, do chuyên cần, do không buông lung, do tác ý đúng đắn, đã chứng đạt được một loại định tâm như vậy, mà trong tâm đã được định tĩnh, ta an trú với tưởng rằng thế giới theo chiều trên và dưới là hữu biên, còn theo chiều ngang là vô biên. Nhờ điều này, ta biết rằng: thế giới này vừa hữu biên vừa vô biên.’ Này các Tỳ khưu, đây là cơ sở thứ ba, mà nương vào đó, dựa vào đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên.
Catutthe ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ evamāha: ‘nevāyaṁ loko antavā, na panānanto. Ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu: “antavā ayaṁ loko parivaṭumo”ti, tesaṁ musā. Yepi te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu: “ananto ayaṁ loko apariyanto”ti, tesampi musā. Yepi te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu: “antavā ca ayaṁ loko ananto cā”ti, tesampi musā. Nevāyaṁ loko antavā, na panānanto’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti.
And what is the fourth ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin relies on logic and inquiry. They speak of what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective: ‘The cosmos is neither finite nor infinite. The ascetics and brahmins who say that the cosmos is finite are wrong, as are those who say that the cosmos is infinite, and also those who say that the cosmos is both finite and infinite. The cosmos is neither finite nor infinite.’ This is the fourth ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the cosmos is finite or infinite.
57. Và trường hợp thứ tư, này các Tỳ khưu, do y cứ vào đâu, do dựa vào đâu mà một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên lại tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên? Ở đây, này các Tỳ khưu, có Sa-môn hay Bà-la-môn là người lý luận, là người biện giải. Vị ấy, sau khi suy luận, sau khi thẩm sát, dựa vào sự thông minh của bản thân, đã nói như sau: ‘Thế giới này không phải hữu biên, cũng không phải vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có chu vi tròn,” lời nói của họ là sai lầm. Cả những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói rằng: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn,” lời nói của họ cũng sai lầm. Cả những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói rằng: “Thế giới này vừa hữu biên vừa vô biên,” lời nói của họ cũng sai lầm. Thế giới này không phải hữu biên, cũng không phải vô biên.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ tư, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên lại tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena; natthi ito bahiddhā.
These are the four grounds on which those ascetics and brahmins assert that the cosmos is finite or infinite. Any ascetics and brahmins who assert that the cosmos is finite or infinite do so on one or other of these four grounds. Outside of this there is none.
58. Này các Tỳ khưu, chính do bốn trường hợp này mà các Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết hữu biên và vô biên lại tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào theo thuyết hữu biên và vô biên mà tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên, tất cả họ đều tuyên bố dựa trên chính bốn trường hợp này, hoặc một trong số các trường hợp ấy; ngoài những trường hợp này ra, không có trường hợp nào khác.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato pajānāti: ‘ime diṭṭhiṭṭhānā evaṅgahitā evaṁparāmaṭṭhā evaṅgatikā bhavanti evaṁabhisamparāyā’ti. Tañca tathāgato pajānāti, tato ca uttaritaraṁ pajānāti, tañca pajānanaṁ na parāmasati, aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā. Vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato.
The Realized One understands this: ‘If you hold on to and attach to these grounds for views it leads to such a destiny in the next life.’ He understands this, and what goes beyond this. And since he does not misapprehend that understanding, he has realized quenching within himself. Having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape from feelings, the Realized One is freed by not grasping.
59. Này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều này: ‘Những lập trường tà kiến này, khi được chấp thủ như vậy, khi được bám víu như vậy, sẽ có xu hướng như vậy, sẽ có đời sau như vậy.’ Như Lai biết rõ điều đó, và biết rõ cả điều cao thượng hơn thế nữa, nhưng Ngài không bám víu vào sự hiểu biết đó. Và vì không bám víu, tự thân Ngài đã chứng ngộ được sự tịch tịnh. Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của các cảm thọ, Như Lai đã được giải thoát không còn chấp thủ.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
60. Này các Tỳ khưu, đây chính là những pháp thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi diệu, chỉ bậc trí mới có thể liễu tri, là những pháp mà Như Lai, sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, đã tuyên thuyết, và nhờ những pháp này mà những ai muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, như thật, sẽ có thể nói lên lời tán thán.
3.1.4. Amarāvikkhepavāda
3.1.4. Endless Flip-floppers
Thuyết Ngụy Biện Bất Định
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā, tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who are endless flip-floppers. Whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops on four grounds. And what are the four grounds on which they rely?
61. Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết ngụy biện bất định, khi được hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, họ đã dùng lời lẽ quanh co, ngụy biện bất định dựa trên bốn trường hợp. Và này các Tỳ khưu, do y cứ vào đâu, do dựa vào đâu mà các Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết ngụy biện bất định ấy, khi được hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, lại dùng lời lẽ quanh co, ngụy biện bất định dựa trên bốn trường hợp?
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi, “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi. Ahañce kho pana “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto, “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto, “idaṁ kusalan”ti vā byākareyyaṁ, “idaṁ akusalan”ti vā byākareyyaṁ, taṁ mamassa musā. Yaṁ mamassa musā, so mamassa vighāto. Yo mamassa vighāto so mamassa antarāyo’ti. Iti so musāvādabhayā musāvādaparijegucchā nevidaṁ kusalanti byākaroti, na panidaṁ akusalanti byākaroti, tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ: ‘evantipi me no; tathātipi me no; aññathātipi me no; notipi me no; no notipi me no’ti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ.
It’s when some ascetic or brahmin doesn’t truly understand what is skillful and what is unskillful. They think: ‘I don’t truly understand what is skillful and what is unskillful. If I were to declare that something was skillful or unskillful I might be wrong. That would be stressful for me, and that stress would be an obstacle.’ So from fear and disgust with false speech they avoid stating whether something is skillful or unskillful. Whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: ‘I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’ This is the first ground on which some ascetics and brahmins rely when resorting to verbal flip-flops and endless flip-flops.
62. Ở đây, này các Tỳ khưu, có Sa-môn hay Bà-la-môn không biết như thật: ‘Đây là thiện,’ không biết như thật: ‘Đây là bất thiện.’ Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta không biết như thật: “Đây là thiện,” ta không biết như thật: “Đây là bất thiện.” Nếu ta, trong khi không biết như thật: “Đây là thiện,” và không biết như thật: “Đây là bất thiện,” mà lại trả lời rằng: “Đây là thiện,” hay: “Đây là bất thiện,” thì điều đó đối với ta sẽ là lời nói dối. Điều gì là lời nói dối đối với ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho ta. Điều gì là sự phiền não cho ta, điều đó sẽ là chướng ngại cho ta.’ Do vậy, vì sợ nói dối, vì ghê tởm lời nói dối, vị ấy không trả lời: ‘Đây là thiện,’ cũng không trả lời: ‘Đây là bất thiện.’ Khi được hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời lẽ quanh co, ngụy biện bất định: ‘Tôi không cho là như vậy; tôi không cho là thế kia; tôi không cho là khác; tôi không cho là không phải; tôi không cho là không phải không phải.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ nhất, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết ngụy biện bất định, khi được hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, lại dùng lời lẽ quanh co, ngụy biện bất định.
Dutiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi, “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi. Ahañce kho pana “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto, “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto, “idaṁ kusalan”ti vā byākareyyaṁ, “idaṁ akusalan”ti vā byākareyyaṁ, tattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā. Yattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā, taṁ mamassa upādānaṁ. Yaṁ mamassa upādānaṁ, so mamassa vighāto. Yo mamassa vighāto, so mamassa antarāyo’ti. Iti so upādānabhayā upādānaparijegucchā nevidaṁ kusalanti byākaroti, na panidaṁ akusalanti byākaroti, tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ: ‘evantipi me no; tathātipi me no; aññathātipi me no; notipi me no; no notipi me no’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ.
And what is the second ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin doesn’t truly understand what is skillful and what is unskillful. They think: ‘I don’t truly understand what is skillful and what is unskillful. If I were to declare that something was skillful or unskillful I might feel desire or greed or hate or aversion. That would be grasping on my part. That would be stressful for me, and that stress would be an obstacle.’ So from fear and disgust with grasping they avoid stating whether something is skillful or unskillful. Whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: ‘I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’ This is the second ground on which some ascetics and brahmins rely when resorting to verbal flip-flops and endless flip-flops.
63. “Này các Tỳ khưu, ở trường hợp thứ hai, do dựa vào đâu, do duyên vào đâu mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh? Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn không biết như thật: ‘Đây là thiện,’ không biết như thật: ‘Đây là bất thiện.’ Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta không biết như thật: “Đây là thiện,” ta không biết như thật: “Đây là bất thiện.” Nếu ta không biết như thật về “đây là thiện,” không biết như thật về “đây là bất thiện,” mà lại tuyên bố: “Đây là thiện,” hay: “Đây là bất thiện,” thì do việc ấy, nơi ta có thể khởi lên dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc hận. Khi nơi ta có dục, hoặc tham, hoặc sân, hoặc hận, điều ấy sẽ là sự chấp thủ của ta. Cái gì là sự chấp thủ của ta, điều ấy sẽ là sự phiền não của ta. Cái gì là sự phiền não của ta, điều ấy sẽ là chướng ngại của ta.’ Do vậy, vị ấy vì sợ hãi sự chấp thủ, vì ghê tởm sự chấp thủ, nên không tuyên bố: ‘Đây là thiện,’ cũng không tuyên bố: ‘Đây là bất thiện.’ Khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, vị ấy rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh: ‘Tôi không cho là như vậy; tôi không cho là thế kia; tôi không cho là khác; tôi không cho là không phải; tôi không cho là không phải không phải.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ hai, do dựa vào đó, do duyên vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh.
Tatiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa evaṁ hoti: ‘ahaṁ kho “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi, “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ nappajānāmi. Ahañce kho pana “idaṁ kusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto “idaṁ akusalan”ti yathābhūtaṁ appajānanto “idaṁ kusalan”ti vā byākareyyaṁ, “idaṁ akusalan”ti vā byākareyyaṁ; santi hi kho samaṇabrāhmaṇā paṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā, te bhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te maṁ tattha samanuyuñjeyyuṁ samanugāheyyuṁ samanubhāseyyuṁ. Ye maṁ tattha samanuyuñjeyyuṁ samanugāheyyuṁ samanubhāseyyuṁ, tesāhaṁ na sampāyeyyaṁ. Yesāhaṁ na sampāyeyyaṁ, so mamassa vighāto. Yo mamassa vighāto, so mamassa antarāyo’ti. Iti so anuyogabhayā anuyogaparijegucchā nevidaṁ kusalanti byākaroti, na panidaṁ akusalanti byākaroti, tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ: ‘evantipi me no; tathātipi me no; aññathātipi me no; notipi me no; no notipi me no’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ.
And what is the third ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin doesn’t truly understand what is skillful and what is unskillful. They think: ‘I don’t truly understand what is skillful and what is unskillful. Suppose I were to declare that something was skillful or unskillful. There are astute ascetics and brahmins who are subtle, accomplished in the doctrines of others, hair-splitters. You’d think they live to demolish convictions with their intellect. They might pursue, press, and grill me about that. I’d be stumped by such a grilling. That would be stressful for me, and that stress would be an obstacle.’ So from fear and disgust with examination they avoid stating whether something is skillful or unskillful. Whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: ‘I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’ This is the third ground on which some ascetics and brahmins rely when resorting to verbal flip-flops and endless flip-flops.
64. “Này các Tỳ khưu, ở trường hợp thứ ba, do dựa vào đâu, do duyên vào đâu mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh? Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn không biết như thật: ‘Đây là thiện,’ không biết như thật: ‘Đây là bất thiện.’ Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta không biết như thật: “Đây là thiện,” ta không biết như thật: “Đây là bất thiện.” Nếu ta không biết như thật về “đây là thiện,” không biết như thật về “đây là bất thiện,” mà lại tuyên bố: “Đây là thiện,” hay: “Đây là bất thiện.” Có những vị Sa-môn, Bà-la-môn là bậc trí, tinh tế, thông thạo tà thuyết của người khác, giống như những tay cung thủ có thể bắn xuyên sợi lông. Các vị ấy dường như đi khắp nơi, dùng trí tuệ để phá vỡ các tà kiến. Các vị ấy có thể chất vấn ta, tra hỏi ta, chỉ trích ta về vấn đề ấy. Khi bị các vị ấy chất vấn, tra hỏi, chỉ trích, ta có thể không trả lời được một cách thỏa đáng. Khi ta không trả lời được một cách thỏa đáng, điều ấy sẽ là sự phiền não của ta. Cái gì là sự phiền não của ta, điều ấy sẽ là chướng ngại của ta.’ Do vậy, vị ấy vì sợ hãi bị chất vấn, vì ghê tởm bị chất vấn, nên không tuyên bố: ‘Đây là thiện,’ cũng không tuyên bố: ‘Đây là bất thiện.’ Khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, vị ấy rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh: ‘Tôi không cho là như vậy; tôi không cho là thế kia; tôi không cho là khác; tôi không cho là không phải; tôi không cho là không phải không phải.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ ba, do dựa vào đó, do duyên vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện, lời nói lẩn tránh.
Catutthe ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā mando hoti momūho. So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ: ‘atthi paro loko’ti iti ce maṁ pucchasi, ‘atthi paro loko’ti iti ce me assa, ‘atthi paro loko’ti iti te naṁ byākareyyaṁ, ‘evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti. ‘Natthi paro loko …pe… ‘atthi ca natthi ca paro loko …pe… ‘nevatthi na natthi paro loko …pe… ‘atthi sattā opapātikā …pe… ‘natthi sattā opapātikā …pe… ‘atthi ca natthi ca sattā opapātikā …pe… ‘nevatthi na natthi sattā opapātikā …pe… ‘atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… ‘natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… ‘atthi ca natthi ca sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… ‘nevatthi na natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko …pe… ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti ce maṁ pucchasi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti ce me assa, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti te naṁ byākareyyaṁ, ‘evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ.
And what is the fourth ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin is dull and stupid. Because of that, whenever they’re asked a question, they resort to verbal flip-flops and endless flip-flops: ‘Suppose you were to ask me whether there is another world. If I believed that to be the case, I would say so. But I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so. Suppose you were to ask me whether there is no other world … whether there both is and is not another world … whether there neither is nor is not another world … whether there are beings who are reborn spontaneously … whether there are not beings who are reborn spontaneously … whether there both are and are not beings who are reborn spontaneously … whether there neither are nor are not beings who are reborn spontaneously … whether there is fruit and result of good and bad deeds … whether there is no fruit and result of good and bad deeds … whether there both is and is not fruit and result of good and bad deeds … whether there neither is nor is not fruit and result of good and bad deeds … whether a realized one still exists after death … whether a realized one no longer exists after death … whether a realized one both still exists and no longer exists after death … whether a realized one neither still exists nor no longer exists after death. If I believed that to be the case, I would say so. But I don’t say it’s like this. I don’t say it’s like that. I don’t say it’s otherwise. I don’t say it’s not so. And I don’t deny it’s not so.’ This is the fourth ground on which some ascetics and brahmins rely when resorting to verbal flip-flops and endless flip-flops.
65. “Và này các Tỳ khưu, ở trường hợp thứ tư, do y cứ vào điều gì, do dựa vào điều gì mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện trườn uốn như lươn, khi được hỏi về các vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện trườn uốn như lươn? Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó là người đần độn, ngu muội. Do sự đần độn, do sự ngu muội, vị ấy khi được hỏi về các vấn đề ở chỗ này chỗ kia, liền rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện trườn uốn như lươn: ‘Nếu ông hỏi tôi rằng: “Có thế giới khác hay không?” và nếu tôi cho rằng: “Có thế giới khác,” thì tôi sẽ trả lời cho ông rằng: “Có thế giới khác.” Nhưng tôi không cho là như vậy, tôi không cho là như thế kia, tôi không cho là khác đi, tôi không cho là không phải, và tôi cũng không cho là không phải không phải.’ ‘Không có thế giới khác… (như trên)...’ ‘Vừa có vừa không có thế giới khác… (như trên)...’ ‘Không phải có cũng không phải không có thế giới khác… (như trên)...’ ‘Có các chúng sanh hóa sanh… (như trên)...’ ‘Không có các chúng sanh hóa sanh… (như trên)...’ ‘Vừa có vừa không có các chúng sanh hóa sanh… (như trên)...’ ‘Không phải có cũng không phải không có các chúng sanh hóa sanh… (như trên)...’ ‘Có quả dị thục của các nghiệp thiện ác… (như trên)...’ ‘Không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác… (như trên)...’ ‘Vừa có vừa không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác… (như trên)...’ ‘Không phải có cũng không phải không có quả dị thục của các nghiệp thiện ác… (như trên)...’ ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết… (như trên)...’ ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết… (như trên)...’ ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết… (như trên)...’ ‘Nếu ông hỏi tôi rằng: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết hay sao?” và nếu tôi cho rằng: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết,” thì tôi sẽ trả lời cho ông rằng: “Như Lai không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.” Nhưng tôi không cho là như vậy, tôi không cho là như thế kia, tôi không cho là khác đi, tôi không cho là không phải, và tôi cũng không cho là không phải không phải.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ tư, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện trườn uốn như lươn, khi được hỏi về các vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện trườn uốn như lươn.”
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena, natthi ito bahiddhā … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the four grounds on which those ascetics and brahmins who are flip-floppers resort to verbal flip-flops and endless flip-flops whenever they’re asked a question. Any ascetics and brahmins who resort to verbal flip-flops and endless flip-flops do so on one or other of these four grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
66. “Này các Tỳ khưu, chính do bốn trường hợp này mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái ngụy biện trườn uốn như lươn, khi được hỏi về các vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện trườn uốn như lươn. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thuộc phái ngụy biện trườn uốn như lươn, khi được hỏi về các vấn đề ở chỗ này chỗ kia, lại rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện trườn uốn như lươn, thì tất cả họ đều rơi vào (sự ngụy biện) bằng chính bốn trường hợp này, hoặc bằng một trong các trường hợp ấy; ngoài những trường hợp này ra, không có trường hợp nào khác... (như trên)... nhờ đó mà những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng với sự thật, sẽ nói lên lời tán thán.”
3.1.5. Adhiccasamuppannavāda
3.1.5. Doctrines of Anomalous Origination
Thuyết Vô Nhân Sanh Khởi
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi?
Santi, bhikkhave, asaññasattā nāma devā. Saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati. Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte saññuppādaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati. So evamāha: ‘adhiccasamuppanno attā ca loko ca. Taṁ kissa hetu? Ahañhi pubbe nāhosiṁ, somhi etarahi ahutvā santatāya pariṇato’ti. Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti.
There are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about anomalous origination. They assert that the self and the cosmos arose anomalously on two grounds. And what are the two grounds on which they rely?
There are gods named ‘non-percipient beings’. When perception arises they pass away from that host of gods. It’s possible that one of those beings passes away from that host and is reborn in this place. Having done so, they go forth from the lay life to homelessness. By dint of keen, resolute, committed, and diligent effort, and right application of mind, they experience an immersion of the heart of such a kind that they recollect the arising of perception, but no further. They say: ‘The self and the cosmos arose anomalously. Why is that? Because formerly I didn’t exist, whereas now, having not existed, I’ve transformed into the state of existing.’ This is the first ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos arose anomalously.
67. “Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người theo thuyết vô nhân sanh khởi, họ tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân trên hai cơ sở. Và này các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy, do y cứ vào điều gì, do dựa vào điều gì mà họ là những người theo thuyết vô nhân sanh khởi, lại tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân trên hai cơ sở?”
Dutiye ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti? Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ evamāha: ‘adhiccasamuppanno attā ca loko cā’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ ṭhānaṁ, yaṁ āgamma yaṁ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti.
And what is the second ground on which they rely? It’s when some ascetic or brahmin relies on logic and inquiry. They speak of what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective: ‘The self and the cosmos arose anomalously.’ This is the second ground on which some ascetics and brahmins rely to assert that the self and the cosmos arose anomalously.
69. “Và này các Tỳ khưu, ở trường hợp thứ hai, do y cứ vào điều gì, do dựa vào điều gì mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái vô nhân sanh khởi lại tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân? Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó là người có lý luận, có thẩm sát. Vị ấy, dựa trên sự suy luận, theo đuổi sự thẩm sát, và bằng sự biện tài của riêng mình, đã nói như sau: ‘Tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân.’ Này các Tỳ khưu, đây là trường hợp thứ hai, do y cứ vào đó, do dựa vào đó mà một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết vô nhân sanh khởi đã tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân.”
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti, sabbe te imeheva dvīhi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena, natthi ito bahiddhā … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the two grounds on which those ascetics and brahmins who speculate and theorize about anomalous origination assert that the self and the cosmos arose anomalously. Any ascetics and brahmins who speculate and theorize about anomalous origination do so on one or other of these two grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
70. “Này các Tỳ khưu, chính do hai trường hợp này mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc phái vô nhân sanh khởi đã tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào thuộc phái vô nhân sanh khởi, tuyên bố rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách vô nhân, thì tất cả họ đều tuyên bố bằng chính hai trường hợp này, hoặc bằng một trong hai trường hợp ấy; ngoài những trường hợp này ra, không có trường hợp nào khác... (như trên)... nhờ đó mà những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng với sự thật, sẽ nói lên lời tán thán.”
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantamārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva aṭṭhārasahi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena, natthi ito bahiddhā.
These are the eighteen grounds on which those ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning propose various hypotheses concerning the first beginning. Any ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning do so on one or other of these eighteen grounds. Outside of this there is none.
71. Này các tỳ khưu, chính do những điều này mà các sa môn, bà la môn ấy, là những người suy xét về quá khứ, những người có tà kiến về quá khứ, đã dựa vào quá khứ để tuyên thuyết nhiều loại luận điểm biểu thị tà kiến bằng mười tám luận xứ. Này các tỳ khưu, bất cứ sa môn hay bà la môn nào là những người suy xét về quá khứ, những người có tà kiến về quá khứ, đã dựa vào quá khứ để tuyên thuyết nhiều loại luận điểm biểu thị tà kiến, thì tất cả các vị ấy đều tuyên thuyết bằng mười tám luận xứ này, hoặc bằng một trong số các luận xứ ấy, ngoài ra không có gì khác.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato pajānāti: ‘ime diṭṭhiṭṭhānā evaṅgahitā evaṁparāmaṭṭhā evaṅgatikā bhavanti evaṁabhisamparāyā’ti. Tañca tathāgato pajānāti, tato ca uttaritaraṁ pajānāti, tañca pajānanaṁ na parāmasati, aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā. Vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato.
The Realized One understands this: ‘If you hold on to and attach to these grounds for views it leads to such a destiny in the next life.’ He understands this, and what goes beyond this. And since he does not misapprehend that understanding, he has realized quenching within himself. Having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape from feelings, the Realized One is freed by not grasping.
72. Này các tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều ấy: ‘Những lập trường tà kiến này, khi được chấp thủ và bám víu như vậy, sẽ có những cảnh giới như vậy, sẽ có những đời sau như vậy.’ Như Lai biết rõ điều ấy, và biết rõ điều cao thượng hơn thế nữa, nhưng sự hiểu biết ấy Như Lai không bám víu. Và vì không bám víu, nên tự thân Như Lai đã chứng ngộ được sự tịch tịnh. Này các tỳ khưu, sau khi đã tuệ tri như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của các cảm thọ, Như Lai đã được giải thoát do không còn chấp thủ.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
73. Này các tỳ khưu, đây chính là những pháp sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm tư duy, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể liễu tri; những pháp mà Như Lai, sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, đã tuyên thuyết, và cũng là những pháp mà qua đó, những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, như thật, sẽ nói lên lời tán thán.
Dutiyabhāṇavāro.
The second recitation section.
Phần tụng thứ hai.
3.2. Aparantakappika
3.2. Theories About the Final End
Những người suy xét về tương lai
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino, aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi?
3.2.1. Saññīvāda
There are some ascetics and brahmins who speculate and theorize about the final end, and propose various hypotheses concerning the final end on forty-four grounds. And what are the forty-four grounds on which they rely?
3.2.1. Percipient Life After Death
74. Này các tỳ khưu, có một số sa môn, bà la môn là những người suy xét về tương lai, những người có tà kiến về tương lai; họ dựa vào tương lai để tuyên thuyết nhiều loại luận điểm biểu thị tà kiến bằng bốn mươi bốn luận xứ. Và những sa môn, bà la môn đáng kính ấy, do nương tựa vào điều gì, do dựa vào điều gì, mà là những người suy xét về tương lai, những người có tà kiến về tương lai, đã dựa vào tương lai để tuyên thuyết nhiều loại luận điểm biểu thị tà kiến bằng bốn mươi bốn luận xứ?
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who say there is life after death, and assert that the self lives on after death in a percipient form on sixteen grounds. And what are the sixteen grounds on which they rely?
75. Này các tỳ khưu, có một số sa môn, bà la môn theo thuyết hữu tưởng sau khi chết, họ chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là hữu tưởng, bằng mười sáu luận xứ. Và những sa môn, bà la môn đáng kính ấy, do nương tựa vào điều gì, do dựa vào điều gì, mà theo thuyết hữu tưởng sau khi chết, đã chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là hữu tưởng, bằng mười sáu luận xứ?
‘Rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā saññī’ti naṁ paññapenti.
‘Arūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā saññī’ti naṁ paññapenti.
‘Rūpī ca arūpī ca attā hoti …pe….
‘Nevarūpī nārūpī attā hoti ….
‘Antavā attā hoti ….
‘Anantavā attā hoti ….
‘Antavā ca anantavā ca attā hoti ….
‘Nevantavā nānantavā attā hoti ….
‘Ekattasaññī attā hoti ….
‘Nānattasaññī attā hoti ….
‘Parittasaññī attā hoti ….
‘Appamāṇasaññī attā hoti ….
‘Ekantasukhī attā hoti ….
‘Ekantadukkhī attā hoti ….
‘Sukhadukkhī attā hoti ….
‘Adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā saññī’ti naṁ paññapenti.
They assert: ‘The self is healthy and percipient after death, and it is formed …
formless …
both formed and formless …
neither formed nor formless …
finite …
infinite …
both finite and infinite …
neither finite nor infinite …
of unified perception …
of diverse perception …
of limited perception …
of limitless perception …
experiences nothing but happiness …
experiences absolute suffering …
experiences both happiness and suffering …
experiences neither happiness nor suffering.’
76. Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã có sắc, không bệnh hoạn sau khi chết, là hữu tưởng.’ Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã không có sắc, không bệnh hoạn sau khi chết, là hữu tưởng.’ Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã vừa có sắc vừa không có sắc...’ cho đến ‘...Tự ngã không có sắc cũng không phải không có sắc...’ ‘Tự ngã là hữu biên...’ ‘Tự ngã là vô biên...’ ‘Tự ngã vừa hữu biên vừa vô biên...’ ‘Tự ngã không hữu biên cũng không vô biên...’ ‘Tự ngã có tưởng đồng nhất...’ ‘Tự ngã có tưởng dị biệt...’ ‘Tự ngã có tưởng hữu hạn...’ ‘Tự ngã có tưởng vô lượng...’ ‘Tự ngã hoàn toàn an lạc...’ ‘Tự ngã hoàn toàn đau khổ.’ ‘Tự ngã vừa an lạc vừa đau khổ.’ ‘Tự ngã không khổ không lạc, không bệnh hoạn sau khi chết, là hữu tưởng.’
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti, sabbe te imeheva soḷasahi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena, natthi ito bahiddhā … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
3.2.2. Asaññīvāda
These are the sixteen grounds on which those ascetics and brahmins assert that the self lives on after death in a percipient form. Any ascetics and brahmins who assert that the self lives on after death in a percipient form do so on one or other of these sixteen grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
3.2.2. Non-Percipient Life After Death
77. Này các tỳ khưu, chính do những điều này mà các sa môn, bà la môn ấy, những người theo thuyết hữu tưởng sau khi chết, đã chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là hữu tưởng, bằng mười sáu luận xứ này. Này các tỳ khưu, bất cứ sa môn hay bà la môn nào theo thuyết hữu tưởng sau khi chết, chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là hữu tưởng, thì tất cả các vị ấy đều chủ trương bằng mười sáu luận xứ này, hoặc bằng một trong số các luận xứ ấy, ngoài ra không có gì khác... cho đến... và cũng là những pháp mà qua đó, những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, như thật, sẽ nói lên lời tán thán.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who say there is life after death, and assert that the self lives on after death in a non-percipient form on eight grounds. And what are the eight grounds on which they rely?
78. Này các tỳ khưu, có một số sa môn, bà la môn theo thuyết vô tưởng sau khi chết, họ chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là vô tưởng, bằng tám luận xứ. Và những sa môn, bà la môn đáng kính ấy, do nương tựa vào điều gì, do dựa vào điều gì, mà theo thuyết vô tưởng sau khi chết, đã chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là vô tưởng, bằng tám luận xứ?
‘Rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā asaññī’ti naṁ paññapenti.
‘Arūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā asaññī’ti naṁ paññapenti.
‘Rūpī ca arūpī ca attā hoti …pe….
‘Nevarūpī nārūpī attā hoti ….
‘Antavā attā hoti ….
‘Anantavā attā hoti ….
‘Antavā ca anantavā ca attā hoti ….
‘Nevantavā nānantavā attā hoti arogo paraṁ maraṇā asaññī’ti naṁ paññapenti.
They assert: ‘The self is healthy and non-percipient after death, and it is formed …
formless …
both formed and formless …
neither formed nor formless …
finite …
infinite …
both finite and infinite …
neither finite nor infinite.’
79. Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã có sắc, không bệnh hoạn sau khi chết, là vô tưởng.’ Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã không có sắc, không bệnh hoạn sau khi chết, là vô tưởng.’ Họ chủ trương rằng: ‘Tự ngã vừa có sắc vừa không có sắc...’ cho đến ‘...Tự ngã không có sắc cũng không phải không có sắc...’ ‘Tự ngã là hữu biên...’ ‘Tự ngã là vô biên...’ ‘Tự ngã vừa hữu biên vừa vô biên...’ ‘Tự ngã không hữu biên cũng không vô biên, không bệnh hoạn sau khi chết, là vô tưởng.’
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti, sabbe te imeheva aṭṭhahi vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena, natthi ito bahiddhā … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the eight grounds on which those ascetics and brahmins assert that the self lives on after death in a non-percipient form. Any ascetics and brahmins who assert that the self lives on after death in a non-percipient form do so on one or other of these eight grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
80. Này các tỳ khưu, chính do những điều này mà các sa môn, bà la môn ấy, những người theo thuyết vô tưởng sau khi chết, đã chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là vô tưởng, bằng tám luận xứ này. Này các tỳ khưu, bất cứ sa môn hay bà la môn nào theo thuyết vô tưởng sau khi chết, chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là vô tưởng, thì tất cả các vị ấy đều chủ trương bằng tám luận xứ này, hoặc bằng một trong số các luận xứ ấy, ngoài ra không có gì khác... cho đến... và cũng là những pháp mà qua đó, những người muốn tán thán Như Lai một cách đúng đắn, như thật, sẽ nói lên lời tán thán.
3.2.3. Nevasaññīnāsaññīvāda
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā, uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi?
3.2.3. Neither Percipient Nor Non-Percipient Life After Death
There are some ascetics and brahmins who say there is life after death, and assert that the self lives on after death in a neither percipient nor non-percipient form on eight grounds. And what are the eight grounds on which they rely?
81. Này các tỳ khưu, có một số sa môn, bà la môn theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, họ chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là phi tưởng phi phi tưởng, bằng tám luận xứ. Và những sa môn, bà la môn đáng kính ấy, do nương tựa vào điều gì, do dựa vào điều gì, mà theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, đã chủ trương rằng tự ngã sau khi chết là phi tưởng phi phi tưởng, bằng tám luận xứ?
‘Rūpī attā hoti arogo paraṁ maraṇā nevasaññīnāsaññī’ti naṁ paññapenti.
‘Arūpī attā hoti …pe….
‘Rūpī ca arūpī ca attā hoti ….
‘Nevarūpī nārūpī attā hoti ….
‘Antavā attā hoti ….
‘Anantavā attā hoti ….
‘Antavā ca anantavā ca attā hoti ….
‘Nevantavā nānantavā attā hoti arogo paraṁ maraṇā nevasaññīnāsaññī’ti naṁ paññapenti.
They assert: ‘The self is healthy and neither percipient nor non-percipient after death, and it is formed …
formless …
both formed and formless …
neither formed nor formless …
finite …
infinite …
both finite and infinite …
neither finite nor infinite.’
82. Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã có sắc, sau khi chết không hoại, là phi tưởng phi phi tưởng.’ Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không có sắc... (như trên)... Bản ngã vừa có sắc vừa không có sắc... Bản ngã không phải có sắc cũng không phải không có sắc... Bản ngã là hữu biên... Bản ngã là vô biên... Bản ngã vừa hữu biên vừa vô biên... Bản ngã không phải hữu biên cũng không phải vô biên, sau khi chết không hoại, là phi tưởng phi phi tưởng.’
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti, sabbe te imeheva aṭṭhahi vatthūhi … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
3.2.4. Ucchedavāda
These are the eight grounds on which those ascetics and brahmins assert that the self lives on after death in a neither percipient nor non-percipient form. Any ascetics and brahmins who assert that the self lives on after death in a neither percipient nor non-percipient form do so on one or other of these eight grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
3.2.4. Annihilationism
83. Này các Tỳ-kheo, chính do tám trường hợp này mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người chủ trương phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, đã tuyên bố về một bản ngã là phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết. Này các Tỳ-kheo, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, tuyên bố về một bản ngã là phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, tất cả họ đều tuyên bố dựa vào chính tám trường hợp này... (như trên)... là những pháp mà nhờ đó, người ta tán thán Như Lai một cách đúng đắn, chân thật.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi?
There are some ascetics and brahmins who are annihilationists. They assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being on seven grounds. And what are the seven grounds on which they rely?
84. Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thuyết đoạn diệt, họ tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự tiêu biến của một chúng sinh đang hiện hữu dựa trên bảy trường hợp. Và này các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người theo thuyết đoạn diệt, đã y cứ vào đâu, nương vào đâu mà tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự tiêu biến của một chúng sinh đang hiện hữu dựa trên bảy trường hợp?
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘yato kho, bho, ayaṁ attā rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘This self is formed, made up of the four principal states, and produced by mother and father. Since it’s annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
85. Này các Tỳ-khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó có lời nói và quan điểm như vầy: ‘Thưa ngài, vì rằng tự ngã này có sắc, do bốn đại chủng tạo thành, do cha mẹ sinh ra, nên khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā dibbo rūpī kāmāvacaro kabaḷīkārāhārabhakkho. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self that is heavenly, formed, sensual, consuming edible food. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
86. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Thưa ngài, có tự ngã ấy mà ngài nói, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, tự ngã này chưa bị đoạn diệt hoàn toàn chỉ với chừng ấy. Thưa ngài, có một tự ngã khác, thuộc cõi trời, có sắc, thuộc cõi Dục, ăn đoàn thực. Ngài không biết, không thấy nó. Tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, vì rằng tự ngã ấy, khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā dibbo rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self that is heavenly, formed, mind-made, whole in its major and minor limbs, not deficient in any faculty. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
87. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Thưa ngài, có tự ngã ấy mà ngài nói, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, tự ngã này chưa bị đoạn diệt hoàn toàn chỉ với chừng ấy. Thưa ngài, có một tự ngã khác, thuộc cõi trời, có sắc, do ý tạo thành, có đủ mọi chi phần lớn nhỏ, các căn không thiếu sót. Ngài không biết, không thấy nó. Tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, vì rằng tự ngã ấy, khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā “ananto ākāso”ti ākāsānañcāyatanūpago. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self which has gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that “space is infinite”, it’s reborn in the dimension of infinite space. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
88. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Thưa ngài, có tự ngã ấy mà ngài nói, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, tự ngã này chưa bị đoạn diệt hoàn toàn chỉ với chừng ấy. Thưa ngài, có một tự ngã khác, do đã vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các dị biệt tưởng, (quán niệm) “hư không là vô biên”, nên đã đạt đến Không Vô Biên Xứ. Ngài không biết, không thấy nó. Tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, vì rằng tự ngã ấy, khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma “anantaṁ viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanūpago. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self which has gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that “consciousness is infinite”, it’s reborn in the dimension of infinite consciousness. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
89. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Thưa ngài, có tự ngã ấy mà ngài nói, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, tự ngã này chưa bị đoạn diệt hoàn toàn chỉ với chừng ấy. Thưa ngài, có một tự ngã khác, do đã vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, (quán niệm) “thức là vô biên”, nên đã đạt đến Thức Vô Biên Xứ. Ngài không biết, không thấy nó. Tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, vì rằng tự ngã ấy, khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, so attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma “natthi kiñcī”ti ākiñcaññāyatanūpago. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self that has gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that “there is nothing at all”, it’s been reborn in the dimension of nothingness. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
90. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Thưa ngài, có tự ngã ấy mà ngài nói, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, tự ngã này chưa bị đoạn diệt hoàn toàn chỉ với chừng ấy. Thưa ngài, có một tự ngã khác, do đã vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, (quán niệm) “không có gì cả”, nên đã đạt đến Vô Sở Hữu Xứ. Ngài không biết, không thấy nó. Tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, vì rằng tự ngã ấy, khi thân hoại, nó bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, chỉ với chừng ấy, tự ngã này đã bị đoạn diệt hoàn toàn.’ Như vậy, một số người tuyên bố về sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho, bho, añño attā sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma “santametaṁ paṇītametan”ti nevasaññānāsaññāyatanūpago. Taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi. Tamahaṁ jānāmi passāmi. So kho, bho, attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti paraṁ maraṇā, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā sammā samucchinno hotī’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self becomes rightly annihilated. There is another self that has gone totally beyond the dimension of nothingness. Aware that “this is peaceful, this is sublime”, it passes on to the dimension of neither perception nor non-perception. You don’t know or see that. But I know it and see it. Since this self is annihilated and destroyed when the body breaks up, and doesn’t exist after death, that’s how this self becomes rightly annihilated.’ That is how some assert the annihilation of an existing being.
91. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền hữu, có thực cái ngã này mà hiền hữu nói đến, tôi không nói là nó không có; nhưng này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này chưa được đoạn diệt hoàn toàn. Này hiền hữu, có một cái ngã khác, do đã vượt qua hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ và đã đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ do tu tập rằng: ‘Cái này là tịch tịnh, cái này là vi diệu’. Cái ngã ấy, hiền hữu không biết, không thấy. Tôi biết, tôi thấy cái ngã ấy. Này hiền hữu, cái ngã ấy, sau khi thân hoại, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, không còn tồn tại sau khi chết. Này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này mới được đoạn diệt hoàn toàn’. Như vậy, một số vị chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti, sabbe te imeheva sattahi vatthūhi … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the seven grounds on which those ascetics and brahmins assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being. Any ascetics and brahmins who assert the annihilation, eradication, and nonexistence of an existing being do so on one or other of these seven grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
92. Này các Tỳ khưu, các Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết đoạn kiến ấy đã chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu dựa trên bảy luận cứ này. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào theo thuyết đoạn kiến, chủ trương sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu, tất cả họ đều chủ trương dựa trên bảy luận cứ này... (v.v.)... những điều mà khi nói lên một cách đúng đắn sẽ là lời tán thán Như Lai đúng như thật.
3.2.5. Diṭṭhadhammanibbānavāda
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi?
3.2.5. Extinguishment of Suffering in This Life
There are some ascetics and brahmins who speak of extinguishment in this life. They assert ultimate extinguishment for an existing being in this life on five grounds. And what are the five grounds on which they rely?
93. Này các Tỳ khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu dựa trên năm luận cứ. Và các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính ấy, nương vào đâu, y cứ vào đâu, mà theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu dựa trên năm luận cứ?
Idha, bhikkhave, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘yato kho, bho, ayaṁ attā pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hotī’ti. Ittheke sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘When this self amuses itself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, that’s how this self attains ultimate extinguishment in this life.’ That is how some assert ultimate extinguishment for an existing being in this life.
94. Này các Tỳ khưu, ở đây, có Sa-môn hay Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Này hiền hữu, khi nào cái ngã này được cung phụng, được đầy đủ năm dục trưởng, và hưởng thụ chúng, này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này đã đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số vị chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hoti. Taṁ kissa hetu? Kāmā hi, bho, aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā, tesaṁ vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Yato kho, bho, ayaṁ attā vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hotī’ti. Ittheke sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self attains ultimate extinguishment in this life. Why is that? Because sensual pleasures are impermanent, suffering, and perishable. Their decay and perishing give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, this self enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. That’s how this self attains ultimate extinguishment in this life.’ That is how some assert ultimate extinguishment for an existing being in this life.
95. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền hữu, có thực cái ngã này mà hiền hữu nói đến, tôi không nói là nó không có; nhưng này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này chưa đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại. Vì sao vậy? Này hiền hữu, vì các dục là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại; do sự biến đổi và đổi khác của chúng mà sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Này hiền hữu, khi nào cái ngã này, do ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái có tầm, có tứ, do ly dục sanh, có hỷ và lạc, này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này đã đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số vị chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hoti. Taṁ kissa hetu? Yadeva tattha vitakkitaṁ vicāritaṁ, etenetaṁ oḷārikaṁ akkhāyati. Yato kho, bho, ayaṁ attā vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hotī’ti. Ittheke sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self attains ultimate extinguishment in this life. Why is that? Because the placing of the mind and the keeping it connected there are coarse. But when the placing of the mind and keeping it connected are stilled, this self enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. That’s how this self attains ultimate extinguishment in this life.’ That is how some assert ultimate extinguishment for an existing being in this life.
96. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền hữu, có thực cái ngã này mà hiền hữu nói đến, tôi không nói là nó không có; nhưng này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này chưa đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại. Vì sao vậy? Vì trong trạng thái ấy còn có tầm và tứ, do đó nó được gọi là thô. Này hiền hữu, khi nào cái ngã này, do làm cho tầm và tứ lắng dịu, đạt được nội tĩnh nhất tâm, chứng và trú Nhị thiền, một trạng thái không tầm, không tứ, do định sanh, có hỷ và lạc, này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này đã đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số vị chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hoti. Taṁ kissa hetu? Yadeva tattha pītigataṁ cetaso uppilāvitattaṁ, etenetaṁ oḷārikaṁ akkhāyati. Yato kho, bho, ayaṁ attā pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti “upekkhako satimā sukhavihārī”ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hotī’ti. Ittheke sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self attains ultimate extinguishment in this life. Why is that? Because the rapture and emotional elation there are coarse. But with the fading away of rapture, this self enters and remains in the third absorption, where it meditates with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, “Equanimous and mindful, one meditates in bliss”. That’s how this self attains ultimate extinguishment in this life.’ That is how some assert ultimate extinguishment for an existing being in this life.
97. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền hữu, có thực cái ngã này mà hiền hữu nói đến, tôi không nói là nó không có; nhưng này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này chưa đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại. Vì sao vậy? Vì trong trạng thái ấy còn có hỷ, một sự hân hoan của tâm, do đó nó được gọi là thô. Này hiền hữu, khi nào cái ngã này, do ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm nhận sự lạc bằng thân, chứng và trú Tam thiền, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là ‘người trú xả, chánh niệm, lạc trú’, này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này đã đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số vị chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu.
Tamañño evamāha: ‘atthi kho, bho, eso attā, yaṁ tvaṁ vadesi, neso natthīti vadāmi; no ca kho, bho, ayaṁ attā ettāvatā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hoti. Taṁ kissa hetu? Yadeva tattha sukhamiti cetaso ābhogo, etenetaṁ oḷārikaṁ akkhāyati. Yato kho, bho, ayaṁ attā sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettāvatā kho, bho, ayaṁ attā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ patto hotī’ti. Ittheke sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti.
But someone else says to them: ‘<em>That</em> self of which you speak does exist, I don’t deny it. But that’s not how <em>this</em> self attains ultimate extinguishment in this life. Why is that? Because mentally partaking in that as ‘blissful’ is said to be coarse. But with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, this self enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s how this self attains ultimate extinguishment in this life.’ That is how some assert ultimate extinguishment for an existing being in this life.
98. Một người khác nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền hữu, có thực cái ngã này mà hiền hữu nói đến, tôi không nói là nó không có; nhưng này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này chưa đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại. Vì sao vậy? Vì trong trạng thái ấy còn có sự hướng tâm đến lạc, do đó nó được gọi là thô. Này hiền hữu, khi nào cái ngã này, do xả lạc, xả khổ, và do hỷ và ưu đã diệt từ trước, chứng và trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, này hiền hữu, chỉ với chừng ấy, cái ngã này đã đạt đến Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số vị chủ trương Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sanh hiện hữu.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti, sabbe te imeheva pañcahi vatthūhi … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the five grounds on which those ascetics and brahmins assert ultimate extinguishment for an existing being in this life. Any ascetics and brahmins who assert ultimate extinguishment for an existing being in this life do so on one or other of these five grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
99. Này các Tỳ khưu, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người chủ trương Niết-bàn hiện tại, đã trình bày Niết-bàn tối thượng hiện tại của chúng sanh hiện hữu bằng năm luận điểm này. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, những người chủ trương Niết-bàn hiện tại, trình bày Niết-bàn tối thượng hiện tại của chúng sanh hiện hữu, tất cả họ đều trình bày bằng chính năm luận điểm này... (v.v.)... nhờ đó mà những người nói lên lời tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng sự thật, sẽ nói lên.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva catucattārīsāya vatthūhi … pe… yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
These are the forty-four grounds on which those ascetics and brahmins who speculate and theorize about the final end propose various hypotheses concerning the final end. Any ascetics and brahmins who speculate and theorize about the final end do so on one or other of these forty-four grounds. Outside of this there is none. The Realized One understands this … And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
100. Này các Tỳ khưu, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người suy luận về tương lai, những người có quan điểm về tương lai, đã dựa vào tương lai mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau bằng bốn mươi bốn luận điểm này. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, những người suy luận về tương lai, những người có quan điểm về tương lai, dựa vào tương lai mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau, tất cả họ đều tuyên thuyết bằng chính bốn mươi bốn luận điểm này... (v.v.)... nhờ đó mà những người nói lên lời tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng sự thật, sẽ nói lên.
Imehi kho te, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā ca aparantakappikā ca pubbantāparantakappikā ca pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti dvāsaṭṭhiyā vatthūhi.
These are the sixty-two grounds on which those ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning and the final end propose various hypotheses concerning the first beginning and the final end.
101. Này các Tỳ khưu, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy, những người suy luận về quá khứ, những người suy luận về tương lai, những người suy luận về quá khứ và tương lai, những người có quan điểm về quá khứ và tương lai, đã dựa vào quá khứ và tương lai mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau bằng sáu mươi hai luận điểm này.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā pubbantakappikā vā aparantakappikā vā pubbantāparantakappikā vā pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva dvāsaṭṭhiyā vatthūhi, etesaṁ vā aññatarena; natthi ito bahiddhā.
Any ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning or the final end do so on one or other of these sixty-two grounds. Outside of this there is none.
102. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, những người suy luận về quá khứ, những người suy luận về tương lai, những người suy luận về quá khứ và tương lai, những người có quan điểm về quá khứ và tương lai, dựa vào quá khứ và tương lai mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau, tất cả họ đều tuyên thuyết bằng chính sáu mươi hai luận điểm này, hoặc bằng một trong số các luận điểm ấy; ngoài ra không có luận điểm nào khác.
Tayidaṁ, bhikkhave, tathāgato pajānāti: ‘ime diṭṭhiṭṭhānā evaṅgahitā evaṁparāmaṭṭhā evaṅgatikā bhavanti evaṁabhisamparāyā’ti. Tañca tathāgato pajānāti, tato ca uttaritaraṁ pajānāti, tañca pajānanaṁ na parāmasati, aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā. Vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto, bhikkhave, tathāgato.
The Realized One understands this: ‘If you hold on to and attach to these grounds for views it leads to such a destiny in the next life.’ He understands this, and what goes beyond this. And since he does not misapprehend that understanding, he has realized quenching within himself. Having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape from feelings, the Realized One is freed by not grasping.
103. Này các Tỳ khưu, Như Lai biết rõ điều này: ‘Những lập trường kiến giải này, khi được chấp thủ như vậy, khi được bám víu như vậy, sẽ có những xu hướng như vậy, sẽ có những cảnh giới tương lai như vậy.’ Như Lai biết rõ điều đó, và Ngài còn biết rõ điều cao thượng hơn thế nữa, nhưng Ngài không bám víu vào sự hiểu biết đó. Vì không bám víu, nên tự thân Ngài đã chứng ngộ được sự tịch tịnh. Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết rõ như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của các cảm thọ, Như Lai đã được giải thoát do không còn chấp thủ.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
4. Attālokapaññattivatthu
These are the principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. And those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
4. The Grounds For Assertions About the Self and the Cosmos
104. Này các Tỳ khưu, đây là những pháp sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm tư duy, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể thấu hiểu, mà Như Lai sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ đã tuyên thuyết; nhờ đó mà những người nói lên lời tán thán Như Lai một cách đúng đắn, đúng sự thật, sẽ nói lên.
4.1. Paritassitavipphanditavāra
4.1. Anxiety and Evasiveness
Phẩm về sự run rẩy và dao động
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
Now, these things are only the feeling of those who do not know or see, the anxiety and evasiveness of those under the sway of craving. Namely, when those ascetics and brahmins assert that the self and the cosmos are eternal on four grounds …
105. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người theo thuyết thường hằng, trình bày rằng tự ngã và thế giới là thường hằng bằng bốn luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
partially eternal on four grounds …
106. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người theo thuyết một phần thường hằng, một phần vô thường, trình bày rằng tự ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường bằng bốn luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
finite or infinite on four grounds …
107. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, trình bày rằng thế giới là hữu biên và vô biên bằng bốn luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or they resort to flip-flops on four grounds …
108. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người ngụy biện, khi được hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, đã rơi vào sự lẩn tránh bằng lời nói, sự ngụy biện, bằng bốn luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or they assert that the self and the cosmos arose anomalously on two grounds …
109. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người theo thuyết ngẫu nhiên sanh, trình bày rằng tự ngã và thế giới sanh khởi một cách ngẫu nhiên bằng hai luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
they speculate and theorize about the first beginning on these eighteen grounds …
110. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người suy luận về quá khứ, những người có quan điểm về quá khứ, dựa vào quá khứ mà tuyên thuyết nhiều loại luận điểm khác nhau bằng mười tám luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or they assert that the self lives on after death in a percipient form on sixteen grounds …
111. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người chủ trương sau khi chết còn có tưởng, trình bày rằng tự ngã sau khi chết còn có tưởng bằng mười sáu luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or that the self lives on after death in a non-percipient form on eight grounds …
112. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là những người chủ trương sau khi chết không có tưởng, trình bày rằng tự ngã sau khi chết không có tưởng bằng tám luận điểm, thì cảm thọ ấy của các vị Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính đó, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy và dao động.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or that the self lives on after death in a neither percipient nor non-percipient form on eight grounds …
113. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, họ tuyên bố tự ngã sau khi chết là phi tưởng phi phi tưởng, dựa trên tám luận cứ. Cảm thọ ấy của các vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy, dao động (do ái dục).
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or they assert the annihilation of an existing being on seven grounds …
114. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết đoạn diệt, họ tuyên bố sự đoạn diệt, sự hoại diệt, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu, dựa trên bảy luận cứ. Cảm thọ ấy của các vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy, dao động (do ái dục).
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
or they assert ultimate extinguishment for an existing being in this life on five grounds …
115. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết Niết bàn hiện tại, họ tuyên bố Niết bàn tối thượng trong hiện tại của một chúng sanh hiện hữu, dựa trên năm luận cứ. Cảm thọ ấy của các vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy, dao động (do ái dục).
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
they speculate and theorize about the final end on these forty-four grounds …
116. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người suy tưởng về tương lai, theo đuổi các quan điểm về tương lai, liên quan đến tương lai, họ nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau, dựa trên bốn mươi bốn luận cứ. Cảm thọ ấy của các vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy, dao động (do ái dục).
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā ca aparantakappikā ca pubbantāparantakappikā ca pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti dvāsaṭṭhiyā vatthūhi, tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ ajānataṁ apassataṁ vedayitaṁ taṇhāgatānaṁ paritassitavipphanditameva.
When those ascetics and brahmins speculate and theorize about the first beginning and the final end on these sixty-two grounds, these things are only the feeling of those who do not know or see, the anxiety and evasiveness of those under the sway of craving.
117. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người suy tưởng về quá khứ, và suy tưởng về tương lai, và suy tưởng về quá khứ và tương lai, theo đuổi các quan điểm về quá khứ và tương lai, liên quan đến quá khứ và tương lai, họ nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau, dựa trên sáu mươi hai luận cứ. Cảm thọ ấy của các vị Sa môn, Bà la môn đáng kính ấy, những người không biết, không thấy, bị ái dục chi phối, cũng chỉ là sự run rẩy, dao động (do ái dục).
4.2. Phassapaccayāvāra
4.2. Dependent On contact
Phần Về Duyên Xúc
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
Now, these things are dependent on contact. Namely, when those ascetics and brahmins assert that the self and the cosmos are eternal on four grounds …
118. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết thường kiến, họ tuyên bố tự ngã và thế giới là thường hằng, dựa trên bốn luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
partially eternal on four grounds …
119. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết một phần thường hằng, một phần vô thường, họ tuyên bố tự ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường, dựa trên bốn luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
finite or infinite on four grounds …
120. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết hữu biên và vô biên, họ tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên, dựa trên bốn luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or they resort to flip-flops on four grounds …
121. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, họ rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện không dứt, dựa trên bốn luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or they assert that the self and the cosmos arose anomalously on two grounds …
122. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết vô nhân sanh, họ tuyên bố tự ngã và thế giới sanh khởi không do nhân, dựa trên hai luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
they speculate and theorize about the first beginning on these eighteen grounds …
123. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người suy tưởng về quá khứ, theo đuổi các quan điểm về quá khứ, liên quan đến quá khứ, họ nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau, dựa trên mười tám luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or they assert that the self lives on after death in a percipient form on sixteen grounds …
124. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết có tưởng sau khi chết, họ tuyên bố tự ngã sau khi chết là có tưởng, dựa trên mười sáu luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or that the self lives on after death in a non-percipient form on eight grounds …
125. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết vô tưởng sau khi chết, họ tuyên bố tự ngã sau khi chết là vô tưởng, dựa trên tám luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or that the self lives on after death in a neither percipient nor non-percipient form on eight grounds …
126. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, họ tuyên bố tự ngã sau khi chết là phi tưởng phi phi tưởng, dựa trên tám luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or they assert the annihilation of an existing being on seven grounds …
127. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết đoạn diệt, họ tuyên bố sự đoạn diệt, sự hoại diệt, sự không tồn tại của một chúng sanh hiện hữu, dựa trên bảy luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
or they assert ultimate extinguishment for an existing being in this life on five grounds …
128. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết Niết bàn hiện tại, họ tuyên bố Niết bàn tối thượng trong hiện tại của một chúng sanh hiện hữu, dựa trên năm luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
they speculate and theorize about the final end on these forty-four grounds …
129. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người suy tưởng về tương lai, theo đuổi các quan điểm về tương lai, liên quan đến tương lai, họ nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau, dựa trên bốn mươi bốn luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā ca aparantakappikā ca pubbantāparantakappikā ca pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti dvāsaṭṭhiyā vatthūhi, tadapi phassapaccayā.
When those ascetics and brahmins speculate and theorize about the first beginning and the final end on these sixty-two grounds, that too is dependent on contact.
130. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người suy tưởng về quá khứ, và suy tưởng về tương lai, và suy tưởng về quá khứ và tương lai, theo đuổi các quan điểm về quá khứ và tương lai, liên quan đến quá khứ và tương lai, họ nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau, dựa trên sáu mươi hai luận cứ. Cảm thọ ấy cũng do duyên xúc mà có.
4.3. Netaṁṭhānaṁvijjativāra
4.3. Not Possible
Phần Về Không Có Trường Hợp Ấy
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
131. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết thường kiến, họ tuyên bố tự ngã và thế giới là thường hằng, dựa trên bốn luận cứ. Việc họ sẽ cảm thọ mà không có xúc, trường hợp này không xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā ekaccaṁ sassataṁ ekaccaṁ asassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
132. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa môn, Bà la môn nào là những người theo thuyết một phần thường hằng, một phần vô thường, họ tuyên bố tự ngã và thế giới một phần là thường hằng, một phần là vô thường, dựa trên bốn luận cứ. Việc họ sẽ cảm thọ mà không có xúc, trường hợp này không xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṁ lokassa paññapenti catūhi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
133. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết hữu biên và vô biên, tuyên bố thế giới là hữu biên và vô biên dựa trên bốn cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṁ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṁ āpajjanti amarāvikkhepaṁ catūhi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
134. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết ngụy biện, khi được hỏi vấn đề ở chỗ này chỗ kia, đã rơi vào sự ngụy biện bằng lời nói, sự ngụy biện không dứt khoát, dựa trên bốn cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṁ attānañca lokañca paññapenti dvīhi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
135. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết ngẫu nhiên sinh, tuyên bố tự ngã và thế giới là ngẫu nhiên sinh dựa trên hai cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
136. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết quá khứ, có quan điểm theo quá khứ, liên quan đến quá khứ, đã nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau dựa trên mười tám cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanaṁ saññiṁ attānaṁ paññapenti soḷasahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
137. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết hữu tưởng sau khi chết, tuyên bố tự ngã sau khi chết là có tưởng dựa trên mười sáu cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā, uddhamāghātanaṁ asaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
138. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết vô tưởng sau khi chết, tuyên bố tự ngã sau khi chết là vô tưởng dựa trên tám cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanaṁ nevasaññīnāsaññiṁ attānaṁ paññapenti aṭṭhahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
139. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết, tuyên bố tự ngã sau khi chết là phi tưởng phi phi tưởng dựa trên tám cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti sattahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
140. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết đoạn diệt, tuyên bố sự đoạn diệt, sự hủy hoại, sự không tồn tại của một chúng sinh đang hiện hữu dựa trên bảy cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā sato sattassa paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapenti pañcahi vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
141. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết Niết-bàn hiện tại, tuyên bố Niết-bàn tối thượng trong hiện tại của một chúng sinh đang hiện hữu dựa trên năm cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
142. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết tương lai, có quan điểm theo tương lai, liên quan đến tương lai, đã nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau dựa trên bốn mươi bốn cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā ca aparantakappikā ca pubbantāparantakappikā ca pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti dvāsaṭṭhiyā vatthūhi, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Now, when those ascetics and brahmins speculate and theorize about the first beginning and the final end on these sixty-two grounds, it is not possible that they should experience these things without contact.
143. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết quá khứ, và người theo thuyết tương lai, và người theo thuyết quá khứ và tương lai, có quan điểm theo quá khứ và tương lai, liên quan đến quá khứ và tương lai, đã nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở, việc họ có thể cảm nhận được điều đó mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
4.4. Diṭṭhigatikādhiṭṭhānavaṭṭakathā
4.4. Dependent Origination
Lời thuyết giảng về vòng luân hồi của sự chấp thủ vào các tà kiến.
Tatra, bhikkhave, ye te samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṁ attānañca lokañca paññapenti catūhi vatthūhi, yepi te samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekaccaasassatikā …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā antānantikā … yepi te samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā … yepi te samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā … yepi te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā … yepi te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā … yepi te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā … yepi te samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā … yepi te samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā … yepi te samaṇabrāhmaṇā diṭṭhadhammanibbānavādā … yepi te samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā … yepi te samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā ca aparantakappikā ca pubbantāparantakappikā ca pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti dvāsaṭṭhiyā vatthūhi, sabbe te chahi phassāyatanehi phussa phussa paṭisaṁvedenti tesaṁ vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Now, when those ascetics and brahmins speculate and theorize about the first beginning and the final end on these sixty-two grounds, all of them experience this by repeated contact through the six fields of contact. Their feeling is a condition for craving. Craving is a condition for grasping. Grasping is a condition for continued existence. Continued existence is a condition for rebirth. Rebirth is a condition for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be.
144. Này các Tỳ khưu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết thường hằng, tuyên bố tự ngã và thế giới là thường hằng dựa trên bốn cơ sở; và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết một phần thường hằng, một phần không thường hằng... cho đến... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết hữu biên và vô biên... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết ngụy biện... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết ngẫu nhiên sinh... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết quá khứ... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết hữu tưởng sau khi chết... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết vô tưởng sau khi chết... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết phi tưởng phi phi tưởng sau khi chết... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết đoạn diệt... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết Niết-bàn hiện tại... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết tương lai... và những Sa-môn, Bà-la-môn nào là người theo thuyết quá khứ và tương lai, có quan điểm theo quá khứ và tương lai, liên quan đến quá khứ và tương lai, đã nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở; tất cả họ đều cảm nhận qua sự xúc chạm, xúc chạm với sáu xứ xúc. Do duyên thọ của họ mà ái sinh khởi; do duyên ái mà thủ sinh khởi; do duyên thủ mà hữu sinh khởi; do duyên hữu mà sinh sinh khởi; do duyên sinh mà già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
5. Vivaṭṭakathādi
5. The End of the Round
Lời thuyết giảng về sự thoát khỏi vòng luân hồi, v.v.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ imehi sabbeheva uttaritaraṁ pajānāti.
When a mendicant truly understands the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape, they understand what lies beyond all these things.
145. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ-khưu biết rõ như thật về sự sinh khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xứ xúc, vị ấy biết một cách vượt trội hơn tất cả những vị này.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā pubbantakappikā vā aparantakappikā vā pubbantāparantakappikā vā pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva dvāsaṭṭhiyā vatthūhi antojālīkatā, ettha sitāva ummujjamānā ummujjanti, ettha pariyāpannā antojālīkatāva ummujjamānā ummujjanti.
All of these ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning or the final end are trapped in the net of these sixty-two grounds, so that wherever they emerge they are caught and trapped in this very net.
146. Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, dù là người theo thuyết quá khứ, hay người theo thuyết tương lai, hay người theo thuyết quá khứ và tương lai, có quan điểm theo quá khứ và tương lai, liên quan đến quá khứ và tương lai, đã nói lên nhiều loại ngôn từ biểu thị tà kiến khác nhau; tất cả họ đều bị bao trùm trong lưới bởi sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có trồi lên, họ cũng trồi lên ngay trong lưới này, bị dính mắc ở đây. Bị bao gồm ở đây, họ trồi lên ngay trong lưới này, bị bao trùm.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho kevaṭṭo vā kevaṭṭantevāsī vā sukhumacchikena jālena parittaṁ udakadahaṁ otthareyya. Tassa evamassa: ‘ye kho keci imasmiṁ udakadahe oḷārikā pāṇā, sabbe te antojālīkatā. Ettha sitāva ummujjamānā ummujjanti; ettha pariyāpannā antojālīkatāva ummujjamānā ummujjantī’ti; evameva kho, bhikkhave, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā pubbantakappikā vā aparantakappikā vā pubbantāparantakappikā vā pubbantāparantānudiṭṭhino pubbantāparantaṁ ārabbha anekavihitāni adhimuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva dvāsaṭṭhiyā vatthūhi antojālīkatā ettha sitāva ummujjamānā ummujjanti, ettha pariyāpannā antojālīkatāva ummujjamānā ummujjanti.
Suppose a deft fisherman or his apprentice were to cast a fine-meshed net over a small pond. They’d think: ‘Any sizable creatures in this pond will be trapped in the net. Wherever they emerge they are caught and trapped in this very net.’ In the same way, all of these ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning or the final end are trapped in the net of these sixty-two grounds, so that wherever they emerge they are caught and trapped in this very net.
Này các Tỳ-kheo, ví như một người đánh cá khéo léo hay người học việc của người đánh cá dùng tấm lưới có mắt nhỏ bao trùm một hồ nước nhỏ. Người ấy có thể nghĩ rằng: ‘Bất cứ loài thủy tộc lớn nào có trong hồ nước này, tất cả chúng đều nằm trong tấm lưới. Tại đây, dù chúng có trồi lên, chúng vẫn nằm trong tấm lưới; tại đây, chúng bị bao vây, dù chúng có trồi lên, chúng vẫn nằm trong tấm lưới.’ Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào suy luận về quá khứ, hay suy luận về tương lai, hay suy luận về cả quá khứ lẫn tương lai, là người có quan điểm về quá khứ và tương lai, khi đề cập đến quá khứ và tương lai bằng nhiều lời khẳng định theo kiến chấp, tất cả họ đều nằm trong tấm lưới gồm sáu mươi hai kiến xứ này. Tại đây, dù họ có trồi lên, họ vẫn nằm trong tấm lưới này; tại đây, họ bị bao vây, dù họ có trồi lên, họ vẫn nằm trong tấm lưới này.
Ucchinnabhavanettiko, bhikkhave, tathāgatassa kāyo tiṭṭhati. Yāvassa kāyo ṭhassati, tāva naṁ dakkhanti devamanussā. Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā na naṁ dakkhanti devamanussā.
The Realized One’s body remains, but his leash to existence has been cut off. As long as his body remains he will be seen by gods and humans. But when his body breaks up, after life has ended, gods and humans will see him no more.
147. Này các Tỳ khưu, thân của Như Lai vẫn tồn tại, với dây dẫn đến tái sanh đã được cắt đứt. Chừng nào thân của ngài còn tồn tại, chừng đó chư thiên và loài người sẽ còn thấy ngài. Sau khi thân hoại mạng chung, khi mạng sống đã chấm dứt, chư thiên và loài người sẽ không còn thấy ngài nữa.
Seyyathāpi, bhikkhave, ambapiṇḍiyā vaṇṭacchinnāya yāni kānici ambāni vaṇṭapaṭibandhāni, sabbāni tāni tadanvayāni bhavanti; evameva kho, bhikkhave, ucchinnabhavanettiko tathāgatassa kāyo tiṭṭhati, yāvassa kāyo ṭhassati, tāva naṁ dakkhanti devamanussā, kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā na naṁ dakkhanti devamanussā”ti.
When the stalk of a bunch of mangoes is cut, all the mangoes attached to the stalk will follow along. In the same way, the Realized One’s body remains, but his leash to existence has been cut off. As long as his body remains he will be seen by gods and humans. But when his body breaks up, after life has ended, gods and humans will see him no more.”
Này các Tỳ khưu, ví như một chùm xoài, khi cuống đã bị cắt, tất cả những quả xoài nào còn dính liền với cuống đều đi theo cuống ấy. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, thân của Như Lai vẫn tồn tại, với dây dẫn đến tái sanh đã được cắt đứt. Chừng nào thân của ngài còn tồn tại, chừng đó chư thiên và loài người sẽ còn thấy ngài. Sau khi thân hoại mạng chung, khi mạng sống đã chấm dứt, chư thiên và loài người sẽ không còn thấy ngài nữa.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, ko nāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ atthajālantipi naṁ dhārehi, dhammajālantipi naṁ dhārehi, brahmajālantipi naṁ dhārehi, diṭṭhijālantipi naṁ dhārehi, anuttaro saṅgāmavijayotipi naṁ dhārehī”ti.
Idamavoca bhagavā.
When he had spoken, Venerable Ānanda said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! What is the name of this exposition of the teaching?”
“Well then, Ānanda, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Net of Meaning’, or else ‘The Net of the Teaching’, or else ‘The Divine Net’, or else ‘The Net of Views’, or else ‘The Supreme Victory in Battle’.”
That is what the Buddha said.
148. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên là gì?' 'Này Ānanda, vì vậy, con hãy ghi nhớ pháp môn này là Lưới Lợi Ích (Atthajāla), hãy ghi nhớ là Lưới Chánh Pháp (Dhammajāla), hãy ghi nhớ là Lưới Phạm Thiên (Brahmajāla), hãy ghi nhớ là Lưới Tà Kiến (Diṭṭhijāla), và hãy ghi nhớ là Cuộc Chiến Thắng Vô Thượng (Anuttaro Saṅgāmavijayo).' Thế Tôn đã nói như vậy.
149. Các Tỳ khưu ấy, với tâm hoan hỷ, đã tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Và trong khi bài pháp thoại này đang được thuyết giảng, mười ngàn thế giới đã rung chuyển.
Brahmajālasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Phạm Võng, bài kinh thứ nhất, chấm dứt.