- Dīgha Nikāya 3
Ambaṭṭhasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Ambaṭṭhasutta
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Icchànankala. Tại đây, Thế Tôn ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala.
SC 2Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti ở tại Ukkaṭṭḥa, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi tức.
SC 3PTS cs 2~2 Bà-la-môn Pokkharasāti nghe đồn: Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Icchànankala, ở tại Icchànankala trong khu rừng tên là Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết, Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”.
SC 4PTS cs 3~3 Lúc bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha (A-ma-trú) là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasāti, một vị đọc tụng Thánh điển, chấp trì chú thuật, tinh thông ba tập Vệ đà với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này độc đáo về ba minh và được công nhận như vậy khiến các thân giáo sư phải nói: “Ðiều gì ta biết, ngươi cũng biết; điều gì ngươi biết, ta cũng biết”.
SC 5PTS cs 4~4 Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasāti nói với thanh niên Ambaṭṭha: “Này Ambaṭṭha thân yêu, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca, nay đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đã đến tại Icchànankala trú tại Icchànankala. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, … Phật, Thế Tôn. Ngài đã chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự chứng ngộ rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy thì rất quý”. Này Ambaṭṭha thân yêu, hãy đi đến gặp Sa-môn Gotama, và tìm hiểu lời đồn về Tôn giả Gotama là như vậy hay không phải như vậy. Nhờ vậy, chúng ta sẽ được biết về Tôn giả Gotama”.
SC 6PTS cs 5~5 - Làm thế nào con được biết về Tôn giả Gotama, được biết lời đồn về Tôn giả Gotama như vậy là đúng hay không, có phải Tôn giả Gotama là như vậy, hay không phải như vậy?
SC 7- Ambaṭṭha thân yêu, theo truyền thống của chúng ta về ba mươi hai tướng của vị đại nhân, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào khác. Nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống, thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với chánh pháp, không dùng gậy, không dùng dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời. Này Ambaṭṭha thân yêu, ta đã cho con chú thuật. Con đã nhận những chú thuật ấy.
SC 8PTS cs 6~6 - Thưa vâng.
SC 9Thanh niên Ambaṭṭha vâng theo lời của Bà-la-môn Pokkharasāti, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasāti, hướng thân về phía hữu, cỡi xe ngựa cái và cùng một số đông thanh niên khác đi đến khu rừng Icchànankala. Ði xe đến chỗ không còn đi được xe, Ambaṭṭha liền xuống xe đi bộ và đến tại tịnh xá.
SC 10PTS cs 7~7 Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Thanh niên Ambaṭṭha liền đến các Tỷ-kheo ấy và hỏi: “Các Hiền giả, nay Tôn gả Gotama ở tại chỗ nào? Chúng tôi đến đây để yết kiến Tôn giả Gotama”.
SC 11PTS cs 8~8 Các Tỷ-kheo liền nghĩ: “Thanh niên Ambaṭṭha này thuộc một gia đình có danh tiếng, là đệ tử của Bà-la-môn Pokkharasāti, một vị cũng có danh tiếng. Một cuộc đối thoại như vậy giữa Thế Tôn và con một quý tộc như vậy, không có khó khăn gì”. Những Tỷ-kheo ấy nói với thanh niên Ambaṭṭha: “Này Ambaṭṭha, tịnh xá đóng cửa kia là chỗ ở của Ngài. Hãy đến đó một cách yên lặng, không vượt qua hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa, Thế Tôn sẽ mở cửa cho ông”.
SC 12PTS cs 9~9 Thanh niên Ambaṭṭha liền đi đến tịnh xá đóng cửa ấy một cách yên lặng, không vượt quá hành lang, đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Thế Tôn mở cửa và thanh niên Ambaṭṭha bước vào. Các thanh niên khác cũng bước theo, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn thanh niên Ambaṭṭha thời đi qua đi lại, thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Thế Tôn đang ngồi.
SC 13PTS cs 10~10 Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 14—Có phải, đối với các bậc Bà-la-môn trưởng lão, đứng tuổi, các bậc giáo sư và tổ sư, ngươi cũng nói chuyện như vậy, như ngươi đã đi qua lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi, hay đứng lại thốt ra những lời hỏi thăm nhát gừng trong khi Ta đang ngồi?
SC 15- Không phải vậy, này Gotama. Phải đi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đi. Phải đứng mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang đứng. Phải ngồi mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang ngồi. Phải nằm mà nói chuyện với một vị Bà-la-môn, này Gotama, nếu vị ấy đang nằm. Chỉ với những vị Sa-môn hèn hạ, trọc đầu, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân của bà con ta, thì ta mới nói chuyện như vậy, như với ngươi, Gotama”.
SC 16PTS cs 11~11 - Này Ambaṭṭha, hình như ngươi đến đây với một ý định gì? Ngươi hãy khéo tác ý đến mục đích đã đưa ngươi đến đây. Thanh niên Ambaṭṭha này thật vô giáo dục, dầu nó tự cho là có giáo dục. Như vậy là vô giáo dục, có gì khác nữa!
SC 17PTS cs 12~12 Thanh niên Ambaṭṭha bị Thế Tôn gọi là vô giáo dục như vậy, liền phẫn nộ, tức tối, muốn nhục mạ Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn, công kích Thế Tôn, và nghĩ: “Sa-môn Gotama có ác ý đối với ta”, liền nói với Thế Tôn
SC 18—Này Gotama, thô bạo là dòng họ Thích ca; này Gotama, ác độc là dòng họ Thích ca; này Gotama, khinh suất là dòng họ Thích ca; này Gotama hung dữ là dòng họ Thích ca. Là đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, dòng họ Thích ca không kính nhường Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi dòng họ Thích ca này, những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn.
SC 19Như vậy, thanh niên Ambaṭṭha lần đầu tiên đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện..
SC 20PTS cs 13~13 - Này Ambaṭṭha, dòng họ Thích ca đã làm gì phật lòng ngươi?
SC 21- Này Gotama, một thời ta đi đến Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) có việc phải làm cho thầy ta là Bà-la-môn Pokkharasāti, và đến tại công hội trường của dòng họ Thích. Lúc bấy giờ một số đông dòng họ Thích ca và thanh niên Thích ca đang ngồi trên ghế cao tại công hội trường. Chúng cười với nhau, dùng ngón tay thọc cù nôn với nhau, ta nghĩ chắc chắn ta là mục tiêu cho chúng đùa giỡn với nhau, lại không ai mời ta ngồi. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp, khi chúng Thích ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không cúng dường Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn.
SC 22Như vậy thanh niên Ambaṭṭha lần thứ hai đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.
SC 23PTS cs 14~14 - Này Ambaṭṭha, cũng như con chim cáy, con chim cáy con có thể tự hát thỏa thích trong tổ của nó. Này Ambaṭṭha, Kapilavatthu thuộc dòng họ Thích ca. Thật không xứng để cho Ambaṭṭha phải phật lòng vì một vấn đề nhỏ mọn này.
SC 24PTS cs 15~15 - Này Gotama, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Này Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp Sát-đế-lỵ, Phệ-xá và Thủ-đà-la là để hầu hạ hạng Bà-la-môn. Này Gotama, như vậy thật không phải lẽ, thật không đúng pháp khi chúng Thích-ca này là những hạng đê tiện, thuộc thành phần đê tiện, lại không kính nhường Bà-la-môn, không cung kính Bà-la-môn, không lễ bái Bà-la-môn, không tôn trọng Bà-la-môn.
SC 25Như vậy, thanh niên Ambaṭṭha lần thứ ba đã buộc tội dòng họ Thích ca là đê tiện.
SC 26PTS cs 16~16 Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: “Thanh niên Ambaṭṭha này đã phỉ báng dòng họ Thích-ca đê tiện một cách quá đáng. Nay ta phải hỏi dòng họ của nó”. Rồi Thế Tôn hỏi thanh niên Ambaṭṭha
—Dòng họ ngươi là gì?
SC 27- Này Gotama, dòng họ ta là Kaṇhāyana.
SC 28- Này Ambaṭṭha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích ca là thầy của ngươi. Và ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Thích ca. Này thanh niên Ambaṭṭha, tổ tiên của Thích ca là vua Okkāka. Thuở xưa, này Ambaṭṭha, vua Okkāka muốn trao vương vị cho hoàng tử con bà hoàng hậu chính mà vua thương yêu, bèn đuổi ra khỏi nước những người con đầu của mình là Okkāmukha, Karaṇḍu, Hatthiniya, Sinipura. Bị tẩn xuất khỏi nước, những hoàng tử này đến sống tại một khu rừng lớn bên một hồ nước, trên sườn núi Hy-mã-lạp sơn. Vì sợ huyết thống của mình bị lẫn lộn với huyết thống khác, các vị hoàng tử này ăn nằm với những người chị của mình.
SC 29- Này Ambaṭṭha, một hôm vua Okkāka nói với vị đại thần tùy tùng: “Này các khanh, các hoàng tử hiện nay ở đâu?”: “Bạch Ðại vương, có một khu rừng lớn, bên một hồ nước trên sườn núi Hy-mã-lạp-sơn. Nay các hoàng tử ở tại chỗ ấy. Các hoàng tử, vì sợ huyết thống của mình lẫn lộn huyết thống khác nên ăn nằm với những người chị của mình”.
SC 30- Này Ambaṭṭha, vua Okkāka liền cảm hứng thốt lời tụng hân hoan: “Các hoàng tử thật là những Sakya (cứng như lõi cây sồi), các hoàng tử thật là những Sakya xuất chúng”. Này Ambaṭṭha, từ đó trở đi, các hoàng tử được gọi là Sakya và vua Okkāka là vua tổ của dòng họ Thích-ca. Này Ambaṭṭha, vua ấy có một nữ tỳ tên là Disà. Nữ tỳ này sinh hạ một người con da đen. Vừa mới sinh, Kaṇha liền nói: “Này mẹ, hãy rửa cho con; này mẹ hãy tắm cho con; này mẹ hãy gội sạch đồ bất tịnh này. Và con sẽ giúp ích cho mẹ”. Này Ambaṭṭha, vì người ta gọi những ác quỷ là ác quỷ nên người ta cũng gọi Kanhà là ác quỷ. Chúng nói như thế này: “Ðứa trẻ này, vừa mới sanh đã nói. Một Kaṇha vừa mới sanh”. Này Ambaṭṭha, từ đó trở đi chữ Kanhàyanà được biết đến. Và Kaṇha là tổ phụ của dòng họ Kaṇhāyana. Này Ambaṭṭha, nếu theo phụ mẫu hệ của ngươi về quá khứ, thời dòng họ Thích-ca là thầy của ngươi, và ngươi là con một nữ tỳ của dòng họ Thích ca.
SC 31PTS cs 17~17 Khi Thế Tôn nói vậy, những thanh niên nói với Thế Tôn
SC 32—Này Gotama, chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambaṭṭha là con một nữ tỳ. Này Gotama, thanh niên Ambaṭṭha sinh vào quý tộc, thanh niên Ambaṭṭha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambaṭṭha là bậc đa văn, thanh niên Ambaṭṭha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambaṭṭha là nhà bác học, thanh niên Ambaṭṭha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này.
SC 33PTS cs 18~18 Thế Tôn liền nói với những thanh niên ấy.
SC 34- Nếu những thanh niên các ngươi nghĩ: “Thanh niên Ambaṭṭha không được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambaṭṭha không thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambaṭṭha không phải là bậc đa văn, thanh niên Ambaṭṭha không phải là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambaṭṭha không phải là nhà bác học, thanh niên Ambaṭṭha không thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này”, thời thanh niên Ambaṭṭha hãy đứng ra một bên và để các thanh niên biện luận với Ta về vấn đề này. Nếu các ngươi nghĩ: “Thanh niên Ambaṭṭha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambaṭṭha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambaṭṭha là bậc đa văn, thanh niên Ambaṭṭha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambaṭṭha là nhà bác học, thanh niên Ambaṭṭha có thể biện luận với Gotama về vấn đề này”, thời các ngươi hãy đứng ra một bên và để thanh niên Ambaṭṭha biện luận với ta về vấn đề này.
SC 35PTS cs 19~19 - Này Gotama, thanh niên Ambaṭṭha được sanh vào quý tộc, thanh niên Ambaṭṭha thuộc con nhà danh giá, thanh niên Ambaṭṭha là bậc đa văn, thanh niên Ambaṭṭha là nhà hùng biện giỏi, thanh niên Ambaṭṭha là nhà bác học, thanh niên Ambaṭṭha có thể biện luận với Tôn giả Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ đứng im lặng. Thanh niên Ambaṭṭha sẽ cùng với Gotama biện luận về vấn đề này.
SC 36PTS cs 20~20 Thế Tôn liền nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 37—Này Ambaṭṭha, câu hỏi hợp lý này được đem ra hỏi ngươi dầu không muốn, ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời, hoặc trả lời tránh qua một vấn đề khác, hoặc giữ im lặng, hoặc bỏ đi, thời ngay tại chỗ, đầu ngươi sẽ bị bể ra làm bảy mảnh. Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?
SC 38Nghe nói vậy thanh niên Ambaṭṭha giữ im lặng. Lần thứ hai Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 39—Này Ambaṭṭha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?
SC 40Lần thứ hai thanh niên Ambaṭṭha giữ im lặng. Thế Tôn lại nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 41—Ambaṭṭha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambaṭṭha ai được Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
SC 42PTS cs 21~21 Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapānī đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambaṭṭha với ý định: “Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà thanh niên Ambaṭṭha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh”. Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambaṭṭha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapānī. Thanh niên Ambaṭṭha thấy vị thần ấy liền sợ hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế Tôn
SC 43—Tôn giả Gotama đã nói gì? Mong Tôn giả Gotama nói lại cho.
SC 44- Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?
SC 45- Tôn giả Gotama, con đã có nghe, đúng như Tôn giả Gotama đã nói. Chính từ đó nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà. Vị ấy là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà.
SC 46PTS cs 22~22 Khi nghe nói vậy, các thanh niên liền la hét lớn
SC 47—Người ta nói thanh niên Ambaṭṭha là tiện sanh, người ta nói thanh niên Ambaṭṭha là con dòng không phải quý phái; người ta nói thanh niên Ambaṭṭha là con một nữ tỳ của dòng họ Thích-ca; người ta nói dòng họ Thích-ca là chủ của thanh niên Ambaṭṭha. Chúng tôi không nghĩ rằng Sa-môn Gotama mà lời nói bao giờ cũng chân thực, lại không phải là người có thể tin được.
SC 48PTS cs 23~23 Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng: “Các thanh niên đã phỉ báng quá đáng thanh niên Ambaṭṭha là con một nữ tỳ rồi. Nay Ta hãy giải tỏa cho Ambaṭṭha”. Rồi Thế Tôn nói với các thanh niên
SC 49—Các thanh niên, các ngươi chớ có phỉ báng quá đáng thanh niên Ambaṭṭha là con một nữ tỳ. Kaṇha ấy trở thành một tu sĩ vĩ đại. Vị này đi về miền Nam, học các chú thuật Phạm thiên, rồi về yết kiến vua Okkāka và yêu cầu gả công chúa Khuddarùpi cho mình. Vua Okkāka vừa giận, vừa tức, mắng rằng: “Ngươi là ai, con đứa nữ tỳ của ta mà dám xin con gái Khuddarùpi của ta”, và vua liền lắp tên vào cung. Nhưng vua không thể bắn tên đi, cũng không thể cất mũi tên xuống. Khi bấy giờ, các thanh niên thị giả, các đại thần và tùy tùng đến thưa với ẩn sĩ Kanhà: “Ðại đức, hãy để cho vua an toàn! Ðại đức, hãy để cho vua được an toàn!”: “Nhà vua sẽ được an toàn, và nếu nhà vua bắn mũi tên xuống đất, thời toàn thể quốc độ nhà vua sẽ bị hạn, khô héo!”: “Ðại đức hãy để cho vua được an toàn! Hãy để cho quốc độ được an toàn!”: “Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn! Nhưng nếu nhà vua bắn tên lên trời, thời toàn thể quốc độ sẽ không mưa trong bảy năm!”: “Ðại đức, hãy để cho nhà vua được an toàn, hãy để cho quốc độ được an toàn! Và hãy để cho trời mưa!”: “Nhà vua sẽ được an toàn, quốc độ sẽ được an toàn và trời sẽ mưa. Nhưng vua hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử cũng sẽ được an toàn!”.
SC 50Khi bấy giờ, các thị giả trẻ tuổi, các đại thần nói với Okkāka: “Okkāka hãy nhắm cây cung đến phía thái tử. Một sợi lông của thái tử sẽ được an toàn”.
SC 51Vua Okkāka nhắm cây cung đến phía thái tử và một sợi lông của thái tử cũng được an toàn. Vua Okkāka hoảng sợ, khiếp đảm sự trừng phạt, thuận cho con gái Khuddàrùpi. Này các thanh niên, chớ có phỉ báng thanh niên Ambaṭṭha một cách quá đáng là con của một nữ tỳ. Kaṇha là một vị ẩn sĩ vĩ đại.
SC 52PTS cs 24~24 Khi bấy giờ, Như Lai nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 53—Ambaṭṭha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một thanh niên Sát-đế-lỵ cưới một thiếu nữ Bà-la-môn. Do sự sum họp ấy, một người con trai được sinh. Một người sanh từ một thanh niên Sát-đế-lỵ và một thiếu nữ Bà-la-môn có thể thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những người Bà-la-môn không?
SC 54- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.
SC 55- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng món đồ ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?
SC 56- Tôn giả Gotama, có mời.
SC 57- Và những người Bà-la-môn có dạy các chú thuật hay không?
SC 58- Tôn giả Gotama, có dạy.
SC 59- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng hay mở cửa?
SC 60- Tôn giả Gotama, mở cửa.
SC 61- Và những người Sát-đế-lỵ có quán đảnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?
SC 62- Tôn giả Gotama, thưa không.
- Tại sao không?
SC 63- Vì nó không được sinh (là Sát đế lỵ) từ mẫu hệ.
SC 64PTS cs 25~25 - Ambaṭṭha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây một thanh niên Bà-la-môn cưới một thiếu nữ Sát-đế-lỵ. Do sự sum họp này, một người con trai được sanh. Một người sanh từ một thanh niên Bà-la-môn và một thiếu nữ Sát-đế-lỵ có thể thọ lãnh chỗ ngồi hay nước giữa những Bà-la-môn hay không?
SC 65- Tôn giả Gotama, có thể thọ lãnh.
SC 66- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng theo thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?
SC 67- Tôn giả Gotama, có mời.
SC 68- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?
SC 69- Tôn giả Gotama, có dạy.
SC 70- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?
SC 71- Tôn giả Gotama, chúng mở cửa.
SC 72- Và những người Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đỉnh cho người ấy để thành một Sát-đế-lỵ không?
SC 73- Tôn giả Gotama, thưa không.
- Tại sao vậy?
SC 74- Tôn giả Gotama, vì không được sinh (là Sát đế lỵ) từ phụ hệ.
SC 75PTS cs 26~26 - Này Ambaṭṭha, nếu so sánh đàn bà với đàn bà, đàn ông với đàn ông, thì giai cấp Sát đế lỵ là ưu, Bà-la-môn là liệt. Này Ambaṭṭha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, giả sử do một nguyên nhân gì những người Bà-la-môn cạo đầu một người Bà-la-môn, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất ngươi ấy ra khỏi nước hay thành phố. Người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước giữa những người Bà-la-môn không?
- Tôn giả, không được.
SC 76- Và những người Bà-la-môn, có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết hay dùng các món ăn cúng dường, hay đồ ăn cúng cho thiên thần hay đồ ăn gửi đến như một tặng phẩm không?
SC 77- Tôn giả Gotama, không có mời.
SC 78- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?
SC 79- Tôn giả Gotama, không dạy.
SC 80- Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?
SC 81- Tôn giả Gotama, đóng cửa.
SC 82PTS cs 27~27 - Ambaṭṭha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây giả sử do một nguyên nhân gì, những người Sát đế lỵ cạo đầu một người Sát đế lỵ, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, người ấy có được thọ lãnh chỗ ngồi và nước uống giữa những người Bà-la-môn không?
SC 83- Tôn giả Gotama, được thọ lãnh.
SC 84- Và những người Bà-la-môn có mời người ấy dự tiệc cúng cho người chết, hay dùng những món ăn cúng dường, hoặc đồ ăn cúng cho thiên thần, hay đồ ăn gửi đến như những tặng phẩm không?
SC 85- Tôn giả Gotama, có mời.
SC 86- Và những người Bà-la-môn có dạy người ấy các chú thuật không?
SC 87- Tôn giả Gotama, có dạy
SC 88—Có đóng cửa giữa người ấy với những người đàn bà của chúng, hay mở cửa?
SC 89- Tôn giả Gotama, mở cửa.
SC 90- Này Ambaṭṭha, đến như vậy là sự đọa lạc tột cùng của người Sát-đế-lỵ, đã bị những người Sát-đế-lỵ cạo đầu, đánh người ấy với một bị tro, tẩn xuất người ấy ra khỏi nước hay thành phố, như vậy, này Ambaṭṭha, khi người Sát-đế-lỵ bị đọa lạc tột cùng, các Sát đế lỵ vẫn giữ phần ưu thắng và các Bà-la-môn vẫn ở địa vị hạ liệt.
SC 91PTS cs 28~28 - Này Ambaṭṭha, bài kệ này do Phạm thiên Sanam Kumāra thuyết:
SC 92“Ðối với chúng sanh tin tưởng ở giai cấp, Sát-đế-lỵ chiếm địa vị tối thắng ở nhân gian.
Những vị nào giới hạnh và trí tuệ đầy đủ, vị này chiếm địa vị tối thắng giữa Người và chư Thiên”.
SC 93PTS cs 1~29 - Tôn giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài kệ ấy là gì? Nghĩa chữ Tuệ trong bài kệ ấy là gì?
SC 94- Này Ambaṭṭha, một vị đã thành tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngã mạn với lời nói: “Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta”. Chỗ nào nói đến cưới hỏi hay rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận nghị đến sự thọ sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến ngã mạn với lời nói: “Ngươi bằng ta hay không bằng ta”.
SC 95Này Ambaṭṭha, những ai còn chấp trước lý thuyết thọ sanh, còn chấp trước lý thuyết giai cấp, còn chấp trước lý thuyết kiêu mạn, hoặc còn chấp trước cưới hỏi rước dâu, những người ấy còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. Này Ambaṭṭha, không chấp trước lý thuyết thọ sanh, không chấp trước lý thuyết giai cấp, không chấp trước lý thuyết kiêu mạn, không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.
SC 96PTS cs 2~30 - Tôn giả Gotama, thế nào là Giới đức trong bài kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?
SC 97- Ở đây, này Ambaṭṭha, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc:
SC 98… (xin xem kinh "Sa-môn quả"—kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98, tới câu: “Không có đời sống nào khác nữa” chỉ khác danh từ xưng hô và câu kết từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là “Như vậy, này Ambaṭṭha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh”.)
SC 99Này Ambaṭṭha, như vậy gọi là Tỷ-kheo thành tựu trí tuệ, thành tựu giới đức, thành tựu giới đức và trí tuệ. Này Ambaṭṭha, không có sự thành tựu trí đức nào khác siêu việt hơn, cao thượng hơn sự thành tựu trí đức này.
SC 100PTS cs 3~31 Này Ambaṭṭha, có bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Thế nào là bốn? Này Ambaṭṭha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, lại mang dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambaṭṭha, đó là nguyên nhân thứ nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
SC 101Lại nữa, này Ambaṭṭha ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, và chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta chỉ ăn củ, rễ và trái cây để sống”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambaṭṭha, đó là nguyên nhân thứ hai đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
SC 102Lại nữa, này Ambaṭṭha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, lại nhen lửa tại cuối làng hay sống thờ lửa ấy. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambaṭṭha đó là nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
SC 103Lại nữa Ambaṭṭha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt được pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, chưa thấu đạt pháp tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường, sống và nguyện: “Từ bốn phương nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại, thì ta sẽ cúng dường, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta”. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đã thành tựu trí đức. Này Ambaṭṭha, đó là nguyên nhân thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
SC 104Này Ambaṭṭha đó là bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
SC 105PTS cs 4~32 Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đã thành tựu vô thượng trí đức này không?—Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là gì, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con còn rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.
SC 106- Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, nhà ngươi có đem theo dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta và thầy ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống?”
SC 107- Bạch không, Tôn giả Gotama.
SC 108- Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: “Ta và thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây để sống không?”
SC 109- Bạch không, Tôn giả Gotama.
SC 110- Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, ngươi có nhen lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống thờ lửa ấy với thầy ngươi không?”
SC 111- Bạch không, Tôn giả Gotama.
SC 112- Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống và chưa thấu đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi có xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngã tư đường với lời nguyện: “Từ bốn phương, nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại—thì ta sẽ cúng dường tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta không?”
SC 113- Bạch không, Tôn giả Gotama.
SC 114- Này Ambaṭṭha, như vậy ngươi và thầy ngươi còn khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này, còn khiếm khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này, Ambaṭṭha, thế mà những lời này lại do thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti thốt ra: “Những hạng Sa-môn giả hiệu, đầu trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà con ta là ai mà có thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vệ đà”. Một vị tự mình chưa thành tựu được những pháp đưa đến sự thất bại (cho những pháp cao thượng hơn). Này Ambaṭṭha, ngươi xem, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti đã lỗi lầm như thế nào?
SC 115PTS cs 6~33 Này Ambaṭṭha, Bà-la-môn Pokkharasāti hưởng thọ sự cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho phép thầy ngươi diện kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời chỉ nói thầy ngươi ngang qua một tấm màn. Này Ambaṭṭha, tại sao vua Pasenadi nước Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambaṭṭha, ngươi xem thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti đã lỗi lầm như thế nào?
SC 116PTS cs 7~34 Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Như vua Pasenadi nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên lưng ngựa, hoặc đứng trên tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử, luận bàn quốc sự. Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một người Thủ đà hay đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng đứng tại chỗ ấy, cũng luận bàn quốc sự và nói: “Vua Pasenadi nước Kosala đã nói như vậy”. Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận bàn như lời luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó vương không?
SC 117- Không thể được, Tôn giả Gotama.
SC 118PTS cs 8~35 - Này Ambaṭṭha, nhà ngươi cũng vậy. Thuở xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm, những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Aṭṭhaka (A sá ca), Vāmaka (Bà-ma), Vāmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessamitta (Tì-bà-thẩm-sá), Yamataggi (Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la), Bharadvāja (Bạt-la-đà thẩm-xà), Vāsaṭṭha (Bà-ma-sá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu). Dầu ngươi có thể nói: “Ta, một đệ tử, học thuộc lòng những chú thuật của các vị ấy”, chỉ với điều kiện này, ngươi có thể được xem là một vị ẩn sĩ hay đã chứng địa vị của một ẩn sĩ không?
SC 119- Việc này không thể có được.
SC 120PTS cs 9~36 Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có được nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, những vị giáo sư và tổ sư nói đến không? Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả của chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessamitta, Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja, Vāsaṭṭha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải chuốt, tóc và râu khéo sửa soạn, trang điểm với vòng hoa và ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận hưởng và tham đắm năm món dục lạc, như người và thầy của ngươi hiện nay không?
SC 121- Không có vậy. Tôn giả Gotama.
SC 122PTS cs 10~37 - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng cơm nấu từ gạo trắng thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra, dùng các món canh, các món đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
SC 123- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
SC 124- Hay các vị ấy được những thiếu nữ có đường eo và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
SC 125- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
SC 126- Hay những vị ấy đi trên những xe do những con ngựa cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây roi và gậy dài như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
SC 127- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
SC 128- Hay những vị ấy sống được che chở trong những thành lũy có những chiến hào bao bọc, có những cửa thành hạ xuống, có những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
SC 129- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
SC 130- Như vậy, này Ambaṭṭha, ngươi và thầy ngươi không phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của nhà ẩn sĩ. Này Ambaṭṭha, nếu có gì nghi ngờ, có gì phân vân về Ta, hãy hỏi Ta và Ta sẽ trả lời.
SC 131PTS cs 11~38 Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambaṭṭha đi theo sau Thế Tôn đang đi kinh hành và tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
SC 132PTS cs 12~39 Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ rằng: “Thanh niên Ambaṭṭha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”.
SC 133Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Ambaṭṭha thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha liền nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ”. Và nói với Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng tôi rất bận, có nhiều việc cần phải làm”.
SC 134- Này Ambaṭṭha, hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải thời.
SC 135Rồi thanh niên Ambaṭṭha leo lên xe do ngựa cái kéo và ra đi.
SC 136PTS cs 13~40 Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasāti ra khỏi Ukkaṭṭḥa với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi tại hoa viên của mình và chờ đợi thanh niên Ambaṭṭha. Khi thanh niên Ambaṭṭha đi đến hoa viên, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn Pokkharasāti đang ngồi. Ðến xong, thanh niên Ambaṭṭha đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasāti và ngồi xuống một bên. Sau khi thanh niên Ambaṭṭha ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasāti nói
SC 137PTS cs 14~41—Này Ambaṭṭha thân mến, ngươi đã thấy Sa-môn Gotama chưa?
SC 138- Chúng con thấy Tôn giả Gotama rồi.
SC 139- Này Ambaṭṭha thân mến, có phải Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác?
SC 140- Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đã truyền đi, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như vậy, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải thiếu.
SC 141- Này Ambaṭṭha thân mến, con có cùng với Tôn giả Gotama đàm luận không?
SC 142- Con có đàm luận với Tôn giả Gotama.
SC 143- Này Ambaṭṭha thân mến, cuộc đàm luận ấy như thế nào?
SC 144Thanh niên Ambaṭṭha liền thuật cho Bà-la-môn Pokkharasāti rõ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả Gotama.
SC 145PTS cs 15~42 Nghe nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasāti nói với thanh niên Ambaṭṭha
SC 146—Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta. Người ta nói những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục. Này Ambaṭṭha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao nhiêu, lại càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cõi ác, đọa xứ, địa ngục.
SC 147Bà-la-môn Pokkharasāti tức giận, bực bội, dùng chân đá thanh niên Ambaṭṭha bổ lộn nhào rồi lập tức muốn đi gặp đến Thế Tôn.
SC 148PTS cs 16~43 Khi ấy, những người Bà-la-môn này thưa với Bà-la-môn Pokkharasāti: “Hôm nay thì giờ đã quá trễ để đi thăm Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả Pokkharasāti hãy đi thăm Sa-môn Gotama”.
SC 149Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasāti vẫn cho làm các món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà riêng, chở trên các xe, và dưới ánh sáng của những ngọn đuốc từ Ukkaṭṭḥa đi ra và đi đến khóm rừng Icchànankala. Vị này đi xe cho đến chỗ còn đi xe được rồi xuống xe đi bộ đến Thế Tôn. Khi đi đến, liền nói với Thế Tôn những lời hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasāti nói với Thế Tôn
SC 150PTS cs 17~44—Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh niên Ambaṭṭha có đến đây không?
SC 151- Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi, thanh niên Ambaṭṭha có đến đây.
SC 152- Tôn giả Gotama, Ngài có cùng với thanh niên Ambaṭṭha đàm luận không?
SC 153- Này Bà-la-môn, ta có đàm luận với thanh niên Ambaṭṭha.
SC 154- Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận của Ngài với thanh niên Ambaṭṭha như thế nào?
SC 155Cuộc đàm luận với thanh niên Ambaṭṭha như thế nào, Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn Pokkharasāti.
SC 156Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với Thế Tôn
SC 157—Tôn giả Gotama, thanh niên Ambaṭṭha thật là ngu si! Tôn giả Gotama, hãy tha thứ cho thanh niên Ambaṭṭha!
SC 158- Này Bà-la-môn, cầu cho thanh niên Ambaṭṭha được hạnh phúc.
SC 159PTS cs 18~45 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti tìm đếm ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, hai tướng là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
SC 160PTS cs 19~46 Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: rằng: “Bà-la-môn Pokkharasāti thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân ở nơi Ta, trừ hai tướng. Ðối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”. Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Pokkharasāti thấy tướng mã âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán.
SC 161Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti nghĩ rằng: “Sa môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, không phải không đầy đủ”, liền nói với Thế Tôn: “Hôm nay xin mời Tôn giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng cơm với con. Thế Tôn nhận lời với sự im lặng.
SC 162PTS cs 20~47 Khi Bà-la-môn Pokkharasāti được biết Thế Tôn đã nhận lời liền báo thì giờ cho Thế Tôn: Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Pokkharasāti. Khi đi đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn Pokkharasāti tự tay làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, còn các thanh niên Bà-la-môn thì tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.
SC 163PTS cs 21~48 Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Pokkharasāti đang ngồi một bên nghe, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasāti đã sẵn sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasāti: “Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt”.
SC 164PTS cs 22~49 Khi ấy Bà-la-môn Pokkharasāti, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Pokkharasāti liền bạch Phật
SC 165—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đình cư sĩ khác ở Ukkaṭṭḥa, mong Tôn giả Gotama cũng đến thăm các gia đình Pokkharasāti. Tại đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn sẽ đảnh lễ Thế Tôn Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc mời nước, hoặc khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc, lợi ích trong một thời gian lâu dài.
SC 166- Này Bà-la-môn lời ngươi nói thật là chí thiện.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Am-bát-tha
254. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu gồm khoảng năm trăm vị, Ngài đã đi đến một ngôi làng Bà la môn của xứ Kosala tên là Icchānaṅgala. Tại đó, đức Thế Tôn trú ngụ trong một khu rừng gần làng Icchānaṅgala.
Tích truyện về Pokkharasāti
Tena kho pana samayena brāhmaṇo pokkharasāti ukkaṭṭhaṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā pasenadinā kosalena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ. Assosi kho brāhmaṇo pokkharasāti:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato—‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.’ So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Now at that time the brahmin Pokkharasāti was living in Ukkaṭṭhā. It was a crown property given by King Pasenadi of Kosala, teeming with living creatures, full of hay, wood, water, and grain, a royal park endowed to a brahmin. Pokkharasāti heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Icchānaṅgala and is staying in a forest nearby. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
255. Vào lúc bấy giờ, Bà la môn Pokkharasāti trú ngụ tại Ukkaṭṭha, một nơi đông dân, có cỏ, củi, và nước, dồi dào ngũ cốc, là tài sản của vua, là quà tặng của vua, là một tặng phẩm cao quý do vua Pasenadi của xứ Kosala ban cho. Bà la môn Pokkharasāti đã nghe như sau: ‘Này các ông, Sa môn Gotama, một người con của dòng họ Sakya, đã xuất gia từ dòng họ Sakya, đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu gồm khoảng năm trăm vị, đã đến Icchānaṅgala và đang trú ngụ trong khu rừng gần làng Icchānaṅgala. Tiếng đồn tốt đẹp về Tôn giả Gotama đã được lan truyền như sau: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa môn, Bà la môn, cùng với loài người và chư Thiên. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành thay khi được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.’
Tena kho pana samayena brāhmaṇassa pokkharasātissa ambaṭṭho nāma māṇavo antevāsī hoti ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo anuññātapaṭiññāto sake ācariyake tevijjake pāvacane: “yamahaṁ jānāmi taṁ tvaṁ jānāsi; yaṁ tvaṁ jānāsi tamahaṁ jānāmī”ti.
Now at that time Pokkharasāti had a student named Ambaṭṭha as his resident pupil. He was one who recited and remembered the hymns, and had mastered in the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knew them word-by-word, and their grammar. He was well versed in cosmology and the marks of a great man. He had been authorized as a master in his own tutor’s scriptural heritage of the three Vedas with the words: “What I know, you know. And what you know, I know.”
256. Vào lúc bấy giờ, có một thanh niên tên là Ambaṭṭha, là đệ tử của Bà la môn Pokkharasāti. Chàng là người chuyên tụng đọc, thông thuộc các thánh điển, tinh thông ba tập Vệ đà cùng với các từ vựng (Nighaṇḍu), nghi thức (Keṭubha), ngữ âm và từ nguyên (Akkharappabheda), và lịch sử (Itihāsa) là thứ năm; là người rành rẽ về văn phạm (Padaka) và cú pháp (Veyyākaraṇa); là người thông suốt triết học Thế Tục (Lokāyata) và các tướng của bậc đại nhân. Về lời dạy của bậc thầy mình trong ba tập Vệ đà, chàng đã được thừa nhận và công nhận rằng: ‘Những gì ta biết, ngươi cũng biết; những gì ngươi biết, ta cũng biết.’
Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ āmantesi: “ayaṁ, tāta ambaṭṭha, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi icchānaṅgalaṁ anuppatto icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā, arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’ti. Ehi tvaṁ, tāta ambaṭṭha, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ jānāhi, yadi vā taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathāsantaṁyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā. Yadi vā so bhavaṁ gotamo tādiso, yadi vā na tādiso, tathā mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotamaṁ vedissāmā”ti.
Then Pokkharasāti addressed Ambaṭṭha, “Dear Ambaṭṭha, the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Icchānaṅgala and is staying in a forest nearby. He has this good reputation … It’s good to see such perfected ones. Please, dear Ambaṭṭha, go to the ascetic Gotama and find out whether or not he lives up to his reputation. Through you I shall learn about the worthy Gotama.”
257. Khi ấy, Bà la môn Pokkharasāti gọi thanh niên Ambaṭṭha và nói: ‘Này con Ambaṭṭha thân mến, Sa môn Gotama này, một người con của dòng họ Sakya, đã xuất gia từ dòng họ Sakya, đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu gồm khoảng năm trăm vị, đã đến Icchānaṅgala và đang trú ngụ trong khu rừng gần làng Icchānaṅgala. Tiếng đồn tốt đẹp về Tôn giả Gotama đã được lan truyền như sau: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa môn, Bà la môn, cùng với loài người và chư Thiên. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành thay khi được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy. Này con Ambaṭṭha thân mến, con hãy đến chỗ Sa môn Gotama; sau khi đến, hãy tìm hiểu về Sa môn Gotama, xem tiếng đồn về Tôn giả Gotama có đúng sự thật hay không, và Tôn giả Gotama có thật sự như vậy hay không, để chúng ta có thể biết về Tôn giả Gotama một cách chính xác.’
“Yathā kathaṁ panāhaṁ, bho, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ jānissāmi: ‘yadi vā taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathāsantaṁyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā. Yadi vā so bhavaṁ gotamo tādiso, yadi vā na tādiso’”ti?
“But sir, how shall I find out whether or not the ascetic Gotama lives up to his reputation?”
258. ‘Thưa ngài, làm thế nào con có thể biết được về Tôn giả Gotama, xem tiếng đồn về Tôn giả Gotama có đúng sự thật hay không, và Tôn giả Gotama có thật sự như vậy hay không?’
“Āgatāni kho, tāta ambaṭṭha, amhākaṁ mantesu dvattiṁsa mahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveyeva gatiyo bhavanti anaññā. Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni satta ratanāni bhavanti. Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ, hatthiratanaṁ, assaratanaṁ, maṇiratanaṁ, itthiratanaṁ, gahapatiratanaṁ, pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati. Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado. Ahaṁ kho pana, tāta ambaṭṭha, mantānaṁ dātā; tvaṁ mantānaṁ paṭiggahetā”ti.
“Dear Ambaṭṭha, the thirty-two marks of a great man have been handed down in our hymns. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other. If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extends to all four sides, he achieves stability in the country, and he possesses the seven treasures. He has the following seven treasures: the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander as the seventh treasure. He has over a thousand sons who are valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he reigns by principle, without rod or sword. But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who has cast off the world’s veil. But, dear Ambaṭṭha, I am the one who gives the hymns, and you are the one who receives them.”
‘Này con Ambaṭṭha thân mến, trong các thánh điển của chúng ta có nói đến ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, người nào sở hữu các tướng này thì chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu vị ấy sống tại gia, sẽ trở thành một vị vua Chuyển Luân Vương, một vị vua đúng pháp, một vị vua của chánh pháp, chinh phục bốn phương, chiến thắng, đạt được sự ổn định trong xứ sở, và sở hữu bảy báu vật. Bảy báu vật của vị ấy là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu là thứ bảy. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, dũng mãnh, có tướng mạo anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của kẻ thù. Vị ấy trị vì khắp cõi đất cho đến tận biển cả, không dùng roi, không dùng gươm, mà bằng chánh pháp. Nhưng nếu vị ấy từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy sẽ trở thành một bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, người đã vén mở bức màn che trong thế gian. Này con Ambaṭṭha thân mến, ta là người truyền dạy các thánh điển, còn con là người lãnh thọ các thánh điển.’
“Evaṁ, bho”ti kho ambaṭṭho māṇavo brāhmaṇassa pokkharasātissa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā brāhmaṇaṁ pokkharasātiṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā vaḷavārathamāruyha sambahulehi māṇavakehi saddhiṁ yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū abbhokāse caṅkamanti. Atha kho ambaṭṭho māṇavo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca: “kahaṁ nu kho, bho, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati? Tañhi mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya idhūpasaṅkantā”ti.
“Yes, worthy sir,” replied Ambaṭṭha. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled Pokkharasāti, keeping him on his right. He mounted a chariot drawn by mares and, together with several young students, set out for the forest near Icchānaṅgala. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot.
At that time several mendicants were walking mindfully in the open air. Then the student Ambaṭṭha went up to those mendicants and said, “Good fellows, where is the worthy Gotama at present? For we have come here to see him.”
259. "Thưa vâng, thưa ngài." Thanh niên Ambaṭṭha vâng lời bà-la-môn Pokkharasāti, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ bà-la-môn Pokkharasāti, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi lên xe ngựa cái, cùng với nhiều thanh niên khác đi đến khu rừng Icchānaṅgala. Đi xe đến hết đoạn đường dành cho xe, rồi xuống xe, đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ-khưu đang đi kinh hành ở ngoài trời. Bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha đi đến chỗ các vị tỳ-khưu ấy; sau khi đến, nói với các vị tỳ-khưu ấy rằng: "Thưa các ngài, hiện nay Tôn giả Gotama đang ở đâu? Chúng tôi đến đây là để yết kiến Tôn giả Gotama."
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “ayaṁ kho ambaṭṭho māṇavo abhiññātakolañño ceva abhiññātassa ca brāhmaṇassa pokkharasātissa antevāsī. Agaru kho pana bhagavato evarūpehi kulaputtehi saddhiṁ kathāsallāpo hotī”ti.
Te ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavocuṁ: “eso, ambaṭṭha, vihāro saṁvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭehi, vivarissati te bhagavā dvāran”ti.
Then those mendicants thought, “This Ambaṭṭha is from a well-known family, and he is the pupil of the well-known brahmin Pokkharasāti. The Buddha won’t mind having a discussion together with such gentlemen.”
They said to Ambaṭṭha, “Ambaṭṭha, that’s his dwelling, with the door closed. Approach it quietly, without hurrying; go onto the porch, clear your throat, and knock on the door-panel. The Buddha will open the door.”
260. Bấy giờ, các vị tỳ-khưu ấy khởi lên ý nghĩ: "Thanh niên Ambaṭṭha này thuộc dòng dõi danh tiếng, lại là đệ tử của bà-la-môn Pokkharasāti danh tiếng. Việc Thế Tôn nói chuyện với những thiện nam tử như vậy không phải là điều nặng nhọc." Các vị ấy nói với thanh niên Ambaṭṭha rằng: "Này Ambaṭṭha, tịnh xá kia có cửa đóng. Hãy đi đến đó một cách im lặng, không vội vã vào hiên, rồi hắng giọng và gõ vào thanh ngang cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho ngươi."
Atha kho ambaṭṭho māṇavo yena so vihāro saṁvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivari bhagavā dvāraṁ. Pāvisi ambaṭṭho māṇavo. Māṇavakāpi pavisitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ambaṭṭho pana māṇavo caṅkamantopi nisinnena bhagavatā kañci kañci kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāreti, ṭhitopi nisinnena bhagavatā kañci kañci kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāreti.
So he approached the Buddha’s dwelling, cleared his throat and knocked on the door-panel, and the Buddha opened the door. Ambaṭṭha and the young students entered the dwelling. The young students exchanged greetings with the Buddha, and when the greetings and polite conversation were over, sat down to one side. But while the Buddha was sitting, Ambaṭṭha spoke some polite words or other while walking around or standing.
261. Bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha đi đến tịnh xá có cửa đóng, đến gần một cách im lặng, không vội vã vào hiên, rồi hắng giọng và gõ vào thanh ngang cửa. Thế Tôn mở cửa. Thanh niên Ambaṭṭha đi vào. Các thanh niên khác cũng đi vào và cùng Thế Tôn nói lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Ambaṭṭha, vừa đi kinh hành vừa nói chuyện thân mật với Thế Tôn đang ngồi, vừa đứng vừa nói chuyện thân mật với Thế Tôn đang ngồi.
Atha kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “evaṁ nu te, ambaṭṭha, brāhmaṇehi vuddhehi mahallakehi ācariyapācariyehi saddhiṁ kathāsallāpo hoti, yathayidaṁ caraṁ tiṭṭhaṁ nisinnena mayā kiñci kiñci kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretī”ti?
So the Buddha said to him, “Ambaṭṭha, is this how you hold a discussion with elderly and senior brahmins, the tutors of tutors: walking around or standing while I’m sitting, speaking some polite words or other?”
262. Bấy giờ, Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha rằng: "Này Ambaṭṭha, có phải ngươi cũng nói chuyện với các vị bà-la-môn cao niên, lão thành, là thầy và thầy của thầy, giống như cách ngươi vừa đi vừa đứng mà nói chuyện thân mật với ta đang ngồi đây không?"
Lời buộc tội là người thấp kém lần thứ nhất.
“No hidaṁ, bho gotama. Gacchanto vā hi, bho gotama, gacchantena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṁ sallapitumarahati, ṭhito vā hi, bho gotama, ṭhitena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṁ sallapitumarahati, nisinno vā hi, bho gotama, nisinnena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṁ sallapitumarahati, sayāno vā hi, bho gotama, sayānena brāhmaṇo brāhmaṇena saddhiṁ sallapitumarahati. Ye ca kho te, bho gotama, muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, tehipi me saddhiṁ evaṁ kathāsallāpo hoti, yathariva bhotā gotamenā”ti.
“Atthikavato kho pana te, ambaṭṭha, idhāgamanaṁ ahosi, yāyeva kho panatthāya āgaccheyyātha, tameva atthaṁ sādhukaṁ manasi kareyyātha. Avusitavāyeva kho pana, bho, ayaṁ ambaṭṭho māṇavo vusitamānī kimaññatra avusitattā”ti.
“No, worthy Gotama. For it is proper for one brahmin to converse with another while both are walking, standing, sitting, or lying down. But as to these shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman, I converse with them as I do with the worthy Gotama.”
“But Ambaṭṭha, you must have come here for some purpose. You should focus on that. Though this Ambaṭṭha is unqualified, he thinks he’s qualified. What is that but lack of qualifications?”
263. "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy. Thưa Tôn giả Gotama, một bà-la-môn đang đi thì nên nói chuyện với một bà-la-môn đang đi; thưa Tôn giả Gotama, một bà-la-môn đang đứng thì nên nói chuyện với một bà-la-môn đang đứng; thưa Tôn giả Gotama, một bà-la-môn đang ngồi thì nên nói chuyện với một bà-la-môn đang ngồi; thưa Tôn giả Gotama, một bà-la-môn đang nằm thì nên nói chuyện với một bà-la-môn đang nằm. Còn đối với những sa-môn trọc đầu, những kẻ tu hành thấp kém, đen đúa, sinh ra từ gót chân của Phạm Thiên, thì tôi nói chuyện với họ cũng giống như cách tôi nói chuyện với Tôn giả Gotama vậy." "Này Ambaṭṭha, ngươi đến đây là có mục đích. Các ngươi đến đây vì mục đích nào thì hãy nên khéo tác ý đến mục đích ấy. Thật vậy, này các vị, thanh niên Ambaṭṭha này chưa được giáo huấn mà lại tự cho là đã được giáo huấn. Ngoài việc chưa được giáo huấn ra, còn có lý do nào khác nữa chăng?"
Atha kho ambaṭṭho māṇavo bhagavatā avusitavādena vuccamāno kupito anattamano bhagavantaṁyeva khuṁsento bhagavantaṁyeva vambhento bhagavantaṁyeva upavadamāno: “samaṇo ca me bho gotamo pāpito bhavissatī”ti bhagavantaṁ etadavoca: “caṇḍā, bho gotama, sakyajāti; pharusā, bho gotama, sakyajāti; lahusā, bho gotama, sakyajāti; bhassā, bho gotama, sakyajāti; ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṁ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyanti. Tayidaṁ, bho gotama, nacchannaṁ, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yadime sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṁ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantī”ti.
Itiha ambaṭṭho māṇavo idaṁ paṭhamaṁ sakyesu ibbhavādaṁ nipātesi.
When he said this, Ambaṭṭha became angry and upset with the Buddha because of being described as unqualified. He even attacked and badmouthed the Buddha himself, saying, “The ascetic Gotama will be worsted!” He said to the Buddha, “Worthy Gotama, the Sakyans are rude, harsh, touchy, and argumentative. Primitive they are, and primitive they remain! They don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—primitives that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”
And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “primitives” for the first time.
264. Bấy giờ, khi bị Thế Tôn nói là người chưa được giáo huấn, thanh niên Ambaṭṭha tức giận, không vui lòng, muốn chỉ trích Thế Tôn, muốn khinh miệt Thế Tôn, muốn khiển trách Thế Tôn, nghĩ rằng: "Ta sẽ làm cho sa-môn Gotama phải bị xúc phạm," rồi nói với Thế Tôn rằng: "Thưa Tôn giả Gotama, dòng họ Sakya thật hung dữ. Thưa Tôn giả Gotama, dòng họ Sakya thật thô bạo. Thưa Tôn giả Gotama, dòng họ Sakya thật nông nổi. Thưa Tôn giả Gotama, dòng họ Sakya thật lắm lời. Là những kẻ thấp kém, họ không tôn trọng, không quý trọng, không tôn kính, không cúng dường, không cung kính các bà-la-môn. Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thích hợp, điều này không xứng đáng, khi dòng họ Sakya này, là những kẻ thấp kém, lại không tôn trọng, không quý trọng, không tôn kính, không cúng dường, không cung kính các bà-la-môn." Như vậy, thanh niên Ambaṭṭha đã đưa ra lời buộc tội là người thấp kém lần thứ nhất đối với dòng họ Sakya.
Lời buộc tội là người thấp kém lần thứ hai.
“Kiṁ pana te, ambaṭṭha, sakyā aparaddhun”ti?
“Ekamidāhaṁ, bho gotama, samayaṁ ācariyassa brāhmaṇassa pokkharasātissa kenacideva karaṇīyena kapilavatthuṁ agamāsiṁ. Yena sakyānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁ. Tena kho pana samayena sambahulā sakyā ceva sakyakumārā ca sandhāgāre uccesu āsanesu nisinnā honti aññamaññaṁ aṅgulipatodakehi sañjagghantā saṅkīḷantā, aññadatthu mamaññeva maññe anujagghantā, na maṁ koci āsanenapi nimantesi. Tayidaṁ, bho gotama, nacchannaṁ, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yadime sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṁ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantī”ti.
Itiha ambaṭṭho māṇavo idaṁ dutiyaṁ sakyesu ibbhavādaṁ nipātesi.
“But Ambaṭṭha, how have the Sakyans wronged you?”
“This one time, worthy Gotama, I went to Kapilavatthu on some business for my tutor, the brahmin Pokkharasāti. I approached the Sakyans in their town hall. Now at that time several Sakyans and Sakyan princes were sitting on high seats, poking each other with their fingers, giggling and playing together. In fact, they even presumed to giggle at me, and didn’t invite me to a seat. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—primitives that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”
And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “primitives” for the second time.
265. "Này Ambaṭṭha, dòng họ Sakya đã làm gì sai với ngươi?" "Thưa Tôn giả Gotama, có một lần, vì một công việc của thầy tôi là bà-la-môn Pokkharasāti, tôi đã đi đến Kapilavatthu. Tôi đã đến nghị trường của dòng họ Sakya. Lúc bấy giờ, có nhiều vị thuộc dòng họ Sakya và các vương tử Sakya đang ngồi trên những chiếc ghế cao trong nghị trường, họ chọc ghẹo nhau bằng ngón tay, cười đùa và vui chơi. Tôi nghĩ rằng họ đang cười nhạo chính tôi. Không một ai mời tôi ngồi. Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thích hợp, điều này không xứng đáng, khi dòng họ Sakya này, là những kẻ thấp kém, lại không tôn trọng, không quý trọng, không tôn kính, không cúng dường, không cung kính các bà-la-môn." Như vậy, thanh niên Ambaṭṭha đã đưa ra lời buộc tội là người thấp kém lần thứ hai đối với dòng họ Sakya.
Lời buộc tội là người thấp kém lần thứ ba.
“Laṭukikāpi kho, ambaṭṭha, sakuṇikā sake kulāvake kāmalāpinī hoti. Sakaṁ kho panetaṁ, ambaṭṭha, sakyānaṁ yadidaṁ kapilavatthuṁ, nārahatāyasmā ambaṭṭho imāya appamattāya abhisajjitun”ti.
“Cattārome, bho gotama, vaṇṇā—khattiyā brāhmaṇā vessā suddā. Imesañhi, bho gotama, catunnaṁ vaṇṇānaṁ tayo vaṇṇā—khattiyā ca vessā ca suddā ca—aññadatthu brāhmaṇasseva paricārakā sampajjanti. Tayidaṁ, bho gotama, nacchannaṁ, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yadime sakyā ibbhā santā ibbhā samānā na brāhmaṇe sakkaronti, na brāhmaṇe garuṁ karonti, na brāhmaṇe mānenti, na brāhmaṇe pūjenti, na brāhmaṇe apacāyantī”ti.
Itiha ambaṭṭho māṇavo idaṁ tatiyaṁ sakyesu ibbhavādaṁ nipātesi.
“Even a little quail, Ambaṭṭha, speaks as she likes in her own nest. Kapilavatthu is the Sakyans’ own place, Ambaṭṭha. It’s not worthy of the Venerable Ambaṭṭha to lose his temper over such a small thing.”
“Worthy Gotama, there are these four classes: aristocrats, brahmins, peasants, and menials. Three of these classes—aristocrats, peasants, and menials—in fact succeed only when serving the brahmins. It is neither proper nor appropriate that the Sakyans—primitives that they are—don’t honor, respect, revere, worship, or venerate brahmins.”
And that’s how Ambaṭṭha denigrated the Sakyans with the word “primitives” for the third time.
266. Này Ambaṭṭha, ngay cả con chim cút mái nhỏ bé cũng có thể hót líu lo theo ý muốn trong tổ của nó. Này Ambaṭṭha, thành Kapilavatthu này là của riêng dòng họ Sakya, hiền giả Ambaṭṭha không nên tức giận vì một chuyện nhỏ nhặt như vậy. Thưa Tôn giả Gotama, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Thưa Tôn giả Gotama, trong bốn giai cấp này, ba giai cấp là Sát-đế-lợi, Phệ-xá, và Thủ-đà-la, thực sự chỉ là người hầu hạ cho giai cấp Bà-la-môn mà thôi. Thưa Tôn giả Gotama, điều này không thích hợp, điều này không xứng đáng, khi mà dòng họ Sakya này, là những kẻ thấp kém, lại không tôn trọng, không kính nể, không quý mến, không cúng dường, không phục tùng các vị Bà-la-môn. Cứ như thế, thanh niên Ambaṭṭha đã đưa ra lời buộc tội dòng họ Sakya là thấp kém đến lần thứ ba.
Thuyết về người con của nữ tỳ
Atha kho bhagavato etadahosi: “atibāḷhaṁ kho ayaṁ ambaṭṭho māṇavo sakyesu ibbhavādena nimmādeti, yannūnāhaṁ gottaṁ puccheyyan”ti.
Atha kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “kathaṁ gottosi, ambaṭṭhā”ti?
“Kaṇhāyanohamasmi, bho gotamā”ti.
“Porāṇaṁ kho pana te, ambaṭṭha, mātāpettikaṁ nāmagottaṁ anussarato ayyaputtā sakyā bhavanti; dāsiputto tvamasi sakyānaṁ. Sakyā kho pana, ambaṭṭha, rājānaṁ okkākaṁ pitāmahaṁ dahanti.
Then it occurred to the Buddha, “This Ambaṭṭha puts the Sakyans down way too much by calling them primitives. Why don’t I ask him about his own clan?”
So the Buddha said to him, “What is your clan, Ambaṭṭha?”
“I am a Kaṇhāyana, worthy Gotama.”
“But, recollecting the ancient name and clan of your mother and father, the Sakyans were the children of the masters, while you’re descended from the son of a slavegirl of the Sakyans. But the Sakyans regard King Okkāka as their grandfather.
267. Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: 'Thanh niên Ambaṭṭha này đang miệt thị dòng họ Sakya một cách quá đáng bằng lời lẽ thấp kém. Ta nên hỏi về dòng dõi của y.' Rồi Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha: 'Này Ambaṭṭha, ngươi thuộc dòng dõi nào?' 'Thưa Tôn giả Gotama, tôi thuộc dòng dõi Kaṇhāyana.' 'Này Ambaṭṭha, nếu truy ngược lại danh tánh và dòng dõi của cha mẹ ngươi thời xưa, thì dòng họ Sakya là con của chủ nhân ngươi; còn ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Sakya. Này Ambaṭṭha, dòng họ Sakya xem vua Okkāka là tổ phụ của họ.'
Bhūtapubbaṁ, ambaṭṭha, rājā okkāko yā sā mahesī piyā manāpā, tassā puttassa rajjaṁ pariṇāmetukāmo jeṭṭhakumāre raṭṭhasmā pabbājesi—okkāmukhaṁ karakaṇḍaṁ hatthinikaṁ sinisūraṁ. Te raṭṭhasmā pabbājitā himavantapasse pokkharaṇiyā tīre mahāsākasaṇḍo, tattha vāsaṁ kappesuṁ. Te jātisambhedabhayā sakāhi bhaginīhi saddhiṁ saṁvāsaṁ kappesuṁ.
Once upon a time, King Okkāka, wishing to divert the royal succession to the son of his most beloved queen, banished the elder princes from the realm—Okkāmukha, Karakaṇḍa, Hatthinika, and Sinisūra. They made their home beside a lotus pond on the slopes of the Himalayas, where there was a large grove of <i lang='pi' translate='no'>sakhua</i> trees. For fear of breaking their line of birth, they slept with their own (<i lang='pi' translate='no'>saka</i>) sisters.
Này Ambaṭṭha, thuở xưa, vua Okkāka muốn trao vương quốc cho con trai của vị hoàng hậu được vua yêu quý và sủng ái, nên đã trục xuất các vị hoàng tử trưởng ra khỏi vương quốc, đó là Okkāmukha, Karakaṇḍa, Hatthinika, và Sinisūra. Bị trục xuất khỏi vương quốc, họ đến sống tại một khu rừng sala lớn bên bờ một hồ nước dưới chân núi Hy-mã-lạp. Vì sợ dòng dõi bị pha tạp, họ đã chung sống với chính các chị em gái của mình.
Atha kho, ambaṭṭha, rājā okkāko amacce pārisajje āmantesi: ‘kahaṁ nu kho, bho, etarahi kumārā sammantī’ti?
‘Atthi, deva, himavantapasse pokkharaṇiyā tīre mahāsākasaṇḍo, tatthetarahi kumārā sammanti. Te jātisambhedabhayā sakāhi bhaginīhi saddhiṁ saṁvāsaṁ kappentī’ti.
Atha kho, ambaṭṭha, rājā okkāko udānaṁ udānesi: ‘sakyā vata, bho, kumārā, paramasakyā vata, bho, kumārā’ti. Tadagge kho pana, ambaṭṭha, sakyā paññāyanti; so ca nesaṁ pubbapuriso.
Then King Okkāka addressed his ministers and councillors, ‘Where, sirs, have the princes settled now?’
‘Your Majesty, there is a lotus pond on the slopes of the Himalayas, by a large grove of <i lang='pi' translate='no'>sakhua</i> trees. They’ve settled there. For fear of breaking their line of birth, they are sleeping with their own sisters.’
Then, Ambaṭṭha, King Okkāka expressed this heartfelt sentiment: ‘The princes are indeed Sakyans! The princes are indeed the best Sakyans!’ From that day on the Sakyans were recognized and he was their founder.
Này Ambaṭṭha, bấy giờ vua Okkāka hỏi các vị đại thần và triều thần: 'Này các khanh, hiện nay các hoàng tử đang ở đâu?' 'Tâu Đại vương, có một khu rừng sala lớn bên bờ một hồ nước dưới chân núi Hy-mã-lạp, hiện nay các hoàng tử đang sống ở đó. Vì sợ dòng dõi bị pha tạp, họ đã chung sống với chính các chị em gái của mình.' Bấy giờ, này Ambaṭṭha, vua Okkāka đã thốt lên lời cảm hứng: 'Ôi, các hoàng tử thật có năng lực (sakyā)! Ôi, các hoàng tử thật có năng lực phi thường (paramasakyā)!' Này Ambaṭṭha, kể từ đó, họ được biết đến là dòng họ Sakya; và vị vua ấy là tổ tiên đầu tiên của họ.
Rañño kho pana, ambaṭṭha, okkākassa disā nāma dāsī ahosi. Sā kaṇhaṁ nāma janesi. Jāto kaṇho pabyāhāsi: ‘dhovatha maṁ, amma, nahāpetha maṁ amma, imasmā maṁ asucismā parimocetha, atthāya vo bhavissāmī’ti. Yathā kho pana, ambaṭṭha, etarahi manussā pisāce disvā ‘pisācā’ti sañjānanti; evameva kho, ambaṭṭha, tena kho pana samayena manussā pisāce ‘kaṇhā’ti sañjānanti.
Te evamāhaṁsu: ‘ayaṁ jāto pabyāhāsi, kaṇho jāto, pisāco jāto’ti. Tadagge kho pana, ambaṭṭha, kaṇhāyanā paññāyanti, so ca kaṇhāyanānaṁ pubbapuriso. Iti kho te, ambaṭṭha, porāṇaṁ mātāpettikaṁ nāmagottaṁ anussarato ayyaputtā sakyā bhavanti, dāsiputto tvamasi sakyānan”ti.
Now, King Okkāka had a slavegirl named Disā. She gave birth to a boy named Black. When he was born, Black Boy said: ‘Wash me, mum, bathe me! Get this filth off of me! I will be useful for you!’ Whereas these days when people see goblins they recognize them as goblins, in those days they recognized goblins as ‘blackboys’.
They said: ‘He spoke as soon as he was born—a blackboy is born! A goblin is born!’ From that day on the Kaṇhāyanas were proclaimed, and he was their founder. That’s how, recollecting the ancient name and clan of your mother and father, the Sakyans were the children of the masters, while you’re descended from the son of a slavegirl of the Sakyans.”
Này Ambaṭṭha, vua Okkāka có một nữ tỳ tên là Disā. Nàng sinh một người con trai tên là Kaṇha. Vừa mới sinh ra, Kaṇha đã nói rằng: 'Mẹ ơi, hãy rửa cho con! Mẹ ơi, hãy tắm cho con! Mẹ ơi, hãy giải thoát con khỏi sự ô uế này! Con sẽ là người có ích cho mẹ.' Này Ambaṭṭha, cũng như ngày nay người ta thấy quỷ và nhận biết đó là 'quỷ' (pisāca); cũng vậy, này Ambaṭṭha, vào thời đó, người ta nhận biết quỷ là 'kaṇha'. Họ nói như sau: 'Đứa bé này vừa sinh ra đã nói, một kaṇha đã sinh ra, một con quỷ đã sinh ra!' Này Ambaṭṭha, kể từ đó, dòng họ Kaṇhāyana được biết đến, và Kaṇha ấy là tổ tiên đầu tiên của dòng họ Kaṇhāyana. Như vậy, này Ambaṭṭha, nếu truy ngược lại danh tánh và dòng dõi của cha mẹ ngươi thời xưa, thì dòng họ Sakya là con của chủ nhân ngươi; còn ngươi là con của một nữ tỳ của dòng họ Sakya.
Evaṁ vutte, te māṇavakā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “mā bhavaṁ gotamo ambaṭṭhaṁ atibāḷhaṁ dāsiputtavādena nimmādesi. Sujāto ca, bho gotama, ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca ambaṭṭho māṇavo bhotā gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
When he said this, those young students said to him, “Worthy Gotama, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a slavegirl. He’s well-born, a gentleman, learned, who enunciates well, and is astute. He is capable of debating with the worthy Gotama about this.”
268. Khi được nói như vậy, các thanh niên kia bạch với Thế Tôn rằng: 'Xin Tôn giả Gotama đừng miệt thị thanh niên Ambaṭṭha một cách quá đáng bằng lời lẽ 'con của nữ tỳ'. Thưa Tôn giả Gotama, thanh niên Ambaṭṭha là người sinh trưởng tốt đẹp, là con nhà gia thế, là người học rộng, là người có lời nói tao nhã, là người có trí tuệ, và thanh niên Ambaṭṭha có khả năng đối đáp với Tôn giả Gotama về vấn đề này.'
Atha kho bhagavā te māṇavake etadavoca: “sace kho tumhākaṁ māṇavakānaṁ evaṁ hoti: ‘dujjāto ca ambaṭṭho māṇavo, akulaputto ca ambaṭṭho māṇavo, appassuto ca ambaṭṭho māṇavo, akalyāṇavākkaraṇo ca ambaṭṭho māṇavo, duppañño ca ambaṭṭho māṇavo, na ca pahoti ambaṭṭho māṇavo samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun’ti, tiṭṭhatu ambaṭṭho māṇavo, tumhe mayā saddhiṁ mantavho asmiṁ vacane. Sace pana tumhākaṁ māṇavakānaṁ evaṁ hoti: ‘sujāto ca ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca ambaṭṭho māṇavo samaṇena gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun’ti, tiṭṭhatha tumhe; ambaṭṭho māṇavo mayā saddhiṁ paṭimantetū”ti.
So the Buddha said to them, “Well, young students, if you think that Ambaṭṭha is ill-born, not a gentleman, unlearned, a poor speaker, witless, and not capable of debating with me about this, then leave him aside and you can debate with me. But if you think that he’s well-born, a gentleman, learned, who enunciates well, is astute, and is capable of debating with me about this, then you should stand aside and let him debate with me.”
269. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các thanh niên ấy rằng: 'Này các thanh niên, nếu các ngươi nghĩ rằng: 'Thanh niên Ambaṭṭha sinh trưởng không tốt đẹp, không phải con nhà gia thế, ít học, lời nói không tao nhã, trí tuệ kém cỏi, và không có khả năng đối đáp với Sa-môn Gotama về vấn đề này,' thì hãy để Ambaṭṭha đứng sang một bên, các ngươi hãy thảo luận với ta về vấn đề này. Còn nếu các ngươi nghĩ rằng: 'Thanh niên Ambaṭṭha sinh trưởng tốt đẹp, là con nhà gia thế, học rộng, lời nói tao nhã, có trí tuệ, và có khả năng đối đáp với Sa-môn Gotama về vấn đề này,' thì các ngươi hãy đứng sang một bên; hãy để thanh niên Ambaṭṭha đối đáp với ta.'
“Sujāto ca, bho gotama, ambaṭṭho māṇavo, kulaputto ca ambaṭṭho māṇavo, bahussuto ca ambaṭṭho māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca ambaṭṭho māṇavo, paṇḍito ca ambaṭṭho māṇavo, pahoti ca ambaṭṭho māṇavo bhotā gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetuṁ, tuṇhī mayaṁ bhavissāma, ambaṭṭho māṇavo bhotā gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetū”ti.
“He is capable of debating you. We will be silent, and let Ambaṭṭha debate with the worthy Gotama about this.”
Thưa Tôn giả Gotama, thanh niên Ambaṭṭha là người sinh trưởng tốt đẹp, là con nhà gia thế, là người học rộng, là người có lời nói tao nhã, là người có trí tuệ, và thanh niên Ambaṭṭha có khả năng đối đáp với Tôn giả Gotama về vấn đề này. Chúng tôi sẽ giữ im lặng, xin hãy để thanh niên Ambaṭṭha đối đáp với Tôn giả Gotama về vấn đề này.
Atha kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “ayaṁ kho pana te, ambaṭṭha, sahadhammiko pañho āgacchati, akāmā byākātabbo. Sace tvaṁ na byākarissasi, aññena vā aññaṁ paṭicarissasi, tuṇhī vā bhavissasi, pakkamissasi vā ettheva te sattadhā muddhā phalissati. Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, kinti te sutaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṁ pubbapuriso”ti?
So the Buddha said to Ambaṭṭha, “Well, Ambaṭṭha, there’s a legitimate question that comes up. You won’t like it, but you ought to answer anyway. If you fail to answer—by dodging the issue, remaining silent, or leaving—your head will explode into seven pieces right here. What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the tutors of tutors, what is the origin of the Kaṇhāyanas, and who is their founder?”
270. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha rằng: ‘Này Ambaṭṭha, câu hỏi hợp lý này đã được đặt ra cho ngươi, dù không muốn ngươi cũng phải trả lời. Nếu ngươi không trả lời, hoặc trả lời quanh co, hoặc im lặng, hoặc bỏ đi, thì ngay tại đây, đầu của ngươi sẽ vỡ ra làm bảy mảnh. Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Ngươi đã nghe các vị Bà-la-môn lão thành, trưởng thượng, là thầy và thầy của các thầy, nói như thế nào? Dòng dõi Kaṇhāyana bắt nguồn từ đâu, và ai là tổ tiên của dòng dõi Kaṇhāyana?’
Evaṁ vutte, ambaṭṭho māṇavo tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, kinti te sutaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṁ pubbapuriso”ti? Dutiyampi kho ambaṭṭho māṇavo tuṇhī ahosi.
Atha kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “byākarohi dāni, ambaṭṭha, na dāni, te tuṇhībhāvassa kālo. Yo kho, ambaṭṭha, tathāgatena yāvatatiyakaṁ sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho na byākaroti, etthevassa sattadhā muddhā phalissatī”ti.
When he said this, Ambaṭṭha kept silent.
For a second time, the Buddha put the question, and for a second time Ambaṭṭha kept silent.
So the Buddha said to him, “Answer now, Ambaṭṭha. Now is not the time for silence. If someone fails to answer a legitimate question when asked three times by the Buddha, their head explodes into seven pieces there and then.”
Khi được hỏi như vậy, thanh niên Ambaṭṭha im lặng. Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại nói với thanh niên Ambaṭṭha rằng: ‘Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Ngươi đã nghe các vị Bà-la-môn lão thành, trưởng thượng, là thầy và thầy của các thầy, nói như thế nào? Dòng dõi Kaṇhāyana bắt nguồn từ đâu, và ai là tổ tiên của dòng dõi Kaṇhāyana?’ Lần thứ hai, thanh niên Ambaṭṭha vẫn im lặng. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với thanh niên Ambaṭṭha rằng: ‘Này Ambaṭṭha, bây giờ hãy trả lời đi. Bây giờ không phải là lúc để ngươi im lặng. Này Ambaṭṭha, bất cứ ai được Như Lai hỏi một câu hỏi hợp lý đến lần thứ ba mà không trả lời, thì ngay tại đây, đầu của người ấy sẽ vỡ ra làm bảy mảnh.’
Tena kho pana samayena vajirapāṇī yakkho mahantaṁ ayokūṭaṁ ādāya ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ ambaṭṭhassa māṇavassa upari vehāsaṁ ṭhito hoti: “sacāyaṁ ambaṭṭho māṇavo bhagavatā yāvatatiyakaṁ sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho na byākarissati, etthevassa sattadhā muddhaṁ phālessāmī”ti. Taṁ kho pana vajirapāṇiṁ yakkhaṁ bhagavā ceva passati ambaṭṭho ca māṇavo.
Now at that time the spirit Vajirapāṇī, holding a massive iron spear, burning, blazing, and glowing, stood in the air above Ambaṭṭha, thinking, “If this Ambaṭṭha doesn’t answer when asked a third time, I’ll blow his head into seven pieces there and then!” And both the Buddha and Ambaṭṭha could see Vajirapāṇī.
271. Lúc bấy giờ, dạ-xoa Vajirapāṇī tay cầm một cái chùy sắt lớn, rực lửa, cháy sáng, chói lòa, đứng trên không trung, phía trên thanh niên Ambaṭṭha, (nghĩ rằng): ‘Nếu thanh niên Ambaṭṭha này, được đức Thế Tôn hỏi một câu hỏi hợp lý đến lần thứ ba mà không trả lời, ta sẽ đập vỡ đầu hắn ra làm bảy mảnh ngay tại đây.’ Dạ-xoa Vajirapāṇī ấy, chỉ có đức Thế Tôn và thanh niên Ambaṭṭha thấy được.
Atha kho ambaṭṭho māṇavo bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto bhagavantaṁyeva tāṇaṁ gavesī bhagavantaṁyeva leṇaṁ gavesī bhagavantaṁyeva saraṇaṁ gavesī upanisīditvā bhagavantaṁ etadavoca: “kimetaṁ bhavaṁ gotamo āha? Punabhavaṁ gotamo bravitū”ti.
Ambaṭṭha was terrified, shocked, and awestruck. Looking to the Buddha for shelter, asylum, and refuge, he sat down close by the Buddha and said, “What did you say? Please repeat the question.”
272. Bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha hoảng sợ, kinh hãi, lông tóc dựng đứng, chỉ tìm nơi đức Thế Tôn sự che chở, chỉ tìm nơi đức Thế Tôn sự ẩn náu, chỉ tìm nơi đức Thế Tôn sự nương tựa. Sau khi ngồi xuống gần bên, y nói với đức Thế Tôn rằng: ‘Tôn giả Gotama vừa nói gì vậy? Xin Tôn giả Gotama hãy nói lại lần nữa.’
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, kinti te sutaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ kutopabhutikā kaṇhāyanā, ko ca kaṇhāyanānaṁ pubbapuriso”ti?
“Evameva me, bho gotama, sutaṁ yatheva bhavaṁ gotamo āha. Tatopabhutikā kaṇhāyanā; so ca kaṇhāyanānaṁ pubbapuriso”ti.
“What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the tutors of tutors, what is the origin of the Kaṇhāyanas, and who is their founder?”
“I have heard, worthy Gotama, that it is just as you say. That’s the origin of the Kaṇhāyanas, and that’s who their founder is.”
‘Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Ngươi đã nghe các vị Bà-la-môn lão thành, trưởng thượng, là thầy và thầy của các thầy, nói như thế nào? Dòng dõi Kaṇhāyana bắt nguồn từ đâu, và ai là tổ tiên của dòng dõi Kaṇhāyana?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe đúng như lời Tôn giả Gotama nói. Dòng dõi Kaṇhāyana bắt nguồn từ đó; và vị ấy chính là tổ tiên của dòng dõi Kaṇhāyana.’
Câu chuyện về dòng dõi của Ambaṭṭha
Evaṁ vutte, te māṇavakā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṁ: “dujjāto kira, bho, ambaṭṭho māṇavo; akulaputto kira, bho, ambaṭṭho māṇavo; dāsiputto kira, bho, ambaṭṭho māṇavo sakyānaṁ. Ayyaputtā kira, bho, ambaṭṭhassa māṇavassa sakyā bhavanti. Dhammavādiṁyeva kira mayaṁ samaṇaṁ gotamaṁ apasādetabbaṁ amaññimhā”ti.
When he said this, those young students made an uproar, “It turns out Ambaṭṭha is ill-born, not a gentleman, son of a Sakyan slavegirl, and that the Sakyans are sons of his masters! And it seems that the ascetic Gotama spoke only the truth, though we presumed to rebuke him!”
273. Khi được nói như vậy, các thanh niên kia la ó, làm huyên náo, ồn ào lên rằng: ‘Này các ông, thì ra thanh niên Ambaṭṭha là kẻ hạ tiện! Này các ông, thì ra thanh niên Ambaṭṭha không thuộc dòng dõi cao quý! Này các ông, thì ra thanh niên Ambaṭṭha là con của một nữ tỳ của dòng họ Sakya! Này các ông, thì ra dòng họ Sakya là chủ nhân của thanh niên Ambaṭṭha! Thì ra chúng ta đã lầm tưởng rằng Sa-môn Gotama, người chỉ nói sự thật, là người đáng bị chỉ trích.’
Atha kho bhagavato etadahosi: “atibāḷhaṁ kho ime māṇavakā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ dāsiputtavādena nimmādenti, yannūnāhaṁ parimoceyyan”ti.
Atha kho bhagavā te māṇavake etadavoca: “mā kho tumhe, māṇavakā, ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ atibāḷhaṁ dāsiputtavādena nimmādetha. Uḷāro so kaṇho isi ahosi. So dakkhiṇajanapadaṁ gantvā brahmamante adhīyitvā rājānaṁ okkākaṁ upasaṅkamitvā maddarūpiṁ dhītaraṁ yāci.
Tassa rājā okkāko: ‘ko nevaṁ re ayaṁ mayhaṁ dāsiputto samāno maddarūpiṁ dhītaraṁ yācatī’ti, kupito anattamano khurappaṁ sannayhi. So taṁ khurappaṁ neva asakkhi muñcituṁ, no paṭisaṁharituṁ.
Then it occurred to the Buddha, “These young students put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a slavegirl. Why don’t I get him out of this?”
So the Buddha said to the young students, “Young students, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a slavegirl. That Black Boy was an eminent seer. He went to a southern country and memorized the Divine Spell. Then he approached King Okkāka and asked for the hand of his daughter Maddarūpī.
The king said to him, ‘Who the hell is this son of a slavegirl to ask for the hand of my daughter!’ Angry and upset he fastened a razor-tipped arrow. But he wasn’t able to either shoot it or to relax it.
274. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: ‘Các thanh niên này đang miệt thị Ambaṭṭha một cách quá đáng bằng lời lẽ “con của nữ tỳ”. Ta nên giải thoát cho y.’ Rồi đức Thế Tôn nói với các thanh niên ấy rằng: ‘Này các thanh niên, các ngươi chớ nên miệt thị Ambaṭṭha một cách quá đáng bằng lời lẽ “con của nữ tỳ”. Vị ẩn sĩ Kaṇha ấy là một người cao quý. Vị ấy đã đi đến xứ phương nam, học tập các minh chú, rồi đến yết kiến vua Okkāka và xin cưới công chúa Maddarūpī. Vua Okkāka nổi giận, không hài lòng, nói rằng: ‘Kẻ này là ai mà là con của nữ tỳ của ta lại dám xin cưới công chúa Maddarūpī?’ rồi giương một mũi tên sắc bén. Nhà vua không thể bắn mũi tên ấy đi, cũng không thể thu nó về.
Atha kho, māṇavakā, amaccā pārisajjā kaṇhaṁ isiṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ: ‘sotthi, bhaddante, hotu rañño; sotthi, bhaddante, hotu rañño’ti.
‘Sotthi bhavissati rañño, api ca rājā yadi adho khurappaṁ muñcissati, yāvatā rañño vijitaṁ, ettāvatā pathavī undriyissatī’ti.
‘Sotthi, bhaddante, hotu rañño, sotthi janapadassā’ti.
‘Sotthi bhavissati rañño, sotthi janapadassa, api ca rājā yadi uddhaṁ khurappaṁ muñcissati, yāvatā rañño vijitaṁ, ettāvatā satta vassāni devo na vassissatī’ti.
‘Sotthi, bhaddante, hotu rañño sotthi janapadassa devo ca vassatū’ti.
‘Sotthi bhavissati rañño sotthi janapadassa devo ca vassissati, api ca rājā jeṭṭhakumāre khurappaṁ patiṭṭhāpetu, sotthi kumāro pallomo bhavissatī’ti.
Atha kho, māṇavakā, amaccā okkākassa ārocesuṁ: ‘okkāko jeṭṭhakumāre khurappaṁ patiṭṭhāpetu. Sotthi kumāro pallomo bhavissatī’ti.
Atha kho rājā okkāko jeṭṭhakumāre khurappaṁ patiṭṭhapesi, sotthi kumāro pallomo samabhavi. Atha kho tassa rājā okkāko bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto brahmadaṇḍena tajjito maddarūpiṁ dhītaraṁ adāsi.
Mā kho tumhe, māṇavakā, ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ atibāḷhaṁ dāsiputtavādena nimmādetha, uḷāro so kaṇho isi ahosī”ti.
Then the ministers and councillors approached the seer Black Boy and said: ‘Spare the king, sir, spare him!’
‘The king will be safe. But if he shoots the arrow downwards, there will be an earthquake across the entire realm.’
‘Spare the king, sir, and spare the country!’
‘Both king and country will be safe. But if he shoots the arrow upwards, the heavens will not rain in the entire realm for seven years.’
‘Spare the king, sir, spare the country, and let the heavens rain!’
‘Both king and country will be safe, and the heavens rain will rain. And if the king shoots the crown prince with an arrow, he will be safe and unruffled.’
So the ministers said to Okkāka: ‘Okkāka must shoot the crown prince with an arrow. He will be safe and unruffled.’
So King Okkāka shot the crown prince with an arrow. And he was safe and unruffled. Then the king was terrified, shocked, and awestruck. Scared by the divine punishment, he gave the hand of his daughter Maddarūpī.
Young students, please don’t put Ambaṭṭha down too much by calling him the son of a slavegirl. That Black Boy was an eminent seer.”
‘Này các thanh niên, bấy giờ các vị bộ trưởng và triều thần đến gặp ẩn sĩ Kaṇha và nói: ‘Thưa tôn giả, xin cho nhà vua được an lành; thưa tôn giả, xin cho nhà vua được an lành.’ ‘Nhà vua sẽ được an lành, nhưng nếu nhà vua bắn mũi tên xuống dưới, thì mặt đất trong khắp vương quốc của vua sẽ bị vỡ nát.’ ‘Thưa tôn giả, xin cho nhà vua được an lành, và cho xứ sở được an lành.’ ‘Nhà vua sẽ được an lành, và xứ sở sẽ được an lành, nhưng nếu nhà vua bắn mũi tên lên trên, thì trong khắp vương quốc của vua, trời sẽ không mưa trong bảy năm.’ ‘Thưa tôn giả, xin cho nhà vua được an lành, cho xứ sở được an lành, và xin cho trời mưa.’ ‘Nhà vua sẽ được an lành, xứ sở sẽ được an lành, và trời sẽ mưa, nhưng nhà vua hãy đặt mũi tên vào người con trai trưởng. Hoàng tử sẽ được an lành, không hề hấn gì.’ Bấy giờ, này các thanh niên, các vị bộ trưởng tâu với vua Okkāka rằng: ‘Xin vua Okkāka hãy đặt mũi tên vào người con trai trưởng. Hoàng tử sẽ được an lành, không hề hấn gì.’ Rồi vua Okkāka đặt mũi tên vào người con trai trưởng, và hoàng tử đã được an lành, không hề hấn gì. Bấy giờ, vua Okkāka, hoảng sợ, kinh hãi, lông tóc dựng đứng, bị đe dọa bởi hình phạt của Phạm thiên, đã gả công chúa Maddarūpī cho vị ẩn sĩ ấy. Này các thanh niên, các ngươi chớ nên miệt thị Ambaṭṭha một cách quá đáng bằng lời lẽ “con của nữ tỳ”. Vị ẩn sĩ Kaṇha ấy là một người cao quý.’
Giai cấp Sát-đế-lỵ là cao quý nhất
Atha kho bhagavā ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ āmantesi: “Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, idha khattiyakumāro brāhmaṇakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha. Yo so khattiyakumārena brāhmaṇakaññāya putto uppanno, api nu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṁ vā udakaṁ vā”ti?
“Labhetha, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Bhojeyyuṁ, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā mante vāceyyuṁ vā no vā”ti?
“Vāceyyuṁ, bho gotama”.
“Api nussa itthīsu āvaṭaṁ vā assa anāvaṭaṁ vā”ti?
“Anāvaṭaṁ hissa, bho gotama”.
“Api nu naṁ khattiyā khattiyābhisekena abhisiñceyyun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Mātito hi, bho gotama, anupapanno”ti.
Then the Buddha addressed Ambaṭṭha, “What do you think, Ambaṭṭha? Suppose an aristocrat boy was to sleep with a brahmin girl, and they had a son. Would he receive a seat and water from the brahmins?”
“He would, worthy Gotama.”
“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”
“They would.”
“And would the brahmins teach him the hymns or not?”
“They would.”
“And would he be kept from the women or not?”
“He would not.”
“And would the aristocrats anoint him as king?”
“No, worthy Gotama. Why is that? Because his maternity is unsuitable.”
275. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi thanh niên Ambaṭṭha và nói: – Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Ở đây, một thanh niên Sát-đế-lỵ chung sống với một thiếu nữ Bà-la-môn, do sự chung sống của họ mà một người con trai được sanh ra. Người con trai được sanh ra từ thanh niên Sát-đế-lỵ và thiếu nữ Bà-la-môn ấy, liệu người ấy có được nhận chỗ ngồi hoặc nước uống giữa các vị Bà-la-môn không? – Thưa Tôn giả Gotama, có được nhận. – Liệu các vị Bà-la-môn có cho người ấy dùng bữa trong các lễ cúng cho người quá cố, lễ nấu cơm trong nồi mới, lễ tế tự, hay lễ đãi khách không? – Thưa Tôn giả Gotama, có cho dùng. – Liệu các vị Bà-la-môn có dạy các bài chú thuật cho người ấy hay không? – Thưa Tôn giả Gotama, có dạy. – Đối với người ấy, việc cưới hỏi các phụ nữ (Bà-la-môn) có bị ngăn cấm hay không bị ngăn cấm? – Thưa Tôn giả Gotama, không bị ngăn cấm. – Liệu các vị Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đảnh Sát-đế-lỵ cho người ấy không? – Thưa Tôn giả Gotama, không. – Vì lý do gì? – Thưa Tôn giả Gotama, vì về phía mẹ, người ấy không thuộc dòng dõi (Sát-đế-lỵ).
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, idha brāhmaṇakumāro khattiyakaññāya saddhiṁ saṁvāsaṁ kappeyya, tesaṁ saṁvāsamanvāya putto jāyetha. Yo so brāhmaṇakumārena khattiyakaññāya putto uppanno, api nu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṁ vā udakaṁ vā”ti?
“Labhetha, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Bhojeyyuṁ, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā mante vāceyyuṁ vā no vā”ti?
“Vāceyyuṁ, bho gotama”.
“Api nussa itthīsu āvaṭaṁ vā assa anāvaṭaṁ vā”ti?
“Anāvaṭaṁ hissa, bho gotama”.
“Api nu naṁ khattiyā khattiyābhisekena abhisiñceyyun”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Pitito hi, bho gotama, anupapanno”ti.
“What do you think, Ambaṭṭha? Suppose a brahmin boy was to sleep with an aristocrat girl, and they had a son. Would he receive a seat and water from the brahmins?”
“He would, worthy Gotama.”
“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”
“They would.”
“And would the brahmins teach him the hymns or not?”
“They would.”
“And would he be kept from the women or not?”
“He would not.”
“And would the aristocrats anoint him as king?”
“No, worthy Gotama. Why is that? Because his paternity is unsuitable.”
– Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Ở đây, một thanh niên Bà-la-môn chung sống với một thiếu nữ Sát-đế-lỵ, do sự chung sống của họ mà một người con trai được sanh ra. Người con trai được sanh ra từ thanh niên Bà-la-môn và thiếu nữ Sát-đế-lỵ ấy, liệu người ấy có được nhận chỗ ngồi hoặc nước uống giữa các vị Bà-la-môn không? – Thưa Tôn giả Gotama, có được nhận. – Liệu các vị Bà-la-môn có cho người ấy dùng bữa trong các lễ cúng cho người quá cố, lễ nấu cơm trong nồi mới, lễ tế tự, hay lễ đãi khách không? – Thưa Tôn giả Gotama, có cho dùng. – Liệu các vị Bà-la-môn có dạy các bài chú thuật cho người ấy hay không? – Thưa Tôn giả Gotama, có dạy. – Đối với người ấy, việc cưới hỏi các phụ nữ (Bà-la-môn) có bị ngăn cấm hay không bị ngăn cấm? – Thưa Tôn giả Gotama, không bị ngăn cấm. – Liệu các vị Sát-đế-lỵ có làm lễ quán đảnh Sát-đế-lỵ cho người ấy không? – Thưa Tôn giả Gotama, không. – Vì lý do gì? – Thưa Tôn giả Gotama, vì về phía cha, người ấy không thuộc dòng dõi (Sát-đế-lỵ).
“Iti kho, ambaṭṭha, itthiyā vā itthiṁ karitvā purisena vā purisaṁ karitvā khattiyāva seṭṭhā, hīnā brāhmaṇā. Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, idha brāhmaṇā brāhmaṇaṁ kismiñcideva pakaraṇe khuramuṇḍaṁ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājeyyuṁ. Api nu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṁ vā udakaṁ vā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā mante vāceyyuṁ vā no vā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Api nussa itthīsu āvaṭaṁ vā assa anāvaṭaṁ vā”ti?
“Āvaṭaṁ hissa, bho gotama”.
“And so, Ambaṭṭha, the aristocrats are superior and the brahmins inferior, whether comparing women with women or men with men. What do you think, Ambaṭṭha? Suppose the brahmins for some reason were to shave a brahmin’s head, inflict him with a sack of ashes, and banish him from the nation or the city. Would he receive a seat and water from the brahmins?”
“No, worthy Gotama.”
“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”
“No, worthy Gotama.”
“And would the brahmins teach him the hymns or not?”
“No, worthy Gotama.”
“And would he be kept from the women or not?”
“He would be.”
276. – Này Ambaṭṭha, như vậy, dù so sánh nữ với nữ, hay so sánh nam với nam, thì dòng Sát-đế-lỵ vẫn là cao thượng, còn dòng Bà-la-môn là hạ liệt. Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Ở đây, các vị Bà-la-môn vì một lý do nào đó, cạo trọc đầu một người Bà-la-môn, rắc tro lên đầu, rồi trục xuất khỏi xứ hay khỏi thành phố. Liệu người ấy có được nhận chỗ ngồi hoặc nước uống giữa các vị Bà-la-môn không? – Thưa Tôn giả Gotama, không. – Liệu các vị Bà-la-môn có cho người ấy dùng bữa trong các lễ cúng cho người quá cố, lễ nấu cơm trong nồi mới, lễ tế tự, hay lễ đãi khách không? – Thưa Tôn giả Gotama, không. – Liệu các vị Bà-la-môn có dạy các bài chú thuật cho người ấy hay không? – Thưa Tôn giả Gotama, không. – Đối với người ấy, việc cưới hỏi các phụ nữ (Bà-la-môn) có bị ngăn cấm hay không bị ngăn cấm? – Thưa Tôn giả Gotama, bị ngăn cấm.
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, idha khattiyā khattiyaṁ kismiñcideva pakaraṇe khuramuṇḍaṁ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājeyyuṁ. Api nu so labhetha brāhmaṇesu āsanaṁ vā udakaṁ vā”ti?
“Labhetha, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā bhojeyyuṁ saddhe vā thālipāke vā yaññe vā pāhune vā”ti?
“Bhojeyyuṁ, bho gotama”.
“Api nu naṁ brāhmaṇā mante vāceyyuṁ vā no vā”ti?
“Vāceyyuṁ, bho gotama”.
“Api nussa itthīsu āvaṭaṁ vā assa anāvaṭaṁ vā”ti?
“Anāvaṭaṁ hissa, bho gotama”.
“What do you think, Ambaṭṭha? Suppose the aristocrats for some reason were to shave an aristocrat’s head, inflict him with a sack of ashes, and banish him from the nation or the city. Would he receive a seat and water from the brahmins?”
“He would, worthy Gotama.”
“And would the brahmins feed him at an offering of food for ancestors, an offering of a dish of milk-rice, a sacrifice, or a feast for guests?”
“They would.”
“And would the brahmins teach him the hymns or not?”
“They would.”
“And would he be kept from the women or not?”
“He would not.”
– Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Ở đây, các vị Sát-đế-lỵ vì một lý do nào đó, cạo trọc đầu một người Sát-đế-lỵ, rắc tro lên đầu, rồi trục xuất khỏi xứ hay khỏi thành phố. Liệu người ấy có được nhận chỗ ngồi hoặc nước uống giữa các vị Bà-la-môn không? – Thưa Tôn giả Gotama, có được nhận. – Liệu các vị Bà-la-môn có cho người ấy dùng bữa trong các lễ cúng cho người quá cố, lễ nấu cơm trong nồi mới, lễ tế tự, hay lễ đãi khách không? – Thưa Tôn giả Gotama, có cho dùng. – Liệu các vị Bà-la-môn có dạy các bài chú thuật cho người ấy hay không? – Thưa Tôn giả Gotama, có dạy. – Đối với người ấy, việc cưới hỏi các phụ nữ (Bà-la-môn) có bị ngăn cấm hay không bị ngăn cấm? – Thưa Tôn giả Gotama, không bị ngăn cấm.
“Ettāvatā kho, ambaṭṭha, khattiyo paramanihīnataṁ patto hoti, yadeva naṁ khattiyā khuramuṇḍaṁ karitvā bhassapuṭena vadhitvā raṭṭhā vā nagarā vā pabbājenti. Iti kho, ambaṭṭha, yadā khattiyo paramanihīnataṁ patto hoti, tadāpi khattiyāva seṭṭhā, hīnā brāhmaṇā. Brahmunā pesā, ambaṭṭha, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
“At this point, Ambaṭṭha, that aristocrat has reached rock bottom, with head shaven, inflicted with a sack of ashes, and banished from city or nation. Yet still the aristocrats are superior and the brahmins inferior. The divinity Sanaṅkumāra also spoke this verse:
277. – Này Ambaṭṭha, một người Sát-đế-lỵ bị các vị Sát-đế-lỵ cạo trọc đầu, rắc tro lên đầu, rồi trục xuất khỏi xứ hay khỏi thành phố, chừng ấy là người ấy đã rơi vào tình trạng hạ liệt tột cùng. Này Ambaṭṭha, như vậy, khi một người Sát-đế-lỵ đã rơi vào tình trạng hạ liệt tột cùng, thì ngay cả lúc đó, dòng Sát-đế-lỵ vẫn là cao thượng, còn dòng Bà-la-môn là hạ liệt. Này Ambaṭṭha, Phạm thiên Sanaṅkumāra cũng đã nói bài kệ này:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.
‘The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.’
‘Trong đám dân chúng mà những ai đặt nặng về dòng dõi, Thì Sát-đế-lỵ là bậc tối thượng. Còn người nào thành tựu minh và hạnh, Người ấy là bậc tối thượng giữa trời và người.’
Sā kho panesā, ambaṭṭha, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā no duggītā, subhāsitā no dubbhāsitā, atthasaṁhitā no anatthasaṁhitā, anumatā mayā. Ahampi hi, ambaṭṭha, evaṁ vadāmi—
That verse was well sung by the Divinity Sanaṅkumāra, not poorly sung; well spoken, not poorly spoken, beneficial, not harmful, and it was approved by me. For I also say this:
– Này Ambaṭṭha, bài kệ này đã được Phạm thiên Sanaṅkumāra khéo nói chứ không phải vụng nói, khéo thuyết chứ không phải vụng thuyết, có lợi ích chứ không phải không có lợi ích, và được Ta chấp thuận. Này Ambaṭṭha, Ta cũng nói như vầy:
Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse”ti.
The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.”
‘Trong đám dân chúng mà những ai đặt nặng về dòng dõi, Thì Sát-đế-lỵ là bậc tối thượng. Còn người nào thành tựu minh và hạnh, Người ấy là bậc tối thượng giữa trời và người.’
Bhāṇavāro paṭhamo.
The first recitation section.
Phần tụng đọc thứ nhất.
Luận về Minh và Hạnh
“Katamaṁ pana taṁ, bho gotama, caraṇaṁ, katamā ca pana sā vijjā”ti?
“Na kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya jātivādo vā vuccati, gottavādo vā vuccati, mānavādo vā vuccati: ‘arahasi vā maṁ tvaṁ, na vā maṁ tvaṁ arahasī’ti. Yattha kho, ambaṭṭha, āvāho vā hoti, vivāho vā hoti, āvāhavivāho vā hoti, etthetaṁ vuccati jātivādo vā itipi gottavādo vā itipi mānavādo vā itipi: ‘arahasi vā maṁ tvaṁ, na vā maṁ tvaṁ arahasī’ti. Ye hi keci, ambaṭṭha, jātivādavinibaddhā vā gottavādavinibaddhā vā mānavādavinibaddhā vā āvāhavivāhavinibaddhā vā, ārakā te anuttarāya vijjācaraṇasampadāya. Pahāya kho, ambaṭṭha, jātivādavinibaddhañca gottavādavinibaddhañca mānavādavinibaddhañca āvāhavivāhavinibaddhañca anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sacchikiriyā hotī”ti.
“But what, worthy Gotama, is that conduct, and what is that knowledge?”
“Ambaṭṭha, in the supreme knowledge and conduct there is no discussion of genealogy or clan or pride—‘You deserve me’ or ‘You don’t deserve me.’ Wherever there is giving and taking in marriage there is such discussion. Whoever is shackled to questions of genealogy or clan or pride, or to giving and taking in marriage, is far from the supreme knowledge and conduct. The realization of supreme knowledge and conduct occurs when you’ve given up such things.”
278. – Thưa Tôn giả Gotama, hạnh ấy là gì, và minh ấy là gì? – Này Ambaṭṭha, đối với sự thành tựu minh và hạnh vô thượng, không có chỗ cho việc nói về sanh-thân, nói về dòng dõi, hay nói về lòng kiêu mạn, cũng không có chỗ cho câu nói: ‘Ngươi xứng với ta, hay ngươi không xứng với ta.’ Này Ambaṭṭha, ở nơi nào có việc cưới gả, có việc nhận dâu, hay có cả việc cưới gả và nhận dâu, thì ở đó mới có những lời nói về sanh-thân, về dòng dõi, về lòng kiêu mạn, và câu nói: ‘Ngươi xứng với ta, hay ngươi không xứng với ta.’ Này Ambaṭṭha, những ai bị ràng buộc bởi việc nói về sanh-thân, bị ràng buộc bởi việc nói về dòng dõi, bị ràng buộc bởi việc nói về lòng kiêu mạn, hay bị ràng buộc bởi việc cưới gả, thì những người ấy còn xa với sự thành tựu minh và hạnh vô thượng. Này Ambaṭṭha, chính nhờ từ bỏ sự ràng buộc vào việc nói về sanh-thân, sự ràng buộc vào việc nói về dòng dõi, sự ràng buộc vào việc nói về lòng kiêu mạn, và sự ràng buộc vào việc cưới gả mà sự chứng ngộ về thành tựu minh và hạnh vô thượng mới xảy ra.
“Katamaṁ pana taṁ, bho gotama, caraṇaṁ, katamā ca sā vijjā”ti?
“Idha, ambaṭṭha, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati …pe…
“But what, worthy Gotama, is that conduct, and what is that knowledge?”
“Ambaṭṭha, it’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect …
279. “Thưa Tôn giả Gotama, hạnh kiểm (caraṇa) ấy là gì, và minh (vijjā) ấy là gì?” “Này Ambaṭṭha, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với chúng sa-môn, bà-la-môn, cùng với loài người và chư thiên. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh trong một gia tộc nào khác, nghe được giáo pháp ấy. Người ấy sau khi nghe giáo pháp, đạt được niềm tin nơi Như Lai. Người ấy, sau khi được trang bị niềm tin đã đạt được ấy, suy xét như sau... (v.v.)... (nên được trình bày chi tiết như các đoạn từ 191 trở đi).”
So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… idampissa hoti caraṇasmiṁ.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … This pertains to their conduct.
“Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ... (v.v.)... Đây cũng là một phần hạnh kiểm (caraṇa) của vị ấy.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… idampissa hoti caraṇasmiṁ.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption … This pertains to their conduct.
“Lại nữa, này Ambaṭṭha, vị tỳ khưu ấy, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm... (v.v.)... Đây cũng là một phần hạnh kiểm (caraṇa) của vị ấy.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… idampissa hoti caraṇasmiṁ.
Furthermore, with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption … This pertains to their conduct.
“Lại nữa, này Ambaṭṭha, vị tỳ khưu ấy, do ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú,’ chứng và trú thiền thứ ba... (v.v.)... Đây cũng là một phần hạnh kiểm (caraṇa) của vị ấy.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe… idampissa hoti caraṇasmiṁ. Idaṁ kho taṁ, ambaṭṭha, caraṇaṁ.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption … This pertains to their conduct. This is that conduct.
“Lại nữa, này Ambaṭṭha, vị tỳ khưu ấy, do xả lạc, xả khổ, và do diệt trừ hỷ ưu đã có từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh... (v.v.)... Đây cũng là một phần hạnh kiểm (caraṇa) của vị ấy. Này Ambaṭṭha, đây chính là hạnh kiểm (caraṇa) ấy.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti …pe… idampissa hoti vijjāya …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānāti, idampissa hoti vijjāya. Ayaṁ kho sā, ambaṭṭha, vijjā.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they project it and extend it toward knowledge and vision. This pertains to their knowledge. … They understand: ‘There is nothing further for this place.’ This pertains to their knowledge. This is that knowledge.
“Khi tâm đã được định tĩnh, trong sạch, thanh tịnh, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến trí và kiến... (v.v.)... Đây cũng là một phần minh (vijjā) của vị ấy... (v.v.)... vị ấy biết rõ: ‘... không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Đây cũng là một phần minh (vijjā) của vị ấy. Này Ambaṭṭha, đây chính là minh (vijjā) ấy.”
Ayaṁ vuccati, ambaṭṭha, bhikkhu ‘vijjāsampanno’ itipi, ‘caraṇasampanno’ itipi, ‘vijjācaraṇasampanno’ itipi. Imāya ca, ambaṭṭha, vijjāsampadāya caraṇasampadāya ca aññā vijjāsampadā ca caraṇasampadā ca uttaritarā vā paṇītatarā vā natthi.
This mendicant is said to be ‘accomplished in knowledge’, and also ‘accomplished in conduct’, and also ‘accomplished in knowledge and conduct’. And, Ambaṭṭha, there is no accomplishment in knowledge and conduct that is better or finer than this.
“Này Ambaṭṭha, vị tỳ khưu này được gọi là ‘người đầy đủ minh,’ cũng được gọi là ‘người đầy đủ hạnh kiểm,’ cũng được gọi là ‘người đầy đủ minh và hạnh kiểm.’ Và này Ambaṭṭha, ngoài sự đầy đủ minh này và sự đầy đủ hạnh kiểm này, không có sự đầy đủ minh và sự đầy đủ hạnh kiểm nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn.”
Bốn Cửa Ngõ Của Sự Suy Vong
Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni bhavanti. Katamāni cattāri? Idha, ambaṭṭha, ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imaññeva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya araññāyatanaṁ ajjhogāhati: ‘pavattaphalabhojano bhavissāmī’ti. So aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṁ paṭhamaṁ apāyamukhaṁ bhavati.
There are these four causes of quitting this supreme knowledge and conduct. What four? Firstly, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, plunges into a wilderness region carrying their pack with a shoulder-pole, thinking they will get by eating fallen fruit. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the first cause of quitting this supreme knowledge and conduct.
280. “Này Ambaṭṭha, đối với sự thành tựu vô thượng về minh và hạnh kiểm này, có bốn cửa ngõ của sự suy vong. Bốn điều ấy là gì? Này Ambaṭṭha, ở đây, có sa-môn hay bà-la-môn nào đó, không thể thành tựu được sự đầy đủ vô thượng về minh và hạnh kiểm này, bèn mang theo đòn gánh và vật dụng của đạo sĩ, đi vào chốn rừng sâu, với ý nghĩ: ‘Ta sẽ sống bằng trái cây rụng.’ Vị ấy, thực ra, chỉ trở thành người phục vụ cho vị đã thành tựu minh và hạnh kiểm. Này Ambaṭṭha, đối với sự thành tựu vô thượng về minh và hạnh kiểm này, đây là cửa ngõ thứ nhất của sự suy vong.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kudālapiṭakaṁ ādāya araññavanaṁ ajjhogāhati: ‘kandamūlaphalabhojano bhavissāmī’ti. So aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṁ dutiyaṁ apāyamukhaṁ bhavati.
Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct or to get by eating fallen fruit, plunges into a wilderness region carrying a spade and basket, thinking they will get by eating tubers and fruit. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the second cause of quitting this supreme knowledge and conduct.
“Lại nữa, này Ambaṭṭha, ở đây, có sa-môn hay bà-la-môn nào đó, không thể thành tựu được sự đầy đủ vô thượng về minh và hạnh kiểm này, và cũng không thể sống bằng trái cây rụng, bèn mang theo cuốc và giỏ, đi vào rừng rậm, với ý nghĩ: ‘Ta sẽ sống bằng rễ cây, củ và trái cây.’ Vị ấy, thực ra, chỉ trở thành người phục vụ cho vị đã thành tựu minh và hạnh kiểm. Này Ambaṭṭha, đối với sự thành tựu vô thượng về minh và hạnh kiểm này, đây là cửa ngõ thứ hai của sự suy vong.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno gāmasāmantaṁ vā nigamasāmantaṁ vā agyāgāraṁ karitvā aggiṁ paricaranto acchati. So aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṁ tatiyaṁ apāyamukhaṁ bhavati.
Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, or to get by eating fallen fruit, or to get by eating tubers and fruit, sets up a fire chamber in the neighborhood of a village or town and dwells there serving the sacred flame. In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the third cause of quitting this supreme knowledge and conduct.
“Lại nữa, này Ambaṭṭha, ở đây, có sa-môn hay bà-la-môn nào đó, không thể thành tựu được sự đầy đủ vô thượng về minh và hạnh kiểm này, cũng không thể sống bằng trái cây rụng, cũng không thể sống bằng rễ cây, củ và trái cây, bèn dựng một ngôi nhà lửa ở gần làng hay thị trấn, và ở đó thờ lửa. Vị ấy, thực ra, chỉ trở thành người phục vụ cho vị đã thành tựu minh và hạnh kiểm. Này Ambaṭṭha, đối với sự thành tựu vô thượng về minh và hạnh kiểm này, đây là cửa ngõ thứ ba của sự suy vong.”
Puna caparaṁ, ambaṭṭha, idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imaṁ ceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno aggipāricariyañca anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṁ agāraṁ karitvā acchati: ‘yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo vā brāhmaṇo vā, tamahaṁ yathāsatti yathābalaṁ paṭipūjessāmī’ti. So aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṁ catutthaṁ apāyamukhaṁ bhavati. Imāya kho, ambaṭṭha, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya imāni cattāri apāyamukhāni bhavanti.
Furthermore, take some ascetic or brahmin who, not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, or to get by eating fallen fruit, or to get by eating tubers and fruit, or to serve the sacred flame, sets up a four-doored fire chamber at the crossroads and dwells there, thinking: ‘When an ascetic or brahmin comes from the four quarters, I will honor them as best I can.’ In fact they succeed only in serving someone accomplished in knowledge and conduct. This is the fourth cause of quitting this supreme knowledge and conduct. These are the four causes of quitting this supreme knowledge and conduct.
Này Ambaṭṭha, lại nữa, ở đời này, có hạng Sa-môn hay Bà-la-môn, vì không thể thành tựu được minh hạnh túc vô thượng này, vì không thể thành tựu được việc sống bằng trái cây rụng, vì không thể thành tựu được việc sống bằng củ rễ và trái cây, vì không thể thành tựu được việc thờ lửa, nên đã làm một ngôi nhà có bốn cửa ở ngã tư đường và sống ở đó với ý nghĩ: ‘Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến từ bốn phương này, ta sẽ cúng dường vị ấy tùy theo sức lực và khả năng của mình.’ Vị ấy thực ra chỉ trở thành người phục vụ cho người đã thành tựu minh và hạnh. Này Ambaṭṭha, đối với minh hạnh túc vô thượng này, đây là cửa ngõ suy vong thứ tư. Này Ambaṭṭha, đối với minh hạnh túc vô thượng này, có bốn cửa ngõ suy vong này.
Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, api nu tvaṁ imāya anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sandissasi sācariyako”ti?
“No hidaṁ, bho gotama. Kocāhaṁ, bho gotama, sācariyako, kā ca anuttarā vijjācaraṇasampadā? Ārakāhaṁ, bho gotama, anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sācariyako”ti.
What do you think, Ambaṭṭha? Is this supreme knowledge and conduct seen in your own denomination?”
“No, worthy Gotama. Who am I and my denomination compared with the supreme knowledge and conduct? We are far from that.”
281. Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng ngươi cùng với thầy của ngươi được xem là đã thành tựu minh hạnh túc vô thượng này?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy." "Thưa Tôn giả Gotama, tôi cùng với thầy của tôi là ai, và minh hạnh túc vô thượng là gì? Thưa Tôn giả Gotama, tôi cùng với thầy của tôi còn xa mới đạt được minh hạnh túc vô thượng."
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, api nu tvaṁ imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya araññavanamajjhogāhasi sācariyako: ‘pavattaphalabhojano bhavissāmī’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Ambaṭṭha? Since you’re not managing to obtain this supreme knowledge and conduct, have you with your denomination plunged into a wilderness region carrying your pack with a shoulder-pole, thinking you will get by eating fallen fruit?”
“No, worthy Gotama.”
Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng ngươi cùng với thầy của ngươi, vì không thể thành tựu được minh hạnh túc vô thượng này, đã mang đòn gánh và vật dụng của đạo sĩ vào trong rừng sâu với ý nghĩ: ‘Ta sẽ sống bằng trái cây rụng’?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy."
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, api nu tvaṁ imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kudālapiṭakaṁ ādāya araññavanamajjhogāhasi sācariyako: ‘kandamūlaphalabhojano bhavissāmī’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your denomination … plunged into a wilderness region carrying a spade and basket, thinking you will get by eating tubers and fruit?”
“No, worthy Gotama.”
Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng ngươi cùng với thầy của ngươi, vì không thể thành tựu được minh hạnh túc vô thượng này, và vì không thể thành tựu được việc sống bằng trái cây rụng, đã mang cuốc và giỏ vào trong rừng sâu với ý nghĩ: ‘Ta sẽ sống bằng củ rễ và trái cây’?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy."
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, api nu tvaṁ imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno gāmasāmantaṁ vā nigamasāmantaṁ vā agyāgāraṁ karitvā aggiṁ paricaranto acchasi sācariyako”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your denomination … set up a fire chamber in the neighborhood of a village or town and dwelt there serving the sacred flame?”
“No, worthy Gotama.”
Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng ngươi cùng với thầy của ngươi, vì không thể thành tựu được minh hạnh túc vô thượng này, vì không thể thành tựu được việc sống bằng trái cây rụng, và vì không thể thành tựu được việc sống bằng củ rễ và trái cây, đã làm một nhà lửa ở gần làng hoặc gần thị trấn và sống ở đó để thờ lửa?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy."
“Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, api nu tvaṁ imañceva anuttaraṁ vijjācaraṇasampadaṁ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno aggipāricariyañca anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṁ agāraṁ karitvā acchasi sācariyako: ‘yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo vā brāhmaṇo vā, taṁ mayaṁ yathāsatti yathābalaṁ paṭipūjessāmā’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“What do you think, Ambaṭṭha? Have you with your denomination … set up a four-doored fire chamber at the crossroads and dwelt there, thinking: ‘When an ascetic or brahmin comes from the four quarters, I will honor them as best I can’?”
“No, worthy Gotama.”
Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Phải chăng ngươi cùng với thầy của ngươi, vì không thể thành tựu được minh hạnh túc vô thượng này, vì không thể thành tựu được việc sống bằng trái cây rụng, vì không thể thành tựu được việc sống bằng củ rễ và trái cây, và vì không thể thành tựu được việc thờ lửa, đã làm một ngôi nhà có bốn cửa ở ngã tư đường và sống ở đó với ý nghĩ: ‘Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào đến từ bốn phương này, chúng ta sẽ cúng dường vị ấy tùy theo sức lực và khả năng của mình’?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy."
“Iti kho, ambaṭṭha, imāya ceva tvaṁ anuttarāya vijjācaraṇasampadāya parihīno sācariyako. Ye cime anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni bhavanti, tato ca tvaṁ parihīno sācariyako. Bhāsitā kho pana te esā, ambaṭṭha, ācariyena brāhmaṇena pokkharasātinā vācā: ‘ke ca muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, kā ca tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ sākacchā’ti attanā āpāyikopi aparipūramāno. Passa, ambaṭṭha, yāva aparaddhañca te idaṁ ācariyassa brāhmaṇassa pokkharasātissa.
“So you with your denomination are not only inferior to the supreme knowledge and conduct, you are even inferior to the four causes of quitting the supreme knowledge and conduct. But you have been told this by your tutor, the brahmin Pokkharasāti: ‘Who are these shavelings, fake ascetics, primitives, black spawn from the feet of our kinsman compared with conversation with the brahmins of the three knowledges?’ Yet he himself has not even fulfilled one of the quittings! See, Ambaṭṭha, how your tutor Pokkharasāti has wronged you.
282. Như vậy, này Ambaṭṭha, ngươi cùng với thầy của ngươi đã thiếu sót minh hạnh túc vô thượng này. Và ngươi cùng với thầy của ngươi cũng đã thiếu sót bốn cửa ngõ suy vong của minh hạnh túc vô thượng này. Thế mà, này Ambaṭṭha, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti, đã thốt ra lời này: ‘Bọn đầu trọc, bọn Sa-môn hạ tiện, bọn gia nhân, bọn đen đúa, con cháu sinh ra từ bàn chân của Phạm Thiên là ai, và làm sao có thể đàm luận với các Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda được?’ trong khi chính ông ta còn không thực hành đầy đủ ngay cả những pháp môn dẫn đến suy vong. Này Ambaṭṭha, hãy xem, đây là một lỗi lầm lớn lao dường nào của thầy ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti.
Sự truy vấn về tình trạng của các vị tiên nhân thời xưa
Brāhmaṇo kho pana, ambaṭṭha, pokkharasāti rañño pasenadissa kosalassa dattikaṁ bhuñjati. Tassa rājā pasenadi kosalo sammukhībhāvampi na dadāti. Yadāpi tena manteti, tirodussantena manteti. Yassa kho pana, ambaṭṭha, dhammikaṁ payātaṁ bhikkhaṁ paṭiggaṇheyya, kathaṁ tassa rājā pasenadi kosalo sammukhībhāvampi na dadeyya. Passa, ambaṭṭha, yāva aparaddhañca te idaṁ ācariyassa brāhmaṇassa pokkharasātissa.
Pokkharasāti lives off an endowment provided by King Pasenadi of Kosala. But the king won’t even grant him an audience face to face. When he consults, he does so behind a curtain. Why wouldn’t the king grant a face to face audience with someone who’d receive his legitimate presentation of food? See, Ambaṭṭha, how your tutor Pokkharasāti has wronged you.
283. Này Ambaṭṭha, Bà-la-môn Pokkharasāti hưởng dụng vật tặng của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala còn không cho ông ta được diện kiến trực tiếp. Khi nào bàn luận với ông ta, vua bàn luận qua một tấm màn che. Này Ambaṭṭha, đối với một người nhận vật cúng dường đúng pháp được dâng đến, tại sao vua Pasenadi nước Kosala lại không cho được diện kiến trực tiếp? Này Ambaṭṭha, hãy xem, đây là một lỗi lầm lớn lao dường nào của thầy ngươi, Bà-la-môn Pokkharasāti.
Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, idha rājā pasenadi kosalo hatthigīvāya vā nisinno assapiṭṭhe vā nisinno rathūpatthare vā ṭhito uggehi vā rājaññehi vā kiñcideva mantanaṁ manteyya. So tamhā padesā apakkamma ekamantaṁ tiṭṭheyya. Atha āgaccheyya suddo vā suddadāso vā, tasmiṁ padese ṭhito tadeva mantanaṁ manteyya: ‘evampi rājā pasenadi kosalo āha, evampi rājā pasenadi kosalo āhā’ti. Api nu so rājabhaṇitaṁ vā bhaṇati rājamantanaṁ vā manteti? Ettāvatā so assa rājā vā rājamatto vā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
What do you think, Ambaṭṭha? Suppose King Pasenadi was holding consultations with warrior-chiefs or chieftains while sitting on an elephant’s neck or on horseback, or while standing on the mat in a chariot. And suppose he’d get down from that place and stand aside. Then along would come a worker or their bondservant, who’d stand in the same place and continue the consultation: ‘This is what King Pasenadi says, and this too is what the king says.’ Though he spoke the king’s words and gave the king’s advice, does that qualify him to be the king or the king’s minister?”
“No, worthy Gotama.”
284. Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Giả sử ở đây, vua Pasenadi nước Kosala, trong khi đang ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên xe, bàn luận một vấn đề nào đó với các vị quan quyền hay các vương tử. Rồi vua rời khỏi nơi đó và đứng sang một bên. Sau đó, một người thuộc giai cấp Sudda hoặc một người nô lệ của giai cấp Sudda đến, đứng tại nơi đó và bàn luận lại chính vấn đề ấy: ‘Vua Pasenadi nước Kosala đã nói như thế này, vua Pasenadi nước Kosala đã nói như thế kia.’ Phải chăng người ấy, vì nói lại lời của vua hay bàn luận lại vấn đề của vua, mà do vậy trở thành vua hay đại thần của vua?" "Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy."
“Evameva kho tvaṁ, ambaṭṭha, ye te ahesuṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu: ‘tyāhaṁ mante adhiyāmi sācariyako’ti, tāvatā tvaṁ bhavissasi isi vā isitthāya vā paṭipannoti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“In the same way, Ambaṭṭha, the ancient seers of the brahmins were Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, and Bhagu. They were the authors and propagators of the hymns. Their hymnal was sung and propagated and compiled in ancient times; and these days, brahmins continue to sing and chant it, chanting what was chanted and teaching what was taught. You might imagine that, since you’ve learned their hymns by heart in your own denomination, that makes you a seer or someone on the path to becoming a seer. But that is not possible.
285. Cũng vậy, này Ambaṭṭha, những vị tiên nhân xưa của các Bà-la-môn, những người sáng tác các thánh chú, những người truyền bá các thánh chú, mà các Bà-la-môn ngày nay tụng lại, đọc lại, nói lại những gì đã được nói, dạy lại những gì đã được dạy, về những câu thánh chú cổ xưa đã được các vị ấy hát lên, nói ra, và biên soạn, đó là: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭho, Kassapa, Bhagu. Ngươi nói: ‘Tôi cùng với thầy của tôi học các thánh chú ấy.’ Chỉ với chừng ấy mà ngươi có thể trở thành một vị tiên nhân hay một người đang thực hành để trở thành tiên nhân, điều đó không thể xảy ra.
Taṁ kiṁ maññasi, ambaṭṭha, kinti te sutaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ—ye te ahesuṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, evaṁ su te sunhātā suvilittā kappitakesamassū āmukkamaṇikuṇḍalābharaṇā odātavatthavasanā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārenti, seyyathāpi tvaṁ etarahi sācariyako”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“ …pe…
What do you think, Ambaṭṭha? According to what you have heard from elderly and senior brahmins, the tutors of tutors, did those ancient brahmin seers—nicely bathed and anointed, with hair and beard dressed, bedecked with jewels, earrings, and bracelets, dressed in white—amuse themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation, like you do today in your denomination?”
“No, worthy Gotama.”
286. “Này Ambaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Ngươi đã nghe các vị Bà-la-môn già cả, trưởng thượng, là thầy và thầy của các thầy nói như thế nào? Rằng những vị ẩn sĩ xưa kia của các Bà-la-môn, những người sáng tác minh chú, những người truyền bá minh chú, mà ngày nay các Bà-la-môn hát theo, đọc theo, đọc lại những gì đã được đọc, dạy lại những gì đã được dạy, những câu minh chú cổ xưa của các vị ấy, ví như là – Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Có phải các vị ấy đã tắm gội sạch sẽ, xức dầu thơm, cắt tóc cạo râu, đeo trang sức hoa tai bằng ngọc, mặc y phục trắng, thọ hưởng đầy đủ, sung túc năm dục công đức, giống như ngươi và thầy của ngươi ngày nay không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“No hidaṁ, bho gotama”.
“ …pe…
“No, worthy Gotama.”
“… (như trên) … Có phải các vị ấy đã dùng cơm nấu bằng gạo Sāli, với nước sốt thịt tinh sạch, đã loại bỏ hạt đen, với nhiều loại canh và nhiều loại thức ăn kèm, giống như ngươi và thầy của ngươi ngày nay không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“No hidaṁ, bho gotama”.
“ …pe…
“No, worthy Gotama.”
“… (như trên) … Có phải các vị ấy đã được những người phụ nữ có hông cong vì trang sức phục vụ, giống như ngươi và thầy của ngươi ngày nay không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“No hidaṁ, bho gotama”.
“ …pe…
“No, worthy Gotama.”
“… (như trên) … Có phải các vị ấy đã đi lại đây đó trên những cỗ xe do ngựa cái được chải chuốt kéo, dùng những cây roi dài thúc giục các con vật kéo xe, giống như ngươi và thầy của ngươi ngày nay không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“No hidaṁ, bho gotama”.
“No, worthy Gotama.”
“… (như trên) … Có phải các vị ấy đã được những người đàn ông mang gươm dài bảo vệ trong các thành phố có hào sâu được đào, có then cài được hạ xuống, được xây dựng kiên cố, giống như ngươi và thầy của ngươi ngày nay không?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Iti kho, ambaṭṭha, neva tvaṁ isi na isitthāya paṭipanno sācariyako. Yassa kho pana, ambaṭṭha, mayi kaṅkhā vā vimati vā so maṁ pañhena, ahaṁ veyyākaraṇena sodhissāmī”ti.
“So, Ambaṭṭha, in your own denomination you are neither a seer nor someone on the path to becoming a seer. Whoever has any doubt or uncertainty about me, let them ask me and I will clear up their doubts with my answer.”
“Này Ambaṭṭha, như vậy, ngươi và thầy của ngươi không phải là ẩn sĩ, cũng không phải là người thực hành để trở thành ẩn sĩ. Này Ambaṭṭha, người nào có sự nghi ngờ hay do dự về ta, hãy hỏi ta, ta sẽ làm cho trong sạch (sự nghi ngờ đó) bằng lời giải đáp.”
Thấy hai tướng
Atha kho bhagavā vihārā nikkhamma caṅkamaṁ abbhuṭṭhāsi. Ambaṭṭhopi māṇavo vihārā nikkhamma caṅkamaṁ abbhuṭṭhāsi. Atha kho ambaṭṭho māṇavo bhagavantaṁ caṅkamantaṁ anucaṅkamamāno bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi. Addasā kho ambaṭṭho māṇavo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve. Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.
Then the Buddha left his dwelling and proceeded to begin walking mindfully, and Ambaṭṭha did likewise. Then while walking beside the Buddha, Ambaṭṭha scrutinized his body for the thirty-two marks of a great man. He saw all of them except two, which he had doubts about: whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.
287. Bấy giờ, Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambaṭṭha cũng đi ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Rồi thanh niên Ambaṭṭha, trong khi đi kinh hành theo sau Thế Tôn đang kinh hành, đã tìm kiếm ba mươi hai tướng đại nhân trên thân của Thế Tôn. Thanh niên Ambaṭṭha đã thấy hầu hết ba mươi hai tướng đại nhân trên thân của Thế Tôn, ngoại trừ hai tướng. Y nghi ngờ, do dự, không quyết định được, không tin tưởng về hai tướng đại nhân này: mã âm tàng được bao bọc trong vỏ và tướng lưỡi rộng dài.
Atha kho bhagavato etadahosi: “passati kho me ayaṁ ambaṭṭho māṇavo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve. Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti. Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi. Yathā addasa ambaṭṭho māṇavo bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ. Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
Atha kho ambaṭṭhassa māṇavassa etadahosi: “samannāgato kho samaṇo gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi, no aparipuṇṇehī”ti.
Bhagavantaṁ etadavoca: “handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, ambaṭṭha, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho ambaṭṭho māṇavo vaḷavārathamāruyha pakkāmi.
Then it occurred to the Buddha, “This student Ambaṭṭha sees all the marks except two, which he has doubts about: whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.” Then the Buddha used his psychic power to will that Ambaṭṭha would see his private parts sheathed in a foreskin. And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.
Then Ambaṭṭha thought, “The ascetic Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”
He said to the Buddha, “Well, now, sir, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, Ambaṭṭha, go at your convenience.” Then Ambaṭṭha mounted his chariot drawn by mares and left.
288. Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: ‘Thanh niên Ambaṭṭha này thấy hầu hết ba mươi hai tướng đại nhân của ta, ngoại trừ hai tướng. Y nghi ngờ, do dự, không quyết định được, không tin tưởng về hai tướng đại nhân này: mã âm tàng được bao bọc trong vỏ và tướng lưỡi rộng dài.’ Rồi Thế Tôn vận dụng thần thông để thanh niên Ambaṭṭha thấy được mã âm tàng được bao bọc trong vỏ của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn le lưỡi ra, chạm và liếm cả hai lỗ tai, chạm và liếm cả hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che phủ toàn bộ vầng trán. Bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha khởi lên ý nghĩ này: ‘Sa-môn Gotama thật sự đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhân, không phải là không đầy đủ.’ Y nói với Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, bây giờ chúng con xin đi, chúng con có nhiều việc phải làm, nhiều phận sự phải lo.’ ‘Này Ambaṭṭha, bây giờ ngươi thấy là thời điểm thích hợp (thì cứ đi).’ Rồi thanh niên Ambaṭṭha lên cỗ xe do ngựa cái kéo và ra đi.
Tena kho pana samayena brāhmaṇo pokkharasāti ukkaṭṭhāya nikkhamitvā mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ sake ārāme nisinno hoti ambaṭṭhaṁyeva māṇavaṁ paṭimānento. Atha kho ambaṭṭho māṇavo yena sako ārāmo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena brāhmaṇo pokkharasāti tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā brāhmaṇaṁ pokkharasātiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ brāhmaṇo pokkharasāti etadavoca:
Now at that time the brahmin Pokkharasāti had come out from Ukkaṭṭhā together with a large group of brahmins and was sitting in his own park just waiting for Ambaṭṭha. Then Ambaṭṭha entered the park. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the brahmin Pokkharasāti on foot. He bowed and sat down to one side, and Pokkharasāti said to him:
289. Vào lúc ấy, Bà-la-môn Pokkharasāti đã đi ra khỏi thành Ukkaṭṭhā, cùng với một nhóm đông các Bà-la-môn, đang ngồi trong khu vườn của mình mong chờ thanh niên Ambaṭṭha. Rồi thanh niên Ambaṭṭha đi đến khu vườn ấy. Y đi bằng xe cho đến khi hết đường đi xe, rồi xuống xe và đi bộ đến chỗ Bà-la-môn Pokkharasāti; đến gần, y đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasāti và ngồi xuống một bên.
“kacci, tāta ambaṭṭha, addasa taṁ bhavantaṁ gotaman”ti?
“Addasāma kho mayaṁ, bho, taṁ bhavantaṁ gotaman”ti.
“Kacci, tāta ambaṭṭha, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathā santaṁyeva saddo abbhuggato no aññathā; kacci pana so bhavaṁ gotamo tādiso no aññādiso”ti?
“Tathā santaṁyeva, bho, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saddo abbhuggato no aññathā, tādisova so bhavaṁ gotamo no aññādiso. Samannāgato ca so bhavaṁ gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehī”ti.
“Ahu pana te, tāta ambaṭṭha, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, bho, samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathā kathaṁ pana te, tāta ambaṭṭha, ahu samaṇena gotamena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti? Atha kho ambaṭṭho māṇavo yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ brāhmaṇassa pokkharasātissa ārocesi.
“I hope, dear Ambaṭṭha, you saw the worthy Gotama?”
“I saw him, sir.”
“Well, does he live up to his reputation or not?”
“He does, sir. The worthy Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”
“And did you have some discussion with him?”
“I did.”
“And what kind of discussion did you have with him?” Then Ambaṭṭha informed Pokkharasāti of all they had discussed.
290. Lúc thanh niên Ambaṭṭha đang ngồi ở một nơi, Bà-la-môn Pokkharasāti đã nói điều này: – Này Ambaṭṭha con, có thấy Tôn giả Gotama ấy không? – Thưa ngài, chúng con đã thấy Tôn giả Gotama ấy. – Này Ambaṭṭha con, tiếng đồn về Tôn giả Gotama ấy có được lan truyền đúng như sự thật, không khác đi không? Và Tôn giả Gotama ấy có đúng như vậy, không khác đi không? – Thưa ngài, tiếng đồn về Tôn giả Gotama ấy được lan truyền đúng như sự thật, không khác đi. Tôn giả Gotama ấy đúng như vậy, không khác đi. Và Tôn giả Gotama ấy thành tựu ba mươi hai tướng đại nhân đầy đủ, không thiếu sót. – Này Ambaṭṭha con, con có cuộc đối thoại nào với Sa-môn Gotama không? – Thưa ngài, con có một cuộc đối thoại với Sa-môn Gotama. – Này Ambaṭṭha con, cuộc đối thoại của con với Sa-môn Gotama đã diễn ra như thế nào? Bấy giờ, thanh niên Ambaṭṭha đã thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với Đức Thế Tôn cho Bà-la-môn Pokkharasāti nghe.
Evaṁ vutte, brāhmaṇo pokkharasāti ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ etadavoca: “aho vata re amhākaṁ, paṇḍitaka, aho vata re amhākaṁ, bahussutaka, aho vata re amhākaṁ, tevijjaka, evarūpena kira, bho, puriso atthacarakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Yadeva kho tvaṁ, ambaṭṭha, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ āsajja āsajja avacāsi, atha kho so bhavaṁ gotamo amhepi evaṁ upaneyya upaneyya avaca. Aho vata re amhākaṁ, paṇḍitaka, aho vata re amhākaṁ, bahussutaka, aho vata re amhākaṁ, tevijjaka, evarūpena kira, bho, puriso atthacarakena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyā”ti, kupito anattamano ambaṭṭhaṁ māṇavaṁ padasāyeva pavattesi. Icchati ca tāvadeva bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
Then Pokkharasāti said to Ambaṭṭha, “Oh, our bloody fake scholar, our fake learned man, who pretends to be proficient in the three Vedas! A man who behaves like this ought, when their body breaks up, after death, to be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. It’s only because you repeatedly attacked the worthy Gotama like that that he kept bringing up charges against us!” Angry and upset, he kicked Ambaṭṭha over, and wanted to go and see the Buddha right away.
291. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasāti đã nói điều này với thanh niên Ambaṭṭha: – Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “nhà thông thái” của chúng ta! Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “nhà đa văn” của chúng ta! Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “người thông tam Vệ-đà” của chúng ta! Này các ông, một người, do hành vi như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Ambaṭṭha, chính vì con đã xúc phạm, xúc phạm Tôn giả Gotama như vậy, nên Tôn giả Gotama ấy đã vạch trần, vạch trần (tổ tiên) của chúng ta như vậy. Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “nhà thông thái” của chúng ta! Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “nhà đa văn” của chúng ta! Ôi, thật đáng kinh ngạc cho cái gọi là “người thông tam Vệ-đà” của chúng ta! Này các ông, một người, do hành vi như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. (Nói xong), ông ta nổi giận, không vui lòng, đã dùng chân đá thanh niên Ambaṭṭha. Và ngay lúc ấy, ông ta muốn đến yết kiến Đức Thế Tôn.
Bà-la-môn Pokkharasāti đến yết kiến Đức Phật
Atha kho te brāhmaṇā brāhmaṇaṁ pokkharasātiṁ etadavocuṁ: “ativikālo kho, bho, ajja samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Svedāni bhavaṁ pokkharasāti samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.
Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā yāne āropetvā ukkāsu dhāriyamānāsu ukkaṭṭhāya niyyāsi, yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavantaṁ etadavoca:
Then those brahmins said to Pokkharasāti, “It’s much too late to visit the ascetic Gotama today. You can visit him tomorrow.”
So Pokkharasāti had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home. Then he mounted a carriage and, with attendants carrying torches, set out from Ukkaṭṭhā for the forest near Icchānaṅgala. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and entered the monastery on foot. He went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
292. Bấy giờ, các vị Bà-la-môn ấy đã nói điều này với Bà-la-môn Pokkharasāti: – Thưa ngài, hôm nay đã quá muộn để đến yết kiến Sa-môn Gotama. Ngày mai, Tôn giả Pokkharasāti sẽ có thể đến yết kiến Sa-môn Gotama. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại nhà mình, chất lên xe, và với những ngọn đuốc được mang theo, đã rời khỏi Ukkaṭṭhā, đi đến khu rừng Icchānaṅgala. Ông đi xe đến hết đoạn đường có thể đi xe, rồi xuống xe, đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đến gần, ông đã cùng Ngài nói lên những lời chào hỏi thăm lịch sự, sau khi trao đổi những lời nói thân hữu đáng ghi nhớ, rồi ngồi xuống một bên.
“Āgamā kho te, brāhmaṇa, antevāsī ambaṭṭho māṇavo”ti.
“Ahu pana te, bho gotama, ambaṭṭhena māṇavena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti?
“Ahu kho me, brāhmaṇa, ambaṭṭhena māṇavena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti.
“Yathākathaṁ pana te, bho gotama, ahu ambaṭṭhena māṇavena saddhiṁ kocideva kathāsallāpo”ti? Atha kho bhagavā yāvatako ahosi ambaṭṭhena māṇavena saddhiṁ kathāsallāpo, taṁ sabbaṁ brāhmaṇassa pokkharasātissa ārocesi.
Evaṁ vutte, brāhmaṇo pokkharasāti bhagavantaṁ etadavoca: “bālo, bho gotama, ambaṭṭho māṇavo, khamatu bhavaṁ gotamo ambaṭṭhassa māṇavassā”ti.
“Sukhī hotu, brāhmaṇa, ambaṭṭho māṇavo”ti.
“Yes he has, brahmin.”
“And did you have some discussion with him?”
“I did.”
“And what kind of discussion did you have with him?” Then the Buddha informed Pokkharasāti of all they had discussed.
Then Pokkharasāti said to the Buddha, “Ambaṭṭha is a fool, worthy Gotama. Please forgive him.”
“May the student Ambaṭṭha be happy, brahmin.”
293. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasāti đã bạch với Đức Thế Tôn điều này: – Thưa Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh niên Ambaṭṭha, có đến đây không? – Này Bà-la-môn, đệ tử của ông, thanh niên Ambaṭṭha, có đến. – Thưa Tôn giả Gotama, ngài có cuộc đối thoại nào với thanh niên Ambaṭṭha không? – Này Bà-la-môn, ta có một cuộc đối thoại với thanh niên Ambaṭṭha. – Thưa Tôn giả Gotama, cuộc đối thoại của ngài với thanh niên Ambaṭṭha đã diễn ra như thế nào? Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với thanh niên Ambaṭṭha cho Bà-la-môn Pokkharasāti nghe. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasāti đã bạch với Đức Thế Tôn điều này: – Thưa Tôn giả Gotama, thanh niên Ambaṭṭha thật ngu dại. Xin Tôn giả Gotama hãy tha thứ cho thanh niên Ambaṭṭha. – Này Bà-la-môn, mong rằng thanh niên Ambaṭṭha được an lạc.
Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi. Addasā kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve. Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.
Then Pokkharasāti scrutinized the Buddha’s body for the thirty-two marks of a great man. He saw all of them except two, which he had doubts about: whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.
294. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti đã tìm kiếm ba mươi hai tướng đại nhân trên thân của Đức Thế Tôn. Bà-la-môn Pokkharasāti đã thấy phần lớn ba mươi hai tướng đại nhân trên thân của Đức Thế Tôn, ngoại trừ hai tướng. Ông nghi ngờ, phân vân, không thể quyết định, không có lòng tin đối với hai tướng đại nhân: tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
Atha kho bhagavato etadahosi: “passati kho me ayaṁ brāhmaṇo pokkharasāti dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve. Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti. Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā addasa brāhmaṇo pokkharasāti bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ. Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
Then it occurred to the Buddha, “Pokkharasāti sees all the marks except two, which he has doubts about: whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.” Then the Buddha used his psychic power to will that Pokkharasāti would see his private parts sheathed in a foreskin. And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.
295. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã khởi lên ý nghĩ này: “Bà-la-môn Pokkharasāti này thấy phần lớn ba mươi hai tướng đại nhân của ta, ngoại trừ hai tướng. Ông nghi ngờ, phân vân, không thể quyết định, không có lòng tin đối với hai tướng đại nhân: tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã vận dụng thần thông theo cách mà Bà-la-môn Pokkharasāti có thể thấy tướng mã âm tàng của Đức Thế Tôn. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đưa lưỡi ra, chạm và xoa cả hai lỗ tai, chạm và xoa cả hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che kín cả vầng trán.
Atha kho brāhmaṇassa pokkharasātissa etadahosi: “samannāgato kho samaṇo gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehī”ti.
Bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Pokkharasāti thought, “The ascetic Gotama possesses the thirty-two marks completely, lacking none.”
He said to the Buddha, “Would the worthy Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept today’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
296. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti khởi lên ý nghĩ này: "Sa-môn Gotama thành tựu ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, đầy đủ chứ không thiếu sót." (Ông) bạch với Thế Tôn lời này: "Mong Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của con cho ngày hôm nay." Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavato adhivāsanaṁ viditvā bhagavato kālaṁ ārocesi: “kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena brāhmaṇassa pokkharasātissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavantaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, māṇavakāpi bhikkhusaṅghaṁ. Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then, knowing that the Buddha had consented, Pokkharasāti announced the time to him, “It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.” Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Pokkharasāti together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out. Then Pokkharasāti served and satisfied the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods, while his young students served the Saṅgha. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Pokkharasāti took a low seat and sat to one side.
297. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti, biết được sự nhận lời của Thế Tôn, liền báo thời giờ cho Thế Tôn: "Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã dọn xong." Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng đi đến trú xứ của Bà-la-môn Pokkharasāti. Sau khi đến, Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti tự tay dâng cúng và làm cho Thế Tôn hài lòng với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi Ngài dùng đủ; các thanh niên cũng phục vụ Tăng chúng. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti, khi thấy Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một chiếc ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnassa kho brāhmaṇassa pokkharasātissa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ; kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi brāhmaṇaṁ pokkharasātiṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva brāhmaṇassa pokkharasātissa tasmiññeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Then the Buddha taught him step by step, with a talk on giving, ethical conduct, and heaven. He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. And when the Buddha knew that Pokkharasāti’s mind was ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the brahmin Pokkharasāti: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
298. Khi Bà-la-môn Pokkharasāti đang ngồi một bên, Thế Tôn thuyết cho ông bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài chỉ rõ sự nguy hại, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các dục, và lợi ích của sự xuất ly. Khi Thế Tôn biết Bà-la-môn Pokkharasāti đã có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không triền cái, tâm hân hoan, tâm tịnh tín, bấy giờ Ngài mới thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, đó là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải thanh tịnh, không còn vết bẩn, sẽ dễ dàng thấm thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không trần, không uế đã khởi lên cho Bà-la-môn Pokkharasāti: "Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt."
Bà-la-môn Pokkharasāti tuyên bố trở thành Ưu-bà-tắc
Atha kho brāhmaṇo pokkharasāti diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bho gotama, saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Yathā ca bhavaṁ gotamo ukkaṭṭhāya aññāni upāsakakulāni upasaṅkamati, evameva bhavaṁ gotamo pokkharasātikulaṁ upasaṅkamatu. Tattha ye te māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṁ gotamaṁ abhivādessanti vā paccuṭṭhissanti vā āsanaṁ vā udakaṁ vā dassanti cittaṁ vā pasādessanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Kalyāṇaṁ vuccati, brāhmaṇā”ti.
Then Pokkharasāti saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, just so has the worthy Gotama made the Teaching clear in many ways. Together with my children, wives, retinue, and ministers, I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
Just as the worthy Gotama visits other devoted families in Ukkaṭṭhā, may he visit mine. The brahmin boys and girls there will bow to you, rise in your presence, give you a seat and water, and gain confidence in their hearts. That will be for their lasting welfare and happiness.”
“That’s nice of you to say, householder.”
299. Bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasāti, đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết do dự, đã đạt đến sự vô úy, không còn phải y cứ vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, liền bạch với Thế Tôn lời này: "Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Thưa Tôn giả Gotama, con đây, cùng với con trai, vợ, đoàn tùy tùng và các vị đại thần, xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một người Ưu-bà-tắc đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và cũng như Tôn giả Gotama thường đến thăm các gia đình Ưu-bà-tắc khác ở Ukkaṭṭhā, mong Tôn giả Gotama cũng hãy đến thăm gia đình của Pokkharasāti. Ở đó, những thanh niên hay thiếu nữ nào đảnh lễ Tôn giả Gotama, hay đứng dậy chào đón, hay dâng cúng chỗ ngồi hoặc nước, hay làm cho tâm mình hoan hỷ, điều đó sẽ đem lại cho họ lợi ích và an lạc lâu dài." "Này Bà-la-môn, ông đã nói lời lành."
Ambaṭṭhasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Ambaṭṭha, kinh thứ ba, chấm dứt.