- Dīgha Nikāya 18
Bản dịch
DN 18 — Kinh Janavasabha
Janavasabhasutta
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời Thế Tôn ở Nādika (bộ lạc Na-đề-ca) tại Ginjakàvasatha (nhà làm bằng gạch). Lúc bấy giờ, Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã sống, đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh như bộ lạc Kāsi (Ca-thi), Kosala (Câu-tát-la), Vajjì (Bạt-kỳ), Malla (Mạt-la), Cetī (Chi-đề), Vansa (Bạt-sa), Kuru (Câu-lâu), Pancàla (Ban-giá-la), Maccha (Bà-sá-la) Sùrasena (Mậu-ba-tây-na):
SC 3- Vị này sanh ra tại chỗ này! Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nādika đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà, đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ tận diệt khổ đau. Hơn năm trăm vị Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác.
SC 4PTS cs 2 Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe: “Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kāsi, Kosala, Vajjì, Malla, Cetī, Vaṁsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này. Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (Thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy, lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.
SC 5PTS cs 3 Tôn giả Ānanda được nghe: “Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kāsi, Kosala, Vajjì, mallà, Cetī, Vaṁsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn 50 vị tín đồ Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh (thiên giới) từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nãdikã đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nãdikã được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc”.
SC 6PTS cs 4 Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Nhưng ở tại Magadha (Ma-kiệt-đà), có nhiều tín đồ đã tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga (Ương-già) và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp và tin tưởng Tăng, và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và sự mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiện giới. Lại có vua Seniya Bimbisāra (Tư-ni-du Tần-bà-sa) xứ Magadha sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau: “Vị vua sống như pháp, dùng chánh pháp trị nước, đã làm cho chúng ta sung sướng, vị này mệnh chung. Chúng ta đã sống thật hạnh phúc dưới thời vua sống như Pháp và dùng Chánh pháp trị nước này. Vị vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ”. Và dân chúng cũng nói: “Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn”. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay, nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin và từ đó được sanh lên thiên giới. Lại nữa Thế Tôn chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng Bồ đề ở Magadha tại Magadha thì sao Ngài lại không nói đến về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha? Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha thời các vị này sẽ đau buồn và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không trả lời được?”.
SC 7PTS cs 5 Sau khi đã suy nghĩ một mình, yên lặng, vì các tín đồ ở Magadha, tôn giả Ānanda sáng hôm sau thức dậy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn con có nghe: Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kāsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceit, Vaṁsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena: “Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất Lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác”. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc.
SC 9PTS cs 6 Bạch Thế Tôn, nhưng ở tại Magadha có nhiều tín đồ này tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, và như vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên Thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại có vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau: “Vị vua sống như Pháp, và dùng Chánh pháp cai trị nước này. Vị Vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ”. Và dân chúng cũng nói: “Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn”. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại nữa Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề ở Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ đề ở Magadha, thời sao Ngài không nói về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha. Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha, thời các vị này sẽ đau buồn, và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không thể trả lời được!
SC 10Tôn giả Ānanda, vì các tín đồ ở Magadha, sau khi đã trình lên trước Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ ra đi.
SC 11PTS cs 7 Sau khi tôn giả Ānanda đi ra không bao lâu, Thế Tôn liền đắp y vào buổi sáng, tay cầm y bát, đi vào Nàdikà để khất thực. Khi khất thực ở Nàdikà xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ngài vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ, tư duy chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?” Thế Tôn thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, sau khi tịnh niệm, bước ra khỏi ngôi nhà bằng gạch, rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, dưới bóng ngôi nhà.
SC 12PTS cs 8 Rồi Tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn ở, lúc đến xong, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 13—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngó thật là an tịnh; diện sắc của Thế Tôn như là sáng chói nhờ các căn thật sự thanh tịnh. Bạch Thế Tôn Thế Tôn hôm nay an trú có được hoan hỷ không?
SC 14PTS cs 9 - Này Ānanda, sau khi Ngươi, vì các tín đồ ở Magadha đã nói trước mặt Ta như vậy và đứng dậy ra về, Ta đi khất thực ở Nàdikà xong, sau bữa ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ta vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các vị Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?” Rồi Ta thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Này Ānanda, lúc bấy giờ một vị Dạ-xoa (Yakkha) ẩn mình lớn tiếng nói rằng: “Bạch Thế Tôn, con tên là Janavāsabha. Bạch Thiện Thệ, con là Janavāsabha”. Này Ānanda, Ngươi từ trước đã từng được nghe ai tên là Janavāsabha (Xà-ni-sa) chưa?
SC 15- Bạch Thế Tôn, con từ trước chưa từng được nghe ai tên Janavāsabha. Bạch Thế Tôn, khi con nghe tên Janavāsabha, con có cảm giác râu tóc bị dựng ngược, Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ: “Vị Dạ-xoa này không phải là hạng tầm thường, vì đã mang tên Janavāsabha”.
SC 16PTS cs 10 - Này Ānanda, khi những lời ấy được nói xong, vị Dạ-xoa ấy hiện ra trước mặt Ta, nhan sắc thật phi thường và lần thứ hai, vị ấy nói:
SC 17“- Bạch Thế Tôn, con là Bimbisāra! Bạch Thế Tôn, con là Bimbisāra! Bạch Thế Tôn, nay là lần thứ bảy con được sanh vào giòng họ vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương). Con chết đi trong địa vị làm vua ở nhơn gian, nay được sanh trên thiên giới, làm bậc phi nhân.
SC 18Từ đây đến bảy lần
Từ kia đến bảy lần
Mười bốn lần tái sanh.
Như vậy con biết được,
Ðời quá khứ của con.
SC 19Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.
SC 20“- Thật hy hữu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavāsabha! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavāsabha đã nói với ta: ‘Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.’ Do nguyên nhân gì, Hiền giả Dạ-xoa Janavāsabha tự biết mình đã đạt được địa vị cao thượng, thù thắng như vậy?”
SC 2111: “Bạch Thế Tôn, không gì khác ngoài giáo lý của Ngài! Từ khi con nhất hướng quy y và tín ngưỡng Thế Tôn, từ khi ấy con không còn đọa lạc vào ác thú, vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai. Bạch Thế Tôn, con được vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương) nhờ con đi đến vua Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương) có chút công việc, giữa đường con thấy Thế Tôn vào ngôi nhà bằng gạch suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng thế nào? “Bạch Thế Tôn! Không thể kỳ diệu sao được khi con đối mặt tự thân nghe từ miệng vua Vessavana nói với hội chúng của mình, các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mệnh như thế nào? Bạch Thế Tôn! Ta sẽ đề cập vấn đề với Thế Tôn!” Bạch Thế Tôn, đó là hai nguyên nhân khiến con đến yết kiến Thế Tôn!
SC 22PTS cs 12 “Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát (Uposatha) trong tháng nhập an cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tàvatimsà (Tam thập tam thiên) ngồi họp hội tại Thiện Pháp đường (Sudhamma). Xung quanh có Ðại Thiên chúng ngồi khắp mọi phía, tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi. Ðại vương Dhataraṭṭha (Trì Quốc Thiên vương) vua ở phương Ðông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùlhaka (Tăng Trưởng Thiên vương), vua ở phương Nam ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Virùpakkha (Quảng Mục Thiên vương) vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng Ðông, trước mặt Thiên chúng. Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương), vua ở phương Bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mặt Thiên chúng. Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường xung quanh có Ðại thiên chúng ngồi khắp mọi phía, và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự chỗ ngồi của những vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch Thế Tôn, chư Thiên nào trước sống Phạm hạnh theo Thế Tôn và nay nếu sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng. Bạch Thế Tôn chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh: “Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.
SC 23PTS cs 13 “Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ Thiện chủ Ðế thích (Sakka Inda) thấy chư thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền tùy hỷ nói lên bài kệ như sau:
SC 24Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh,
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống Phạm hạnh,
Nay sanh tại cõi này.
Họ thắng về quang sắc,
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
SC 25“Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh hơn nữa và nói: “Thiện giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt”.
SC 26PTS cs 14 “Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư thảo luận về mục đích ấy. Và tùy thuộc về mục đích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng. Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình.
SC 27Các đại vương chấp nhận
Lời giảng dạy khuyến giáo.
Thanh thoát và an tịnh,
Ðứng bên chỗ mình ngồi.
SC 28PTS cs 15 “Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra, thắng xa oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn rồi Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên: “Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra như vậy báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra”.
SC 29Theo hiện tượng được thấy,
Phạm thiên sẽ xuất hiện.
Hiện tượng đấng Phạm thiên,
Là hào quang vi diệu.
SC 30PTS cs 16 “Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi xuống trên ghế của mình và nói: “Chúng tôi sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy”.
SC 31“Cũng vậy, bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói: “Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy”. Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý: “Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng ta sẽ đi gặp vị ấy”.
SC 32PTS cs 17 “Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumãra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, sắc tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tham thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra hiện ra trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên nào trong chúng này đảnh lễ, đứng dậy hoặc mời vị Phạm thiên ngồi. Tất cả đều yên lặng, chấp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ: “Này, nếu Phạm thiên Sanankumāra muốn gì với vị Thiên nào, thời hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy”. Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quán đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, vô cùng hoan hỷ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra (Thường Ðồng hình Phạm thiên) ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ.
SC 33PTS cs 18 “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện với hình tượng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha (Ngũ Kế) trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Bay bổng lên trời, vị này ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kiết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng hay trên một mặt đất thăng bằng, cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không, thấy được sự an tịnh của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền nói lên sự hoan hỷ của mình bằng bài kệ sau đây:
SC 34Chư Tam thập tam thiên
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai,
Cùng Chánh pháp vi diệu.
Thấy Thiên chúng tân sanh
Quang sắc thật thù thắng,
Các vị sống Phạm hạnh
Hay sanh tại cõi này.
Chúng thắng về quang sắc
Thọ mạng và danh xưng,
Ðệ tử bậc Ðại Tuệ,
Thù thắng sanh cõi này.
Chư Tam thập tam thiên
Cùng Ðế-thích hoan hỷ,
Ðảnh lễ bậc Như Lai
Cùng Chánh pháp vi diệu.
SC 35PTS cs 19 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, tiếng nói của Phạm thiên Sanankumāra có tám đặc điểm sau đây: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanankumāra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn, một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy gọi là Phạm âm.
SC 36PTS cs 20 “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra, tự hiện hóa ba mươi hóa thân, mỗi thân ngồi kiết già trên mỗi chỗ ngồi của chư Thiên ở Tam thập tam thiên và nói với chư Thiên, này như sau:
SC 37“- Này Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Thế Tôn phục vụ cho hạnh phúc chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chư Thiện hữu, những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và giữ trọn giới luật, những vị này khi thân hoại mệnh chung, một số được sanh lên Thiên chúng Parinimiitta—Vasavattī (Tha Hóa Tự tại thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Nimmànaratì (Hóa Lạc thiên); một số được sanh lên Thiên chúng Tusità (Ðâu-suất thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Yàmà (Dạ-ma-thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Tà-vatimsà (Tam thập tam thiên), một số được sanh lên Thiên chúng Catumàràjikà (Tứ Thiên vương thiên), những ai phải điền vào cho đủ số hạ phẩm nhất được sanh vào chúng Gandhabba (Càn-thát-bà).
SC 38PTS cs 21 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, giọng nói của Phạm thiên Sanankumāra về vấn đề này được nói một cách khiến mỗi vị Thiên nghĩ rằng: “Vị ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ vị ấy nói mà thôi”.
SC 39Chỉ một Phạm thiên nói,
Mọi hóa thân đều nói,
Chỉ một vị im lặng,
Tất cả đều im lặng.
Chư Tam thập tam thiên,
Cùng Ðế-thích nghĩ rằng:
Chỉ vị ngồi chỗ ta,
Chỉ vị ấy riêng nói.
SC 40PTS cs 22 “Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra thâu nhiếp tất cả thân thành một thân, sau khi thâu nhiếp, liền ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka và nói với Thiên chúng ở Tam thập tam thiên:
SC 41“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn pháp thần túc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Thế nào là bốn? Ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu dục, thiền định tinh cần hành … tinh tấn thiền định … tâm thiền định … tu tập thần túc, câu hữu với tư duy thiền định, tinh cần hành. Bốn pháp thần túc này đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều sẽ tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị có thấy ở nơi tôi thần lực như vậy không?
SC 42“- Có như vậy, Phạm thiên!
SC 43“- Chư Thiện hữu, tôi nhờ tu tập và phát triển bốn thần túc này mà nay thành tựu đại thần lực như vậy, đại uy đức như vậy.
SC 44PTS cs 23 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanankumāra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 45“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, quý vị nghĩ thế nào? Ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là ba?
SC 46“Chư Thiện hữu, ở đây có người thân cận dục lạc, thân cận bất thiện pháp. Sau một thời gian, vị nào được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Và khi nghe được Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp vị này sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp. Nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, như từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy, Chư thiện hữu nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ nhất hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.
SC 47PTS cs 24 “Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người thân hành thô lậu, chưa được an tịnh, khẩu hành thô lậu … ý hành thô lậu chưa được an tịnh, sau một thời gian vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành thô lậu của vị này … ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành … ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, nhờ từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy chư Thiện hữu, nhờ thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành … ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ hai hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.
SC 48PTS cs 25 “Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người không như thật biết: “đây là thiện”, không như thật biết: “đây là bất thiện”, không như thật biết: “đây là có tội”, “đây là không tội”, “đây cần phải thuận theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đều”. Sau một thời gian, vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp, vị này như thật biết: “đây là thiện”, như thật biết: “đây là bất thiện”, như thật biết: “đây là có tội”, “đây là không tội”, “đây cần phải thuận theo”, “đây cần phải né tránh”, “đây là hạ liệt”, “đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đều”. Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, vô minh của vị này được trừ diệt, minh được sanh khởi. Vị này nhờ vô minh được trừ diệt và minh sanh khởi, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ ba hướng đến an lạc, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.
SC 49“Chư Thiện hữu, đó là ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ.
SC 50PTS cs 26 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanankumāra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 51“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn Niệm xứ hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là bốn? Chư Thiện hữu, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán thân trên nội thân vị này được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi đối với các thân khác ngoài tự thân. Vị Tỷ-kheo sống quán các cảm thọ từ nội thân … quán tâm … quán pháp đối với các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán pháp đối với các pháp, tâm được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi, đối với các pháp khác.
SC 52“Chư Thiện hữu, bốn Niệm xứ này hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ”.
SC 53PTS cs 27 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanankumāra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
SC 54“- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào về bảy pháp Ðịnh tư lương (Samādhi-parikkhàrà) để tu hành chánh định, để kiện toàn thiền định, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác chứng ngộ? Thế nào là bảy? Như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chư Thiện hữu, nhứt cảnh tánh của tâm do bảy chi này sửa soạn, được gọi là thánh chánh định cùng với các y chỉ và dùng với các tư lương. Chư Thiện hữu, chánh tư duy vừa đủ để chánh tri kiến sanh khởi, chánh ngữ vừa đủ để chánh tư duy sanh khởi, chánh nghiệp vừa đủ để chánh ngữ sanh khởi, chánh mạng vừa đủ để chánh nghiệp sanh khởi, chánh tinh tấn vừa đủ để chánh mạng sanh khởi, chánh niệm vừa đủ để chánh tinh tấn sanh khởi, chánh định vừa đủ để chánh niệm sanh khởi, chánh trí vừa đủ để chánh định sanh khởi, chánh giải thoát vừa đủ để chánh trí sanh khởi.
SC 55“Chư Thiện hữu, nếu có người nói lời chánh ngữ sau đây: “Chánh pháp đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở”. Nói như vậy là chánh ngữ. Chư Thiện hữu, vì chánh pháp thật sự đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở.
SC 56“Chư Thiện hữu, những ai tin tưởng Phật không có thối chuyển, tin tưởng Pháp không có thối chuyển, tin tưởng Tăng không có thối chuyển, đầy đủ giới hạnh khiến bậc Thánh hoan hỷ, tất cả những vị được hóa sanh được Chánh pháp hướng dẫn, hơn hai trăm bốn mươi vạn vị cư sĩ ở Magadha đã từ trần mệnh chung, những vị này đều diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa vào ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác. Lại có những vị Nhất lai:
SC 57Với hạng chúng sanh này
Ước lượng phần công đức.
Không thể ước lượng được
Sợ phạm tội vọng ngữ.
SC 58PTS cs 28 “Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra. Bạch Thế Tôn, được biết nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra, đại vương Vessavana khởi lên suy tư sau đây: “Chư Thiện hữu, thật là kỳ diệu! Chư Thiện hữu, thật là hy hữu, được có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, được một con đường đặc biệt như vậy”.
SC 59“Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanankumāra tự tâm mình biết được tâm trí của đại vương Vessavana như vậy, liền thưa với đại vương:
SC 60“- Ðại vương Vessavana nghĩ như thế nào? Trong thời quá khứ đã có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, đã được trình bày một con đường đặc biệt như vậy … Trong thời gian tương lai, sẽ có một Ðại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, sẽ được trình bày một con đường đặc biệt như vậy”.
SC 61PTS cs 29 Ðó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Ðại vương Vessavana sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Phạm thiên Sanankumāra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, liền nói với chúng của mình. Dạ-xoa Janavāsabha sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của đại vương Vessavana nói với hội chúng, liền bạch lại với Thế Tôn. Thế Tôn sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Dạ-xoa Janavāsabha, và sau khi tự mình chứng tri liền nói lại cho tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Thế Tôn liền nói lại cho chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Phạm hạnh này được hưng thịnh, được quảng bá, được truyền rộng cho đại chúng càng ngày càng đông, vì được khéo léo trình bày cho loài Người.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 18
With Janavasabha
5. Kinh Janavasabha
1. Nātikiyādibyākaraṇa
Evaṁ me sutaṁ—
1. Declaring the Rebirths of People From Ñātika and Elsewhere
So I have heard.
Lời Thọ Ký Về Dân Làng Nātikā
Tena kho pana samayena bhagavā parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṁsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu:
“asu amutra upapanno, asu amutra upapanno.
Paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā.
Sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti.
Now at that time the Buddha was explaining the rebirths of devotees all over the nations; the Kāsis and Kosalans, Vajjis and Mallas, Cetīs and Vacchas, Kurus and Pañcālas, Macchas and Sūrasenas:
“This one was reborn here, while that one was reborn there.
Over fifty devotees in Ñātika have passed away having ended the five lower fetters. They’ve been reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world.
More than ninety devotees in Ñātika have passed away having ended three fetters, and weakened greed, hate, and delusion. They’re once-returners, who will come back to this world once only, then make an end of suffering.
More than five hundred devotees in Ñātika have passed away having ended three fetters. They’re stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
273. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở làng Nātika, tại nhà gạch. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự đã qua đời, đã mệnh chung ở các xứ lân cận, ở các xứ Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Ceti, Vaṃsa, Kuru, Pañcāla, Majjha, Sūrasena: ‘Vị này đã sanh ở nơi kia, vị này đã sanh ở nơi kia. Hơn năm mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở tại nơi ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy. Hơn chín mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, và do tham, sân, si đã được làm cho muội lược, là bậc Nhất Lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Hơn năm trăm vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.’
Assosuṁ kho nātikiyā paricārakā: “bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṁsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu: ‘asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. Paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. Sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti. Sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’”ti. Tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṁ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā.
When the devotees of Ñātika heard about the Buddha’s answers to those questions, they became uplifted and overjoyed, full of rapture and happiness.
274. Các vị cận sự ở Nātika đã nghe được rằng: ‘Đức Thế Tôn được cho là đã tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự đã qua đời, đã mệnh chung ở các xứ lân cận, ở các xứ Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Ceti, Vaṃsa, Kuru, Pañcāla, Majjha, Sūrasena: “Vị này đã sanh ở nơi kia, vị này đã sanh ở nơi kia. Hơn năm mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở tại nơi ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy. Hơn chín mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, và do tham, sân, si đã được làm cho muội lược, là bậc Nhất Lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Hơn năm trăm vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.”’ Và do đã nghe được lời giải đáp của đức Thế Tôn, các vị cận sự ở Nātika đã được hài lòng, hoan hỷ, phấn khởi và vui mừng.
Assosi kho āyasmā ānando: “bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṁsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu: ‘asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. Paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. Sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti. Sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti. Tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṁ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”ti.
Venerable Ānanda heard of the Buddha’s statements and the Ñātikans’ happiness.
275. Tôn giả Ānanda đã nghe được rằng: ‘Đức Thế Tôn được cho là đã tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự đã qua đời, đã mệnh chung ở các xứ lân cận, ở các xứ Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Ceti, Vaṃsa, Kuru, Pañcāla, Majjha, Sūrasena: “Vị này đã sanh ở nơi kia, vị này đã sanh ở nơi kia. Hơn năm mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở tại nơi ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy. Hơn chín mươi vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, và do tham, sân, si đã được làm cho muội lược, là bậc Nhất Lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau. Hơn năm trăm vị cận sự ở Nātika đã qua đời, đã mệnh chung, do đã đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.” Và do đã nghe được lời giải đáp của đức Thế Tôn, các vị cận sự ở Nātika đã được hài lòng, hoan hỷ, phấn khởi và vui mừng.’
2. Ānandaparikathā
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “ime kho panāpi ahesuṁ māgadhakā paricārakā bahū ceva rattaññū ca abbhatītā kālaṅkatā. Suññā maññe aṅgamagadhā aṅgamāgadhakehi paricārakehi abbhatītehi kālaṅkatehi.
2. Ānanda’s Suggestion
Then Venerable Ānanda thought, “But there were also Magadhan devotees—many, and of long standing too—who have passed away. You’d think that Aṅga and Magadha were empty of devotees who have passed away!
Lời trình bày của Ānanda
Ayaṁ kho panāpi ahosi rājā māgadho seniyo bimbisāro dhammiko dhammarājā hito brāhmaṇagahapatikānaṁ negamānañceva jānapadānañca. Apissudaṁ manussā kittayamānarūpā viharanti: ‘evaṁ no so dhammiko dhammarājā sukhāpetvā kālaṅkato, evaṁ mayaṁ tassa dhammikassa dhammarañño vijite phāsu viharimhā’ti. So kho panāpi ahosi buddhe pasanno dhamme pasanno saṅghe pasanno sīlesu paripūrakārī. Apissudaṁ manussā evamāhaṁsu: ‘yāva maraṇakālāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṁ kittayamānarūpo kālaṅkato’ti. So abbhatīto kālaṅkato bhagavatā abyākato. Tassapissa sādhu veyyākaraṇaṁ bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṁ.
Bhagavato kho pana sambodhi magadhesu. Yattha kho pana bhagavato sambodhi magadhesu, kathaṁ tatra bhagavā māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya. Bhagavā ce kho pana māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya, dīnamanā tenassu māgadhakā paricārakā; yena kho panassu dīnamanā māgadhakā paricārakā kathaṁ te bhagavā na byākareyyā”ti?
That King Seniya Bimbisāra of Magadha was a just and principled king who benefited the brahmins and householders, and people of town and country. People still sing his praises: ‘That just and principled king, who made us so happy, has passed away. Life was good under his dominion.’ He too had confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and had fulfilled his ethics. People say: ‘Until his dying day, King Bimbisāra sang the Buddha’s praises!’ The Buddha hasn’t declared his passing. It would be good to do so, for many people would gain confidence, and so be reborn in a good place.
Besides, the Buddha was awakened in Magadha; so why hasn’t he declared the rebirth of the Magadhan devotees? If he fails to do so, they will be disheartened.”
276. Rồi tôn giả Ānanda đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Cũng có những vị cận sự người xứ Māgadha này, đông đảo và kỳ cựu, đã qua đời, đã mệnh chung. Ta nghĩ rằng xứ Aṅga và Māgadha đã trở nên trống vắng các vị cận sự người Aṅga và Māgadha đã qua đời, đã mệnh chung. Và họ đã có niềm tin vào đức Phật, có niềm tin vào Giáo Pháp, có niềm tin vào Tăng chúng, và là những người thực hành viên mãn các giới. Họ đã qua đời, đã mệnh chung, nhưng chưa được đức Thế Tôn tuyên bố; việc tuyên bố về họ cũng sẽ là điều tốt lành; nhiều người sẽ có được niềm tin, và nhờ đó sẽ đi đến cõi lành. Và cũng có vị vua xứ Māgadha này, Seniya Bimbisāra, là vị vua đúng Pháp, một vị Pháp vương, người mưu cầu lợi ích cho các vị bà-la-môn và gia chủ, cho dân thị thành và thôn quê. Và người ta vẫn còn sống trong khi tán dương ngài rằng: ‘Vị vua đúng Pháp, vị Pháp vương ấy đã làm cho chúng ta được an lạc rồi mệnh chung; chúng ta đã sống thoải mái trong vương quốc của vị vua đúng Pháp, vị Pháp vương ấy.’ Và ngài cũng đã có niềm tin vào đức Phật, có niềm tin vào Giáo Pháp, có niềm tin vào Tăng chúng, và là người thực hành viên mãn các giới. Và người ta cũng đã nói như vầy: ‘Cho đến lúc lâm chung, vua Seniya Bimbisāra xứ Māgadha vẫn tán dương đức Thế Tôn rồi mệnh chung.’ Ngài đã qua đời, đã mệnh chung, nhưng chưa được đức Thế Tôn tuyên bố. Việc tuyên bố về ngài cũng sẽ là điều tốt lành; nhiều người sẽ có được niềm tin, và nhờ đó sẽ đi đến cõi lành. Và sự giác ngộ hoàn toàn của đức Thế Tôn đã xảy ra ở xứ Māgadha. Nơi mà sự giác ngộ hoàn toàn của đức Thế Tôn đã xảy ra là ở xứ Māgadha, vậy tại sao ở nơi ấy đức Thế Tôn lại không tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự người Māgadha đã qua đời, đã mệnh chung? Nếu đức Thế Tôn không tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự người Māgadha đã qua đời, đã mệnh chung, thì các vị cận sự người Māgadha sẽ bị nản lòng; khi mà các vị cận sự người Māgadha sẽ bị nản lòng, tại sao đức Thế Tôn lại không tuyên bố về họ?’
Idamāyasmā ānando māgadhake paricārake ārabbha eko raho anuvicintetvā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bhante: ‘bhagavā kira parito parito janapadesu paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti kāsikosalesu vajjimallesu cetivaṁsesu kurupañcālesu majjhasūrasenesu: “asu amutra upapanno, asu amutra upapanno. Paropaññāsa nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. Sādhikā navuti nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti. Sātirekāni pañcasatāni nātikiyā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇāti. Tena ca nātikiyā paricārakā attamanā ahesuṁ pamuditā pītisomanassajātā bhagavato pañhaveyyākaraṇaṁ sutvā”’ti. Ime kho panāpi, bhante, ahesuṁ māgadhakā paricārakā bahū ceva rattaññū ca abbhatītā kālaṅkatā. Suññā maññe aṅgamagadhā aṅgamāgadhakehi paricārakehi abbhatītehi kālaṅkatehi. Te kho panāpi, bhante, ahesuṁ buddhe pasannā dhamme pasannā saṅghe pasannā sīlesu paripūrakārino, te abbhatītā kālaṅkatā bhagavatā abyākatā. Tesampissa sādhu veyyākaraṇaṁ, bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṁ. Ayaṁ kho panāpi, bhante, ahosi rājā māgadho seniyo bimbisāro dhammiko dhammarājā hito brāhmaṇagahapatikānaṁ negamānañceva jānapadānañca. Apissudaṁ manussā kittayamānarūpā viharanti: ‘evaṁ no so dhammiko dhammarājā sukhāpetvā kālaṅkato. Evaṁ mayaṁ tassa dhammikassa dhammarañño vijite phāsu viharimhā’ti. So kho panāpi, bhante, ahosi buddhe pasanno dhamme pasanno saṅghe pasanno sīlesu paripūrakārī. Apissudaṁ manussā evamāhaṁsu: ‘yāva maraṇakālāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṁ kittayamānarūpo kālaṅkato’ti. So abbhatīto kālaṅkato bhagavatā abyākato; tassapissa sādhu veyyākaraṇaṁ, bahujano pasīdeyya, tato gaccheyya sugatiṁ. Bhagavato kho pana, bhante, sambodhi magadhesu. Yattha kho pana, bhante, bhagavato sambodhi magadhesu, kathaṁ tatra bhagavā māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya? Bhagavā ce kho pana, bhante, māgadhake paricārake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu na byākareyya, dīnamanā tenassu māgadhakā paricārakā; yena kho panassu dīnamanā māgadhakā paricārakā kathaṁ te bhagavā na byākareyyā”ti. Idamāyasmā ānando māgadhake paricārake ārabbha bhagavato sammukhā parikathaṁ katvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
After pondering the fate of the Magadhan devotees alone in private, Ānanda rose at the crack of dawn and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and told the Buddha of his concerns, finishing by saying, “Why hasn’t the Buddha declared the rebirth of the Magadhan devotees? If he fails to do so, they will be disheartened.” Then Ānanda, after making this suggestion regarding the Magadhan devotees, rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
277. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda, nhân vì các vị cận sự nam ở xứ Māgadha, một mình ở nơi thanh vắng, sau khi đã suy ngẫm về điều này, vào lúc hừng đông của ban đêm, sau khi đã thức dậy, đi đến nơi Thế Tôn đang ngự; sau khi đã đến, đã đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, con đã nghe điều này: ‘Hình như Thế Tôn tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự nam ở các xứ lân cận đã mệnh chung, đã qua đời: ở các xứ Kāsi và Kosala, ở các xứ Vajji và Malla, ở các xứ Ceti và Vaṃsa, ở các xứ Kuru và Pañcāla, ở các xứ Majjha và Sūrasena: “Người này đã sanh ở nơi kia, người kia đã sanh ở nơi nọ.” Hơn năm mươi vị cận sự nam người Nātika đã mệnh chung, đã qua đời, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là các vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở nơi ấy, có đặc tính không trở lại từ thế giới ấy. Hơn chín mươi vị cận sự nam người Nātika đã mệnh chung, đã qua đời, do sự đoạn tận ba kiết sử, do sự suy yếu của tham, sân, và si, là các vị Nhất lai, sau khi đến thế gian này chỉ một lần, sẽ tận cùng khổ đau. Hơn năm trăm vị cận sự nam người Nātika đã mệnh chung, đã qua đời, do sự đoạn tận ba kiết sử, là các vị Nhập lưu, có đặc tính không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ.’ Và do điều ấy, các vị cận sự nam người Nātika đã hoan hỷ, đã phấn khởi, đã sanh khởi niềm vui và hân hoan sau khi nghe lời giải đáp của Thế Tôn.” “Và bạch ngài, những vị cận sự nam người Māgadha này cũng đã có mặt, rất nhiều và cũng là những người kỳ cựu, đã mệnh chung, đã qua đời. Con nghĩ rằng xứ Aṅga và Magadha trống vắng các vị cận sự nam người Aṅga và Māgadha đã mệnh chung, đã qua đời. Và bạch ngài, những vị ấy cũng đã có niềm tin nơi đức Phật, có niềm tin nơi Pháp, có niềm tin nơi Tăng, là những người thực hành trọn vẹn các giới. Những vị ấy đã mệnh chung, đã qua đời, chưa được Thế Tôn tuyên bố. Lành thay, nếu có lời tuyên bố về họ, nhiều người sẽ có niềm tin, do đó sẽ đi đến cõi lành. “Và bạch ngài, vị vua này của xứ Māgadha, Seniya Bimbisāra, cũng là người sống đúng Pháp, là một vị Pháp vương, người mang lại lợi ích cho các vị Bà-la-môn và gia chủ, và cho cả những người ở thị trấn và thôn quê. Và người ta vẫn còn ca ngợi ngài như vầy: ‘Vị Pháp vương sống đúng Pháp ấy, sau khi đã làm cho chúng ta được an lạc, đã qua đời. Chúng ta đã sống thoải mái như vậy trong vương quốc của vị Pháp vương sống đúng Pháp ấy.’ Và bạch ngài, vị ấy cũng đã có niềm tin nơi đức Phật, có niềm tin nơi Pháp, có niềm tin nơi Tăng, là người thực hành trọn vẹn các giới. Và người ta cũng đã nói như vầy: ‘Cho đến lúc lâm chung, vua Seniya Bimbisāra của xứ Māgadha vẫn ca ngợi Thế Tôn rồi qua đời.’ Vị ấy đã mệnh chung, đã qua đời, chưa được Thế Tôn tuyên bố. Lành thay, nếu có lời tuyên bố về ngài, nhiều người sẽ có niềm tin, do đó sẽ đi đến cõi lành. “Và bạch ngài, sự giác ngộ của Thế Tôn đã xảy ra ở xứ Magadha. Bạch ngài, ở nơi nào mà sự giác ngộ của Thế Tôn đã xảy ra, ở xứ Magadha, tại sao ở đó Thế Tôn lại không tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự nam người Māgadha đã mệnh chung, đã qua đời? Và bạch ngài, nếu Thế Tôn không tuyên bố về sự tái sanh của các vị cận sự nam người Māgadha đã mệnh chung, đã qua đời, do đó các vị cận sự nam người Māgadha sẽ buồn lòng; và do điều gì mà các vị cận sự nam người Māgadha sẽ buồn lòng, tại sao Thế Tôn lại không tuyên bố về họ?” Tôn giả Ānanda, nhân vì các vị cận sự nam người Māgadha, sau khi đã trình bày câu chuyện một cách gián tiếp trước mặt Thế Tôn, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đã đảnh lễ Thế Tôn, sau khi đi nhiễu bên phải, rồi ra đi.
Atha kho bhagavā acirapakkante āyasmante ānande pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya nātikaṁ piṇḍāya pāvisi. Nātike piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto pāde pakkhāletvā giñjakāvasathaṁ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṁ katvā manasikatvā sabbaṁ cetasā samannāharitvā paññatte āsane nisīdi: “gatiṁ nesaṁ jānissāmi abhisamparāyaṁ, yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā”ti. Addasā kho bhagavā māgadhake paricārake: “yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito giñjakāvasathā nikkhamitvā vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi.
Soon after Ānanda had left, the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Ñātika for alms. He wandered for alms in Ñātika. After the meal, on his return from almsround, he washed his feet and entered the brick house. He paid attention, applied the mind, and concentrated wholeheartedly on the fate of Magadhan devotees, and sat down on the seat spread out, thinking, “I shall know their destiny, where they are reborn in the next life.” And he saw where they had been reborn.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat. Emerging from the brick house, he sat down on the seat spread out in the shade of the porch.
278. Khi ấy, Thế Tôn, không lâu sau khi Tôn giả Ānanda ra đi, vào buổi sáng, sau khi đã đắp y, đã cầm y bát, đi vào làng Nātika để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Nātika, sau buổi ăn, sau khi trở về từ nơi khất thực, đã rửa chân, đi vào ngôi nhà gạch, và nhân vì các vị cận sự nam người Māgadha, sau khi đã chú tâm, đã tác ý, đã quán xét tất cả bằng tâm, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn: “Ta sẽ biết được cảnh giới và đời sau của họ, những vị tôn giả ấy có cảnh giới nào, có đời sau nào.” Thế Tôn đã thấy các vị cận sự nam người Māgadha: “Những vị tôn giả ấy có cảnh giới như vậy, có đời sau như vậy.” Khi ấy, Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi đã xuất khỏi nơi độc cư, đã đi ra khỏi ngôi nhà gạch, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn trong bóng mát của tu viện.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “upasantapadisso, bhante, bhagavā bhātiriva bhagavato mukhavaṇṇo vippasannattā indriyānaṁ. Santena nūnajja, bhante, bhagavā vihārena vihāsī”ti?
“Yadeva kho me tvaṁ, ānanda, māgadhake paricārake ārabbha sammukhā parikathaṁ katvā uṭṭhāyāsanā pakkanto, tadevāhaṁ nātike piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto pāde pakkhāletvā giñjakāvasathaṁ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṁ katvā manasikatvā sabbaṁ cetasā samannāharitvā paññatte āsane nisīdiṁ: ‘gatiṁ nesaṁ jānissāmi abhisamparāyaṁ, yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā’ti. Addasaṁ kho ahaṁ, ānanda, māgadhake paricārake ‘yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā’ti.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, you look so serene; your face seems to shine owing to the clarity of your faculties. Have you been abiding in a peaceful meditation today, sir?”
The Buddha then recounted what had happened since speaking to Ānanda, revealing that he had seen the destiny of the Magadhan devotees. He continued:
279. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có vẻ ngoài thật an tịnh, sắc diện của Thế Tôn thật rạng rỡ dường như tỏa sáng do các căn được trong sạch. Bạch Thế Tôn, chắc hẳn hôm nay Thế Tôn đã an trú bằng một sự an trú an tịnh?’ ‘Này Ānanda, chính về vấn đề liên quan đến các người cận sự ở xứ Māgadha mà ngươi đã nói chuyện một cách gián tiếp trước mặt ta rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, chính về vấn đề đó, sau khi đi khất thực ở Nātika, sau bữa ăn, từ nơi khất thực trở về, rửa chân xong, ta đã đi vào ngôi nhà gạch, và liên quan đến các người cận sự ở xứ Māgadha, ta đã chú tâm, tác ý, tổng hợp tất cả trong tâm, rồi ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn với ý nghĩ: “Ta sẽ biết được cảnh giới, đời sau của họ, những vị ấy có cảnh giới nào, có đời sau ra sao.” Này Ānanda, ta đã thấy các người cận sự ở xứ Māgadha, thấy được “những vị ấy có cảnh giới nào, có đời sau ra sao.”’
3. Janavasabhayakkha
3. Janavasabha the Spirit
Dạ xoa Janavasabha
Atha kho, ānanda, antarahito yakkho saddamanussāvesi: ‘janavasabho ahaṁ, bhagavā; janavasabho ahaṁ, sugatā’ti. Abhijānāsi no tvaṁ, ānanda, ito pubbe evarūpaṁ nāmadheyyaṁ sutaṁ yadidaṁ janavasabho”ti?
“Then, Ānanda, an invisible spirit called out: ‘I am Janavasabha, Blessed One! I am Janavasabha, Holy One!’ Ānanda, do you recall having previously heard such a name as Janavasabha?”
280. ‘Này Ānanda, khi ấy, một dạ xoa ẩn mình đã cất lên tiếng nói: ‘Con là Janavasabha, bạch Thế Tôn; con là Janavasabha, bạch Thiện Thệ!’ Này Ānanda, trước đây ngươi có nhớ là đã từng nghe một danh xưng như vậy, tức là Janavasabha không?’
“Na kho ahaṁ, bhante, abhijānāmi ito pubbe evarūpaṁ nāmadheyyaṁ sutaṁ yadidaṁ janavasabhoti, api ca me, bhante, lomāni haṭṭhāni ‘janavasabho’ti nāmadheyyaṁ sutvā. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘na hi nūna so orako yakkho bhavissati yadidaṁ evarūpaṁ nāmadheyyaṁ supaññattaṁ yadidaṁ janavasabho’”ti.
“Anantarā kho, ānanda, saddapātubhāvā uḷāravaṇṇo me yakkho sammukhe pāturahosi. Dutiyakampi saddamanussāvesi: ‘bimbisāro ahaṁ, bhagavā; bimbisāro ahaṁ, sugatāti. Idaṁ sattamaṁ kho ahaṁ, bhante, vessavaṇassa mahārājassa sahabyataṁ upapajjāmi, so tato cuto manussarājā bhavituṁ pahomi.
“No, worthy sir. But when I heard the word, I got goosebumps! I thought, ‘This must be no ordinary spirit to bear such an exalted name as Janavasabha.’”
“After making himself heard while invisible, Ānanda, an exceptionally beautiful spirit appeared in front of me. And for a second time he called out: ‘I am Bimbisāra, Blessed One! I am Bimbisāra, Holy One! This is the seventh time I am reborn in the company of the Great King Vessavaṇa. When I pass away from here, I can become a king of men.
‘Bạch Thế Tôn, con không nhớ là trước đây đã từng nghe một danh xưng như vậy, tức là Janavasabha. Tuy nhiên, bạch Thế Tôn, khi nghe danh xưng ‘Janavasabha’, lông của con đã dựng đứng cả lên. Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ thế này: ‘Chắc hẳn vị dạ xoa có danh xưng được đặt hay như vậy, tức là Janavasabha, không phải là một dạ xoa tầm thường.’ ‘Này Ānanda, ngay sau khi tiếng nói phát ra, một dạ xoa có dung sắc tuyệt vời đã hiện ra trước mặt ta. Vị ấy lại cất tiếng nói lần thứ hai: ‘Con là Bimbisāra, bạch Thế Tôn; con là Bimbisāra, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, đây là lần thứ bảy con tái sanh làm bạn đồng hành của đại vương Vessavaṇa. Sau khi mệnh chung từ đó, con có khả năng trở thành một vị vua loài người.’
Ito satta tato satta, saṁsārāni catuddasa; Nivāsamabhijānāmi, yattha me vusitaṁ pure.
Seven from here, seven from there—fourteen transmigrations in all. I remember these lives where I lived before.
Bảy lần từ cõi này, bảy lần từ cõi kia, mười bốn vòng luân hồi; con nhớ rõ nơi trú ngụ, nơi con đã sống trước đây.
Dīgharattaṁ kho ahaṁ, bhante, avinipāto avinipātaṁ sañjānāmi, āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāyā’”ti.
“Acchariyamidaṁ āyasmato janavasabhassa yakkhassa, abbhutamidaṁ āyasmato janavasabhassa yakkhassa.
‘Dīgharattaṁ kho ahaṁ, bhante, avinipāto avinipātaṁ sañjānāmī’ti ca vadesi, ‘āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāyā’ti ca vadesi, kutonidānaṁ panāyasmā janavasabho yakkho evarūpaṁ uḷāraṁ visesādhigamaṁ sañjānātī”ti?
“‘Na aññatra, bhagavā, tava sāsanā, na aññatra, sugata, tava sāsanā; yadagge ahaṁ, bhante, bhagavati ekantikato abhippasanno, tadagge ahaṁ, bhante, dīgharattaṁ avinipāto avinipātaṁ sañjānāmi, āsā ca pana me santiṭṭhati sakadāgāmitāya. Idhāhaṁ, bhante, vessavaṇena mahārājena pesito virūḷhakassa mahārājassa santike kenacideva karaṇīyena addasaṁ bhagavantaṁ antarāmagge giñjakāvasathaṁ pavisitvā māgadhake paricārake ārabbha aṭṭhiṁ katvā manasikatvā sabbaṁ cetasā samannāharitvā nisinnaṁ: “gatiṁ nesaṁ jānissāmi abhisamparāyaṁ, yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā”ti. Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ vessavaṇassa mahārājassa tassaṁ parisāyaṁ bhāsato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: “yaṅgatikā te bhavanto yaṁabhisamparāyā”ti. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: “bhagavantañca dakkhāmi, idañca bhagavato ārocessāmī”ti. Ime kho me, bhante, dvepaccayā bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ.
4. Devasabhā
For a long time I’ve known that I won’t be reborn in the underworld, but that I still hope to become a once-returner.’
‘It’s incredible and amazing that you, the venerable spirit Janavasabha, should say:
“For a long time I’ve been aware that I won’t be reborn in the underworld” and also “But I still hope to become a once-returner.” But from what source do you know that you’ve achieved such a high distinction?’
‘None other than the Blessed One’s instruction! None other than the Holy One’s instruction! From the day I had absolute devotion to the Buddha I have known that I won’t be reborn in the underworld, but that I still hope to become a once-returner. Just now, sir, I had been sent out by the great king Vessavaṇa to the great king Virūḷhaka’s presence on some business, and on the way I saw the Buddha giving his attention to the fate of the Magadhan devotees. But it comes as no surprise that I have heard and learned the fate of the Magadhan devotees in the presence of the great king Vessavaṇa as he was speaking to his assembly. It occurred to me, “I shall see the Buddha and inform him of this.” These are the two reasons I’ve come to see the Buddha.
4. The Council of the Gods
281. ‘Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã không còn bị rơi vào đọa xứ, con biết rõ mình không còn bị rơi vào đọa xứ, và con có hy vọng đạt được quả Nhất lai.’ ‘Thật kỳ diệu thay, Tôn giả dạ xoa Janavasabha, thật hy hữu thay, Tôn giả dạ xoa Janavasabha. Ngươi nói rằng: “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã không còn bị rơi vào đọa xứ, con biết rõ mình không còn bị rơi vào đọa xứ,” và ngươi cũng nói: “và con có hy vọng đạt được quả Nhất lai.” Vậy do nhân duyên nào mà Tôn giả dạ xoa Janavasabha biết được sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy?’ ‘Bạch Thế Tôn, không phải ngoài giáo pháp của Ngài; bạch Thiện Thệ, không phải ngoài giáo pháp của Ngài. Bạch Thế Tôn, kể từ khi con có niềm tin bất động nơi Thế Tôn, từ đó về sau, trong một thời gian dài, con đã không còn bị rơi vào đọa xứ, con biết rõ mình không còn bị rơi vào đọa xứ, và con có hy vọng đạt được quả Nhất lai. Bạch Thế Tôn, ở đây, con được đại vương Vessavaṇa phái đi đến chỗ đại vương Virūḷhaka vì một công việc nào đó. Trên đường đi, con đã thấy Thế Tôn đi vào ngôi nhà gạch, và liên quan đến các người cận sự ở xứ Māgadha, Ngài đã chú tâm, tác ý, tổng hợp tất cả trong tâm, rồi ngồi xuống với ý nghĩ: “Ta sẽ biết được cảnh giới, đời sau của họ, những vị ấy có cảnh giới nào, có đời sau ra sao.” Bạch Thế Tôn, thật không có gì đáng ngạc nhiên khi con đã được nghe và ghi nhận trực tiếp từ đại vương Vessavaṇa khi ngài nói trong hội chúng đó rằng: “Những vị ấy có cảnh giới như thế này, có đời sau như thế kia.” Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ thế này: ‘Ta sẽ đến yết kiến Thế Tôn, và sẽ trình báo việc này lên Thế Tôn.’ Bạch Thế Tôn, đây là hai lý do khiến con đến yết kiến Thế Tôn.’
Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni tadahuposathe pannarase vassūpanāyikāya puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā kevalakappā ca devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā. Mahatī ca dibbaparisā samantato nisinnā honti, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti.
Puratthimāya disāya dhataraṭṭho mahārājā pacchimābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; dakkhiṇāya disāya virūḷhako mahārājā uttarābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; pacchimāya disāya virūpakkho mahārājā puratthābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā; uttarāya disāya vessavaṇo mahārājā dakkhiṇābhimukho nisinno hoti deve purakkhatvā. Yadā, bhante, kevalakappā ca devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā, mahatī ca dibbaparisā samantato nisinnā honti, cattāro ca mahārājāno catuddisā nisinnā honti. Idaṁ nesaṁ hoti āsanasmiṁ; atha pacchā amhākaṁ āsanaṁ hoti.
Ye te, bhante, devā bhagavati brahmacariyaṁ caritvā adhunūpapannā tāvatiṁsakāyaṁ, te aññe deve atirocanti vaṇṇena ceva yasasā ca. Tena sudaṁ, bhante, devā tāvatiṁsā attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā: “dibbā vata bho kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā”ti.
Atha kho, bhante, sakko devānamindo devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sampasādaṁ viditvā imāhi gāthāhi anumodi:
Sir, it was more than a few days ago—on the fifteenth day sabbath on the full moon day at the entry to the rainy season—when all the gods of the thirty-three were sitting together in the Hall of Clear Right. A large assembly of gods was sitting all around, and the four great kings were seated at the four quarters.
The Great King Dhataraṭṭha was seated to the east, facing west, in front of his gods. The Great King Virūḷhaka was seated to the south, facing north, in front of his gods. The Great King Virūpakkha was seated to the west, facing east, in front of his gods. The Great King Vessavaṇa was seated to the north, facing south, in front of his gods. When the gods of the thirty-three have a gathering like this, that is how they are seated. After that come our seats.
Sir, those gods who had been recently reborn in the company of the thirty-three after leading the spiritual life under the Buddha outshone the other gods in beauty and glory. The gods of the thirty-three became uplifted and overjoyed at that, full of rapture and happiness, saying, “The heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle!”
Seeing the joy of those gods, Sakka, lord of gods, celebrated with these verses:
282. ‘Bạch ngài, vào những ngày trước, những ngày xa xưa hơn, vào ngày Bố-tát thứ mười lăm, vào đêm trăng tròn, mùa an cư kiết hạ đã trọn, hầu hết tất cả chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba đều ngồi lại với nhau, tụ họp lại trong pháp đường Sudhammā. Và một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi xung quanh, và bốn vị Đại vương ngồi ở bốn phương. Ở phương đông, đại vương Dhataraṭṭha ngồi hướng về phương tây, với chư thiên vây quanh. Ở phương nam, đại vương Virūḷhaka ngồi hướng về phương bắc, với chư thiên vây quanh. Ở phương tây, đại vương Virūpakkha ngồi hướng về phương đông, với chư thiên vây quanh. Ở phương bắc, đại vương Vessavaṇa ngồi hướng về phương nam, với chư thiên vây quanh. Bạch ngài, khi hầu hết tất cả chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba đều ngồi lại với nhau, tụ họp lại trong pháp đường Sudhammā, và một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi xung quanh, và bốn vị Đại vương ngồi ở bốn phương, đây là chỗ ngồi của họ; sau đó mới đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch ngài, những vị thiên nào đã thực hành phạm hạnh dưới thời Đức Thế Tôn và nay vừa mới sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba, những vị ấy vượt trội hơn các vị thiên khác về sắc đẹp và danh tiếng. Do đó, bạch ngài, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba lấy làm hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan và vui mừng rằng: ‘Này các bạn, quả thật các cõi trời đang được sung mãn, còn các cõi a-tu-la đang bị suy giảm.’ Bấy giờ, bạch ngài, Sakka, vua của chư thiên, thấy được sự hoan hỷ của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba, liền tùy hỷ bằng những câu kệ này:
“Modanti vata bho devā, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammataṁ.
“The gods rejoice—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching;
‘Này các bạn, quả thật chư thiên cõi Ba Mươi Ba cùng với vua trời Inda, đang đảnh lễ Đức Như Lai và tán thán sự khéo thuyết của Chánh pháp, đều hoan hỷ.
Nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine; Sugatasmiṁ brahmacariyaṁ, caritvāna idhāgate.
and seeing the new gods, so beautiful and glorious, who have come here after leading the spiritual life under the Buddha!
Khi thấy các vị thiên mới, những vị có sắc đẹp và danh tiếng, đã đến đây sau khi thực hành phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đấng Thiện Thệ.
Te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā; Sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.
They outshine the others in beauty, glory, and lifespan. Here are the distinguished disciples of he whose wisdom is vast.
Những vị đệ tử của bậc Trí tuệ Rộng lớn, đã đạt đến sự đặc thù ở đây, các vị ấy vượt trội hơn các vị thiên khác về sắc đẹp, danh tiếng, và tuổi thọ.
Idaṁ disvāna nandanti, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammatan”ti.
Seeing this, they delight—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching.”
Thấy điều này, chư thiên cõi Ba Mươi Ba cùng với vua trời Inda, đang đảnh lễ Đức Như Lai và tán thán sự khéo thuyết của Chánh pháp, đều hoan hỷ.’
Tena sudaṁ, bhante, devā tāvatiṁsā bhiyyoso mattāya attamanā honti pamuditā pītisomanassajātā “dibbā vata, bho, kāyā paripūrenti, hāyanti asurakāyā”ti.
Atha kho, bhante, yenatthena devā tāvatiṁsā sudhammāyaṁ sabhāyaṁ sannisinnā honti sannipatitā, taṁ atthaṁ cintayitvā taṁ atthaṁ mantayitvā vuttavacanāpi taṁ cattāro mahārājāno tasmiṁ atthe honti. Paccānusiṭṭhavacanāpi taṁ cattāro mahārājāno tasmiṁ atthe honti, sakesu sakesu āsanesu ṭhitā avipakkantā.
The gods of the thirty-three became even more uplifted and overjoyed at that, saying: “The heavenly hosts swell, while the titan hosts dwindle!”
Then the gods of the thirty-three, having considered and deliberated on the matter for which they were seated together in the Hall of Clear Right, advised and instructed the four great kings on the subject. Each one, having been advised, stood at his own seat without leaving.
‘Do đó, bạch ngài, chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba lại càng hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan và vui mừng hơn nữa rằng: ‘Này các bạn, quả thật các cõi trời đang được sung mãn, còn các cõi a-tu-la đang bị suy giảm.’ Bấy giờ, bạch ngài, sau khi đã suy xét và bàn bạc về mục đích mà chư thiên cõi Ba Mươi Ba đã ngồi lại và tụ họp trong pháp đường Sudhammā, bốn vị Đại vương, về vấn đề ấy, đã được nghe lời chỉ dạy, và về vấn đề ấy, đã được nghe lời giáo huấn lại, vẫn đứng yên tại chỗ ngồi của mình, chưa rời đi.
Te vuttavākyā rājāno, paṭiggayhānusāsaniṁ; Vippasannamanā santā, aṭṭhaṁsu samhi āsaneti.
The Kings were instructed, and heeded good advice. With clear and peaceful minds, they stood by their own seats.
Các vị vua ấy, đã được nghe lời chỉ dạy, đã tiếp nhận lời giáo huấn, với tâm ý trong sáng và an tịnh, đã đứng yên tại chỗ ngồi của mình.
Atha kho, bhante, uttarāya disāya uḷāro āloko sañjāyi, obhāso pāturahosi atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Atha kho, bhante, sakko devānamindo deve tāvatiṁse āmantesi: “yathā kho, mārisā, nimittāni dissanti, uḷāro āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā pātubhavissati. Brahmuno hetaṁ pubbanimittaṁ pātubhāvāya yadidaṁ āloko sañjāyati obhāso pātubhavatī”ti.
Then in the northern quarter a magnificent light arose and radiance appeared, surpassing the glory of the gods. Then Sakka, lord of gods, addressed the gods of the thirty-three, “As indicated by the signs—light arising and radiance appearing—The Divinity will appear. For this is the harbinger for the appearance of the Divinity, namely light arising and radiance appearing.”
283. ‘Bấy giờ, bạch ngài, ở phương bắc, một ánh sáng vĩ đại phát sanh, một hào quang hiện ra, vượt xa cả thần lực của chư thiên. Bấy giờ, bạch ngài, Sakka, vua của chư thiên, nói với chư thiên cõi Ba Mươi Ba rằng: ‘Này các bạn, quả thật các điềm báo đang được nhìn thấy, một ánh sáng vĩ đại đang phát sanh, một hào quang đang hiện ra, Phạm thiên sẽ xuất hiện. Đây chính là điềm báo trước cho sự xuất hiện của Phạm thiên, tức là ánh sáng phát sanh, hào quang hiện ra.’
Yathā nimittā dissanti, brahmā pātubhavissati; Brahmuno hetaṁ nimittaṁ, obhāso vipulo mahāti.
As indicated by the signs, The Divinity will appear. For this is the sign of the Divinity: a light vast and great.
‘Khi các điềm báo được nhìn thấy, Phạm thiên sẽ xuất hiện; Hào quang rộng lớn, vĩ đại này chính là điềm báo của Phạm thiên.’
5. Sanaṅkumārakathā
5. On Sanaṅkumāra
Câu chuyện về Phạm thiên Sanankumāra
Atha kho, bhante, devā tāvatiṁsā yathāsakesu āsanesu nisīdiṁsu: “obhāsametaṁ ñassāma, yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā”ti. Cattāropi mahārājāno yathāsakesu āsanesu nisīdiṁsu: “obhāsametaṁ ñassāma yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā”ti.
Idaṁ sutvā devā tāvatiṁsā ekaggā samāpajjiṁsu: “obhāsametaṁ ñassāma, yaṁvipāko bhavissati, sacchikatvāva naṁ gamissāmā”ti.
Then the gods of the thirty-three sat in their own seats, saying, “We shall find out what has caused that light, and only when we have realized it shall we go to it.” And the four great kings did likewise.
Hearing that, the gods of the thirty-three agreed in unison, “We shall find out what has caused that light, and only when we have realized it shall we go to it.”
284. ‘Bấy giờ, bạch ngài, chư thiên cõi Ba Mươi Ba ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu về ánh sáng này, xem kết quả của nó sẽ ra sao, chỉ sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới rời đi.’ Bốn vị Đại vương cũng ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu về ánh sáng này, xem kết quả của nó sẽ ra sao, chỉ sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới rời đi.’ Nghe điều này, chư thiên cõi Ba Mươi Ba trở nên nhất tâm, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ tìm hiểu về ánh sáng này, xem kết quả của nó sẽ ra sao, chỉ sau khi chứng kiến tận mắt, chúng ta mới rời đi.’
Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, oḷārikaṁ attabhāvaṁ abhinimminitvā pātubhavati. Yo kho pana, bhante, brahmuno pakativaṇṇo anabhisambhavanīyo so devānaṁ tāvatiṁsānaṁ cakkhupathasmiṁ. Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca. Seyyathāpi, bhante, sovaṇṇo viggaho mānusaṁ viggahaṁ atirocati; evameva kho, bhante, yadā brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, so aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca.
Yadā, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pātubhavati, na tassaṁ parisāyaṁ koci devo abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti. Sabbeva tuṇhībhūtā pañjalikā pallaṅkena nisīdanti: “yassadāni devassa pallaṅkaṁ icchissati brahmā sanaṅkumāro, tassa devassa pallaṅke nisīdissatī”ti.
When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, he does so after manifesting a solid incarnation. For a Divinity’s normal appearance is imperceptible in the visual range of the gods of the thirty-three. When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, he outshines the other gods in beauty and glory, as a golden statue outshines the human form.
When the divinity Sanaṅkumāra appears to the gods of the thirty-three, not a single god in that assembly greets him by bowing down or rising up or inviting him to a seat. They all sit silently on their couches with their cupped palms raised, thinking, “Now the divinity Sanaṅkumāra will sit on the couch of whatever god he chooses.”
‘Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Ba Mươi Ba, ngài hóa hiện một thân tướng thô đại rồi mới xuất hiện. Bởi vì, bạch ngài, sắc tướng tự nhiên của Phạm thiên không thể được nhận biết bởi nhãn giới của chư thiên cõi Ba Mươi Ba. Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Ba Mươi Ba, ngài vượt trội hơn các vị thiên khác về sắc đẹp và danh tiếng. Bạch ngài, ví như một hình tượng bằng vàng vượt trội hơn hình tướng của con người; cũng vậy, bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Ba Mươi Ba, ngài vượt trội hơn các vị thiên khác về sắc đẹp và danh tiếng. Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Ba Mươi Ba, trong hội chúng ấy không có vị thiên nào đảnh lễ, hay đứng dậy, hay mời ngồi. Tất cả đều im lặng, chắp tay, ngồi kiết-già, nghĩ rằng: ‘Bây giờ, Phạm thiên Sanankumāra muốn ngồi trên bảo tọa của vị thiên nào, ngài sẽ ngồi trên bảo tọa của vị thiên ấy.’
Atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro oḷārikaṁ attabhāvaṁ abhinimminitvā kumāravaṇṇī hutvā pañcasikho devānaṁ tāvatiṁsānaṁ pāturahosi. So vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīdi. Seyyathāpi, bhante, balavā puriso supaccatthate vā pallaṅke same vā bhūmibhāge pallaṅkena nisīdeyya; evameva kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe pallaṅkena nisīditvā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sampasādaṁ viditvā imāhi gāthāhi anumodi:
Then the divinity Sanaṅkumāra manifested a solid incarnation, taking on the appearance of the youth Pañcasikha, and appeared to the gods of the thirty-three. Rising into the air, he sat cross-legged in the sky, like a strong man might sit cross-legged on a well-appointed couch or on level ground. Seeing the joy of those gods, the divinity Sanaṅkumāra celebrated with these verses:
‘Bạch ngài, vị Phạm thiên Sanankumāra ngồi trên bảo tọa của vị thiên nhân nào, vị thiên nhân ấy đạt được sự hoan hỷ to lớn; vị thiên nhân ấy đạt được sự ưu hỷ to lớn. Bạch ngài, ví như vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, vừa mới được làm lễ quán đảnh lên ngôi vua, vị ấy đạt được sự hoan hỷ to lớn, vị ấy đạt được sự ưu hỷ to lớn. Cũng vậy, bạch ngài, vị Phạm thiên Sanankumāra ngồi trên bảo tọa của vị thiên nhân nào, vị thiên nhân ấy đạt được sự hoan hỷ to lớn, vị thiên nhân ấy đạt được sự ưu hỷ to lớn. Rồi, bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra hóa hiện một thân tướng thô, trở thành hình dáng một đồng tử, có năm búi tóc, xuất hiện trước chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba. Vị ấy bay vọt lên không trung, ngồi kiết-già trên hư không, giữa khoảng không. Bạch ngài, ví như một người đàn ông có sức mạnh ngồi kiết-già trên một bảo tọa được trải lót kỹ càng hoặc trên một vùng đất bằng phẳng; cũng vậy, bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra bay vọt lên không trung, ngồi kiết-già trên hư không, giữa khoảng không, và sau khi biết được sự hoan hỷ của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, đã tùy hỷ bằng những câu kệ này:
“Modanti vata bho devā, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammataṁ.
“The gods rejoice—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching;
‘Này các vị, chư thiên cõi Ba Mươi Ba cùng với Đế-thích thật hoan hỷ, khi đảnh lễ Như Lai và sự khéo thuyết của Chánh Pháp.
Nave deve ca passantā, vaṇṇavante yasassine; Sugatasmiṁ brahmacariyaṁ, caritvāna idhāgate.
and seeing the new gods, so beautiful and glorious, who have come here after leading the spiritual life under the Buddha!
Và khi thấy các vị thiên nhân mới, có sắc đẹp, có danh tiếng, đã thực hành phạm hạnh trong giáo pháp của bậc Thiện Thệ rồi đến đây.
Te aññe atirocanti, vaṇṇena yasasāyunā; Sāvakā bhūripaññassa, visesūpagatā idha.
They outshine the others in beauty, glory, and lifespan. Here are the distinguished disciples of he whose wisdom is vast.
Các vị ấy, những đệ tử của bậc Quảng Tuệ, đã đạt đến sự đặc thù ở đây, vượt trội hơn các vị thiên nhân khác về sắc đẹp, danh tiếng, và tuổi thọ.
Idaṁ disvāna nandanti, tāvatiṁsā sahindakā; Tathāgataṁ namassantā, dhammassa ca sudhammatan”ti.
Seeing this, they delight—the thirty-three with their Lord—revering the Realized One, and the clear rightness of the teaching!”
Thấy điều này, chư thiên cõi Ba Mươi Ba cùng với Đế-thích vui mừng, khi đảnh lễ Như Lai và sự khéo thuyết của Chánh Pháp.’
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha; imamatthaṁ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti vissaṭṭho ca viññeyyo ca mañju ca savanīyo ca bindu ca avisārī ca gambhīro ca ninnādī ca. Yathāparisaṁ kho pana, bhante, brahmā sanaṅkumāro sarena viññāpeti; na cassa bahiddhā parisāya ghoso niccharati. Yassa kho pana, bhante, evaṁ aṭṭhaṅgasamannāgato saro hoti, so vuccati “brahmassaro”ti.
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And while he was speaking on that topic, his voice had eight qualities: it was clear, comprehensible, charming, audible, lucid, undistorted, deep, and resonant. He makes sure his voice is intelligible as far as the assembly goes, but the sound doesn’t extend outside the assembly. When someone has a voice like this, they’re said to have the voice of the Divinity.
285. ‘Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra nói lên ý nghĩa này, âm thanh của vị ấy có tám đặc điểm: trong trẻo, dễ hiểu, du dương, dễ nghe, tròn trịa, không vỡ, sâu lắng, và vang dội. Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra dùng âm thanh để làm cho hội chúng hiểu được, tùy theo quy mô của hội chúng; và âm thanh của vị ấy không lọt ra ngoài hội chúng. Bạch ngài, người nào có âm thanh với tám đặc điểm như vậy, người ấy được gọi là “người có Phạm âm”.’
Atha kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro tettiṁse attabhāve abhinimminitvā devānaṁ tāvatiṁsānaṁ paccekapallaṅkesu pallaṅkena nisīditvā deve tāvatiṁse āmantesi: “taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāvañca so bhagavā bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Ye hi keci, bho, buddhaṁ saraṇaṁ gatā dhammaṁ saraṇaṁ gatā saṅghaṁ saraṇaṁ gatā sīlesu paripūrakārino te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti, appekacce nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti, appekacce tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti, appekacce yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti, appekacce tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti, appekacce cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjanti. Ye sabbanihīnaṁ kāyaṁ paripūrenti, te gandhabbakāyaṁ paripūrentī”ti.
Then the divinity Sanaṅkumāra, having manifested thirty-three life-forms, sat down on the couches of each of the gods of the thirty-three and addressed them, “What do the good gods of the thirty-three think? How the Buddha has acted for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans! For consider those who have gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and have fulfilled their ethics. When their bodies break up, after death, some are reborn in the company of the gods who control what is created by others, some with the gods who love to create, some with the joyful gods, some with the gods of Yama, some with the gods of the thirty-three, and some with the gods of the four great kings. And at the very least they swell the hosts of the centaurs.”
‘Rồi, bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra hóa hiện ba mươi ba thân tướng, ngồi kiết-già trên từng bảo tọa riêng của chư thiên cõi Ba Mươi Ba, rồi nói với chư thiên cõi Ba Mươi Ba rằng: ‘Này chư thiên cõi Ba Mươi Ba, các vị nghĩ thế nào về điều này? Đức Thế Tôn ấy đã thực hành vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người. Này các vị, những ai đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, là những người viên mãn trong các giới, sau khi thân hoại mạng chung, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Hóa Lạc, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Đâu-suất, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Dạ-ma, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba, một số sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Những người thành tựu thân thể thấp kém nhất, họ cũng thành tựu thân thể của Càn-thát-bà.’
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha; imamatthaṁ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato ghosoyeva devā maññanti: “yvāyaṁ mama pallaṅke svāyaṁ ekova bhāsatī”ti.
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And hearing the sound of the Divinity speaking on that topic, the gods fancied, “The one sitting on my couch is the only one speaking.”
286. ‘Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra nói lên ý nghĩa này, chư thiên nghĩ rằng: ‘Vị đang ngồi trên bảo tọa của ta, chính vị ấy là người duy nhất đang nói.’
Ekasmiṁ bhāsamānasmiṁ, sabbe bhāsanti nimmitā; Ekasmiṁ tuṇhimāsīne, sabbe tuṇhī bhavanti te.
When one is speaking, all the forms speak. When one sits in silence, they all remain silent.
Khi một vị nói, tất cả các vị hóa hiện đều nói; khi một vị im lặng, tất cả các vị ấy đều im lặng.
Tadāsu devā maññanti, tāvatiṁsā sahindakā; Yvāyaṁ mama pallaṅkasmiṁ, svāyaṁ ekova bhāsatīti.
But those gods imagine—the thirty-three with their Lord—that the one on their seat is the only one to speak.
Khi ấy, chư thiên cõi Ba Mươi Ba cùng với Đế-thích nghĩ rằng: ‘Vị đang ngồi trên bảo tọa của ta, chính vị ấy là người duy nhất đang nói.’
Atha kho, bhante, brahmā sanaṅkumāro ekattena attānaṁ upasaṁharati, ekattena attānaṁ upasaṁharitvā sakkassa devānamindassa pallaṅke pallaṅkena nisīditvā deve tāvatiṁse āmantesi:
Next the divinity Sanaṅkumāra merged into one corporeal form. Then he sat on the couch of Sakka, lord of gods, and addressed the gods of the thirty-three:
‘Rồi, bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra thu nhiếp thân mình lại thành một, sau khi thu nhiếp thân mình lại thành một, vị ấy ngồi kiết-già trên bảo tọa của Sakka, vua của chư thiên, rồi nói với chư thiên cõi Ba Mươi Ba:
6. Bhāvitaiddhipāda
6. Developing the Bases of Psychic Power
Người đã tu tập Thần Túc
“Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro iddhipādā paññattā iddhipahutāya iddhivisavitāya iddhivikubbanatāya. Katame cattāro? Idha bho bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Vīmaṁsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti. Ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro iddhipādā paññattā iddhipahutāya iddhivisavitāya iddhivikubbanatāya.
“What do the good gods of the thirty-three think? How well described by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—are the four bases of psychic power! They are taught for the amplification, burgeoning, and transformation of psychic power. What four? It’s when a mendicant develops the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort. They develop the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort. These are the four bases of psychic power taught by the Buddha for the amplification, burgeoning, and transformation of psychic power.
287. ‘Này chư thiên cõi Ba Mươi Ba, các vị nghĩ thế nào về điều này? Bốn Thần Túc này đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, khéo chế định biết bao, được chế định vì năng lực thần thông, vì sự thành thạo thần thông, vì sự biến hóa thần thông. Bốn pháp ấy là gì? Này các vị, ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc có định do dục, cùng với các hành tác tinh cần. Vị ấy tu tập thần túc có định do tinh tấn, cùng với các hành tác tinh cần. Vị ấy tu tập thần túc có định do tâm, cùng với các hành tác tinh cần. Vị ấy tu tập thần túc có định do thẩm sát, cùng với các hành tác tinh cần. Này các vị, bốn Thần Túc này đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, chế định vì năng lực thần thông, vì sự thành thạo thần thông, vì sự biến hóa thần thông.’
Ye hi keci bho atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhosuṁ, sabbe te imesaṁyeva catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā. Yepi hi keci bho anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhossanti, sabbe te imesaṁyeva catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā. Yepi hi keci bho etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhonti, sabbe te imesaṁyeva catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā. Passanti no, bhonto devā tāvatiṁsā, mamapimaṁ evarūpaṁ iddhānubhāvan”ti?
“Evaṁ, mahābrahme”ti.
“Ahampi kho bho imesaṁyeva catunnañca iddhipādānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā evaṁ mahiddhiko evaṁmahānubhāvo”ti.
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha. Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṁse āmantesi:
All the ascetics and brahmins in the past, future, or present who wield the many kinds of psychic power do so by developing and cultivating these four bases of psychic power. Gentlemen, do you see such psychic might and power in me?”
“Yes, Great Divinity.”
“I too became so mighty and powerful by developing and cultivating these four bases of psychic power.”
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And having spoken about that, he addressed the gods of the thirty-three:
‘Này chư vị, trong thời quá khứ, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã trải nghiệm nhiều loại thần thông, tất cả các vị ấy là do đã tu tập, đã thực hành sung mãn bốn Như Ý Túc này. Này chư vị, trong thời vị lai, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào sẽ trải nghiệm nhiều loại thần thông, tất cả các vị ấy là do đã tu tập, đã thực hành sung mãn bốn Như Ý Túc này. Này chư vị, trong thời hiện tại, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đang trải nghiệm nhiều loại thần thông, tất cả các vị ấy là do đã tu tập, đã thực hành sung mãn bốn Như Ý Túc này. Này chư vị chư thiên Tāvatiṃsā, quý vị có thấy được oai lực thần thông như thế này của ta không?’ ‘Thưa vâng, thưa Đại Phạm Thiên.’ ‘Này chư vị, chính ta cũng vậy, do đã tu tập, đã thực hành sung mãn bốn Như Ý Túc này nên có đại thần lực, có đại oai lực như vậy.’ Bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra sau khi nói lên ý nghĩa này, đã gọi các chư thiên Tāvatiṃsā và nói rằng –
7. Tividhaokāsādhigama
“Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo okāsādhigamā anubuddhā sukhassādhigamāya. Katame tayo?
Idha bho ekacco saṁsaṭṭho viharati kāmehi saṁsaṭṭho akusalehi dhammehi. So aparena samayena ariyadhammaṁ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṁ paṭipajjati. So ariyadhammassavanaṁ āgamma yonisomanasikāraṁ dhammānudhammappaṭipattiṁ asaṁsaṭṭho viharati kāmehi asaṁsaṭṭho akusalehi dhammehi. Tassa asaṁsaṭṭhassa kāmehi asaṁsaṭṭhassa akusalehi dhammehi uppajjati sukhaṁ, sukhā bhiyyo somanassaṁ. Seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṁ jāyetha;
7. The Three Openings
“What do the good gods of the thirty-three think? How well understood by the Buddha are the three opportunities for achieving happiness! What three?
First, take someone who lives mixed up with sensual pleasures and unskillful qualities. After some time they hear the teaching of the noble ones, rationally apply the mind to how it applies to them, and practice in line with the teaching. They live aloof from sensual pleasures and unskillful qualities. That gives rise to pleasure, and more than pleasure, happiness, like the joy that’s born from gladness.
288. ‘Này chư vị chư thiên Tāvatiṃsā, quý vị nghĩ thế nào về điều này? Rằng đức Thế Tôn ấy, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã giác ngộ ba sự chứng đắc cơ hội để thành tựu an lạc. Ba loại ấy là gì? Này chư vị, ở đây, có người sống liên hệ với các dục, liên hệ với các pháp bất thiện. Vị ấy vào một lúc khác, nghe được Thánh pháp, tác ý như lý, thực hành pháp tùy pháp. Vị ấy, nhờ vào việc nghe Thánh pháp, tác ý như lý, và thực hành pháp tùy pháp, nên sống không liên hệ với các dục, không liên hệ với các pháp bất thiện. Đối với vị ấy, người không liên hệ với các dục, không liên hệ với các pháp bất thiện, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, ví như từ niềm vui nhỏ, hân hoan lớn sanh khởi; cũng vậy, này chư vị, đối với người không liên hệ với các dục, không liên hệ với các pháp bất thiện, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, đây là sự chứng đắc cơ hội thứ nhất đã được đức Thế Tôn ấy, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giác ngộ để thành tựu an lạc.
Puna caparaṁ, bho, idhekaccassa oḷārikā kāyasaṅkhārā appaṭippassaddhā honti, oḷārikā vacīsaṅkhārā appaṭippassaddhā honti, oḷārikā cittasaṅkhārā appaṭippassaddhā honti. So aparena samayena ariyadhammaṁ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṁ paṭipajjati. Tassa ariyadhammassavanaṁ āgamma yonisomanasikāraṁ dhammānudhammappaṭipattiṁ oḷārikā kāyasaṅkhārā paṭippassambhanti, oḷārikā vacīsaṅkhārā paṭippassambhanti, oḷārikā cittasaṅkhārā paṭippassambhanti. Tassa oḷārikānaṁ kāyasaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṁ vacīsaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṁ cittasaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā uppajjati sukhaṁ, sukhā bhiyyo somanassaṁ. Seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṁ jāyetha; evameva kho bho oḷārikānaṁ kāyasaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṁ vacīsaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā oḷārikānaṁ cittasaṅkhārānaṁ paṭippassaddhiyā uppajjati sukhaṁ, sukhā bhiyyo somanassaṁ. Ayaṁ kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo okāsādhigamo anubuddho sukhassādhigamāya.
Next, take someone whose coarse physical, verbal, and mental processes have not died down. After some time they hear the teaching of the noble ones, rationally apply the mind to how it applies to them, and practice in line with the teaching. Their coarse physical, verbal, and mental processes die down. That gives rise to pleasure, and more than pleasure, happiness, like the joy that’s born from gladness. This is the second opportunity for achieving happiness.
‘Lại nữa, này chư vị, ở đây, đối với một người, các thân hành thô thiển chưa được an tịnh, các khẩu hành thô thiển chưa được an tịnh, các tâm hành thô thiển chưa được an tịnh. Vị ấy vào một lúc khác, nghe được Thánh pháp, tác ý như lý, thực hành pháp tùy pháp. Đối với vị ấy, nhờ vào việc nghe Thánh pháp, tác ý như lý, và thực hành pháp tùy pháp, các thân hành thô thiển được an tịnh, các khẩu hành thô thiển được an tịnh, các tâm hành thô thiển được an tịnh. Đối với vị ấy, do sự an tịnh của các thân hành thô thiển, sự an tịnh của các khẩu hành thô thiển, sự an tịnh của các tâm hành thô thiển, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, ví như từ niềm vui nhỏ, hân hoan lớn sanh khởi; cũng vậy, này chư vị, do sự an tịnh của các thân hành thô thiển, sự an tịnh của các khẩu hành thô thiển, sự an tịnh của các tâm hành thô thiển, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, đây là sự chứng đắc cơ hội thứ hai đã được đức Thế Tôn ấy, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giác ngộ để thành tựu an lạc.
Puna caparaṁ, bho, idhekacco ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. ‘Idaṁ sāvajjaṁ idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti. So aparena samayena ariyadhammaṁ suṇāti, yoniso manasi karoti, dhammānudhammaṁ paṭipajjati. So ariyadhammassavanaṁ āgamma yonisomanasikāraṁ dhammānudhammappaṭipattiṁ, ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Idaṁ sāvajjaṁ idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṁ pajānāti. Tassa evaṁ jānato evaṁ passato avijjā pahīyati, vijjā uppajjati. Tassa avijjāvirāgā vijjuppādā uppajjati sukhaṁ, sukhā bhiyyo somanassaṁ. Seyyathāpi, bho, pamudā pāmojjaṁ jāyetha; evameva kho, bho, avijjāvirāgā vijjuppādā uppajjati sukhaṁ, sukhā bhiyyo somanassaṁ. Ayaṁ kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo okāsādhigamo anubuddho sukhassādhigamāya.
Ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tayo okāsādhigamā anubuddhā sukhassādhigamāyā”ti.
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha, imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṁse āmantesi:
Next, take someone who doesn’t truly understand what is skillful and what is unskillful, what is blameworthy and what is blameless, what should be cultivated and what should not be cultivated, what is inferior and what is superior, and what has a portion of dark or bright. After some time they hear the teaching of the noble ones, rationally apply the mind to how it applies to them, and practice in line with the teaching. They truly understand what is skillful and what is unskillful, and so on. Knowing and seeing like this, ignorance is given up and knowledge arises. That gives rise to pleasure, and more than pleasure, happiness, like the joy that’s born from gladness. This is the third opportunity for achieving happiness.
These are the three opportunities for achieving happiness that have been understood by the Buddha.”
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And having spoken about that, he addressed the gods of the thirty-three:
‘Lại nữa, này chư vị, ở đây, có người không biết như thật: ‘Đây là thiện,’ không biết như thật: ‘Đây là bất thiện.’ Vị ấy không biết như thật: ‘Đây là điều có tội, đây là điều không có tội; đây là điều nên thực hành, đây là điều không nên thực hành; đây là điều hèn hạ, đây là điều cao thượng; đây là điều có phần đen, phần trắng.’ Vị ấy vào một lúc khác, nghe được Thánh pháp, tác ý như lý, thực hành pháp tùy pháp. Vị ấy, nhờ vào việc nghe Thánh pháp, tác ý như lý, và thực hành pháp tùy pháp, nên biết như thật: ‘Đây là thiện,’ biết như thật: ‘Đây là bất thiện.’ Vị ấy biết như thật: ‘Đây là điều có tội, đây là điều không có tội; đây là điều nên thực hành, đây là điều không nên thực hành; đây là điều hèn hạ, đây là điều cao thượng; đây là điều có phần đen, phần trắng.’ Đối với vị ấy, người biết như vậy, thấy như vậy, vô minh được đoạn trừ, minh sanh khởi. Đối với vị ấy, do vô minh phai nhạt, do minh sanh khởi, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, ví như từ niềm vui nhỏ, hân hoan lớn sanh khởi; cũng vậy, này chư vị, do vô minh phai nhạt, do minh sanh khởi, lạc khởi lên; từ lạc, hỷ ưu càng tăng trưởng. Này chư vị, đây là sự chứng đắc cơ hội thứ ba đã được đức Thế Tôn ấy, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giác ngộ để thành tựu an lạc. Này chư vị, đây chính là ba sự chứng đắc cơ hội đã được đức Thế Tôn ấy, bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giác ngộ để thành tựu an lạc.’ Bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra sau khi nói lên ý nghĩa này, đã gọi các chư thiên Tāvatiṃsā và nói rằng –
8. Catusatipaṭṭhāna
8. Mindfulness Meditation
Bốn Niệm Xứ
“Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro satipaṭṭhānā paññattā kusalassādhigamāya. Katame cattāro?
Idha, bho, bhikkhu ajjhattaṁ kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Ajjhattaṁ kāye kāyānupassī viharanto tattha sammā samādhiyati, sammā vippasīdati. So tattha sammā samāhito sammā vippasanno bahiddhā parakāye ñāṇadassanaṁ abhinibbatteti.
Ajjhattaṁ vedanāsu vedanānupassī viharati …pe… bahiddhā paravedanāsu ñāṇadassanaṁ abhinibbatteti.
Ajjhattaṁ citte cittānupassī viharati …pe… bahiddhā paracitte ñāṇadassanaṁ abhinibbatteti.
Ajjhattaṁ dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Ajjhattaṁ dhammesu dhammānupassī viharanto tattha sammā samādhiyati, sammā vippasīdati. So tattha sammā samāhito sammā vippasanno bahiddhā paradhammesu ñāṇadassanaṁ abhinibbatteti.
Ime kho, bho, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro satipaṭṭhānā paññattā kusalassādhigamāyā”ti.
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha. Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsitvā deve tāvatiṁse āmantesi:
“What do the good gods of the thirty-three think? How well described by the Buddha are the four kinds of mindfulness meditation! They are taught for achieving what is skillful. What four?
It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body internally—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate in this way, they become rightly immersed in that, and rightly serene. Then they give rise to knowledge and vision of other people’s bodies externally.
They meditate observing an aspect of feelings internally … Then they give rise to knowledge and vision of other people’s feelings externally.
They meditate observing an aspect of the mind internally … Then they give rise to knowledge and vision of other people’s minds externally.
They meditate observing an aspect of principles internally—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate in this way, they become rightly immersed in that, and rightly serene. Then they give rise to knowledge and vision of other people’s principles externally.
These are the four kinds of mindfulness meditation taught by the Buddha for achieving what is skillful.”
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And having spoken about that, he addressed the gods of the thirty-three:
289. ‘Này chư thiên cõi Ba Mươi Ba, các ngài nghĩ thế nào về điều này? Bốn niệm xứ này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy khéo thuyết giảng để chứng đắc điều thiện. Bốn niệm xứ nào? Này các ngài, ở đây, vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân ở nội phần, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi trú, quán thân trên thân ở nội phần, ở đó, tâm được định tĩnh một cách chân chánh, được trong sạch một cách chân chánh. Vị ấy, ở đó, với tâm được định tĩnh chân chánh, trong sạch chân chánh, làm phát sanh tri kiến về thân của người khác ở ngoại phần. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ ở nội phần... cho đến... làm phát sanh tri kiến về các thọ của người khác ở ngoại phần. Vị ấy trú, quán tâm trên tâm ở nội phần... cho đến... làm phát sanh tri kiến về tâm của người khác ở ngoại phần. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp ở nội phần, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi trú, quán pháp trên các pháp ở nội phần, ở đó, tâm được định tĩnh một cách chân chánh, được trong sạch một cách chân chánh. Vị ấy, ở đó, với tâm được định tĩnh chân chánh, trong sạch chân chánh, làm phát sanh tri kiến về các pháp của người khác ở ngoại phần. Này các ngài, đây chính là bốn niệm xứ đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy thuyết giảng để chứng đắc điều thiện.’ Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, sau khi nói lên ý nghĩa này, Phạm thiên Sanankumāra đã gọi chư thiên cõi Ba Mươi Ba rằng:
9. Sattasamādhiparikkhāra
9. Seven Prerequisites of Immersion
Bảy Vật Trợ Cho Định
“Taṁ kiṁ maññanti, bhonto devā tāvatiṁsā, yāva supaññattā cime tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena satta samādhiparikkhārā sammāsamādhissa paribhāvanāya sammāsamādhissa pāripūriyā. Katame satta? Sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati. Yā kho, bho, imehi sattahaṅgehi cittassa ekaggatā parikkhatā, ayaṁ vuccati, bho, ariyo sammāsamādhi saupaniso itipi saparikkhāro itipi.
Sammādiṭṭhissa, bho, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti. Sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṁ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti.
Yañhi taṁ, bho, sammā vadamāno vadeyya: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi apārutā amatassa dvārā’ti idameva taṁ sammā vadamāno vadeyya. Svākkhāto hi, bho, bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi apārutā amatassa dvārā.
“What do the good gods of the thirty-three think? How well described by the Buddha are the seven prerequisites of immersion for the development and fulfillment of right immersion! What seven? Right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, and right mindfulness. Unification of mind with these seven factors as prerequisites is called noble right immersion ‘with its vital conditions’ and also ‘with its prerequisites’.
Right view produces right purpose. Right purpose produces right speech. Right speech produces right action. Right action produces right livelihood. Right livelihood produces right effort. Right effort produces right mindfulness. Right mindfulness produces right immersion. Right immersion produces right knowledge. Right knowledge produces right freedom.
If anything should be rightly described as ‘a teaching that’s well explained by the Buddha, apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves; and the doors to freedom from death are flung open,’ it’s this. For the teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves—and the doors to freedom from death are flung open.
290. ‘Này chư thiên cõi Ba Mươi Ba, các ngài nghĩ thế nào về điều này? Bảy vật trợ cho định này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác ấy khéo thuyết giảng để tu tập chánh định, để làm viên mãn chánh định. Bảy điều nào? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Này các ngài, sự nhất tâm được hỗ trợ bởi bảy chi phần này, đây được gọi là Thánh chánh định có nhân duyên, có vật trợ. Này các ngài, người có chánh kiến thì chánh tư duy sanh khởi, người có chánh tư duy thì chánh ngữ sanh khởi, người có chánh ngữ thì chánh nghiệp sanh khởi, người có chánh nghiệp thì chánh mạng sanh khởi, người có chánh mạng thì chánh tinh tấn sanh khởi, người có chánh tinh tấn thì chánh niệm sanh khởi, người có chánh niệm thì chánh định sanh khởi, người có chánh định thì chánh trí sanh khởi, người có chánh trí thì chánh giải thoát sanh khởi. Này các ngài, người muốn nói một cách chân chánh nên nói rằng: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, cánh cửa bất tử đã được mở ra.’ Người muốn nói một cách chân chánh nên nói chính điều này. Này các ngài, vì rằng Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, cánh cửa bất tử đã được mở ra.
Ye hi keci, bho, buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā, ariyakantehi sīlehi samannāgatā, ye cime opapātikā dhammavinītā sātirekāni catuvīsatisatasahassāni māgadhakā paricārakā abbhatītā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. Atthi cevettha sakadāgāmino.
Atthāyaṁ itarā pajā,
Whoever has experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and has the ethical conduct loved by the noble ones; and whoever is spontaneously reborn, and is trained in the teaching; more than 2,400,000 such Magadhan devotees have passed away having ended three fetters. They’re stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. And there are once-returners here, too.
And as for the rest of folk,
‘Này các ngài, bất cứ ai thành tựu niềm tin bất động nơi Đức Phật, thành tựu niềm tin bất động nơi Pháp, thành tựu niềm tin bất động nơi Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái mộ, và những vị hóa sanh này, là những người cận sự ở xứ Ma-kiệt-đà, hơn hai mươi bốn trăm ngàn vị, đã được giáo huấn trong Pháp, đã quá vãng, đã mệnh chung, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ. Và trong số này cũng có các bậc Nhất lai.
‘Còn có chúng sanh khác, có phần phước đức, tâm tôi nghĩ vậy; nhưng tôi không thể kể hết được, vì sợ nói dối.’
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro bhāsittha, imamatthaṁ, bhante, brahmuno sanaṅkumārassa bhāsato vessavaṇassa mahārājassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, evarūpopi nāma uḷāro satthā bhavissati, evarūpaṁ uḷāraṁ dhammakkhānaṁ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyissantī”ti.
Atha, bhante, brahmā sanaṅkumāro vessavaṇassa mahārājassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vessavaṇaṁ mahārājānaṁ etadavoca: “taṁ kiṁ maññati bhavaṁ vessavaṇo mahārājā atītampi addhānaṁ evarūpo uḷāro satthā ahosi, evarūpaṁ uḷāraṁ dhammakkhānaṁ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyiṁsu. Anāgatampi addhānaṁ evarūpo uḷāro satthā bhavissati, evarūpaṁ uḷāraṁ dhammakkhānaṁ, evarūpā uḷārā visesādhigamā paññāyissantī”ti.
That is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke. And while he was speaking on that topic, this thought came to the great king Vessavaṇa, “Oh lord, how incredible, how amazing! That there should be such a magnificent Teacher, and such a magnificent exposition of the teaching! And that such achievements of high distinction should be made known!”
And then the divinity Sanaṅkumāra, knowing the great king Vessavaṇa’s train of thought, said to him, “What does Great King Vessavaṇa think? In the past, too, there was such a magnificent Teacher, and such a magnificent exposition of the teaching! And such achievements of high distinction were made known! In the future, too, there will be such a magnificent Teacher, and such a magnificent exposition of the teaching! And such achievements of high distinction will be made known!”
291. ‘Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch ngài, khi Phạm thiên Sanankumāra đang nói ý nghĩa này, Đại vương Vessavaṇa đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: ‘Này các ngài, thật hy hữu thay! Này các ngài, thật vi diệu thay! Một bậc Đạo sư cao thượng như vậy sẽ có mặt, một bài thuyết pháp cao thượng như vậy, những sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy sẽ được biết đến.’ Rồi, bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra, biết được suy nghĩ trong tâm của Đại vương Vessavaṇa bằng tâm của mình, đã nói với Đại vương Vessavaṇa điều này: ‘Đại vương Vessavaṇa tôn kính nghĩ thế nào về điều này? Trong quá khứ cũng đã có bậc Đạo sư cao thượng như vậy, một bài thuyết pháp cao thượng như vậy, những sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy đã được biết đến. Trong tương lai cũng sẽ có bậc Đạo sư cao thượng như vậy, một bài thuyết pháp cao thượng như vậy, những sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy sẽ được biết đến.’
Imamatthaṁ, bhante, brahmā sanaṅkumāro devānaṁ tāvatiṁsānaṁ abhāsi, imamatthaṁ vessavaṇo mahārājā brahmuno sanaṅkumārassa devānaṁ tāvatiṁsānaṁ bhāsato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ sayaṁ parisāyaṁ ārocesi’”.
That, sir, is the topic on which the divinity Sanaṅkumāra spoke to the gods of the thirty-three. And the great king Vessavaṇa, having heard and learned it in the presence of the Divinity as he was speaking on that topic, informed his own assembly.’”
292. ‘Bạch ngài, Phạm thiên Sanankumāra đã nói ý nghĩa này cho chư thiên cõi Ba Mươi Ba. Đại vương Vessavaṇa đã trực tiếp nghe, trực tiếp thọ nhận ý nghĩa này từ Phạm thiên Sanankumāra đang nói cho chư thiên cõi Ba Mươi Ba, và đã tuyên bố lại trong hội chúng của mình.’
Imamatthaṁ janavasabho yakkho vessavaṇassa mahārājassa sayaṁ parisāyaṁ bhāsato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ bhagavato ārocesi. Imamatthaṁ bhagavā janavasabhassa yakkhassa sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā sāmañca abhiññāya āyasmato ānandassa ārocesi, imamatthamāyasmā ānando bhagavato sammukhā sutvā sammukhā paṭiggahetvā ārocesi bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Tayidaṁ brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitanti.
And the spirit Janavasabha, having heard and learned it in the presence of the great king Vessavaṇa as he was speaking on that topic to his own assembly, informed the Buddha. And the Buddha, having heard and learned it in the presence of the spirit Janavasabha, and also from his own direct knowledge, informed Venerable Ānanda. And Venerable Ānanda, having heard and learned it in the presence of the Buddha, informed the monks, nuns, laymen, and laywomen. And that’s how this spiritual life has become successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.
“Dạ-xoa Janavasabha đã nghe trực tiếp, đã thọ nhận trực tiếp ý nghĩa này từ nơi Đại vương Vessavaṇa khi ông đang nói trong hội chúng của mình, rồi trình lên Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn sau khi nghe trực tiếp, thọ nhận trực tiếp ý nghĩa này từ dạ-xoa Janavasabha, và tự mình thắng tri, đã nói lại cho Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda sau khi nghe trực tiếp, thọ nhận trực tiếp ý nghĩa này từ Đức Thế Tôn, đã nói lại cho các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, cận sự nam và cận sự nữ. Phạm hạnh này do vậy đã trở nên thịnh vượng, phát đạt, phổ biến rộng rãi, được nhiều người biết đến, rộng lớn, cho đến khi được chư Thiên và loài người khéo tuyên thuyết.”
Janavasabhasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
“Kinh Janavasabha là kinh thứ năm, đã kết thúc.”