- Dīgha Nikāya 17
Mahāsudassanasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāsudassanasutta
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú ngụ tại Upavattana (Hồ-bạt-đan) ở Kusinàrà (Câu-thi-la) trong rừng Sà la của giòng họ Mallà, giữa hai cây Sāla song thọ, khi ngài sắp nhập Niết bàn.
SC 3PTS cs 2~2 Lúc ấy, tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 4—Bạch thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagahà (Vương Xá) Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiêu-thưởng-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy. Tại những chỗ ấy có đại chúng Sát đế lỵ, có đại chúng Bà la môn, có đại chúng Gia chủ tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 5PTS cs 3~3 Này Ānanda, chớ có nói như vậy. Này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc. Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahà-Sudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển Luân vương trị vì như pháp, là vị Pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Ðại Thiện Kiến, tên là Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến mười bảy do tuần. Này Ānanda, kinh đô Susāvatī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực thẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư Thiên rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này ngày đêm vang dậy mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiềng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”.
SC 6PTS cs 4~4 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy bức thành bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh, một loại bằng san hô, một loại bằng xa cừ, một loại bằng mọi thứ báu.
SC 7PTS cs 5~5 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bốn loại cửa: một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tại mỗi cửa, có dựng bảy cột trụ, bề cao khoảng ba hay bốn lần thân người. Một cột trụ bằng vàng, một cột trụ bằng bạc, một cột trụ bằng lưu ly, một cột trụ bằng thủy tinh, một cột trụ bằng san hô, một cột trụ bằng xa cừ, một cột trụ bằng mọi thứ báu.
SC 8PTS cs 6~6 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy hàng cây tāla bao học, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng thủy tinh, một hàng bằng san hô, một hàng bằng xa cừ, một hàng bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng, có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly, có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô, có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ, có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tāla bằng mọi loại báu, có thân cây bằng mọi loại báu, có lá và trái cây bằng mọi loại báu. Này Ānanda, khi những cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê lý khởi lên, cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy, Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ, nếu ở tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, họ sẽ nhảy múa theo những âm điệu của những hàng cây tāla này khi được gió thổi.
SC 9PTS cs 7~7 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đủ bảy món báu và bốn Như ý đức. Thế nào là bảy?
SC 10Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi tắm rửa, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe, trục xe, đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi tắm rửa, lên cao điện trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển Luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển Luân vương”.
SC 11PTS cs 8~8 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: Này xe báu hãy lăn khắp, này xe báu hãy chinh phục!”. Và này Ānanda, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 12PTS cs 9~9 Này Ānanda, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 13Vua Ðại Thiện Kiến nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.
SC 14Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Ðại Thiện Kiến.
SC 15PTS cs 10~10 Này Ānanda, rồi xe báu lăn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên rồi lăn về phương Nam…, lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây…, lặn xuống biển lớn ở phương Tây, rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 16Này Ānanda, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương tất cả thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 17Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 18Này Ānanda, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Kusāvatī, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 19Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện xe báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 20PTS cs 12~11 Lại nữa này Ānanda, voi báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy voi báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền tượng quí phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 21PTS cs 13~12 Lại nữa này Ānanda, ngựa báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valāhaka. Thấy ngựa báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử ngựa báu này, sáng sớm cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện ngựa báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 22PTS cs 14~13 Lại nữa, này Ānanda, châu báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này Ānanda, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này Ānanda, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này Ānanda như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 23PTS cs 15~14 Này Ānanda, nữ báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, sánh đến dung sắc chư Thiên. Này Ānanda, thân xúc nữ báu này êm mịn như bông, như nhung. Này Ānanda, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thành ấm áp, khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này Ānanda, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này Ānanda, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Ðại Thiện Kiến, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này Ānanda, nữ báu này không có một tư tưởng nào bất tín đối với vua Ðại Thiện Kiến huống nữa là về thân thể. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 24PTS cs 16~15 Lại nữa, này Ānanda, gia chủ báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Gia chủ báu này đến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.
SC 25Này Ānanda, thuở xưa vua Ðại Thiện Kiến muốn thử gia chủ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo gia chủ báu
SC 26—Này Gia chủ, ta cần vàng.
SC 27- Tâu Ðại vương, Ðại vương hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.
SC 28- Này Gia chủ, Ta cần vàng ngay tại đây.
SC 29Này Ānanda, khi ấy gia chủ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 30—Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa. Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?
SC 31Vua Ðại Thiện Kiến trả lời
SC 32—Này Gia chủ, như vậy là đủ. Này Gia chủ, làm như vậy là được rồi. Này Gia chủ, cúng dường như vậy là được rồi.
SC 33Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện gia chủ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 34PTS cs 17~16 Lại nữa, này Ānanda, tướng quân báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo. Vua Ðại Thiện Kiến khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lui thì lui, khi đáng dừng thì dừng lại.
SC 35Vị này đến tâu vua Ðại Thiện Kiến
SC 36—Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có âu lo, Thần sẽ cố vấn Ðại vương.
SC 37Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 38Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có đầy đủ bảy báu như vậy.
SC 39PTS cs 18~17 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đầy đủ bốn Như ý đức. Thế nào là bốn? Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ nhất của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 40PTS cs 19~18 Này Ānanda, lại nữa, vua Ðại Thiện Kiến sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ hai của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 41PTS cs 20~19 Lại nữa này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến ít bệnh tật, ít tai ương, thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ ba của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 42PTS cs 21~20 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như người cha được các người con ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như những người con được người cha ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Ðại Thiện Kiến ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu rằng: “Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn … ” Này Ānanda, nhưng vua Ðại Thiện Kiến lại ra lệnh cho người đánh xe: “Này anh đánh xe, hãy đánh xe chậm chậm để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”. Này Ānanda, như vậy là Như ý đức thứ tư của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 43PTS cs 22~21 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”.
SC 44Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây các hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm. Này Ānanda, những hồ sen ấy được lát bằng bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Này Ānanda, trong bốn loại hồ sen ấy có bốn loại tầm cấp, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly. Này Ānanda, những hồ sen ấy được hai hàng lan can bao bọc, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc. Hàng lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Hàng lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 45PTS cs 23~22 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trong những hồ sen này ta sẽ cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để những ai muốn làm tràng hoa có thể lấy dùng”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để làm những tràng hoa bằng các thứ bông ấy.
SC 46Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những người hầu tắm cho những người qua kẻ lại”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đặt những người hầu tắm trên bờ những hồ sen này để tắm cho những người qua kẻ lại.
SC 47Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc và vàng cho những ai cần vàng”. Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, trên bờ những hồ sen ấy, cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc, và vàng cho những ai cần vàng.
SC 48PTS cs 24~23 Này Ānanda, các Gia chủ, Bà-la-môn đem theo nhiều tiền bạc đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu vua
SC 49—Tâu Ðại vương, chúng tôi có đem nhiều tiền của này để Ðại vương dùng. Mong đại vương hãy thâu nhận lấy.
SC 50- Này các Khanh, ta có đầy đủ nhiều tiền bạc do đánh thuế đúng pháp đem lại. Hãy giữ tiền bạc của Khanh lại, và đem theo nhiều nữa cho các Khanh!
SC 51Các vị này khi bị vua từ chối, liền đứng qua một bên và suy nghĩ: “Nếu nay chúng ta đem tiền của này về nhà chúng ta thời thật không phải. Chúng ta hãy xây dựng nhà cửa cho vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 52Các vị ấy liền đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu
SC 53—Ðại vương, chúng tôi định xây dựng nhà cửa cho Ðại vương.
SC 54Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời.
SC 55PTS cs 25~24 Này Ānanda, Thiên chủ Sakka biết được tư tưởng của vua Ðại Thiện Kiến với tư tưởng của mình, liền gọi Thiên tử Vissakamma (Tỳ-thủ-yết-ma) và nói
SC 56—Này Vissakamma, hãy đến đây và xây dựng một lâu đài cho vua Ðại Thiện Kiến, đặt tên là Dhamma (Pháp).
- Xin vâng, Tôn giả.
SC 57Này Ānanda, Thiên tử Vissakamma vâng lời Thiên chủ Sakka, như người lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co, hay co lại cánh tay duỗi ra, Thiên tử Vissakamma biến mất từ chư Thiên ở Tāvatiṁsa và hiện ra trước mặt vua Ðại Thiện Kiến. Rồi này Ānanda, Thiên tử Vissakamma tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 58—Ðại vương, tôi sẽ xây dựng một lâu đài tên là Dhamma cho Ðại vương!
SC 59Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời. Và này Ānanda, Thiên tử Vissakamma xây dựng lâu đài tên là Dhamma cho vua Ðại Thiện Kiến.
SC 60PTS cs 26~25 Này Ānanda, lâu đài Dhamma này, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam, bề rộng đến nửa do-tuần.
SC 61Này Ānanda, nền nhà của lâu đài Dhamma cao cho đến ba thân người và làm bằng ba loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 62Này Ānanda, lâu đài Dhamma có đến tám vạn bốn ngàn cột trụ bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 63Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly.
SC 64Này Ānanda, lâu đài Dhamma có tám vạn bốn ngàn phòng ốc bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Trong phòng ốc bằng vàng có chỗ nằm bằng bạc được trải ra. Trong phòng ốc bằng bạc, có chỗ nằm bằng vàng được trải ra. Trong phòng ốc bằng lưu ly có chỗ nằm bằng ngà được trải ra. Trong phòng ốc bằng thủy tinh, có chỗ nằm bằng san hô được trải ra. Tại cửa phòng ốc bằng vàng, có dựng lên một cây tāla bằng bạc, với thân cây bằng bạc, với lá và trái cây bằng vàng. Tại cửa phòng ốc bằng bạc, có dựng lên một cây tāla bằng vàng, với thân cây bằng vàng, với lá và trái bằng bạc. Tại cửa phòng ốc bằng lưu ly, có dựng lên một cây tāla bằng thủy tinh, với thân cây bằng thủy tinh, với lá và trái cây bằng lưu ly. Tại cửa phòng ốc bằng thủy tinh, có dựng lên một cây tāla bằng lưu ly, với thân cây bằng lưu ly, với lá và trái cây bằng thủy tinh.
SC 65PTS cs 27~26 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, ta hãy cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng, và tại đây ta sẽ an tọa ban ngày.
SC 66Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng và tại đây, vua ngồi an tọa ban ngày.
SC 67PTS cs 28~27 Này Ānanda, lâu đài Dhamma được hai dãy lan can bao bọc, một dãy bằng vàng, một dãy bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 68PTS cs 29~28 Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai màn lưới chuông linh, một màn bằng vàng, một màn bằng bạc. Màn lưới bằng vàng có chuông linh bằng bạc, màn lưới bằng bạc có chuông linh bằng vàng. Này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những màn lưới chuông linh này khi được gió thổi.
SC 69PTS cs 30~29 Này Ānanda, lâu đài Dhamma khi xây xong, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa (vì quá nguy nga tráng lệ). Này Ānanda, như trong tháng cuối mùa mưa, khi bầu trời quang đảng, không bị mây che lấp, mặt trời mọc lên giữa hư không, khó mà nhìn xem vì hai mắt bị chói lòa. Cũng vậy, này Ānanda, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa khi lâu đài Dhamma xây xong.
SC 70PTS cs 31~30 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước mặt lâu đài Dhamma, ta hãy cho xây hồ sen tên gọi là Dhamma!”.
SC 71Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây một hồ sen tên là Dhamma trước mặt lâu đài Dhamma.
SC 72Này Ānanda, hồ sen Dhamma, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam bề rộng đến nửa do tuần.
SC 73Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 74Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ và đầu trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly!
SC 75Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai loại lan can bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 76PTS cs 32~31 Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bảy hàng cây tāla bao bọc, một hàng cây bằng vàng, một hàng cây bằng bạc, một hàng cây bằng lưu ly, một hàng cây bằng thủy tinh, một hàng cây bằng san hô, một hàng cây bằng xa cừ, một hàng cây bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tà la bằng mọi thứ báu có thân cây bằng mọi thứ báu, có lá và trái cây bằng mọi thứ báu. Này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu ở kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những hàng cây này khi được gió thổi.
SC 77PTS cs 33~32 Này Ānanda, khi lâu đài Dhamma và hồ sen Dhamma được xây xong, lúc bấy giờ vua Ðại Thiện Kiến cúng dường cho các vị Sa-môn được tôn kính và các vị Bà-la-môn được tôn kính mọi sự dục lạc cần thiết rồi vua lên lâu đài Dhamma.
SC 78PTS cs 1~33 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này của ta do nghiệp gì, báo này của ta là do nghiệp gì mà hiện tại ta có thần lực như vậy, có oai lực như vậy?”.
SC 79Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này là do ba loại nghiệp, báo này là do ba loại nghiệp mà hiện tại ta có thần lực như vậy. Ðó là Bố thí, Tự điều, Tự chế”.
SC 80PTS cs 2~34 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến đi đến cao đường Ðại Trang Nghiêm, đứng trước cửa và nói lớn tiếng cao hứng ngữ sau đây:
SC 81Hãy dừng lại, tư tưởng dục vọng!
Hãy dừng lại, tư tưởng sân hận!
Hãy dừng lại, tư tưởng não hại!
Ðến đây thôi, tư tưởng dục vọng!
Ðến đây thôi, tư tưởng sân hận!
Ðến đây thôi, tư tưởng não hại!
SC 82PTS cs 3~35 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến bước vào cao đường Ðại Trang Nghiêm, ngồi trên sàng tọa bằng vàng, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Rồi diệt tầm và tứ, chứng và an trú trong thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú vào thiền thứ ba. Rồi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú vào thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 83PTS cs 4~36 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm, bước vào cao đường bằng vàng, ngồi trên sàng tọa bằng bạc, an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên không hận không sân.
SC 84PTS cs 5~37 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có tám vạn bốn ngàn kinh thành, và kinh thành Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề) là đệ nhất.
SC 85Tám vạn bốn ngàn lâu đài, và lâu đài Dhamma là đệ nhất. Tám vạn bốn ngàn cao đường, và cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất.
SC 86Tám vạn bốn ngàn sàng tọa, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thú trắng của con sơn dương được che bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ.
SC 87Tám vạn bốn ngàn con voi, với những trang sức bằng vàng, được che chở bằng lưới vàng, và tượng vương Uposatha (Bố-tát-đà) là đệ nhất.
SC 88Tám vạn bốn ngàn con ngựa, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới vàng, và mã vương Valāhaka (Vân Mã vương) là đệ nhất.
SC 89Tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vai vàng, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta (Nhạc thanh xa hay Chiến thắng kỳ) là đệ nhất.
SC 90Tám vạn bốn ngàn châu ngọc và bảo châu là đệ nhất.
SC 91Tám vạn bốn ngàn phụ nữ và hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi) là đệ nhất.
SC 92Tám vạn bốn ngàn gia chủ và gia chủ báu là đệ nhất.
SC 93Tám vạn bốn ngàn người giòng Sát-đế-lỵ và tướng quân báu là đệ nhất.
SC 94Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay (Dukùla), với sừng đầu nhọn bịt đồng.
SC 95Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi (Cu-chi) với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung.
SC 96Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa (Thàlipàka), buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm.
SC 97PTS cs 6~38 Lúc bấy giờ, này Ānanda, có tám vạn bốn ngàn voi sáng chiều đến phục vụ cho vua Ðại Thiện Kiến. Rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tám vạn bốn ngàn con voi này sáng chiều đến phục vụ cho ta. Nay ta hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm thời bốn vạn hai ngàn con đến”.
SC 98Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến bảo Tướng quân báu
SC 99—Này Hiền giả, nay tám vạn bốn ngàn con voi này, sáng chiều đến phục vụ ta. Nay hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm, mỗi lần cho bốn vạn hai ngàn con đến.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 100Này Ānanda, vị tướng quân báu vâng lời vua Ðại Thiện Kiến. Này Ānanda, từ đó về sau, cứ mỗi một trăm năm, bốn vạn hai ngàn con voi lần lượt đến với vua Ðại Thiện Kiến.
SC 101PTS cs 7~39 Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Cách đây đã lâu, ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay ta hãy đi để thăm vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 102Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà nói với các cung nữ
SC 103—Các Ngươi hãy gội đầu, mặc áo vàng. Cách đây đã lâu, chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 104- Này Ānanda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi), gội đầu, mặc áo vàng và đi đến hoàng hậu Subhaddà.
SC 105Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà cho gọi Tướng quân báu
SC 106—Này Khanh, hãy cho sắp đặt bốn loại binh chủng. Cách đây đã lâu chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 107Này Ānanda, tướng quân báu vâng lời hoàng hậu Subhaddà, cho sắp đặt bốn loại binh chủng và tâu Hoàng hậu
SC 108—Tâu Hoàng hậu, bốn loại binh chủng đã sắp đặt xong. Hãy làm gì Hoàng hậu nghĩ là phải thời.
SC 109PTS cs 8~40 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà cùng với bốn loại binh chủng và các cung nữ đi đến lâu đài Dhamma, leo lên lâu đài ấy, đến tại cao đường Ðại Trang Nghiêm và đứng dựa vào cánh cửa của cao đường này.
SC 110Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tiếng gì ồn ào như vậy, như cả một quần chúng đông đảo?” Vua bèn bước ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và thấy hoàng hậu Subhaddà đang đứng dựa vào cửa. Thấy vậy, vua liền nói với hoàng hậu Subhaddà
SC 111—Hoàng hậu hãy đứng ở đây, chớ có vào!
SC 112PTS cs 9~41 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến liền bảo một người hầu cận
SC 113—Ngươi hãy nhắc giường bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 114Này Ānanda, người ấy vâng lời dạy của vua Ðại Thiện Kiến, nhắc sàng tọa bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
SC 115Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến nằm xuống, trong dáng điệu con sư tử, về phía bên hữu, một chân đặt dài trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác.
SC 116PTS cs 10~42 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Các căn của vua Ðại Thiện Kiến thật là sáng suốt, màu da thật là thanh tịnh, trong sáng. Mong rằng vua Ðại Thiện Kiến chớ có mệnh chung!”.
SC 117Rồi hoàng hậu tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 118—Tâu Ðại vương, tám ván bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 119Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 120Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 121Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 122Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 123Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 124Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vải vàng với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 125Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 126Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 127Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này và tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 128Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 129Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 130Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 131PTS cs 11~43 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến nghe hoàng hậu Subhaddà nói vậy liền trả lời
SC 132—Ðã từ lâu Hoàng hậu nói với ta với những lời dễ chịu, hòa ái và dịu dàng. Thế mà nay, trong lần cuối cùng này, Hoàng hậu lại nói với ta bằng những lời không dễ chịu, không hòa ái, không dịu dàng!
SC 133- Tâu Ðại vương, thiếp phải nói với Ðại vương thế nào?
SC 134- Này Hoàng hậu, Hoàng hậu phải nói với ta như thế này:
SC 135“Tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, chịu sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến. Ðáng trách thay, sự mệnh chung còn ái luyến.
SC 136“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 137“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 138“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 139“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng toạ này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 140“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 141“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này với những trang sức bằng vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 142“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 143“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 144“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này là phụ nữ báu đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 145“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người thuộc giòng họ Sát-đế-lỵ này là tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 146“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 147“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 148“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buối sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 149PTS cs 12~44 Này Ānanda, khi nghe nói vậy, hoàng hậu Subhaddà buồn khóc, rơi nước mắt và tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 150—Tâu Ðại vương, tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, thực sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Ðáng trách thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vang và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy tử bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 151“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này và phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 152“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa, vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 153PTS cs 13~45 Này Ānanda, không bao lâu, vua Ðại Thiện Kiến mệnh chung. Này Ānanda, giống như một người gia chủ hay con một người gia chủ, sau một bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ, cũng tương tự như vậy cảm giác của vua Ðại Thiện Kiến khi mệnh chung. Này Ānanda, sau khi mệnh chung, vua Ðại Thiện Kiến sanh lên thiên phú cõi Phạm thiên. Này Ānanda, trải tám vạn bốn ngàn năm, vua Ðại Thiện Kiến sống sung sướng đời sống của một hoàng tử, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một phó vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một vị quốc vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm gia chủ, sống phạm hạnh trong lâu đài Dhamma. Ngài tu tập bốn Thần túc như vậy, sau khi thân hoại mạng chung. Ngài được sanh lên cõi Phạm thiên.
SC 154PTS cs 14~46 Này Ānanda, các ngươi có thể nghĩ: “Thời ấy, vua Ðại Thiện Kiến là một vị khác”. Này Ānanda, chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Ðại Thiện Kiến.
SC 155Tám vạn bốn ngàn kinh thành với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 156Tám vạn bốn ngàn lâu đài với lâu đài Dhamma là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 157Tám vạn bốn ngàn cao đường với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 158Tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa ấy đều thuộc của ta.
SC 159Tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi ấy đều thuộc của ta.
SC 160Tám vạn bốn ngàn con ngựa với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của ta.
SC 161Tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ta.
SC 162Tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 163Tám vạn bốn ngàn phụ nữ này với phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của ta.
SC 164Tám vạn bốn ngàn gia chủ này với gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 165Tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 166Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng đều thuộc của Ta.
SC 167Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ta.
SC 168Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ta.
SC 169PTS cs 15~47 Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn kinh thành ấy, chỉ có một kinh thành mà Ta ở vào thời ấy, đó là kinh thành Kusāvatī.
SC 170Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn lâu đài ấy, chỉ có một lâu đài mà Ta ở thời ấy, đó là lâu đài Dhamma.
SC 171Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cao đường ấy, chỉ có một cao đường mà Ta ở thời ấy, đó là cao đường Ðại Trang Nghiêm.
SC 172Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy, chỉ có một sàng tọa mà Ta dùng thời ấy, đó là sàng tọa bằng vàng, hay bằng bạc, hay bằng ngà, hay bằng gỗ kiên cố.
SC 173Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con voi ấy, chỉ có một con voi mà Ta cỡi thời ấy, đó là tượng vương Uposatha.
SC 174Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con ngựa ấy, chỉ có một con ngựa mà Ta cỡi thời ấy, đó là con mã vương Valāhaka.
SC 175Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cỗ xe ấy, chỉ có một cỗ xe mà Ta cỡi thời ấy, đó là cỗ xe Vejayanta.
SC 176Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy, đó là phụ nữ của giòng Sát-đế-lỵ hay giòng Velàmikàni.
SC 177Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại vải Koṭi ấy, chỉ có một loại vải sắc chất tế nhị mà Ta mặc thời ấy, đó là vải gai, vải bông, vải lụa hay vai nhung.
SC 178Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa ấy, chỉ có một loại cháo sữa mà Ta dùng thời ấy, đó là cơm và đồ ăn.
SC 179PTS cs 16~48 Này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi ấy nay đã vào quá khứ, hoại diệt và biến hóa. Này Ānanda, các pháp hữu vi, vô thường là như vậy, không kiên cố là như vậy, không đáng tin tưởng là như vậy; vì rằng, này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi cần phải nhàm chán, cần phải thoát ly, cần phải giải thoát.
SC 180PTS cs 17~49 Này Ānanda, nay Ta nhớ lại, như thế nào tại chỗ này thân Ta đã được chôn tất cả là sáu lần; và khi Ta sống làm một vị Chuyển Luân vương, dùng chánh pháp trị nước, một vị pháp vương, trị vì bốn thiên hạ, vị chinh phục, che chở cho quần chúng, đầy đủ bảy món báu, đó là lần thứ bảy. Này Ānanda, Ta không thấy một địa phương nào, trong thế giới loài Người và chư Thiên, trong thế giới Ma vương hay thế giới Phạm thiên, trong giòng họ Sa-môn hay Bà-la-môn mà trong địa phương ấy, Như Lai sẽ bỏ thân này lần thứ tám.
SC 181Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi thuyết xong, Thiện Thệ, bậc Ðạo Sư nói lại bài kệ như sau:
SC 182Tất cả pháp hữu vi,
Thật sự là vô thường,
Khởi lên rồi diệt mất,
Thường tánh là như vậy.
Chúng được sanh khởi lên,
Rồi chúng lại hoại diệt.
Hạnh phúc thay khi chúng
Ðược tịnh chỉ an lạc.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Đại Thiện Kiến
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi. Santi, bhante, aññāni mahānagarāni. Seyyathidaṁ—campā, rājagahaṁ, sāvatthi, sāketaṁ, kosambī, bārāṇasī; ettha bhagavā parinibbāyatu. Ettha bahū khattiyamahāsālā brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, please don’t be fully extinguished in this little hamlet, this jungle hamlet, this branch hamlet. There are other great cities such as Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, and Varanasi. Let the Buddha be fully extinguished there. There are many well-to-do aristocrats, brahmins, and householders there who are devoted to the Buddha. They will perform the rites of venerating the Realized One’s corpse.”
241. Tôi nghe như vầy – một thời đức Thế Tôn, vào lúc sắp nhập Niết-bàn, trú tại Kusinārā, trong khu rừng sāla của dòng họ Malla ở Upavattana, giữa hai cây sāla song đôi. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch đức Thế Tôn rằng: 'Bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn đừng nhập Niết-bàn tại cái thị trấn nhỏ bé này, cái thị trấn hoang vu này, cái thị trấn nhánh này. Bạch đức Thế Tôn, có những đại đô thị khác. Như là – Campā, Rājagaha, Sāvatthi, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī; xin đức Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn tại đó. Ở đó có nhiều Sát-đế-lỵ giàu có, Bà-la-môn giàu có, gia chủ giàu có, những người có lòng tịnh tín sâu sắc nơi Như Lai, họ sẽ cúng dường xá-lợi của Như Lai.'
“Mā hevaṁ, ānanda, avaca; mā hevaṁ, ānanda, avaca: ‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
“Don’t say that, Ānanda! Don’t say that this is a little hamlet, a jungle hamlet, a branch hamlet.
242. Này Ānanda, đừng nói như vậy; này Ānanda, đừng nói như vậy – rằng đây là một thị trấn nhỏ bé, một thị trấn hoang vu, một thị trấn nhánh.
Kinh thành Kusāvatī
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi khattiyo muddhāvasitto cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi. Puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena, uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena. Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca. Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca; evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Once upon a time, there was a king named Mahāsudassana whose dominion extended to all four sides, and who achieved stability in the country. His capital was this Kusinārā, which at the time was named Kusāvatī. It stretched for twelve leagues from east to west, and seven leagues from north to south. The royal capital of Kusāvatī was successful and prosperous, populous and full of people, with plenty of food. It was just like Āḷakamandā, the royal capital of the gods, which is successful and prosperous, populous and full of spirits, with plenty of food.
Kusāvatī was never free of ten sounds by day or night, namely: the sound of elephants, horses, chariots, drums, clay drums, arched harps, singing, horns, gongs, and handbells; and the cry, ‘Eat, drink, be merry!’ as the tenth.
Này Ānanda, trong quá khứ, đã có một vị vua tên là Mahāsudassana, thuộc dòng Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh, chinh phục bốn phương, chiến thắng, đạt được sự ổn định cho vương quốc. Này Ānanda, của vua Mahāsudassana, thành Kusinārā này đã là kinh thành tên là Kusāvatī. Chiều dài từ đông sang tây là mười hai do-tuần, chiều rộng từ bắc xuống nam là bảy do-tuần. Này Ānanda, kinh thành Kusāvatī đã từng thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, và lương thực dồi dào. Ví như, này Ānanda, kinh thành của chư thiên tên là Āḷakamandā thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, đầy dẫy dạ-xoa, và lương thực dồi dào; cũng vậy, này Ānanda, kinh thành Kusāvatī đã từng thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, và lương thực dồi dào. Này Ānanda, kinh thành Kusāvatī ngày cũng như đêm không ngớt mười loại âm thanh, đó là: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng ốc, tiếng chũm chọe, và tiếng thứ mười là 'Hãy ăn, hãy uống, hãy thưởng thức!'
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi pākārehi parikkhittā ahosi. Eko pākāro sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo, eko lohitaṅkamayo, eko masāragallamayo, eko sabbaratanamayo.
Kusāvatiyā, ānanda, rājadhāniyā catunnaṁ vaṇṇānaṁ dvārāni ahesuṁ. Ekaṁ dvāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ. Ekekasmiṁ dvāre satta satta esikā nikhātā ahesuṁ tiporisaṅgā tiporisanikhātā dvādasaporisā ubbedhena. Ekā esikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi. Ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā. Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca. Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi, sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca. Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca. Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca. Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi, masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca. Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi, lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca. Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca. Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca. Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca; evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca. Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
Kusāvatī was encircled by seven ramparts: one made of gold, one made of silver, one made of beryl, one made of crystal, one made of ruby, one made of emerald, and one made of all precious things.
It had four gates, made of gold, silver, beryl, and crystal. At each gate there were seven pillars, three fathoms deep and four fathoms high, made of gold, silver, beryl, crystal, ruby, emerald, and all precious things.
It was surrounded by seven rows of palm trees, made of gold, silver, beryl, crystal, ruby, emerald, and all precious things. The golden palms had trunks of gold, and leaves and fruits of silver. The silver palms had trunks of silver, and leaves and fruits of gold. The beryl palms had trunks of beryl, and leaves and fruits of crystal. The crystal palms had trunks of crystal, and leaves and fruits of beryl. The ruby palms had trunks of ruby, and leaves and fruits of emerald. The emerald palms had trunks of emerald, and leaves and fruits of ruby. The palms of all precious things had trunks of all precious things, and leaves and fruits of all precious things. When those rows of palm trees were blown by the wind they sounded graceful, tantalizing, sensuous, lovely, and intoxicating, like a quintet made up of skilled musicians who had practiced well and kept excellent rhythm. And any addicts, carousers, or drunkards in Kusāvatī at that time were entertained by that sound.
“Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī được bao bọc bởi bảy lớp tường thành. Một lớp tường thành bằng vàng, một lớp bằng bạc, một lớp bằng ngọc lưu ly, một lớp bằng pha lê, một lớp bằng hồng ngọc, một lớp bằng đá mã não, một lớp bằng tất cả các loại ngọc báu. Này Ānanda, ở kinh đô Kusāvatī có các cổng thành thuộc bốn loại màu sắc. Một cổng thành bằng vàng, một cổng bằng bạc, một cổng bằng ngọc lưu ly, một cổng bằng pha lê. Ở mỗi cổng thành, có bảy bảy cột trụ được dựng lên, chu vi ba tầm người, chôn sâu ba tầm người, và cao mười hai tầm người. Một cột trụ bằng vàng, một bằng bạc, một bằng ngọc lưu ly, một bằng pha lê, một bằng hồng ngọc, một bằng đá mã não, một bằng tất cả các loại ngọc báu. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī được bao bọc bởi bảy hàng cây thốt nốt. Một hàng cây thốt nốt bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng ngọc lưu ly, một hàng bằng pha lê, một hàng bằng hồng ngọc, một hàng bằng đá mã não, một hàng bằng tất cả các loại ngọc báu. Cây thốt nốt bằng vàng có thân bằng vàng, lá và quả bằng bạc. Cây thốt nốt bằng bạc có thân bằng bạc, lá và quả bằng vàng. Cây thốt nốt bằng ngọc lưu ly có thân bằng ngọc lưu ly, lá và quả bằng pha lê. Cây thốt nốt bằng pha lê có thân bằng pha lê, lá và quả bằng ngọc lưu ly. Cây thốt nốt bằng hồng ngọc có thân bằng hồng ngọc, lá và quả bằng đá mã não. Cây thốt nốt bằng đá mã não có thân bằng đá mã não, lá và quả bằng hồng ngọc. Cây thốt nốt bằng tất cả các loại ngọc báu có thân bằng tất cả các loại ngọc báu, lá và quả cũng bằng tất cả các loại ngọc báu. Này Ānanda, âm thanh của những hàng cây thốt nốt ấy khi được gió lay động thì du dương, quyến rũ, say đắm, và mê ly. Này Ānanda, ví như âm thanh của dàn nhạc năm loại nhạc cụ được hòa âm khéo léo, được tấu lên nhịp nhàng, được các nhạc công tài giỏi trình diễn, thì du dương, quyến rũ, say đắm, và mê ly. Này Ānanda, cũng giống như thế, âm thanh của những hàng cây thốt nốt ấy khi được gió lay động thì du dương, quyến rũ, say đắm, và mê ly. Này Ānanda, vào thời ấy, ở kinh đô Kusāvatī, những kẻ nghiện cờ bạc, nghiện rượu, ham uống, họ đã vui chơi giải trí với âm thanh của những hàng cây thốt nốt được gió lay động ấy.”
Rājā, ānanda, mahāsudassano sattahi ratanehi samannāgato ahosi catūhi ca iddhīhi. Katamehi sattahi?
Idhānanda, rañño mahāsudassanassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ. Disvā rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘sutaṁ kho pana metaṁ: “yassa rañño khattiyassa muddhāvasittassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pātubhavati sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ, so hoti rājā cakkavattī”ti. Assaṁ nu kho ahaṁ rājā cakkavattī’ti.
King Mahāsudassana possessed seven treasures and four blessings. What seven?
On a fifteenth day sabbath, King Mahāsudassana had bathed his head and gone upstairs in the royal longhouse to observe the sabbath. And the heavenly wheel-treasure appeared to him, with a thousand spokes, with rim and hub, complete in every detail. Seeing this, the king thought, ‘I have heard that when the heavenly wheel-treasure appears to a king in this way, he becomes a wheel-turning monarch. Am I then a wheel-turning monarch?’
243. “Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã được trang bị đầy đủ bảy báu vật và bốn thần thông. Bảy báu vật là những gì? Này Ānanda, ở đây, vào ngày trai giới mười lăm, sau khi đã gội đầu, đang thực hành trai giới, đức vua Mahāsudassana ngự trên tầng lầu cao nhất của cung điện thì một bánh xe báu thiêng liêng hiện ra, có một ngàn căm xe, có vành xe, có trục xe, đầy đủ trọn vẹn mọi phương diện. Sau khi nhìn thấy, đức vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ này: ‘Ta đã từng nghe điều này: “Vị vua nào thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, vào ngày trai giới mười lăm, sau khi đã gội đầu, đang thực hành trai giới, ngự trên tầng lầu cao nhất của cung điện, mà có một bánh xe báu thiêng liêng hiện ra, có một ngàn căm xe, có vành xe, có trục xe, đầy đủ trọn vẹn mọi phương diện, vị vua ấy là một vị Chuyển Luân Vương.” Vậy, có lẽ nào ta chính là một vị Chuyển Luân Vương chăng?’”
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vāmena hatthena suvaṇṇabhiṅkāraṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena cakkaratanaṁ abbhukkiri: ‘pavattatu bhavaṁ cakkaratanaṁ, abhivijinātu bhavaṁ cakkaratanan’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya, yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha: ‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti. Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā dakkhiṇaṁ disaṁ pavatti …pe…
dakkhiṇaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā pacchimaṁ disaṁ pavatti …pe…
pacchimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā uttaraṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya. Yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha: ‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti. Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Then King Mahāsudassana, rising from his seat and arranging his robe over one shoulder, took a ceremonial vase in his left hand and besprinkled the wheel-treasure with his right hand, saying: ‘Roll forth, O wheel-treasure! Triumph, O wheel-treasure!’
Then the wheel-treasure rolled toward the east. And the king followed it together with his army of four divisions. In whatever place the wheel-treasure stood still, there the king came to stay together with his army.
And any opposing rulers of the eastern quarter came to him and said, ‘Come, Great King! Welcome, Great King! We are yours, Great King, instruct us.’
The king said, ‘Do not kill living creatures. Do not steal. Do not commit sexual misconduct. Do not lie. Do not drink liquor. Maintain the current level of taxation.’ And so the opposing rulers of the eastern quarter became his vassals.
Then the wheel-treasure, having plunged into the eastern ocean and emerged again, rolled toward the south. …
Having plunged into the southern ocean and emerged again, it rolled toward the west. …
Having plunged into the western ocean and emerged again, it rolled toward the north, followed by the king together with his army of four divisions. In whatever place the wheel-treasure stood still, there the king came to stay together with his army.
And any opposing rulers of the northern quarter came to him and said, ‘Come, Great King! Welcome, Great King! We are yours, Great King, instruct us.’
The king said, ‘Do not kill living creatures. Do not steal. Do not commit sexual misconduct. Do not lie. Do not drink liquor. Maintain the current level of taxation.’ And so the opposing rulers of the northern quarter became his vassals.
244. Này Ānanda, khi ấy, đức vua Mahāsudassana từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, tay trái cầm bình nước bằng vàng, tay phải rảy nước lên bánh xe báu và nói: ‘Mong sao bánh xe báu tôn quý hãy lăn đi, mong sao bánh xe báu tôn quý hãy chinh phục.’ Này Ānanda, khi ấy, bánh xe báu ấy đã lăn về phương đông. Đức vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, ở địa phương nào bánh xe báu dừng lại, đức vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đã trú ngụ tại nơi ấy. Này Ānanda, các vị tiểu vương ở phương đông đã đi đến yết kiến đức vua Mahāsudassana và thưa rằng: ‘Xin mời đại vương, đại vương đã khéo đến. Thưa đại vương, đây là của ngài. Thưa đại vương, xin hãy giáo huấn.’ Đức vua Mahāsudassana đã nói như sau: ‘Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà hạnh trong các dục, không được nói dối, không được uống rượu, và hãy hưởng thụ theo như đã hưởng thụ.’ Này Ānanda, các vị tiểu vương ở phương đông đã trở thành những người tùy tùng của đức vua Mahāsudassana. Này Ānanda, khi ấy, bánh xe báu ấy sau khi đã đi xuống biển đông rồi trồi lên lại, đã lăn về phương nam... (như trên)... sau khi đã đi xuống biển nam rồi trồi lên lại, đã lăn về phương tây... (như trên)... sau khi đã đi xuống biển tây rồi trồi lên lại, đã lăn về phương bắc. Đức vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, ở địa phương nào bánh xe báu dừng lại, đức vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đã trú ngụ tại nơi ấy. Này Ānanda, các vị tiểu vương ở phương bắc đã đi đến yết kiến đức vua Mahāsudassana và thưa rằng: ‘Xin mời đại vương, đại vương đã khéo đến. Thưa đại vương, đây là của ngài. Thưa đại vương, xin hãy giáo huấn.’ Đức vua Mahāsudassana đã nói như sau: ‘Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà hạnh trong các dục, không được nói dối, không được uống rượu, và hãy hưởng thụ theo như đã hưởng thụ.’ Này Ānanda, các vị tiểu vương ở phương bắc đã trở thành những người tùy tùng của đức vua Mahāsudassana.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ abhivijinitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā rañño mahāsudassanassa antepuradvāre atthakaraṇapamukhe akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi rañño mahāsudassanassa antepuraṁ upasobhayamānaṁ. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi.
And then the wheel-treasure, having triumphed over this land surrounded by ocean, returned to the royal capital. There it stood still by the gate to the royal compound at the High Court as if fixed to an axle, illuminating the royal compound. Such is the wheel-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
245. Này Ānanda, khi ấy, bánh xe báu ấy sau khi đã chinh phục được mặt đất cho đến tận bờ biển, đã quay trở về kinh đô Kusāvatī rồi dừng lại ở cổng nội cung của đức vua Mahāsudassana, ngay trước cửa phòng xử án, giống như thể được gắn chặt vào trục xe, làm cho nội cung của đức vua Mahāsudassana được trang nghiêm. Này Ānanda, bánh xe báu như thế ấy đã hiện ra cho đức vua Mahāsudassana.
Tượng báu (Voi báu)
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa hatthiratanaṁ pāturahosi sabbaseto sattappatiṭṭho iddhimā vehāsaṅgamo uposatho nāma nāgarājā. Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi: ‘bhaddakaṁ vata bho hatthiyānaṁ, sace damathaṁ upeyyā’ti. Atha kho taṁ, ānanda, hatthiratanaṁ—seyyathāpi nāma gandhahatthājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva hatthiratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ hatthiratanaṁ pāturahosi.
Next, the elephant-treasure appeared to King Mahāsudassana. It was an all-white sky-walker with psychic power, touching the ground in seven places, a king of elephants named Sabbath. Seeing him, the king was impressed, ‘This would truly be a fine elephant vehicle, if he would submit to taming.’ Then the elephant-treasure submitted to taming, as if he was a fine thoroughbred elephant that had been tamed for a long time.
Once it so happened that King Mahāsudassana, testing that same elephant-treasure, mounted him in the morning and traversed the land surrounded by ocean before returning to the royal capital in time for breakfast. Such is the elephant-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
246. Này Ānanda, lại nữa, đối với đức vua Mahāsudassana, voi báu đã hiện ra, toàn thân màu trắng, có bảy điểm vững chãi, có thần thông, đi được trên hư không, là voi chúa tên Uposatha. Sau khi nhìn thấy voi báu ấy, tâm của đức vua Mahāsudassana được hoan hỷ: ‘Thật tốt thay, này các khanh, nếu cỗ xe voi này có thể được điều phục.’ Này Ānanda, khi ấy, voi báu ấy đã được điều phục, giống như con voi thuần chủng thuộc giống Gandha đã được huấn luyện kỹ lưỡng từ lâu. Này Ānanda, thuở xưa, đức vua Mahāsudassana, trong khi muốn thử nghiệm voi báu ấy, vào buổi sáng đã cỡi lên nó, đi một vòng quanh mặt đất cho đến tận bờ biển, rồi quay trở về kinh đô Kusāvatī và dùng bữa sáng. Này Ānanda, voi báu như thế ấy đã hiện ra cho đức vua Mahāsudassana.
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa assaratanaṁ pāturahosi sabbaseto kāḷasīso muñjakeso iddhimā vehāsaṅgamo valāhako nāma assarājā. Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi: ‘bhaddakaṁ vata bho assayānaṁ sace damathaṁ upeyyā’ti. Atha kho taṁ, ānanda, assaratanaṁ seyyathāpi nāma bhaddo assājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva assaratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ assaratanaṁ pāturahosi.
Next, the horse-treasure appeared to King Mahāsudassana. It was an all-white sky-walker with psychic power, with head of black and mane like woven reeds, a royal steed named Thundercloud. Seeing him, the king was impressed, ‘This would truly be a fine horse vehicle, if he would submit to taming.’ Then the horse-treasure submitted to taming, as if he was a fine thoroughbred horse that had been tamed for a long time.
Once it so happened that King Mahāsudassana, testing that same horse-treasure, mounted him in the morning and traversed the land surrounded by ocean before returning to the royal capital in time for breakfast. Such is the horse-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
247. Này Ānanda, lại nữa, đối với đức vua Mahāsudassana, ngựa báu đã hiện ra, toàn thân màu trắng, đầu màu đen, bờm như cỏ muñja, có thần thông, đi được trên hư không, là ngựa chúa tên Valāhaka. Sau khi nhìn thấy ngựa báu ấy, tâm của đức vua Mahāsudassana được hoan hỷ: ‘Thật tốt thay, này các khanh, nếu cỗ xe ngựa này có thể được điều phục.’ Này Ānanda, khi ấy, ngựa báu ấy đã được điều phục, giống như con ngựa thuần chủng tốt đã được huấn luyện kỹ lưỡng từ lâu. Này Ānanda, thuở xưa, đức vua Mahāsudassana, trong khi muốn thử nghiệm ngựa báu ấy, vào buổi sáng đã cỡi lên nó, đi một vòng quanh mặt đất cho đến tận bờ biển, rồi quay trở về kinh đô Kusāvatī và dùng bữa sáng. Này Ānanda, ngựa báu như thế ấy đã hiện ra cho đức vua Mahāsudassana.
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa maṇiratanaṁ pāturahosi. So ahosi maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno. Tassa kho panānanda, maṇiratanassa ābhā samantā yojanaṁ phuṭā ahosi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva maṇiratanaṁ vīmaṁsamāno caturaṅginiṁ senaṁ sannayhitvā maṇiṁ dhajaggaṁ āropetvā rattandhakāratimisāya pāyāsi. Ye kho panānanda, samantā gāmā ahesuṁ, te tenobhāsena kammante payojesuṁ divāti maññamānā. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ maṇiratanaṁ pāturahosi.
Next, the jewel-treasure appeared to King Mahāsudassana. It was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent, clear, and unclouded, endowed with all good qualities. And the radiance of that jewel spread all-round for a league.
Once it so happened that King Mahāsudassana, testing that same jewel-treasure, mobilized his army of four divisions and, with the jewel hoisted on his banner, set out in the dark of the night. Then the villagers around them set off to work, thinking that it was day. Such is the jewel-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
248. Này Ānanda, lại nữa, đối với đức vua Mahāsudassana, ngọc báu đã hiện ra. Viên ngọc ấy là ngọc veḷuriya, đẹp đẽ, thuộc loại tốt, có tám cạnh, được chế tác hoàn hảo, trong suốt, cực kỳ thanh tịnh, không tỳ vết, hội đủ mọi đặc tính. Này Ānanda, ánh sáng của viên ngọc báu ấy đã tỏa ra xung quanh một do-tuần. Này Ānanda, thuở xưa, đức vua Mahāsudassana, trong khi muốn thử nghiệm viên ngọc báu ấy, đã tập hợp bốn binh chủng, gắn viên ngọc lên đầu ngọn cờ, rồi ra đi trong đêm tối mịt mù. Này Ānanda, các ngôi làng ở xung quanh, do ánh sáng của viên ngọc ấy, đã bắt đầu công việc của mình vì ngỡ rằng đó là ban ngày. Này Ānanda, ngọc báu như thế ấy đã hiện ra cho đức vua Mahāsudassana.
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa itthiratanaṁ pāturahosi abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā nātidīghā nātirassā nātikisā nātithūlā nātikāḷikā nāccodātā atikkantā mānusivaṇṇaṁ appattā dibbavaṇṇaṁ. Tassa kho panānanda, itthiratanassa evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāsapicuno vā. Tassa kho panānanda, itthiratanassa sīte uṇhāni gattāni honti, uṇhe sītāni. Tassa kho panānanda, itthiratanassa kāyato candanagandho vāyati, mukhato uppalagandho. Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rañño mahāsudassanassa pubbuṭṭhāyinī ahosi pacchānipātinī kiṅkārapaṭissāvinī manāpacārinī piyavādinī. Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ manasāpi no aticari, kuto pana kāyena. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ itthiratanaṁ pāturahosi.
Next, the woman-treasure appeared to King Mahāsudassana. She was attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty. She was neither too tall nor too short; neither too thin nor too fat; neither too dark nor too light. She outdid human beauty without reaching heavenly beauty. And her touch was like a tuft of cotton-wool or kapok. When it was cool her limbs were warm, and when it was warm her limbs were cool. The fragrance of sandal floated from her body, and lotus from her mouth. She got up before the king and went to bed after him, and was obliging, behaving nicely and speaking politely. The woman-treasure did not betray the wheel-turning monarch even in thought, still less in deed. Such is the woman-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
249. “Lại nữa, này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, nữ bảo đã xuất hiện, nàng có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, đáng ưa thích, có được vẻ đẹp toàn hảo của nước da ở mức độ tột cùng, không quá cao, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, vượt hơn dung sắc của loài người, nhưng chưa đạt đến dung sắc của chư thiên. Này Ānanda, sự xúc chạm nơi thân của nữ bảo ấy là như thế này, ví như là sự xúc chạm của một khối bông gòn hay một khối bông vải. Này Ānanda, các chi phần của nữ bảo ấy trở nên ấm áp khi trời lạnh, và trở nên mát mẻ khi trời nóng. Này Ānanda, từ thân của nữ bảo ấy tỏa ra hương chiên-đàn, từ miệng tỏa ra hương hoa sen xanh. Này Ānanda, nữ bảo ấy có thói quen thức dậy trước đức vua Mahāsudassana, đi ngủ sau, luôn vâng lời, hành xử vừa ý, và nói lời khả ái. Này Ānanda, nữ bảo ấy ngay cả trong tâm ý cũng không hề có ý nghĩ bất chính đối với đức vua Mahāsudassana, huống nữa là bằng thân. Này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, nữ bảo đã xuất hiện với những phẩm chất như vậy.”
Gia chủ bảo
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa gahapatiratanaṁ pāturahosi. Tassa kammavipākajaṁ dibbacakkhu pāturahosi yena nidhiṁ passati sassāmikampi assāmikampi.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha: ‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahaṁ te dhanena dhanakaraṇīyaṁ karissāmī’ti.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva gahapatiratanaṁ vīmaṁsamāno nāvaṁ abhiruhitvā majjhe gaṅgāya nadiyā sotaṁ ogāhitvā gahapatiratanaṁ etadavoca: ‘attho me, gahapati, hiraññasuvaṇṇenā’ti.
‘Tena hi, mahārāja, ekaṁ tīraṁ nāvā upetū’ti.
‘Idheva me, gahapati, attho hiraññasuvaṇṇenā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, gahapatiratanaṁ ubhohi hatthehi udakaṁ omasitvā pūraṁ hiraññasuvaṇṇassa kumbhiṁ uddharitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca: ‘alamettāvatā, mahārāja, katamettāvatā, mahārāja, pūjitamettāvatā, mahārājā’ti?
Rājā mahāsudassano evamāha: ‘alamettāvatā, gahapati, katamettāvatā, gahapati, pūjitamettāvatā, gahapatī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ gahapatiratanaṁ pāturahosi.
Next, the householder-treasure appeared to King Mahāsudassana. The power of clairvoyance manifested in him as a result of past deeds, by which he sees treasure troves, both owned and ownerless.
He approached the king and said, ‘Relax, Your Majesty. I will take care of the treasury.’
Once it so happened that the wheel-turning monarch, testing that same householder-treasure, boarded a boat and sailed to the middle of the Ganges River. Then he said to the householder-treasure, ‘Householder, I need gold, both coined and uncoined.’
‘Well then, Great King, draw the boat up to one shore.’
‘It’s right here, householder, that I need gold, both coined and uncoined.’
Then that householder-treasure, immersing both hands in the water, pulled up a pot full of gold, both coined and uncoined, and said to the king, ‘Is this sufficient, Great King? Has enough been done, Great King, enough offered?’
The king said, ‘That is sufficient, householder. Enough has been done, enough offered.’
Such is the householder-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
250. “Lại nữa, này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, gia chủ bảo đã xuất hiện. Thiên nhãn phát sinh do kết quả của nghiệp đã xuất hiện nơi vị ấy, nhờ đó vị ấy nhìn thấy các kho tàng, cả có chủ lẫn không có chủ. Vị ấy đến yết kiến đức vua Mahāsudassana và tâu rằng: ‘Tâu Thiên tử, ngài hãy an tâm, hạ thần sẽ lo liệu việc tài sản cho ngài bằng tài sản.’ Này Ānanda, thuở xưa, đức vua Mahāsudassana, trong khi muốn thử thách chính vị gia chủ bảo ấy, đã lên thuyền đi ra giữa dòng sông Gaṅgā, rồi nói với vị gia chủ bảo rằng: ‘Này gia chủ, ta cần vàng bạc.’ ‘Tâu Đại vương, nếu vậy, xin cho thuyền cập vào một bên bờ.’ ‘Này gia chủ, ta cần vàng bạc ngay tại đây.’ Bấy giờ, này Ānanda, vị gia chủ bảo ấy dùng cả hai tay vốc nước lên, rồi lấy ra một cái hũ đầy vàng bạc và tâu với đức vua Mahāsudassana rằng: ‘Tâu Đại vương, chừng này đã đủ chưa? Tâu Đại vương, chừng này đã làm xong việc chưa? Tâu Đại vương, chừng này đã cúng dường đủ chưa?’ Đức vua Mahāsudassana đáp rằng: ‘Này gia chủ, chừng này là đủ rồi. Này gia chủ, chừng này là đã làm xong việc rồi. Này gia chủ, chừng này là đã cúng dường đủ rồi.’ Này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, gia chủ bảo đã xuất hiện với những phẩm chất như vậy.”
Phụ tướng bảo
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo rājānaṁ mahāsudassanaṁ upayāpetabbaṁ upayāpetuṁ, apayāpetabbaṁ apayāpetuṁ, ṭhapetabbaṁ ṭhapetuṁ.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha: ‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahamanusāsissāmī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi.
Next, the commander-treasure appeared to King Mahāsudassana. He is astute, competent, intelligent, and capable regarding who should be ushered in to the king’s presence, who should be ushered out, and who should be kept by his side.
He approached the king and said, ‘Relax, Your Majesty. I shall issue instructions.’
Such is the commander-treasure that appeared to King Mahāsudassana.
251. “Lại nữa, này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, phụ tướng bảo đã xuất hiện, là người hiền trí, tài giỏi, thông minh, có khả năng giúp đức vua Mahāsudassana biết người nào nên cho đến gần, người nào nên cho tránh xa, người nào nên bổ nhiệm. Vị ấy đến yết kiến đức vua Mahāsudassana và tâu rằng: ‘Tâu Thiên tử, ngài hãy an tâm, hạ thần sẽ cai quản.’ Này Ānanda, đối với đức vua Mahāsudassana, phụ tướng bảo đã xuất hiện với những phẩm chất như vậy.”
Rājā, ānanda, mahāsudassano imehi sattahi ratanehi samannāgato ahosi.
These are the seven treasures possessed by King Mahāsudassana.
“Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được bảy báu vật này.”
Thành tựu bốn thần lực
Rājā, ānanda, mahāsudassano catūhi iddhīhi samannāgato ahosi. Katamāhi catūhi iddhīhi?
Idhānanda, rājā mahāsudassano abhirūpo ahosi dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato ativiya aññehi manussehi. Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya paṭhamāya iddhiyā samannāgato ahosi.
King Mahāsudassana possessed four blessings. And what are the four blessings?
He was attractive, good-looking, lovely, of surpassing beauty, more so than other humans. This is the first blessing.
252. “Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được bốn thần lực. Bốn thần lực ấy là gì? Này Ānanda, ở đây, đức vua Mahāsudassana có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, đáng ưa thích, có được vẻ đẹp toàn hảo của nước da ở mức độ tột cùng, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được thần lực thứ nhất này.”
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano dīghāyuko ahosi ciraṭṭhitiko ativiya aññehi manussehi. Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya dutiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Furthermore, he was long-lived, more so than other humans. This is the second blessing.
“Lại nữa, này Ānanda, đức vua Mahāsudassana sống lâu, tồn tại trong thời gian dài, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được thần lực thứ hai này.”
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano appābādho ahosi appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya ativiya aññehi manussehi. Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya tatiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Furthermore, he was rarely ill or unwell, and his stomach digested well, being neither too hot nor too cold, more so than other humans. This is the third blessing.
“Lại nữa, này Ānanda, đức vua Mahāsudassana ít bệnh, ít khổ, có được hệ tiêu hóa quân bình, không quá lạnh, không quá nóng, giúp tiêu hóa thức ăn đều đặn, vượt trội hơn hẳn những người khác. Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được thần lực thứ ba này.”
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo. Seyyathāpi, ānanda, pitā puttānaṁ piyo hoti manāpo; evameva kho, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo. Raññopi, ānanda, mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā. Seyyathāpi, ānanda, pitu puttā piyā honti manāpā; evameva kho, ānanda, raññopi mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā.
Furthermore, he was as dear and beloved to the brahmins and householders as a father is to his children. And the brahmins and householders were as dear to the king as children are to their father.
“Lại nữa, này Ānanda, đức vua Mahāsudassana được các vị Bà-la-môn và gia chủ yêu mến và quý trọng. Này Ānanda, ví như người cha được các con yêu mến và quý trọng, cũng vậy, đức vua Mahāsudassana được các vị Bà-la-môn và gia chủ yêu mến và quý trọng. Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana cũng yêu mến và quý trọng các vị Bà-la-môn và gia chủ. Này Ānanda, ví như người cha yêu mến và quý trọng các con, cũng vậy, đức vua Mahāsudassana cũng yêu mến và quý trọng các vị Bà-la-môn và gia chủ.”
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano caturaṅginiyā senāya uyyānabhūmiṁ niyyāsi. Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘ataramāno, deva, yāhi, yathā taṁ mayaṁ cirataraṁ passeyyāmā’ti. Rājāpi, ānanda, mahāsudassano sārathiṁ āmantesi: ‘ataramāno, sārathi, rathaṁ pesehi, yathā ahaṁ brāhmaṇagahapatike cirataraṁ passeyyan’ti. Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya catutthiyā iddhiyā samannāgato ahosi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāhi catūhi iddhīhi samannāgato ahosi.
Once it so happened that King Mahāsudassana went with his army of four divisions to visit a park. Then the brahmins and householders went up to him and said, ‘Slow down, Your Majesty, so we may see you longer!’ And the king addressed his charioteer, ‘Drive slowly, charioteer, so I can see the brahmins and householders longer!’ This is the fourth blessing.
These are the four blessings possessed by King Mahāsudassana.
“Này Ānanda, thuở xưa, đức vua Mahāsudassana cùng với bốn binh chủng đi đến khu vườn ngự uyển. Bấy giờ, này Ānanda, các vị Bà-la-môn và gia chủ đến yết kiến đức vua Mahāsudassana và tâu rằng: ‘Tâu Thiên tử, xin ngài đi thong thả, để chúng con được chiêm ngưỡng ngài lâu hơn.’ Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana cũng bảo người đánh xe rằng: ‘Này người đánh xe, hãy đánh xe đi thong thả, để ta được nhìn thấy các vị Bà-la-môn và gia chủ lâu hơn.’ Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được thần lực thứ tư này. Này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã có được bốn thần lực này.”
Điện Pháp và hồ sen Pháp
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ imāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo māpeyyan’ti.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I have lotus ponds built between the palms, at intervals of a hundred bow lengths?’
253. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ này: ‘Hay là ta cho làm các hồ sen ở khoảng giữa những hàng cây thốt nốt này, mỗi hồ cách nhau một trăm cung.’
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo. Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahesuṁ—ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
So that’s what he did. The lotus ponds were lined with tiles of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal.
Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã cho làm các hồ sen ở khoảng giữa những hàng cây thốt nốt ấy, mỗi hồ cách nhau một trăm cung. Này Ānanda, những hồ sen ấy được xây bằng gạch có bốn màu: một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng ngọc lưu ly, và một loại bằng pha lê.
Tāsu kho panānanda, pokkharaṇīsu cattāri cattāri sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ, ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ ekaṁ rūpiyamayaṁ ekaṁ veḷuriyamayaṁ ekaṁ phalikamayaṁ. Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ, phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ, veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo dvīhi vedikāhi parikkhittā ahesuṁ ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā. Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ imāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ ropāpeyyaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭan’ti. Ropāpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭaṁ.
And four flights of stairs of four colors descended into each lotus pond, made of gold, silver, beryl, and crystal. The golden stairs had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver stairs had posts of silver, and banisters and finials of gold. The beryl stairs had posts of beryl, and banisters and finials of crystal. The crystal stairs had posts of crystal, and banisters and finials of beryl. Those lotus ponds were surrounded by two balustrades, made of gold and silver. The golden balustrades had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver balustrades had posts of silver, and banisters and finials of gold.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I plant flowers in the lotus ponds such as blue water lilies, and lotuses of pink, yellow, and white, blooming all year round, and accessible to the public?’ So that’s what he did.
Này Ānanda, ở mỗi hồ sen ấy có bốn cầu thang với bốn màu sắc khác nhau: một cầu thang bằng vàng, một bằng bạc, một bằng ngọc lưu ly, và một bằng pha lê. Cầu thang bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và lan can thì bằng bạc. Cầu thang bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và lan can thì bằng vàng. Cầu thang bằng ngọc lưu ly có các cột trụ bằng ngọc lưu ly, còn các thanh ngang và lan can thì bằng pha lê. Cầu thang bằng pha lê có các cột trụ bằng pha lê, còn các thanh ngang và lan can thì bằng ngọc lưu ly. Này Ānanda, những hồ sen ấy được bao quanh bởi hai hàng rào, một hàng rào bằng vàng và một hàng rào bằng bạc. Hàng rào bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và lan can thì bằng bạc. Hàng rào bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và lan can thì bằng vàng. Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ này: ‘Hay là ta cho trồng trong các hồ sen này những loại hoa như sen xanh, sen hồng, sen trắng, sen trắng cánh lớn, nở hoa quanh năm và mọi người đều có thể đến xem.’ Và này Ānanda, vua Mahāsudassana đã cho trồng trong các hồ sen ấy những loại hoa như sen xanh, sen hồng, sen trắng, sen trắng cánh lớn, nở hoa quanh năm và mọi người đều có thể đến xem.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise ṭhapeyyaṁ, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpessantī’ti. Ṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpesuṁ.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I appoint bath attendants to help bathe the people who come to bathe in the lotus ponds?’ So that’s what he did.
254. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ này: ‘Hay là ta cho đặt những người phục vụ tắm gội ở bên bờ các hồ sen này, để họ tắm cho những người đến đây.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã cho đặt những người phục vụ tắm gội ở bên bờ các hồ sen ấy, để họ tắm cho những người đến đó.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ paṭṭhapeyyaṁ—annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassā’ti. Paṭṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ—annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassa.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I set up charities on the banks of the lotus ponds, so that those in need of food, drink, clothes, vehicles, beds, women, coined gold, or uncoined gold can get what they need?’ So that’s what he did.
Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ này: ‘Hay là ta cho thiết lập việc bố thí như sau ở bên bờ các hồ sen này: thức ăn cho người cần thức ăn, thức uống cho người cần thức uống, y phục cho người cần y phục, xe cộ cho người cần xe cộ, giường nằm cho người cần giường nằm, phụ nữ cho người cần phụ nữ, bạc cho người cần bạc, vàng cho người cần vàng.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã cho thiết lập việc bố thí như vậy ở bên bờ các hồ sen ấy: thức ăn cho người cần thức ăn, thức uống cho người cần thức uống, y phục cho người cần y phục, xe cộ cho người cần xe cộ, giường nằm cho người cần giường nằm, phụ nữ cho người cần phụ nữ, bạc cho người cần bạc, vàng cho người cần vàng.
Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ sāpateyyaṁ ādāya rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘idaṁ, deva, pahūtaṁ sāpateyyaṁ devaññeva uddissa ābhataṁ, taṁ devo paṭiggaṇhatū’ti.
‘Alaṁ, bho, mamapidaṁ pahūtaṁ sāpateyyaṁ dhammikena balinā abhisaṅkhataṁ, tañca vo hotu, ito ca bhiyyo harathā’ti.
Te raññā paṭikkhittā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ: ‘na kho etaṁ amhākaṁ patirūpaṁ, yaṁ mayaṁ imāni sāpateyyāni punadeva sakāni gharāni paṭihareyyāma. Yannūna mayaṁ rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpeyyāmā’ti.
Te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmā’ti. Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
Then the brahmins and householders came to the king bringing abundant wealth and said, ‘Your Majesty, this abundant wealth is specially for you alone; may Your Majesty accept it!’
‘There’s enough raised for me through regular taxes. Let this be for you; and here, take even more!’
When the king turned them down, they withdrew to one side to think up a plan, ‘It wouldn’t be proper for us to take this abundant wealth back to our own homes. Why don’t we build a home for King Mahāsudassana?’
They went up to the king and said, ‘We shall have a home built for you, Your Majesty!’ King Mahāsudassana consented with silence.
255. Này Ānanda, khi ấy, các vị Bà-la-môn và gia chủ mang nhiều của cải đến yết kiến vua Mahāsudassana và tâu rằng: ‘Tâu Đại vương, đây là rất nhiều của cải được mang đến dâng cho Đại vương. Xin Đại vương hãy nhận lấy.’ ‘Thôi, các khanh. Ta cũng có nhiều của cải được thu góp từ thuế má đúng pháp. Của cải ấy hãy là của các khanh, và hãy lấy thêm từ đây nữa.’ Bị nhà vua từ chối, họ lui ra một nơi và cùng nhau bàn tính: ‘Chúng ta mang của cải này trở về nhà mình thì thật không phải lẽ. Hay là chúng ta xây một cung điện cho vua Mahāsudassana.’ Rồi họ đến yết kiến vua Mahāsudassana và tâu rằng: ‘Tâu Đại vương, chúng thần sẽ xây một cung điện cho ngài.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã im lặng chấp thuận.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo rañño mahāsudassanassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vissakammaṁ devaputtaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma vissakamma, rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpehi dhammaṁ nāma pāsādan’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, vissakammo devaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito rañño mahāsudassanassa purato pāturahosi.
Atha kho, ānanda, vissakammo devaputto rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca: ‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmi dhammaṁ nāma pāsādan’ti. Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
And then Sakka, lord of gods, knowing the king’s train of thought, addressed the godling Vissakamma, ‘Come, dear Vissakamma, build a palace named Principle as a home for King Mahāsudassana.’
‘Yes, lord,’ replied Vissakamma. Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the gods of the thirty-three and appeared in front of King Mahāsudassana.
Vissakamma said to the king, ‘I shall build a palace named Principle as a home for you, Your Majesty.’ King Mahāsudassana consented with silence.
256. Này Ānanda, khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của vua Mahāsudassana, liền gọi thiên tử Vissakamma: ‘Này khanh Vissakamma, hãy đến đây. Khanh hãy xây cho vua Mahāsudassana một cung điện tên là Dhamma.’ ‘Vâng, thưa ngài,’ này Ānanda, thiên tử Vissakamma vâng lời Sakka, vua của chư thiên, rồi như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Ba Mươi Ba và hiện ra trước mặt vua Mahāsudassana. Khi ấy, này Ānanda, thiên tử Vissakamma nói với vua Mahāsudassana: ‘Tâu Đại vương, thần sẽ xây cho ngài một cung điện tên là Dhamma.’ Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã im lặng chấp thuận.
Māpesi kho, ānanda, vissakammo devaputto rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ dhammaṁ nāma pāsādaṁ.
Dhammo, ānanda, pāsādo puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi. Uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena. Dhammassa, ānanda, pāsādassa tiporisaṁ uccatarena vatthu citaṁ ahosi catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi—ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
And so that’s what Vissakamma did.
The Palace of Principle stretched for a league from east to west, and half a league from north to south. It was lined with tiles of four colors, three fathoms high, made of gold, silver, beryl, and crystal.
“Này Ānanda, thiên tử Vissakamma đã hóa hiện cho đức vua Mahāsudassana một cung điện tên là Dhamma. Này Ānanda, cung điện Dhamma có chiều dài một do-tuần theo hướng đông và hướng tây, và có chiều rộng nửa do-tuần theo hướng bắc và hướng nam. Này Ānanda, nền móng của cung điện Dhamma được xây cao ba tầm người bằng các loại gạch có bốn màu sắc: một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng ngọc lưu ly, và một loại bằng pha lê.”
Dhammassa, ānanda, pāsādassa caturāsītithambhasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—eko thambho sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo. Dhammo, ānanda, pāsādo catunnaṁ vaṇṇānaṁ phalakehi santhato ahosi—ekaṁ phalakaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
It had 84,000 pillars of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal. It was covered with panels of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal.
“Này Ānanda, cung điện Dhamma có tám mươi bốn ngàn cây cột thuộc bốn màu sắc: một cây cột bằng vàng, một cây bằng bạc, một cây bằng ngọc lưu ly, và một cây bằng pha lê. Này Ānanda, cung điện Dhamma được lót bằng các tấm ván thuộc bốn màu sắc: một tấm ván bằng vàng, một tấm bằng bạc, một tấm bằng ngọc lưu ly, và một tấm bằng pha lê.”
Dhammassa, ānanda, pāsādassa catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ. Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
It had twenty-four staircases of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal. The golden stairs had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver stairs had posts of silver, and banisters and finials of gold. The beryl stairs had posts of beryl, and banisters and finials of crystal. The crystal stairs had posts of crystal, and banisters and finials of beryl.
“Này Ānanda, cung điện Dhamma có hai mươi bốn cầu thang thuộc bốn màu sắc: một cầu thang bằng vàng, một cầu thang bằng bạc, một cầu thang bằng ngọc lưu ly, và một cầu thang bằng pha lê. Cầu thang bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng bạc. Cầu thang bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng vàng. Cầu thang bằng ngọc lưu ly có các cột trụ bằng ngọc lưu ly, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng pha lê. Cầu thang bằng pha lê có các cột trụ bằng pha lê, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng ngọc lưu ly.”
Dhamme, ānanda, pāsāde caturāsītikūṭāgārasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—ekaṁ kūṭāgāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ. Sovaṇṇamaye kūṭāgāre rūpiyamayo pallaṅko paññatto ahosi, rūpiyamaye kūṭāgāre sovaṇṇamayo pallaṅko paññatto ahosi, veḷuriyamaye kūṭāgāre dantamayo pallaṅko paññatto ahosi, phalikamaye kūṭāgāre sāramayo pallaṅko paññatto ahosi. Sovaṇṇamayassa kūṭāgārassa dvāre rūpiyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa rūpiyamayo khandho sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca. Rūpiyamayassa kūṭāgārassa dvāre sovaṇṇamayo tālo ṭhito ahosi, tassa sovaṇṇamayo khandho, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca. Veḷuriyamayassa kūṭāgārassa dvāre phalikamayo tālo ṭhito ahosi, tassa phalikamayo khandho, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca. Phalikamayassa kūṭāgārassa dvāre veḷuriyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa veḷuriyamayo khandho, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
It had 84,000 chambers of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal. In each chamber a couch was spread: in the golden chamber a couch of silver; in the silver chamber a couch of gold; in the beryl chamber a couch of ivory; in the crystal chamber a couch of hardwood. At the door of the golden chamber stood a palm tree of silver, with trunk of silver, and leaves and fruits of gold. At the door of the silver chamber stood a palm tree of gold, with trunk of gold, and leaves and fruits of silver. At the door of the beryl chamber stood a palm tree of crystal, with trunk of crystal, and leaves and fruits of beryl. At the door of the crystal chamber stood a palm tree of beryl, with trunk of beryl, and leaves and fruits of crystal.
“Này Ānanda, trong cung điện Dhamma có tám mươi bốn ngàn gian phòng có đỉnh nhọn thuộc bốn màu sắc: một gian phòng bằng vàng, một gian bằng bạc, một gian bằng ngọc lưu ly, và một gian bằng pha lê. Trong gian phòng bằng vàng, một chiếc giường bằng bạc được kê sẵn. Trong gian phòng bằng bạc, một chiếc giường bằng vàng được kê sẵn. Trong gian phòng bằng ngọc lưu ly, một chiếc giường bằng ngà voi được kê sẵn. Trong gian phòng bằng pha lê, một chiếc giường bằng gỗ lõi được kê sẵn. Ở cửa của gian phòng bằng vàng có một cây cọ bằng bạc; thân cây bằng bạc, còn lá và quả thì bằng vàng. Ở cửa của gian phòng bằng bạc có một cây cọ bằng vàng; thân cây bằng vàng, còn lá và quả thì bằng bạc. Ở cửa của gian phòng bằng ngọc lưu ly có một cây cọ bằng pha lê; thân cây bằng pha lê, còn lá và quả thì bằng ngọc lưu ly. Ở cửa của gian phòng bằng pha lê có một cây cọ bằng ngọc lưu ly; thân cây bằng ngọc lưu ly, còn lá và quả thì bằng pha lê.”
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ māpeyyaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdissāmī’ti. Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdi.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi vedikāhi parikkhitto ahosi, ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā. Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi kiṅkiṇikajālehi parikkhitto ahosi—
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I build a grove of golden palm trees at the door to the Chamber of the Grand Tower, where I can sit for the day?’ So that’s what he did.
The Palace of Principle was surrounded by two balustrades, made of gold and silver. The golden balustrades had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver balustrades had posts of silver, and banisters and finials of gold.
The Palace of Principle was surrounded by two nets of bells,
257. “Rồi này Ānanda, đức vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ: ‘Ta nên hóa hiện một rừng cọ toàn bằng vàng ở cửa gian phòng Đại Trùng Các, nơi ta sẽ an tọa vào ban ngày.’ Và này Ānanda, đức vua Mahāsudassana đã hóa hiện một rừng cọ toàn bằng vàng ở cửa gian phòng Đại Trùng Các, nơi ngài an tọa vào ban ngày. Này Ānanda, cung điện Dhamma được bao quanh bởi hai hàng rào, một hàng rào bằng vàng và một hàng rào bằng bạc. Hàng rào bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng bạc. Hàng rào bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và thanh đỉnh thì bằng vàng.”
258. “Này Ānanda, cung điện Dhamma được bao quanh bởi hai mạng lưới chuông nhỏ, một mạng lưới bằng vàng và một mạng lưới bằng bạc. Mạng lưới bằng vàng có các chuông nhỏ bằng bạc, và mạng lưới bằng bạc có các chuông nhỏ bằng vàng. Này Ānanda, khi những mạng lưới chuông nhỏ ấy được gió lay động, âm thanh phát ra nghe du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm. Ví như, này Ānanda, âm thanh của dàn nhạc ngũ âm được điều chỉnh tốt, được hòa tấu nhịp nhàng bởi các nhạc công tài ba, nghe du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm; cũng vậy, này Ānanda, khi những mạng lưới chuông nhỏ ấy được gió lay động, âm thanh phát ra nghe du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm. Này Ānanda, vào thời ấy, những kẻ phóng đãng, nghiện rượu, và ham mê cờ bạc ở kinh đô Kusāvatī đều vui chơi theo âm thanh của những mạng lưới chuông nhỏ ấy khi được gió lay động. Này Ānanda, khi cung điện Dhamma được hoàn tất, nó thật khó nhìn, làm chói cả mắt. Ví như, này Ānanda, vào tháng cuối của mùa mưa, vào mùa thu, khi bầu trời trong sáng không một gợn mây, mặt trời mọc lên trên không trung thật khó nhìn, làm chói cả mắt; cũng vậy, này Ānanda, cung điện Dhamma thật khó nhìn, làm chói cả mắt.”
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ māpeyyan’ti. Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ. Dhammā, ānanda, pokkharaṇī puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi, uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena. Dhammā, ānanda, pokkharaṇī catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahosi—ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Why don’t I build a lotus pond named Principle in front of the palace?’ So that’s what he did. The Lotus Pond of Principle stretched for a league from east to west, and half a league from north to south. It was lined with tiles of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal.
259. “Này Ānanda, bấy giờ vua Mahāsudassana khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Ta nên cho làm một hồ sen tên là Dhamma ở phía trước cung điện Dhamma.’ Này Ānanda, rồi vua Mahāsudassana đã cho làm một hồ sen tên là Dhamma ở phía trước cung điện Dhamma. Này Ānanda, hồ sen Dhamma có chiều dài một do-tuần theo hướng đông và tây, và có chiều rộng nửa do-tuần theo hướng bắc và nam. Này Ānanda, hồ sen Dhamma được xây bằng gạch có bốn màu: một loại gạch bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng ngọc lưu ly, và một loại bằng pha lê.
Dhammāya, ānanda, pokkharaṇiyā catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ. Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
It had twenty-four staircases of four colors, made of gold, silver, beryl, and crystal. The golden stairs had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver stairs had posts of silver, and banisters and finials of gold. The beryl stairs had posts of beryl, and banisters and finials of crystal. The crystal stairs had posts of crystal, and banisters and finials of beryl.
“Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai mươi bốn cầu thang với bốn màu sắc: một cầu thang bằng vàng, một bằng bạc, một bằng ngọc lưu ly, và một bằng pha lê. Cầu thang bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và lan can thì bằng bạc. Cầu thang bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và lan can thì bằng vàng. Cầu thang bằng ngọc lưu ly có các cột trụ bằng ngọc lưu ly, còn các thanh ngang và lan can thì bằng pha lê. Cầu thang bằng pha lê có các cột trụ bằng pha lê, còn các thanh ngang và lan can thì bằng ngọc lưu ly.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī dvīhi vedikāhi parikkhittā ahosi—ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā. Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca. Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
It was surrounded by two balustrades, made of gold and silver. The golden balustrades had posts of gold, and banisters and finials of silver. The silver balustrades had posts of silver, and banisters and finials of gold.
“Này Ānanda, hồ sen Dhamma được bao quanh bởi hai hàng rào: một hàng rào bằng vàng, và một hàng rào bằng bạc. Hàng rào bằng vàng có các cột trụ bằng vàng, còn các thanh ngang và lan can thì bằng bạc. Hàng rào bằng bạc có các cột trụ bằng bạc, còn các thanh ngang và lan can thì bằng vàng.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi—ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā. Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca. Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca. Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi phalikamayāni pattāni ca phalāni ca. Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca. Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca. Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca. Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca. Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi, vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca. Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca; evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca. Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
It was surrounded by seven rows of palm trees, made of gold, silver, beryl, crystal, ruby, emerald, and all precious things. The golden palms had trunks of gold, and leaves and fruits of silver. The silver palms had trunks of silver, and leaves and fruits of gold. The beryl palms had trunks of beryl, and leaves and fruits of crystal. The crystal palms had trunks of crystal, and leaves and fruits of beryl. The ruby palms had trunks of ruby, and leaves and fruits of emerald. The emerald palms had trunks of emerald, and leaves and fruits of ruby. The palms of all precious things had trunks of all precious things, and leaves and fruits of all precious things. When those rows of palm trees were blown by the wind they sounded graceful, tantalizing, sensuous, lovely, and intoxicating, like a quintet made up of skilled musicians who had practiced well and kept excellent rhythm. And any addicts, carousers, or drunkards in Kusāvatī at that time were entertained by that sound.
“Này Ānanda, hồ sen Dhamma được bao quanh bởi bảy hàng cây thốt nốt: một hàng cây thốt nốt bằng vàng, một bằng bạc, một bằng ngọc lưu ly, một bằng pha lê, một bằng hồng ngọc, một bằng đá masāragalla, và một bằng tất cả các loại bảo vật. Cây thốt nốt bằng vàng có thân cây bằng vàng, còn lá và quả thì bằng bạc. Cây thốt nốt bằng bạc có thân cây bằng bạc, còn lá và quả thì bằng vàng. Cây thốt nốt bằng ngọc lưu ly có thân cây bằng ngọc lưu ly, còn lá và quả thì bằng pha lê. Cây thốt nốt bằng pha lê có thân cây bằng pha lê, còn lá và quả thì bằng ngọc lưu ly. Cây thốt nốt bằng hồng ngọc có thân cây bằng hồng ngọc, còn lá và quả thì bằng đá masāragalla. Cây thốt nốt bằng đá masāragalla có thân cây bằng đá masāragalla, còn lá và quả thì bằng hồng ngọc. Cây thốt nốt bằng tất cả các loại bảo vật có thân cây, lá, và quả đều bằng tất cả các loại bảo vật. Này Ānanda, khi những hàng cây thốt nốt ấy được gió thổi lay động, âm thanh phát ra nghe thật du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm lòng người. Này Ānanda, ví như âm thanh của dàn nhạc ngũ âm được hòa âm kỹ lưỡng, được trình diễn nhịp nhàng bởi những nhạc công tài giỏi, nghe thật du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm lòng người; này Ānanda, cũng giống như thế, khi những hàng cây thốt nốt ấy được gió thổi lay động, âm thanh phát ra nghe thật du dương, quyến rũ, dễ chịu, và say đắm lòng người. Này Ānanda, vào thời bấy giờ, những kẻ nghiện cờ bạc, nghiện rượu, và nghiện sắc dục ở kinh đô Kusāvatī đã vui chơi giải trí bằng âm thanh của những hàng cây thốt nốt ấy khi được gió thổi lay động.
Niṭṭhite kho panānanda, dhamme pāsāde niṭṭhitāya dhammāya ca pokkharaṇiyā rājā mahāsudassano ‘ye tena samayena samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā’, te sabbakāmehi santappetvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhi.
When the palace and its lotus pond were finished, King Mahāsudassana served those who were deemed true ascetics and brahmins with all they desired. Then he ascended the Palace of Principle.
“Này Ānanda, sau khi cung điện Dhamma và hồ sen Dhamma đã được hoàn tất, vua Mahāsudassana đã làm cho những vị được xem là sa-môn trong giới sa-môn hoặc được xem là bà-la-môn trong giới bà-la-môn vào thời bấy giờ được thỏa mãn với tất cả các dục lạc, rồi ngài đã đi lên cung điện Dhamma.
Paṭhamabhāṇavāro.
The first recitation section.
Phần tụng đọc thứ nhất.
Sự thành tựu thiền định
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘kissa nu kho me idaṁ kammassa phalaṁ kissa kammassa vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo’ti?
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘tiṇṇaṁ kho me idaṁ kammānaṁ phalaṁ tiṇṇaṁ kammānaṁ vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, seyyathidaṁ—dānassa damassa saṁyamassā’ti.
Then King Mahāsudassana thought, ‘Of what deed of mine is this the fruit and result, that I am now so mighty and powerful?’
Then King Mahāsudassana thought, ‘It is the fruit and result of three kinds of deeds: giving, self-control, and restraint.’
260. “Này Ānanda, bấy giờ vua Mahāsudassana khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Quả này là của nghiệp nào, kết quả này là của nghiệp nào, mà nhờ đó giờ đây ta có được đại thần lực và đại oai lực như thế này?’ Này Ānanda, rồi vua Mahāsudassana khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Quả này là của ba nghiệp, kết quả này là của ba nghiệp, mà nhờ đó giờ đây ta có được đại thần lực và đại oai lực như thế này, đó là: bố thí, tự điều phục, và sự thu thúc.’”
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre ṭhito udānaṁ udānesi: ‘tiṭṭha, kāmavitakka, tiṭṭha, byāpādavitakka, tiṭṭha, vihiṁsāvitakka. Ettāvatā, kāmavitakka, ettāvatā, byāpādavitakka, ettāvatā, vihiṁsāvitakkā’ti.
Then he went to the Chamber of the Grand Tower, stood at the door, and expressed this heartfelt sentiment: ‘Stop here, sensual, malicious, and cruel thoughts—no further!’
“Này Ānanda, bấy giờ vua Mahāsudassana đi đến lầu gác Mahāviyūha; sau khi đến, ngài đứng ở cửa của lầu gác Mahāviyūha và thốt lên lời cảm hứng: ‘Hãy dừng lại, này tầm về dục! Hãy dừng lại, này tầm về sân! Hãy dừng lại, này tầm về hại! Này tầm về dục, chỉ đến đây thôi! Này tầm về sân, chỉ đến đây thôi! Này tầm về hại, chỉ đến đây thôi!’”
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā sovaṇṇamaye pallaṅke nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsi, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedesi, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Then he entered the Chamber of the Grand Tower and sat on the golden couch. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected were stilled, he entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, he entered and remained in the third absorption, where he meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ With the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, he entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
261. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana đi vào lầu các Mahāviyūha, ngồi trên một chiếc ngai vàng, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú,’ chứng và trú thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamitvā sovaṇṇamayaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā rūpiyamaye pallaṅke nisinno mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi. Karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi.
Then King Mahāsudassana left the Chamber of the Grand Tower and entered the golden chamber, where he sat on the golden couch. He meditated spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way he spread a heart full of love above, below, across, everywhere, all around, to everyone in the world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. He meditated spreading a heart full of compassion … He meditated spreading a heart full of rejoicing … He meditated spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
262. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana đi ra khỏi lầu các Mahāviyūha, đi vào một lầu các bằng vàng, ngồi trên một chiếc ngai bằng bạc, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, ngài biến mãn khắp thế gian trên, dưới, ngang, cùng khắp, vô biên, quảng đại, không hận, không sân, với tâm câu hữu với từ, rồi an trú. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, ngài biến mãn một phương rồi an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, ngài biến mãn khắp thế gian trên, dưới, ngang, cùng khắp, vô biên, quảng đại, không hận, không sân, với tâm câu hữu với xả, rồi an trú.
Tám mươi bốn ngàn thành phố, v.v.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti nagarasahassāni ahesuṁ kusāvatīrājadhānippamukhāni; caturāsīti pāsādasahassāni ahesuṁ dhammapāsādappamukhāni; caturāsīti kūṭāgārasahassāni ahesuṁ mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni; caturāsīti pallaṅkasahassāni ahesuṁ sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni; caturāsīti nāgasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni; caturāsīti assasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni; caturāsīti rathasahassāni ahesuṁ sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni; caturāsīti maṇisahassāni ahesuṁ maṇiratanappamukhāni; caturāsīti itthisahassāni ahesuṁ subhaddādevippamukhāni; caturāsīti gahapatisahassāni ahesuṁ gahapatiratanappamukhāni; caturāsīti khattiyasahassāni ahesuṁ anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni; caturāsīti dhenusahassāni ahesuṁ duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni; caturāsīti vatthakoṭisahassāni ahesuṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ; rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti thālipākasahassāni ahesuṁ sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
King Mahāsudassana had 84,000 cities, with the royal capital of Kusāvatī the foremost. He had 84,000 palaces, with the Palace of Principle the foremost. He had 84,000 chambers, with the Chamber of the Grand Tower the foremost. He had 84,000 couches made of gold, silver, ivory, and hardwood. They were spread with woollen covers—shag-piled, pure white, or embroidered with flowers—and spread with a fine deer hide, with a canopy above and red pillows at both ends. He had 84,000 bull elephants with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal bull elephant named Sabbath foremost. He had 84,000 horses with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the royal steed named Thundercloud foremost. He had 84,000 chariots upholstered with the hide of lions, tigers, and leopards, and cream rugs, with gold adornments and banners, covered with snow gold netting, with the chariot named Triumph foremost. He had 84,000 jewels, with the jewel-treasure foremost. He had 84,000 women, with Queen Subhaddā foremost. He had 84,000 householders, with the householder-treasure foremost. He had 84,000 aristocrat vassals, with the commander-treasure foremost. He had 84,000 milk-cows with silken halter and bronze pails. He had 8,400,000,000 cloths of delicate linen, cotton, silk, and wool. He had 84,000 servings of food, which were presented to him as offerings at daybreak and dusk.
263. Này Ānanda, vua Mahāsudassana có tám mươi bốn ngàn thành phố, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī; tám mươi bốn ngàn cung điện, đứng đầu là cung điện Dhamma; tám mươi bốn ngàn lầu các, đứng đầu là lầu các Mahāviyūha; tám mươi bốn ngàn chiếc ngai bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ lõi, trải thảm lông dài, trải nệm len trắng, trải thảm len thêu hoa, trải thảm da sơn dương quý, có lọng che phía trên, và có gối màu đỏ ở hai đầu; tám mươi bốn ngàn con voi, trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha; tám mươi bốn ngàn con ngựa, trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka; tám mươi bốn ngàn cỗ xe, bọc da sư tử, da cọp, da báo, bọc vải len màu vàng nhạt, trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta; tám mươi bốn ngàn viên ngọc, đứng đầu là ngọc báu maṇi; tám mươi bốn ngàn phụ nữ, đứng đầu là hoàng hậu Subhaddā; tám mươi bốn ngàn gia chủ, đứng đầu là gia chủ báu; tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ chư hầu, đứng đầu là tướng quân báu; tám mươi bốn ngàn con bò sữa, vắt sữa vào các thùng bằng đồng; tám mươi bốn ngàn ức bộ y phục, bằng vải lanh mịn, vải bông mịn, vải lụa mịn, và vải len mịn; (Này Ānanda, đối với vua Mahāsudassana,) mỗi buổi sáng và buổi chiều, tám mươi bốn ngàn nồi cơm được dọn lên.
Tena kho panānanda, samayena rañño mahāsudassanassa caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti. Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi: ‘imāni kho me caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, yannūna vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgaccheyyun’ti. Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano pariṇāyakaratanaṁ āmantesi: ‘imāni kho me, samma pariṇāyakaratana, caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, tena hi, samma pariṇāyakaratana, vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgacchantū’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ rañño mahāsudassanassa paccassosi. Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa aparena samayena vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgamaṁsu.
Now at that time his 84,000 royal elephants came to attend on him at daybreak and dusk. Then King Mahāsudassana thought, ‘What if instead half of the elephants took turns to attend on me at the end of each century?’ He instructed the commander-treasure to do this, and so it was done.
264. Này Ānanda, vào lúc bấy giờ, tám mươi bốn ngàn con voi của vua Mahāsudassana đến hầu hạ vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Khi ấy, này Ānanda, vua Mahāsudassana khởi lên ý nghĩ: ‘Tám mươi bốn ngàn con voi này đến hầu hạ ta vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Sẽ tốt biết bao nếu sau mỗi một trăm năm, bốn mươi hai ngàn con voi đến hầu hạ một lần!’ Rồi, này Ānanda, vua Mahāsudassana cho gọi vị tướng quân báu và nói: ‘Này khanh, vị tướng quân báu, tám mươi bốn ngàn con voi này đến hầu hạ ta vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Vậy thì, này khanh, vị tướng quân báu, từ nay về sau, cứ sau mỗi một trăm năm, hãy để bốn mươi hai ngàn con voi đến hầu hạ một lần.’ ‘Thưa vâng, tâu Đại vương,’ này Ānanda, vị tướng quân báu đã vâng lệnh vua Mahāsudassana. Và rồi, này Ānanda, về sau, cứ sau mỗi một trăm năm, bốn mươi hai ngàn con voi lại đến hầu hạ vua Mahāsudassana một lần.
Hoàng hậu Subhaddā đến yết kiến
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena etadahosi: ‘ciraṁ diṭṭho kho me rājā mahāsudassano. Yannūnāhaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkameyyan’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī itthāgāraṁ āmantesi: ‘etha tumhe sīsāni nhāyatha pītāni vatthāni pārupatha. Ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, ayye’ti kho, ānanda, itthāgāraṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā sīsāni nhāyitvā pītāni vatthāni pārupitvā yena subhaddā devī tenupasaṅkami.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī pariṇāyakaratanaṁ āmantesi: ‘kappehi, samma pariṇāyakaratana, caturaṅginiṁ senaṁ, ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, devī’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā caturaṅginiṁ senaṁ kappāpetvā subhaddāya deviyā paṭivedesi: ‘kappitā kho, devi, caturaṅginī senā, yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī caturaṅginiyā senāya saddhiṁ itthāgārena yena dhammo pāsādo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhitvā yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvārabāhaṁ ālambitvā aṭṭhāsi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano saddaṁ sutvā: ‘kiṁ nu kho mahato viya janakāyassa saddo’ti mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamanto addasa subhaddaṁ deviṁ dvārabāhaṁ ālambitvā ṭhitaṁ, disvāna subhaddaṁ deviṁ etadavoca: ‘ettheva, devi, tiṭṭha mā pāvisī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano aññataraṁ purisaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, so puriso rañño mahāsudassanassa paṭissutvā mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapesi. Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, Queen Subhaddā thought, ‘It is long since I have seen the king. Why don’t I go to see him?’
So the queen addressed the ladies of the harem, ‘Come, bathe your heads and dress in yellow. It is long since we saw the king, and we shall go to see him.’
‘Yes, ma’am,’ replied the ladies of the harem. They did as she asked and returned to the queen.
Then the queen addressed the commander-treasure, ‘Dear commander-treasure, please ready the army of four divisions. It is long since we saw the king, and we shall go to see him.’
‘Yes, my queen,’ he replied, and did as he was asked. He informed the queen, ‘My queen, the army of four divisions is ready, please go at your convenience.’
Then Queen Subhaddā together with the ladies of the harem went with the army to the Palace of Principle. She ascended the palace and went to the Chamber of the Grand Tower, where she stood leaning against a door-post.
Hearing them, the king thought, ‘What’s that, it sounds like a big crowd!’ Coming out of the chamber he saw Queen Subhaddā leaning against a door-post and said to her, ‘Please stay there, my queen, don’t enter in here.’
Then he addressed a certain man, ‘Come, my man, bring the golden couch from the Chamber of the Grand Tower and set it up in the golden palm grove.’
‘Yes, Your Majesty,’ that man replied, and did as he was asked. The king laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.
265. Này Ānanda, khi ấy, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, hoàng hậu Subhaddā khởi lên ý nghĩ này: ‘Đã lâu rồi ta không được thấy vua Mahāsudassana. Hay là ta nên đến yết kiến vua Mahāsudassana.’ Này Ānanda, khi ấy, hoàng hậu Subhaddā cho gọi các cung nữ và bảo rằng: ‘Này các chị, hãy đến đây, hãy gội đầu, hãy mặc y phục màu vàng. Đã lâu rồi chúng ta không được thấy vua Mahāsudassana, chúng ta sẽ đến yết kiến vua Mahāsudassana.’ Này Ānanda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddā rằng: ‘Vâng, thưa lệnh bà,’ rồi gội đầu, mặc y phục màu vàng, và đi đến chỗ hoàng hậu Subhaddā. Này Ānanda, khi ấy, hoàng hậu Subhaddā cho gọi vị tướng quân báu và bảo rằng: ‘Này khanh tướng quân báu, hãy chuẩn bị bốn binh chủng. Đã lâu rồi chúng ta không được thấy vua Mahāsudassana, chúng ta sẽ đến yết kiến vua Mahāsudassana.’ Này Ānanda, vị tướng quân báu vâng lời hoàng hậu Subhaddā rằng: ‘Vâng, thưa hoàng hậu,’ rồi cho chuẩn bị bốn binh chủng và trình báo lại với hoàng hậu Subhaddā: ‘Thưa hoàng hậu, bốn binh chủng đã được chuẩn bị xong. Bây giờ, ngài thấy thời điểm nào thích hợp thì xin cứ định liệu.’ Này Ānanda, khi ấy, hoàng hậu Subhaddā cùng với bốn binh chủng và các cung nữ đi đến cung điện Dhamma; sau khi đến nơi, bà đi lên cung điện Dhamma rồi đi đến lầu gác Mahāviyūha. Sau khi đến nơi, bà đứng vịn vào thành cửa của lầu gác Mahāviyūha. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana nghe có tiếng động, liền nghĩ: ‘Tiếng động gì mà giống như của một đám đông người thế nhỉ?’ rồi đi ra khỏi lầu gác Mahāviyūha và thấy hoàng hậu Subhaddā đang đứng vịn vào thành cửa. Sau khi thấy vậy, ngài bảo hoàng hậu Subhaddā rằng: ‘Này hoàng hậu, hãy đứng yên tại đây, chớ đi vào.’ Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana cho gọi một người đàn ông và bảo rằng: ‘Này khanh, hãy đến đây. Khanh hãy mang chiếc ngai vàng từ lầu gác Mahāviyūha ra và đặt trong khu rừng toàn cây thốt nốt bằng vàng.’ Này Ānanda, người ấy vâng lời vua Mahāsudassana rằng: ‘Vâng, tâu đức vua,’ rồi mang chiếc ngai vàng từ lầu gác Mahāviyūha ra và đặt trong khu rừng toàn cây thốt nốt bằng vàng. Này Ānanda, khi ấy, vua Mahāsudassana nằm xuống theo thế nằm của sư tử, nghiêng về hông bên phải, chân này gác lên chân kia một chút, chánh niệm và tỉnh giác.
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā etadahosi: ‘vippasannāni kho rañño mahāsudassanassa indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto, mā heva kho rājā mahāsudassano kālamakāsī’ti rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
Then Queen Subhaddā thought, ‘The king’s faculties are so very clear, and the complexion of his skin is pure and bright. Let him not pass away!’ She said to him,
266. Này Ānanda, khi ấy, hoàng hậu Subhaddā khởi lên ý nghĩ này: ‘Các căn của vua Mahāsudassana thật là trong sáng, màu da thật là thanh tịnh, thật là trong sạch. Mong rằng vua Mahāsudassana chớ có mệnh chung!’ rồi bạch với vua Mahāsudassana những lời này:
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni itthiratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ. Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi. Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati. Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohī’ti.
And she likewise urged the king to live on by taking an interest in all his possessions as described above.
“Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn thành phố của ngài, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn cung điện của ngài, đứng đầu là cung điện Dhamma. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn ngôi lầu các của ngài, đứng đầu là lầu các Mahāviyūha. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn chiếc ngai vàng của ngài, làm bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ lõi, được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len có hoa văn, được trải bằng tấm da sơn dương hảo hạng, có lọng che phía trên, có gối màu đỏ ở hai đầu. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn con voi của ngài, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn con ngựa của ngài, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn cỗ xe của ngài, được che bằng da sư tử, da cọp, da báo, bằng những tấm mền màu vàng nhạt, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, được phủ bằng lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn viên ngọc của ngài, đứng đầu là ngọc báu. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn người nữ của ngài, đứng đầu là nữ báu. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn vị gia chủ của ngài, đứng đầu là gia chủ báu. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ của ngài, là những người tùy tùng, đứng đầu là tướng quân báu. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn con bò cái của ngài, sữa tự chảy, được hứng bằng những chiếc bình bằng đồng. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn cô-ti bộ y phục của ngài, bằng vải lanh mịn, vải bông mịn, vải lụa mịn, vải len mịn. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống. Tâu Thiên tử, đây là tám mươi bốn ngàn phần cơm được dâng lên cho ngài vào buổi sáng và buổi chiều. Tâu Thiên tử, ở đây, xin ngài hãy khởi lên lòng ham muốn, hãy luyến tiếc mạng sống.”
Evaṁ vutte, ānanda, rājā mahāsudassano subhaddaṁ deviṁ etadavoca:
When the queen had spoken, the king said to her,
267. “Này Ānanda, khi được nói như vậy, đức vua Mahāsudassana đã nói lời này với hoàng hậu Subhaddā:
‘Kathaṁ carahi taṁ, deva, samudācarāmī’ti?
‘Evaṁ kho maṁ tvaṁ, devi, samudācara: “sabbeheva, deva, piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo, mā kho tvaṁ, deva, sāpekkho kālamakāsi, dukkhā sāpekkhassa kālaṅkiriyā, garahitā ca sāpekkhassa kālaṅkiriyā. Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi. Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati. Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsī”’ti.
‘So how then, Your Majesty, am I to speak to you?’
‘Like this, my queen: “Your Majesty, we must be parted and separated from all we hold dear and beloved. Don’t pass away with concerns. Such concern is suffering, and it’s criticized. Your Majesty, you have 84,000 cities, with the royal capital of Kusāvatī foremost. Give up desire for these! Take no interest in life!”’ And so on for all the king’s possessions.
‘Này hoàng hậu, trong một thời gian dài, khanh đã đối xử với trẫm bằng những lời khả ái, khả hỷ, đáng yêu, và đẹp lòng. Nhưng nay, vào lúc cuối đời, khanh lại đối xử với trẫm bằng những lời không khả ái, không khả hỷ, không đáng yêu, và không đẹp lòng.’ ‘Vậy thì, tâu đại vương, thiếp phải đối xử với ngài như thế nào?’ ‘Này hoàng hậu, khanh hãy đối xử với trẫm như thế này: “Tâu đại vương, đối với tất cả những gì thân yêu và đẹp lòng, đều có sự chia ly, sự biệt ly, sự đổi khác. Tâu đại vương, xin ngài đừng mệnh chung trong khi còn luyến ái. Cái chết của người còn luyến ái là đau khổ, và cái chết của người còn luyến ái là đáng chê trách. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn thành phố của ngài, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn cung điện của ngài, đứng đầu là cung điện Dhamma. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn lầu gác của ngài, đứng đầu là lầu gác Mahāviyūha. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn chiếc ngai của ngài, làm bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ lõi; được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, thảm da sơn dương hảo hạng, có lọng che phía trên và có gối đỏ ở hai đầu. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con voi của ngài, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con ngựa của ngài, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn cỗ xe của ngài, được bọc da sư tử, da cọp, da báo, da dạ len màu vàng nhạt, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là xe Vejayanta. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn viên ngọc của ngài, đứng đầu là ngọc báu. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn người nữ của ngài, đứng đầu là hoàng hậu Subhaddā. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn gia chủ của ngài, đứng đầu là gia chủ báu. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ tùy tùng của ngài, đứng đầu là tướng quân báu. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con bò sữa của ngài, sữa tự chảy ra và được hứng bằng những chiếc vại bằng đồng. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn vạn bộ y phục của ngài, gồm vải lanh mịn, vải bông mịn, vải lụa mịn, và vải len mịn. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn nồi cơm, từ đó các bữa ăn được dâng lên cho ngài vào buổi sáng và buổi chiều. Tâu đại vương, xin ngài hãy từ bỏ tham muốn đối với chúng, đừng luyến tiếc mạng sống.”’”
Evaṁ vutte, ānanda, subhaddā devī parodi assūni pavattesi. Atha kho, ānanda, subhaddā devī assūni puñchitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
When the king had spoken, Queen Subhaddā cried and burst out in tears. Wiping away her tears, the queen said to the king:
268. Này Ānanda, khi được nói như vậy, hoàng hậu Subhaddā đã khóc than, nước mắt tuôn rơi. Rồi, này Ānanda, hoàng hậu Subhaddā lau nước mắt và bạch với vua Mahāsudassana như sau:
‘Tâu Đại vương, đối với tất cả những gì thân ái, khả ý, đều có sự khác biệt, sự chia lìa, sự đổi khác. Tâu Đại vương, xin Ngài đừng mệnh chung trong khi còn luyến ái. Sự mệnh chung trong khi còn luyến ái là khổ đau, sự mệnh chung trong khi còn luyến ái là đáng chê trách. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn thành phố của Ngài, đứng đầu là kinh thành Kusāvatī. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn cung điện của Ngài, đứng đầu là cung điện Dhamma. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn lầu các của Ngài, đứng đầu là lầu các Mahāviyūha. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn long sàng của Ngài, làm bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ lõi; được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, trải tấm da sơn dương quý báu, có lọng che phía trên, có gối đỏ ở hai đầu. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con voi của Ngài, được trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con ngựa của Ngài, được trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn cỗ xe của Ngài, được che bằng da sư tử, da cọp, da báo, vải len màu vàng nhạt, được trang sức bằng vàng, cờ vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn viên ngọc của Ngài, đứng đầu là ngọc báu. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn phụ nữ của Ngài, đứng đầu là nữ báu. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn gia chủ của Ngài, đứng đầu là gia chủ báu. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ tùy tùng của Ngài, đứng đầu là mưu sĩ báu. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn con bò sữa của Ngài, sữa chảy đều, được hứng bằng bát đồng. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn triệu bộ y phục của Ngài, bằng vải lanh mịn, vải bông mịn, vải lụa mịn, vải len mịn. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống. Tâu Đại vương, đây là tám mươi bốn ngàn nồi cơm của Ngài, được dâng lên vào buổi sáng và buổi chiều. Tâu Đại vương, ở đây, xin Ngài hãy từ bỏ tham ái, đừng luyến tiếc mạng sống.’
Sanh về cõi Phạm Thiên
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano na cirasseva kālamakāsi. Seyyathāpi, ānanda, gahapatissa vā gahapatiputtassa vā manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāvissa bhattasammado hoti; evameva kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa māraṇantikā vedanā ahosi.
Kālaṅkato ca, ānanda, rājā mahāsudassano sugatiṁ brahmalokaṁ upapajji. Rājā, ānanda, mahāsudassano caturāsīti vassasahassāni kumārakīḷaṁ kīḷi. Caturāsīti vassasahassāni oparajjaṁ kāresi. Caturāsīti vassasahassāni rajjaṁ kāresi. Caturāsīti vassasahassāni gihibhūto dhamme pāsāde brahmacariyaṁ cari. So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Not long after that, King Mahāsudassana passed away. And the feeling he had close to death was like a householder or their child falling asleep after eating a satisfying meal.
When he passed away King Mahāsudassana was reborn in a good place, a realm of divinity. Ānanda, King Mahāsudassana played children’s games for 84,000 years. He ruled as viceroy for 84,000 years. He ruled as king for 84,000 years. He led the spiritual life as a layman in the Palace of Principle for 84,000 years. And having developed the four divine meditations, when his body broke up, after death, he was reborn in a good place, a realm of divinity.
269. “Này Ānanda, sau đó không bao lâu, vua Mahāsudassana băng hà. Này Ānanda, ví như một gia chủ hay con của một gia chủ, sau khi dùng một bữa ăn ngon, có cảm giác no say vì cơm; cũng vậy, này Ānanda, cảm thọ lúc lâm chung của vua Mahāsudassana cũng chỉ như thế. Này Ānanda, sau khi băng hà, vua Mahāsudassana đã sanh vào thiện thú, cõi Phạm thiên. Này Ānanda, vua Mahāsudassana đã vui chơi trò trẻ con trong tám mươi bốn ngàn năm. Đã làm phó vương trong tám mươi bốn ngàn năm. Đã trị vì trong tám mươi bốn ngàn năm. Là một người tại gia, ngài đã thực hành phạm hạnh trong cung điện Dhamma trong tám mươi bốn ngàn năm. Vị ấy, sau khi tu tập bốn Phạm trú, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh về cõi Phạm thiên.”
Siyā kho panānanda, evamassa: ‘añño nūna tena samayena rājā mahāsudassano ahosī’ti, na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena rājā mahāsudassano ahosiṁ.
Mama tāni caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni, mama tāni caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni, mama tāni caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni, mama tāni caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni, mama tāni caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni, mama tāni caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni, mama tāni caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni, mama tāni caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ, mama tāni caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Now, Ānanda, you might think: ‘Surely King Mahāsudassana must have been someone else at that time?’ But you should not see it like that. I myself was King Mahāsudassana at that time.
Mine were the 84,000 cities, with the royal capital of Kusāvatī foremost. And mine were all the other possessions.
270. Này Ānanda, có thể ông sẽ nghĩ rằng: ‘Vào thời ấy, chắc hẳn vua Mahāsudassana là một người khác.’ Nhưng này Ānanda, không nên thấy như vậy. Chính Ta vào thời ấy là vua Mahāsudassana. Tám mươi bốn ngàn thành phố của Ta, đứng đầu là kinh đô Kusāvatī; tám mươi bốn ngàn cung điện của Ta, đứng đầu là cung điện Dhamma; tám mươi bốn ngàn lầu các của Ta, đứng đầu là lầu các Mahāviyūha; tám mươi bốn ngàn giường nằm của Ta, làm bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ lõi cây, được trải bằng thảm len lông dài, thảm len trắng, thảm len thêu hoa, thảm da sơn dương hảo hạng, có lọng che phía trên và có gối màu đỏ ở hai đầu; tám mươi bốn ngàn con voi của Ta, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là voi chúa Uposatha; tám mươi bốn ngàn con ngựa của Ta, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là ngựa chúa Valāhaka; tám mươi bốn ngàn cỗ xe của Ta, được che bằng da sư tử, da cọp, da báo, da vải len màu vàng nhạt, được trang sức bằng vàng, cờ hiệu bằng vàng, phủ lưới vàng, đứng đầu là cỗ xe Vejayanta; tám mươi bốn ngàn viên ngọc của Ta, đứng đầu là ngọc báu maṇi; tám mươi bốn ngàn người nữ của Ta, đứng đầu là hoàng hậu Subhaddā; tám mươi bốn ngàn gia chủ của Ta, đứng đầu là gia chủ báu; tám mươi bốn ngàn vị Sát-đế-lỵ của Ta, là những người tùy tùng, đứng đầu là tướng quân báu; tám mươi bốn ngàn con bò cái của Ta, vắt sữa dễ dàng, được hứng bằng bình bằng đồng; tám mươi bốn ngàn koti bộ y phục của Ta, bằng vải lanh mịn, vải bông mịn, vải lụa mịn, vải len mịn; tám mươi bốn ngàn nồi cơm của Ta, được dâng lên vào buổi sáng và buổi chiều.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsītinagarasahassānaṁ ekaññeva taṁ nagaraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ kusāvatī rājadhānī. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pāsādasahassānaṁ ekoyeva so pāsādo hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ dhammo pāsādo. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti kūṭāgārasahassānaṁ ekaññeva taṁ kūṭāgāraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pallaṅkasahassānaṁ ekoyeva so pallaṅko hoti, yaṁ tena samayena paribhuñjāmi yadidaṁ sovaṇṇamayo vā rūpiyamayo vā dantamayo vā sāramayo vā. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti nāgasahassānaṁ ekoyeva so nāgo hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ uposatho nāgarājā. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti assasahassānaṁ ekoyeva so asso hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ valāhako assarājā. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti rathasahassānaṁ ekoyeva so ratho hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ vejayantaratho. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti itthisahassānaṁ ekāyeva sā itthī hoti, yā tena samayena paccupaṭṭhāti khattiyānī vā vessinī vā. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti vatthakoṭisahassānaṁ ekaṁyeva taṁ dussayugaṁ hoti, yaṁ tena samayena paridahāmi khomasukhumaṁ vā kappāsikasukhumaṁ vā koseyyasukhumaṁ vā kambalasukhumaṁ vā. Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti thālipākasahassānaṁ ekoyeva so thālipāko hoti, yato nāḷikodanaparamaṁ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Of those 84,000 cities, I only stayed in one, the capital Kusāvatī. Of those 84,000 palaces, I only dwelt in one, the Palace of Principle. Of those 84,000 chambers, I only dwelt in the Chamber of the Grand Tower. Of those 84,000 couches, I only used one, made of gold or silver or ivory or heartwood. Of those 84,000 bull elephants, I only rode one, the royal bull elephant named Sabbath. Of those 84,000 horses, I only rode one, the royal horse named Thundercloud. Of those 84,000 chariots, I only rode one, the chariot named Triumph. Of those 84,000 women, I was only served by one, an aristocrat maiden or a coquette. Of those 8,400,000,000 cloths, I only wore one pair, made of delicate linen, cotton, silk, or wool. Of those 84,000 servings of food, I only had one, eating at most a cup of rice with suitable sauce.
271. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn thành phố ấy, vào thời ấy Ta chỉ ở trong một thành phố duy nhất, đó là kinh đô Kusāvatī. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn cung điện ấy, vào thời ấy Ta chỉ ở trong một cung điện duy nhất, đó là cung điện Dhamma. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn lầu các ấy, vào thời ấy Ta chỉ ở trong một lầu các duy nhất, đó là lầu các Mahāviyūha. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn giường nằm ấy, vào thời ấy Ta chỉ dùng một giường nằm duy nhất, hoặc làm bằng vàng, hoặc bằng bạc, hoặc bằng ngà, hoặc bằng gỗ lõi cây. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn con voi ấy, vào thời ấy Ta chỉ cưỡi một con voi duy nhất, đó là voi chúa Uposatha. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn con ngựa ấy, vào thời ấy Ta chỉ cưỡi một con ngựa duy nhất, đó là ngựa chúa Valāhaka. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn cỗ xe ấy, vào thời ấy Ta chỉ đi một cỗ xe duy nhất, đó là cỗ xe Vejayanta. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn người nữ ấy, vào thời ấy chỉ có một người nữ duy nhất hầu hạ Ta, hoặc là người dòng Sát-đế-lỵ, hoặc là người dòng Tỳ-xá. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn koti bộ y phục ấy, vào thời ấy Ta chỉ mặc một bộ y phục duy nhất, hoặc bằng vải lanh mịn, hoặc bằng vải bông mịn, hoặc bằng vải lụa mịn, hoặc bằng vải len mịn. Này Ānanda, trong tám mươi bốn ngàn nồi cơm ấy, Ta chỉ dùng cơm từ một nồi duy nhất, với lượng gạo tối đa là một nāḷi, cùng với thức ăn tương xứng.
Passānanda, sabbete saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā. Evaṁ aniccā kho, ānanda, saṅkhārā; evaṁ addhuvā kho, ānanda, saṅkhārā; evaṁ anassāsikā kho, ānanda, saṅkhārā. Yāvañcidaṁ, ānanda, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccituṁ.
See, Ānanda! All those conditioned phenomena have passed, ceased, and perished. So impermanent are conditions, so unstable are conditions, so unreliable are conditions. This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
272. Này Ānanda, hãy xem, tất cả các pháp hữu vi ấy đã qua rồi, đã diệt rồi, đã biến hoại rồi. Này Ānanda, các pháp hữu vi là vô thường như vậy đấy; này Ānanda, các pháp hữu vi là không bền vững như vậy đấy; này Ānanda, các pháp hữu vi là không đáng tin cậy như vậy đấy! Này Ānanda, thật vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để ly tham, vừa đủ để giải thoát khỏi tất cả các pháp hữu vi.
Chakkhattuṁ kho panāhaṁ, ānanda, abhijānāmi imasmiṁ padese sarīraṁ nikkhipitaṁ, tañca kho rājāva samāno cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato, ayaṁ sattamo sarīranikkhepo. Na kho panāhaṁ, ānanda, taṁ padesaṁ samanupassāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yattha tathāgato aṭṭhamaṁ sarīraṁ nikkhipeyyā”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
Six times, Ānanda, I recall having laid down my body at this place. And the seventh time was as a wheel-turning monarch, a just and principled king, at which time my dominion extended to all four sides, I achieved stability in the country, and I possessed the seven treasures. But Ānanda, I do not see any place in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans where the Realized One would lay down his body for the eighth time.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Này Ānanda, Ta nhớ rằng Ta đã từ bỏ thân xác tại chính nơi này sáu lần, và mỗi lần đều là một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương, một vị vua đúng pháp, một vị pháp vương, chinh phục bốn phương, đất nước an bình, đầy đủ bảy báu. Đây là lần thứ bảy từ bỏ thân xác. Và này Ānanda, Ta không thấy một nơi nào trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh này cùng với các Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, nơi mà Như Lai sẽ từ bỏ thân xác lần thứ tám. Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
“Oh! Conditions are impermanent, their nature is to rise and fall; having arisen, they cease; their settling is such bliss.”
Các pháp hữu vi quả là vô thường, có bản chất sanh và diệt. Sau khi sanh lên, chúng liền hoại diệt. Sự tịch tịnh của chúng là an lạc.
Mahāsudassanasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Kinh Đại Thiện Kiến, kinh thứ tư, chấm dứt.