- Dīgha Nikāya 16
Mahāparinibbānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahāparinibbānasutta
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajātasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.
SC 2PTS cs 2~2 Rồi Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakāra (Vũ-xá), đại thần nước Magadha
SC 3—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.
- Ðại vương, xin vâng!
SC 4PTS cs 3~3 Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Rājagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn
SC 5—Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.
SC 6PTS cs 4~4 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 7—Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
SC 8- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
SC 9- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?
SC 10- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.
SC 11- Này Ānanda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ānanda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
SC 12- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.
SC 13- Này Ānanda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?
SC 14- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.
SC 15- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?
SC 16- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.
SC 17- Này Ānanda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
SC 18- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
SC 19- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?
SC 20- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.
SC 21- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 22PTS cs 5~5 Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha
SC 23—Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesālī tại tự miếu Sārandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 24Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn
SC 25—Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
SC 26- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.
SC 27Bà-la-môn Vassakāra, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
SC 28PTS cs 6~6 Khi Bà-la-môn Vassakāra đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 29—Này Ānanda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Rājagaha (Vương Xá).
SC 30- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 31Tôn giả Ānanda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn
SC 32—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 33Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo
SC 34—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 35- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 36Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 37—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 38Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 39Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 40Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 41Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 42Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 43Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 44Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 45PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 46- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 47Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
SC 48Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 49Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 50Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 51Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 52Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 53Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 54Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 55Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 56PTS cs 8~8 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 57- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 58Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 59—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 60Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 61PTS cs 9~9 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 62- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 63Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói
SC 64—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 65Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 66PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 67- Xin vâng bạch Thế Tôn!
SC 68Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 69—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 70Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 71PTS cs 11~11 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 72- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 73Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 74—Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 75Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 76Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 77Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 78Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 79Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 80Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 81PTS cs 12~12 Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.
SC 82PTS cs 13~13 Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ānanda
SC 83—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.
SC 84- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 85Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.
SC 86PTS cs 14~14 Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 87- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 88PTS cs 15~15 Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ānanda
SC 89—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.
SC 90- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 91Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavārikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).
SC 92PTS cs 16~16 Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 93—Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.
SC 94- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 95- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 96- Này Sāriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 97- Này Sāriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sāriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?
SC 98PTS cs 17~17 - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
SC 99PTS cs 18~18 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavārikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 100- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 101PTS cs 19~19 Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ānanda
SC 102—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pātaligāma.
SC 103- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 104Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pātaligāma.
SC 105PTS cs 20~20 Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pātaligāma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pātaligāma. Các cư sĩ ở Pātaligāma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 106PTS cs 21~21 Các cư sĩ ở Pātaligāma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rải cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.
SC 108PTS cs 22~22 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.
SC 109PTS cs 23~23 Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pātaligāma
SC 110—Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?
SC 111Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 112Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 113Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 114Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 115Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 116Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 117PTS cs 24~24 Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?
SC 118Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 119Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 120Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 121Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 122Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 123PTS cs 25~25 Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pātaligāma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy
SC 124—Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 125- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 126Các người cư sĩ của Pātaligāma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pātaligāma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.
SC 127PTS cs 26~26 Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.
SC 128PTS cs 27~27 Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ānanda
SC 129—Này Ānanda, ai đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma?
SC 130- Sunidha và Vassakāra, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì.
SC 131PTS cs 28~28 Này Ānanda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakāra đang xây thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì. Này Ānanda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ānanda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pātaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ānanda, Pātaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.
SC 132PTS cs 29~29 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra bạch Thế Tôn: “Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 133PTS cs 30~30 Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 134Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.
SC 135PTS cs 31~31 Sau khi Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:
SC 136Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.SC 137Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.SC 138Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.
SC 139Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
SC 140PTS cs 32~32 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói
:SC 141 “Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama”.
SC 142PTS cs 33~33 Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.
SC 143PTS cs 34~34 Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:
SC 144“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.
Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”
SC 145PTS cs 1~35 Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kotigāma”
SC 146: “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigāma.
SC 147PTS cs 2~36 Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 148—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
SC 149Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 150Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 151Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 152Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
SC 153Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
SC 154PTS cs 3~37 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm
SC 155—Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.
SC 156PTS cs 4~38 Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 157—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 158PTS cs 5~39 Thế Tôn, sau khi ở Kotigāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 159—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādika.
SC 160- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 161Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nādika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).
SC 162PTS cs 6~40 Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 163—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sālada mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikāya … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kaṭissabha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuṭṭḥa … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuṭṭha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Bhadda … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?
SC 164PTS cs 7~41 Này Ānanda, Tỷ-kheo Sātha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ānanda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujāta diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ānanda, cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Kalinga … Này Ānanda, cư sĩ Nikāya … Này Ānanda, cư sĩ Kaṭissabha … Này Ānanda, cư sĩ Tuṭṭḥa … Này Ānanda, cư sĩ Santuṭṭha … Này Ānanda, cư sĩ Bhadda … Này Ānanda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nāgita, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.
SC 165PTS cs 8~42 Này Ānanda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ānanda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ānanda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 166PTS cs 9~43 Này Ānanda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”. Này Ānanda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”.
SC 167Này Ānanda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 168PTS cs 10~44 Khi Thế Tôn ở Nādika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 169—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 170PTS cs 11~45 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nādika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 171—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī.
SC 172- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 173Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn Ambapāli.
SC 174PTS cs 12~46 Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo
SC 175—Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 176Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
SC 177PTS cs 13~47 Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 178PTS cs 14~48 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli được nghe: “Thế Tôn đã đến Vesālī và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapāli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cỗ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesālī và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 179Dâm nữ Ambapāli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn
SC 180—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 181Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapāli được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 182PTS cs 15~49 Các người Licchavi ở Vesālī được nghe: “Thế Tôn đến Vesālī hiện ở vườn Ambapāli”, liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesālī với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.
SC 183PTS cs 16~50 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapāli
SC 184—Này Ambapāli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?
SC 185- Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.
SC 186- Này Ambapāli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.
SC 187- Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesālī cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.
SC 188Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói
SC 189—Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapāli.
SC 190PTS cs 17~51 Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.
SC 191PTS cs 18~52 Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 192Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn
SC 193—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 194- Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapāli rồi.
SC 195Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên … ”
SC 196Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 197PTS cs 19~53 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapāli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapāli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
SC 198Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapāli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapāli bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ”.
SC 199Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.
SC 200PTS cs 20~54 Trong thời gian Thế Tôn ở Vesālī, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 201—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 202PTS cs 21~55 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesālī cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 203—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.
SC 204- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 205Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.
SC 206PTS cs 22~56 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 207—Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.
SC 208- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 209Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
SC 210PTS cs 23~57 Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.
SC 211PTS cs 24~58 Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 212—Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
SC 213PTS cs 25~59 Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ānanda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ānanda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
SC 214PTS cs 26~60 Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ānanda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
SC 215Này Ānanda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ānanda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
SC 216Này Ānanda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
SC 217PTS cs 1~61 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ānanda
SC 218—Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Cāpāla, để nghỉ trưa.
SC 219- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 220Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
SC 221PTS cs 2~62 Thế Tôn đi đến điện thờ Cāpāla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ānanda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 222—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Cāpāla.
SC 223PTS cs 3~63 Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 224PTS cs 4~64 Nhưng Tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.
SC 225PTS cs 5~65 Lần thứ hai Thế Tôn … lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 226—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Capala!” Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 227Nhưng tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.
SC 228PTS cs 6~66 Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 229—Này Ānanda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 230- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 231Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.
SC 232PTS cs 7~67 Tôn giả Ānanda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn.
SC 233- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
SC 234PTS cs 8~68 Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
SC 235Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật … khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 236Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp một cách thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 237Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 238PTS cs 9~69 Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 239PTS cs 10~70 Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:
SC 240Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.
SC 241PTS cs 11~71 Lúc bấy giờ, tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”.
SC 242PTS cs 12~72 Rồi tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 243—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
SC 244PTS cs 13~73 - Này Ānanda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ānanda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ānanda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.
SC 245PTS cs 14~74 Lại nữa này Ānanda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.
SC 246PTS cs 15~75 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
SC 247PTS cs 16~76 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động.
SC 248PTS cs 17~77 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động.
SC 249PTS cs 18~78 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.
SC 250PTS cs 19~79 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
SC 251PTS cs 20~80 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động. Này Ānanda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động.
SC 252PTS cs 21~81 Này Ānanda, có tám chúng. Thế nào là tám? Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.
SC 253PTS cs 22~82 Này Ānanda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?”.
SC 254PTS cs 23~83 Này Ānanda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần … chúng Cư sĩ … chúng Sa-môn … chúng Bốn Thiên vương … chúng Tam thập tam thiên … chúng Ma … chúng Phạm thiên hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Này Ānanda, như vậy là tám chúng.
SC 255PTS cs 24~84 Này Ānanda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?
SC 256PTS cs 25~85 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 257PTS cs 26~86 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 258PTS cs 27~87 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 259PTS cs 28~88 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 260PTS cs 29~89 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 261PTS cs 30~90 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông Kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng—như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 262PTS cs 31~91 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 263PTS cs 32~92 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ānanda như vậy là tám thắng xứ.
SC 264PTS cs 33~93 Này Ānanda, tám giải thoát. Thế nào là tám?
SC 265Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.
SC 266Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.
SC 267Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.
SC 268Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.
SC 269Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 270Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.
SC 271Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.
SC 272Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.
SC 273Này Ānanda, như vậy là tám giải thoát.
SC 274PTS cs 34~94 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapālanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ānanda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ānanda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 275PTS cs 35~95 Này Ānanda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma
:SC 276 “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 277Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 278Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 279Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 280Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
SC 281PTS cs 36~96 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ānanda, Ác ma đứng một bên nói với Ta như sau:
SC 282“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 283Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: “Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta …; khi nào những cư sĩ của Ta …; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 284PTS cs 37~97 Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:
SC 285“Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 286Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).
SC 287PTS cs 38~98 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 288—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
SC 289- Thôi đi, này Ānanda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ānanda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.
SC 290PTS cs 39~99 Lần thứ hai, tôn giả Ānanda … Lần thứ ba, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 291—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 292- Này Ānanda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
SC 293- Bạch Thế Tôn, con có tin!
SC 294- Vậy, này Ānanda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
SC 295PTS cs 40~100 - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc … Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
SC 296- Này Ānanda, Ngươi có tin tưởng không?
SC 297- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!
SC 298- Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 299PTS cs 41~101 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kūṭa). Tại đấy Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 300PTS cs 42~102 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapāta … Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kāla, trên núi Isigili … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sīta trong hang đá Sappasoṇḍikā … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.
SC 301PTS cs 43~103 Này Ānanda, tại đấy Ta nói: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhārāma, khả ái thay Corapapāta, khả ái thay hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra, khả ái thay hang đá Kāla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasoṇḍikā trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodārāma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi”!
SC 302PTS cs 44~104 “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 303PTS cs 45~105 Này Ānanda, một thời Ta ở Vesālī tại điện thờ Udena. Tại đấy, này Ānanda, Ta cũng nói. “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 304PTS cs 46~106 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vesālī tại điện thờ Gotamaka … ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sattambaka … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Bahuputta … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sārandada …
SC 305PTS cs 47~107 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay đền Cāpāla. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 306PTS cs 48~108 Này Ānanda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ānanda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ānanda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.
SC 307Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.
SC 308- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 309Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 310PTS cs 49~109 Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ānanda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 311—Này Ānanda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường này.
SC 312- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 313Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 314—Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 315PTS cs 50~110 Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 316—Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 317PTS cs 51~111 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 318—Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
SC 319Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 320Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
SC 321PTS cs 1~112 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesālī với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ānanda
SC 322—Này Ānanda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Bhaṇḍagāma.
SC 323- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 324Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhaṇḍagāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma.
SC 325PTS cs 2~113 Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo
SC 326—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
SC 327PTS cs 3~114 Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 328Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.
SC 329PTS cs 4~115 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 330—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 331PTS cs 5~116 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhaṇḍagāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ānanda
SC 332—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam … Ambagāma … Jambugāma…, hãy đi đến Bhoganagara.
SC 333PTS cs 6~117 - Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 334Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.
SC 335PTS cs 7~118 Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ānanda, Ngài nói với các Tỷ-kheo
SC 336—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 337- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 338Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau
SC 339PTS cs 8~119—Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 340PTS cs 9~120 Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 341PTS cs 10~121 Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 342PTS cs 11~122 Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 343Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 344PTS cs 12~123 Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 345—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 346PTS cs 13~124 Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 347—Này Ānanda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.
SC 348- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 349Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.
SC 350PTS cs 14~125 Thợ sắt Cunda nghe: “Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 351PTS cs 15~126 Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 352PTS cs 16~127 Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt.
SC 353PTS cs 17~128 Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddava (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 354PTS cs 18~129 Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 355—Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo.
SC 356- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 357Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
SC 358PTS cs 19~130 Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 359—Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
SC 360- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 361Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 362PTS cs 20~131 Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
SC 363Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 364—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusināra.
SC 365- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 366Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 367Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
“Ta đi đến thành Kusināra”.
SC 368PTS cs 21~132 Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ānanda
SC 369—Này Ānanda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ānanda.
SC 370- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 371Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
SC 372PTS cs 22~133 Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ānanda
SC 373—Này Ānanda, hãy đem nước cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 374Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 375—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 376PTS cs 23~134 Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 377—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 378Lần thứ hai tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 379—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 380PTS cs 24~135 Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 381—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 382- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 383Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ānanda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
SC 384PTS cs 25~136 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài
SC 385—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và Thế Tôn uống nước.
SC 386PTS cs 26~137 Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alāra Kālāma đang đi trên con đường từ Kusināra đến Pàvà.
SC 387Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn
SC 388—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
SC 389PTS cs 27~138 Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alāra Kālāma đang đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alāra Kālāma. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alāra Kālāma và nói với ngài: “Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?”: “Này Hiền giả, ta không thấy”. “Tôn giả có nghe tiếng không?”: “Này Hiền giả, ta không nghe tiếng”. “Có phải Tôn giả đang ngủ không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Vậy có phải Tôn giả đang thức tỉnh?”: “Này Hiền giả, ta đang thức tỉnh”. “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”. “Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm bụi”.
SC 390Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với ngài Alāra Kālāma, vị ấy từ biệt.
SC 391PTS cs 28~139 - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?
SC 392PTS cs 29~140 - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.
SC 393PTS cs 30~141 - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết …
SC 394PTS cs 31~142 Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:
SC 39532: “Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?” —Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?”: “Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không thấy gì”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?”: “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?”: “Này Hiền giả, phải”. “Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì”.—Này Hiền giả, phải như vậy”.
SC 396PTS cs 33~143 Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.
SC 397PTS cs 34~144 Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn
SC 398—Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alāra, Kālāma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 399PTS cs 35~145 Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”. “Tôn giả, xin vâng”. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
SC 400Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói
SC 401—Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
SC 402- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ānanda một áo.
SC 403- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 404Pukkusa, dòng họ Mallà vâng lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ānanda.
SC 405PTS cs 36~146 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
SC 406PTS cs 37~147 Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ānanda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 407—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.
SC 408- Thật vậy, này Ānanda. Này Ānanda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ānanda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ānanda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.
SC 409PTS cs 38~148 Này Ānanda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sāla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sāla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.
SC 410- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 411Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn:
SC 412Cặp áo kim sắc này.
Pukkusa mang đến.
Ðắp áo kim sắc này,
Da Ðạo Sư sáng chói.
SC 413PTS cs 39~149 Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka
SC 414—Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 415- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 416Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
SC 417PTS cs 40~150 Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
SC 419Ðức Phật tự đi đến
Con sông Kakutthà.
Con sông chảy trong sáng.
Mát lạnh và thanh tịnh.
Vị Ðạo Sư mỏi mệt
Ði dần xuống mé sông.
Như Lai đấng Vô Thượng
Ngự trị ở trên đời
Tắm xong, uống nước xong,
Lội qua bên kia sông.
Bậc Ðạo Sư đi trước,
Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa đi vừa diễn giảng.
Chánh pháp thật vi diệu.
Rồi bậc Ðại Sĩ đến,
Tại khu vực rừng xoài.
Cho gọi vị Tỷ-kheo,
Tên họ Cundaka:
“Hãy gấp tư áo lại,
Trải áo cho ta nằm.
Nghe dạy, Cundaka
Lập tức vâng lời dạy,
Gấp tư và trải áo,
Một cách thật mau lẹ.
Bậc Ðạo Sư nằm xuống
Thân mình thật mệt mỏi.
Tại đây Cundaka,
Ngồi ngay phía trước mặt.
SC 420PTS cs 42~152 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 421—Này Ānanda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt”. Này Ānanda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.
SC 422Này Ānanda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
SC 423PTS cs 43~153 Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:
SC 424Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngự,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.
SC 425PTS cs 1~154 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 426—Này Ānanda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hiraṇṇavatī, đến ở Kusinàrà—Upavattana—rừng Sālā của dòng họ Màllà.
SC 427- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 428Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 429Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hiraṇṇavatī, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sālā của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ānanda
SC 430—Này Ānanda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ: này Ānanda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 431- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 432Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
SC 433PTS cs 2~155 Lúc bấy giờ, cây sālā song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 434PTS cs 3~156 Rồi Như Lai nói với tôn giả Ānanda
SC 435—Này Ānanda, các cây sālā song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 436Nhưng, này Ānanda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.
SC 437PTS cs 4~157 Lúc bấy giờ, tôn giả Upavāna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”
SC 438Tôn giả Ānanda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavāna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?
SC 439PTS cs 5~158 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 440—Ðại đức Upavāna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.” Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”?
SC 441—Này Ānanda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ānanda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sālā thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ānanda, các vị Thiên Thần đang than phiền: “Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng”. Này Ānanda, các chư Thiên than phiền như vậy.
SC 442PTS cs 6~159 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 443- Này Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 444Này Ānanda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:
SC 445“Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 446Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao sự kiện có thể khác được?”
SC 447PTS cs 7~160 —Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.
SC 448PTS cs 8~161 - Này Ānanda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?
SC 449“Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”. Này Ānanda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 450“Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 451“Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 452“Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 453Này Ānanda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ānanda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”.
SC 454Này Ānanda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.
SC 455PTS cs 9~162 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
SC 456—Này Ānanda, chớ có thấy chúng.
SC 457—Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
SC 458—Này Ānanda, chớ có nói chuyện với chúng.
SC 459—Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
SC 460—Này Ānanda, phải an trú chánh niệm.
SC 461PTS cs 10~163 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?
SC 462—Này Ānanda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ānanda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ānanda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.
SC 463PTS cs 11~164 —Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?
SC 464—Này Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy.
SC 465—Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?
SC 466—Này Ānanda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ānanda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 467Này Ānanda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 468PTS cs 12~165 Này Ānanda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 469Này Ānanda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.
SC 470Này Ānanda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật”. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp.
SC 471Này Ānanda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp.
SC 472Này Ānanda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 473Này Ānanda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.
SC 474PTS cs 13~166 Rồi tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 475Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 476—Này các Tỷ-kheo, Ānanda ở tại đâu?
SC 477—Bạch Thế Tôn, tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 478Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo
SC 479—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ānanda: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”
SC 480—Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 481Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ānanda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”: “Thưa vâng, Hiền giả. ” Tôn giả Ānanda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 482PTS cs 14~167 Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 483—Thôi vừa rồi, Ānanda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này Ānanda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này Ānanda làm sao được có sự kiện này: “Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?” Không thể có sự kiện như vậy được. Này Ānanda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ānanda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.
SC 484PTS cs 15~168 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 485—Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả tối thắng như Ānanda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ānanda của Ta vậy.
SC 486Này các Tỷ-kheo, Ānanda là người có trí và hiểu rõ: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!”
SC 487PTS cs 16~169 Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?
SC 488Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.
SC 489Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni…, chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ, vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ānanda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 490Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.
SC 491Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ … chúng Bà-la-môn … chúng gia chủ … chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.
SC 492Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo … chúng Tỷ-kheo ni … chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 493Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như vậy.
SC 494PTS cs 17~170 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 495—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Rājagaha (Vương Xá), Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 496—Này Ānanda, chớ có nói như vậy, này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.
SC 497PTS cs 18~171 Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahāsudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvātī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.
SC 498Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, nhân chúng sung mãn.
SC 499Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này, ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi”.
SC 500PTS cs 19~172 Này Ānanda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà: “Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 501- Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 502- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 503Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.
SC 504PTS cs 20~173 Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà
SC 505—Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 506PTS cs 21~174 Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 507Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sālā của dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ānanda.
SC 508PTS cs 22~175 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc”.
SC 509- Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 510Và tôn giả Ānanda, theo phương tiện này trong canh một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.
SC 511PTS cs 23~176 Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: “Tối nay canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”.
SC 512Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: “Ta nghe các du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta”.
SC 513PTS cs 24~177 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sāla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ānanda và thưa với tôn giả
SC 514—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 515Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 516—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 517Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 518—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 519Lần thứ ba, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 520—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 521PTS cs 25~178 Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ānanda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ānanda
SC 522—Thôi Ānanda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ānanda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì Ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.
SC 523Tôn giả Ānanda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 524—Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.
SC 525PTS cs 26~179 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 526—Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pārana Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalì, Pakudha Kaccāyana, Sanjaya Bellaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?
SC 527- Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 528- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 529Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 530PTS cs 27~180—Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 531Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.
SC 532Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn đệ nhất cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 533PTS cs 28~181 Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 534—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới.
SC 535- Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.
SC 536PTS cs 29~182 - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
SC 537Và Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 538—Này Ānanda, hãy xuất gia cho Subhadda.
SC 539- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 540Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 541PTS cs 30~183 Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 542—Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ānanda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ānanda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!
SC 543Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia, được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.
SC 544Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn tế độ.
SC 545PTS cs 1~184 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 546—Này Ānanda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ānanda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ānanda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.
SC 547PTS cs 2~185 Này Ānanda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.
SC 548PTS cs 3~186 Này Ānanda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.
SC 549PTS cs 4~187 Này Ānanda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadaṇḍa) đối với Tỷ-kheo Channa.
SC 550- Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?
SC 551- Này Ānanda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo Channa.
SC 552PTS cs 5~188 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 553—Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 554Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai, Thế Tôn … Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 555—Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 556Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 557Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 558—Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.
SC 559Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 560PTS cs 6~189 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 561—Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.
SC 562- Này Ānanda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ānanda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ānanda, trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.
SC 563PTS cs 7~190 Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 564—Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.
SC 565Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
SC 566PTS cs 8~191 Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 567Khi ấy tôn giả Ānanda nói với tôn giả Anuruddha
SC 568—Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
SC 569- Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 570PTS cs 9~192 Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
SC 571PTS cs 10~193 Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động.
SC 572Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 573Chúng sanh ở trên đời,
Từ bỏ thân ngũ uẩn
Bậc đạo sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt luân trên đời.
Bậc Ðại hùng Giác ngộ
Như Lai đã diệt độ.
SC 574Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 575Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.
SC 576Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 577Không phải thở ra vào
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn.
SC 578Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ānanda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 579Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược,
Khi Bậc Toàn thiện năng,
Bậc Giác ngộ nhập diệt.
SC 580Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 581PTS cs 11~194 Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo
SC 582—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: “Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy”. Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách đó.
SC 583- Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 584- Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 585Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao có thể khác được?”
SC 586PTS cs 12~195 Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ānanda luận bàn về Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả Ānanda
SC 587—Hiền giả Ānanda, hãy vào thành Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
- Tôn giả, xin vâng!
SC 588Tôn giả Ānanda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.
SC 589Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà ở Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
SC 590Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 591PTS cs 13~196 Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.
SC 592Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sālā của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala.
SC 593Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.
SC 594PTS cs 14~197 Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 595Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha
SC 596—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?
SC 597- Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư Thiên khác.
SC 598PTS cs 15~198 - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?
SC 599- Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:
SC 600“Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 601Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của Chư thiên, nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và chúng ta sẽ thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy”.
SC 602- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng con cũng vậy.
SC 603PTS cs 16~199 Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandārava. Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.
SC 604PTS cs 17~200 Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ānanda
SC 605—Bạch Tôn giả Ānanda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối với thân xá lợi Như Lai?
SC 606- Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.
SC 607- Bạch Tôn giả Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải như thế nào?
SC 608- Này các Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 609Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 610PTS cs 18~201 Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công
SC 611—Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà.
SC 612Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên giàn hỏa.
SC 613PTS cs 19~202 Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa đang đi giữa đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một gốc cây.
SC 614Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandārava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.
SC 615Tôn giả Mahà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy
SC 616—Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?
SC 617- Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandārava này.
SC 618Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 619PTS cs 20~203 Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy
SC 620—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: “Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi”. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.
SC 621Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo
SC 622—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.
SC 623PTS cs 21~204 Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm lửa không cháy.
SC 624Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha
SC 625—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?
SC 626- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.
SC 627- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?
SC 628- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 629- Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.
SC 630PTS cs 22~205 Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuṭa Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 631Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 632Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.
SC 633PTS cs 23~206 Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.
SC 634Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.
SC 635Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước từ kho nước (hay từ cây sālā) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn.
SC 636Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.
SC 637PTS cs 24~207 Vua nước Magadha tên là Ajātasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 638Những người Licchavì ở Vesālī nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 639Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 640Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 641Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn.”
SC 642Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 643Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 644PTS cs 25~208 Khi được nói vậy, các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên bố giữa đại chúng
SC 645—Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.
SC 646Khi nghe vậy, Bà-la-môn Doṇa nói với chúng:
SC 647Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành.
Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn …
SC 648- Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.
SC 649- Xin vâng, các Tôn giả.
SC 650Bà-la-môn Doṇa vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng
SC 651—Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.
SC 652Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Doṇa cái bình.
SC 653PTS cs 26~209 Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”. “Nay không còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại”. Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.
SC 654PTS cs 27~210 Và vua nước Magadha tên là Ajātasattu, con bà Videhi xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.
SC 655Những người Licchavi ở Vesālī cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vesālī và tổ chức lễ cúng dường.
SC 656Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.
SC 657Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 658Những người Koli ở Rāmagāma cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Rāmagāma và tổ chức lễ cúng dường.
SC 659Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 660Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 661Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 662Bà-la-môn Doṇa cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.
SC 663Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.
SC 664Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi).
SC 665Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.
SC 667Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi phân tám phần.
Bảy phần được cúng dường.
Tại Jambudìpa.
Một phần Long vương cúng.
Tại Ràmagàma.
Một răng Phật được cúng,
Tại cõi Tam Thiên giới,
Một tại Gandhāra,
Một tại Kalinga.
Một răng, vua Long vương.
Tự mình riêng cúng dường.
Quả đất được chói sáng,
Với hào quang xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường.
Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường.
Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi bậc Tối thượng nhơn.
Các người hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Đại Bát Niết Bàn
131. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Vào lúc bấy giờ, vua xứ Māgadha (Ma-kiệt-đà) là Ajātasattu (A-xà-thế), con bà Vedehi, muốn đi chinh phạt dân Vajjī (Bạt-kỳ). Vị ấy nói như vầy: “Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, những người có đại thần lực, có đại oai lực như vậy; ta sẽ hủy diệt dân Vajjī, ta sẽ khiến dân Vajjī gặp tai họa bất hạnh.”
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha: ‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti. Evañca vadehi: ‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo. So evamāha: “ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī”’ti. Yathā te bhagavā byākaroti, taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi. Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
And then King Ajātasattu addressed Vassakāra the brahmin, a chief minister of Magadha, “Please, brahmin, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And then say: ‘Sir, King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, wants to invade the Vajjis. He says, “I shall wipe out these Vajjis, so mighty and powerful! I shall destroy them, and lay ruin and devastation upon them!”’ Remember well how the Buddha answers and tell it to me. For Realized Ones say nothing that is not so.”
132. Khi ấy, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, cho gọi Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, và nói: “Này Bà-la-môn, hãy đến đây. Ngươi hãy đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm về việc ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và an trú thoải mái: ‘Bạch Thế Tôn, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm về việc ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, khỏe mạnh, và an trú thoải mái.’ Và hãy nói như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con bà Vedehi, muốn đi chinh phạt dân Vajjī. Vị ấy nói như vầy: “Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, những người có đại thần lực, có đại oai lực như vậy; ta sẽ hủy diệt dân Vajjī, ta sẽ khiến dân Vajjī gặp tai họa bất hạnh.”’ Tùy theo cách Đức Thế Tôn trả lời ngươi, hãy ghi nhớ kỹ điều đó và về báo lại cho ta. Vì các đấng Như Lai không nói lời sai trái.”
Bà-la-môn Vassakāra
“Evaṁ, bho”ti kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭissutvā bhaddāni bhaddāni yānāni yojetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi rājagahamhā niyyāsi, yena gijjhakūṭo pabbato tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca: “rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo. So evamāha: ‘ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī’”ti.
“Yes, worthy sir,” Vassakāra replied. He had the finest carriages harnessed. Then he mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out from Rājagaha for the Vulture’s Peak Mountain. He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha on foot, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, bows with his head to your feet. He asks if you are healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. Worthy Gotama, King Ajātasattu wants to invade the Vajjis. He said: ‘I shall wipe out these Vajjis, so mighty and powerful! I shall destroy them, and lay ruin and devastation upon them!’”
133. “Thưa vâng, tâu Đại vương.” Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, sau khi vâng lệnh vua Ajātasattu xứ Māgadha, con bà Vedehi, đã cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, rồi tự mình lên một cỗ xe tốt đẹp, cùng với đoàn xe tùy tùng tốt đẹp, khởi hành từ Rājagaha đi đến núi Gijjhakūṭa. Sau khi đi xe đến chỗ nào còn đi xe được, vị ấy xuống xe và đi bộ đến chỗ của đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã cùng với đức Thế Tôn nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân hữu, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần xứ Māgadha, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Thưa Tôn giả Gotama, vua Ajātasattu xứ Māgadha, con bà Vedehi, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Gotama, và xin hỏi thăm Tôn giả có được ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái không. Thưa Tôn giả Gotama, vua Ajātasattu xứ Māgadha, con bà Vedehi, có ý định chinh phạt dân Vajjī. Vị ấy nói như sau: ‘Ta sẽ tận diệt dân Vajjī này, dù họ có hùng mạnh và quyền thế như vậy. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này. Ta sẽ khiến dân Vajjī này gặp phải tai họa và khốn cùng.’”
Các Pháp Bất Thối Của Bậc Trị Nước
Tena kho pana samayena āyasmā ānando bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Now at that time Venerable Ānanda was standing behind the Buddha fanning him. Then the Buddha said to him, “Ānanda, have you heard that the Vajjis meet frequently and have many meetings?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis meet frequently and have many meetings, they can expect growth, not decline.
134. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đứng hầu quạt phía sau lưng đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo’ không?” “Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony, they can expect growth, not decline.
“Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và cùng nhau thực hiện các công việc của xứ Vajjī trong đoàn kết’ không?” “Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và cùng nhau thực hiện các công việc của xứ Vajjī trong đoàn kết.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tụ họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết, và cùng nhau thực hiện các công việc của xứ Vajjī trong đoàn kết, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the ancient Vajjian principles as they have been decreed?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the ancient Vajjian principles as they have been decreed, they can expect growth, not decline.
“Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và sống theo đúng các pháp cổ xưa của xứ Vajjī như đã được quy định’ không?” “Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và sống theo đúng các pháp cổ xưa của xứ Vajjī như đã được quy định.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và sống theo đúng các pháp cổ xưa của xứ Vajjī như đã được quy định, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate Vajjian elders, and think them worth listening to?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate Vajjian elders, and think them worth listening to, they can expect growth, not decline.
“Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các bậc trưởng lão của xứ Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe’ không?” “Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các bậc trưởng lão của xứ Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các bậc trưởng lão của xứ Vajjī, và cho rằng lời nói của các vị ấy đáng được lắng nghe, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ānanda, have you heard that the Vajjis don’t forcibly abduct the women or girls of the clans and make them live with them?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis don’t forcibly abduct the women or girls of the clans and make them live with them, they can expect growth, not decline.
“Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia tộc phải sống chung với mình’ không?” “Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia tộc phải sống chung với mình.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ trong các gia tộc phải sống chung với mình, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti?
Ānanda, have you heard that the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajjian shrines, whether inner or outer, not neglecting the proper spirit-offerings that were given and made in the past?”
“Này Ānanda, ngươi có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các đền thờ của xứ Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã được dâng cúng và thực hiện trước đây bị suy giảm’ không?”
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajjian shrines, whether inner or outer, not neglecting the proper spirit-offerings that were given and made in the past, they can expect growth, not decline.
“Bạch Thế Tôn, con có nghe nói rằng: ‘Dân Vajjī tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các đền thờ của xứ Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã được dâng cúng và thực hiện trước đây bị suy giảm.’” “Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường các đền thờ của xứ Vajjī, cả trong và ngoài thành, và không để cho các lễ vật đúng pháp đã được dâng cúng và thực hiện trước đây bị suy giảm, thì chừng đó, này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải suy vong.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyunti. Vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Ānanda, have you heard that the Vajjis organize proper protection, shelter, and security for perfected ones, so that more perfected ones might come to the realm and those already here may live in comfort?”
“I have heard that, sir.”
“As long as the Vajjis organize proper protection, shelter, and security for perfected ones, so that more perfected ones might come to the realm and those already here may live in comfort, they can expect growth, not decline.”
“Này Ānanda, ngươi đã nghe như thế nào, rằng ‘dân Vajjī đã sắp đặt chu đáo việc bảo vệ, che chở, hộ trì đúng theo chánh pháp đối với các vị A-la-hán, để làm sao cho các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở của họ, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái tại xứ sở của họ?’” “Bạch Thế Tôn, con đã nghe điều này, rằng ‘dân Vajjī đã sắp đặt chu đáo việc bảo vệ, che chở, hộ trì đúng theo chánh pháp đối với các vị A-la-hán, để làm sao cho các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở của họ, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái tại xứ sở của họ.’” “Này Ānanda, khi nào dân Vajjī còn sắp đặt chu đáo việc bảo vệ, che chở, hộ trì đúng theo chánh pháp đối với các vị A-la-hán, để làm sao cho các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến xứ sở của họ, và các vị A-la-hán đã đến sẽ được an trú thoải mái tại xứ sở của họ, thì này Ānanda, chỉ có thể mong đợi sự thịnh vượng cho dân Vajjī, chứ không phải là sự suy vong.”
Atha kho bhagavā vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi: “ekamidāhaṁ, brāhmaṇa, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye. Tatrāhaṁ vajjīnaṁ ime satta aparihāniye dhamme desesiṁ. Yāvakīvañca, brāhmaṇa, ime satta aparihāniyā dhammā vajjīsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu vajjī sandississanti, vuddhiyeva, brāhmaṇa, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Then the Buddha said to Vassakāra, “Brahmin, this one time I was staying near Vesālī at the Sārandada Shrine. There I taught the Vajjis these seven principles that prevent decline. As long as these seven principles that prevent decline last among the Vajjis, and as long as the Vajjis are seen following them, they can expect growth, not decline.”
135. Khi ấy, Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần của xứ Magadha, và nói: “Này Bà-la-môn, có một thời Ta trú ở Vesālī, tại điện thờ Sārandada. Tại đấy, Ta đã thuyết giảng cho dân Vajjī bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại nơi dân Vajjī, và dân Vajjī còn được thấy thực hành bảy pháp bất thối này, thì này Bà-la-môn, chỉ có thể mong đợi sự thịnh vượng cho dân Vajjī, chứ không phải là sự suy vong.”
Evaṁ vutte, vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca: “ekamekenapi, bho gotama, aparihāniyena dhammena samannāgatānaṁ vajjīnaṁ vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni. Ko pana vādo sattahi aparihāniyehi dhammehi. Akaraṇīyāva, bho gotama, vajjī raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena yadidaṁ yuddhassa, aññatra upalāpanāya aññatra mithubhedā. Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti. Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
When the Buddha had spoken, Vassakāra said to him, “Worthy Gotama, if the Vajjis follow even a single one of these principles they can expect growth, not decline. How much more so all seven! King Ajātasattu cannot defeat the Vajjis in war, unless by bribery or by sowing dissension. Well, now, worthy Gotama, I must go. I have many duties, and much to do.”
“Please, brahmin, go at your convenience.” Then Vassakāra the brahmin, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat and left.
Khi được nói vậy, vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần của xứ Magadha, bạch với Thế Tôn điều này: “Thưa Tôn giả Gotama, chỉ cần dân Vajjī hội đủ một pháp bất thối thôi, cũng chỉ có thể mong đợi sự thịnh vượng, chứ không phải là sự suy vong. Huống nữa là cả bảy pháp bất thối! Thưa Tôn giả Gotama, vua Ajātasattu của xứ Magadha, con của hoàng hậu Vedehi, không thể làm gì được dân Vajjī trong chiến trận, trừ phi dùng mưu kế ly gián, trừ phi gây chia rẽ nội bộ. Thôi, bây giờ chúng tôi xin đi, thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm.” “Này Bà-la-môn, ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ là đúng thời.” Khi ấy, vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần của xứ Magadha, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Các Pháp Bất Thối Của Tỳ Khưu
Atha kho bhagavā acirapakkante vassakāre brāhmaṇe magadhamahāmatte āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Soon after he had left, the Buddha said to Ānanda, “Go, Ānanda, gather all the mendicants staying in the vicinity of Rājagaha together in the assembly hall.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. He did what the Buddha asked. Then he went back, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, the mendicant Saṅgha has assembled. Please, sir, go at your convenience.”
136. Khi ấy, không lâu sau khi vị Bà-la-môn Vassakāra, đại thần của xứ Magadha, ra về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và nói: “Này Ānanda, ngươi hãy đi và tập hợp tất cả các Tỳ khưu đang cư trú quanh Rājagaha lại tại giảng đường.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, tập hợp tất cả các Tỳ khưu đang cư trú quanh Rājagaha lại tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng sang một bên. Đứng một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, Tăng chúng Tỳ khưu đã được tập hợp. Bạch Thế Tôn, bây giờ là lúc Thế Tôn nghĩ là phải thời.”
Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “satta vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Then the Buddha went to the assembly hall, where he sat down on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, I will teach you these seven principles that prevent decline. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
Khi ấy, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống rồi, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi bảy pháp bất thối. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
“As long as the mendicants meet frequently and have many meetings, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn thường xuyên hội họp, còn tụ họp đông đảo, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā saṅghakaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn đoàn kết hội họp, đoàn kết giải tán, đoàn kết làm các việc của Tăng chúng, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants don’t make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the training rules as they have been decreed, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn không ban hành điều chưa được ban hành, không hủy bỏ điều đã được ban hành, và còn sống theo sự tuân thủ các học giới đã được ban hành, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants honor, respect, esteem, and venerate the senior mendicants—of long standing, long gone forth, fathers and leaders of the Saṅgha—and think them worth listening to, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường các vị Tỳ khưu trưởng lão, bậc kỳ cựu, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng, và còn nghĩ rằng lời dạy của các vị ấy đáng được lắng nghe, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū uppannāya taṇhāya ponobbhavikāya na vasaṁ gacchissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants don’t fall under the sway of arisen craving for future lives, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn không bị chi phối bởi ái dục đã khởi lên, thứ dẫn đến tái sanh, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants take care to live in wilderness lodgings, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn ưa thích các trú xứ nơi rừng vắng, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū paccattaññeva satiṁ upaṭṭhapessanti: ‘kinti anāgatā ca pesalā sabrahmacārī āgaccheyyuṁ, āgatā ca pesalā sabrahmacārī phāsu vihareyyun’ti. Vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants individually establish mindfulness, so that more good-hearted spiritual companions might come, and those that have already come may live comfortably, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào các Tỳ khưu còn tự mình thiết lập chánh niệm, rằng: ‘Làm sao để các vị đồng phạm hạnh có giới hạnh tốt đẹp chưa đến sẽ đến? Và làm sao để các vị đồng phạm hạnh có giới hạnh tốt đẹp đã đến sẽ được an trú thoải mái?’, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, khi nào bảy pháp bất thối này còn tồn tại nơi các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu còn được thấy thực hành bảy pháp bất thối này, thì này các Tỳ khưu, chỉ có thể mong đợi sự hưng thịnh cho các Tỳ khưu, chứ không phải là sự suy vong.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
I will teach you seven more principles that prevent decline. …
137. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông bảy pháp không suy thoái khác nữa. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn như vậy. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na kammārāmā bhavissanti na kammaratā na kammārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants don’t relish work, loving it and liking to relish it, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không ưa thích công việc, không vui thích trong công việc, không chuyên tâm vào việc ưa thích công việc, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na bhassārāmā bhavissanti na bhassaratā na bhassārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as they don’t relish talk …
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không ưa thích nói chuyện, không vui thích trong nói chuyện, không chuyên tâm vào việc ưa thích nói chuyện, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na niddārāmā bhavissanti na niddāratā na niddārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
sleep …
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không ưa thích ngủ nghỉ, không vui thích trong ngủ nghỉ, không chuyên tâm vào việc ưa thích ngủ nghỉ, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na saṅgaṇikārāmā bhavissanti na saṅgaṇikaratā na saṅgaṇikārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
company …
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không ưa thích hội chúng, không vui thích trong hội chúng, không chuyên tâm vào việc ưa thích hội chúng, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpicchā bhavissanti na pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
they don’t have corrupt wishes, falling under the sway of corrupt wishes …
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không có những ước muốn xấu xa, không bị chi phối bởi những ước muốn xấu xa, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpamittā bhavissanti na pāpasahāyā na pāpasampavaṅkā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
they don’t have bad friends, companions, and associates …
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không có bạn bè xấu, không có bạn đồng hành xấu, không nghiêng về bạn bè xấu, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na oramattakena visesādhigamena antarāvosānaṁ āpajjissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
they don’t stop half-way after achieving some trifling distinction, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu không dừng lại giữa chừng chỉ với sự chứng đắc đặc biệt nhỏ nhoi, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào bảy pháp không suy thoái này tồn tại nơi các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu được thấy thực hành bảy pháp không suy thoái này, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi …pe…. Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū saddhā bhavissanti …pe… hirimanā bhavissanti … ottappī bhavissanti … bahussutā bhavissanti … āraddhavīriyā bhavissanti … upaṭṭhitassatī bhavissanti … paññavanto bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni. Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
I will teach you seven more principles that prevent decline. … As long as the mendicants are faithful … conscientious … prudent … learned … energetic … mindful … wise, they can expect growth, not decline. As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.
138. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông bảy pháp không suy thoái khác nữa... Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu có lòng tin... có tàm... có quý... là bậc đa văn... có tinh cần được khởi xướng... có niệm được thiết lập... có trí tuệ, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái. Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào bảy pháp không suy thoái này tồn tại nơi các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu được thấy thực hành bảy pháp không suy thoái này, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
I will teach you seven more principles that prevent decline. …
139. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông bảy pháp không suy thoái khác nữa. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn như vậy. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …pe… dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti … vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants develop the awakening factors of mindfulness … investigation of principles … energy … rapture … tranquility … immersion … equanimity, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu tu tập niệm giác chi... tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā no parihāni.
As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào bảy pháp không suy thoái này tồn tại nơi các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu được thấy thực hành bảy pháp không suy thoái này, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
I will teach you seven more principles that prevent decline. …
140. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông bảy pháp không suy thoái khác nữa. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn như vậy. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū aniccasaññaṁ bhāvessanti …pe… anattasaññaṁ bhāvessanti … asubhasaññaṁ bhāvessanti … ādīnavasaññaṁ bhāvessanti … pahānasaññaṁ bhāvessanti … virāgasaññaṁ bhāvessanti … nirodhasaññaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants develop the perceptions of impermanence … not-self … ugliness … drawbacks … giving up … fading away … cessation, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu tu tập vô thường tưởng... tu tập vô ngã tưởng... tu tập bất tịnh tưởng... tu tập tưởng về sự nguy hại... tu tập đoạn tận tưởng... tu tập ly tham tưởng... tu tập đoạn diệt tưởng, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as these seven principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ-khưu, chừng nào mà bảy pháp không suy thoái này còn tồn tại giữa các Tỳ-khưu, và các Tỳ-khưu còn được thấy là đang thực hành bảy pháp không suy thoái này, thì này các Tỳ-khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ-khưu, không phải sự suy thoái.”
Cha vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
I will teach you six principles that prevent decline. …
As long as the mendicants consistently treat their spiritual companions with bodily kindness …
141. “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông sáu pháp không suy thoái. Hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn như vậy. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu thể hiện khẩu nghiệp từ ái... thể hiện ý nghiệp từ ái đối với các bạn đồng phạm hạnh, cả công khai lẫn kín đáo, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū, ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī bhavissanti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants share without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions, they can expect growth, not decline.
Này các Tỳ khưu, chừng nào mà các Tỳ khưu, đối với các lợi lộc đúng pháp, có được đúng pháp, cho đến chỉ là vật thực trong bát, vẫn không hưởng dụng riêng rẽ, mà hưởng dụng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức, thì này các Tỳ khưu, chừng đó các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññūpasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants live according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private—such precepts as are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion—they can expect growth, not decline.
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các Tỳ khưu thể hiện thân nghiệp từ ái đối với các bạn đồng phạm hạnh, cả công khai lẫn kín đáo, thì này các Tỳ khưu, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi cho các Tỳ khưu, không có sự suy thoái.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā, niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
As long as the mendicants live according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private—the view that is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete end of suffering—they can expect growth, not decline.
Này các Tỳ khưu, chừng nào mà các Tỳ khưu, đối với tri kiến thánh thiện, có khả năng hướng thượng, đưa người thực hành đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh, vẫn sống với sự tương đồng về tri kiến như vậy với các vị đồng phạm hạnh, cả khi công khai lẫn khi kín đáo, thì này các Tỳ khưu, chừng đó các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime cha aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca chasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
(…)
As long as these six principles that prevent decline last among the mendicants, and as long as the mendicants are seen following them, they can expect growth, not decline.”
Này các Tỳ khưu, chừng nào sáu pháp không suy giảm này vẫn tồn tại nơi các Tỳ khưu, và các Tỳ khưu vẫn được thấy thực hành sáu pháp không suy giảm này, thì này các Tỳ khưu, chừng đó các Tỳ khưu chỉ có thể được mong đợi sự tăng trưởng, không có sự suy giảm.
Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharanto gijjhakūṭe pabbate etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And while staying there at the Vulture’s Peak the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
142. Khi ấy, Thế Tôn, trong khi đang trú tại Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa, đã thường xuyên thuyết bài pháp thoại này cho các Tỳ khưu: 'Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được giới hỗ trợ thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được định hỗ trợ thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được tuệ hỗ trợ thì hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.'
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena ambalaṭṭhikā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharati rājāgārake. Tatrāpi sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharanto rājāgārake etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
When the Buddha had stayed in Rājagaha as long as he pleased, he addressed Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Ambalaṭṭhikā.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Ambalaṭṭhikā, where he stayed in the royal rest-house. And while staying there, too, he often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
143. Rồi Thế Tôn, sau khi đã trú ở Rājagaha tùy theo ý muốn, đã gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalaṭṭhikā.' 'Vâng, bạch Thế Tôn,' Tôn giả Ānanda đã vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đi đến Ambalaṭṭhikā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Ambalaṭṭhikā, trong nhà nghỉ của vua. Tại đó, trong khi trú ở Ambalaṭṭhikā, trong nhà nghỉ của vua, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết bài pháp thoại này cho các Tỳ khưu: 'Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được giới hỗ trợ thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được định hỗ trợ thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được tuệ hỗ trợ thì hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.'
Atha kho bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena nāḷandā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nāḷandā tadavasari, tatra sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
When the Buddha had stayed in Ambalaṭṭhikā as long as he pleased, he addressed Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Nāḷandā.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Nāḷandā, where he stayed in Pāvārika’s Mango Grove.
144. Rồi Thế Tôn, sau khi đã trú ở Ambalaṭṭhikā tùy theo ý muốn, đã gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nāḷandā.' 'Vâng, bạch Thế Tôn,' Tôn giả Ānanda đã vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đi đến Nāḷandā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika.
Tiếng Rống Sư Tử của Sāriputta
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan”ti.
“Uḷārā kho te ayaṁ, sāriputta, āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito: ‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’ti.
Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, I have such confidence in the Buddha that I believe there’s no other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening.”
“That’s a grand and bold statement, Sāriputta. You’ve roared a definitive, categorical lion’s roar, saying: ‘I have such confidence in the Buddha that I believe there’s no other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening.’
145. Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta đã bạch với Thế Tôn điều này: 'Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn như thế này: đã không có, sẽ không có, và hiện nay cũng không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ cao siêu hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ.' 'Này Sāriputta, lời nói của ngươi thật là cao thượng, lời nói của bậc trượng phu, một lời khẳng định chắc chắn, một tiếng rống sư tử đã được cất lên: 'Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn như thế này: đã không có, sẽ không có, và hiện nay cũng không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ cao siêu hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ.'
Kiṁ te, sāriputta, ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā: ‘evaṁsīlā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā:
What about all the perfected ones, the fully awakened Buddhas who lived in the past? Have you encompassed their minds to know that those Buddhas had such ethics, or such qualities, or such wisdom, or such meditation, or such freedom?”
“No, sir.”
“And what about all the perfected ones, the fully awakened Buddhas who will live in the future? Have you encompassed their minds to know that
Này Sāriputta, vậy thì, đối với những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, có phải ngươi đã biết rõ tất cả các vị Thế Tôn ấy bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của các vị ấy rằng: 'Các vị Thế Tôn ấy đã có giới như thế này, có pháp như thế này, có tuệ như thế này, có cách an trú như thế này, có sự giải thoát như thế này' hay không?' 'Bạch Thế Tôn, không phải vậy.'
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ahaṁ etarahi arahaṁ sammāsambuddho cetasā ceto paricca vidito: ‘evaṁsīlo bhagavā itipi, evaṁdhammo evaṁpañño evaṁvihārī evaṁvimutto bhagavā itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“And what about me, the perfected one, the fully awakened Buddha at present? Have you encompassed my mind to know that I have such ethics, or such qualities, or such wisdom, or such meditation, or such freedom?”
“No, sir.”
Này Sāriputta, vậy thì, đối với Ta, là vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hiện tại, có phải ngươi đã biết rõ bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của Ta rằng: 'Thế Tôn có giới như thế này, có pháp như thế này, có tuệ như thế này, có cách an trú như thế này, có sự giải thoát như thế này' hay không?' 'Bạch Thế Tôn, không phải vậy.'
“Ettha ca hi te, sāriputta, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ natthi. Atha kiñcarahi te ayaṁ, sāriputta, uḷārā āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito: ‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’”ti?
“In that case, Sāriputta, given that you don’t encompass the minds of Buddhas past, future, or present, what then are you doing, making such a grand and bold statement, roaring such a definitive, categorical lion’s roar?”
“Này Sāriputta, ở đây, đối với các bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, vị lai và hiện tại, ông không có tri kiến thấu suốt tâm của các vị ấy. Vậy thì tại sao, này Sāriputta, ông lại thốt ra lời nói cao quý, quả quyết, tiếng rống sư tử này: ‘Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn như sau: đã không có, sẽ không có, và hiện tại cũng không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có trí tuệ giác ngộ vượt hơn Thế Tôn’?”
“Na kho me, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ atthi, api ca me dhammanvayo vidito. Seyyathāpi, bhante, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ, tatrassa dovāriko paṇḍito viyatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā. So tassa nagarassa samantā anupariyāyapathaṁ anukkamamāno na passeyya pākārasandhiṁ vā pākāravivaraṁ vā, antamaso biḷāranikkhamanamattampi. Tassa evamassa: ‘ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā, sabbe te imināva dvārena pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Evameva kho me, bhante, dhammanvayo vidito: ‘ye te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā sattabojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhiṁsu. Yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhissanti. Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacitto satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’”ti.
“Sir, though I don’t encompass the minds of Buddhas past, future, and present, still I understand this by inference from the teaching. Suppose there was a king’s frontier citadel with fortified embankments, ramparts, and arches, and a single gate. And it has a gatekeeper who is astute, competent, and intelligent. He keeps strangers out and lets known people in. As he walks around the patrol path, he doesn’t see a hole or cleft in the wall, not even one big enough for a cat to slip out. He thinks, ‘Whatever sizable creatures enter or leave the citadel, all of them do so via this gate.’
In the same way, I understand this by inference from the teaching: ‘All the perfected ones, fully awakened Buddhas—whether past, future, or present—give up the five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Their mind is firmly established in the four kinds of mindfulness meditation. They correctly develop the seven awakening factors. And they awaken to the supreme perfect awakening.’”
146. “Bạch Thế Tôn, con không có tri kiến thấu suốt tâm của các bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, vị lai và hiện tại, nhưng con biết được dòng pháp. Ví như, bạch Thế Tôn, một thành trì biên địa của đức vua, có nền móng vững chắc, thành lũy và cổng thành kiên cố, chỉ có một cửa ra vào. Ở đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, trí tuệ, ngăn chặn những người không quen biết và cho phép những người quen biết vào. Khi đi tuần tra con đường vòng quanh thành trì ấy, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, dù chỉ nhỏ bằng một con mèo chui qua. Người ấy suy nghĩ như sau: ‘Bất cứ chúng sanh to lớn nào vào hay ra khỏi thành trì này, tất cả đều phải đi qua cánh cửa này’. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con biết được dòng pháp: ‘Bạch Thế Tôn, những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, đã tu tập bảy giác chi như thật, và đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Bạch Thế Tôn, những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác trong tương lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, sẽ an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, sẽ tu tập bảy giác chi như thật, và sẽ chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Và bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, đã an trú tâm vững chắc trong bốn niệm xứ, đã tu tập bảy giác chi như thật, và đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác’.”
Tatrapi sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharanto pāvārikambavane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And while staying at Nāḷandā, too, the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
147. Và tại Nālandā, khi đang trú tại vườn xoài của Pāvārika, Thế Tôn cũng thường thuyết pháp cho các Tỳ-kheo về những điều này: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được tu tập trên nền tảng giới thì có quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ được tu tập trên nền tảng định thì có quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập trên nền tảng tuệ thì hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu”.
Sự nguy hại của việc phá giới
Atha kho bhagavā nāḷandāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena pāṭaligāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāṭaligāmo tadavasari.
Assosuṁ kho pāṭaligāmikā upāsakā: “bhagavā kira pāṭaligāmaṁ anuppatto”ti. Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “adhivāsetu no, bhante, bhagavā āvasathāgāran”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ āvasathāgāraṁ santharitvā āsanāni paññapetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telapadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “sabbasantharisanthataṁ, bhante, āvasathāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telapadīpo āropito; yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi. Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantameva purakkhatvā. Pāṭaligāmikāpi kho upāsakā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantameva purakkhatvā.
(…)
When the Buddha had stayed in Nāḷandā as long as he pleased, he addressed Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Pāṭali Village.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Pāṭali Village.
The lay followers of Pāṭali Village heard that he had arrived. So they went to see him, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, please consent to come to our guest house.” The Buddha consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, the lay followers of Pāṭali Village rose from their seats, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the guest house, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha, bowed, stood to one side, and told him of their preparations, saying: “Please, sir, come at your convenience.”
In the morning, the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the guest house together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet, he entered the guest house and sat against the central column facing east. The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the guest house, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them. The lay followers of Pāṭali Village also washed their feet, entered the guest house, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them.
148. Khi ấy, Thế Tôn, sau khi đã trú ở Nālandā tùy theo ý muốn, liền gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Pāṭali”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Khi ấy, Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến làng Pāṭali. Các cư sĩ làng Pāṭali nghe tin: “Thế Tôn đã đến làng Pāṭali”. Khi ấy, các cư sĩ làng Pāṭali đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các cư sĩ làng Pāṭali bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nhận lời mời đến nhà nghỉ của chúng con”. Thế Tôn đã im lặng nhận lời. Khi ấy, các cư sĩ làng Pāṭali, biết được Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh rồi đi đến nhà nghỉ; sau khi đến, họ trải khắp nhà nghỉ bằng các loại thảm, sắp đặt chỗ ngồi, đặt một bình nước, và thắp một ngọn đèn dầu, rồi đi đến nơi Thế Tôn ở. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, các cư sĩ làng Pāṭali bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, nhà nghỉ đã được trải thảm khắp nơi, chỗ ngồi đã được sắp đặt, bình nước đã được đặt, và đèn dầu đã được thắp lên. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy làm những gì Ngài cho là phải thời”. Khi ấy, vào buổi chiều, Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với chúng Tỳ-kheo đi đến nhà nghỉ. Sau khi đến, Ngài rửa chân, bước vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào cột trụ giữa, mặt hướng về phía đông. Chúng Tỳ-kheo cũng rửa chân, bước vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với Thế Tôn ở trước mặt. Các cư sĩ làng Pāṭali cũng rửa chân, bước vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với Thế Tôn ở trước mặt.
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake āmantesi:
“pañcime, gahapatayo, ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. Katame pañca?
Idha, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati. Ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Then the Buddha addressed them:
“Householders, there are these five drawbacks for an unethical person because of their failure in ethics. What five?
Firstly, an unethical person loses great wealth on account of negligence. This is the first drawback for an unethical person because of their failure in ethics.
149. Khi ấy, đức Thế Tôn đã gọi các vị cận sự nam ở làng Pāṭali và dạy rằng: “Này các gia chủ, có năm điều nguy hại này đối với người ác giới, do giới bị hư hoại. Năm điều ấy là gì? Này các gia chủ, ở đây, người ác giới, người có giới bị hư hoại, do sự phóng dật, phải chịu sự tổn thất lớn về tài sản. Đây là điều nguy hại thứ nhất đối với người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati. Ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person gets a bad reputation. This is the second drawback.
Lại nữa, này các gia chủ, tiếng xấu đồn xa về người ác giới, người có giới bị hư hoại. Đây là điều nguy hại thứ hai đối với người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ—avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto. Ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person enters any kind of assembly unconfident and embarrassed, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third drawback.
Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, người có giới bị hư hoại, khi đi đến bất cứ hội chúng nào – hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn – người ấy đi đến với tâm trạng thiếu tự tin, bối rối. Đây là điều nguy hại thứ ba đối với người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti. Ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person feels lost when they die. This is the fourth drawback.
Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, người có giới bị hư hoại, khi chết thì tâm bị mê loạn. Đây là điều nguy hại thứ tư đối với người ác giới, do giới bị hư hoại.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati. Ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Ime kho, gahapatayo, pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
Furthermore, an unethical person, when their body breaks up, after death, is reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell. This is the fifth drawback.
These are the five drawbacks for an unethical person because of their failure in ethics.
Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, người có giới bị hư hoại, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là điều nguy hại thứ năm đối với người ác giới, do giới bị hư hoại. Này các gia chủ, đây chính là năm điều nguy hại đối với người ác giới, do giới bị hư hoại.
Phước Báu Của Người Có Giới
Pañcime, gahapatayo, ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya. Katame pañca?
Idha, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati. Ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
There are these five benefits for an ethical person because of their accomplishment in ethics. What five?
Firstly, an ethical person gains great wealth on account of diligence. This is the first benefit.
150. Này các gia chủ, có năm phước báu này đối với người có giới, do giới được viên mãn. Năm điều ấy là gì? Này các gia chủ, ở đây, người có giới, người có giới được viên mãn, do sự không phóng dật, được hưởng khối tài sản lớn. Đây là phước báu thứ nhất đối với người có giới, do giới được viên mãn.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati. Ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person gets a good reputation. This is the second benefit.
Lại nữa, này các gia chủ, tiếng tốt đồn xa về người có giới, người có giới được viên mãn. Đây là phước báu thứ hai đối với người có giới, do giới được viên mãn.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto. Ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person enters any kind of assembly bold and self-assured, whether it’s an assembly of aristocrats, brahmins, householders, or ascetics. This is the third benefit.
Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, người có giới được viên mãn, khi đi đến bất cứ hội chúng nào – hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là hội chúng Sa-môn – người ấy đi đến với tâm trạng tự tin, không bối rối. Đây là phước báu thứ ba đối với người có giới, do giới được viên mãn.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti. Ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Furthermore, an ethical person dies not feeling lost. This is the fourth benefit.
Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, người có giới được viên mãn, khi chết thì tâm không bị mê loạn. Đây là phước báu thứ tư đối với người có giới, do giới được viên mãn.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Ime kho, gahapatayo, pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāyā”ti.
Furthermore, when an ethical person’s body breaks up, after death, they’re reborn in a good place, a heavenly realm. This is the fifth benefit.
These are the five benefits for an ethical person because of their accomplishment in ethics.”
Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, người có giới được viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, cõi trời. Đây là phước báu thứ năm đối với người có giới, do giới được viên mãn. Này các gia chủ, đây chính là năm phước báu đối với người có giới, do giới được viên mãn.”
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi: “abhikkantā kho, gahapatayo, ratti, yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu. Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāṭaligāmikesu upāsakesu suññāgāraṁ pāvisi.
The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the lay followers of Pāṭali Village with a Dhamma talk. Then he sent them off, “The night is getting late, householders. Please go at your convenience.”
“Yes, sir,” replied the lay followers of Pāṭali Village. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving. Soon after they left the Buddha entered a private cubicle.
151. Khi ấy, đức Thế Tôn đã dùng bài pháp thoại thuyết giảng cho các vị cận sự nam ở làng Pāṭali cho đến khuya, đã chỉ dạy, đã khích lệ, đã làm cho phấn khởi, đã làm cho hoan hỷ, rồi cho họ ra về: “Này các gia chủ, đêm đã gần tàn. Giờ đây, các vị hãy làm những gì các vị nghĩ là phải thời.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Các vị cận sự nam ở làng Pāṭali đã vâng đáp đức Thế Tôn, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra về. Sau khi các vị cận sự nam ở làng Pāṭali ra về không bao lâu, đức Thế Tôn đã đi vào ngôi nhà trống.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya. Tena samayena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhanti. Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Now at that time the Magadhan chief ministers Sunidha and Vassakāra were building a citadel at Pāṭali Village to keep the Vajjis out. At that time thousands of deities were taking possession of building sites in Pāṭali Village. Illustrious rulers or royal ministers inclined to build houses at sites possessed by illustrious deities. Middling rulers or royal ministers inclined to build houses at sites possessed by middling deities.
Việc Xây Dựng Thành Pāṭaliputta
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo. Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “Ke nu kho, ānanda, pāṭaligāme nagaraṁ māpentī”ti?
“Sunidhavassakārā, bhante, magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāyā”ti.
“Seyyathāpi, ānanda, devehi tāvatiṁsehi saddhiṁ mantetvā; evameva kho, ānanda, sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya. Idhāhaṁ, ānanda, addasaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo. Yasmiṁ, ānanda, padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yāvatā, ānanda, ariyaṁ āyatanaṁ yāvatā vaṇippatho idaṁ agganagaraṁ bhavissati pāṭaliputtaṁ puṭabhedanaṁ. Pāṭaliputtassa kho, ānanda, tayo antarāyā bhavissanti—aggito vā udakato vā mithubhedā vā”ti.
With clairvoyance that is purified and superhuman, the Buddha saw those deities taking possession of building sites in Pāṭali Village. The Buddha rose at the crack of dawn and addressed Ānanda, “Ānanda, who is building a citadel at Pāṭali Village?”
“Sir, the Magadhan ministers Sunidha and Vassakāra are building a citadel to keep the Vajjis out.”
“It’s as if they were building the citadel in consultation with the gods of the thirty-three. With clairvoyance that is purified and superhuman, I saw those deities taking possession of building sites. Illustrious rulers or royal ministers inclined to build houses at sites possessed by illustrious deities. Middling rulers or royal ministers inclined to build houses at sites possessed by middling deities. Lesser rulers or royal ministers inclined to build houses at sites possessed by lesser deities. As far as the civilized region extends, as far as the trading zone extends, this will be the chief city: the Pāṭaliputta trade center. But Pāṭaliputta will face three threats: from fire, flood, and dissension.”
152. Vào lúc bấy giờ, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī. Vào lúc ấy, rất nhiều chư thiên, hằng ngàn vị, đang chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Ở khu vực nào mà các chư thiên có đại thần lực chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có đại thần lực hướng về việc xây dựng nhà cửa. Ở khu vực nào mà các chư thiên có thần lực trung bình chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có thần lực trung bình hướng về việc xây dựng nhà cửa. Ở khu vực nào mà các chư thiên có thần lực thấp kém chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có thần lực thấp kém hướng về việc xây dựng nhà cửa. Đức Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài mắt người thường, đã thấy các vị chư thiên ấy, hằng ngàn vị, đang chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Rồi, Đức Thế Tôn, vào lúc rạng đông, sau khi thức dậy, đã gọi Tôn giả Ānanda và hỏi: ‘Này Ānanda, ai đang xây dựng thành phố ở làng Pāṭali vậy?’ ‘Bạch Thế Tôn, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī.’ ‘Này Ānanda, cũng giống như thể đã bàn bạc với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba, cũng vậy, này Ānanda, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī. Này Ānanda, tại đây, Ta đã thấy với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài mắt người thường, rất nhiều chư thiên, hằng ngàn vị, đang chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Này Ānanda, ở khu vực nào mà các chư thiên có đại thần lực chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có đại thần lực hướng về việc xây dựng nhà cửa. Ở khu vực nào mà các chư thiên có thần lực trung bình chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có thần lực trung bình hướng về việc xây dựng nhà cửa. Ở khu vực nào mà các chư thiên có thần lực thấp kém chiếm giữ đất, thì ở đó tâm của các vị vua và các vị đại thần có thần lực thấp kém hướng về việc xây dựng nhà cửa. Này Ānanda, trong chừng mực là nơi ở của bậc Thánh, trong chừng mực là đường buôn bán, thành phố này, Pāṭaliputta, sẽ là thành phố hàng đầu, là trung tâm thương mại. Này Ānanda, sẽ có ba mối nguy hiểm cho Pāṭaliputta: do lửa, do nước, hoặc do chia rẽ nội bộ.’
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu, ekamantaṁ ṭhitā kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “adhivāsetu no bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā yena sako āvasatho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sake āvasathe paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesuṁ: “kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Then the Magadhan ministers Sunidha and Vassakāra approached the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they stood to one side and said, “Would the worthy Gotama together with the mendicant Saṅgha please accept today’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, they went to their own guest house, where they had delicious fresh and cooked foods prepared. Then they had the Buddha informed of the time, saying, “It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.”
153. Rồi, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, họ đã cùng Đức Thế Tôn nói lời chào hỏi vui vẻ; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, họ đã đứng sang một bên. Đứng một bên, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Xin Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của chúng tôi cho ngày hôm nay.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Rồi, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra, khi biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, đã đi đến nhà nghỉ của mình; sau khi đến, họ đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại nhà nghỉ của mình, rồi cho báo thời gian đến Đức Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ āvasatho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesuṁ sampavāresuṁ. Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinne kho sunidhavassakāre magadhamahāmatte bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to their guest house together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out. Then Sunidha and Vassakāra served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with their own hands with delicious fresh and cooked foods. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Sunidha and Vassakāra took a low seat and sat to one side.
The Buddha expressed his appreciation with these verses:
Rồi, Đức Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng đi đến nhà nghỉ của các vị đại thần xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra; sau khi đến, Ngài đã ngồi vào chỗ đã được soạn sẵn. Rồi, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã tự tay phục vụ Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu bằng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và từ chối. Rồi, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra, khi thấy Đức Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, họ đã lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi sang một bên. Khi các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã ngồi sang một bên, Đức Thế Tôn đã tùy hỷ với họ bằng những câu kệ này:
“Yasmiṁ padese kappeti, vāsaṁ paṇḍitajātiyo; Sīlavantettha bhojetvā, saññate brahmacārayo.
“In the place he makes his dwelling, having fed the astute and the virtuous here, the restrained spiritual practitioners,
‘Ở nơi nào người trí trú ngụ, tại nơi ấy, sau khi cúng dường vật thực đến các bậc giới hạnh, tự chế, sống đời phạm hạnh,
Yā tattha devatā āsuṁ, tāsaṁ dakkhiṇamādise; Tā pūjitā pūjayanti, mānitā mānayanti naṁ.
he should dedicate an offering to the deities there. Venerated, they venerate him; honored, they honor him.
Vị ấy nên hồi hướng phước báu đến các chư thiên có mặt tại đó; các vị ấy, khi được cúng dường, sẽ cúng dường lại, khi được tôn trọng, sẽ tôn trọng lại người ấy.
Tato naṁ anukampanti, mātā puttaṁva orasaṁ; Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passatī”ti.
After that they have sympathy for him, like a mother the child at her breast. A man beloved of the deities always sees nice things.”
Do đó, họ thương tưởng người ấy, như mẹ thương con ruột của mình. Người được chư thiên thương tưởng, luôn luôn thấy được những điều tốt lành.’
Atha kho bhagavā sunidhavassakāre magadhamahāmatte imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
When the Buddha had expressed his appreciation to Sunidha and Vassakāra with these verses, he rose from his seat and left.
Rồi, Đức Thế Tôn, sau khi tùy hỷ với các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra bằng những câu kệ này, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti: “yenajja samaṇo gotamo dvārena nikkhamissati, taṁ gotamadvāraṁ nāma bhavissati. Yena titthena gaṅgaṁ nadiṁ tarissati, taṁ gotamatitthaṁ nāma bhavissatī”ti.
Atha kho bhagavā yena dvārena nikkhami, taṁ gotamadvāraṁ nāma ahosi.
Atha kho bhagavā yena gaṅgā nadī tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena gaṅgā nadī pūrā hoti samatittikā kākapeyyā. Appekacce manussā nāvaṁ pariyesanti, appekacce uḷumpaṁ pariyesanti, appekacce kullaṁ bandhanti apārā, pāraṁ gantukāmā. Atha kho bhagavā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—gaṅgāya nadiyā orimatīre antarahito pārimatīre paccuṭṭhāsi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Addasā kho bhagavā te manusse appekacce nāvaṁ pariyesante appekacce uḷumpaṁ pariyesante appekacce kullaṁ bandhante apārā pāraṁ gantukāme. Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Sunidha and Vassakāra followed behind the Buddha, thinking, “The gate through which the ascetic Gotama exits today shall be named the Gotama Gate. The ford at which he crosses the Ganges River shall be named the Gotama Ford.”
Then the gate through which the Buddha exited was named the Gotama Gate.
Then the Buddha came to the Ganges River.
Now at that time the Ganges was full to the brim so a crow could drink from it. Wanting to cross from the near to the far shore, some people were seeking a boat, some a dinghy, while some were tying up a raft. But, as easily as a strong person would extend or contract their arm, the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, vanished from the near shore and landed on the far shore.
He saw all those humans wanting to cross over. Knowing the meaning of this, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
154. Vào lúc bấy giờ, các vị đại thần xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đi theo sau lưng đức Thế Tôn, (nghĩ rằng): ‘Hôm nay, Sa-môn Gotama sẽ đi ra bằng cổng nào thì cổng ấy sẽ được đặt tên là cổng Gotama. Ngài sẽ vượt qua sông Gaṅgā ở bến nào thì bến ấy sẽ được đặt tên là bến Gotama.’ Và rồi, đức Thế Tôn đã đi ra bằng cổng nào thì cổng ấy được đặt tên là cổng Gotama. Và rồi, đức Thế Tôn đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā nước dâng đầy, bằng phẳng với bờ, quạ có thể uống được. Một số người muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia đang tìm thuyền, một số đang tìm bè gỗ, một số đang kết bè tre. Và rồi, đức Thế Tôn – ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hoặc co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy – đã biến mất khỏi bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra ở bờ bên kia cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế Tôn đã thấy những người ấy, một số đang tìm thuyền, một số đang tìm bè gỗ, một số đang kết bè tre, muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. Và rồi, đức Thế Tôn, sau khi biết được ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ye taranti aṇṇavaṁ saraṁ, Setuṁ katvāna visajja pallalāni; Kullañhi jano bandhati, Tiṇṇā medhāvino janā”ti.
“Those who cross a deluge or stream have built a bridge and left the marshes behind. While some people are still tying a raft, intelligent people have crossed over.”
‘Những ai vượt qua biển cả, dòng sông, đã xây cầu, từ bỏ các vũng lầy; Chúng sanh thì kết bè, còn bậc trí tuệ thì đã vượt qua.’
Paṭhamabhāṇavāro.
The first recitation section.
Phẩm thứ nhất.
Lời thuyết giảng về các Thánh đế
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena koṭigāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena koṭigāmo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā koṭigāme viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the village of Koṭi.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at the village of Koṭi, and stayed there.
There he addressed the mendicants:
155. Và rồi, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Koṭi.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn. Và rồi, đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu đông đảo đã đi đến làng Koṭi. Tại đó, đức Thế Tôn trú tại làng Koṭi. Tại đó, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
“Catunnaṁ, bhikkhave, ariyasaccānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Katamesaṁ catunnaṁ? Dukkhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Dukkhasamudayassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Dukkhanirodhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Tayidaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Mendicants, due to not understanding and not penetrating four noble truths, both you and I have wandered and transmigrated for such a very long time. What four? The noble truths of suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the practice that leads to the cessation of suffering. These noble truths of suffering, origin, cessation, and the path have been understood and comprehended. Craving for continued existence has been cut off; the leash to existence is ended; now there’ll be no more future lives.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
‘Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập bốn Thánh đế mà Như Lai và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Bốn Thánh đế nào? Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập Thánh đế về Khổ mà Như Lai và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ mà Như Lai và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập Thánh đế về Sự Chấm Dứt Khổ mà Như Lai và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập Thánh đế về Con Đường Dẫn Đến Sự Chấm Dứt Khổ mà Như Lai và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Sự Chấm Dứt Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Con Đường Dẫn Đến Sự Chấm Dứt Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; ái dục về sự hiện hữu đã được nhổ bật gốc, dây dẫn đến sự hiện hữu đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.’ Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Catunnaṁ ariyasaccānaṁ, yathābhūtaṁ adassanā; Saṁsitaṁ dīghamaddhānaṁ, tāsu tāsveva jātisu.
“Because of not truly seeing the four noble truths, we have transmigrated for a long time from one rebirth to the next.
‘Do không thấy bốn Thánh đế, như chúng thực sự là; nên đã luân hồi trong một thời gian dài, trong các kiếp sống này và kiếp sống khác.
Tāni etāni diṭṭhāni, bhavanetti samūhatā; Ucchinnaṁ mūlaṁ dukkhassa, natthi dāni punabbhavo”ti.
But now that these truths have been seen, the leash to existence is eradicated. The root of suffering is cut off, now there’ll be no more future lives.”
Những Thánh đế này đã được thấy, dây dẫn đến sự hiện hữu đã được nhổ bật gốc; gốc rễ của khổ đã được cắt đứt, nay không còn tái sanh nữa.’
Tatrapi sudaṁ bhagavā koṭigāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And while staying at the village of Koṭi, too, the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
Tại làng Koṭi đó, trong khi đang trú ngụ, đức Thế Tôn thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ khưu về pháp thoại này: ‘Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được thấm nhuần bởi giới thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được thấm nhuần bởi định thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được thấm nhuần bởi tuệ thì được giải thoát hoàn toàn khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.’
Người có sự giác ngộ về pháp không-trở-lại làm nơi nương tựa cuối cùng.
Atha kho bhagavā koṭigāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena nātikā tenupaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nātikā tadavasari. Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “sāḷho nāma, bhante, bhikkhu nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo? Nandā nāma, bhante, bhikkhunī nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo? Sudatto nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo? Sujātā nāma, bhante, upāsikā nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo? Kukkuṭo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo? Kāḷimbo nāma, bhante, upāsako …pe… nikaṭo nāma, bhante, upāsako … kaṭissaho nāma, bhante, upāsako … tuṭṭho nāma, bhante, upāsako … santuṭṭho nāma, bhante, upāsako … bhaddo nāma, bhante, upāsako … subhaddo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
When the Buddha had stayed in the village of Koṭi as long as he pleased, he said to Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the land of the Ñātikas.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived in the land of the Ñātikas, where he stayed in the brick house at Ñātika.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, the monk named Sāḷha has passed away in Ñātika. Where has he been reborn in his next life? The nun named Nandā, the layman named Sudatta, and the laywoman named Sujātā have passed away in Ñātika. Where have they been reborn in the next life? The laymen named Kakkaṭa, Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, and Subhadda have passed away in Ñātika. Where have they been reborn in the next life?”
156. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi an trú tại làng Koṭi tùy ý thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Nādikā.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn,’ Tôn giả Ānanda đã vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ-khưu, đã đi đến làng Nādikā. Tại đó, ở Nādikā, Thế Tôn trú tại Giñjakāvasatha (Nhà Gạch). Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-khưu Sāḷha đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, Tỳ-khưu-ni Nandā đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Sudatta đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujātā đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Kukkuṭa đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Kāḷimba... (như trên)... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Nikaṭa... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Kaṭissaha... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Tuṭṭha... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Santuṭṭha... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Bhadda... Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nādikā, sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao?’
“Sāḷho, ānanda, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Nandā, ānanda, bhikkhunī pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyinī anāvattidhammā tasmā lokā.
Sudatto, ānanda, upāsako tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissati.
Sujātā, ānanda, upāsikā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
Kukkuṭo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Kāḷimbo, ānanda, upāsako …pe… nikaṭo, ānanda, upāsako … kaṭissaho, ānanda, upāsako … tuṭṭho, ānanda, upāsako … santuṭṭho, ānanda, upāsako … bhaddo, ānanda, upāsako … subhaddo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Paropaññāsaṁ, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā, pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā.
Sādhikā navuti, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Sātirekāni, ānanda, pañcasatāni nātike upāsakā kālaṅkatā, tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
“Ānanda, the monk Sāḷha had realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements.
The nun Nandā had ended the five lower fetters. She’s been reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world.
The layman Sudatta had ended three fetters, and weakened greed, hate, and delusion. He’s a once-returner; he will come back to this world once only, then make an end of suffering.
The laywoman Sujātā had ended three fetters. She’s a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
The laymen Kakkaṭa, Kaḷibha, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, and Subhadda had ended the five lower fetters. They’ve been reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world.
Over fifty laymen in Ñātika have passed away having ended the five lower fetters. They’ve been reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world.
More than ninety laymen in Ñātika have passed away having ended three fetters, and weakened greed, hate, and delusion. They’re once-returners, who will come back to this world once only, then make an end of suffering.
More than five hundred laymen in Ñātika have passed away having ended three fetters. They’re stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
157. ‘Này Ānanda, Tỳ-khưu Sāḷha, do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ và đạt đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này Ānanda, Tỳ-khưu-ni Nandā, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại thế giới này nữa. Này Ānanda, nam cư sĩ Sudatta, do đoạn tận ba kiết sử, và do làm cho tham, sân, si trở nên mỏng nhẹ, là bậc Nhất lai, sẽ chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau. Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujātā, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ. Này Ānanda, nam cư sĩ Kukkuṭa, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại thế giới này nữa. Này Ānanda, nam cư sĩ Kāḷimba... (như trên)... Này Ānanda, nam cư sĩ Nikaṭa... Này Ānanda, nam cư sĩ Kaṭissaha... Này Ānanda, nam cư sĩ Tuṭṭha... Này Ānanda, nam cư sĩ Santuṭṭha... Này Ānanda, nam cư sĩ Bhadda... Này Ānanda, nam cư sĩ Subhadda, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại thế giới này nữa. Này Ānanda, hơn năm mươi vị nam cư sĩ ở Nādikā đã mệnh chung, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là những vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không còn trở lại thế giới này nữa. Này Ānanda, hơn chín mươi vị nam cư sĩ ở Nādikā đã mệnh chung, do đoạn tận ba kiết sử, và do làm cho tham, sân, si trở nên mỏng nhẹ, là những bậc Nhất lai, sẽ chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi chấm dứt khổ đau. Này Ānanda, hơn năm trăm vị nam cư sĩ ở Nādikā đã mệnh chung, do đoạn tận ba kiết sử, là những bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ.’
Pháp Môn Pháp Kính
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, ānanda, yaṁ manussabhūto kālaṁ kareyya. Tasmiṁyeva kālaṅkate tathāgataṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ pucchissatha, vihesā hesā, ānanda, tathāgatassa.
Tasmātihānanda, dhammādāsaṁ nāma dhammapariyāyaṁ desessāmi, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
It’s no wonder that a human being should pass away. But if you should come and ask me about it each and every time someone passes away, that would be a bother for me.
So Ānanda, I will teach you the explanation of the Dhamma named ‘the mirror of the teaching’. A noble disciple who has this may declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’
158. ‘Này Ānanda, việc một người đã sanh ra làm người rồi qua đời, điều ấy không có gì là lạ. Nhưng nếu mỗi khi có người qua đời, các ngươi lại đến Như Lai và hỏi về việc ấy, thì này Ānanda, điều đó thật là phiền nhiễu cho Như Lai. Vì vậy, này Ānanda, Ta sẽ thuyết giảng pháp môn tên là Pháp Kính, nhờ pháp môn này, một vị Thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận sanh thú bàng sanh, đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ.’’
Katamo ca so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti?
And what is that mirror of the teaching?
159. ‘Và này Ānanda, thế nào là pháp môn Pháp Kính ấy, nhờ pháp môn này, một vị Thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận sanh thú bàng sanh, đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ’?’
Idhānanda, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
‘Này Ānanda, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’’
Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
‘Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Chánh Pháp rằng: ‘Chánh Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu.’’
Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
They have experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’
Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng chúng: ‘Tăng chúng, đệ tử của đức Thế Tôn, là những vị khéo hành trì; Tăng chúng, đệ tử của đức Thế Tôn, là những vị thẳng thắn hành trì; Tăng chúng, đệ tử của đức Thế Tôn, là những vị như lý hành trì; Tăng chúng, đệ tử của đức Thế Tôn, là những vị chơn chánh hành trì; tức là bốn đôi tám vị. Tăng chúng, đệ tử của đức Thế Tôn này đáng được cúng dường, đáng được nghinh đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời’.
Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññūpasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi.
And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.
Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, không bị bể vụn, không bị tỳ vết, không bị ô nhiễm, có tác dụng giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, và có tác dụng đưa đến định.
Ayaṁ kho so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
This is that mirror of the teaching.”
Này Ānanda, đây chính là pháp môn Pháp Kính (tấm gương Chánh Pháp), nhờ thành tựu pháp môn này, vị Thánh đệ tử nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình rằng: ‘Đối với ta, địa ngục đã được đoạn tận, loài súc sanh đã được đoạn tận, cõi ngạ quỷ đã được đoạn tận, các cõi dữ, ác thú, đọa xứ đã được đoạn tận. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ đạt đến chánh giác’.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharanto giñjakāvasathe etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
And while staying there in Ñātika the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
Và tại Nātika, trong khi đang trú tại ngôi nhà gạch, đức Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng bài pháp này cho các vị tỳ khưu –
“Iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
(…)
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
‘Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được tu tập trên nền tảng của giới sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ được tu tập trên nền tảng của định sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập trên nền tảng của tuệ sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu’.
Atha kho bhagavā nātike yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena vesālī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati ambapālivane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
When the Buddha had stayed in Ñātika as long as he pleased, he addressed Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Vesālī.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Vesālī, where he stayed in Ambapālī’s Mango Grove.
There the Buddha addressed the mendicants:
160. Khi ấy, sau khi đã trú ở Nātika tùy theo ý muốn, đức Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī.’ Tôn giả Ānanda vâng đáp đức Thế Tôn: ‘Thưa vâng, bạch Thế Tôn.’ Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến Vesālī. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở vườn xoài của Ambapālī. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu:
“Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno, ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu vedanānupassī …pe… citte cittānupassī …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
“Mendicants, a mendicant should live mindful and aware. This is my instruction to you.
And how is a mendicant mindful? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant is mindful.
‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu phải sống có chánh niệm, tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có chánh niệm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có chánh niệm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti. Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno, ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
And how is a mendicant aware? It’s when a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent. That’s how a mendicant is aware. A mendicant should live mindful and aware. This is my instruction to you.”
‘Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có tỉnh giác? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui; có tỉnh giác khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh; có tỉnh giác khi co tay, khi duỗi tay; có tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát và y; có tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm; có tỉnh giác khi đi đại tiện, tiểu tiện; có tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có tỉnh giác. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu phải sống có chánh niệm, tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi’.
Kỹ nữ Ambapālī
Assosi kho ambapālī gaṇikā: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti. Atha kho ambapālī gaṇikā bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyāsi. Yena sako ārāmo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ambapāliṁ gaṇikaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Ambapālī the courtesan heard that the Buddha had arrived and was staying in her mango grove. She had the finest carriages harnessed. Then she mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out from Vesālī for her own park. She went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha on foot. She bowed and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired her with a Dhamma talk.
Then she said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence. Then, knowing that the Buddha had consented, Ambapālī rose from her seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on her right, before leaving.
161. Kỹ nữ Ambapālī nghe tin: ‘Đức Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của ta.’ Khi ấy, kỹ nữ Ambapālī cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, rồi nàng lên một cỗ xe tốt đẹp, cùng với những cỗ xe tốt đẹp khác đi ra khỏi Vesālī. Nàng đi đến khu vườn của mình. Đi xe cho đến khi con đường còn đi xe được, rồi nàng xuống xe và đi bộ đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, nàng đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho kỹ nữ Ambapālī đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Khi ấy, sau khi được đức Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, kỹ nữ Ambapālī bạch với đức Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với chúng tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi ấy, kỹ nữ Ambapālī, biết được đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra về.
Assosuṁ kho vesālikā licchavī: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati ambapālivane”ti. Atha kho te licchavī bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyiṁsu. Tatra ekacce licchavī nīlā honti nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā, ekacce licchavī pītā honti pītavaṇṇā pītavatthā pītālaṅkārā, ekacce licchavī lohitā honti lohitavaṇṇā lohitavatthā lohitālaṅkārā, ekacce licchavī odātā honti odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Atha kho ambapālī gaṇikā daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesi. Atha kho te licchavī ambapāliṁ gaṇikaṁ etadavocuṁ: “kiṁ, je ambapāli, daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesī”ti?
“Tathā hi pana me, ayyaputtā, bhagavā nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Dehi, je ambapāli, etaṁ bhattaṁ satasahassenā”ti.
“Sacepi me, ayyaputtā, vesāliṁ sāhāraṁ dassatha, evamahaṁ taṁ bhattaṁ na dassāmī”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ:
The Licchavis of Vesālī also heard that the Buddha had arrived and was staying in Ambapālī’s Mango Grove. They had the finest carriages harnessed. Then they mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out from Vesālī. Some of the Licchavis were in blue, of blue color, clad in blue, adorned with blue. And some were similarly colored in yellow, red, or white.
Then Ambapālī the courtesan collided with those Licchavi youths, axle to axle, wheel to wheel, yoke to yoke. The Licchavis said to her, “What, you wench Ambapālī, are you doing colliding with us axle to axle, wheel to wheel, yoke to yoke?”
“Well, masters, it’s because I’ve invited the Buddha for tomorrow’s meal together with the mendicant Saṅgha.”
“Wench, give us that meal for a hundred thousand!”
“Masters, even if you were to give me Vesālī with her provinces, I still wouldn’t give that meal to you.”
Then the Licchavis snapped their fingers, saying,
Các vương tử Licchavi ở Vesālī nghe tin rằng: ‘Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của Ambapālī.’ Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, rồi lên những cỗ xe tốt đẹp, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp rời khỏi Vesālī. Trong số ấy, có một số vương tử Licchavi mặc y phục màu xanh, trang sức màu xanh, da dẻ màu xanh. Có một số vương tử Licchavi mặc y phục màu vàng, trang sức màu vàng, da dẻ màu vàng. Có một số vương tử Licchavi mặc y phục màu đỏ, trang sức màu đỏ, da dẻ màu đỏ. Có một số vương tử Licchavi mặc y phục màu trắng, trang sức màu trắng, da dẻ màu trắng. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī đã để trục xe của mình va vào trục xe, bánh xe của mình va vào bánh xe, ách xe của mình va vào ách xe của các vương tử Licchavi trẻ tuổi. Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy nói với kỹ nữ Ambapālī rằng: ‘Này Ambapālī, tại sao cô lại để trục xe của mình va vào trục xe, bánh xe của mình va vào bánh xe, ách xe của mình va vào ách xe của các vương tử Licchavi trẻ tuổi?’ ‘Thưa các công tử, vì con đã thỉnh Thế Tôn cùng Tăng chúng dùng bữa vào ngày mai.’ ‘Này Ambapālī, hãy nhường bữa ăn đó cho chúng tôi với giá một trăm ngàn.’ ‘Thưa các công tử, dù các ngài có cho con cả thành Vesālī cùng với lãnh địa của nó, con cũng sẽ không nhường bữa ăn đó.’ Bấy giờ, các vương tử Licchavi búng ngón tay và nói: ‘Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại! Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!’
Addasā kho bhagavā te licchavī dūratova āgacchante. Disvāna bhikkhū āmantesi: “yesaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ devā tāvatiṁsā adiṭṭhapubbā, oloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ; apaloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ; upasaṁharatha, bhikkhave, licchaviparisaṁ—tāvatiṁsasadisan”ti.
Atha kho te licchavī yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te licchavī bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho te licchavī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “adhivāsetu no, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Atha kho bhagavā te licchavī etadavoca: “adhivutthaṁ kho me, licchavī, svātanāya ambapāliyā gaṇikāya bhattan”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ: “jitamha vata bho ambakāya, jitamha vata bho ambakāyā”ti.
Atha kho te licchavī bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
The Buddha saw them coming off in the distance, and addressed the mendicants: “Any of the mendicants who’ve never seen the gods of the thirty-three before, just have a look at the assembly of Licchavis. See the assembly of Licchavis, check them out: they’re just like the thirty-three!”
The Licchavis went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha on foot. They bowed to the Buddha, sat down to one side, and the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
Then they said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, please accept tomorrow’s meal from us?”
Then the Buddha said to the Licchavis, “I have already accepted tomorrow’s meal from Ambapālī the courtesan.”
Then the Licchavis snapped their fingers, saying, “We’ve been beaten by the aunty! We’ve been beaten by the aunty!”
And then those Licchavis approved and agreed with what the Buddha said. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy đi đến vườn xoài của Ambapālī. Thế Tôn thấy các vương tử Licchavi ấy từ xa đi đến. Thấy vậy, Ngài gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào chưa từng thấy chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba, hãy nhìn hội chúng Licchavi; hãy ngắm kỹ hội chúng Licchavi; hãy so sánh hội chúng Licchavi với hội chúng chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba.’ Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy đi xe đến nơi nào còn có thể đi xe được, rồi xuống xe và đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các vương tử Licchavi ấy đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại. Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy, sau khi được Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của chúng con vào ngày mai.’ Bấy giờ, Thế Tôn nói với các vương tử Licchavi ấy rằng: ‘Này các Licchavi, Ta đã nhận lời mời dùng bữa của kỹ nữ Ambapālī vào ngày mai rồi.’ Bấy giờ, các vương tử Licchavi búng ngón tay và nói: ‘Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại! Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!’ Bấy giờ, các vương tử Licchavi ấy, sau khi hoan hỷ và tùy hỷ lời dạy của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi rời đi.
Atha kho ambapālī gaṇikā tassā rattiyā accayena sake ārāme paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi: “kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena ambapāliyā gaṇikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho ambapālī gaṇikā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ etadavoca: “imāhaṁ, bhante, ārāmaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī”ti.
Paṭiggahesi bhagavā ārāmaṁ.
Atha kho bhagavā ambapāliṁ gaṇikaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tatrapi sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharanto ambapālivane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And when the night had passed Ambapālī had delicious fresh and cooked foods prepared in her own park. Then she had the Buddha informed of the time, saying, “Sir, it’s time. The meal is ready.”
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Ambapālī together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out. Then Ambapālī served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with her own hands with delicious fresh and cooked foods.
When the Buddha had eaten and washed his hands and bowl, Ambapālī took a low seat, sat to one side, and said to the Buddha, “Sir, I present this park to the mendicant Saṅgha headed by the Buddha.”
The Buddha accepted the park.
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired her with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
And while staying at Vesālī, too, the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
162. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī, sau khi đêm ấy đã qua, cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, trong khu vườn của mình, rồi cho người báo thời gian đến Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng đi đến nhà của kỹ nữ Ambapālī; sau khi đến, Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī đã tự tay phục vụ Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu bằng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và không dùng nữa. Bấy giờ, khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, kỹ nữ Ambapālī lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, kỹ nữ Ambapālī bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường khu vườn này cho Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu.’ Thế Tôn đã nhận khu vườn. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ kỹ nữ Ambapālī bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và rời đi. Và tại Vesālī, trong khi trú tại vườn xoài của Ambapālī, Thế Tôn thường giảng bài pháp thoại này cho các Tỳ khưu: ‘Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được tu tập trên nền tảng giới sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ được tu tập trên nền tảng định sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập trên nền tảng tuệ sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.’
Việc nhập hạ tại làng Veḷuva
Atha kho bhagavā ambapālivane yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena veḷuvagāmako tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena veḷuvagāmako tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā veḷuvagāmake viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “etha tumhe, bhikkhave, samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upetha. Ahaṁ pana idheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upagacchiṁsu. Bhagavā pana tattheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchi.
When the Buddha had stayed in Ambapālī’s Mango Grove as long as he pleased, he addressed Venerable Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the little village of Beluva.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at the little village of Beluva, and stayed there.
There the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, please enter the rainy season residence with whatever friends or acquaintances you have around Vesālī. I’ll commence the rainy season residence right here in the little village of Beluva.”
“Yes, sir,” those mendicants replied. They did as the Buddha said, while the Buddha commenced the rainy season residence right there in the little village of Beluva.
163. Khi ấy, sau khi trú ngụ tại khu vườn xoài của Ambapālī tùy thích, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Veḷuva.” Tôn giả Ānanda vâng đáp đức Thế Tôn: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ khưu đi đến làng Veḷuva. Tại đó, đức Thế Tôn trú ngụ ở làng Veḷuva. Tại đấy, đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, các ngươi hãy đi an cư mùa mưa ở các vùng phụ cận Vesālī, nơi nào có bạn bè, người quen biết, người thân tín. Còn ta, ta sẽ an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva này.” Các vị Tỳ khưu ấy vâng đáp đức Thế Tôn: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” rồi đi an cư mùa mưa ở các vùng phụ cận Vesālī, nơi nào có bạn bè, người quen biết, người thân tín. Còn đức Thế Tôn thì an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva.
Atha kho bhagavato vassūpagatassa kharo ābādho uppajji, bāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā. Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno. Atha kho bhagavato etadahosi: “na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ parinibbāyeyyaṁ. Yannūnāhaṁ imaṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihareyyan”ti.
Atha kho bhagavā taṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihāsi. Atha kho bhagavato so ābādho paṭippassambhi.
Atha kho bhagavā gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā vihārā nikkhamma vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “diṭṭho me, bhante, bhagavato phāsu; diṭṭhaṁ me, bhante, bhagavato khamanīyaṁ, api ca me, bhante, madhurakajāto viya kāyo, disāpi me na pakkhāyanti, dhammāpi maṁ na paṭibhanti bhagavato gelaññena. Api ca me, bhante, ahosi kācideva assāsamattā: ‘na tāva bhagavā parinibbāyissati, na yāva bhagavā bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharatī’”ti.
After the Buddha had commenced the rainy season residence, he fell severely ill, struck by dreadful pains, close to death. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness. Then it occurred to the Buddha, “It would not be appropriate for me to be fully extinguished before informing my supporters and taking leave of the mendicant Saṅgha. Why don’t I forcefully suppress this illness, stabilize the life force, and live on?”
So that is what he did. Then the Buddha’s illness died down.
Soon after the Buddha had recovered from that sickness, he left his dwelling and sat in the shade of the porch on the seat spread out. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, it’s fantastic that the Buddha is comfortable and well. Because when the Buddha was sick, my body felt like it was drugged. I was disorientated, and the teachings didn’t spring to mind. Still, at least I was consoled by the thought that the Buddha won’t be fully extinguished without bringing something up regarding the Saṅgha of mendicants.”
164. Khi ấy, sau khi đức Thế Tôn đã an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, gần như muốn chết xảy đến. Đức Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn bệnh ấy mà không than van. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: “Thật không xứng đáng cho ta nếu ta nhập Vô Dư Niết Bàn mà không báo cho các thị giả biết, không từ biệt chúng Tỳ khưu. Vậy ta hãy dùng tinh tấn để dẹp trừ cơn bệnh này, quyết tâm duy trì mạng căn và tiếp tục sống.” Rồi đức Thế Tôn đã dùng tinh tấn để dẹp trừ cơn bệnh ấy, quyết tâm duy trì mạng căn và tiếp tục sống. Khi ấy, cơn bệnh của đức Thế Tôn đã thuyên giảm. Bấy giờ, đức Thế Tôn vừa khỏi bệnh, không lâu sau khi khỏi bệnh, Ngài đi ra khỏi tịnh xá và ngồi trên một chỗ đã soạn sẵn trong bóng mát phía sau tịnh xá. Khi ấy, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, con đã thấy đức Thế Tôn được an ổn; bạch Thế Tôn, con đã thấy đức Thế Tôn kham nhẫn được. Nhưng bạch Thế Tôn, thân của con như bị u mê, các phương hướng không hiện rõ cho con, và các pháp cũng không hiển lộ cho con vì bệnh của đức Thế Tôn. Tuy nhiên, bạch Thế Tôn, con vẫn còn một chút an ủi rằng: ‘Đức Thế Tôn sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, khi nào Ngài chưa có lời di huấn nào liên quan đến chúng Tỳ khưu.’”
“Kiṁ panānanda, bhikkhusaṅgho mayi paccāsīsati? Desito, ānanda, mayā dhammo anantaraṁ abāhiraṁ karitvā. Natthānanda, tathāgatassa dhammesu ācariyamuṭṭhi. Yassa nūna, ānanda, evamassa: ‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā, so nūna, ānanda, bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāhareyya. Tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā. Sakiṁ, ānanda, tathāgato bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharissati.
Ahaṁ kho panānanda, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayo anuppatto. Āsītiko me vayo vattati. Seyyathāpi, ānanda, jajjarasakaṭaṁ veṭhamissakena yāpeti; evameva kho, ānanda, veṭhamissakena maññe tathāgatassa kāyo yāpeti. Yasmiṁ, ānanda, samaye tathāgato sabbanimittānaṁ amanasikārā ekaccānaṁ vedanānaṁ nirodhā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, phāsutaro, ānanda, tasmiṁ samaye tathāgatassa kāyo hoti.
Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā. Kathañcānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo? Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati atāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Ye hi keci, ānanda, etarahi vā mama vā accayena attadīpā viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā, tamatagge me te, ānanda, bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti.
“But what could the mendicant Saṅgha expect from me, Ānanda? I’ve taught the Dhamma without making any distinction between secret and public teachings. The Realized One doesn’t have the closed fist of a tutor when it comes to the teachings. If there’s anyone who thinks: ‘I shall lead the mendicant Saṅgha,’ or ‘the Saṅgha of mendicants is meant for me,’ let them bring something up regarding the Saṅgha. But the Realized One doesn’t think like this, so why should he bring something up regarding the Saṅgha?
I’m now old, elderly and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life. I’m currently eighty years old. Just as a decrepit old cart is kept going by a rope, in the same way, the Realized One’s body is kept going as if by a rope. Sometimes the Realized One, not focusing on any signs, and with the cessation of certain feelings, enters and remains in the signless immersion of the heart. Only then does the Realized One’s body become more comfortable.
So Ānanda, live as your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge. And how does a mendicant do this? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant lives with themselves as island and refuge, without other refuge; with the teachings as island and refuge, without other refuge.
Whether now or after I have passed, any who shall live as their own island, their own refuge, with no other refuge; with the teaching as their island and their refuge, with no other refuge—those mendicants of mine who want to train shall be among the best of the best.”
165. “Này Ānanda, chúng Tỳ khưu còn mong đợi gì nữa ở ta? Này Ānanda, ta đã giảng dạy giáo pháp không phân biệt trong ngoài. Này Ānanda, trong các pháp của Như Lai không có nắm tay của vị đạo sư. Này Ānanda, người nào có ý nghĩ: ‘Ta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ khưu’ hay ‘Chúng Tỳ khưu phải nương tựa vào ta,’ thì người ấy mới cần có lời di huấn nào đó liên quan đến chúng Tỳ khưu. Này Ānanda, Như Lai không có ý nghĩ: ‘Ta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ khưu’ hay ‘Chúng Tỳ khưu phải nương tựa vào ta.’ Vậy thì, này Ānanda, tại sao Như Lai lại phải có lời di huấn nào đó liên quan đến chúng Tỳ khưu? Này Ānanda, nay ta đã già, đã trưởng thành, đã lớn tuổi, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi xế chiều. Tuổi của ta đã tám mươi. Này Ānanda, cũng như cỗ xe cũ kỹ phải được chằng buộc mới chạy được, này Ānanda, ta nghĩ rằng thân của Như Lai cũng vậy, phải được chằng buộc mới tồn tại được. Này Ānanda, vào lúc nào Như Lai, do không tác ý đến tất cả các tướng, do sự diệt của một số cảm thọ, chứng và trú vào Vô Tướng Tâm Định, thì này Ānanda, vào lúc ấy thân của Như Lai được an ổn hơn. Vì vậy, này Ānanda, hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình, hãy tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; hãy lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào điều gì khác. Và này Ānanda, thế nào là vị Tỳ khưu tự mình làm hòn đảo cho chính mình, tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào điều gì khác? Này Ānanda, ở đây, vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để loại trừ tham ưu ở đời. Quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để loại trừ tham ưu ở đời. Này Ānanda, như vậy là vị Tỳ khưu tự mình làm hòn đảo cho chính mình, tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào điều gì khác. Này Ānanda, những ai, hoặc hiện nay hoặc sau khi ta qua đời, tự mình làm hòn đảo cho chính mình, tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào điều gì khác, thì này Ānanda, những vị Tỳ khưu ấy của ta sẽ là những vị tối thượng, trong số những ai ham học hỏi.”
Dutiyabhāṇavāro.
The second recitation section.
Dứt chương thứ hai.
Lời Nói Về Dấu Hiệu Và Ám Chỉ
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi. Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gaṇhāhi, ānanda, nisīdanaṁ, yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkamissāma divā vihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Atha kho bhagavā yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Āyasmāpi kho ānando bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. Then, after the meal, on his return from almsround, he addressed Venerable Ānanda: “Ānanda, get your sitting cloth. Let’s go to the Cāpāla Shrine for the day’s meditation.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. Taking his sitting cloth he followed behind the Buddha.
Then the Buddha went up to the Cāpāla Shrine, where he sat down on the seat spread out. Ānanda bowed to the Buddha and sat down to one side.
166. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, dùng bữa xong, từ nơi khất thực trở về, ngài gọi Tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ. Chúng ta sẽ đi đến tháp miếu Cāpāla để nghỉ ban ngày. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn đi đến tháp miếu Cāpāla. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Tôn giả Ānanda cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca: “ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ; na bhagavantaṁ yāci: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Dutiyampi kho bhagavā …pe… tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ; na bhagavantaṁ yāci: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gaccha tvaṁ, ānanda, yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
The Buddha said to him: “Ānanda, Vesālī is lovely. And the Udena, Gotamaka, Seven Maidens, Many Sons, Sārandada, and Cāpāla Shrines are all lovely.
Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.”
But Ānanda didn’t get it, even though the Buddha dropped such an obvious hint, such a clear sign. He didn’t beg the Buddha: “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.” For his mind was as if possessed by Māra.
For a second time … And for a third time, the Buddha said to Ānanda: “Ānanda, Vesālī is lovely. And the Udena, Gotamaka, Seven Maidens, Many Sons, Sārandada, and Cāpāla Shrines are all lovely. Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.”
But Ānanda didn’t get it, even though the Buddha dropped such an obvious hint, such a clear sign. He didn’t beg the Buddha: “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.” For his mind was as if possessed by Māra.
Then the Buddha got up and said to Venerable Ānanda, “Go now, Ānanda, at your convenience.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before sitting at the root of a tree close by.
167. Khi Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên, Thế Tôn nói điều này: – Này Ānanda, Vesālī thật khả ái, tháp miếu Udena thật khả ái, tháp miếu Gotamaka thật khả ái, tháp miếu Sattamba thật khả ái, tháp miếu Bahuputta thật khả ái, tháp miếu Sārandada thật khả ái, tháp miếu Cāpāla thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành nhiều lần, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành vật nền tảng, làm cho vững chắc, làm cho thuần thục, làm cho khéo khởi sự bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành nhiều lần, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành vật nền tảng, làm cho vững chắc, làm cho thuần thục, làm cho khéo khởi sự bốn thần túc. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Dù Thế Tôn đã đưa ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, một gợi ý rõ ràng như vậy, Tôn giả Ānanda vẫn không thể hiểu thấu; ngài đã không thỉnh cầu Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, mong Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Cứ như thể tâm trí ngài đã bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai... Lần thứ ba, Thế Tôn lại gọi Tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, Vesālī thật khả ái, tháp miếu Udena thật khả ái, tháp miếu Gotamaka thật khả ái, tháp miếu Sattamba thật khả ái, tháp miếu Bahuputta thật khả ái, tháp miếu Sārandada thật khả ái, tháp miếu Cāpāla thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành nhiều lần, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành vật nền tảng, làm cho vững chắc, làm cho thuần thục, làm cho khéo khởi sự bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành nhiều lần, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành vật nền tảng, làm cho vững chắc, làm cho thuần thục, làm cho khéo khởi sự bốn thần túc. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Dù Thế Tôn đã đưa ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, một gợi ý rõ ràng như vậy, Tôn giả Ānanda vẫn không thể hiểu thấu; ngài đã không thỉnh cầu Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, mong Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Cứ như thể tâm trí ngài đã bị Ma vương ám ảnh. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, ngươi hãy đi, nay ngươi hãy làm những gì ngươi nghĩ là phải thời. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ngồi xuống dưới một gốc cây không xa.
Câu chuyện Ma vương thỉnh cầu
Atha kho māro pāpimā acirapakkante āyasmante ānande yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho māro pāpimā bhagavantaṁ etadavoca:
“parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato. Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhū bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
And then, not long after Ānanda had left, Māra the Wicked went up to the Buddha, stood to one side, and said to him:
“Sir, may the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha. Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have monk disciples who are competent, educated, assured, learned, have memorized the teachings, and practice in line with the principle of the teaching. Not until they practice properly, living in line with the teaching. Not until they’ve learned their denomination, and explain, teach, assert, establish, disclose, analyze, and make it clear. Not until they can legitimately and completely refute the doctrines of others that come up, and teach with a demonstrable basis.’
Today you do have such monk disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
168. Bấy giờ, khi Tôn giả Ānanda vừa đi khỏi không bao lâu, Ác ma Māra đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nó đứng một bên. Đứng một bên, Ác ma Māra bạch với Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, nay mong Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết-bàn, mong Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn nhập Vô dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, lời này đã được Thế Tôn nói ra: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô dư Niết-bàn, khi nào các Tỳ-kheo đệ tử của Ta chưa trở thành những vị thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo chánh pháp; sau khi học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, chưa có thể tuyên bố, giảng dạy, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; khi có tà thuyết của người khác khởi lên, chưa có thể dùng chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng giáo pháp có thần diệu.’ Nhưng bạch Thế Tôn, hiện nay các Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn đã thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống theo chánh pháp; sau khi học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, đã có thể tuyên bố, giảng dạy, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; khi có tà thuyết của người khác khởi lên, đã có thể dùng chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng giáo pháp có thần diệu. Bạch Thế Tôn, nay mong Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết-bàn, mong Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn nhập Vô dư Niết-bàn.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhuniyo bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have nun disciples who are competent, educated, self-assured, learned …’
Today you do have such nun disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
“Bạch ngài, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn chừng nào các vị tỳ khưu ni đệ tử của Ta chưa trở thành những vị thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, có thể tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, có thể dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu.’ Bạch ngài, nhưng nay các vị tỳ khưu ni đệ tử của Thế Tôn đã thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, các vị ấy tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, các vị ấy dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu. Bạch ngài, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch ngài, nay đã đến thời cho Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.”
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsakā bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have layman disciples who are competent, educated, self-assured, learned …’
Today you do have such layman disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
“Bạch ngài, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn chừng nào các vị nam cận sự đệ tử của Ta chưa trở thành những vị thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, có thể tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, có thể dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu.’ Bạch ngài, nhưng nay các vị nam cận sự đệ tử của Thế Tôn đã thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, các vị ấy tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, các vị ấy dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu. Bạch ngài, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch ngài, nay đã đến thời cho Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.”
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsikā bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have laywoman disciples who are competent, educated, self-assured, learned …’
Today you do have such laywoman disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
“Bạch ngài, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn chừng nào các vị nữ cận sự đệ tử của Ta chưa trở thành những vị thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, có thể tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, có thể dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu.’ Bạch ngài, nhưng nay các vị nữ cận sự đệ tử của Thế Tôn đã thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, thông suốt Giáo pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Chánh pháp; sau khi đã học hỏi giáo lý của bậc Đạo sư, các vị ấy tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và khi có tà thuyết của ngoại đạo khởi lên, các vị ấy dùng Chánh pháp để khéo léo bác bỏ và thuyết giảng Giáo pháp có khả năng đưa đến thần diệu. Bạch ngài, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch ngài, nay đã đến thời cho Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.”
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato”ti.
Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I will not be fully extinguished until my spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.’
Today your spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.”
“Bạch ngài, Thế Tôn đã từng nói lời này: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn chừng nào phạm hạnh này của Ta chưa được thịnh vượng, phát triển, phổ biến rộng rãi, được nhiều người biết đến, lan rộng, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên bố.’ Bạch ngài, nhưng nay phạm hạnh của Thế Tôn đã thịnh vượng, phát triển, phổ biến rộng rãi, được nhiều người biết đến, lan rộng, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên bố. Bạch ngài, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch ngài, nay đã đến thời cho Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.”
Evaṁ vutte, bhagavā māraṁ pāpimantaṁ etadavoca: “appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
Atha kho bhagavā cāpāle cetiye sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossaji. Ossaṭṭhe ca bhagavatā āyusaṅkhāre mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso, devadundubhiyo ca phaliṁsu. Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
When this was said, the Buddha said to Māra, “Relax, Wicked One. The full extinguishment of the Realized One will be soon. Three months from now the Realized One will be fully extinguished.”
So at the Cāpāla Shrine the Buddha, mindful and aware, surrendered the life force. When he did so there was a great earthquake, awe-inspiring and hair-raising, and thunder cracked the sky. Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
177. “Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với ác ma Māra lời này: ‘Này ác ma, ngươi hãy an tâm, không bao lâu nữa sự nhập Vô Dư Niết Bàn của Như Lai sẽ diễn ra. Sau ba tháng kể từ hôm nay, Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn.’ Này Ānanda, ngay bây giờ, hôm nay, tại điện Cāpāla, Như Lai với chánh niệm và tỉnh giác đã từ bỏ mạng hành.”
“Tulamatulañca sambhavaṁ, Bhavasaṅkhāramavassaji muni; Ajjhattarato samāhito, Abhindi kavacamivattasambhavan”ti.
“Comparing the incomparable <j>with the creation of prolonged life, the sage surrendered the life force. Happy inside, serene, he shattered self-creation like a suit of armor.”
“Bậc Mâu-ni đã từ bỏ hành nghiệp tạo tác sự sống, nguyên nhân của sự hiện hữu, cả tương đối và tuyệt đối. Với nội tâm an vui, tâm định tĩnh, Ngài đã phá tan sự hiện hữu của tự thân, giống như phá vỡ áo giáp.”
Nguyên Nhân Của Trận Động Đất Lớn
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, mahā vatāyaṁ bhūmicālo; sumahā vatāyaṁ bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu. Ko nu kho hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
Then Venerable Ānanda thought, “How incredible, how amazing! That was a really big earthquake! That was really a very big earthquake; awe-inspiring and hair-raising, and thunder cracked the sky! What’s the cause, what’s the reason for a great earthquake?”
170. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đã khởi lên ý nghĩ này: “Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật phi thường thay, chư vị! Trận động đất này thật là lớn; trận động đất này thật là vĩ đại, kinh hoàng, dựng tóc gáy; và trống trời cũng vang lên. Do nhân gì, do duyên gì mà trận động đất lớn này lại xuất hiện?”
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Mahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo; sumahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu. Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “How incredible, sir, how amazing! That was a really big earthquake! That was really a very big earthquake; awe-inspiring and hair-raising, and thunder cracked the sky! What’s the cause, what’s the reason for a great earthquake?”
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn lời này: ‘Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, trận động đất này thật là lớn! Bạch Thế Tôn, trận động đất này thật là rất lớn, thật kinh khiếp, thật rợn tóc gáy; và các trống trời đã vang rền. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, có sự xuất hiện của trận động đất lớn này?’
“Aṭṭha kho ime, ānanda, hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya. Katame aṭṭha?
Ayaṁ, ānanda, mahāpathavī udake patiṭṭhitā, udakaṁ vāte patiṭṭhitaṁ, vāto ākāsaṭṭho. Hoti kho so, ānanda, samayo, yaṁ mahāvātā vāyanti. Mahāvātā vāyantā udakaṁ kampenti. Udakaṁ kampitaṁ pathaviṁ kampeti. Ayaṁ paṭhamo hetu paṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
“Ānanda, there are these eight causes and reasons for a great earthquake. What eight?
This great earth is established on water, the water is established on air, and the air stands in space. At a time when a great wind blows, it stirs the water, and the water stirs the earth. This is the first cause and reason for a great earthquake.
171. ‘Này Ānanda, có tám nhân, tám duyên này cho sự xuất hiện của trận động đất lớn. Thế nào là tám? Này Ānanda, đại địa này được thiết lập trên nước, nước được thiết lập trên gió, gió được thiết lập trong hư không. Này Ānanda, có lúc những cơn gió lớn thổi. Khi những cơn gió lớn thổi, chúng làm nước rung động. Nước bị rung động làm cho đất rung động. Đây là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto, devo vā mahiddhiko mahānubhāvo, tassa parittā pathavīsaññā bhāvitā hoti, appamāṇā āposaññā. So imaṁ pathaviṁ kampeti saṅkampeti sampakampeti sampavedheti. Ayaṁ dutiyo hetu dutiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, there is an ascetic or brahmin with psychic power who has achieved mastery of the mind, or a god who is mighty and powerful. They’ve developed a limited perception of earth and a limitless perception of water. They make the earth shake and rock and tremble. This is the second cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn là người có thần thông, tâm được tự tại; hoặc có vị trời có đại thần lực, có đại oai lực. Vị ấy đã tu tập địa tưởng một cách giới hạn và đã tu tập thủy tưởng một cách vô lượng. Vị ấy làm cho đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ hai, duyên thứ hai cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto tusitakāyā cavitvā sato sampajāno mātukucchiṁ okkamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ tatiyo hetu tatiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the being intent on awakening passes away from the host of joyful gods, he’s conceived in his mother’s womb, mindful and aware. Then the earth shakes and rocks and trembles. This is the third cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát từ cõi trời Tusita (Đâu-suất) mệnh chung, có chánh niệm và tỉnh giác, nhập vào thai mẹ, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ ba, duyên thứ ba cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto sato sampajāno mātukucchismā nikkhamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ catuttho hetu catuttho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the being intent on awakening comes out of his mother’s womb mindful and aware, the earth shakes and rocks and trembles. This is the fourth cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát có chánh niệm và tỉnh giác, ra khỏi thai mẹ, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ tư, duyên thứ tư cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ pañcamo hetu pañcamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the Realized One awakens to the supreme perfect awakening, the earth shakes and rocks and trembles. This is the fifth cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ năm, duyên thứ năm cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ chaṭṭho hetu chaṭṭho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the Realized One rolls forth the supreme Wheel of Dhamma, the earth shakes and rocks and trembles. This is the sixth cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossajjati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ sattamo hetu sattamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the Realized One, mindful and aware, surrenders the life force, the earth shakes and rocks and trembles. This is the seventh cause and reason for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai có chánh niệm và tỉnh giác, xả bỏ thọ hành, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati. Ayaṁ aṭṭhamo hetu aṭṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Ime kho, ānanda, aṭṭha hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Furthermore, when the Realized One becomes fully extinguished in the element of extinguishment with no residue, the earth shakes and rocks and trembles. This is the eighth cause and reason for a great earthquake.
These are the eight causes and reasons for a great earthquake.
‘Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai nhập Vô Dư Y Niết-bàn giới, khi ấy đại địa này rung động, chấn động, chuyển động mạnh, rung chuyển dữ dội. Đây là nhân thứ tám, duyên thứ tám cho sự xuất hiện của trận động đất lớn. Này Ānanda, đây chính là tám nhân, tám duyên cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.’
Aṭṭha kho imā, ānanda, parisā. Katamā aṭṭha? Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā. Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā. Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti. Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti. Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi. Bhāsamānañca maṁ na jānanti: ‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti? Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi. Antarahitañca maṁ na jānanti: ‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe… gahapatiparisaṁ … samaṇaparisaṁ … cātumahārājikaparisaṁ … tāvatiṁsaparisaṁ … māraparisaṁ … brahmaparisaṁ upasaṅkamitā. Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā. Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti. Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti. Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi. Bhāsamānañca maṁ na jānanti: ‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti? Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi. Antarahitañca maṁ na jānanti: ‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Imā kho, ānanda, aṭṭha parisā.
There are, Ānanda, these eight assemblies. What eight? The assemblies of aristocrats, brahmins, householders, and ascetics. An assembly of the gods of the four great kings. An assembly of the gods of the thirty-three. An assembly of Māras. An assembly of divinities.
I recall having approached an assembly of hundreds of aristocrats. There I used to sit with them, converse, and engage in discussion. And my appearance and voice became just like theirs. I educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk. But when I spoke they didn’t know: ‘Who is this that speaks? Is it a god or a human?’ And when my Dhamma talk was finished I vanished. But when I vanished they didn’t know: ‘Who was that who vanished? Was it a god or a human?’
I recall having approached an assembly of hundreds of brahmins … householders … ascetics … the gods of the four great kings … the gods of the thirty-three … Māras … divinities. There too I used to sit with them, converse, and engage in discussion. And my appearance and voice became just like theirs. I educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk. But when I spoke they didn’t know: ‘Who is this that speaks? Is it a god or a human?’ And when my Dhamma talk was finished I vanished. But when I vanished they didn’t know: ‘Who was that who vanished? Was it a god or a human?’
These are the eight assemblies.
172. ‘Này Ānanda, có tám chúng hội này. Thế nào là tám? Chúng hội Sát-đế-lỵ, chúng hội Bà-la-môn, chúng hội gia chủ, chúng hội Sa-môn, chúng hội Tứ Thiên Vương, chúng hội Tam Thập Tam Thiên, chúng hội của Ma vương, chúng hội Phạm thiên. Này Ānanda, Ta nhớ rằng đã từng đi đến hàng trăm chúng hội Sát-đế-lỵ. Ở đó, Ta đã từng ngồi cùng, từng nói chuyện, và từng tham gia thảo luận với họ. Ở đó, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như thế ấy. Tiếng nói của họ như thế nào, tiếng nói của Ta cũng như thế ấy. Ta chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại. Và khi Ta đang nói, họ không biết Ta: ‘Người đang nói này là ai, là trời hay là người?’ Sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, Ta biến mất. Và khi Ta đã biến mất, họ không biết Ta: ‘Người đã biến mất này là ai, là trời hay là người?’ Này Ānanda, Ta nhớ rằng đã từng đi đến hàng trăm chúng hội Bà-la-môn... cho đến... chúng hội gia chủ... chúng hội Sa-môn... chúng hội Tứ Thiên Vương... chúng hội Tam Thập Tam Thiên... chúng hội của Ma vương... chúng hội Phạm thiên. Ở đó, Ta cũng đã từng ngồi cùng, từng nói chuyện, và từng tham gia thảo luận với họ. Ở đó, dung sắc của họ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như thế ấy. Tiếng nói của họ như thế nào, tiếng nói của Ta cũng như thế ấy. Ta chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại. Và khi Ta đang nói, họ không biết Ta: ‘Người đang nói này là ai, là trời hay là người?’ Sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, Ta biến mất. Và khi Ta đã biến mất, họ không biết Ta: ‘Người đã biến mất này là ai, là trời hay là người?’ Này Ānanda, đây chính là tám chúng hội.
Tám Thắng Xứ
Aṭṭha kho imāni, ānanda, abhibhāyatanāni. Katamāni aṭṭha?
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ānanda, there are these eight dimensions of mastery. What eight?
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the first dimension of mastery.
173. “Này Ānanda, có tám thắng xứ này. Tám thắng xứ ấy là gì? Một người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có số lượng ít, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ nhất.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the second dimension of mastery.
“Một người có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có số lượng vô hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ hai.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limited, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the third dimension of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có số lượng ít, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ ba.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally, limitless, both pretty and ugly. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fourth dimension of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, có số lượng vô hạn, đẹp và xấu. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tư.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ. Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are blue, with blue color and blue appearance. They’re like a flax flower that’s blue, with blue color and blue appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, blue, with blue color and blue appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally, blue, with blue color and blue appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the fifth dimension of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh sáng xanh. Ví như đóa hoa lanh có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh sáng xanh. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh sáng xanh. Cũng tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu xanh, sắc xanh, hình tướng xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ năm.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ. Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. They’re like a champak flower that’s yellow, with yellow color and yellow appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, yellow, with yellow color and yellow appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are yellow, with yellow color and yellow appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the sixth dimension of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh sáng vàng. Ví như đóa hoa kaṇikāra có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh sáng vàng. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh sáng vàng. Cũng tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu vàng, sắc vàng, hình tướng vàng, ánh sáng vàng. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ sáu.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ. Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. They’re like a scarlet mallow flower that’s red, with red color and red appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, red, with red color and red appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are red, with red color and red appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the seventh dimension of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh sáng đỏ. Ví như đóa hoa bandhujīvaka có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh sáng đỏ. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh sáng đỏ. Cũng tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu đỏ, sắc đỏ, hình tướng đỏ, ánh sáng đỏ. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ bảy.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ. Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni. ‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti. Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Imāni kho, ānanda, aṭṭha abhibhāyatanāni.
Not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. They’re like the morning star that’s white, with white color and white appearance. Or a cloth from Varanasi that’s smoothed on both sides, white, with white color and white appearance. In the same way, not perceiving form internally, someone sees forms externally that are white, with white color and white appearance. Mastering them, they perceive: ‘I know and see.’ This is the eighth dimension of mastery.
These are the eight dimensions of mastery.
“Một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Ví như sao mai có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Hoặc ví như tấm vải ở Bārāṇasī được chà láng cả hai mặt, có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Cũng tương tự như thế, một người không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, (các sắc ấy) có màu trắng, sắc trắng, hình tướng trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy có tưởng rằng: ‘Sau khi đã chế ngự các sắc ấy, tôi biết, tôi thấy.’ Đây là thắng xứ thứ tám. Này Ānanda, đây chính là tám thắng xứ.”
Tám Giải Thoát
Aṭṭha kho ime, ānanda, vimokkhā. Katame aṭṭha?
Rūpī rūpāni passati, ayaṁ paṭhamo vimokkho.
Ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati, ayaṁ dutiyo vimokkho.
Subhanteva adhimutto hoti, ayaṁ tatiyo vimokkho.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ catuttho vimokkho.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ pañcamo vimokkho.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ sattamo vimokkho.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Ime kho, ānanda, aṭṭha vimokkhā.
(…)
Ānanda, there are these eight liberations. What eight?
Having physical form, they see forms. This is the first liberation.
Not perceiving form internally, they see forms externally. This is the second liberation.
They’re focused only on beauty. This is the third liberation.
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth liberation.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness. This is the fifth liberation.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. This is the sixth liberation.
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception. This is the seventh liberation.
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
These are the eight liberations.
174. “Này Ānanda, có tám giải thoát này. Tám giải thoát ấy là gì? Vị có sắc thấy các sắc, đây là giải thoát thứ nhất. Không có tưởng về sắc ở nội tâm, thấy các sắc ở ngoại giới, đây là giải thoát thứ hai. Chỉ chuyên chú vào tịnh, đây là giải thoát thứ ba. Do hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do làm cho các đối ngại tưởng biến mất, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, vị ấy nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên,’ rồi chứng đạt và an trú Không Vô Biên Xứ, đây là giải thoát thứ tư. Do hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên,’ rồi chứng đạt và an trú Thức Vô Biên Xứ, đây là giải thoát thứ năm. Do hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, vị ấy nghĩ rằng: ‘Không có gì cả,’ rồi chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ, đây là giải thoát thứ sáu. Do hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đây là giải thoát thứ bảy. Do hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng Định, đây là giải thoát thứ tám. Này Ānanda, đây chính là tám giải thoát.”
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ uruvelāyaṁ viharāmi najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho. Atha kho, ānanda, māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca: ‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ:
Ānanda, this one time, when I was first awakened, I was staying in Uruvelā at the goatherd’s banyan tree on the bank of the Nerañjarā River. Then Māra the wicked approached me, stood to one side, and said: ‘Sir, may the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.’ When he had spoken, I said to Māra:
175. “Này Ānanda, một thời, Ta đang trú ở Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới cội cây Ajapāla-nigrodha, khi vừa mới thành Chánh Giác. Bấy giờ, này Ānanda, ác ma Māra đã đi đến chỗ Ta; sau khi đi đến, đã đứng sang một bên. Đứng sang một bên, này Ānanda, ác ma Māra đã nói với Ta lời này: ‘Bạch Thế Tôn, bây giờ xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn; xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch Thế Tôn, bây giờ là thời điểm để Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.’ Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với ác ma Māra lời này:”
‘Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have monk disciples …
“‘Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào các vị Tỳ khưu đệ tử của Ta chưa trở nên thông thạo, khéo điều phục, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học thuyết của thầy mình, chưa có thể giảng nói, thuyết dạy, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ; và sau khi dùng chánh pháp để khéo nhiếp phục tà thuyết đã khởi lên, chưa có thể thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu.
“‘Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào các vị Tỳ khưu ni đệ tử của Ta chưa trở nên thông thạo, khéo điều phục, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học thuyết của thầy mình, chưa có thể giảng nói, thuyết dạy, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ; và sau khi dùng chánh pháp để khéo nhiếp phục tà thuyết đã khởi lên, chưa có thể thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu.
“‘Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào các vị cận sự nam đệ tử của Ta chưa trở nên thông thạo, khéo điều phục, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học thuyết của thầy mình, chưa có thể giảng nói, thuyết dạy, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ; và sau khi dùng chánh pháp để khéo nhiếp phục tà thuyết đã khởi lên, chưa có thể thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu.
“‘Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào các vị cận sự nữ đệ tử của Ta chưa trở nên thông thạo, khéo điều phục, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học thuyết của thầy mình, chưa có thể giảng nói, thuyết dạy, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ; và sau khi dùng chánh pháp để khéo nhiếp phục tà thuyết đã khởi lên, chưa có thể thuyết giảng giáo pháp kỳ diệu.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
I shall not be fully extinguished until my spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.’
“‘Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào phạm hạnh này của Ta chưa được thịnh vượng, phát triển, quảng bá, phổ biến, lan rộng, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên thuyết.’”
Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca: ‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato. Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: “na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti …pe… yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti …pe… yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti …pe… yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti …pe… yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitan”ti. Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ: ‘appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti. Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye tathāgatena satena sampajānena āyusaṅkhāro ossaṭṭho”ti.
Today, just now at the Cāpāla Shrine Māra the Wicked approached me once more with the same request, reminding me of my former statement, and saying that those conditions had been fulfilled.
When he had spoken, I said to Māra: ‘Relax, Wicked One. The full extinguishment of the Realized One will be soon. Three months from now the Realized One will be fully extinguished.’ So today, just now at the Cāpāla Shrine, mindful and aware, I surrendered the life force.”
176. “Này Ānanda, ngay bây giờ, hôm nay, tại điện Cāpāla, ác ma Māra đã đi đến chỗ Ta; sau khi đi đến, đã đứng sang một bên. Đứng sang một bên, này Ānanda, ác ma Māra đã nói với Ta lời này: ‘Bạch Thế Tôn, bây giờ xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch Thế Tôn, bây giờ là thời điểm để Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch Thế Tôn, lời này đã được Thế Tôn nói ra: “Này ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết Bàn, chừng nào các vị Tỳ khưu đệ tử của Ta chưa trở nên… (v.v.)… chừng nào các vị Tỳ khưu ni đệ tử của Ta chưa trở nên… (v.v.)… chừng nào các vị cận sự nam đệ tử của Ta chưa trở nên… (v.v.)… chừng nào các vị cận sự nữ đệ tử của Ta chưa trở nên… (v.v.)… chừng nào phạm hạnh này của Ta chưa được thịnh vượng, phát triển, quảng bá, phổ biến, lan rộng, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên thuyết.” Nhưng bạch Thế Tôn, bây giờ phạm hạnh của Thế Tôn đã thịnh vượng, phát triển, quảng bá, phổ biến, lan rộng, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên thuyết. Bạch Thế Tôn, bây giờ xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn, xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết Bàn. Bạch Thế Tôn, bây giờ là thời điểm để Thế Tôn nhập Vô Dư Niết Bàn.’”
Lời thỉnh cầu của ngài Ānanda
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
178. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda đã bạch với Thế Tôn lời này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc của chư thiên và loài người.’”
“Alaṁ dāni, ānanda. Mā tathāgataṁ yāci, akālo dāni, ānanda, tathāgataṁ yācanāyā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando …pe… tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“Enough now, Ānanda. Do not beg the Realized One. Now is not the time to beg the Realized One.”
For a second time … For a third time, Ānanda said to the Buddha, “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
“Này Ānanda, đủ rồi. Đừng thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ānanda, bây giờ không phải là lúc để thỉnh cầu Như Lai.” Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda cũng… (v.v.)… Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda đã bạch với Thế Tôn lời này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc của chư thiên và loài người.’”
“Saddahasi tvaṁ, ānanda, tathāgatassa bodhin”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Atha kiñcarahi tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāvatatiyakaṁ abhinippīḷesī”ti?
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. So ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’”ti.
“Saddahasi tvaṁ, ānandā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ, yaṁ tvaṁ tathāgatena evaṁ oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci: ‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya. Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
“Ānanda, do you have faith in the Realized One’s awakening?”
“Yes, sir.”
“So why then do you keep pressing me up to the third time?”
“Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.’”
“Do you have faith, Ānanda?”
“Yes, sir.”
“Therefore, Ānanda, the misdeed is yours alone, the mistake is yours alone. For even though the Realized One dropped such an obvious hint, such a clear sign, you didn’t beg me to remain for the proper lifespan, or what’s left of it. If you had begged me, I would have turned you down twice, but consented on the third time. Therefore, Ānanda, the misdeed is yours alone, the mistake is yours alone.
“Này Ānanda, ngươi có tin vào sự giác ngộ của Như Lai không?” – “Bạch Thế Tôn, con có tin.” – “Vậy thì tại sao, này Ānanda, ngươi lại nài ép Như Lai đến lần thứ ba?” – “Bạch Thế Tôn, con đã được nghe điều này từ chính kim khẩu của Thế Tôn, đã được tiếp nhận từ chính kim khẩu của Ngài rằng: ‘Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, đã thực hành nhiều lần, đã làm cho thuần thục như cỗ xe, đã làm cho vững chắc như nền tảng, đã kiên trì, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết một kiếp hoặc hơn một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, đã thực hành nhiều lần, đã làm cho thuần thục như cỗ xe, đã làm cho vững chắc như nền tảng, đã kiên trì, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn thần túc. Do đó, này Ānanda, Như Lai nếu muốn, có thể sống đến hết một kiếp hoặc hơn một kiếp.’” – “Này Ānanda, ngươi có tin không?” – “Bạch Thế Tôn, con có tin.” – “Vậy nên, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là sai sót của ngươi, vì khi Như Lai đã tạo ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, đã tạo ra một ánh sáng rõ ràng như vậy, ngươi đã không thể thấu hiểu, đã không thỉnh cầu Như Lai rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người.’ Nếu ngươi đã thỉnh cầu Như Lai, này Ānanda, Như Lai có thể đã từ chối lời của ngươi hai lần, nhưng đến lần thứ ba thì đã chấp thuận. Vì vậy, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là sai sót của ngươi.”
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ rājagahe viharāmi gijjhakūṭe pabbate. Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ: ‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo, ānanda, gijjhakūṭo pabbato. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti. Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci: ‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Ānanda, this one time I was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. There I said to you: ‘Ānanda, Rājagaha is lovely, and so is the Vulture’s Peak. Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.’ But you didn’t get it, even though I dropped such an obvious hint, such a clear sign. You didn’t beg me to remain for the proper lifespan, or what’s left of it.
179. “Này Ānanda, có một thời Ta trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Này Ānanda, ngay tại nơi ấy, Ta đã gọi ngươi và nói: ‘Này Ānanda, Rājagaha thật khả ái, này Ānanda, núi Gijjhakūṭa thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, đã thực hành nhiều lần, đã làm cho thuần thục như cỗ xe, đã làm cho vững chắc như nền tảng, đã kiên trì, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết một kiếp hoặc hơn một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, đã thực hành nhiều lần, đã làm cho thuần thục như cỗ xe, đã làm cho vững chắc như nền tảng, đã kiên trì, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn thần túc, do đó, này Ānanda, Như Lai nếu muốn, có thể sống đến hết một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Dù vậy, này Ānanda, khi Như Lai đã tạo ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, đã tạo ra một ánh sáng rõ ràng như vậy, ngươi đã không thể thấu hiểu, đã không thỉnh cầu Như Lai rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người.’ Nếu ngươi đã thỉnh cầu Như Lai, này Ānanda, Như Lai có thể đã từ chối lời của ngươi hai lần, nhưng đến lần thứ ba thì đã chấp thuận. Vì vậy, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là sai sót của ngươi.”
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ tattheva rājagahe viharāmi gotamanigrodhe …pe… tattheva rājagahe viharāmi corapapāte … tattheva rājagahe viharāmi vebhārapasse sattapaṇṇiguhāyaṁ … tattheva rājagahe viharāmi isigilipasse kāḷasilāyaṁ … tattheva rājagahe viharāmi sītavane sappasoṇḍikapabbhāre … tattheva rājagahe viharāmi tapodārāme … tattheva rājagahe viharāmi veḷuvane kalandakanivāpe … tattheva rājagahe viharāmi jīvakambavane … tattheva rājagahe viharāmi maddakucchismiṁ migadāye.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ: ‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo gijjhakūṭo pabbato, ramaṇīyo gotamanigrodho, ramaṇīyo corapapāto, ramaṇīyā vebhārapasse sattapaṇṇiguhā, ramaṇīyā isigilipasse kāḷasilā, ramaṇīyo sītavane sappasoṇḍikapabbhāro, ramaṇīyo tapodārāmo, ramaṇīyo veḷuvane kalandakanivāpo, ramaṇīyaṁ jīvakambavanaṁ, ramaṇīyo maddakucchismiṁ migadāyo. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā …pe… ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti. Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci: ‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya. Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ānanda, this one time I was staying right there near Rājagaha, at the Gotama banyan tree … at Bandit’s Cliff … in the Sattapaṇṇi cave on the slopes of Vebhāra … at the Black Rock on the slopes of Isigili … in the Cool Grove, under the Cobra’s Hood Grotto … in the Hot Springs Monastery … in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground … in Jīvaka’s Mango Grove … in the Maddakucchi deer park …
And in each place I said to you: ‘Ānanda, Rājagaha is lovely, and so are all these places. … If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.’ But you didn’t get it, even though I dropped such an obvious hint, such a clear sign. You didn’t beg me to remain for the proper lifespan, or what’s left of it.
180. “Này Ānanda, có một thời Ta trú ở chính tại Rājagaha, ở cây đa Gotama... (v.v.)... ở chính tại Rājagaha, ở vực Corapapāta... ở chính tại Rājagaha, ở hang Sattapaṇṇi bên sườn núi Vebhāra... ở chính tại Rājagaha, ở Tảng Đá Đen bên sườn núi Isigili... ở chính tại Rājagaha, ở sườn núi Sappasoṇḍika trong rừng Sītavana... ở chính tại Rājagaha, ở tu viện Tapodārāma... ở chính tại Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi cho sóc ăn... ở chính tại Rājagaha, ở vườn xoài của Jīvaka... ở chính tại Rājagaha, ở Migadāya tại Maddakucchi. Này Ānanda, ngay tại nơi ấy, Ta cũng đã gọi ngươi và nói: ‘Này Ānanda, Rājagaha thật khả ái, núi Gijjhakūṭa thật khả ái, cây đa Gotama thật khả ái, vực Corapapāta thật khả ái, hang Sattapaṇṇi bên sườn núi Vebhāra thật khả ái, Tảng Đá Đen bên sườn núi Isigili thật khả ái, sườn núi Sappasoṇḍika trong rừng Sītavana thật khả ái, tu viện Tapodārāma thật khả ái, Veḷuvana nơi cho sóc ăn thật khả ái, vườn xoài của Jīvaka thật khả ái, Migadāya tại Maddakucchi thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, đã thực hành nhiều lần, đã làm cho thuần thục như cỗ xe, đã làm cho vững chắc như nền tảng, đã kiên trì, đã tích lũy, đã khéo khởi sự bốn thần túc... (v.v.)... này Ānanda, Như Lai nếu muốn, có thể sống đến hết một kiếp hoặc hơn một kiếp.’ Dù vậy, này Ānanda, khi Như Lai đã tạo ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, đã tạo ra một ánh sáng rõ ràng như vậy, ngươi đã không thể thấu hiểu, đã không thỉnh cầu Như Lai rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người.’ Nếu ngươi đã thỉnh cầu Như Lai, này Ānanda, Như Lai có thể đã từ chối lời của ngươi hai lần, nhưng đến lần thứ ba thì đã chấp thuận. Vì vậy, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là sai sót của ngươi.”
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva vesāliyaṁ viharāmi udene cetiye. Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ: ‘ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti. Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci: ‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya, tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ānanda, this one time I was staying right here near Vesālī, at the Udena Shrine …
181. “Này Ānanda, có một thời Ta ở tại Vesālī này, tại điện thờ Udena. Ngay tại nơi ấy, này Ānanda, Ta đã nói với ngươi rằng: ‘Này Ānanda, Vesālī thật khả ái, điện thờ Udena thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành thường xuyên, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành nền tảng, kiên trì, tích lũy, và khéo tinh cần bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành thường xuyên, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành nền tảng, kiên trì, tích lũy, và khéo tinh cần bốn thần túc. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp.’ Dù Như Lai đã đưa ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, một gợi ý rõ ràng như vậy, này Ānanda, ngươi đã không thể hiểu thấu, đã không thỉnh cầu Như Lai: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ thế đến hết kiếp! Mong Thiện Thệ hãy trụ thế đến hết kiếp, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người!’ Này Ānanda, nếu ngươi đã thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể đã từ chối lời của ngươi hai lần, nhưng lần thứ ba thì đã chấp thuận. Vì vậy, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là thiếu sót của ngươi.”
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya. Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
If you had begged me, I would have turned you down twice, but consented on the third time. Therefore, Ānanda, the misdeed is yours alone, the mistake is yours alone.
182. “Này Ānanda, có một thời Ta ở tại Vesālī này, tại điện thờ Gotamaka... ...tại điện thờ Sattamba... ...tại điện thờ Bahuputta... ...tại điện thờ Sārandada... Và này Ānanda, ngay hôm nay, tại điện thờ Cāpāla, Ta đã nói với ngươi rằng: ‘Này Ānanda, Vesālī thật khả ái, điện thờ Udena thật khả ái, điện thờ Gotamaka thật khả ái, điện thờ Sattamba thật khả ái, điện thờ Bahuputta thật khả ái, điện thờ Sārandada thật khả ái, điện thờ Cāpāla thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành thường xuyên, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành nền tảng, kiên trì, tích lũy, và khéo tinh cần bốn thần túc, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành thường xuyên, làm cho thành cỗ xe, làm cho thành nền tảng, kiên trì, tích lũy, và khéo tinh cần bốn thần túc. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp hoặc phần còn lại của kiếp.’ Dù Như Lai đã đưa ra một dấu hiệu hiển nhiên như vậy, một gợi ý rõ ràng như vậy, này Ānanda, ngươi đã không thể hiểu thấu, đã không thỉnh cầu Như Lai: ‘Mong Thế Tôn hãy trụ thế đến hết kiếp! Mong Thiện Thệ hãy trụ thế đến hết kiếp, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người!’ Này Ānanda, nếu ngươi đã thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể đã từ chối lời của ngươi hai lần, nhưng lần thứ ba thì đã chấp thuận. Vì vậy, này Ānanda, đây chính là lỗi lầm của ngươi, đây chính là thiếu sót của ngươi.”
Nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ: ‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo. Taṁ kutettha, ānanda, labbhā, yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati’. Yaṁ kho panetaṁ, ānanda, tathāgatena cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ ossaṭṭho āyusaṅkhāro, ekaṁsena vācā bhāsitā: ‘na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti. Tañca tathāgato jīvitahetu puna paccāvamissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Āyāmānanda, yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Did I not prepare for this when I explained that we must be parted and separated from all we hold dear and beloved? How could it possibly be so that what is born, created, conditioned, and liable to wear out should not wear out? The Realized One has discarded, eliminated, released, given up, relinquished, and surrendered the life force. He has categorically stated: ‘The full extinguishment of the Realized One will be soon. Three months from now the Realized One will be fully extinguished.’ It’s not possible for the Realized One, for the sake of life, to take back the life force once it has been given up like that.
Come, Ānanda, let’s go to the Great Wood, the hall with the peaked roof.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
183. “Này Ānanda, chẳng phải Ta đã tuyên bố từ trước rằng: ‘Tất cả những gì thân ái, đáng hài lòng đều phải chịu sự đổi khác, sự chia lìa, sự biến hoại’ hay sao? Vậy thì ở đây, này Ānanda, làm sao có thể được? Đối với cái đã được sinh ra, đã hiện hữu, đã được cấu thành, có bản chất tan rã, lại mong rằng: ‘Mong sao nó đừng tan rã!’ — điều ấy không thể xảy ra. Và này Ānanda, cái gì đã được Như Lai từ bỏ, khước từ, giải thoát, đoạn trừ, xả ly — tức là mạng hành đã được xả bỏ — và lời nói đã được tuyên bố một cách dứt khoát rằng: ‘Không bao lâu nữa, sự viên tịch của Như Lai sẽ diễn ra. Sau ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ viên tịch.’ Việc Như Lai vì muốn sống mà thu hồi lại lời nói ấy — điều ấy không thể xảy ra. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Đại Lâm, đến giảng đường có mái nhọn.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” — Tôn giả Ānanda đã vâng đáp Thế Tôn.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
(…)
So the Buddha went with Ānanda to the hall with the peaked roof, and said to him, “Go, Ānanda, gather all the mendicants staying in the vicinity of Vesālī together in the assembly hall.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. He did what the Buddha asked, went up to him, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, the mendicant Saṅgha has assembled. Please, sir, go at your convenience.”
Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ānanda đi đến Đại Lâm, đến giảng đường có mái nhọn; sau khi đến, Ngài bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, ngươi hãy đi tập hợp tất cả các vị Tỳ khưu đang sống nương náu tại Vesālī vào trong pháp đường.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” — Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn, rồi tập hợp tất cả các vị Tỳ khưu đang sống nương náu tại Vesālī vào trong pháp đường, sau đó đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, Tôn giả đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tăng chúng Tỳ khưu đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy làm những gì Ngài nghĩ là đúng thời.”
Atha kho bhagavā yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tasmātiha, bhikkhave, ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Katame ca te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
Then the Buddha went to the assembly hall, where he sat down on the seat spread out and addressed the mendicants:
“So, mendicants, having carefully memorized those things I have taught you from my direct knowledge, you should cultivate, develop, and make much of them so that this spiritual practice may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. And what are those things I have taught from my direct knowledge? They are: the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
These are the things I have taught from my direct knowledge. Having carefully memorized them, you should cultivate, develop, and make much of them so that this spiritual practice may last for a long time. That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
184. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến giảng đường; sau khi đến, ngài ngự trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngự xuống, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, do vậy, ở đây, những pháp nào đã được ta thuyết giảng sau khi đã chứng ngộ, các ngươi phải khéo học hỏi, thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được tồn tại lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Và này các tỳ khưu, những pháp nào đã được ta thuyết giảng sau khi đã chứng ngộ, mà các ngươi phải khéo học hỏi, thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được tồn tại lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người? Đó là: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, thánh đạo tám ngành. Này các tỳ khưu, đây chính là những pháp đã được ta thuyết giảng sau khi đã chứng ngộ, mà các ngươi phải khéo học hỏi, thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được tồn tại lâu dài, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo, vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādetha. Naciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
Then the Buddha said to the mendicants:
“Come now, mendicants, I say to you all: ‘Conditions fall apart. Persist with diligence.’ The full extinguishment of the Realized One will be soon. Three months from now the Realized One will be fully extinguished.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
185. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, giờ đây ta nói với các ngươi, các pháp hữu vi có bản chất hoại diệt, hãy nỗ lực với sự không dể duôi. Chẳng bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập vô dư y Niết-bàn. Sau ba tháng nữa kể từ hôm nay, Như Lai sẽ nhập vô dư y Niết-bàn. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa: –
“Paripakko vayo mayhaṁ, parittaṁ mama jīvitaṁ; Pahāya vo gamissāmi, kataṁ me saraṇamattano.
“I’ve reached a ripe old age, and little of my life is left. Having given it up, I’ll depart; I’ve made a refuge for myself.
Tuổi của ta đã chín muồi, mạng sống của ta còn lại ít ỏi; Ta sẽ từ bỏ các ngươi mà đi, ta đã tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình.
Appamattā satīmanto, susīlā hotha bhikkhavo; Susamāhitasaṅkappā, sacittamanurakkhatha.
Diligent and mindful, be of good virtues, mendicants! With well-settled thoughts, take good care of your minds.
Này các tỳ khưu, hãy không dể duôi, có chánh niệm, có giới hạnh tốt đẹp; có ý định được định tĩnh tốt đẹp, hãy bảo vệ tâm của mình.
Yo imasmiṁ dhammavinaye, appamatto vihassati; Pahāya jātisaṁsāraṁ, dukkhassantaṁ karissatī”ti.
Whoever meditates diligently in this teaching and training, giving up transmigration through rebirths, will make an end to suffering.”
Vị nào sống không dể duôi trong Pháp và Luật này, sẽ từ bỏ vòng luân hồi sinh tử, và sẽ chấm dứt khổ đau.
Tatiyo bhāṇavāro.
The third recitation section.
Phẩm thứ ba.
Cái nhìn của voi chúa
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi. Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nāgāpalokitaṁ vesāliṁ apaloketvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “idaṁ pacchimakaṁ, ānanda, tathāgatassa vesāliyā dassanaṁ bhavissati. Āyāmānanda, yena bhaṇḍagāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms. Then, after the meal, on his return from almsround, he turned to gaze back at Vesālī, the way that elephants do. He said to Venerable Ānanda: “Ānanda, this will be the last time the Realized One sees Vesālī. Come, Ānanda, let’s go to Wares Village.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
186. Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, ngài nhìn lại thành Vesālī với cái nhìn của voi chúa và gọi tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, đây sẽ là lần cuối cùng Như Lai nhìn thấy thành Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Bhaṇḍagāma. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhaṇḍagāmo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharati. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“catunnaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Katamesaṁ catunnaṁ? Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Ariyassa, bhikkhave, samādhissa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Ariyāya, bhikkhave, paññāya ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Ariyāya, bhikkhave, vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubuddho paṭividdho, ariyā paññā anubuddhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubuddhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Wares Village, and stayed there. There the Buddha addressed the mendicants:
“Mendicants, due to not understanding and not penetrating four things, both you and I have wandered and transmigrated for such a very long time. What four? Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom. These noble ethics, immersion, wisdom, and freedom have been understood and comprehended. Craving for continued existence has been cut off; the leash to existence is ended; now there’ll be no more future lives.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến làng Bhaṇḍagāma. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở làng Bhaṇḍagāma. Tại đó, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập bốn pháp mà ta và các ngươi đã phải lang thang, lưu chuyển trong một thời gian dài như thế này. Bốn pháp nào? Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập thánh giới, mà ta và các ngươi đã phải lang thang, lưu chuyển trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập thánh định, mà ta và các ngươi đã phải lang thang, lưu chuyển trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập thánh tuệ, mà ta và các ngươi đã phải lang thang, lưu chuyển trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, không thâm nhập thánh giải thoát, mà ta và các ngươi đã phải lang thang, lưu chuyển trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, thánh giới ấy đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; thánh định ấy đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; thánh tuệ ấy đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; thánh giải thoát ấy đã được giác ngộ, đã được thâm nhập. Hữu ái đã được đoạn trừ, dây dẫn đến tái sanh đã bị phá hủy, nay không còn tái sanh nữa. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa: –
“Sīlaṁ samādhi paññā ca, vimutti ca anuttarā; Anubuddhā ime dhammā, gotamena yasassinā.
“Ethics, immersion, and wisdom, and the supreme freedom: these things have been understood by Gotama the renowned.
Giới, định, và tuệ, cùng với giải thoát vô thượng; những pháp này đã được bậc Gotama danh tiếng giác ngộ.
Iti buddho abhiññāya, dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ; Dukkhassantakaro satthā, cakkhumā parinibbuto”ti.
And so the Buddha, having insight, explained this teaching to the mendicants. The teacher made an end of suffering, seeing clearly, he is fully quenched.”
Như vậy, bậc Giác Ngộ, sau khi chứng ngộ, đã thuyết giảng Chánh pháp cho các tỳ khưu; bậc Đạo Sư, người chấm dứt khổ đau, bậc có mắt, đã nhập Niết-bàn.
Tatrāpi sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And while staying there, too, he often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
Tại đó, khi đang trú ở làng Bhaṇḍagāma, đức Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết pháp cho các vị tỳ khưu như sau: – Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định được tu tập trên nền tảng giới thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được tu tập trên nền tảng định thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được tu tập trên nền tảng tuệ thì hoàn toàn giải thoát khỏi các lậu hoặc, đó là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.
Bài kinh về Bốn Đại Chứng
Atha kho bhagavā bhaṇḍagāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena hatthigāmo,
yena ambagāmo,
yena jambugāmo,
yena bhoganagaraṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhoganagaraṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānande cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
When the Buddha had stayed in Wares Village as long as he pleased, he addressed Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Elephant Village.” …
“Let’s go to Mango Village.” …
“Let’s go to Black Plum Village.” …
“Let’s go to Bhoga City.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Bhoga City, where he stayed at the Ānanda Shrine.
There the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, I will teach you the four great references. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Take a mendicant who says: ‘Reverend, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Buddha.
187. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi đã an trú tại làng Bhaṇḍagāma tùy theo ý muốn, đã gọi tôn giả Ānanda và bảo rằng: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Hatthi, đến làng Amba, đến làng Jambu, đến thành phố Bhoga.” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ khưu đã đi đến thành phố Bhoga. Tại nơi ấy, ở thành phố Bhoga, đức Thế Tôn đã an trú tại ngôi đền Ānanda. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã gọi các vị Tỳ khưu và bảo rằng: “Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng về bốn đại cứ liệu này. Các con hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các vị Tỳ khưu ấy đã vâng lời đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
188. “Này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Thưa chư hiền, tôi đã trực tiếp nghe từ đức Thế Tôn, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy không nên vội tán đồng, cũng không nên vội bác bỏ. Không tán đồng, không bác bỏ, sau khi đã học thuộc kỹ lưỡng những câu chữ ấy, cần phải đem đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh và cũng không tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của đức Thế Tôn, và đã được vị Tỳ khưu này thọ trì sai lạc.’ Này các Tỳ khưu, vì vậy, các con nên loại bỏ điều ấy. Còn nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây là lời của đức Thế Tôn, và đã được vị Tỳ khưu này thọ trì đúng đắn.’ Này các Tỳ khưu, các con hãy ghi nhớ đại cứ liệu thứ nhất này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘amukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho. Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ, ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ; tassa ca saṅghassa duggahitan’ti. Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha. Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ; tassa ca saṅghassa suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery lives a Saṅgha with seniors and leaders. I’ve heard and learned this in the presence of that Saṅgha: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Buddha. It has been incorrectly memorized by that Saṅgha.’ And so you should discard it. If they do fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Buddha. It has been correctly memorized by that Saṅgha.’ You should remember it. This is the second great reference.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là..., có Tăng chúng cùng với các vị trưởng lão và các vị lãnh đạo đang an trú. Tôi đã trực tiếp nghe từ Tăng chúng ấy, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy không nên vội tán đồng, cũng không nên vội bác bỏ. Không tán đồng, không bác bỏ, sau khi đã học thuộc kỹ lưỡng những câu chữ ấy, cần phải đem đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh và cũng không tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của đức Thế Tôn, và đã được Tăng chúng ấy thọ trì sai lạc.’ Này các Tỳ khưu, vì vậy, các con nên loại bỏ điều ấy. Còn nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây là lời của đức Thế Tôn, và đã được Tăng chúng ấy thọ trì đúng đắn.’ Này các Tỳ khưu, các con hãy ghi nhớ đại cứ liệu thứ hai này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘amukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā. Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ … pe… na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ; tesañca therānaṁ duggahitan’ti. Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha. Tāni ce sutte osāriyamānāni …pe… vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ; tesañca therānaṁ suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there are several senior mendicants who are very learned, inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of those senior mendicants: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Buddha. It has not been correctly memorized by those senior mendicants.’ And so you should discard it. If they do fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Buddha. It has been correctly memorized by those senior mendicants.’ You should remember it. This is the third great reference.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là..., có nhiều vị Tỳ khưu trưởng lão đang an trú, là những bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, những bậc trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu Đề. Tôi đã trực tiếp nghe từ các vị trưởng lão ấy, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy không nên vội tán đồng... (v.v.)... và cũng không tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của đức Thế Tôn, và đã được các vị trưởng lão ấy thọ trì sai lạc.’ Này các Tỳ khưu, vì vậy, các con nên loại bỏ điều ấy. Còn nếu khi được đối chiếu trong Kinh... (v.v.)... và tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây là lời của đức Thế Tôn, và đã được các vị trưởng lão ấy thọ trì đúng đắn.’ Này các Tỳ khưu, các con hãy ghi nhớ đại cứ liệu thứ ba này.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya: ‘amukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo. Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni. Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ; tassa ca therassa duggahitan’ti. Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha. Tāni ca sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ: ‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ; tassa ca therassa suggahitan’ti. Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadese dhāreyyāthā”ti.
Take another mendicant who says: ‘In such-and-such monastery there is a single senior mendicant who is very learned, an inheritor of the heritage, who has memorized the teachings, the monastic law, and the outlines. I’ve heard and learned this in the presence of that senior mendicant: this is the teaching, this is the training, this is the Teacher’s instruction.’ You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Instead, having carefully memorized those words and phrases, you should make sure they fit in the discourse and are exhibited in the training. If they do not fit in the discourse and are not exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is not the word of the Buddha. It has been incorrectly memorized by that senior mendicant.’ And so you should discard it. If they do fit in the discourse and are exhibited in the training, you should draw the conclusion: ‘Clearly this is the word of the Buddha. It has been correctly memorized by that senior mendicant.’ You should remember it. This is the fourth great reference.
These are the four great references.”
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có vị Tỳ khưu có thể nói như sau: ‘Tại trú xứ tên là..., có một vị Tỳ khưu trưởng lão đang an trú, là bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, một bậc trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu Đề. Tôi đã trực tiếp nghe từ vị trưởng lão ấy, đã trực tiếp lãnh thọ rằng: đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư.’ Này các Tỳ khưu, lời nói của vị Tỳ khưu ấy không nên vội tán đồng, cũng không nên vội bác bỏ. Không tán đồng, không bác bỏ, sau khi đã học thuộc kỹ lưỡng những câu chữ ấy, cần phải đem đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật. Nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng không phù hợp trong Kinh và cũng không tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây không phải là lời của đức Thế Tôn, và đã được vị trưởng lão ấy thọ trì sai lạc.’ Này các Tỳ khưu, vì vậy, các con nên loại bỏ điều ấy. Còn nếu khi được đối chiếu trong Kinh và so sánh trong Luật, chúng phù hợp trong Kinh và tương ứng trong Luật, thì cần phải đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn đây là lời của đức Thế Tôn, và đã được vị trưởng lão ấy thọ trì đúng đắn.’ Này các Tỳ khưu, các con hãy ghi nhớ đại cứ liệu thứ tư này. Này các Tỳ khưu, các con hãy ghi nhớ bốn đại cứ liệu này.”
Tatrapi sudaṁ bhagavā bhoganagare viharanto ānande cetiye etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
And while staying at the Ānanda Shrine, too, the Buddha often gave this Dhamma talk to the mendicants:
“Such is ethics, such is immersion, such is wisdom. When immersion is imbued with ethics it’s very fruitful and beneficial. When wisdom is imbued with immersion it’s very fruitful and beneficial. When the mind is imbued with wisdom it is rightly freed from the defilements, namely, the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.”
Khi Thế Tôn trú tại Bô-ga-na-ga-ra, tại tháp miếu A-nan-đa, Ngài cũng thường xuyên thuyết pháp thoại này cho các Tỳ-khưu: – ‘Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định được tu tập nhờ Giới sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được tu tập nhờ Định sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được tu tập nhờ Tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu.’”
Câu chuyện về Cunda, con trai người thợ kim hoàn
Atha kho bhagavā bhoganagare yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena pāvā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāvā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
Assosi kho cundo kammāraputto: “bhagavā kira pāvaṁ anuppatto, pāvāyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti. Atha kho cundo kammāraputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho cundo kammāraputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When the Buddha had stayed in Bhoga City as long as he pleased, he addressed Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Pāvā.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants arrived at Pāvā, where he stayed in Cunda the smith’s mango grove.
Cunda heard that the Buddha had arrived and was staying in his mango grove. Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk. Then Cunda said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence.
Then, knowing that the Buddha had consented, Cunda rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
189. Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bô-ga-na-ga-ra tùy theo ý muốn, đã gọi Tôn giả A-nan-đa: – ‘Này A-nan-đa, chúng ta hãy đi đến Pā-vā.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Tôn giả A-nan-đa đã vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-khưu Tăng đi đến Pā-vā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Pā-vā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ kim hoàn. Cunda, con trai người thợ kim hoàn, nghe tin: ‘Thế Tôn đã đến Pā-vā và đang trú trong vườn xoài của ta.’ Rồi Cunda, con trai người thợ kim hoàn, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ Cunda, con trai người thợ kim hoàn, đang ngồi một bên. Rồi Cunda, con trai người thợ kim hoàn, sau khi được Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã bạch với Thế Tôn rằng: – ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với Tỳ-khưu Tăng nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Rồi Cunda, con trai người thợ kim hoàn, biết được sự chấp thuận của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi lui ra.
Atha kho cundo kammāraputto tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā pahūtañca sūkaramaddavaṁ bhagavato kālaṁ ārocāpesi: “kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena cundassa kammāraputtassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi: “yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena maṁ parivisa. Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena bhagavantaṁ parivisi. Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisi.
Atha kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi: “yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇāhi. Nāhaṁ taṁ, cunda, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yassa taṁ paribhuttaṁ sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra tathāgatassā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
(…)
And when the night had passed Cunda had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home, and plenty of pork on the turn. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “Sir, it’s time. The meal is ready.”
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Cunda together with the mendicant Saṅgha, where he sat down on the seat spread out and addressed Cunda, “Cunda, please serve me with the pork on the turn that you’ve prepared. And serve the mendicant Saṅgha with the other foods.”
“Yes, sir,” replied Cunda, and did as he was asked.
Then the Buddha addressed Cunda, “Cunda, any pork on the turn that’s left over, you should bury it in a pit. I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could properly digest it except the Realized One.”
“Yes, sir,” replied Cunda. He did as he was asked, then came back to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
Rồi Cunda, con trai người thợ kim hoàn, sau khi đêm ấy đã qua, cho sửa soạn tại nhà mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cùng với rất nhiều món sūkaramaddava, rồi cho người báo giờ đến Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, cùng với Tỳ-khưu Tăng đi đến nhà của Cunda, con trai người thợ kim hoàn; sau khi đến, Ngài ngồi vào chỗ đã dọn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi Cunda, con trai người thợ kim hoàn: – ‘Này Cunda, món sūkaramaddava mà ông đã chuẩn bị, hãy dọn cho Như Lai. Còn các món ăn khác, loại cứng và loại mềm đã chuẩn bị, hãy dọn cho Tỳ-khưu Tăng.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Cunda, con trai người thợ kim hoàn, vâng đáp Thế Tôn, rồi dọn món sūkaramaddava đã chuẩn bị cho Thế Tôn. Còn các món ăn khác, loại cứng và loại mềm đã chuẩn bị, ông dọn cho Tỳ-khưu Tăng. Rồi Thế Tôn gọi Cunda, con trai người thợ kim hoàn: – ‘Này Cunda, món sūkaramaddava còn lại, ông hãy đem chôn xuống hố. Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Như Lai không thấy ai, ngoài Như Lai, có thể ăn món ấy mà tiêu hóa được.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Cunda, con trai người thợ kim hoàn, vâng đáp Thế Tôn, rồi đem chôn món sūkaramaddava còn lại xuống hố, sau đó đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ Cunda, con trai người thợ kim hoàn, đang ngồi một bên, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho bhagavato cundassa kammāraputtassa bhattaṁ bhuttāvissa kharo ābādho uppajji, lohitapakkhandikā pabāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā. Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena kusinārā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
After the Buddha had eaten Cunda’s meal, he fell severely ill with bloody dysentery, struck by dreadful pains, close to death. But he endured unbothered, with mindfulness and situational awareness. Then he addressed Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to Kusinārā.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
190. Rồi, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, con trai người thợ kim hoàn, một cơn bệnh nặng đã khởi lên nơi Thế Tôn, bệnh lỵ ra máu, những cảm thọ đau đớn, dữ dội, gần như chết, đã phát sinh. Thế Tôn đã chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng những cảm thọ ấy mà không phiền não. Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả A-nan-đa: – ‘Này A-nan-đa, chúng ta hãy đi đến Ku-si-nā-rā.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Tôn giả A-nan-đa đã vâng đáp Thế Tôn.
Cundassa bhattaṁ bhuñjitvā, kammārassāti me sutaṁ; Ābādhaṁ samphusī dhīro, pabāḷhaṁ māraṇantikaṁ.
I’ve heard that after eating the meal of Cunda the smith, the attentive one fell severely ill, with pains, close to death.
Sau khi dùng bữa của Cunda, người thợ rèn, tôi nghe như vậy; Bậc Trí Giả đã lâm trọng bệnh, đau đớn gần kề cái chết.
Bhuttassa ca sūkaramaddavena, Byādhippabāḷho udapādi satthuno; Virecamāno bhagavā avoca, “Gacchāmahaṁ kusināraṁ nagaran”ti.
A severe sickness struck the Teacher who had eaten the pork on the turn. While still purging the Buddha said: “I’ll go to the citadel of Kusinārā.”
Sau khi dùng món sūkaramaddava, một cơn bệnh nặng đã khởi lên nơi Bậc Đạo Sư; Thế Tôn bị bệnh lỵ, Ngài nói: ‘Ta sẽ đi đến thành Ku-si-nā-rā.’”
Việc Lấy Nước Uống
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nisīdissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati.
Then the Buddha left the road and went to the root of a certain tree, where he addressed Ānanda, “Go on then, Ānanda, fold my outer robe in four and spread it out for me. I am tired and will sit down.”
“Yes, sir,” replied Ānanda, and did as he was asked. The Buddha sat down on the seat spread out.
When he was seated he said to Venerable Ānanda, “Go on then, Ānanda, fetch me some water. I am thirsty and will drink.”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, just now around five hundred carts have passed by. The shallow water has been churned up by their wheels, and it flows cloudy and murky.
191. Bấy giờ, Thế Tôn đi lệch khỏi con đường, đến dưới một gốc cây; sau khi đến, ngài gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy trải cho Như Lai tăng-già-lê gấp tư. Này Ānanda, Như Lai mệt, Như Lai sẽ ngồi xuống.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, trải tăng-già-lê gấp tư. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy nước cho Như Lai. Này Ānanda, Như Lai khát, Như Lai sẽ uống.” Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vừa rồi có năm trăm cỗ xe đã đi qua. Dòng nước nhỏ ấy bị bánh xe cắt qua, khuấy động, vẩn đục đang chảy. Bạch Thế Tôn, sông Kakudhā này ở không xa, nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bến tốt, khả ái. Tại đây, Thế Tôn sẽ uống nước và làm mát chân tay.”
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti. Dutiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati. Ayaṁ, bhante, kakudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā suppatitthā ramaṇīyā. Ettha bhagavā pānīyañca pivissati, gattāni ca sītīkarissatī”ti.
For a second time, the Buddha asked Ānanda for a drink, and for a second time Ānanda suggested going to the Kakudhā River.
Lần thứ hai, Thế Tôn lại gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy nước cho Như Lai. Này Ānanda, Như Lai khát, Như Lai sẽ uống.” Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda lại bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vừa rồi có năm trăm cỗ xe đã đi qua. Dòng nước nhỏ ấy bị bánh xe cắt qua, khuấy động, vẩn đục đang chảy. Bạch Thế Tôn, sông Kakudhā này ở không xa, nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bến tốt, khả ái. Tại đây, Thế Tôn sẽ uống nước và làm mát chân tay.”
Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā pattaṁ gahetvā yena sā nadikā tenupasaṅkami. Atha kho sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā, āyasmante ānande upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Ayañhi sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandatī”ti. Pattena pānīyaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Idāni sā bhante nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha. Pivatu bhagavā pānīyaṁ pivatu sugato pānīyan”ti. Atha kho bhagavā pānīyaṁ apāyi.
And for a third time, the Buddha said to Ānanda, “Go on then, Ānanda, fetch me some water. I am thirsty and will drink.”
“Yes, sir,” replied Ānanda. Taking his bowl he went to the river. Now, though the shallow water in that creek had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when Ānanda approached it flowed transparent, clear, and unclouded.
Then Ānanda thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! The Realized One has such psychic power and might! For though the shallow water in that creek had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when I approached it flowed transparent, clear, and unclouded.” Gathering a bowl of drinking water he went back to the Buddha, and said to him, “It’s incredible, sir, it’s amazing! The Realized One has such psychic power and might! Just now, though the shallow water in that creek had been churned up by wheels, and flowed cloudy and murky, when I approached it flowed transparent, clear, and unclouded. Drink the water, Blessed One! Drink the water, Holy One!” So the Buddha drank the water.
Lần thứ ba, Thế Tôn lại gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, hãy lấy nước cho Như Lai. Này Ānanda, Như Lai khát, Như Lai sẽ uống.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, cầm bát đi đến dòng sông nhỏ ấy. Bấy giờ, dòng sông nhỏ ấy, bị bánh xe cắt qua, nước ít, khuấy động, vẩn đục đang chảy, khi Tôn giả Ānanda đến gần, liền trở nên trong, rất trong, không vẩn đục. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Dòng sông nhỏ này, bị bánh xe cắt qua, nước ít, khuấy động, vẩn đục đang chảy, khi ta đến gần, lại trở nên trong, rất trong, không vẩn đục.” Ngài lấy bát múc nước, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ngài bạch với Thế Tôn: “Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Bạch Thế Tôn, vừa rồi dòng sông nhỏ ấy, bị bánh xe cắt qua, nước ít, khuấy động, vẩn đục đang chảy, khi con đến gần, đã trở nên trong, rất trong, không vẩn đục. Xin Thế Tôn hãy uống nước, xin Thiện Thệ hãy uống nước.” Bấy giờ, Thế Tôn đã uống nước.
Tena kho pana samayena pukkuso mallaputto āḷārassa kālāmassa sāvako kusinārāya pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Now at that time Pukkusa the Malla, a disciple of Āḷāra Kālāma, was traveling along the road from Kusinārā to Pāvā.
Câu chuyện về Pukkusa, con trai của người Mallā
Bhūtapubbaṁ, bhante, āḷāro kālāmo addhānamaggappaṭipanno maggā okkamma avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi. Atha kho, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni āḷāraṁ kālāmaṁ nissāya nissāya atikkamiṁsu. Atha kho, bhante, aññataro puriso tassa sakaṭasatthassa piṭṭhito piṭṭhito āgacchanto yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavoca: ‘api, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti. ‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva addasa, na pana saddaṁ assosi; apisu te, bhante, saṅghāṭi rajena okiṇṇā’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, bhante, tassa purisassa etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti. Yatra hi nāma saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva dakkhati, na pana saddaṁ sossatī’ti. Āḷāre kālāme uḷāraṁ pasādaṁ pavedetvā pakkāmī”ti.
Once it so happened that Āḷāra Kālāma, while traveling along a road, left the road and sat at the root of a nearby tree for the day’s meditation. Then around five hundred carts passed by right beside Āḷāra Kālāma. Then a certain person coming behind those carts went up to Āḷāra Kālāma and said to him: ‘Sir, didn’t you see the five hundred carts pass by?’
‘No, respectable sir, I didn’t see them.’
‘But sir, didn’t you hear a sound?’
‘No, respectable sir, I didn’t hear a sound.’
‘But sir, were you asleep?’
‘No, respectable sir, I wasn’t asleep.’
‘But sir, were you conscious?’
‘Yes, respectable sir.’ ‘So, sir, while conscious and awake you neither saw nor heard a sound as five hundred carts passed by right beside you? Why sir, even your outer robe is covered with dust!’
‘Yes, respectable sir.’
Then that person thought: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! Those who have gone forth remain in such peaceful meditations, in that, while conscious and awake he neither saw nor heard a sound as five hundred carts passed by right next to him.’ And after declaring his lofty confidence in Āḷāra Kālāma, he left.”
192. Vào lúc bấy giờ, Pukkusa, con trai của người Mallā, một đệ tử của Āḷāra Kālāma, đang đi trên con đường dài từ Kusinārā đến Pāvā. Pukkusa, con trai của người Mallā, thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Sau khi thấy, ông đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Pukkusa, con trai của người Mallā, bạch với Thế Tôn: “Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Các vị xuất gia sống trong trạng thái thật an tịnh! Bạch Thế Tôn, thuở xưa, Āḷāra Kālāma đang đi trên con đường dài, ngài đi lệch khỏi con đường, ngồi xuống dưới một gốc cây không xa để nghỉ ban ngày. Bấy giờ, bạch Thế Tôn, có năm trăm cỗ xe đi qua rất gần Āḷāra Kālāma. Rồi, bạch Thế Tôn, có một người đàn ông đi theo sau đoàn xe ấy, đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, ông nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa ngài, ngài có thấy năm trăm cỗ xe đi qua không?’ ‘Này hiền hữu, tôi không thấy.’ ‘Vậy thưa ngài, ngài có nghe tiếng động không?’ ‘Này hiền hữu, tôi không nghe tiếng động.’ ‘Vậy thưa ngài, ngài có ngủ không?’ ‘Này hiền hữu, tôi không ngủ.’ ‘Vậy thưa ngài, ngài có tỉnh táo không?’ ‘Đúng vậy, hiền hữu.’ ‘Thưa ngài, ngài tỉnh táo, thức giấc, mà không thấy, cũng không nghe năm trăm cỗ xe đi qua rất gần; nhưng thưa ngài, tăng-già-lê của ngài có bị bụi bám không?’ ‘Đúng vậy, hiền hữu.’ Bấy giờ, bạch Thế Tôn, người đàn ông ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Các vị xuất gia sống trong trạng thái thật an tịnh! Vì rằng vị ấy tỉnh táo, thức giấc, mà không thấy, cũng không nghe năm trăm cỗ xe đi qua rất gần!’ Ông ta bày tỏ lòng tịnh tín cao độ đối với Āḷāra Kālāma rồi ra đi.”
“Taṁ kiṁ maññasi, pukkusa, katamaṁ nu kho dukkarataraṁ vā durabhisambhavataraṁ vā—yo vā saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyya; yo vā saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti?
“Kiñhi, bhante, karissanti pañca vā sakaṭasatāni cha vā sakaṭasatāni satta vā sakaṭasatāni aṭṭha vā sakaṭasatāni nava vā sakaṭasatāni, sakaṭasahassaṁ vā sakaṭasatasahassaṁ vā. Atha kho etadeva dukkaratarañceva durabhisambhavatarañca yo saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti.
“What do you think, Pukkusa? Which is harder and more challenging to do while conscious and awake: to neither see nor hear a sound as five hundred carts pass by right next to you? Or to neither see nor hear a sound as the heavens are raining and pouring, lightning’s flashing, and thunder’s cracking?”
“What do five hundred carts matter, or six hundred, or seven hundred, or eight hundred, or nine hundred, or a thousand, or even a hundred thousand carts? It’s far harder and more challenging to neither see nor hear a sound as the heavens are raining and pouring, lightning’s flashing, and thunder’s cracking!”
193. “Này Pukkusa, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Trong hai trường hợp, trường hợp nào khó làm hơn, khó xảy ra hơn: một người có tri giác, đang tỉnh thức, mà không thấy năm trăm cỗ xe đi qua sát bên cạnh, cũng không nghe tiếng động; hay một người có tri giác, đang tỉnh thức, trong khi trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, mà không thấy, cũng không nghe tiếng động?”. “Bạch Thế Tôn, năm trăm cỗ xe, hay sáu trăm, bảy trăm, tám trăm, chín trăm, một ngàn, hay một trăm ngàn cỗ xe thì có nghĩa lý gì? Trái lại, bạch Thế Tôn, chính việc một người có tri giác, đang tỉnh thức, trong khi trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, mà không thấy, cũng không nghe tiếng động, mới là việc khó làm hơn và khó xảy ra hơn.”
“Ekamidāhaṁ, pukkusa, samayaṁ ātumāyaṁ viharāmi bhusāgāre. Tena kho pana samayena deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā avidūre bhusāgārassa dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā. Atha kho, pukkusa, ātumāya mahājanakāyo nikkhamitvā yena te dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā tenupasaṅkami.
Tena kho panāhaṁ, pukkusa, samayena bhusāgārā nikkhamitvā bhusāgāradvāre abbhokāse caṅkamāmi. Atha kho, pukkusa, aññataro puriso tamhā mahājanakāyā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho ahaṁ, pukkusa, taṁ purisaṁ etadavocaṁ: ‘kiṁ nu kho eso, āvuso, mahājanakāyo sannipatito’ti?
‘Idāni, bhante, deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā. Ettheso mahājanakāyo sannipatito. Tvaṁ pana, bhante, kva ahosī’ti?
‘Idheva kho ahaṁ, āvuso, ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva addasa, na pana saddaṁ assosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, pukkusa, tassa purisassa etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti.
“This one time, Pukkusa, I was staying near Ātumā in a threshing-hut. At that time the heavens were raining and pouring, lightning was flashing, and thunder was cracking. And not far from the threshing-hut two farmers who were brothers were killed, as well as four oxen. Then a large crowd came from Ātumā to the place where that happened.
Now at that time I came out of the threshing-hut and was walking mindfully in the open near the door of the hut. Then having left that crowd, a certain person approached me, bowed, and stood to one side. I said to them, ‘Why, respectable sir, has this crowd gathered?’
‘Just now, sir, the heavens were raining and pouring, lightning was flashing, and thunder was cracking. And two farmers who were brothers were killed, as well as four oxen. Then this crowd gathered here. But sir, where were you?’
‘I was right here, respectable sir.’
‘But sir, did you see?’
‘No, respectable sir, I didn’t see anything.’
‘But sir, didn’t you hear a sound?’
‘No, respectable sir, I didn’t hear a sound.’
‘But sir, were you asleep?’
‘No, respectable sir, I wasn’t asleep.’
‘But sir, were you conscious?’
‘Yes, respectable sir.’
‘So, sir, while conscious and awake you neither saw nor heard a sound as the heavens were raining and pouring, lightning was flashing, and thunder was cracking?’
‘Yes, respectable sir.’
Then that person thought: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! Those who have gone forth remain in such peaceful meditations,
“Này Pukkusa, có một thời Ta ở tại Ātumā, trong một cái lều cỏ. Khi ấy, trong lúc trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, hai anh em nông dân và bốn con bò đực đã bị sét đánh chết ở nơi không xa lều cỏ. Bấy giờ, này Pukkusa, một đám đông dân chúng từ Ātumā đi ra, đến nơi hai anh em nông dân và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Vào lúc ấy, này Pukkusa, Ta đi ra khỏi lều cỏ và đang đi kinh hành ở ngoài trời, gần cửa lều cỏ. Bấy giờ, này Pukkusa, một người đàn ông từ đám đông ấy đi đến chỗ Ta; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Này Pukkusa, Ta nói với người đàn ông đang đứng một bên ấy như sau: ‘Này hiền giả, vì sao đám đông dân chúng này lại tụ tập ở đây vậy?’ ‘Bạch Thế Tôn, vừa rồi, trong lúc trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, hai anh em nông dân và bốn con bò đực đã bị sét đánh chết. Vì vậy mà đám đông dân chúng này tụ tập ở đây. Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài đã ở đâu?’ ‘Này hiền giả, Ta đã ở ngay tại đây.’ ‘Bạch Thế Tôn, vậy Ngài có thấy gì không?’ ‘Này hiền giả, Ta không thấy gì cả.’ ‘Bạch Thế Tôn, vậy Ngài có nghe tiếng động gì không?’ ‘Này hiền giả, Ta không nghe tiếng động gì cả.’ ‘Bạch Thế Tôn, vậy Ngài đang ngủ ư?’ ‘Này hiền giả, Ta không ngủ.’ ‘Bạch Thế Tôn, vậy Ngài có tri giác không?’ ‘Đúng vậy, hiền giả.’ ‘Bạch Thế Tôn, vậy là Ngài có tri giác, đang tỉnh thức, trong khi trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, mà đã không thấy, cũng không nghe tiếng động gì sao?’ ‘Đúng vậy, hiền giả.’”
“Bấy giờ, này Pukkusa, người đàn ông ấy suy nghĩ rằng: ‘Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Thật vi diệu thay, thưa quý vị! Các vị xuất gia quả thật sống trong một trạng thái an tịnh. Bởi vì vị này, trong khi có tri giác và tỉnh thức, giữa lúc trời đang mưa, sấm sét rền vang, chớp giật, sét đánh, mà đã không thấy, cũng không nghe tiếng động gì.’ Sau khi bày tỏ lòng tịnh tín vô lượng đối với Ta, vị ấy đảnh lễ Ta, đi nhiễu bên phải rồi ra về.”
Evaṁ vutte, pukkuso mallaputto bhagavantaṁ etadavoca: “esāhaṁ, bhante, yo me āḷāre kālāme pasādo taṁ mahāvāte vā ophuṇāmi sīghasotāya vā nadiyā pavāhemi. Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he said this, Pukkusa said to him, “Any confidence I had in Āḷāra Kālāma I whisk away as in a strong wind, or glide away as down a swift stream. Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, Pukkusa người Mallā bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, lòng tịnh tín nào của con đối với Āḷāra Kālāma, con xin tung nó đi trong gió lớn, hoặc thả trôi nó trong dòng sông chảy xiết. Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Ví như, bạch Thế Tôn, người ta lật ngửa vật bị úp, hoặc phơi bày vật bị che giấu, hoặc chỉ đường cho người bị lạc, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Pháp đã được Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Xin Thế Tôn hãy ghi nhận con là một cận sự nam đã quy y trọn đời, kể từ hôm nay.”
Atha kho pukkuso mallaputto aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, bhaṇe, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āharā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso pukkusassa mallaputtassa paṭissutvā taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āhari. Atha kho pukkuso mallaputto taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato upanāmesi: “idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ, taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Tena hi, pukkusa, ekena maṁ acchādehi, ekena ānandan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pukkuso mallaputto bhagavato paṭissutvā ekena bhagavantaṁ acchādeti, ekena āyasmantaṁ ānandaṁ.
Atha kho bhagavā pukkusaṁ mallaputtaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho pukkuso mallaputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then Pukkusa addressed a certain man, “Go on then, lad, fetch me a pair of ready to wear garments the color of mountain gold.”
“Yes, sir,” replied that man, and did as he was asked. Then Pukkusa brought the garments to the Buddha, “Sir, please accept this pair of ready to wear garments the color of mountain gold from me out of sympathy.”
“Well then, Pukkusa, clothe me in one, and Ānanda in the other.”
“Yes, sir,” replied Pukkusa, and did so.
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired Pukkusa the Malla with a Dhamma talk, after which he got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
194. Bấy giờ, Pukkusa người Mallā gọi một người đàn ông: “Này bạn, hãy lại đây, mang cho ta cặp y màu vàng ròng, mịn màng, quý giá.” “Vâng, thưa ngài,” người đàn ông ấy vâng lời Pukkusa người Mallā, rồi mang đến cặp y màu vàng ròng, mịn màng, quý giá ấy. Bấy giờ, Pukkusa người Mallā dâng cặp y màu vàng ròng, mịn màng, quý giá ấy lên Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đây là cặp y màu vàng ròng, mịn màng, quý giá. Xin Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà nhận lấy cho con.” “Vậy thì, này Pukkusa, hãy khoác một chiếc cho Ta, và một chiếc cho Ānanda.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” Pukkusa người Mallā vâng lời Thế Tôn, khoác một chiếc y cho Thế Tôn và một chiếc cho Tôn giả Ānanda. Bấy giờ, Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa người Mallā, làm cho thấy rõ, khuyến khích, làm cho hăng hái và làm cho phấn khởi. Và Pukkusa người Mallā, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp làm cho thấy rõ, khuyến khích, làm cho hăng hái và làm cho phấn khởi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkante pukkuse mallaputte taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmesi. Taṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyati. Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, yāva parisuddho, bhante, tathāgatassa chavivaṇṇo pariyodāto. Idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyatī”ti.
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto. Katamesu dvīsu? Yañca, ānanda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati. Imesu kho, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto.
Ajja kho panānanda, rattiyā pacchime yāme kusinārāyaṁ upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Āyāmānanda, yena kakudhā nadī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Then, not long after Pukkusa had left, Ānanda placed the pair of garments the color of mountain gold by the Buddha’s body. But when placed by the Buddha’s body they seemed to lose their sheen. Then Ānanda said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing, how pure and bright is the color of the Realized One’s skin. When this pair of ready to wear garments the color of mountain gold is placed by the Buddha’s body they seem to lose their sheen.”
“That’s so true, Ānanda, that’s so true! There are two times when the color of the Realized One’s skin becomes extra pure and bright. What two? The night when a Realized One awakens to the supreme perfect awakening; and the night he becomes fully extinguished in the element of extinguishment with no residue. These are the are two times when the color of the Realized One’s skin becomes extra pure and bright.
Today, Ānanda, in the last watch of the night, between a pair of sal trees in the sal forest of the Mallas at Upavattana near Kusinārā, shall be the Realized One’s full extinguishment. Come, Ānanda, let’s go to the Kakudhā River.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
195. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda, khi Pukkusa người con trai của bộ tộc Mallā vừa mới ra đi, đã khoác lên thân của Đức Thế Tôn cặp y màu vàng ròng, được mài giũa, đáng được mặc. Khi được khoác lên thân của Đức Thế Tôn, cặp y ấy dường như đã mất đi vẻ rực rỡ. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Sắc da của Như Lai thật trong sạch, thật sáng chói, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, cặp y màu vàng ròng, được mài giũa, đáng được mặc này, khi được khoác lên thân của Đức Thế Tôn, dường như đã mất đi vẻ rực rỡ.” “Đúng vậy, Ānanda! Đúng vậy, Ānanda! Trong hai thời điểm, thân của Như Lai trở nên vô cùng trong sạch và sắc da trở nên vô cùng sáng chói. Hai thời điểm nào? Này Ānanda, đêm nào Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và đêm nào Như Lai nhập Vô Dư Y Niết-bàn. Này Ānanda, trong hai thời điểm này, thân của Như Lai trở nên vô cùng trong sạch và sắc da trở nên vô cùng sáng chói. Và này Ānanda, hôm nay, vào canh cuối của đêm, tại Upavattana của xứ Kusinārā, trong rừng Sāla của bộ tộc Mallā, giữa hai cây Sāla song đôi, sự viên tịch của Như Lai sẽ diễn ra. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến sông Kakudhā.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda đã vâng lời Đức Thế Tôn.
Siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ, pukkuso abhihārayi; Tena acchādito satthā, hemavaṇṇo asobhathāti.
(…)
A pair of garments the color of mountain gold was presented by Pukkusa; when the Teacher was clothed with them, his snow gold skin glowed bright.
Pukkusa đã dâng cúng, cặp y màu vàng ròng được mài giũa; được khoác lên mình y ấy, bậc Đạo Sư, rực rỡ như vàng ròng.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kakudhā nadī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kakudhaṁ nadiṁ ajjhogāhetvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena ambavanaṁ tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā āyasmantaṁ cundakaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, cundaka, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, cundaka, nipajjissāmī”ti.
Then the Buddha together with a large Saṅgha of mendicants went to the Kakudhā River. He plunged into the river and bathed and drank. And when he had emerged, he went to the mango grove, where he addressed Venerable Cundaka, “Go on then, Cundaka, fold my outer robe in four and spread it out for me. I am tired and will lie down.”
196. Bấy giờ, Đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-khưu đi đến sông Kakudhā; sau khi đến, Ngài lội xuống sông Kakudhā, tắm và uống nước, rồi đi lên bờ và đi đến khu rừng xoài. Sau khi đến, Ngài gọi Tôn giả Cundaka: “Này Cundaka, hãy trải cho Ta Tăng-già-lê gấp làm tư. Này Cundaka, Ta mệt, Ta sẽ nằm nghỉ.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā cundako bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi. Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasikaritvā. Āyasmā pana cundako tattheva bhagavato purato nisīdi.
“Yes, sir,” replied Cundaka, and did as he was asked. And then the Buddha laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. But Cundaka sat down right there in front of the Buddha.
“Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Cundaka vâng lời Đức Thế Tôn, đã trải Tăng-già-lê gấp làm tư. Bấy giờ, Đức Thế Tôn nằm xuống trong tư thế sư tử, nghiêng về hông phải, chân này gác lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác, tác ý đến tưởng khởi dậy. Còn Tôn giả Cundaka thì ngồi xuống ngay tại đó, trước mặt Đức Thế Tôn.
Gantvāna buddho nadikaṁ kakudhaṁ, Acchodakaṁ sātudakaṁ vippasannaṁ; Ogāhi satthā akilantarūpo, Tathāgato appaṭimo ca loke.
Having gone to Kakudhā Creek, whose water was transparent, sweet, and clear, the Teacher, being tired, plunged in, the Realized One, without compare in the world.
Đức Phật đã đi đến dòng sông Kakudhā, nước trong, nước ngọt, thật tinh khiết; bậc Đạo Sư, thân không mệt mỏi, đã lội xuống, Đấng Như Lai, vô song trong đời.
Nhatvā ca pivitvā cudatāri satthā, Purakkhato bhikkhugaṇassa majjhe; Vattā pavattā bhagavā idha dhamme, Upāgami ambavanaṁ mahesi.
And after bathing and drinking the Teacher emerged. Before the group of mendicants, in the middle, <j>the Buddha, the Teacher <j>who rolled forth the present dispensation, the great seer went to the mango grove.
Tắm và uống xong, bậc Đạo Sư lên bờ, đi trước giữa chúng Tỳ-khưu; Đức Thế Tôn, bậc Đại Sĩ, người nói và giảng rộng các pháp ở đây, đã đi đến khu rừng xoài.
Āmantayi cundakaṁ nāma bhikkhuṁ, Catugguṇaṁ santhara me nipajjaṁ; So codito bhāvitattena cundo, Catugguṇaṁ santhari khippameva;
He addressed the mendicant named Cundaka: “Spread out my folded robe so I can lie down.” The evolved one urged Cunda, who quickly spread the folded robe.
Ngài gọi vị Tỳ-khưu tên Cundaka: ‘Hãy trải cho Ta y gấp tư để nằm nghỉ.’ Được bậc đã tu tập tâm yêu cầu, Cunda ấy đã nhanh chóng trải y gấp tư.
Bậc Đạo Sư nằm nghỉ, thân không mệt mỏi, Cunda cũng ngồi đó, ở phía trước.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, cundassa kammāraputtassa koci vippaṭisāraṁ uppādeyya: ‘tassa te, āvuso cunda, alābhā tassa te dulladdhaṁ, yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto’ti. Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo: ‘tassa te, āvuso cunda, lābhā tassa te suladdhaṁ, yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto. Sammukhā metaṁ, āvuso cunda, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
dveme piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca. Katame dve? Yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati. Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
Āyusaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, vaṇṇasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, sukhasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, yasasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, saggasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, ādhipateyyasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitan’ti. Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then the Buddha said to Venerable Ānanda:
“Now it may happen, Ānanda, that someone may give rise to regret in Cunda the smith: ‘It’s your loss, respected Cunda, it’s your misfortune, in that the Realized One was fully quenched after eating his last almsmeal from you.’ You should dispel remorse in Cunda the smith like this: ‘You’re fortunate, respected Cunda, you’re so very fortunate, in that the Realized One was fully quenched after eating his last almsmeal from you. I have heard and learned this in the presence of the Buddha.
There are two almsmeal offerings that have identical fruit and result, and are more fruitful and beneficial than other almsmeal offerings. What two? The almsmeal after eating which a Realized One awakens to the supreme perfect awakening; and the almsmeal after eating which he becomes fully extinguished in the element of extinguishment with no residue. These two almsmeal offerings have identical fruit and result, and are more fruitful and beneficial than other almsmeal offerings.
You’ve accumulated a deed that leads to long life, beauty, happiness, fame, heaven, and sovereignty.’ That’s how you should dispel remorse in Cunda the smith.”
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
197. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, có thể có người làm cho Cunda, con người thợ rèn, hối hận rằng: ‘Thật bất lợi cho hiền giả Cunda, thật không may cho hiền giả Cunda, vì Như Lai đã viên tịch sau khi dùng bữa cúng dường cuối cùng của hiền giả.’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda, con người thợ rèn, phải được xua tan như thế này: ‘Thật là lợi ích cho hiền giả Cunda, thật là may mắn cho hiền giả Cunda, vì Như Lai đã viên tịch sau khi dùng bữa cúng dường cuối cùng của hiền giả. Này hiền giả Cunda, tôi đã được nghe từ chính kim khẩu của Đức Thế Tôn, đã được lãnh thọ từ chính kim khẩu của Ngài: “Có hai bữa cúng dường này có quả bằng nhau, có dị thục bằng nhau, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa cúng dường khác.” Hai bữa nào? Bữa cúng dường mà sau khi dùng, Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và bữa cúng dường mà sau khi dùng, Như Lai nhập Vô Dư Y Niết-bàn. Hai bữa cúng dường này có quả bằng nhau, có dị thục bằng nhau, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa cúng dường khác. Tôn giả Cunda, con người thợ rèn, đã tích lũy nghiệp đưa đến tuổi thọ, đã tích lũy nghiệp đưa đến sắc đẹp, đã tích lũy nghiệp đưa đến an lạc, đã tích lũy nghiệp đưa đến danh tiếng, đã tích lũy nghiệp đưa đến cõi trời, đã tích lũy nghiệp đưa đến quyền uy.’ Này Ānanda, sự hối hận của Cunda, con người thợ rèn, phải được xua tan như thế ấy.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn, hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Dadato puññaṁ pavaḍḍhati, Saṁyamato veraṁ na cīyati; Kusalo ca jahāti pāpakaṁ, Rāgadosamohakkhayā sanibbuto”ti.
“A giver’s merit grows; enmity doesn’t build up when you have self-control. A skillful person gives up bad things—with the end of greed, hate, and delusion, <j>they’re quenched.”
“Người bố thí, phước đức tăng trưởng, người tự chế, oán thù không tích tụ; người thiện xảo từ bỏ điều ác, do đoạn tận tham, sân, si, người ấy được tịch tịnh.”
Catuttho bhāṇavāro.
The fourth recitation section.
Phẩm thứ tư.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “āyāmānanda, yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “iṅgha me tvaṁ, ānanda, antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapesi. Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Then the Buddha said to Ānanda, “Come, Ānanda, let’s go to the far shore of the Golden River, and on to the sal forest of the Mallas at Upavattana near Kusinārā.”
“Yes, sir,” Ānanda replied. And that’s where they went. Then the Buddha addressed Ānanda, “Go on then, Ānanda, set up a cot for me between the twin sal trees, with my head to the north. I am tired and will lie down.”
“Yes, sir,” replied Ānanda, and did as he was asked. And then the Buddha laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware.
198. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến bờ bên kia của sông Hiraññavatī, đến khu rừng Sāla của dòng họ Malla tại Upavattana của xứ Kusinārā.' Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn: 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn.' Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ khưu đi đến bờ bên kia của sông Hiraññavatī, đến khu rừng Sāla của dòng họ Malla tại Upavattana của xứ Kusinārā. Sau khi đến nơi, ngài gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, hãy sửa soạn cho Như Lai một chiếc giường giữa hai cây Sāla song thọ, đầu hướng về phía bắc. Này Ānanda, Như Lai mệt mỏi, Như Lai sẽ nằm nghỉ.' Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn: 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn,' rồi sửa soạn một chiếc giường giữa hai cây Sāla song thọ, đầu hướng về phía bắc. Bấy giờ, Thế Tôn nằm xuống trong tư thế con sư tử, nghiêng về hông bên phải, chân này gác lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác.
Tena kho pana samayena yamakasālā sabbaphāliphullā honti akālapupphehi. Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya.
Now at that time the twin sal trees were in full blossom with flowers out of season. They sprinkled and bestrewed the Realized One’s body in honor of the Realized One. And the flowers of the heavenly Flame Tree fell from the sky, and they too sprinkled and bestrewed the Realized One’s body in honor of the Realized One. And heavenly sandalwood powder fell from the sky, and it too sprinkled and bestrewed the Realized One’s body in honor of the Realized One. And heavenly music played in midair in honor of the Realized One. And heavenly choirs sang in midair in honor of the Realized One.
Vào lúc ấy, hai cây Sāla song thọ trổ đầy hoa trái mùa. Để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo hoa lên thân của Như Lai. Những đóa hoa mandārava của chư thiên cũng từ hư không rơi xuống; để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo hoa lên thân của Như Lai. Bột chiên-đàn của chư thiên cũng từ hư không rơi xuống; để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo bột thơm lên thân của Như Lai. Nhạc cụ của chư thiên cũng vang lên trong hư không để cúng dường Như Lai. Ca khúc của chư thiên cũng vang lên trong hư không để cúng dường Như Lai.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “sabbaphāliphullā kho, ānanda, yamakasālā akālapupphehi. Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya. Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya. Na kho, ānanda, ettāvatā tathāgato sakkato vā hoti garukato vā mānito vā pūjito vā apacito vā. Yo kho, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tathāgataṁ sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti apaciyati, paramāya pūjāya. Tasmātihānanda, dhammānudhammappaṭipannā viharissāma sāmīcippaṭipannā anudhammacārinoti. Evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
Then the Buddha pointed out to Ānanda what was happening, adding: “That’s not the full extent of how the Realized One is honored, respected, revered, venerated, and esteemed. Any monk or nun or male or female lay follower who practices in line with the teaching, practicing properly, living in line with the teaching—they honor, respect, revere, venerate, and esteem the Realized One with the highest honor. So Ānanda, you should train like this: ‘We shall practice in line with the teaching, practicing properly, living in line with the teaching.’”
199. Bấy giờ, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: 'Này Ānanda, hai cây Sāla song thọ trổ đầy hoa trái mùa. Để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo hoa lên thân của Như Lai. Những đóa hoa mandārava của chư thiên cũng từ hư không rơi xuống; để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo hoa lên thân của Như Lai. Bột chiên-đàn của chư thiên cũng từ hư không rơi xuống; để cúng dường Như Lai, chúng rải, tung, và gieo bột thơm lên thân của Như Lai. Nhạc cụ của chư thiên cũng vang lên trong hư không để cúng dường Như Lai. Ca khúc của chư thiên cũng vang lên trong hư không để cúng dường Như Lai. Này Ānanda, Như Lai không được tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, hay tôn trọng chỉ với chừng ấy. Này Ānanda, vị Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ nào sống thực hành Pháp và tùy Pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Pháp, chính người ấy tôn kính, trọng vọng, quý mến, cúng dường, và tôn trọng Như Lai bằng sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ānanda, các ngươi phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ sống thực hành Pháp và tùy Pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo Pháp.' Này Ānanda, các ngươi phải học tập như vậy.'
Trưởng lão Upavāṇa
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato purato ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāresi: “apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī”ti.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī. Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti: ‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti. Ko nu kho hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti: ‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī. Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti: ‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti. Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti: ‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
“Yebhuyyena, ānanda, dasasu lokadhātūsu devatā sannipatitā tathāgataṁ dassanāya. Yāvatā, ānanda, kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ samantato dvādasa yojanāni, natthi so padeso vālaggakoṭinittudanamattopi mahesakkhāhi devatāhi apphuṭo. Devatā, ānanda, ujjhāyanti: ‘dūrā ca vatamha āgatā tathāgataṁ dassanāya. Kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā. Ajjeva rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ayañca mahesakkho bhikkhu bhagavato purato ṭhito ovārento, na mayaṁ labhāma pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
Now at that time Venerable Upavāṇa was standing in front of the Buddha fanning him. Then the Buddha made him move, “Move over, mendicant, don’t stand in front of me.”
Ānanda thought, “This Venerable Upavāṇa has been the Buddha’s attendant for a long time, close to him, living in his presence. Yet in his final hour the Buddha makes him move, saying: ‘Move over, mendicant, don’t stand in front of me.’ What is the cause, what is the reason for this?”
Then Ānanda said to the Buddha, “This Venerable Upavāṇa has been the Buddha’s attendant for a long time, close to him, living in his presence. Yet in his final hour the Buddha makes him move, saying: ‘Move over, mendicant, don’t stand in front of me.’ What is the cause, sir, what is the reason for this?”
“Most of the deities from ten solar systems have gathered to see the Realized One. For twelve leagues all around this sal grove there’s no spot, not even a fraction of a hair’s tip, that’s not crowded full of illustrious deities. The deities are complaining: ‘We’ve come such a long way to see the Realized One! Only rarely do Realized Ones arise in the world, perfected ones, fully awakened Buddhas. This very day, in the last watch of the night, the Realized One will be fully extinguished. And this illustrious mendicant is standing in front of the Buddha blocking the view. We won’t get to see the Realized One in his final hour!’”
200. Vào lúc ấy, Tôn giả Upavāṇa đang đứng trước mặt Thế Tôn và quạt hầu ngài. Bấy giờ, Thế Tôn cho Tôn giả Upavāṇa lui ra: 'Này Tỳ khưu, hãy tránh qua một bên, đừng đứng trước mặt Như Lai.' Lúc ấy, Tôn giả Ānanda khởi lên ý nghĩ: 'Tôn giả Upavāṇa này đã hầu cận Thế Tôn từ lâu, ở gần bên, thường xuyên túc trực. Vậy mà vào lúc cuối cùng, Thế Tôn lại cho Tôn giả Upavāṇa lui ra: 'Này Tỳ khưu, hãy tránh qua một bên, đừng đứng trước mặt Như Lai.' Do nguyên nhân nào, do duyên cớ nào mà Thế Tôn lại cho Tôn giả Upavāṇa lui ra: 'Này Tỳ khưu, hãy tránh qua một bên, đừng đứng trước mặt Như Lai'?' Rồi Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Upavāṇa này đã hầu cận Thế Tôn từ lâu, ở gần bên, thường xuyên túc trực. Vậy mà vào lúc cuối cùng, Thế Tôn lại cho Tôn giả Upavāṇa lui ra: 'Này Tỳ khưu, hãy tránh qua một bên, đừng đứng trước mặt Như Lai.' Bạch Thế Tôn, do nguyên nhân nào, do duyên cớ nào mà Thế Tôn lại cho Tôn giả Upavāṇa lui ra: 'Này Tỳ khưu, hãy tránh qua một bên, đừng đứng trước mặt Như Lai'?' 'Này Ānanda, phần lớn chư thiên trong mười ngàn thế giới đã tụ hội về để được thấy Như Lai. Này Ānanda, trong phạm vi mười hai do-tuần xung quanh khu rừng Sāla của dòng họ Malla tại Upavattana của xứ Kusinārā, không có một chỗ nào dù nhỏ bằng đầu sợi lông mà không có mặt các vị thiên có đại thần lực. Này Ānanda, chư thiên đang phàn nàn: 'Chúng ta đã từ rất xa đến đây để được thấy Như Lai. Thật hiếm hoi và thỉnh thoảng các vị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới xuất hiện ở thế gian. Đêm nay, vào canh cuối, Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn. Vậy mà vị Tỳ khưu có đại thần lực này lại đứng che trước mặt Thế Tôn, khiến chúng ta không được thấy Như Lai vào lúc cuối cùng này.''
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, bhagavā devatā manasikarotī”ti?
“Santānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: ‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
“But sir, what kind of deities are you thinking of?”
“There are, Ānanda, deities—both in space and on the earth—who are aware of the earth. With hair disheveled and arms raised, they fall down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamenting: ‘Too soon the Blessed One will be fully extinguished! Too soon the Holy One will be fully extinguished! Too soon the Eye of the World will vanish!’
201. “Bạch Thế Tôn, các vị chư thiên đang suy nghĩ như thế nào ạ?” “Này Ānanda, có các vị chư thiên ở hư không, nhưng tâm còn tưởng đến đất, đang xõa tóc khóc than, giơ tay lên khóc than, ngã vật xuống như bị té từ vực thẳm, lăn qua lộn lại, vật vã khóc than rằng: ‘Thế Tôn sẽ nhập vô dư Niết-bàn quá sớm! Thiện Thệ sẽ nhập vô dư Niết-bàn quá sớm! Con mắt của thế gian sẽ biến mất quá sớm!’”
Santānanda, devatā pathaviyaṁ pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: ‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
“Này Ānanda, có các vị chư thiên ở trên mặt đất, tâm còn tưởng đến đất, đang xõa tóc khóc than, giơ tay lên khóc than, ngã vật xuống như bị té từ vực thẳm, lăn qua lộn lại, vật vã khóc than rằng: ‘Thế Tôn sẽ nhập vô dư Niết-bàn quá sớm! Thiện Thệ sẽ nhập vô dư Niết-bàn quá sớm! Con mắt của thế gian sẽ biến mất quá sớm!’”
Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti: ‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
But the deities who are free of desire endure, mindful and aware, thinking: ‘Conditions are impermanent. How could it possibly be otherwise?’”
“Còn những vị chư thiên nào đã ly tham, các vị ấy có chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng và suy niệm rằng: ‘Các pháp hữu vi là vô thường, làm sao có thể khác được?’”
Bốn Thánh Tích Gây Xúc Động
“Pubbe, bhante, disāsu vassaṁvuṭṭhā bhikkhū āgacchanti tathāgataṁ dassanāya. Te mayaṁ labhāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, labhāma payirupāsanāya. Bhagavato pana mayaṁ, bhante, accayena na labhissāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, na labhissāma payirupāsanāyā”ti.
“Previously, sir, when mendicants had completed the rainy season residence in various districts they came to see the Realized One. We got to see the esteemed mendicants, and to pay homage to them. But when the Buddha has passed, we won’t get to see the esteemed mendicants or to pay homage to them.”
202. “Bạch Thế Tôn, trước đây, các Tỳ khưu đã an cư mùa mưa xong từ các phương thường đến để yết kiến Như Lai. Chúng con đã được cơ hội yết kiến, được cơ hội hầu cận các vị Tỳ khưu đáng phát triển tâm ý ấy. Nhưng bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn diệt độ, chúng con sẽ không còn được cơ hội yết kiến, không còn được cơ hội hầu cận các vị Tỳ khưu đáng phát triển tâm ý ấy nữa.”
“Cattārimāni, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni. Katamāni cattāri? ‘Idha tathāgato jāto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ. ‘Idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ. ‘Idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ. ‘Idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ. Imāni kho, ānanda, cattāri saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni.
“Ānanda, a faithful gentleman should go to see these four inspiring places. What four? Thinking: ‘Here the Realized One was born!’—that is an inspiring place. Thinking: ‘Here the Realized One became awakened as a supreme fully awakened Buddha!’—that is an inspiring place. Thinking: ‘Here the supreme Wheel of Dhamma was rolled forth by the Realized One!’—that is an inspiring place. Thinking: ‘Here the Realized One was fully quenched in the element of extinguishment with no residue!’—that is an inspiring place. These are the four inspiring places that a faithful gentleman should go to see.
“Này Ānanda, có bốn nơi này, người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động. Bốn nơi nào? ‘Đây là nơi Như Lai đản sinh,’ này Ānanda, đó là nơi người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động. ‘Đây là nơi Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,’ này Ānanda, đó là nơi người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động. ‘Đây là nơi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng,’ này Ānanda, đó là nơi người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động. ‘Đây là nơi Như Lai nhập Vô Dư Y Niết-bàn,’ này Ānanda, đó là nơi người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động. Này Ānanda, đây là bốn nơi mà người thiện gia nam tử có lòng tin nên đến chiêm bái để phát sinh sự cảm động.”
Āgamissanti kho, ānanda, saddhā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo: ‘idha tathāgato jāto’tipi, ‘idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’tipi, ‘idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’tipi, ‘idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’tipi. Ye hi keci, ānanda, cetiyacārikaṁ āhiṇḍantā pasannacittā kālaṁ karissanti, sabbe te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissantī”ti.
Faithful monks, nuns, laymen, and laywomen will come, and think: ‘Here the Realized One was born!’ and ‘Here the Realized One became awakened as a supreme fully awakened Buddha!’ and ‘Here the supreme Wheel of Dhamma was rolled forth by the Realized One!’ and ‘Here the Realized One was fully quenched in the element of extinguishment with no residue!’ Anyone who passes away while on pilgrimage to these shrines will, when their body breaks up, after death, be reborn in a good place, a heavenly realm.”
“Này Ānanda, các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ có lòng tin sẽ đến với ý nghĩ: ‘Đây là nơi Như Lai đản sinh,’ ‘Đây là nơi Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,’ ‘Đây là nơi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng,’ ‘Đây là nơi Như Lai nhập Vô Dư Y Niết-bàn.’ Này Ānanda, bất cứ ai trong khi đi chiêm bái các thánh tích mà từ trần với tâm trong sạch, tín thành, tất cả những người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được tái sanh vào cõi thiện, cõi trời.”
Lời Hỏi Của Ngài Ānanda
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, mātugāme paṭipajjāmā”ti?
“Adassanaṁ, ānandā”ti.
“Dassane, bhagavā, sati kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Anālāpo, ānandā”ti.
“Ālapantena pana, bhante, kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Sati, ānanda, upaṭṭhāpetabbā”ti.
“Sir, how do we proceed when it comes to ladies?”
“Without looking, Ānanda.”
“But when looking, how to proceed?”
“Without chatting, Ānanda.”
“But when chatting, how to proceed?”
“Be mindful, Ānanda.”
203. “Bạch Thế Tôn, chúng con phải thực hành như thế nào đối với phụ nữ?” “Này Ānanda, không nên nhìn.” “Bạch Thế Tôn, khi phải nhìn, phải thực hành như thế nào?” “Này Ānanda, không nên nói chuyện.” “Bạch Thế Tôn, khi phải nói chuyện, phải thực hành như thế nào?” “Này Ānanda, phải an trú chánh niệm.”
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāya. Iṅgha tumhe, ānanda, sāratthe ghaṭatha anuyuñjatha, sāratthe appamattā ātāpino pahitattā viharatha. Santānanda, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
“Sir, how do we proceed when it comes to the Realized One’s corpse?”
“Don’t get involved in the rites for venerating the Realized One’s corpse, Ānanda. Please, Ānanda, you must all strive and practice for your heart’s goal! Meditate diligent, keen, and resolute for your heart’s goal! There are astute aristocrats, brahmins, and householders who are devoted to the Realized One. They will perform the rites for venerating the Realized One’s corpse.”
204. “Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự như thế nào đối với nhục thân của Như Lai?” “Này Ānanda, các ông chớ có bận tâm đến việc cúng dường nhục thân của Như Lai. Này Ānanda, hãy cố gắng, hãy nỗ lực vì mục tiêu chân chánh. Hãy sống không phóng dật, nhiệt tâm, quyết chí hướng về mục tiêu chân chánh. Này Ānanda, có những vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ hiền trí, có lòng tịnh tín sâu sắc nơi Như Lai, chính họ sẽ lo việc cúng dường nhục thân của Như Lai.”
“Kathaṁ pana, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti?
“Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, ānanda, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti. Etenupāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti. Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti. Evaṁ kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti. Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ. Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo. Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
“But sir, how to proceed when it comes to the Realized One’s corpse?”
“Proceed in the same way as they do for the corpse of a wheel-turning monarch.”
“But how do they proceed with a wheel-turning monarch’s corpse?”
“They wrap a wheel-turning monarch’s corpse with unworn cloth, then with uncarded cotton, then again with unworn cloth. In this way they wrap the corpse with five hundred double-layers. Then they place it in an iron casket filled with oil and close it up with another casket. Then, having built a funeral pyre out of all kinds of aromatics, they cremate the corpse. They build a monument for the wheel-turning monarch at the crossroads. That’s how they proceed with a wheel-turning monarch’s corpse. Proceed in the same way with the Realized One’s corpse. A monument for the Realized One is to be built at the crossroads. When someone there lifts up garlands or fragrance or powder, or bows, or inspires confidence in their heart, that will be for their lasting welfare and happiness.
205. “Bạch Thế Tôn, vậy phải xử sự như thế nào đối với nhục thân của Như Lai?” “Này Ānanda, phải xử sự như đối với nhục thân của một vị Chuyển Luân Thánh Vương.” “Bạch Thế Tôn, người ta xử sự như thế nào đối với nhục thân của một vị Chuyển Luân Thánh Vương?” “Này Ānanda, nhục thân của một vị Chuyển Luân Thánh Vương được quấn bằng vải mới. Sau khi quấn bằng vải mới, người ta quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ. Sau khi quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ, người ta lại quấn bằng vải mới. Cứ theo cách thức ấy, người ta quấn nhục thân của vị Chuyển Luân Thánh Vương với năm trăm lớp vải và năm trăm lớp bông gòn. Sau đó, đặt nhục thân vào trong một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu, rồi đậy lại bằng một quan tài bằng sắt khác. Sau khi đã làm một giàn hỏa bằng tất cả các loại gỗ thơm, người ta hỏa táng nhục thân của vị Chuyển Luân Thánh Vương. Và người ta xây một bảo tháp cho vị Chuyển Luân Thánh Vương ở ngã tư đường. Này Ānanda, đó là cách người ta xử sự đối với nhục thân của một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Như cách người ta xử sự đối với nhục thân của một vị Chuyển Luân Thánh Vương, này Ānanda, cũng vậy, phải xử sự đối với nhục thân của Như Lai. Phải xây một bảo tháp cho Như Lai ở ngã tư đường. Ở nơi ấy, những ai dâng lên vòng hoa, hương liệu, hay bột thơm, hoặc đảnh lễ, hoặc làm cho tâm mình tịnh tín, việc làm ấy sẽ đem lại cho họ sự lợi ích và an lạc lâu dài.”
Những Bậc Xứng Đáng Được Xây Tháp
Cattārome, ānanda, thūpārahā. Katame cattāro? Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho, paccekasambuddho thūpāraho, tathāgatassa sāvako thūpāraho, rājā cakkavattī thūpārahoti.
Ānanda, these four are worthy of a monument. What four? A Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha; an independent Buddha; a disciple of a Realized One; and a wheel-turning monarch.
206. “Này Ānanda, có bốn hạng người này xứng đáng được xây tháp. Bốn hạng nào? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác là bậc xứng đáng được xây tháp. Bậc Độc Giác Phật là bậc xứng đáng được xây tháp. Vị Thanh văn của Như Lai là bậc xứng đáng được xây tháp. Vị Chuyển Luân Thánh Vương là bậc xứng đáng được xây tháp.”
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho? ‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti. Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho.
And for what reason is a Realized One worthy of a monument? So that many people will inspire confidence in their hearts, thinking: ‘This is the monument for that Blessed One, perfected and fully awakened!’ And having done so, when their body breaks up, after death, they are reborn in a good place, a heavenly realm. It is for this reason that a Realized One is worthy of a monument.
Này Ānanda, do nhân duyên lợi ích nào mà Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xứng đáng được dựng tháp? Này Ānanda, (khi nghĩ rằng): ‘Đây là tháp của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy’, nhiều người làm cho tâm được tịnh tín. Họ, sau khi làm cho tâm tịnh tín ở nơi ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về cõi lành, cảnh trời. Này Ānanda, chính do nhân duyên lợi ích này mà Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xứng đáng được dựng tháp.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho? ‘Ayaṁ tassa bhagavato paccekasambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti. Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho.
And for what reason is an independent Buddha worthy of a monument? So that many people will inspire confidence in their hearts, thinking: ‘This is the monument for that independent Buddha!’ And having done so, when their body breaks up, after death, they are reborn in a good place, a heavenly realm. It is for this reason that an independent Buddha is worthy of a monument.
Này Ānanda, do nhân duyên lợi ích nào mà bậc Độc Giác Phật xứng đáng được dựng tháp? Này Ānanda, (khi nghĩ rằng): ‘Đây là tháp của đức Thế Tôn, bậc Độc Giác Phật ấy’, nhiều người làm cho tâm được tịnh tín. Họ, sau khi làm cho tâm tịnh tín ở nơi ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về cõi lành, cảnh trời. Này Ānanda, chính do nhân duyên lợi ích này mà bậc Độc Giác Phật xứng đáng được dựng tháp.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho? ‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti. Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho.
And for what reason is a Realized One’s disciple worthy of a monument? So that many people will inspire confidence in their hearts, thinking: ‘This is the monument for that Blessed One’s disciple!’ And having done so, when their body breaks up, after death, they are reborn in a good place, a heavenly realm. It is for this reason that a Realized One’s disciple is worthy of a monument.
Này Ānanda, do nhân duyên lợi ích nào mà vị đệ tử của Như Lai xứng đáng được dựng tháp? Này Ānanda, (khi nghĩ rằng): ‘Đây là tháp của vị đệ tử của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy’, nhiều người làm cho tâm được tịnh tín. Họ, sau khi làm cho tâm tịnh tín ở nơi ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về cõi lành, cảnh trời. Này Ānanda, chính do nhân duyên lợi ích này mà vị đệ tử của Như Lai xứng đáng được dựng tháp.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho? ‘Ayaṁ tassa dhammikassa dhammarañño thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti. Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho.
Ime kho, ānanda, cattāro thūpārahā”ti.
And for what reason is a wheel-turning monarch worthy of a monument? So that many people will inspire confidence in their hearts, thinking: ‘This is the monument for that just and principled king!’ And having done so, when their body breaks up, after death, they are reborn in a good place, a heavenly realm. It is for this reason that a wheel-turning monarch is worthy of a monument.
These four are worthy of a monument.”
Này Ānanda, do nhân duyên lợi ích nào mà vị Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được dựng tháp? Này Ānanda, (khi nghĩ rằng): ‘Đây là tháp của vị Pháp vương, người hộ trì Chánh pháp ấy’, nhiều người làm cho tâm được tịnh tín. Họ, sau khi làm cho tâm tịnh tín ở nơi ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về cõi lành, cảnh trời. Này Ānanda, chính do nhân duyên lợi ích này mà vị Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được dựng tháp. Này Ānanda, đây chính là bốn hạng người xứng đáng được dựng tháp.
Pháp kỳ diệu của ngài Ānanda
Atha kho āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno aṭṭhāsi: “ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kahaṁ nu kho, bhikkhave, ānando”ti?
“Eso, bhante, āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno ṭhito: ‘ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ānandaṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā ānando tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“alaṁ, ānanda, mā soci mā paridevi, nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ: ‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’; taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, ‘taṁ vata tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Dīgharattaṁ kho te, ānanda, tathāgato paccupaṭṭhito mettena kāyakammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena vacīkammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena manokammena hitena sukhena advayena appamāṇena. Katapuññosi tvaṁ, ānanda, padhānamanuyuñja, khippaṁ hohisi anāsavo”ti.
Then Venerable Ānanda entered a building, and stood there leaning against the door-jamb and crying, “Oh! I’m still only a trainee with work left to do; and my Teacher is about to be fully extinguished, he who is so kind to me!”
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, where is Ānanda?”
“Sir, Ānanda has entered a dwelling, and stands there leaning against the door-jamb and crying: ‘Oh! I’m still only a trainee with work left to do; and my Teacher is about to be fully extinguished, he who is so kind to me!’”
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell Ānanda that the Teacher summons him.”
“Yes, sir,” that monk replied. He went to Ānanda and said to him, “Reverend Ānanda, the Teacher summons you.”
“Yes, reverend,” Ānanda replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Enough, Ānanda! Do not grieve, do not lament. Did I not prepare for this when I explained that we must be parted and separated from all we hold dear and beloved? How could it possibly be so that what is born, created, conditioned, and liable to wear out should not wear out, even the Realized One’s body? For a long time, Ānanda, you’ve treated the Realized One with deeds of body, speech, and mind that are loving, beneficial, pleasant, undivided, and limitless. You have done good deeds, Ānanda. Devote yourself to meditation, and you will soon be free of defilements.”
207. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi vào tịnh xá, vịn vào thanh ngang cửa, đứng khóc: ‘Ta vẫn còn là bậc hữu học, còn phận sự phải làm, mà bậc Đạo Sư của ta, người hằng thương xót ta, sắp nhập Niết-bàn!’ Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: ‘Này các Tỳ-kheo, Ānanda ở đâu?’ ‘Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda kia đang đi vào tịnh xá, vịn vào thanh ngang cửa, đứng khóc: ‘Ta vẫn còn là bậc hữu học, còn phận sự phải làm, mà bậc Đạo Sư của ta, người hằng thương xót ta, sắp nhập Niết-bàn!’’ Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi một Tỳ-kheo: ‘Này Tỳ-kheo, hãy đi, nhân danh ta gọi Ānanda: ‘Thưa hiền giả Ānanda, bậc Đạo Sư gọi hiền giả.’’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ-kheo ấy vâng lời đức Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vị ấy nói với Tôn giả Ānanda: ‘Thưa hiền giả Ānanda, bậc Đạo Sư gọi hiền giả.’ ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Tôn giả Ānanda vâng lời vị Tỳ-kheo ấy, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên: ‘Thôi, này Ānanda, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Này Ānanda, chẳng phải Như Lai đã tuyên bố từ trước rằng: ‘Tất cả những gì thân ái, khả ý đều phải chịu cảnh sanh ly, tử biệt, đổi khác’ hay sao? Này Ānanda, làm sao có thể được như vậy? Cái gì đã sanh, đã hữu, đã hữu vi, có bản chất hoại diệt, mà lại mong rằng: ‘Mong sao thân của Như Lai đừng hoại diệt!’ — điều ấy không thể có được. Này Ānanda, trong một thời gian dài, ngươi đã hầu hạ Như Lai với thân nghiệp đầy từ ái, lợi ích, an lạc, không hai lòng, và vô lượng; với khẩu nghiệp đầy từ ái, lợi ích, an lạc, không hai lòng, và vô lượng; với ý nghiệp đầy từ ái, lợi ích, an lạc, không hai lòng, và vô lượng. Này Ānanda, ngươi đã tạo nhiều công đức. Hãy tinh tấn nỗ lực, ngươi sẽ sớm trở thành bậc vô lậu.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yepi te, bhikkhave, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā ahesuṁ, seyyathāpi mayhaṁ ānando. Yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā bhavissanti, seyyathāpi mayhaṁ ānando. Paṇḍito, bhikkhave, ānando; medhāvī, bhikkhave, ānando. Jānāti ‘ayaṁ kālo tathāgataṁ dassanāya upasaṅkamituṁ bhikkhūnaṁ, ayaṁ kālo bhikkhunīnaṁ, ayaṁ kālo upāsakānaṁ, ayaṁ kālo upāsikānaṁ, ayaṁ kālo rañño rājamahāmattānaṁ titthiyānaṁ titthiyasāvakānan’ti.
Then the Buddha said to the mendicants:
“Those who were perfected ones, fully awakened Buddhas in the past also had attendants, who at best were like Ānanda is for me. Those who will be perfected ones, fully awakened Buddhas in the future will also have attendants, who at best will be like Ānanda is for me. Ānanda is astute, he is intelligent. He knows the time for monks, nuns, laymen, laywomen, royal ministers, monastics of other religions and their disciples to visit the Realized One.
208. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: ‘Này các Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, các vị thị giả của các đức Thế Tôn ấy cũng chỉ tuyệt vời như Ānanda của ta. Này các Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai, các vị thị giả của các đức Thế Tôn ấy cũng sẽ chỉ tuyệt vời như Ānanda của ta. Này các Tỳ-kheo, Ānanda là bậc hiền trí; này các Tỳ-kheo, Ānanda là bậc có trí tuệ. Vị ấy biết: ‘Đây là thời để các Tỳ-kheo đến yết kiến Như Lai, đây là thời cho các Tỳ-kheo-ni, đây là thời cho các nam cư sĩ, đây là thời cho các nữ cư sĩ, đây là thời cho vua chúa, các đại thần, các ngoại đạo, và các đệ tử ngoại đạo.’’
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā ānande. Katame cattāro? Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhunīparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, bhikkhunīparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti. Sace, bhikkhave, upāsakaparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, upāsakaparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti. Sace, bhikkhave, upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti. Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande.
There are these four incredible and amazing things about Ānanda. What four? If an assembly of monks goes to see Ānanda, they’re uplifted by seeing him and uplifted by hearing him speak. And when he falls silent, they’ve never had enough. If an assembly of nuns … laymen … or laywomen goes to see Ānanda, they’re uplifted by seeing him and uplifted by hearing him speak. And when he falls silent, they’ve never had enough. These are the four incredible and amazing things about Ānanda.
209. Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu, phi thường này ở nơi Ānanda. Bốn pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, nếu hội chúng tỳ khưu đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu vẫn chưa thỏa mãn thì khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng tỳ khưu ni đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu ni vẫn chưa thỏa mãn thì khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng nam cư sĩ đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng nam cư sĩ vẫn chưa thỏa mãn thì khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng nữ cư sĩ vẫn chưa thỏa mãn thì khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, đây chính là bốn pháp kỳ diệu, phi thường ở nơi Ānanda.
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā raññe cakkavattimhi. Katame cattāro? Sace, bhikkhave, khattiyaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, khattiyaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti. Sace bhikkhave, brāhmaṇaparisā …pe… gahapatiparisā …pe… samaṇaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, samaṇaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti.
Evameva kho, bhikkhave, cattārome acchariyā abbhutā dhammā ānande. Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti. Atha kho ānando tuṇhī hoti. Sace, bhikkhave bhikkhunīparisā …pe… upāsakaparisā …pe… upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti. Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti. Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti. Atha kho ānando tuṇhī hoti. Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande”ti.
There are these four incredible and amazing things about a wheel-turning monarch. What four? If an assembly of aristocrats goes to see a wheel-turning monarch, they’re uplifted by seeing him and uplifted by hearing him speak. And when he falls silent, they’ve never had enough. If an assembly of brahmins … householders … or ascetics goes to see a wheel-turning monarch, they’re uplifted by seeing him and uplifted by hearing him speak. And when he falls silent, they’ve never had enough.
In the same way, there are those four incredible and amazing things about Ānanda.”
Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu, phi thường này ở nơi một vị vua chuyển luân. Bốn pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, nếu hội chúng sát-đế-lỵ đến yết kiến vị vua chuyển luân, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, vị vua chuyển luân nói chuyện, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời nói ấy. Này các tỳ khưu, hội chúng sát-đế-lỵ vẫn chưa thỏa mãn. Khi ấy vị vua chuyển luân giữ im lặng. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng bà-la-môn... này các gia chủ... này các sa-môn đến yết kiến vị vua chuyển luân, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, vị vua chuyển luân nói chuyện, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời nói ấy. Này các tỳ khưu, hội chúng sa-môn vẫn chưa thỏa mãn thì khi ấy vị vua chuyển luân giữ im lặng. Cũng tương tự như vậy, này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu, phi thường này ở nơi Ānanda. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng tỳ khưu đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu vẫn chưa thỏa mãn. Khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, nếu hội chúng tỳ khưu ni... này các nam cư sĩ... này các nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, hội chúng ấy được hoan hỷ khi được yết kiến. Và nếu ở nơi ấy, Ānanda thuyết Pháp, hội chúng ấy cũng được hoan hỷ bởi lời thuyết giảng. Này các tỳ khưu, hội chúng nữ cư sĩ vẫn chưa thỏa mãn. Khi ấy Ānanda giữ im lặng. Này các tỳ khưu, đây chính là bốn pháp kỳ diệu, phi thường ở nơi Ānanda.
Phần thuyết giảng Kinh Đại Thiện Kiến
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi. Santi, bhante, aññāni mahānagarāni, seyyathidaṁ—campā rājagahaṁ sāvatthī sāketaṁ kosambī bārāṇasī; ettha bhagavā parinibbāyatu. Ettha bahū khattiyamahāsālā, brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā. Te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti
“mā hevaṁ, ānanda, avaca, mā hevaṁ, ānanda, avaca: ‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha:
“Sir, please don’t be fully extinguished in this little hamlet, this jungle hamlet, this branch hamlet. There are other great cities such as Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, and Varanasi. Let the Buddha be fully extinguished there. There are many well-to-do aristocrats, brahmins, and householders there who are devoted to the Buddha. They will perform the rites of venerating the Realized One’s corpse.”
“Don’t say that Ānanda! Don’t say that this is a little hamlet, a jungle hamlet, a branch hamlet.
210. Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn chớ nhập Vô Dư Niết Bàn ở tại thị trấn nhỏ bé này, thị trấn hoang vắng này, thị trấn vùng ven này. Bạch Thế Tôn, có những đại đô thị khác, ví như: Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī; xin Đức Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết Bàn ở những nơi ấy. Ở những nơi ấy có nhiều vị sát-đế-lỵ đại phú, bà-la-môn đại phú, gia chủ đại phú có lòng tịnh tín sâu sắc nơi Như Lai. Họ sẽ thực hiện việc cúng dường xá-lợi của Như Lai.’ ‘Này Ānanda, chớ nói như vậy! Này Ānanda, chớ nói như vậy: ‘Đây là thị trấn nhỏ bé, thị trấn hoang vắng, thị trấn vùng ven.’’
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi. puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena; uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena. Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca. Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca; evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca. Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Once upon a time, there was a king named Mahāsudassana who was a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extended to all four sides, he achieved stability in the country, and he possessed the seven treasures. His capital was this Kusinārā, which at the time was named Kusāvatī. It stretched for twelve leagues from east to west, and seven leagues from north to south. The royal capital of Kusāvatī was successful and prosperous, populous and full of people, with plenty of food. It was just like Āḷakamandā, the royal capital of the gods, which is successful and prosperous, populous and full of spirits, with plenty of food. Kusāvatī was never free of ten sounds by day or night, namely: the sound of elephants, horses, chariots, drums, clay drums, arched harps, singing, horns, gongs, and handbells; and the cry: ‘Eat, drink, be merry!’ as the tenth.
Này Ānanda, vào thời quá khứ, có một vị vua tên là Mahāsudassana, là một vị vua chuyển luân, đúng Pháp, một vị Pháp vương, người đã chinh phục bốn phương, một người chiến thắng, người đã đạt được sự ổn định trong xứ sở, người sở hữu bảy báu vật. Này Ānanda, Kusinārā này đã từng là kinh đô tên là Kusāvatī của vua Mahāsudassana, chiều dài từ đông sang tây là mười hai do-tuần; chiều rộng từ bắc xuống nam là bảy do-tuần. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī đã từng thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, dân cư đông đúc, và lương thực dồi dào. Ví như, này Ānanda, kinh đô Āḷakamandā của chư thiên là thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, dạ-xoa đông đúc, và lương thực dồi dào; cũng tương tự như vậy, này Ānanda, kinh đô Kusāvatī đã từng thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, dân cư đông đúc, và lương thực dồi dào. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī ngày cũng như đêm không bao giờ ngớt mười loại âm thanh, đó là: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng đàn tỳ-bà, tiếng hát, tiếng ốc tù và, tiếng não bạt, tiếng vỗ tay, và âm thanh thứ mười là lời mời ‘Hãy ăn, hãy uống, hãy thưởng thức!’
Gaccha tvaṁ, ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi: ‘ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā. Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha—amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
Go, Ānanda, into Kusinārā and inform the Mallas: ‘This very day, Vāseṭṭhas, in the last watch of the night, the Realized One will be fully extinguished. Come forth, Vāseṭṭhas! Come forth, Vāseṭṭhas! Don’t regret it later, thinking: “The Realized One became fully extinguished in our own village district, but we didn’t get a chance to see him in his final hour.”’”
“Yes, sir,” replied Ānanda. Then he robed up and, taking his bowl and robe, entered Kusinārā with a companion.
“Này Ānanda, ngươi hãy đi, sau khi vào thành Kusinārā, hãy báo cho dòng họ Mallā ở Kusinārā biết rằng: ‘Này các Vāseṭṭha, hôm nay, vào canh cuối của đêm, sự viên tịch của đức Như Lai sẽ diễn ra. Này các Vāseṭṭha, hãy đi đến! Này các Vāseṭṭha, hãy đi đến! Chớ để sau này các vị phải hối tiếc rằng: – Sự viên tịch của đức Như Lai đã diễn ra ngay trong địa phận làng của chúng ta, vậy mà chúng ta đã không được diện kiến đức Như Lai vào lúc cuối cùng.’” “Bạch đức Thế Tôn, xin vâng.” Tôn giả Ānanda sau khi vâng lời đức Thế Tôn, đã đắp y, mang y bát, rồi tự mình là người thứ hai (cùng với một vị tỳ khưu khác) đi vào thành Kusinārā.
Sự Đảnh Lễ của Dòng Họ Mallā
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti kenacideva karaṇīyena. Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi: “ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā. Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha: ‘amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti: “atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī”ti.
Atha kho mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi: “sace kho ahaṁ kosinārake malle ekamekaṁ bhagavantaṁ vandāpessāmi, avandito bhagavā kosinārakehi mallehi bhavissati, athāyaṁ ratti vibhāyissati. Yannūnāhaṁ kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpeyyaṁ: ‘itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti. Atha kho āyasmā ānando kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpesi: “itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī”ti. Atha kho āyasmā ānando etena upāyena paṭhameneva yāmena kosinārake malle bhagavantaṁ vandāpesi.
Now at that time the Mallas of Kusinārā were sitting together at the town hall on some business. Ānanda went up to them, and announced: “This very day, Vāseṭṭhas, in the last watch of the night, the Realized One will be fully extinguished. Come forth, Vāseṭṭhas! Come forth, Vāseṭṭhas! Don’t regret it later, thinking: ‘The Realized One became fully extinguished in our own village district, but we didn’t get a chance to see him in his final hour.’”
When they heard what Ānanda had to say, the Mallas, their sons, daughters-in-law, and wives became distraught, saddened, and grief-stricken. And some, with hair disheveled and arms raised, falling down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamented, “Too soon the Blessed One will be fully extinguished! Too soon the Holy One will be fully extinguished! Too soon the Eye of the World will vanish!”
Then the Mallas, their sons, daughters-in-law, and wives, distraught, saddened, and grief-stricken went to the Mallian sal grove at Upavattana and approached Ānanda.
Then Ānanda thought, “If I have the Mallas pay homage to the Buddha one by one, they won’t be finished before first light. I’d better separate them family by family and then have them pay homage, saying: ‘Sir, the Malla named so-and-so with children, wives, retinue, and ministers bows with his head to your feet.’” And so that’s what he did. So by this means Ānanda got the Mallas to finish paying homage to the Buddha in the first watch of the night.
211. Vào lúc bấy giờ, dòng họ Mallā ở Kusinārā đang tụ họp ở hội trường vì một công việc nào đó. Khi ấy, tôn giả Ānanda đã đi đến hội trường của dòng họ Mallā ở Kusinārā; sau khi đến, ngài đã báo cho dòng họ Mallā ở Kusinārā biết rằng: “Này các Vāseṭṭha, hôm nay, vào canh cuối của đêm, sự viên tịch của đức Như Lai sẽ diễn ra. Này các Vāseṭṭha, hãy đi đến! Này các Vāseṭṭha, hãy đi đến! Chớ để sau này các vị phải hối tiếc rằng: ‘Sự viên tịch của đức Như Lai đã diễn ra ngay trong địa phận làng của chúng ta, vậy mà chúng ta đã không được diện kiến đức Như Lai vào lúc cuối cùng.’” Sau khi nghe lời nói này của tôn giả Ānanda, dòng họ Mallā, các con trai của dòng họ Mallā, các con dâu của dòng họ Mallā, và các phu nhân của dòng họ Mallā đã trở nên đau đớn, buồn rầu, tâm bị khổ não xâm chiếm. Một số vị đã rũ tóc mà khóc, giơ tay lên mà khóc, ngã xuống như bị chặt đứt, lăn qua, lộn lại (và than rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ viên tịch quá nhanh chóng! Đức Thiện Thệ sẽ viên tịch quá nhanh chóng! Bậc có Mắt (trí tuệ) sẽ biến mất khỏi thế gian quá nhanh chóng!’ Khi ấy, dòng họ Mallā, các con trai của dòng họ Mallā, các con dâu của dòng họ Mallā, và các phu nhân của dòng họ Mallā, trong tâm trạng đau đớn, buồn rầu, tâm bị khổ não xâm chiếm, đã đi đến khu rừng Sāla ở Upavattana của dòng họ Mallā, nơi tôn giả Ānanda đang ở. Bấy giờ, tôn giả Ānanda đã suy nghĩ như sau: “Nếu ta để cho dòng họ Mallā ở Kusinārā đảnh lễ đức Thế Tôn từng người một, thì dòng họ Mallā ở Kusinārā sẽ chưa đảnh lễ đức Thế Tôn xong thì đêm nay sẽ tàn sáng. Vậy ta hãy sắp xếp dòng họ Mallā ở Kusinārā theo từng gia tộc, từng gia tộc một, rồi để họ đảnh lễ đức Thế Tôn (và bạch rằng): ‘Bạch đức Thế Tôn, người Mallā tên là như vầy, cùng với con cái, cùng với phu nhân, cùng với đoàn tùy tùng, cùng với các vị đại thần, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn.’” Khi ấy, tôn giả Ānanda đã sắp xếp dòng họ Mallā ở Kusinārā theo từng gia tộc, từng gia tộc một, rồi để họ đảnh lễ đức Thế Tôn (và bạch rằng): ‘Bạch đức Thế Tôn, người Mallā tên là như vầy, cùng với con cái, cùng với phu nhân, cùng với đoàn tùy tùng, cùng với các vị đại thần, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn.’ Khi ấy, tôn giả Ānanda, bằng phương cách ấy, đã để cho dòng họ Mallā ở Kusinārā đảnh lễ đức Thế Tôn ngay trong canh đầu tiên.
Câu Chuyện về Du Sĩ Subhadda
Tena kho pana samayena subhaddo nāma paribbājako kusinārāyaṁ paṭivasati. Assosi kho subhaddo paribbājako: “ajja kira rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissatī”ti. Atha kho subhaddassa paribbājakassa etadahosi: “sutaṁ kho pana metaṁ paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti. Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati. Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno, evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti. Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati. Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti. Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Dutiyampi kho subhaddo paribbājako …pe… tatiyampi kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti. Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati. Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti. Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti. Tatiyampi kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Now at that time a wanderer named Subhadda was residing near Kusinārā. He heard that on that very day, in the last watch of the night, will be the full extinguishment of the ascetic Gotama. He thought: “I have heard that brahmins of the past who were elderly and senior, the tutors of tutors, said: ‘Only rarely do Realized Ones arise in the world, perfected ones, fully awakened Buddhas.’ And this very day, in the last watch of the night, will be the full extinguishment of the ascetic Gotama. This state of uncertainty has come up in me. I am quite confident that the Buddha is capable of teaching me so that I can give up this state of uncertainty.”
Then Subhadda went to the Mallian sal grove at Upavattana, approached Ānanda, and said to him, “Worthy Ānanda, I have heard that brahmins of the past who were elderly and senior, the tutors of tutors, said: ‘Only rarely do Realized Ones arise in the world, perfected ones, fully awakened Buddhas.’ And this very day, in the last watch of the night, will be the full extinguishment of the ascetic Gotama. This state of uncertainty has come up in me. I am quite confident that the Buddha is capable of teaching me so that I can give up this state of uncertainty. Worthy Ānanda, please let me see the ascetic Gotama.”
When he had spoken, Ānanda said, “Enough, Reverend Subhadda, do not trouble the Realized One. He is tired.”
For a second time … For a third time, Subhadda asked Ānanda, and a third time Ānanda refused.
212. Vào lúc bấy giờ, có vị du sĩ tên là Subhadda đang cư ngụ tại Kusinārā. Du sĩ Subhadda nghe được rằng: “Đêm nay, vào canh cuối, Sa-môn Gotama sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn.” Bấy giờ, du sĩ Subhadda khởi lên ý nghĩ này: “Ta đã từng nghe các vị du sĩ trưởng lão, bậc thầy, bậc thầy của các thầy nói rằng: ‘Thỉnh thoảng, hiếm hoi lắm, các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới xuất hiện ở đời.’ Và chính đêm nay, vào canh cuối, Sa-môn Gotama sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn. Nơi ta có một mối hoài nghi này đã khởi lên, và ta có lòng tịnh tín như vầy đối với Sa-môn Gotama: ‘Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp cho ta theo cách mà ta có thể từ bỏ mối hoài nghi này.’” Bấy giờ, du sĩ Subhadda đi đến khu rừng Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana, nơi Tôn giả Ānanda đang ở; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Ānanda điều này: “Thưa ngài Ānanda, tôi đã từng nghe các vị du sĩ trưởng lão, bậc thầy, bậc thầy của các thầy nói rằng: ‘Thỉnh thoảng, hiếm hoi lắm, các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới xuất hiện ở đời.’ Và chính đêm nay, vào canh cuối, Sa-môn Gotama sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn. Nơi tôi có một mối hoài nghi này đã khởi lên, và tôi có lòng tịnh tín như vầy đối với Sa-môn Gotama: ‘Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp cho tôi theo cách mà tôi có thể từ bỏ mối hoài nghi này.’ Thật tốt lành thay, thưa ngài Ānanda, nếu tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.” Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda đã nói với du sĩ Subhadda điều này: “Thôi đi, hiền giả Subhadda, đừng làm phiền đức Như Lai. Đức Thế Tôn đang mệt mỏi.” Lần thứ hai, du sĩ Subhadda... Lần thứ ba, du sĩ Subhadda đã nói với Tôn giả Ānanda điều này: “Thưa ngài Ānanda, tôi đã từng nghe các vị du sĩ trưởng lão, bậc thầy, bậc thầy của các thầy nói rằng: ‘Thỉnh thoảng, hiếm hoi lắm, các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác mới xuất hiện ở đời.’ Và chính đêm nay, vào canh cuối, Sa-môn Gotama sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn. Nơi tôi có một mối hoài nghi này đã khởi lên, và tôi có lòng tịnh tín như vầy đối với Sa-môn Gotama: ‘Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp cho tôi theo cách mà tôi có thể từ bỏ mối hoài nghi này.’ Thật tốt lành thay, thưa ngài Ānanda, nếu tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.” Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda cũng đã nói với du sĩ Subhadda điều này: “Thôi đi, hiền giả Subhadda, đừng làm phiền đức Như Lai. Đức Thế Tôn đang mệt mỏi.”
Assosi kho bhagavā āyasmato ānandassa subhaddena paribbājakena saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “alaṁ, ānanda, mā subhaddaṁ vāresi, labhataṁ, ānanda, subhaddo tathāgataṁ dassanāya. Yaṁ kiñci maṁ subhaddo pucchissati, sabbaṁ taṁ aññāpekkhova pucchissati, no vihesāpekkho. Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca: “gacchāvuso subhadda, karoti te bhagavā okāsan”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“yeme, bho gotama, samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa, seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo, makkhali gosālo, ajito kesakambalo, pakudho kaccāyano, sañcayo belaṭṭhaputto, nigaṇṭho nāṭaputto, sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū”ti?
“Alaṁ, subhadda, tiṭṭhatetaṁ: ‘sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū’ti. Dhammaṁ te, subhadda, desessāmi; taṁ suṇāhi sādhukaṁ manasikarohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho subhaddo paribbājako bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
The Buddha heard that discussion between Ānanda and Subhadda. He said to Ānanda, “Enough, Ānanda, don’t obstruct Subhadda; let him see the Realized One. For whatever he asks me, he will only be looking to understand, not to trouble me. And he will quickly understand any answer I give to his question.”
So Ānanda said to the wanderer Subhadda, “Go, Reverend Subhadda, the Buddha is making time for you.”
Then the wanderer Subhadda went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, there are those ascetics and brahmins who lead an order and a community, and tutor a community. They’re well-known and famous religious founders, deemed holy by many people. Namely: Pūraṇa Kassapa, the bamboo-staffed ascetic Gosāla, Ajita of the hair blanket, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, and the Jain ascetic of the Ñātika clan. According to their own claims, did all of them have direct knowledge, or none of them, or only some?”
“Enough, Subhadda, let that be. I shall teach you the Dhamma. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Subhadda replied. The Buddha said this:
213. Đức Thế Tôn đã nghe được cuộc đối thoại này giữa Tôn giả Ānanda và du sĩ Subhadda. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, thôi đi, đừng ngăn cản Subhadda. Này Ānanda, hãy để Subhadda được yết kiến Như Lai. Bất cứ điều gì Subhadda sẽ hỏi ta, tất cả những điều ấy nó sẽ hỏi với mong muốn được hiểu biết, chứ không phải với mong muốn làm phiền. Và điều gì ta trả lời khi được hỏi, nó sẽ nhanh chóng hiểu được.” Bấy giờ, Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Subhadda điều này: “Hãy đi đi, hiền giả Subhadda, Đức Thế Tôn đã cho hiền giả cơ hội.” Bấy giờ, du sĩ Subhadda đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, đã cùng với Đức Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân mật; sau khi trao đổi xong những lời nói vui vẻ, đáng ghi nhớ, đã ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Subhadda bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Thưa ngài Gotama, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này là những người có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư, nổi tiếng, có danh vọng, là người sáng lập giáo phái, được nhiều người xem là bậc thiện trí, tức là: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta, tất cả các vị ấy có thật sự chứng ngộ theo như lời họ tự tuyên bố, hay tất cả đều không chứng ngộ, hay là có một số vị chứng ngộ và một số vị không chứng ngộ?” “Thôi đi, Subhadda, hãy gác lại câu hỏi đó: ‘Tất cả các vị ấy có thật sự chứng ngộ theo như lời họ tự tuyên bố, hay tất cả đều không chứng ngộ, hay là có một số vị chứng ngộ và một số vị không chứng ngộ?’ Này Subhadda, ta sẽ thuyết pháp cho ngươi; hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, ta sẽ nói.” Du sĩ Subhadda đã vâng đáp Đức Thế Tôn: “Xin vâng, bạch Thế Tôn.” Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Yasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo na upalabbhati, samaṇopi tattha na upalabbhati. Dutiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Tatiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Catutthopi tattha samaṇo na upalabbhati. Yasmiñca kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, samaṇopi tattha upalabbhati, dutiyopi tattha samaṇo upalabbhati, tatiyopi tattha samaṇo upalabbhati, catutthopi tattha samaṇo upalabbhati. Imasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, idheva, subhadda, samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo, suññā parappavādā samaṇebhi aññehi.
Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assāti.
“Subhadda, in whatever teaching and training the noble eightfold path is not found, there is no ascetic found, no second ascetic, no third ascetic, and no fourth ascetic. In whatever teaching and training the noble eightfold path is found, there is an ascetic found, a second ascetic, a third ascetic, and a fourth ascetic. In this teaching and training the noble eightfold path is found. Only here is there an ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic. Other sects are empty of ascetics.
Were these mendicants to practice well, the world would not be empty of perfected ones.
214. “Này Subhadda, trong Pháp và Luật nào không tìm thấy Thánh đạo Tám ngành, thì ở đấy cũng không tìm thấy vị sa-môn (thứ nhất). Ở đấy cũng không tìm thấy vị sa-môn thứ hai. Ở đấy cũng không tìm thấy vị sa-môn thứ ba. Ở đấy cũng không tìm thấy vị sa-môn thứ tư. Và này Subhadda, trong Pháp và Luật nào tìm thấy Thánh đạo Tám ngành, thì ở đấy cũng tìm thấy vị sa-môn (thứ nhất), ở đấy cũng tìm thấy vị sa-môn thứ hai, ở đấy cũng tìm thấy vị sa-môn thứ ba, ở đấy cũng tìm thấy vị sa-môn thứ tư. Này Subhadda, trong Pháp và Luật này, có tìm thấy Thánh đạo Tám ngành. Này Subhadda, chỉ ở đây mới có sa-môn, ở đây có vị sa-môn thứ hai, ở đây có vị sa-môn thứ ba, ở đây có vị sa-môn thứ tư. Các học thuyết ngoại đạo khác đều không có các vị sa-môn. Và này Subhadda, nếu các vị tỳ-khưu này sống một cách chân chánh, thì thế gian sẽ không trống rỗng các vị A-la-hán.”
Ekūnatiṁso vayasā subhadda, Yaṁ pabbajiṁ kiṅkusalānuesī; Vassāni paññāsa samādhikāni, Yato ahaṁ pabbajito subhadda;
I was twenty-nine years of age, Subhadda, when I went forth to discover what is skillful. It’s been over fifty years since I went forth.
“Này Subhadda, hai mươi chín tuổi, Ta đã xuất gia để tìm cầu điều thiện. Này Subhadda, từ khi Ta xuất gia, đã hơn năm mươi năm trôi qua.”
“Người thực hành một phần của Pháp và Chánh đạo, ngoài giáo pháp này ra, cũng không có vị sa-môn nào.”
Dutiyopi samaṇo natthi. Tatiyopi samaṇo natthi. Catutthopi samaṇo natthi. Suññā parappavādā samaṇebhi aññehi. Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assā”ti.
no second ascetic, no third ascetic, and no fourth ascetic. Other sects are empty of ascetics. Were these mendicants to practice well, the world would not be empty of perfected ones.”
“Cũng không có vị sa-môn thứ hai. Cũng không có vị sa-môn thứ ba. Cũng không có vị sa-môn thứ tư. Các học thuyết ngoại đạo khác đều không có các vị sa-môn. Và này Subhadda, nếu các vị tỳ-khưu này sống một cách chân chánh, thì thế gian sẽ không trống rỗng các vị A-la-hán.”
Evaṁ vutte, subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, subhadda, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ cattāro māse parivasanti, catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi, catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
When he had spoken, Subhadda said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
“Subhadda, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I have recognized individual differences in this matter.”
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.”
215. Khi được nói như vậy, du sĩ Subhadda bạch với Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, cũng như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc, cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Mong rằng con được xuất gia dưới sự hiện diện của Đức Thế Tôn, mong rằng con được thọ cụ túc giới.” “Này Subhadda, ai trước kia là người theo ngoại đạo, muốn được xuất gia, muốn được thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, người ấy phải sống biệt trú trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành một vị tỳ-khưu. Nhưng Ta cũng biết được sự khác biệt của mỗi cá nhân.” “Bạch Thế Tôn, nếu những người trước kia theo ngoại đạo, muốn được xuất gia, muốn được thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, phải sống biệt trú trong bốn tháng, và sau bốn tháng, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành một vị tỳ-khưu, thì con xin sống biệt trú trong bốn năm. Sau bốn năm, nếu các vị tỳ-khưu hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, cho con thọ cụ túc giới để trở thành một vị tỳ-khưu.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “tenahānanda, subhaddaṁ pabbājehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “lābhā vo, āvuso ānanda; suladdhaṁ vo, āvuso ānanda, ye ettha satthu sammukhā antevāsikābhisekena abhisittā”ti. Alattha kho subhaddo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā subhaddo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti—tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā subhaddo arahataṁ ahosi. So bhagavato pacchimo sakkhisāvako ahosīti.
Then the Buddha said to Ānanda, “Well then, Ānanda, give Subhadda the going forth.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
Then Subhadda said to Ānanda, “You’re so fortunate, Reverand Ānanda, so very fortunate, to be anointed here in the Teacher’s presence as his pupil!” And the wanderer Subhadda received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Subhadda, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Subhadda became one of the perfected. He was the last personal disciple of the Buddha.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, vậy hãy cho Subhadda xuất gia.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Bấy giờ, du sĩ Subhadda nói với Tôn giả Ānanda: “Thật là một diễm phúc cho các ông, thưa hiền giả Ānanda; thật là một thiện lợi cho các ông, thưa hiền giả Ānanda, khi các ông được chính bậc Đạo sư làm lễ quán đảnh để trở thành đệ tử.” Du sĩ Subhadda đã được xuất gia dưới sự hiện diện của Đức Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới. Sau khi thọ cụ túc giới không lâu, Tôn giả Subhadda sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và không bao lâu, vị ấy đã tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của đời sống phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Và Tôn giả Subhadda đã trở thành một trong các vị A-la-hán. Vị ấy là người đệ tử cuối cùng được Đức Thế Tôn trực tiếp chứng nhận.
Pañcamo bhāṇavāro.
The fifth recitation section.
Phẩm thứ năm.
Lời dạy cuối cùng của Như Lai
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, tumhākaṁ evamassa: ‘atītasatthukaṁ pāvacanaṁ, natthi no satthā’ti. Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Yo vo, ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā.
Yathā kho panānanda, etarahi bhikkhū aññamaññaṁ āvusovādena samudācaranti, na kho mamaccayena evaṁ samudācaritabbaṁ. Theratarena, ānanda, bhikkhunā navakataro bhikkhu nāmena vā gottena vā āvusovādena vā samudācaritabbo. Navakatarena bhikkhunā therataro bhikkhu ‘bhante’ti vā ‘āyasmā’ti vā samudācaritabbo.
Ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatu.
Channassa, ānanda, bhikkhuno mamaccayena brahmadaṇḍo dātabbo”ti.
“Katamo pana, bhante, brahmadaṇḍo”ti?
“Channo, ānanda, bhikkhu yaṁ iccheyya, taṁ vadeyya. So bhikkhūhi neva vattabbo, na ovaditabbo, na anusāsitabbo”ti.
Then the Buddha addressed Venerable Ānanda:
“Now, Ānanda, some of you might think: ‘The teacher’s dispensation has passed. Now we have no Teacher.’ But you should not see it like this. The teaching and training that I have taught and pointed out for you shall be your Teacher after my passing.
After my passing, mendicants ought not address each other as ‘reverend’, as they do today. A more senior mendicant ought to address a more junior mendicant by name or clan, or by saying ‘reverend’. A more junior mendicant ought to address a more senior mendicant using ‘sir’ or ‘venerable’.
If it wishes, after my passing the Saṅgha may abolish the lesser and minor training rules.
After my passing, give the divine punishment to the mendicant Channa.”
“But sir, what is the divine punishment?”
“Channa may say what he likes, but the mendicants should not correct, advise, or instruct him.”
216. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, có thể các ông sẽ nghĩ rằng: ‘Lời dạy của bậc Đạo sư đã chấm dứt, chúng ta không còn bậc Đạo sư nữa.’ Này Ānanda, chớ nên nghĩ như vậy. Này Ānanda, Pháp và Luật mà Ta đã giảng dạy và trình bày cho các ông, sau khi Ta qua đời, đó sẽ là bậc Đạo sư của các ông. Này Ānanda, hiện nay các vị tỳ-khưu gọi nhau bằng từ ‘hiền giả’ (āvuso), nhưng sau khi Ta qua đời, không nên gọi như vậy nữa. Này Ānanda, vị tỳ-khưu lớn tuổi hơn nên gọi vị tỳ-khưu nhỏ tuổi hơn bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng từ ‘hiền giả’. Vị tỳ-khưu nhỏ tuổi hơn nên gọi vị tỳ-khưu lớn tuổi hơn là ‘bạch ngài’ (bhante) hoặc ‘thưa Tôn giả’ (āyasmā). Này Ānanda, sau khi Ta qua đời, nếu Tăng chúng muốn, có thể hủy bỏ những học giới nhỏ và phụ. Này Ānanda, sau khi Ta qua đời, hãy áp dụng hình phạt cao nhất (brahmadaṇḍa) đối với tỳ-khưu Channa.” “Bạch Thế Tôn, hình phạt cao nhất là gì?” “Này Ānanda, tỳ-khưu Channa muốn nói gì thì cứ nói, nhưng các vị tỳ-khưu không được nói chuyện, không được khuyên bảo, không được chỉ dạy vị ấy.”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha: ‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Dutiyampi kho bhagavā …pe… tatiyampi kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha: ‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Tatiyampi kho te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, satthugāravenapi na puccheyyātha. Sahāyakopi, bhikkhave, sahāyakassa ārocetū”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, imasmiṁ bhikkhusaṅghe, ‘natthi ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā’”ti.
“Pasādā kho tvaṁ, ānanda, vadesi, ñāṇameva hettha, ānanda, tathāgatassa. Natthi imasmiṁ bhikkhusaṅghe ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā. Imesañhi, ānanda, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ yo pacchimako bhikkhu, so sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Then the Buddha said to the mendicants, “Perhaps even a single mendicant has doubt or uncertainty regarding the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the path, or the practice. So ask, mendicants! Don’t regret it later, thinking: ‘We were in the Teacher’s presence and we weren’t able to ask the Buddha a question.’”
When this was said, the mendicants kept silent.
For a second time … For a third time the Buddha addressed the mendicants: “Perhaps even a single mendicant has doubt or uncertainty regarding the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the path, or the practice. So ask, mendicants! Don’t regret it later, thinking: ‘We were in the Teacher’s presence and we weren’t able to ask the Buddha a question.’”
For a third time, the mendicants kept silent. Then the Buddha said to the mendicants,
“Mendicants, perhaps you don’t ask out of respect for the Teacher. So let a friend tell a friend.”
When this was said, the mendicants kept silent.
Then Venerable Ānanda said to the Buddha, “It’s incredible, sir, it’s amazing! I am quite confident that there is not even a single mendicant in this Saṅgha who has doubt or uncertainty regarding the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the path, or the practice.”
“Ānanda, you speak out of faith. But the Realized One knows that there is not even a single mendicant in this Saṅgha who has doubt or uncertainty regarding the Buddha, the teaching, the Saṅgha, the path, or the practice. Even the last of these five hundred mendicants is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
217. Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, có thể có một tỳ khưu nào đó có sự hoài nghi hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng, về Đạo, hay về pháp hành. Này các tỳ khưu, hãy hỏi đi, sau này chớ có hối hận rằng: 'Bậc Đạo Sư đã ở trước mặt chúng ta, mà chúng ta đã không thể hỏi trực tiếp Thế Tôn.' Khi được nói vậy, các tỳ khưu ấy im lặng. Lần thứ hai... Lần thứ ba, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, có thể có một tỳ khưu nào đó có sự hoài nghi hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng, về Đạo, hay về pháp hành. Này các tỳ khưu, hãy hỏi đi, sau này chớ có hối hận rằng: 'Bậc Đạo Sư đã ở trước mặt chúng ta, mà chúng ta đã không thể hỏi trực tiếp Thế Tôn.' Lần thứ ba, các tỳ khưu ấy cũng im lặng. Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, có thể vì tôn kính Bậc Đạo Sư mà các ngươi không hỏi. Này các tỳ khưu, vậy thì bạn hãy nói cho bạn biết.' Khi được nói vậy, các tỳ khưu ấy im lặng. Khi ấy, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn: 'Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Con tin tưởng như vậy, bạch Thế Tôn, trong chúng tỳ khưu này, không có một tỳ khưu nào có sự hoài nghi hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng, về Đạo, hay về pháp hành.' 'Này Ānanda, ngươi nói do lòng tin. Này Ānanda, ở đây, chính là trí tuệ của Như Lai. Trong chúng tỳ khưu này, không có một tỳ khưu nào có sự hoài nghi hay phân vân về Phật, về Pháp, về Tăng, về Đạo, hay về pháp hành. Này Ānanda, trong năm trăm vị tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp nhất cũng là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ.'
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo, vayadhammā saṅkhārā appamādena sampādethā”ti.
Ayaṁ tathāgatassa pacchimā vācā.
Then the Buddha said to the mendicants: “Come now, mendicants, I say to you all: ‘Conditions fall apart. Persist with diligence.’”
These were the Realized One’s last words.
218. Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, giờ đây Ta nói với các ngươi: Các pháp hữu vi có tính chất hoại diệt, hãy tinh tấn không dể duôi.' Đây là lời cuối cùng của Như Lai.
Lời kể về sự Bát Niết Bàn
Atha kho bhagavā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṁ samāpajji.
Then the Buddha entered the first absorption. Emerging from that, he entered the second absorption. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the third absorption, the fourth absorption, the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness, and the dimension of neither perception nor non-perception. Then he entered the cessation of perception and feeling.
219. Khi ấy, Thế Tôn nhập Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập Không Vô Biên Xứ. Xuất Không Vô Biên Xứ, Ngài nhập Thức Vô Biên Xứ. Xuất Thức Vô Biên Xứ, Ngài nhập Vô Sở Hữu Xứ. Xuất Vô Sở Hữu Xứ, Ngài nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Xuất Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài nhập Diệt Thọ Tưởng Định.
Atha kho āyasmā ānando āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca: “parinibbuto, bhante anuruddha, bhagavā”ti.
“Nāvuso ānanda, bhagavā parinibbuto, saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno”ti.
Then Venerable Ānanda said to Venerable Anuruddha, “Honorable Anuruddha, has the Buddha become fully quenched?”
“No, Reverend Ānanda. He has entered the cessation of perception and feeling.”
Khi ấy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Anuruddha: 'Bạch Đại đức Anuruddha, Thế Tôn đã Bát Niết Bàn rồi chăng?' 'Này hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa Bát Niết Bàn, Ngài đang nhập Diệt Thọ Tưởng Định.'
Atha kho bhagavā saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā samanantarā bhagavā parinibbāyi.
Then the Buddha emerged from the cessation of perception and feeling and entered the dimension of neither perception nor non-perception. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the dimension of nothingness, the dimension of infinite consciousness, the dimension of infinite space, the fourth absorption, the third absorption, the second absorption, and the first absorption. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the second absorption and the third absorption. Then he entered the fourth absorption. Emerging from that the Buddha immediately became fully extinguished.
Khi ấy, Thế Tôn xuất Diệt Thọ Tưởng Định, nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Xuất Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài nhập Vô Sở Hữu Xứ. Xuất Vô Sở Hữu Xứ, Ngài nhập Thức Vô Biên Xứ. Xuất Thức Vô Biên Xứ, Ngài nhập Không Vô Biên Xứ. Xuất Không Vô Biên Xứ, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Ngay sau khi xuất Tứ thiền, Thế Tôn Bát Niết Bàn.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso. Devadundubhiyo ca phaliṁsu. Parinibbute bhagavati saha parinibbānā brahmāsahampati imaṁ gāthaṁ abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, along with the full extinguishment there was a great earthquake, awe-inspiring and hair-raising, and thunder cracked the sky. When the Buddha was fully quenched, the divinity Sahampati spoke this verse:
220. Khi Thế Tôn Bát Niết Bàn, cùng lúc với sự Bát Niết Bàn, một trận động đất lớn đã xảy ra, thật kinh hoàng, thật rợn tóc gáy. Và trống trời vang dội. Khi Thế Tôn Bát Niết Bàn, cùng lúc với sự Bát Niết Bàn, Phạm thiên Sahampati đã nói lên kệ này:
“Sabbeva nikkhipissanti, bhūtā loke samussayaṁ; Yattha etādiso satthā, loke appaṭipuggalo; Tathāgato balappatto, sambuddho parinibbuto”ti.
“All creatures in this world must lay down this bag of bones. For even a Teacher such as this, unrivaled in the world, the Realized One, attained to power, the Buddha was fully quenched.”
Tất cả chúng sanh trong đời, đều sẽ vứt bỏ thân này; Khi một bậc Đạo Sư như vậy, không ai sánh bằng trong đời, bậc Như Lai, đạt thập lực, bậc Chánh Đẳng Giác, đã Bát Niết Bàn.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Sakka, lord of gods, spoke this verse:
221. Khi Thế Tôn Bát Niết Bàn, cùng lúc với sự Bát Niết Bàn, Sakka, vua của chư thiên, đã nói lên kệ này:
“Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
“Oh! Conditions are impermanent, their nature is to rise and fall; having arisen, they cease; their settling is blissful.”
Các pháp hữu vi thật vô thường, có tánh sanh diệt; Sanh rồi lại diệt, sự tịch tịnh của chúng là an lạc.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā anuruddho imā gāthāyo abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Venerable Anuruddha spoke this verse:
222. Khi Thế Tôn Bát Niết Bàn, cùng lúc với sự Bát Niết Bàn, Tôn giả Anuruddha đã nói lên những kệ này:
“Nāhu assāsapassāso, ṭhitacittassa tādino; Anejo santimārabbha, yaṁ kālamakarī muni.
“There was no more breathing for the unaffected one of steady heart. Imperturbable, committed to peace, the sage has done his time.
Không còn hơi thở ra vào, của bậc tâm ý vững vàng, của bậc như vậy; Bậc Thánh nhân không còn dao động, hướng đến tịch tịnh, đã mệnh chung.
Asallīnena cittena, vedanaṁ ajjhavāsayi; Pajjotasseva nibbānaṁ, vimokkho cetaso ahū”ti.
He put up with painful feelings without flinching. The liberation of his heart was like the extinguishing of a lamp.”
Với tâm không co rút, Ngài chịu đựng các cảm thọ; Như ngọn đèn tắt, tâm giải thoát đã xảy ra.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā ānando imaṁ gāthaṁ abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Venerable Ānanda spoke this verse:
223. Khi Thế Tôn Bát Niết Bàn, cùng lúc với sự Bát Niết Bàn, Tôn giả Ānanda đã nói lên kệ này:
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ, tadāsi lomahaṁsanaṁ; Sabbākāravarūpete, sambuddhe parinibbute”ti.
“Then there was terror! Then they had goosebumps! When the Buddha, endowed with all fine qualities, became fully quenched.”
Khi ấy thật kinh hoàng, khi ấy thật rợn tóc gáy; Khi bậc Chánh Đẳng Giác, viên mãn mọi đức hạnh, đã Bát Niết Bàn.
Parinibbute bhagavati ye te tattha bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti, “atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti. Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti: “aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
When the Buddha was fully quenched, some of the mendicants there who were not free of desire, with arms raised, falling down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamented: “Too soon the Blessed One has become fully quenched! Too soon the Holy One has become fully quenched! Too soon the Eye of the World has vanished!” But the mendicants who were free of desire endured, mindful and aware, thinking, “Conditions are impermanent. How could it possibly be otherwise?”
224. Khi Đức Thế Tôn nhập diệt, tại nơi ấy, một số các vị tỳ-khưu chưa ly tham đã đưa tay lên trời mà than khóc, ngã lăn xuống đất như cây bị đốn ngã, lăn qua lộn lại, (than rằng): “Đức Thế Tôn đã nhập diệt quá mau chóng! Đức Thiện Thệ đã nhập diệt quá mau chóng! Bậc có Mắt (Trí tuệ) đã biến mất khỏi thế gian quá mau chóng!” Còn những vị tỳ-khưu đã ly tham, các vị ấy, với chánh niệm tỉnh giác, đã kham nhẫn (suy niệm rằng): “Các pháp hữu vi là vô thường, làm sao có thể được khác đi ở đây?”
Atha kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi: “alaṁ, āvuso, mā socittha mā paridevittha. Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ: ‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’. Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Devatā, āvuso, ujjhāyantī”ti.
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, āyasmā anuruddho devatā manasi karotī”ti?
Then Anuruddha addressed the mendicants: “Enough, reverends, do not grieve or lament. Did the Buddha not prepare us for this when he explained that we must be parted and separated from all we hold dear and beloved? How could it possibly be so that what is born, created, conditioned, and liable to wear out should not wear out? The deities are complaining.”
“But sir, what kind of deities are you thinking of?”
225. Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha gọi các tỳ-khưu: “Thôi, chư hiền, đừng sầu não, đừng than khóc. Này chư hiền, chẳng phải điều này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng từ trước rồi sao: ‘Tất cả những gì khả ái, khả ý đều phải chịu đổi khác, chia lìa, biến hoại.’ Này chư hiền, làm sao có thể được khác đi ở đây? Cái gì đã sinh, đã thành, là pháp hữu vi, có bản chất hoại diệt, mong rằng nó đừng hoại diệt — trường hợp ấy không thể xảy ra. Này chư hiền, chư thiên đang phàn nàn.” (Các vị tỳ-khưu hỏi): “Bạch Đại đức, Tôn giả Anuruddha nghĩ đến hạng chư thiên nào vậy?”
“Santāvuso ānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: ‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti. Santāvuso ānanda, devatā pathaviyā pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: ‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti. Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti: ‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca ānando taṁ rattāvasesaṁ dhammiyā kathāya vītināmesuṁ.
“There are, Ānanda, deities—both in space and on the earth—who are aware of the earth. With hair disheveled and arms raised, they fall down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamenting: ‘Too soon the Blessed One has become fully quenched! Too soon the Holy One has become fully quenched! Too soon the Eye of the World has vanished!’ But the deities who are free of desire endure, mindful and aware, thinking: ‘Conditions are impermanent. How could it possibly be otherwise?’”
Ānanda and Anuruddha spent the rest of the night talking about Dhamma.
“Này hiền giả Ānanda, có những vị chư thiên ở hư không, với tâm tưởng như ở trên đất, đang xõa tóc than khóc, đưa tay lên trời mà than khóc, ngã lăn xuống đất như cây bị đốn ngã, lăn qua lộn lại, (than rằng): ‘Đức Thế Tôn đã nhập diệt quá mau chóng! Đức Thiện Thệ đã nhập diệt quá mau chóng! Bậc có Mắt (Trí tuệ) đã biến mất khỏi thế gian quá mau chóng!’ Này hiền giả Ānanda, có những vị chư thiên ở trên mặt đất, với tâm tưởng như ở trên đất, đang xõa tóc than khóc, đưa tay lên trời mà than khóc, ngã lăn xuống đất như cây bị đốn ngã, lăn qua lộn lại, (than rằng): ‘Đức Thế Tôn đã nhập diệt quá mau chóng! Đức Thiện Thệ đã nhập diệt quá mau chóng! Bậc có Mắt (Trí tuệ) đã biến mất khỏi thế gian quá mau chóng!’ Còn những vị chư thiên đã ly tham, các vị ấy, với chánh niệm tỉnh giác, đã kham nhẫn (suy niệm rằng): ‘Các pháp hữu vi là vô thường, làm sao có thể được khác đi ở đây?’ Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha và Tôn giả Ānanda đã trải qua phần còn lại của đêm bằng pháp thoại.
Atha kho āyasmā anuruddho āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gacchāvuso ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi: ‘parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā, yassadāni kālaṁ maññathā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando āyasmato anuruddhassa paṭissutvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti teneva karaṇīyena. Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi: “parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā, yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: “atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
Then Anuruddha said to Ānanda, “Go, Ānanda, into Kusinārā and inform the Mallas: ‘Vāseṭṭhas, the Buddha has become fully quenched. Please come at your convenience.’”
“Yes, sir,” replied Ānanda. Then, in the morning, he robed up and, taking his bowl and robe, entered Kusinārā with a companion.
Now at that time the Mallas of Kusinārā were sitting together at the town hall still on the same business. Ānanda went up to them, and announced, “Vāseṭṭhas, the Buddha has become fully quenched. Please come at your convenience.”
When they heard what Ānanda had to say, the Mallas, their sons, daughters-in-law, and wives became distraught, saddened, and grief-stricken. And some, with hair disheveled and arms raised, falling down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamented, “Too soon the Blessed One has become fully quenched! Too soon the Holy One has become fully quenched! Too soon the Eye of the World has vanished!”
226. Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha gọi Tôn giả Ānanda: “Này hiền giả Ānanda, hãy đi vào Kusinārā và báo cho dòng họ Malla ở Kusinārā biết: ‘Này quý vị Vāseṭṭhā, Đức Thế Tôn đã nhập diệt. Nay quý vị hãy làm những gì quý vị cho là phải thời.’” “Thưa vâng, bạch Đại đức,” Tôn giả Ānanda vâng lời Tôn giả Anuruddha, rồi vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, cùng với một vị tỳ-khưu khác làm bạn đồng hành, đi vào Kusinārā. Lúc bấy giờ, dòng họ Malla ở Kusinārā đang tụ họp tại hội trường chính vì công việc ấy. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến hội trường của dòng họ Malla ở Kusinārā; sau khi đến, ngài báo cho dòng họ Malla ở Kusinārā biết: “Này quý vị Vāseṭṭhā, Đức Thế Tôn đã nhập diệt. Nay quý vị hãy làm những gì quý vị cho là phải thời.” Nghe lời này của Tôn giả Ānanda, các vị Malla, các con trai Malla, các con dâu Malla, và các phu nhân Malla, đau khổ, ưu sầu, tâm bị phiền muộn xâm chiếm, một số vị xõa tóc than khóc, đưa tay lên trời mà than khóc, ngã lăn xuống đất như cây bị đốn ngã, lăn qua lộn lại, (than rằng): “Đức Thế Tôn đã nhập diệt quá mau chóng! Đức Thiện Thệ đã nhập diệt quá mau chóng! Bậc có Mắt (Trí tuệ) đã biến mất khỏi thế gian quá mau chóng!”
Cúng dường nhục thân Đức Phật
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ: “tena hi, bhaṇe, kusinārāyaṁ gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ sannipātethā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ pañca ca dussayugasatāni ādāya yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yena bhagavato sarīraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā ekadivasaṁ vītināmesuṁ.
Then the Mallas ordered their men, “So then, lads, collect fragrances and garlands, and all the musical instruments in Kusinārā.”
Then—taking those fragrances and garlands, all the musical instruments, and five hundred pairs of garments—they went to the Mallian sal grove at Upavattana and approached the Buddha’s corpse. They spent the day honoring, respecting, revering, and venerating the Buddha’s corpse with dance and song and music and garlands and fragrances, and making awnings and setting up pavilions.
227. Bấy giờ, dòng họ Malla ở Kusinārā ra lệnh cho các người hầu: “Này các khanh, vậy thì hãy tập trung tất cả hương, hoa và các loại nhạc cụ ở Kusinārā lại.” Bấy giờ, dòng họ Malla ở Kusinārā, sau khi lấy hương, hoa, tất cả các loại nhạc cụ, và năm trăm cặp y, đã đi đến rừng Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana, nơi có nhục thân của Đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đã tôn kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường nhục thân của Đức Thế Tôn bằng các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa và hương liệu, dựng các lọng vải và chuẩn bị các vòng hoa trang trí, và đã trải qua một ngày như vậy.
Atha kho kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi: “ativikālo kho ajja bhagavato sarīraṁ jhāpetuṁ, sve dāni mayaṁ bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti. Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā dutiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, tatiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, catutthampi divasaṁ vītināmesuṁ, pañcamampi divasaṁ vītināmesuṁ, chaṭṭhampi divasaṁ vītināmesuṁ.
Then they thought, “It’s too late to cremate the Buddha’s corpse today. Let’s do it tomorrow.” But they spent the next day the same way, and so too the third, fourth, fifth, and sixth days.
Bấy giờ, dòng họ Malla ở Kusinārā khởi lên ý nghĩ này: “Hôm nay đã quá muộn để hỏa táng nhục thân của Đức Thế Tôn. Ngày mai chúng ta sẽ hỏa táng nhục thân của Đức Thế Tôn.” Bấy giờ, dòng họ Malla ở Kusinārā đã tôn kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường nhục thân của Đức Thế Tôn bằng các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa và hương liệu, dựng các lọng vải và chuẩn bị các vòng hoa trang trí, và đã trải qua ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba, rồi ngày thứ tư, rồi ngày thứ năm, rồi ngày thứ sáu.
Atha kho sattamaṁ divasaṁ kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi: “mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti.
Then on the seventh day they thought, “Honoring, respecting, revering, and venerating the Buddha’s corpse with dance and song and music and garlands and fragrances, let us carry it to the south of the town, and cremate it there outside the town.”
Bấy giờ, vào ngày thứ bảy, dòng họ Malla ở Kusinārā khởi lên ý nghĩ này: “Chúng ta, trong khi tôn kính, trọng vọng, tôn sùng, cúng dường nhục thân của Đức Thế Tôn bằng các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa và hương liệu, sẽ mang (nhục thân) ra khỏi thành phố về phía nam bằng cổng phía nam, đi vòng bên ngoài thành phố, và sẽ hỏa táng nhục thân của Đức Thế Tôn ở phía nam thành phố.”
Tena kho pana samayena aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā: “mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā”ti na sakkonti uccāretuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ: “ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā: ‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā’ti na sakkonti uccāretun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, tumhākaṁ adhippāyo, aññathā devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Tumhākaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo: ‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’ti; devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo: ‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ dibbehi naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Now at that time eight of the leading Mallas, having bathed their heads and dressed in unworn clothes, said, “We shall lift the Buddha’s corpse.” But they were unable to do so.
The Mallas said to Anuruddha, “What is the cause, Honorable Anuruddha, what is the reason why these eight Mallian chiefs are unable to lift the Buddha’s corpse?”
“Vāseṭṭhas, you have one plan, but the deities have a different one.”
“But sir, what is the deities’ plan?”
“You plan to carry the Buddha’s corpse to the south of the town while venerating it with dance and song and music and garlands and fragrances, and cremate it there outside the town. The deities plan to carry the Buddha’s corpse to the north of the town while venerating it with heavenly dance and song and music and garlands and fragrances. Then they plan to enter the town by the northern gate, carry it through the center of the town, leave by the eastern gate, and cremate it there at the Mallian shrine named Coronation.”
“Sir, let it be as the deities plan.”
228. Vào lúc bấy giờ, có tám vị tộc trưởng Malla, sau khi đã gội đầu và mặc y phục mới, đã nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ khiêng nhục thân của đức Thế Tôn,’ nhưng họ đã không thể khiêng lên được. Khi ấy, những người Malla ở Kusinārā đã bạch với đại đức Anuruddha điều này: ‘Bạch ngài Anuruddha, do nguyên nhân nào, do duyên cớ nào mà tám vị tộc trưởng Malla này, sau khi đã gội đầu và mặc y phục mới, đã nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ khiêng nhục thân của đức Thế Tôn,’ nhưng họ đã không thể khiêng lên được?’ – ‘Này các Vāseṭṭha, ý định của các ông là một đằng, còn ý định của chư thiên là một nẻo.’ – ‘Bạch ngài, vậy ý định của chư thiên là như thế nào?’ – ‘Này các Vāseṭṭha, ý định của các ông là: ‘Chúng ta sẽ khiêng nhục thân của đức Thế Tôn đi về hướng nam của thành phố, ra khỏi cổng phía nam, rồi hỏa táng nhục thân của đức Thế Tôn ở phía nam thành phố, trong lúc cử hành lễ cúng dường, tôn kính, trọng vọng, và tán dương với các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa, và hương liệu.’ Còn ý định của chư thiên, này các Vāseṭṭha, là: ‘Chúng ta sẽ khiêng nhục thân của đức Thế Tôn đi về hướng bắc của thành phố, đưa vào thành phố qua cổng phía bắc, khiêng đi qua giữa trung tâm thành phố, rồi đi ra bằng cổng phía đông, và hỏa táng nhục thân của đức Thế Tôn ở phía đông thành phố, tại ngôi đền của dòng họ Malla có tên là Makuṭabandhana, trong lúc cử hành lễ cúng dường, tôn kính, trọng vọng, và tán dương với các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, và hương liệu của chư thiên.’ – ‘Bạch ngài, xin hãy cứ theo như ý định của chư thiên.’
Tena kho pana samayena kusinārā yāva sandhisamalasaṅkaṭīrā jaṇṇumattena odhinā mandāravapupphehi santhatā hoti. Atha kho devatā ca kosinārakā ca mallā bhagavato sarīraṁ dibbehi ca mānusakehi ca naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha ca bhagavato sarīraṁ nikkhipiṁsu.
Now at that time the whole of Kusinārā was covered knee-deep with the flowers of the Flame Tree, without gaps even on the filth and rubbish heaps. Then the deities and the Mallas of Kusinārā carried the Buddha’s corpse to the north of the town while venerating it with heavenly and human dance and song and music and garlands and fragrances. Then they entered the town by the northern gate, carried it through the center of the town, left by the eastern gate, and deposited the corpse there at the Mallian shrine named Coronation.
229. Vào lúc bấy giờ, thành Kusinārā được bao phủ bởi hoa mandārava, ngập sâu đến đầu gối, cho đến tận những nơi giao nhau giữa các ngôi nhà, những nơi ô uế, và những đống rác. Khi ấy, chư thiên và những người Malla ở Kusinārā, trong lúc cử hành lễ cúng dường, tôn kính, trọng vọng, và tán dương nhục thân của đức Thế Tôn với các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa, và hương liệu của chư thiên và của loài người, đã khiêng nhục thân đi về hướng bắc của thành phố, đưa vào thành phố qua cổng phía bắc, khiêng đi qua giữa trung tâm thành phố, rồi đi ra bằng cổng phía đông, và đã đặt nhục thân của đức Thế Tôn xuống tại ngôi đền của dòng họ Malla có tên là Makuṭabandhana, ở phía đông thành phố.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ: “kathaṁ mayaṁ, bhante ānanda, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, vāseṭṭhā, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti. Etena upāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti. Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti. Evaṁ kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti. Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ. Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo. Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ: “tena hi, bhaṇe, mallānaṁ vihataṁ kappāsaṁ sannipātethā”ti.
Then the Mallas said to Ānanda, “Honorable Ānanda, how do we proceed when it comes to the Realized One’s corpse?”
“Proceed in the same way as they do for the corpse of a wheel-turning monarch.”
“But how do they proceed with a wheel-turning monarch’s corpse?”
“They wrap a wheel-turning monarch’s corpse with unworn cloth, then with uncarded cotton, then again with unworn cloth. In this way they wrap the corpse with five hundred double-layers. Then they place it in an iron casket filled with oil and close it up with another casket. Then, having built a funeral pyre out of all kinds of aromatics, they cremate the corpse. They build a monument for the wheel-turning monarch at the crossroads. That’s how they proceed with a wheel-turning monarch’s corpse. Proceed in the same way with the Realized One’s corpse. A monument for the Realized One is to be built at the crossroads. When someone there lifts up garlands or fragrance or powder, or bows, or inspires confidence in their heart, that will be for their lasting welfare and happiness.”
Then the Mallas ordered their men, “So then, lads, collect uncarded cotton.”
230. Khi ấy, những người Malla ở Kusinārā đã bạch với đại đức Ānanda điều này: ‘Bạch ngài Ānanda, chúng con nên xử lý nhục thân của đức Như Lai như thế nào?’ – ‘Này các Vāseṭṭha, nên xử lý nhục thân của đức Như Lai giống như cách người ta xử lý nhục thân của một vị vua chuyển luân.’ – ‘Bạch ngài Ānanda, vậy người ta xử lý nhục thân của một vị vua chuyển luân như thế nào?’ – ‘Này các Vāseṭṭha, người ta quấn nhục thân của một vị vua chuyển luân bằng một tấm vải mới. Sau khi quấn bằng một tấm vải mới, họ quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ. Sau khi quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ, họ lại quấn bằng một tấm vải mới. Theo cách thức này, sau khi đã quấn nhục thân của vị vua chuyển luân bằng năm trăm cặp vải, họ đặt vào trong một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu, đậy lại bằng một quan tài bằng sắt khác, rồi làm một giàn thiêu bằng tất cả các loại gỗ thơm và hỏa táng nhục thân của vị vua chuyển luân. Họ dựng một bảo tháp cho vị vua chuyển luân ở ngã tư đường. Này các Vāseṭṭha, đó là cách người ta xử lý nhục thân của một vị vua chuyển luân. Này các Vāseṭṭha, nên xử lý nhục thân của đức Như Lai giống như cách người ta xử lý nhục thân của một vị vua chuyển luân. Nên dựng một bảo tháp cho đức Như Lai ở ngã tư đường. Ở nơi ấy, những ai dâng lên vòng hoa, hương liệu, hay bột thơm, hoặc đảnh lễ, hoặc làm cho tâm mình tịnh tín, điều ấy sẽ đem lại cho họ lợi ích và an lạc lâu dài.’ Khi ấy, những người Malla ở Kusinārā đã ra lệnh cho các thuộc hạ: ‘Này các khanh, vậy thì hãy đi thu gom bông gòn đã được chải kỹ của dòng họ Malla.’
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhesuṁ, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhesuṁ. Etena upāyena pañcahi yugasatehi bhagavato sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā bhagavato sarīraṁ citakaṁ āropesuṁ.
So the Mallas wrapped the Buddha’s corpse, and placed it in an iron casket filled with oil. Then, having built a funeral pyre out of all kinds of aromatics, they lifted the corpse on to the pyre.
Khi ấy, những người Malla ở Kusinārā đã quấn nhục thân của đức Thế Tôn bằng một tấm vải mới, rồi quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ. Sau khi quấn bằng bông gòn đã được chải kỹ, họ lại quấn bằng một tấm vải mới. Theo cách thức này, sau khi đã quấn nhục thân của đức Thế Tôn bằng năm trăm cặp vải, họ đặt vào trong một quan tài bằng sắt chứa đầy dầu, đậy lại bằng một quan tài bằng sắt khác, rồi làm một giàn thiêu bằng tất cả các loại gỗ thơm và đặt nhục thân của đức Thế Tôn lên giàn thiêu.
Câu chuyện về Đại đức Mahākassapa
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno hoti mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi. Atha kho āyasmā mahākassapo maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Tena kho pana samayena aññataro ājīvako kusinārāya mandāravapupphaṁ gahetvā pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti. Addasā kho āyasmā mahākassapo taṁ ājīvakaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvā taṁ ājīvakaṁ etadavoca: “apāvuso, amhākaṁ satthāraṁ jānāsī”ti?
“Āmāvuso, jānāmi, ajja sattāhaparinibbuto samaṇo gotamo. Tato me idaṁ mandāravapupphaṁ gahitan”ti. Tattha ye te bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti: “atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti. Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti: “aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
Now at that time Venerable Mahākassapa was traveling along the road from Pāvā to Kusinārā together with a large Saṅgha of five hundred mendicants. Then he left the road and sat at the root of a tree.
Now at that time a certain Ājīvaka ascetic had picked up a Flame Tree flower in Kusinārā and was traveling along the road to Pāvā. Mahākassapa saw him coming off in the distance and said to him, “Reverend, might you know about our Teacher?”
“Yes, reverend. Seven days ago the ascetic Gotama was fully quenched. From there I picked up this Flame Tree flower.” Some of the mendicants there who were not free of desire, with arms raised, falling down like their feet were chopped off, rolling back and forth, lamented, “Too soon the Blessed One has become fully quenched! Too soon the Holy One has become fully quenched! Too soon the Eye of the World has vanished!” But the mendicants who were free of desire endured, mindful and aware, thinking, “Conditions are impermanent. How could it possibly be otherwise?”
231. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa đang trên đường dài từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một đại chúng tỳ-khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ-khưu. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đi lệch khỏi con đường và ngồi xuống dưới một gốc cây. Cũng vào lúc bấy giờ, một du sĩ Ājīvaka, tay cầm một đóa hoa mandārava, đang trên đường dài từ Kusinārā đến Pāvā. Trưởng lão Mahākassapa trông thấy du sĩ Ājīvaka ấy từ xa đi lại, thấy rồi liền nói với du sĩ Ājīvaka ấy rằng: “Này hiền hữu, hiền hữu có biết bậc Đạo Sư của chúng tôi không?” “Thưa hiền hữu, vâng, tôi biết. Sa-môn Gotama đã nhập diệt được bảy ngày rồi. Từ nơi ấy, tôi đã nhặt được đóa hoa mandārava này.” Bấy giờ, trong số các vị tỳ-khưu chưa ly tham, một số vị giơ tay lên mà khóc, ngã lăn xuống như bị chặt đứt, lăn qua lộn lại: “Thế Tôn đã nhập diệt quá sớm! Thiện Thệ đã nhập diệt quá sớm! Bậc có Mắt trong đời đã ẩn mình quá sớm!” Còn những vị tỳ-khưu đã ly tham, các vị ấy chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng rằng: “Các pháp hữu vi là vô thường, làm sao có thể khác được?”
Tena kho pana samayena subhaddo nāma vuddhapabbajito tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho subhaddo vuddhapabbajito te bhikkhū etadavoca: “alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha, sumuttā mayaṁ tena mahāsamaṇena. Upaddutā ca homa: ‘idaṁ vo kappati, idaṁ vo na kappatī’ti. Idāni pana mayaṁ yaṁ icchissāma, taṁ karissāma, yaṁ na icchissāma, na taṁ karissāmā”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo bhikkhū āmantesi: “alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha. Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ: ‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’. Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Now at that time a monk named Subhadda, who had gone forth when old, was sitting in that assembly. He said to those mendicants, “Enough, reverends, do not grieve or lament. We’re well rid of that Great Ascetic. And we are harried: ‘This is allowable for you; this is not allowable for you.’ Well, now we shall do what we want and not do what we don’t want.”
Then Venerable Mahākassapa addressed the mendicants, “Enough, reverends, do not grieve or lament. Did the Buddha not prepare us for this when he explained that we must be parted and separated from all we hold dear and beloved? How could it possibly be so that what is born, created, conditioned, and liable to wear out should not wear out, even the Realized One’s body?”
232. Vào lúc bấy giờ, có một người xuất gia lúc về già tên là Subhadda đang ngồi trong hội chúng ấy. Khi ấy, người xuất gia lúc về già Subhadda nói với các vị tỳ-khưu ấy rằng: “Thôi, chư hiền hữu, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Chúng ta đã được giải thoát hoàn toàn khỏi vị Đại Sa-môn ấy. Chúng ta đã bị phiền nhiễu bởi những lời: ‘Điều này hợp lệ với các ông, điều này không hợp lệ với các ông.’ Nhưng bây giờ, chúng ta muốn làm gì thì sẽ làm điều đó, không muốn làm gì thì sẽ không làm điều đó.” Bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa gọi các vị tỳ-khưu: “Thôi, chư hiền hữu, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Này chư hiền hữu, chẳng phải điều này đã được Thế Tôn nói trước rồi sao: ‘Sẽ có sự chia ly, sự xa lìa, sự khác biệt với tất cả những gì thân ái và quý mến.’ Làm sao có thể khác được, hỡi chư hiền hữu? Cái gì đã sinh, đã thành, là pháp hữu vi, có bản chất hoại diệt, mà lại mong rằng: ‘Mong sao thân của Như Lai cũng không bị hoại diệt!’ — điều đó không thể xảy ra.”
Tena kho pana samayena cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā: “mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā”ti na sakkonti āḷimpetuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ: “ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā: ‘mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā’ti na sakkonti āḷimpetun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo: ‘ayaṁ āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi. Na tāva bhagavato citako pajjalissati, yāvāyasmā mahākassapo bhagavato pāde sirasā na vandissatī’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Now at that time four of the leading Mallas, having bathed their heads and dressed in unworn clothes, said, “We shall light the Buddha’s funeral pyre.” But they were unable to do so.
The Mallas said to Anuruddha, “What is the cause, Venerable Anuruddha, what is the reason why these four Mallian chiefs are unable to light the Buddha’s funeral pyre?”
“Vāseṭṭhas, the deities have a different plan.”
“But sir, what is the deities’ plan?”
“The deities’ plan is this: Venerable Mahākassapa is traveling along the road from Pāvā to Kusinārā together with a large Saṅgha of five hundred mendicants. The Buddha’s funeral pyre shall not burn until he bows with his head to the Buddha’s feet.”
“Sir, let it be as the deities plan.”
233. Vào lúc bấy giờ, có bốn vị tộc trưởng Malla, sau khi gội đầu và mặc y phục mới, đã cố gắng châm lửa giàn hỏa thiêu của Thế Tôn nhưng không thể làm được. Khi ấy, các vị Malla ở Kusinārā nói với trưởng lão Anuruddha rằng: “Bạch ngài Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì mà bốn vị tộc trưởng Malla này, sau khi gội đầu và mặc y phục mới, đã cố gắng châm lửa giàn hỏa thiêu của Thế Tôn nhưng không thể làm được?” “Này các Vāseṭṭha, ý muốn của chư thiên là khác.” “Bạch ngài, ý muốn của chư thiên là như thế nào?” “Này các Vāseṭṭha, ý muốn của chư thiên là: ‘Trưởng lão Mahākassapa đang trên đường dài từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một đại chúng tỳ-khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ-khưu. Giàn hỏa thiêu của Thế Tôn sẽ không bốc cháy cho đến khi trưởng lão Mahākassapa đảnh lễ dưới chân Thế Tôn bằng đầu của mình.’” “Bạch ngài, xin hãy cứ theo như ý muốn của chư thiên.”
Atha kho āyasmā mahākassapo yena kusinārā makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ, yena bhagavato citako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandi. Tānipi kho pañcabhikkhusatāni ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandiṁsu. Vandite ca panāyasmatā mahākassapena tehi ca pañcahi bhikkhusatehi sayameva bhagavato citako pajjali.
Then Venerable Mahākassapa arrived at the Mallian shrine named Coronation at Kusinārā and approached the Buddha’s funeral pyre. Arranging his robe over one shoulder and raising his joined palms, he respectfully circled the Buddha three times, keeping him on his right, and bowed with his head to the Buddha’s feet. And the five hundred mendicants did likewise. And when Mahākassapa and the five hundred mendicants bowed the Buddha’s funeral pyre burst into flames all by itself.
234. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đi đến đền Makuṭabandhana của dòng họ Malla ở Kusinārā, nơi có giàn hỏa thiêu của Thế Tôn. Sau khi đến, ngài đắp y lệch một bên vai, chắp tay lại, đi nhiễu quanh giàn hỏa thiêu ba vòng theo chiều bên phải, rồi đảnh lễ dưới chân Thế Tôn bằng đầu của mình. Năm trăm vị tỳ-khưu ấy cũng đắp y lệch một bên vai, chắp tay lại, đi nhiễu quanh giàn hỏa thiêu ba vòng theo chiều bên phải, rồi đảnh lễ dưới chân Thế Tôn bằng đầu của mình. Và khi trưởng lão Mahākassapa cùng năm trăm vị tỳ-khưu ấy vừa đảnh lễ xong, giàn hỏa thiêu của Thế Tôn tự động bốc cháy.
Jhāyamānassa kho pana bhagavato sarīrassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi; sarīrāneva avasissiṁsu. Seyyathāpi nāma sappissa vā telassa vā jhāyamānassa neva chārikā paññāyati, na masi; evameva bhagavato sarīrassa jhāyamānassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi; sarīrāneva avasissiṁsu. Tesañca pañcannaṁ dussayugasatānaṁ dveva dussāni na ḍayhiṁsu yañca sabbaabbhantarimaṁ yañca bāhiraṁ. Daḍḍhe ca kho pana bhagavato sarīre antalikkhā udakadhārā pātubhavitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi. Udakasālatopi abbhunnamitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi. Kosinārakāpi mallā sabbagandhodakena bhagavato citakaṁ nibbāpesuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīrāni sattāhaṁ sandhāgāre sattipañjaraṁ karitvā dhanupākāraṁ parikkhipāpetvā naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkariṁsu garuṁ kariṁsu mānesuṁ pūjesuṁ.
And when the Buddha’s corpse was cremated no ash or soot was found from outer or inner skin, flesh, sinews, or synovial fluid. Only the relics remained. It’s like when ghee or oil blaze and burn, and neither ashes nor soot are found. In the same way, when the Buddha’s corpse was cremated no ash or soot was found from outer or inner skin, flesh, sinews, or synovial fluid. Only the relics remained. And of those five hundred pairs of garments only two were not burnt: the innermost and the outermost. But when the Buddha’s corpse was consumed the funeral pyre was extinguished by a stream of water that appeared in the sky, by water dripping from the sal trees, and by the Mallas’ fragrant water.
Then the Mallas made a cage of spears for the Buddha’s relics in the town hall and surrounded it with a buttress of bows. For seven days they honored, respected, revered, and venerated them with dance and song and music and garlands and fragrances.
235. Khi kim thân của Thế Tôn đang được hỏa thiêu, đối với lớp da ngoài, da trong, thịt, gân, và dịch khớp, không tro cũng không muội nào được thấy; chỉ có các xá-lợi còn lại. Giống như khi bơ hoặc dầu được đốt cháy, không tro cũng không muội nào được thấy; cũng vậy, khi kim thân của Thế Tôn được hỏa thiêu, đối với lớp da ngoài, da trong, thịt, gân, và dịch khớp, không tro cũng không muội nào được thấy; chỉ có các xá-lợi còn lại. Và trong năm trăm cặp y phục, chỉ có hai tấm không bị cháy: tấm trong cùng và tấm ngoài cùng. Khi kim thân của Thế Tôn đã được hỏa thiêu xong, một dòng nước từ trên không hiện ra và dập tắt giàn hỏa thiêu của Thế Tôn. Nước cũng phun lên từ những cây sāla và dập tắt giàn hỏa thiêu của Thế Tôn. Các vị Malla ở Kusinārā cũng dùng tất cả các loại nước thơm để dập tắt giàn hỏa thiêu của Thế Tôn. Khi ấy, các vị Malla ở Kusinārā đặt các xá-lợi của Thế Tôn tại nghị trường, dựng một hàng rào bằng giáo và bao quanh bằng một bức tường cung, rồi trong bảy ngày, họ tôn kính, trọng vọng, quý mến, và cúng dường bằng các điệu múa, bài hát, nhạc cụ, vòng hoa, và hương liệu.
Phân chia Xá-lợi
Assosi kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi: “bhagavāpi khattiyo ahampi khattiyo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
King Ajātasattu of Magadha, son of the princess of Videha, heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. He sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and so am I. I too deserve a share of the Buddha’s relics. I will build a monument for them and conduct a memorial service.”
236. Vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con trai của hoàng hậu Vedehi, đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, vua xứ Māgadha là Ajātasattu, con trai của hoàng hậu Vedehi, đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, ta cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Ta cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosuṁ kho vesālikā licchavī: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho vesālikā licchavī kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
The Licchavis of Vesālī also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and so are we. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Dòng họ Licchavī ở Vesālī đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Licchavī ở Vesālī đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosuṁ kho kapilavatthuvāsī sakyā: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho kapilavatthuvāsī sakyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavā amhākaṁ ñātiseṭṭho, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
The Sakyans of Kapilavatthu also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was our foremost relative. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Dòng họ Sakyā ở Kapilavatthu đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Sakyā ở Kapilavatthu đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn là người thân tộc cao quý nhất của chúng tôi. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosuṁ kho allakappakā bulayo: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho allakappakā bulayo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
The Bulis of Allakappa also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and so are we. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Dòng họ Bulayo ở Allakappa đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Bulayo ở Allakappa đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosuṁ kho rāmagāmakā koḷiyā: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho rāmagāmakā koḷiyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
The Koliyans of Rāmagāma also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and so are we. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Dòng họ Koḷiyā ở Rāmagāma đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Koḷiyā ở Rāmagāma đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosi kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi: “bhagavāpi khattiyo ahampismi brāhmaṇo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
The brahmin of Veṭhadīpa also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. He sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and I am a brahmin. I too deserve a share of the Buddha’s relics. I will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Vị Bà-la-môn ở Veṭṭhadīpa đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, vị Bà-la-môn ở Veṭṭhadīpa đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, ta cũng là dòng dõi Bà-la-môn. Ta cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Ta cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Assosuṁ kho pāveyyakā mallā: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho pāveyyakā mallā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
The Mallas of Pāvā also heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat and so are we. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
Dòng họ Mallā ở Pāvā đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Mallā ở Pāvā đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Evaṁ vutte, kosinārakā mallā te saṅghe gaṇe etadavocuṁ: “bhagavā amhākaṁ gāmakkhette parinibbuto, na mayaṁ dassāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgan”ti.
When they had spoken, the Mallas of Kusinārā said to those various groups: “The Buddha was fully quenched in our village district. We will not give away a share of his relics.”
Khi được nói như vậy, dòng họ Mallā ở Kusinārā đã nói với các hội chúng và đoàn thể ấy rằng: “Đức Thế Tôn đã nhập diệt trong lãnh địa làng của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không trao phần xá-lợi của Đức Thế Tôn.”
Evaṁ vutte, doṇo brāhmaṇo te saṅghe gaṇe etadavoca:
Then Doṇa the brahmin said to those various groups:
237. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Doṇa đã nói với các hội chúng và đoàn thể ấy rằng:
“Suṇantu bhonto mama ekavācaṁ, Amhāka buddho ahu khantivādo; Na hi sādhu yaṁ uttamapuggalassa, Sarīrabhāge siyā sampahāro.
“Hear, worthy sirs, a single word from me. Our Buddha’s teaching was acceptance. It would not be good to fight over a share of the supreme individual’s relics.
“Thưa quý ngài, xin hãy lắng nghe một lời của tôi. Đức Phật của chúng ta đã là người tán thán sự kham nhẫn. Thật không tốt đẹp khi có sự xung đột về việc phân chia xá-lợi của bậc Tối Thượng Nhân.”
Sabbeva bhonto sahitā samaggā, Sammodamānā karomaṭṭhabhāge; Vitthārikā hontu disāsu thūpā, Bahū janā cakkhumato pasannā”ti.
Let us make eight portions, worthy sirs, rejoicing in unity and harmony. Let there be monuments far and wide, so many folk may gain faith in the Clear-eyed One!”
“Thưa quý ngài, tất cả chúng ta hãy cùng nhau, hòa hợp, hoan hỷ, chia thành tám phần. Mong rằng các bảo tháp sẽ được lan rộng khắp các phương, vì có nhiều người tịnh tín nơi Bậc Có Mắt.”
“Tena hi, brāhmaṇa, tvaññeva bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ savibhattaṁ vibhajāhī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho doṇo brāhmaṇo tesaṁ saṅghānaṁ gaṇānaṁ paṭissutvā bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhajitvā te saṅghe gaṇe etadavoca: “imaṁ me bhonto tumbaṁ dadantu ahampi tumbassa thūpañca mahañca karissāmī”ti. Adaṁsu kho te doṇassa brāhmaṇassa tumbaṁ.
“Well then, brahmin, you yourself should fairly divide the Buddha’s relics in eight portions.”
“Yes, worthy sirs,” replied Doṇa to those various groups. He divided the relics as asked and said to them, “Worthy sirs, please give me the urn, and I shall build a monument for it and conduct a memorial service.” So they gave Doṇa the urn.
238. “Vậy thì, thưa Bà-la-môn, chính ngài hãy phân chia xá-lợi của Đức Thế Tôn thành tám phần đều nhau một cách tốt đẹp.” “Vâng, thưa quý ngài,” Bà-la-môn Doṇa đã vâng lời các hội chúng và đoàn thể ấy, sau khi đã phân chia xá-lợi của Đức Thế Tôn thành tám phần đều nhau một cách tốt đẹp, ông đã nói với các hội chúng và đoàn thể ấy rằng: “Thưa quý ngài, xin hãy trao cho tôi cái đấu này. Tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho cái đấu.” Họ đã trao cái đấu cho Bà-la-môn Doṇa.
Assosuṁ kho pippalivaniyā moriyā: “bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti. Atha kho pippalivaniyā moriyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ: “bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
“Natthi bhagavato sarīrānaṁ bhāgo, vibhattāni bhagavato sarīrāni. Ito aṅgāraṁ harathā”ti. Te tato aṅgāraṁ hariṁsu.
The Moriyas of Pippalivana heard that the Buddha had become fully quenched at Kusinārā. They sent an envoy to the Mallas of Kusinārā: “The Buddha was an aristocrat, and so are we. We too deserve a share of the Buddha’s relics. We will build a monument for them and conduct a memorial service.”
“There is no portion of the Buddha’s relics left, they have already been portioned out. Here, take the embers.” So they took the embers.
Dòng họ Moriyā ở Pippalivana đã nghe tin: “Đức Thế Tôn được cho là đã nhập diệt ở Kusinārā.” Bấy giờ, dòng họ Moriyā ở Pippalivana đã phái sứ giả đến dòng họ Mallā ở Kusinārā với thông điệp: “Đức Thế Tôn cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi của Đức Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ xây bảo tháp và tổ chức lễ hội cho xá-lợi của Đức Thế Tôn.” (Họ được trả lời:) “Không còn phần xá-lợi nào của Đức Thế Tôn, xá-lợi của Đức Thế Tôn đã được phân chia rồi. Hãy lấy tro than từ đây.” Họ đã lấy tro than từ đó.
Cúng Dường Bảo Tháp Xá-Lợi
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto rājagahe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi. Vesālikāpi licchavī vesāliyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Kapilavatthuvāsīpi sakyā kapilavatthusmiṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Allakappakāpi bulayo allakappe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Rāmagāmakāpi koḷiyā rāmagāme bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Veṭṭhadīpakopi brāhmaṇo veṭṭhadīpe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi. Pāveyyakāpi mallā pāvāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Kosinārakāpi mallā kusinārāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Doṇopi brāhmaṇo tumbassa thūpañca mahañca akāsi. Pippalivaniyāpi moriyā pippalivane aṅgārānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu. Iti aṭṭha sarīrathūpā navamo tumbathūpo dasamo aṅgārathūpo. Evametaṁ bhūtapubbanti.
Then King Ajātasattu of Magadha, the Licchavis of Vesālī, the Sakyans of Kapilavatthu, the Bulis of Allakappa, the Koliyans of Rāmagāma, the brahmin of Veṭhadīpa, the Mallas of Pāvā, the Mallas of Kusinārā, the brahmin Doṇa, and the Moriyas of Pippalivana built monuments for them and conducted memorial services. Thus there were eight monuments for the relics, a ninth for the urn, and a tenth for the embers. That is how it was in the old days.
239. Khi ấy, vua A-xà-thế xứ Ma-kiệt-đà, con của bà Vedehi, đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại thành Vương Xá. Dân Licchavī ở Vesālī cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Vesālī. Dòng họ Thích-ca ở Ca-tỳ-la-vệ cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Ca-tỳ-la-vệ. Dòng họ Buli ở Allakappa cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Allakappa. Dòng họ Koliya ở Rāmagāma cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Rāmagāma. Vị Bà-la-môn ở Veṭṭhadīpa cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Veṭṭhadīpa. Dòng họ Malla ở Pāvā cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Pāvā. Dòng họ Malla ở Kusinārā cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường xá-lợi của đức Thế Tôn tại Kusinārā. Vị Bà-la-môn Doṇa cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường cho cái đấu. Dòng họ Moriya ở Pippalivana cũng đã xây dựng bảo tháp và tổ chức lễ cúng dường cho tro than tại Pippalivana. Như vậy, có tám bảo tháp xá-lợi, bảo tháp cái đấu là thứ chín, và bảo tháp tro than là thứ mười. Việc này đã xảy ra như vậy trong quá khứ.
Aṭṭhadoṇaṁ cakkhumato sarīraṁ, Sattadoṇaṁ jambudīpe mahenti;
There were eight shares <j>of the Clear-eyed One’s relics. Seven were worshiped in the Black Plum Tree Land.
240. Xá-lợi của bậc có Năm Mắt là tám đấu, bảy đấu được tôn thờ ở cõi Diêm-phù-đề.
Và một đấu của bậc Tối Thượng trong loài người được long vương tôn thờ tại Rāmagāma.
Ekāhi dāṭhā tidivehi pūjitā, Ekā pana gandhārapure mahīyati; Kāliṅgarañño vijite punekaṁ, Ekaṁ pana nāgarājā maheti.
One tooth is venerated <j>by the gods of the Third Heaven, and one is worshiped in the city of Gandhāra; another one in the realm of the Kaliṅga King, and one is worshiped by a dragon king.
Một răng xá-lợi được chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba tôn thờ, một cái khác được tôn thờ ở thành Gandhāra; lại một cái nữa trong vương quốc của vua Kalinga, và một cái khác được long vương tôn thờ.
Tasseva tejena ayaṁ vasundharā, Āyāgaseṭṭhehi mahī alaṅkatā; Evaṁ imaṁ cakkhumato sarīraṁ, Susakkataṁ sakkatasakkatehi.
Through their glory this rich earth is adorned with the best of offerings. Thus the Clear-eyed One’s corpse is well honored by the honorable.
Chính nhờ oai lực của ngài mà quả đất này, mặt đất này được trang hoàng với những lễ cúng dường cao quý nhất. Như vậy, xá-lợi này của bậc có Năm Mắt đã được tôn kính một cách trọn vẹn bởi những người đáng được tôn kính.
Devindanāgindanarindapūjito, Manussindaseṭṭhehi tatheva pūjito; Taṁ vandatha pañjalikā labhitvā, Buddho have kappasatehi dullabhoti.
It’s venerated by lords of gods, dragons, and fairies; and likewise venerated by the finest lords of men. Honor it with cupped palms when you get the chance, for a Buddha is rare even in a hundred eons.
Được vua trời, vua rồng, vua người tôn thờ, cũng được các vị vua chúa cao quý nhất trong loài người tôn thờ như vậy. Khi đã nhận được (xá-lợi) ấy, hãy chắp tay đảnh lễ. Quả thật, một vị Phật là khó gặp trong hàng trăm kiếp.
Cattālīsa samā dantā, kesā lomā ca sabbaso; Devā hariṁsu ekekaṁ, cakkavāḷaparamparāti.
Altogether forty even teeth, and the body hair and head hair, were carried off individually by gods across the universe.
Bốn mươi chiếc răng bằng nhau, và tất cả tóc và lông, chư thiên đã mang đi từng phần một đến các thế giới khác nhau.
Mahāparinibbānasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Kinh Đại Bát-niết-bàn, phẩm thứ ba, kết thúc.