- Dīgha Nikāya 14
Bản dịch
DN 14 — Kinh Đại Bổn (Mahāpadānasutta)
Mahāpadānasutta
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vậy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở tại nước Sāvatthi (Xá-vệ) rừng Jeta (Kỳ-đà), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc), trong am thất cây Kareri (Hoa Lâm). Lúc bấy giờ, số đông các Tỷ-kheo đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp lại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại thuộc về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”.
SC 2PTS cs 2~2 Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh vượt quá loài người nghe được câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo. Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa Lâm viên đường. Khi đến xong, Ngài ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo
SC 3—Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì, các người đang ngồi bàn? Câu chuyện gì đã bị gián đoạn giữa các người?
SC 4Khi được nói vậy, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 5—Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực về, sau khi dùng bữa xong, cùng ngồi và tụ họp tại Hoa Lâm viên đường, pháp thoại về tiền thân được khởi lên: “Ðây là tiền thân, đây là tiền thân”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang được bàn đến giữa chúng con thời Thế Tôn đến.
SC 6PTS cs 3~3 - Này các Tỷ-kheo, các người có muốn nghe pháp thuộc thoại về tiền thân không?
SC 7- Bạch Thế Tôn, thật là đúng thời; bạch Thiện Thệ, thật là đúng thời để Thế Tôn giảng pháp thoại thuộc về tiền thân. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
SC 8- Vậy này các Tỷ-kheo, các người hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 9- Dạ vâng, bạch Thế Tôn.
SC 10Các Tỷ-kheo này đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 11PTS cs 4~4—Này các Tỷ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xá-bà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konāgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời.
SC 12PTS cs 5~5 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Bà-la-môn, sanh trong giai cấp Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ.
SC 13PTS cs 6~6 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Koṇḍañño (Câu-ly-nhã). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Koṇḍañño. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Koṇḍañño. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kassapa. Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm).
SC 14PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bảy vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là sáu vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bốn vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là ba vạn năm. Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ của loài người là hai vạn năm. Này các Tỷ-kheo, nay tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút.
SC 15PTS cs 8~8 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây pātali (bà-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây puṇḍarīka (phân-đà-ly). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây sirĩsa (thi-lợi-sa). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây udumbara (ô-tam-bà-la). Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây nigrodha (ni-câu-luật-đà). Này các Tỷ-kheo, nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giác ngộ dưới gốc cây assaṭṭha (bát-đa-la).
SC 16PTS cs 9~9 Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Khandha (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhứt đệ tử của Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Abhibhù (A-tỳ-phù) và Sambhava (Tam-bà-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vessabhū, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Sona (Phù-du) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Vidhùra (Tỳ-lâu) và Sanjìva (Tát-ni). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bhiyyosa (Thư-bàn-na) và Uttara (Uất-đa-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Tissa (Ðề-xá) và Bharadvāja (Bà-la-bà). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Ta là Sãriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallāna (Mục-kiền-liên).
SC 17PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám triệu Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo.
SC 18Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 19Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo.
SC 20Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 21Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội bảy vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội sáu vạn Tỷ-kheo.
SC 22Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 23Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội bốn vạn Tỷ-kheo.
SC 24Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 25Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội ba vạn Tỷ-kheo.
SC 26Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 27Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội hai vạn Tỷ-kheo.
SC 28Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có một Tăng hội như vậy, tất cả đều là bậc A-la-hán. Này các Tỷ kheo, nay trong thời của Ta có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, tất cả đều là bậc Lậu tận.
SC 29PTS cs 11~11 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Khemankara (Nhẫn Hành), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vessabhũ, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Upasannaka (Tịch Diệt) vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Vuddhija (Thiện Giác), vị này là thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sotthija (An Hòa), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Sabbamitta (Thiện Hữu), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, nay Ta có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ānanda (A-nan), vị này là vị thị giả đệ nhất.
SC 30PTS cs 12~12 Này các Tỷ-kheo, phụ vương của Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu); mẫu hậu tên là Bandhumatī (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhumà tên là Bandhumatì. Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Aruṇa (Minh Tướng); mẫu hậu tên là Pabhãvatĩ (Quang Huy); kinh thành của vua Aruṇa tên là Pabhàvatì.
SC 31Này các Tỷ-kheo, phụ vương Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Suppatìta (Thiện Ðăng), mẫu hậu tên là Yasavatī (Xứng Giới); Kinh thành của vua Suppatīta tên là Anūpamā (Vô Dụ).
SC 32Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Aggidatta (Tự Ðắc); mẫu thân Bà-la-môn tên là Visàkhà (Thiện Chi). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Khemā (An Hòa); kinh thành vua Khemā tên là Khemavatì (An Hòa).
SC 33Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Konāgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Yaññadatta (Ðạt Ðức) mẫu thân Bà-la-môn tên là Uttarà (Thiện Thắng; Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, vua trị vì tên là Sobha (Thanh Tịnh); kinh thành của vua Sobha tên là Sobhavatì (Thanh Tịnh).
SC 34Này các Tỷ-kheo, phụ thân Bà-la-môn của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Brahmadatta (Phạm Thi) mẫu thân Bà-la-môn tên là Dhanavatì (Tài Chủ). Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ vua trị vì tên là Kikì (Hấp Tỳ); kinh thành vua Kikì là Baranasì (Ba-la-nại).
SC 35Này các Tỷ-kheo, nay phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Màyà (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).
SC 36Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Giảng xong Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.
SC 37PTS cs 13~13 Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu cuộc đàm thoại sau đây khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy
SC 38—Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các liền giả, thật kỳ diệu thay, đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy? Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?”
SC 39Như vậy là cuộc đàm thoại đang khởi lên giữa những Tỷ-kheo ấy.
SC 40PTS cs 14~14 Bấy giờ Thế Tôn, vào buổi chiều tối, sau khi xuất định, liền đến Hoa Lâm viên đường, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xong, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 41—Này các Tỷ-kheo, nay các Ngươi ngồi luận bàn vấn đề gì? Ðề tài gì đã được luận bàn giữa các Ngươi?
SC 42Khi được hỏi vậy, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 43—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đi ra chẳng bao lâu, cuộc đàm thoại sau đây đã khởi lên giữa chúng con: “Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Này các hiền giả thật kỳ diệu thay đại thần lực, đại oai lực của Như Lai! Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy?” Hay là chư Thiên mách bảo Như Lai và nhờ sự mách bảo này, Như Lai nhớ được các đức Phật quá khứ, các vị này đã nhập Niết bàn đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát như thế này?” Bạch Thế Tôn, như vậy là vấn đề bàn luận giữa chúng con, khi Thế Tôn đến.
SC 44PTS cs 15~15 - Này các Tỷ-kheo, như vậy là pháp giới ấy được khéo chứng đạt bởi Như Lai, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ được chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết Bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh của những vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”. Này các Hiền giả, quý vị nghĩ như thế nào? Có phải Như Lai khéo chứng đạt pháp giới như vậy, và nhờ chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết bàn, đã đoạn các chướng ngại, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này, cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn ấy, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.
SC 45Này các Tỷ-kheo, vậy hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 46- Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.
SC 47Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau
SC 48PTS cs 16~16—Này các Tỷ-kheo, cách đây chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc chủng tánh Sát-đế-ly, sanh trong giai cấp Sát-đế-ly. Này các Tỷ kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Koṇḍañño. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ đến tám vạn năm. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pātali (Ba-ba-la). Này các Tỷ-kheo, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khandha (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này các Tỷ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội: một Tăng hội sáu mươi tám vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này các Tỷ-kheo, Phụ Vương Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Bandhumà (Bàn-đầu), mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề), kinh thành của Bandhumà tên là Bandhumatì.
SC 49PTS cs 17~17 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu thai. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi Bồ-tát Vipassì từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu ấy, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 50Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ -tát nhập mẫu thai, bốn vị Thiên tử đứng canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người, được hãm hại vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy”.
SC 51PTS cs 18~18 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu men, rượu nấu. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 52PTS cs 19~19 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và không vị phạm tiết hạnh với bất kỳ người đàn ông nào dầu người này có tâm ái nhiễm đối với bà. Pháp nhĩ là gì vậy.
SC 53PTS cs 20~20 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát có được năm món dục lạc đầy đủ, tận hưởng, trọn hưởng năm món dục lạc ấy. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 54PTS cs 21~21 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.
SC 55Này các Tỷ-kheo, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: “Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lạt”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 56PTS cs 22~22 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Sau khi sanh vị Bồ-tát bảy ngày, mẹ vị Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cảnh trời Ðâu suất. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 57PTS cs 23~23 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát trong bụng mười tháng trời mới sanh. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 58PTS cs 24~24 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác, hoặc ngồi, hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát đứng mà sanh vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 59PTS cs 25~25 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 60PTS cs 26~26 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 61PTS cs 27~27 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh thịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 62Này các Tỷ-kheo, như viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Hòn ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nại cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ sự vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 63PTS cs 28~28 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 64PTS cs 29~29 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 65PTS cs 30~30 Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.
SC 66PTS cs 31~31 Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sinh ra, vua Bandhumà được báo tin: “Ðại vương đã được sinh một hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi thấy hoàng tử xong, vua Bandhumà liền cho mời các vị Bà-la-môn đoán tướng và nói: “Này các Hiền giả, hãy xem tướng cho Hoàng tử”. Này các Tỷ-kheo, khi xem tướng Hoàng tử Vipassì xong, các vị Bà-la-môn đoán tướng tâu với vua Bandhumà: “Ðại vương hãy hân hoan; Ðại vương đã sinh một bậc vĩ nhân! May mắn thay cho Ðại vương, đại hạnh thay cho Ðại vương đã được một Hoàng tử như vậy sanh trong gia đình. Tâu Ðại vương, Hoàng tử này có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Ai có đủ ba mươi hai tướng tốt này sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.
SC 67PTS cs 32~32 “Ðại vương, ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân là gì mà Hoàng tử nếu đầy đủ những tướng tốt này sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương dùng chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc lộ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
SC 68“Ðại vương, Hoàng tử này có lòng bàn chân bằng phẳng, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.
SC 69“Ðại vương, dưới hai bàn chân của Hoàng tử này, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ, tướng này được xem là tướng của bậc Ðại nhân.
SC 70“Ðại vương, Hoàng tử này có gót chân thon dài … (như trước)
SC 71“Ðại vương, Hoàng tử này có ngón tay, ngón chân dài …
SC 72“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân mềm mại …
SC 73“Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân có màn da lưới …
SC 74“Ðại vương, Hoàng tử này có mắt cá tròn như con sò …
SC 75“Ðại vương, Hoàng tử này có ống chân như con dê rừng …
SC 76“Ðại vương, Hoàng tử này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể rờ từ đầu gối với hai bàn tay …
SC 77“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng mã âm tàng …
SC 78“Ðại vương, Hoàng tử này có màu da như đồng, màu sắc như vàng …
SC 79“Ðại vương, Hoàng tử này có da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính vào …
SC 80“Ðại vương, Hoàng tử này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông …
SC 81“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt …
SC 82“Ðại vương, Hoàng tử này có thân hình cao thẳng …
SC 83“Ðại vương, Hoàng tử này có bảy chỗ tròn đầy …
SC 84“Ðại vương, Hoàng tử này có nửa thân trước như con sư tử …
SC 85“Ðại vương, Hoàng tử này không có lõm khuyết giữa hai vai …
SC 86“Ðại vương, Hoàng tử này có thân thể cân đối như cây bàng (nigrodha: ni-câu-luật). Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân …
SC 87“Ðại vương, Hoàng tử này có bán thân trên vuông tròn …
SC 88“Ðại vương, Hoàng tử này có vị giác hết sức sắc bén …
SC 89“Ðại vương, Hoàng tử này có quai hàm như con sư tử.
SC 90“Ðại vương, Hoàng tử này có bốn mươi răng …
SC 91“Ðại vương, Hoàng tử này có răng đều đặn …
SC 92“Ðại vương, Hoàng tử này có răng không khuyết hở …
SC 93“Ðại vương, Hoàng tử này có răng cửa (thái xỉ) trơn láng …
SC 94“Ðại vương, Hoàng tử này có tướng lưỡi rộng dài …
SC 95“Ðại vương, Hoàng tử này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim ca-lăng-tần-già (Karavīka) …
SC 96“Ðại vương, Hoàng tử này có hai mắt màu xanh đậm …
SC 97“Ðại vương, Hoàng tử này có lông mi con bò cái …
SC 98“Ðại vương, Hoàng tử này giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ …
SC 99“Ðại vương, Hoàng tử này có nhục kế trên đầu, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân …
SC 100PTS cs 33~33 “Ðại vương, Hoàng tử có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân, với ba mươi hai tướng tốt này, Hoàng tử sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia đình, Hoàng tử sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành sở hữu của Ngài, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu Hoàng tử từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, Hoàng tử sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời”.
SC 101Này các Tỷ-kheo, Vua Bandhumà ra lệnh cúng dường các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.
SC 102PTS cs 34~34 Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà ra lệnh cúng dường vị các vị Bà-la-môn đoán tướng ấy, các áo vải mới và làm thỏa mãn mọi sự đòi hỏi ước muốn.
SC 103PTS cs 34~35 Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho nuôi những người vú cho hoàng tử Vipassì. Người cho bú, người tắm, người lo bồng ẵm, người mang trên nách. Này các Tỷ-kheo, một lọng trắng ngày đêm được che trên hoàng tử Vipassì, và lệnh được truyền ra: “Không được để lạnh hay nóng, cỏ, bụi, hay sương làm phiền hoàng tử”. Hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm. Này các Tỷ-kheo, cũng như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng được mọi người yêu thích. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì được mọi người âu yếm, gần như được ẵm từ nách này qua nách người khác.
SC 104PTS cs 35~36 Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì được sinh ra, hoàng tử phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, giống như con chim ca-lăng-tân-già sinh trong núi Hy-mã-lạp sơn, giọng chim rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Hoàng Tử Vipassì phát âm rất là tuyệt diệu, âm vận điều hòa, dịu ngọt và hấp dẫn.
SC 105PTS cs 36~37 Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Thiên nhãn hiện ra với Ngài, do nghiệp báo sanh, và nhờ Thiên nhãn ấy, Ngài có thể nhìn khắp chung quanh đến một do tuần, ban ngày cũng như ban đêm.
SC 106PTS cs 37~38 Này các Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sanh ra, Ngài nhìn thẳng sự vật với cặp mắt không nhấp nháy, như hàng Thiên ở Tam thập tam thiên. Vì hoàng tử Vipassì nhìn không nhấp nháy, nên này các Tỷ-kheo, hoàng tử được gọi tên là “Vipassì”: “Vị đã nhìn thấy”. Này các Tỷ-kheo, khi vua Bandhumà ngồi xử kiện, vua cho đặt hoàng tử Vipassì ngồi bên nách mình để xử kiện. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì ngồi bên nách vua cha như vậy và chú tâm quan sát phương thức xử kiện đến nỗi tự mình cũng có thể phán đoán xử kiện. Này các Tỷ-kheo, do hoàng tử Vipassì “có thể quan sát và xử kiện đúng luật pháp” và danh từ “Vipassì” càng được dùng để đặt tên cho Ngài.
SC 107PTS cs 38~39 Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà cho xây dựng ba tòa lâu đài cho hoàng tử Vipassì, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa lạnh, và năm món dục lạc đều được chuẩn bị đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống bốn tháng mưa trong lâu đài dành cho mùa mưa, được hầu hạ mua vui với các nữ nhạc sĩ, và không một lần nào, Ngài bước xuống khỏi lầu.
Tụng phẩm II
SC 108PTS cs 1~40 - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”: “Thưa vâng, Hoàng Tử”. Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.
SC 109Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.
SC 110PTS cs 2~41 Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, khổ não, không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao thân người đó không giống các người khác?”: “Tâu Hoàng tử, người đó là một người được gọi là già vậy”. “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người già?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. “Này khanh, vậy rồi Ta có bị già không, một người chưa qua tuổi già?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già!”: “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy là vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 111Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy!”.
SC 112PTS cs 3~42 Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? “Này khanh, Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”. “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ, tại vườn ngự uyển”: “Này khanh, khi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?”: “Tâu đại vương, Hoàng tử trong khi đi đến vườn ngự uyển, thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà, chống gậy vừa đi vừa run rẩy, khổ não không còn đâu là tuổi trẻ. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó là ai vậy? Sao tóc người đó không giống các người khác? Sao thân người đó không giống các người khác?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là vậy”: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người già?: “Tâu Hoàng tử, người ấy gọi là già, vì nay người ấy sống không bao lâu nữa”. “Này khanh, vậy rồi Ta có phải bị già không, một người chưa qua tuổi già?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tất cả sẽ bị già nua, dầu chúng ta chưa qua tuổi già”: “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng Tử!”. Tâu Ðại vương, con vâng lời Hoàng tử Vipassì, cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử trở về cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ. “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh. Và ai sanh ra cũng phải già yếu như vậy”.
SC 113PTS cs 4~43 Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì. Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.
SC 114Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì khỏi phải xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng đầy đủ sung túc năm món dục lạc.
SC 115PTS cs 5~44 Này các Tỷ-kheo hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe … (tương tự như đoạn kinh II.1).
SC 116PTS cs 6~45 Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe. “Này khanh, người này đã làm gì, mà mắt của nó không giống mắt của những người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?”: “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là một người bệnh vậy”. “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là một người bệnh vì người ấy chưa thoát khỏi căn bệnh của mình”: “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, một người chưa bị bệnh?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 117Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”
SC 118PTS cs 7~46 Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không tại vườn ngự uyển?”: “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển”: “Này khanh, khi đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?”: “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đến vườn ngự uyển thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch, bò lết trong tiểu tiện, đại tiện của mình, cần có người khác nâng đỡ, cần có người khác dìu dắt. Thấy vậy, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, người đó đã làm gì mà mắt của nó không giống mắt của người khác, giọng nói của nó không giống giọng nói của những người khác?”: “Tâu Hoàng tử, đó là một người được gọi là môt người bệnh” Vậy: “Này khanh, sao người ấy được gọi là một người bệnh?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người bệnh, vì người ấy chưa khỏi căn bệnh của mình!”: “Này khanh, vậy rồi ta có bị bệnh không, môt người chưa bị bệnh?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, tất cả chúng ta sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh tật”. “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi! Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử cho đánh xe trở về cung. Tâu Ðại vương, Hoàng tử về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay, cái gọi là sanh! Và ai sanh ra, cũng phải già, cũng phải bệnh!”.
SC 119- Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho Hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho Hoàng tử Vipassì xuất gia! Không thể để cho lời của các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”. Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhuma, lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng không trúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.
SC 120PTS cs 9~47 Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 121Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.
SC 122Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.
SC 123PTS cs 10~48 - Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau, và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?”: “Tâu Hoàng tử, vì có một người vừa mới mệnh chung”: “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung!”: “Thưa vâng, tâu Hoàng tử.”
SC 124Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử, cho đánh xe đến người vừa mới mệnh chung. Này các Tỷ-kheo, khi thấy thây người chết, hoàng tử Vipassì hỏi: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết vì nay bà mẹ, ông cha, các người bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa; và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác!”: “Này khanh, vậy Ta chưa chết, rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những bà con ruột thịt chăng?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi sẽ cũng bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Hoàng Tử, và Hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương. Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác”. “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 125Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử, cho đánh xe trở về cung. Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì về trong cung, đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.
SC 126PTS cs 11~49 Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà cho gọi người đánh xe và hỏi: “Này khanh, Hoàng tử có vui vẻ không, tại vườn ngự uyển? Hoàng tử có hoan hỷ không, tại vườn ngự uyển?”: “Tâu Ðại vương, Hoàng tử không có vui vẻ tại vườn ngự uyển. Hoàng tử không có hoan hỷ tại vườn ngự uyển”. “Này khanh đi đến vườn ngự uyển, Hoàng tử đã thấy gì?”: “Tâu Ðại vương, Hoàng tử trong khi đang đi đến vườn ngự uyển, thấy một số đông người, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng. Thấy vậy Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, vì sao đám đông người ấy, mặc sắc phục khác nhau và đang dựng một dàn hỏa táng?”: “Tâu Hoàng tử, vì có một người mới mệnh chung”. “Này khanh, vậy ngươi hãy đánh xe lại gần người vừa mới mệnh chung”. “Thưa vâng, tâu Hoàng tử”. Con vâng theo lời Hoàng tử, cho đánh xe đến gần người vừa mới mệnh chung. Khi thấy thây chết, Hoàng tử hỏi con: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người đã chết?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết, vì nay bà mẹ, ông cha hay những bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa! Và người ấy cũng không thấy bà mẹ, ông cha hay những người bà con ruột thịt khác”. “Này khanh, vậy Ta chưa chết rồi có bị chết không? Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng? Và Ta sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác chăng?”: “Tâu Hoàng tử, Hoàng tử và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết nhưng rồi cũng sẽ bị chết. Phụ vương, Mẫu hậu hay những người bà con ruột thịt khác sẽ không thấy hoàng tử, và hoàng tử sẽ không thấy Phụ vương, Mẫu hậu hay các người bà con ruột thịt khác”: “Này khanh, thôi nay thăm vườn ngự uyển như vậy vừa rồi. Hãy cho đánh xe trở về cung”. “Thưa vâng, Hoàng tử”. Con vâng theo lời hoàng tử Vipassì cho đánh xe trở về cung. Hoàng tử về trong cung đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh! Và ai sanh ra cũng phải già, cũng phải bệnh, cũng phải chết như vậy!”.
SC 127PTS cs 12~50 Này các Tỷ-kheo, khi ấy vua Bandhumà suy nghĩ: “Không thể để cho hoàng tử Vipassì từ chối không trị vì! Không thể để cho hoàng tử Vipassì xuất gia. Không thể để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng trở thành sự thật”.
SC 128- Này các Tỷ-kheo, rồi vua Bandhumà lại sắp đặt cho hoàng tử Vipassì đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa, để hoàng tử Vipassì có thể trị vì, để hoàng tử Vipassì không thể xuất gia, để cho lời các vị Bà-la-môn đoán tướng không đúng sự thật. Và này các Tỷ-kheo, Hoàng tử Vipassì sống tận hưởng, đầy đủ, sung túc năm món dục lạc.
SC 129PTS cs 13~51 Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì, sau thời gian nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho gọi người đánh xe: “Này khanh, hãy cho thắng các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi đến vườn ngự uyển để xem phong cảnh”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 130Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì, cho thắng các cỗ xe thù thắng rồi bạch hoàng tử Vipassì: “Tâu Hoàng tử, các cỗ xe thù thắng đã thắng xong. Hãy làm những gì Hoàng tử xem là hợp thời”.
SC 131Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ hoàng tử Vipassì leo lên cỗ xe thù thắng và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, tiến đến vườn ngự uyển.
SC 132PTS cs 14~52 Này các Tỷ-kheo, hoàng tử Vipassì trên đường đi đến ngự uyển thấy một vị xuất gia, đầu trọc, đắp áo cà sa. Thấy vậy, hoàng tử hỏi người đánh xe: “Này khanh, người này đã làm gì, mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác?”: “Tâu Hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia!”: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người xuất gia?”: “Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh!”: “Này khanh, hãy đánh xe đến gần vị xuất gia”. “Thưa vâng, Hoàng tử”.
SC 133Này các Tỷ-kheo, người đánh xe vâng theo lời hoàng tử Vipassì, đánh xe đến gần người xuất gia. Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì hỏi vị xuất gia: “Thưa Hiền giả, Ngài đã làm gì, mà đầu của Ngài không giống những người khác, và áo của Ngài không giống các người khác?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là một người xuất gia!”: “Thưa Hiền giả, thế nào gọi là người xuất gia?”: “Thưa Hoàng tử, tôi là người được gọi là xuất gia, vì tôi khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”. “Thưa Hiền giả, lành thay hạnh xuất gia của Ngài, lành thay khéo tu phạm hạnh, khéo tu tính hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh”.
SC 134PTS cs 15~53 Này các Tỷ-kheo, rồi hoàng tử Vipassì bảo người đánh xe: “Này khanh, hãy lấy xe này và cho đánh xe về cung. Còn Ta ở nơi đây, sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. “Thưa vâng, Hoàng tử”. Người đánh xe vâng lời hoàng tử Vipassì lấy xe và đánh xe về cung. Còn hoàng tử Vipassì, chính tại chỗ ấy, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 135PTS cs 16~54 Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ, tại kinh đô Bandhumatì có một đại chúng tám vạn bốn ngàn người nghe tin: “Hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Khi nghe tin, các vị ấy suy nghĩ: “Pháp luật như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường, vì hoàng tử Vipassì trong pháp luật ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Nay hoàng tử Vipassì đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình tại sao chúng ta lại không?” Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng tám vạn bốn ngàn người ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, dưới sự lãnh đạo của Bồ-tát Vipassì. Rồi Bồ-tát Vipassì cùng với đồ chúng, du hành, đi ngang qua những làng, thị xã và đô thị.
SC 136PTS cs 17~55 Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này. Tốt hơn là Ta sống một mình, lánh xa đồ chúng này!”
SC 137Này các Tỷ-kheo, sau một thời gian Bồ-tát Vipassì sống một mình, lánh xa đồ chúng, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này đi một ngả, Bồ-tát Vipassì đi một ngả.
SC 138PTS cs 18~56 Này các Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết”.
SC 139Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do duyên gì, già chết sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh có mặt, nên già, chết có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh”.
SC 140Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên gì, sanh phát khởi?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do duyên hữu, nên sanh phát khởi”.
SC 141Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên gì, hữu phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do duyên thủ, hữu phát sanh”.
SC 142Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên gì, thủ phát sanh?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái có mặt, thủ mới phát sanh”.
SC 143Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên gì, ái phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên thọ, ái phát sanh”.
SC 144Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên gì, thọ mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên xúc, thọ mới phát sanh”.
SC 145Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên gì xúc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh ”.
SC 146Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên gì, lục nhập mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, lục nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh”.
SC 147Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do duyên gì, danh sắc mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức có mặt, danh sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh”.
SC 148Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên gì, thức mới phát sanh?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc có mặt, thức mới có mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh”.
SC 149PTS cs 19~57 Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: “Thức này xoay trở lui lại, từ nơi danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu, sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này”.
SC 150“Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
SC 151PTS cs 20~58 Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, già chết không có mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do sanh không có mặt, già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt”.
SC 152Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, sanh không có mặt? Cái gì diệt, sanh diệt! Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do hữu không có mặt, sanh không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt”.
SC 153Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt? Cái gì diệt, hữu diệt?”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thủ không có mặt, hữu không có mặt, do thủ diệt, hữu diệt”.
SC 154Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt? Cái gì diệt, thủ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do ái không có mặt, thủ không có mặt, do ái diệt, thủ diệt”.
SC 155Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, ái không có mặt? Cái gì diệt, ái diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thọ không có mặt, ái không có mặt, do thọ diệt, ái diệt”.
SC 156Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt? Cái gì diệt, thọ diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do xúc không có mặt, thọ không có mặt, do xúc diệt, thọ diệt”.
SC 157Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt xúc không có mặt? Cái gì diệt, xúc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do lục nhập không có mặt, xúc không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt”.
SC 158Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt? Cái gì diệt, lục nhập diệt”. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, lục nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt”.
SC 159Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Do cái gì không có mặt, danh sắc không có mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do thức không có mặt, danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt”.
SC 160Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Cái gì không có mặt, thức không có mặt? Do cái gì diệt, thức diệt?” Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: “Do danh sắc không có mặt, thức không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt”.
SC 161PTS cs 21~59 Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: “Ôi, Ta đã chứng được con đường đưa đến Bồ-đề, nhờ pháp tu quán. Nghĩa là, do danh sắc diệt, thức diệt; do thức diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt, do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, ưu, bi, khổ, sầu, não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn diệt”.
SC 162“Diệt, diệt”. Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi hành pháp nhãn từ trước chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
SC 163PTS cs 22~60 Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.
SC 164Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.
Tụng phẩm III.
SC 165PTS cs 1~61 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác liền suy nghĩ: “Nay Ta hãy thuyết pháp”.
SC 166Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý “Y tánh duyên khởi pháp” (ida-paccayatā paṭicca samuppāda); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!”
SC 167PTS cs 2~62 Này các Tỷ-kheo, với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên:
SC 168Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó thấy pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
SC 169Này các Tỷ-kheo, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp. Khi bấy giờ, một trong các vị Ðại Phạm thiên, khi biết được tư tưởng của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhờ tư tưởng của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp!”
SC 170PTS cs 3~63 Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên ấy, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, cũng vậy vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp. Nếu được nghe, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp”.
SC 171PTS cs 4~64 Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói với vị Ðại Phạm thiên: “Này Phạm thiên, Ta đã suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật mệt mỏi cho Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta”. Này Phạm thiên, khi ấy những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng nghe khởi lên nơi Ta:
SC 172Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó mà thấy được pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
SC 173Này Phạm thiên, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
SC 174PTS cs 5~65 Này các Tỷ-kheo, lần thứ hai vị Ðại Phạm thiên ấy … (như trên) …
SC 175PTS cs 6~66 Này các Tỷ-kheo, lần thứ ba, vị Ðại Phạm thiên ấy bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiên Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp!”
SC 176Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết được lời khuyên thỉnh của vị Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhìn quanh thế giới với Phật nhãn. Ngài thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm.
SC 177PTS cs 7~67 Rồi vị Ðại Phạm thiên, với tâm mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, liền nói với Ngài, bài kệ sau đây:
SC 178Như con người đứng trên đỉnh núi nhìn quanh dân chúng phía dưới.
Cũng vậy Ngài Sumedha lên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn, thoát ly sầu muộn.
Nhìn xuống quần chúng, âu lo sầu muộn bị sanh già áp bức.
Hãy đứng lên, bậc anh hùng, bậc chiến thắng ở chiến trường!
Vị trưởng đoàn lữ khách, đấng thoát ly mọi nợ nần!
Thế Tôn hãy đi khắp thế giới hoằng dương chánh pháp.
Có người nhờ được nghe, sẽ thâm hiểu diệu nghĩa!
SC 179Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trả lời vị Ðại Phạm thiên với bài kệ sau đây:
SC 180Cửa bất diệt đã được mở rộng,
Hỡi những ai được nghe, hãy từ bỏ tà kiến của mình.
Vì nghĩ đến mệt mỏi hoài công, này Phạm Thiên.
Ta không muốn giảng Chánh pháp vi diệu cho loài người!
SC 181Này các Tỷ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên với ý nghĩ: “Ta đã là người mở đường cho Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp”, rồi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.
SC 182PTS cs 8~68 Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Ta thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ mau hiểu chánh pháp này?”
SC 183Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: “Nay vương tử Khandha (Kiển-trà) và con vương sư Tissa (Ðề-xá) trú ở kinh đô Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề) là bậc trí thức đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm ô bởi bụi đời. Nay ta hãy thuyết pháp cho vương tử Khandha và con vương sư Tissa trước tiên, hai vị này sẽ sớm thâm hiểu chánh pháp này”.
SC 184Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, biến mất từ cây Bồ đề, hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khemā, kinh đô Bhadhumatì.
SC 185PTS cs 9~69 Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi người giữ vườn: “Này bạn, hãy vào kinh đô Bandhumatì, nhắn với vương tử Khandha và con vương sư Tissa rằng Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì, hiện trú ở Lộc Uyển Khemā và muốn gặp hai vị!”: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
SC 186Này các Tỷ-kheo, người giữ vườn vâng theo lời dạy của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào kinh đô Bandhumatì và thưa với vương tử Khandha và con vương sư Tissa: “Thưa quý vị, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì và hiện ở Lộc Uyển Khemā. Ngài muốn gặp quý vị!”
SC 187PTS cs 10~70 Này các Tỷ-kheo, Vương tử Khandha và con vương sư Tissa cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng rồi cùng với các cỗ xe thù thắng khác, cho xe ra khỏi kinh thành Bandhumatī, đi đến Lộc Uyển Khemā, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến trước Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Khi đến nơi, hai vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 188PTS cs 11~71 Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khandha và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.
SC 189PTS cs 12~72 Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới”.
SC 190PTS cs 13~73 Này các Tỷ-kheo, vương tử Khandha và con vương sư Tissa được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy hai vị này, khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Và hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
SC 191PTS cs 14~74 Này các Tỷ-kheo, trong khi kinh thành Bandhumatì có đại chúng khoảng tám vạn bốn ngàn vị được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì và ở tại Lộc Uyển Khemā. Vương tử Khandha và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn, Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”. Khi nghe vậy, các vị này tự nghĩ: “Chắc chắn, pháp luật này không thể tầm thường, sự xuất gia này không thể tầm thường, vì vương tử Khandha và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vương tử Khandha và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tại sao chúng ta lại không làm vậy?”
SC 192Này các Tỷ-kheo, rồi đại chúng ấy gồm khoảng tám vạn bốn ngàn vị đi ra khỏi kinh thành Bandhumatì đến Lộc Uyển Khemā, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 193PTS cs 15~75 Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt”.
SC 194PTS cs 16~76 Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, Như người dựng đứng lại, những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”.
SC 195PTS cs 17~77 Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị này được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này, nhờ Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
SC 196PTS cs 18~78 Này các Tỷ-kheo, nay tám vạn bốn ngàn các vị xuất gia từ trước, được nghe: “Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì, ở tại Lộc Uyển Khemā và thuyết pháp”. Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, đi đến Lộc Uyển Khemā, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 197PTS cs 19~79 Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị xuất gia này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: “Phàm pháp gì đã sanh ra rồi cũng phải diệt”.
SC 198PTS cs 20~80 Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, Bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!”
SC 199PTS cs 21~81 Này các Tỷ-kheo, tám vạn bốn ngàn vị xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy những vị này, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết Bàn. Và những vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
SC 200PTS cs 22~82 Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh đô Bandhumatì, Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trong khi yên lặng tịnh cư đã suy nghĩ như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhumatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các vị Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.
SC 201PTS cs 23~83 Này các Tỷ-kheo, một vị Ðại Phạm thiên khác, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ kheo, lúc bấy giờ vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch Ngài: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatī: “Này các Tỷ-kheo hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp”. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các vị Tỷ-kheo. Sau sáu năm, các vị này đến kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.
SC 202Này các Tỷ-kheo, Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, lưng bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.
SC 203PTS cs 24~84 Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào buổi chiều xuất định đứng dậy và nói với các vị Tỷ-kheo
SC 204—Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, ý nghĩ sau đây khởi lên: “Nay đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhamatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các Tỷ-kheo ấy: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.
SC 205PTS cs 25~85 Này các Tỷ-kheo, một Ðại Phạm thiên khác với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Ta. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mắt Ta. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và bạch với ta: “Như vậy là phải, Bạch Thế Tôn! Như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỷ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatì: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp, sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các Tỷ-kheo. Sau sáu năm các vị này sẽ đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”. Này các Tỷ-kheo, vị Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Ta, lưng bên hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.
SC 206PTS cs 26~86 Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến dạy các ngươi: “Này các Tỷ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn”.
SC 207Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy, một phần lớn trong ngày ấy đã lên đường đi khắp quốc độ.
SC 208PTS cs 27~87 Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ tại Jambudìpa (Diêm phù đề) có tám vạn bốn ngàn túc xá. Khi một năm vừa mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, một năm vừa mãn, nay còn lại năm năm. Sau năm năm, hãy đến tại kinh đô Bandhamatì để tụng đọc giới bổn!”
SC 209Hai năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, hai năm vừa mãn, nay còn lại bốn năm. Sau bốn năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.
SC 210Ba năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, ba năm đã mãn, nay còn lại ba năm. Sau ba năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”.
SC 211Bốn năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, bốn năm đã mãn, nay còn hai năm. Sau hai năm, hãy đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!”
SC 212Năm năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, năm năm đã mãn, nay còn lại một năm. Sau một năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatī để tụng đọc giới bổn!”
SC 213Sáu năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: “Này Hiền giả, sáu năm đã mãn. Nay đã đến ngày đi đến kinh đo Bandhumatī để tụng đọc giới bổn”.
SC 214Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo ấy, một số vị với thần lực của mình, một số với thần lực của chư Thiên trong ngày ấy đã đi đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn.
SC 215PTS cs 28~88 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỷ-kheo, tụng đọc giới bổn này:
SC 216“Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
“Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
“Người xuất gia hại người xuất gia khác.
“Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.SC 217“Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
“Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.SC 218“Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
“Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
“Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy”.
SC 219PTS cs 29~89 Này các Tỷ-kheo, một thời ta ở tại Ukkaṭṭḥa (Úc-Già La), trong rừng Subhaga, dưới gốc cây ta-la vương. Này các Tỷ-kheo, trong khi Ta an lặng tịnh cư, tư tưởng sau đây khởi lên: “Có một trú xứ, một loại chúng sanh rất dễ đến mà Ta từ trước không đến ở trong một thời gian khá lâu! Ðó là chư Thiên Suddhāvāsa (Tịnh Cư thiên). Vậy nay Ta hãy đến chư Thiên ở Tịnh Cư thiên!”
SC 220Này các Tỷ-kheo, như một lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay đã duỗi ra, Ta biến mất ở Ukkaṭṭḥa, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Ta-La vương và hiện ra trước chư Thiên ở Tịnh Cư thiên. Trong đại chúng chư Thiên ấy một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau:
SC 221“Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh, thuộc chủng tánh Sát Ðế Ly. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Koṇḍañño (Câu-Ly-Nhã). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pātali (Ba-ba-la). Này Hiền giả, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khandha (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội, một Tăng hội sáu trăm tám mươi vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỷ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỷ-kheo. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỷ-kheo tên Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Bandhuma, mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhuma tên là Bandhumatì. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng con là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.
SC 222PTS cs 30~90 Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên ( … … ) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn, thuộc chủng tánh Sát-đế -lỵ, thuộc gia tộc Sát-đế-lỵ. Này Hiền giả, Thế Tôn thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm). Này Hiền giả, Thế Tôn tuổi thọ không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút. Này Hiền giả, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assaṭṭha (bát-đa—la). Này Hiền giả, Thế Tôn có hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử tên là Sāriputta và Moggallāna (Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên). Này Hiền giả, Thế Tôn có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này Hiền giả, Tăng hội này của Thế Tôn gồm toàn những vị đã diệt trừ lậu hoặc. Này Hiền giả, Thế Tôn có vị thị giả Tỷ-kheo tên là Ānanda (A-nan), vị này là thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương của Thế Tôn tên là Suddhodana (Tịnh Phạn), Hoàng hậu là Màyà (Ma-gia) kinh đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Này Hiền giả, Thế Tôn xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng tôi là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn, đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này”.
SC 223PTS cs 31~91 Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà (Vô Nhiệt thiên) đến chư Thiên Atappà (Vô Phiền thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi cùng với chư Thiên Avihà và chư Thiên Atappà đến chư Thiên Sudassà (Thiện Kiến thiên). Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà và chư Thiên Sudassī đến chư Thiên Sudassī (Thiện Hiện thiên).
SC 224Này các Tỷ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà, chư Thiên Sudassà và chư Thiên Sudassì đến chư Thiên Akanitthà (Sắc Cứu Kính thiên). Này các Tỷ-kheo, lại trong Ðại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời … (như đoạn kinh số 29)”.
SC 225PTS cs 32~92 Này các Tỷ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (như trước) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: “Này Hiền giả, trong tiền kiếp này đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời … (như đoạn kinh số 30)”.
SC 226PTS cs 33~93 Này các Tỷ-kheo, như vậy Như Lai khéo chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: “Các bậc Thế Tôn này, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy”.
SC 227Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Long Discourses 14
The Great Discourse on Traces Left Behind
1. Kinh Đại Bổn (Mahāpadānasutta).
1. Pubbenivāsapaṭisaṁyuttakathā
Evaṁ me sutaṁ—
1. On Past Lives
So I have heard.
Câu chuyện liên quan đến Túc mạng.
Atha kho sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ karerimaṇḍalamāḷe sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ pubbenivāsapaṭisaṁyuttā dhammī kathā udapādi: “itipi pubbenivāso, itipi pubbenivāso”ti.
Then after the meal, on return from almsround, several mendicants sat together in the pavilion by the kareri tree and this Dhamma talk on the subject of past lives came up among them, “So it was in a past life; such it was in a past life.”
1. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại tịnh xá Jetavana, trong am thất Kareri. Bấy giờ, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, một số đông các vị tỳ khưu đang ngồi tụ họp tại hội trường Kareri, và một cuộc pháp đàm liên quan đến các đời sống quá khứ đã khởi lên giữa họ: 'Các đời sống quá khứ là như thế này, các đời sống quá khứ là như thế này.'
Assosi kho bhagavā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya tesaṁ bhikkhūnaṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā yena karerimaṇḍalamāḷo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā; kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
With clairaudience that is purified and superhuman, the Buddha heard that discussion among the mendicants. So he got up from his seat and went to the pavilion, where he sat on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
2. Và Đức Thế Tôn, với thiên nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, đã nghe được cuộc trò chuyện này của các vị tỳ khưu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến hội trường Kareri. Sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống xong, Đức Thế Tôn nói với các vị tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, các ông đang ngồi bàn luận về chuyện gì vậy? Và câu chuyện dở dang của các ông là gì?'
Evaṁ vutte, te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha, bhante, amhākaṁ pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantānaṁ karerimaṇḍalamāḷe sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ pubbenivāsapaṭisaṁyuttā dhammī kathā udapādi: ‘itipi pubbenivāso itipi pubbenivāso’ti. Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā. Atha bhagavā anuppatto”ti.
The mendicants told him what had happened, adding, “This is the conversation that was unfinished when the Buddha arrived.”
Khi được nói vậy, các vị tỳ khưu ấy bạch với Đức Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, ở đây, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, trong khi chúng con đang ngồi tụ họp tại hội trường Kareri, một cuộc pháp đàm liên quan đến các đời sống quá khứ đã khởi lên giữa chúng con: 'Các đời sống quá khứ là như thế này, các đời sống quá khứ là như thế này.' Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện dở dang của chúng con. Rồi Đức Thế Tôn đã đến.'
“Iccheyyātha no tumhe, bhikkhave, pubbenivāsapaṭisaṁyuttaṁ dhammiṁ kathaṁ sotun”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo; yaṁ bhagavā pubbenivāsapaṭisaṁyuttaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyya, bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha sādhukaṁ manasi karotha bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Would you like to hear a Dhamma talk on the subject of past lives?”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha give a Dhamma talk on the subject of past lives. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
3. “Này các Tỳ khưu, các ông có muốn nghe một bài pháp thoại liên quan đến các đời sống quá khứ không?” “Bạch Thế Tôn, nay chính là lúc! Bạch Thiện Thệ, nay chính là lúc! Để Đức Thế Tôn thuyết một bài pháp thoại liên quan đến các đời sống quá khứ. Sau khi nghe từ Đức Thế Tôn, các vị Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” các vị Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Ito so, bhikkhave, ekanavutikappe yaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Ito so, bhikkhave, ekatiṁse kappe yaṁ sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Tasmiññeva kho, bhikkhave, ekatiṁse kappe vessabhū bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Imasmiññeva kho, bhikkhave, bhaddakappe kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Imasmiññeva kho, bhikkhave, bhaddakappe koṇāgamano bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Imasmiññeva kho, bhikkhave, bhaddakappe kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Imasmiññeva kho, bhikkhave, bhaddakappe ahaṁ etarahi arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno.
Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi, khattiyakule udapādi. Sikhī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi, khattiyakule udapādi. Vessabhū, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi, khattiyakule udapādi. Kakusandho, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho brāhmaṇo jātiyā ahosi, brāhmaṇakule udapādi. Koṇāgamano, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho brāhmaṇo jātiyā ahosi, brāhmaṇakule udapādi. Kassapo, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho brāhmaṇo jātiyā ahosi, brāhmaṇakule udapādi. Ahaṁ, bhikkhave, etarahi arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosiṁ, khattiyakule uppanno.
Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Sikhī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Vessabhū, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Kakusandho, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kassapo gottena ahosi. Koṇāgamano, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kassapo gottena ahosi. Kassapo, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kassapo gottena ahosi. Ahaṁ, bhikkhave, etarahi arahaṁ sammāsambuddho gotamo gottena ahosiṁ.
Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asītivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa sattativassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa saṭṭhivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa cattālīsavassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tiṁsavassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa vīsativassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Mayhaṁ, bhikkhave, etarahi appakaṁ āyuppamāṇaṁ parittaṁ lahukaṁ; yo ciraṁ jīvati, so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo.
Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pāṭaliyā mūle abhisambuddho. Sikhī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho puṇḍarīkassa mūle abhisambuddho. Vessabhū, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho sālassa mūle abhisambuddho. Kakusandho, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho sirīsassa mūle abhisambuddho. Koṇāgamano, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho udumbarassa mūle abhisambuddho. Kassapo, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nigrodhassa mūle abhisambuddho. Ahaṁ, bhikkhave, etarahi arahaṁ sammāsambuddho assatthassa mūle abhisambuddho.
Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa khaṇḍatissaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa abhibhūsambhavaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa soṇuttaraṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa vidhurasañjīvaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa bhiyyosuttaraṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tissabhāradvājaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Mayhaṁ, bhikkhave, etarahi sāriputtamoggallānaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ.
Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi bhikkhusatasahassaṁ, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi bhikkhusatasahassaṁ, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sattatibhikkhusahassāni. Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sattatibhikkhusahassāni, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi saṭṭhibhikkhusahassāni. Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi cattālīsabhikkhusahassāni. Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi tiṁsabhikkhusahassāni. Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi vīsatibhikkhusahassāni. Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Mayhaṁ, bhikkhave, etarahi eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni. Mayhaṁ, bhikkhave, ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ.
Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asoko nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa khemaṅkaro nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa upasanto nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa buddhijo nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa sotthijo nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa sabbamitto nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Mayhaṁ, bhikkhave, etarahi ānando nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko.
Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa bandhumā nāma rājā pitā ahosi. Bandhumatī nāma devī mātā ahosi janetti. Bandhumassa rañño bandhumatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Sikhissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa aruṇo nāma rājā pitā ahosi. Pabhāvatī nāma devī mātā ahosi janetti. Aruṇassa rañño aruṇavatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Vessabhussa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa suppatito nāma rājā pitā ahosi. Vassavatī nāma devī mātā ahosi janetti. Suppatitassa rañño anomaṁ nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Kakusandhassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa aggidatto nāma brāhmaṇo pitā ahosi. Visākhā nāma brāhmaṇī mātā ahosi janetti. Tena kho pana, bhikkhave, samayena khemo nāma rājā ahosi. Khemassa rañño khemavatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa yaññadatto nāma brāhmaṇo pitā ahosi. Uttarā nāma brāhmaṇī mātā ahosi janetti. Tena kho pana, bhikkhave, samayena sobho nāma rājā ahosi. Sobhassa rañño sobhavatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa brahmadatto nāma brāhmaṇo pitā ahosi. Dhanavatī nāma brāhmaṇī mātā ahosi janetti. Tena kho pana, bhikkhave, samayena kikī nāma rājā ahosi. Kikissa rañño bārāṇasī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Mayhaṁ, bhikkhave, etarahi suddhodano nāma rājā pitā ahosi. Māyā nāma devī mātā ahosi janetti. Kapilavatthu nāma nagaraṁ rājadhānī ahosī”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ acirapakkantassa bhagavato ayamantarākathā udapādi:
“Ninety-one eons ago, the Buddha Vipassī arose in the world, perfected and fully awakened. Thirty-one eons ago, the Buddha Sikhī arose in the world, perfected and fully awakened. In the same thirty-first eon, the Buddha Vessabhū arose in the world, perfected and fully awakened. In the present fortunate eon, the Buddhas Kakusandha, Koṇāgamana, and Kassapa arose in the world, perfected and fully awakened. And in the present fortunate eon, I have arisen in the world, perfected and fully awakened.
The Buddhas Vipassī, Sikhī, and Vessabhū were born as aristocrats into aristocrat families. The Buddhas Kakusandha, Koṇāgamana, and Kassapa were born as brahmins into brahmin families. I was born as an aristocrat into an aristocrat family.
Koṇḍañña was the clan of Vipassī, Sikhī, and Vessabhū. Kassapa was the clan of Kakusandha, Koṇāgamana, and Kassapa. Gotama is my clan.
For Vipassī, the lifespan was 80,000 years. For Sikhī, the lifespan was 70,000 years. For Vessabhū, the lifespan was 60,000 years. For Kakusandha, the lifespan was 40,000 years. For Koṇāgamana, the lifespan was 30,000 years. For Kassapa, the lifespan was 20,000 years. For me at this time the lifespan is short, brief, and fleeting. A long life is a hundred years or a little more.
Vipassī was awakened at the root of a patala tree. Sikhī was awakened at the root of a white-mango tree. Vessabhū was awakened at the root of a sal tree. Kakusandha was awakened at the root of a lebbeck tree. Koṇāgamana was awakened at the root of a cluster fig tree. Kassapa was awakened at the root of a banyan tree. I was awakened at the root of a peepal tree.
Vipassī had a fine pair of chief disciples named Khaṇḍa and Tissa. Sikhī had a fine pair of chief disciples named Abhibhū and Sambhava. Vessabhū had a fine pair of chief disciples named Soṇa and Uttara. Kakusandha had a fine pair of chief disciples named Vidhura and Sañjīva. Koṇāgamana had a fine pair of chief disciples named Bhiyyosa and Uttara. Kassapa had a fine pair of chief disciples named Tissa and Bhāradvāja. I have a fine pair of chief disciples named Sāriputta and Moggallāna.
Vipassī had three gatherings of disciples—one of 6,800,000, one of 100,000, and one of 80,000—all of them mendicants who had ended their defilements.
Sikhī had three gatherings of disciples—one of 100,000, one of 80,000, and one of 70,000—all of them mendicants who had ended their defilements.
Vessabhū had three gatherings of disciples—one of 80,000, one of 70,000, and one of 60,000—all of them mendicants who had ended their defilements.
Kakusandha had one gathering of disciples—40,000 mendicants who had ended their defilements.
Koṇāgamana had one gathering of disciples—30,000 mendicants who had ended their defilements.
Kassapa had one gathering of disciples—20,000 mendicants who had ended their defilements.
I have had one gathering of disciples—1,250 mendicants who had ended their defilements.
Vipassī had as chief attendant a mendicant named Asoka. Sikhī had as chief attendant a mendicant named Khemaṅkara. Vessabhū had as chief attendant a mendicant named Upasanta. Kakusandha had as chief attendant a mendicant named Buddhija. Koṇāgamana had as chief attendant a mendicant named Sotthija. Kassapa had as chief attendant a mendicant named Sabbamitta. I have as chief attendant a mendicant named Ānanda.
Vipassī’s father was King Bandhumā, his birth mother was Queen Bandhumatī, and their capital city was named Bandhumatī.
Sikhī’s father was King Aruṇa, his birth mother was Queen Pabhāvatī, and their capital city was named Aruṇavatī.
Vessabhū’s father was King Suppatita, his birth mother was Queen Vassavatī, and their capital city was named Anoma.
Kakusandha’s father was the brahmin Aggidatta, and his birth mother was the brahmin lady Visākhā. At that time the king was Khema, whose capital city was named Khemavatī.
Koṇāgamana’s father was the brahmin Yaññadatta, and his birth mother was the brahmin lady Uttarā. At that time the king was Sobha, whose capital city was named Sobhavatī.
Kassapa’s father was the brahmin Brahmadatta, and his birth mother was the brahmin lady Dhanavatī. At that time the king was Kikī, whose capital city was named Varanasi.
In this life, my father was King Suddhodana, my birth mother was Queen Māyā, and our capital city was Kapilavatthu.”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
Soon after the Buddha left, those mendicants discussed among themselves:
16. “Này các tỳ khưu, cách đây chín mươi mốt kiếp, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện ở thế gian. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng họ Koṇḍañña. Này các tỳ khưu, tuổi thọ của Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là tám mươi ngàn năm. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã giác ngộ dưới cội cây pāṭali. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có cặp đệ tử hàng đầu, cặp đôi tốt đẹp tên là Khaṇḍa và Tissa. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội chúng các vị đệ tử. Một lần hội chúng có sáu triệu tám trăm ngàn vị tỳ khưu, một lần hội chúng có một trăm ngàn vị tỳ khưu, một lần hội chúng có tám mươi ngàn vị tỳ khưu. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội chúng các vị đệ tử này, và tất cả đều là các bậc lậu tận. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vị tỳ khưu thị giả tên là Asoka, là vị thị giả hàng đầu. Này các tỳ khưu, Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vua cha tên là Bandhumā. Có hoàng hậu mẹ tên là Bandhumatī, là người đã sanh ra ngài. Kinh đô của vua Bandhumā là thành phố tên là Bandhumatī.
“acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Yatra hi nāma tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarissati, nāmatopi anussarissati, gottatopi anussarissati, āyuppamāṇatopi anussarissati, sāvakayugatopi anussarissati, sāvakasannipātatopi anussarissati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti.
“It’s incredible, reverends, it’s amazing! The Realized One has such psychic power and might! For he is able to recollect the birth, names, clans, lifespan, chief disciples, and gatherings of disciples of the Buddhas of the past who have become fully quenched, cut off proliferation, cut off the course, finished off the cycle, and passed beyond all suffering: ‘Such is the birth, names, clans, conduct, teachings, wisdom, meditation, and freedom of those Blessed Ones.’
13. Rồi, khi đức Thế Tôn vừa mới rời đi, cuộc nói chuyện này đã khởi lên giữa các vị tỳ khưu ấy: “Thật kỳ diệu, thưa các hiền giả, thật phi thường, thưa các hiền giả, về đại thần lực, đại oai lực của Như Lai. Bởi vì Như Lai có thể nhớ lại về các vị Phật trong quá khứ, những vị đã nhập Niết-bàn, đã đoạn tận các pháp hý luận, đã cắt đứt con đường luân hồi, đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua mọi khổ đau. Ngài có thể nhớ lại về dòng dõi, về danh hiệu, về thị tộc, về tuổi thọ, về cặp đệ tử, về các cuộc hội họp của đệ tử: ‘Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này,’ và ‘các đức Thế Tôn ấy đã có danh hiệu như thế này, thị tộc như thế này, giới hạnh như thế này, pháp như thế này, trí tuệ như thế này, trú như thế này, giải thoát như thế này.’”
“Kiṁ nu kho, āvuso, tathāgatasseva nu kho esā dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’ti, udāhu devatā tathāgatassa etamatthaṁ ārocesuṁ, yena tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti. Ayañca hidaṁ tesaṁ bhikkhūnaṁ antarākathā vippakatā hoti.
Is it because the Realized One has clearly penetrated the principle of the teachings that he can recollect all these things? Or did deities tell him?” But this conversation among those mendicants was left unfinished.
“Này các hiền hữu, thế nào nhỉ? Có phải chính đức Như Lai đã khéo thấu triệt pháp giới ấy, do vì đã khéo thấu triệt pháp giới ấy nên đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này,’ hay là chư thiên đã trình báo sự việc ấy cho đức Như Lai, do đó đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này?’ Và câu chuyện đang được bàn luận dở dang của các vị tỳ khưu ấy là như vậy.”
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena karerimaṇḍalamāḷo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā; kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the pavilion by the kareri tree, where he sat down on the seat spread out and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
14. Rồi đức Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi rời khỏi nơi độc cư, đã đi đến gian nhà tròn có mái lợp bằng lá cây kareri; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã gọi các vị tỳ khưu và nói: “Này các tỳ khưu, hiện tại các thầy đang ngồi hội họp lại để bàn luận về câu chuyện gì vậy? Và câu chuyện đang được bàn luận dở dang của các thầy là gì vậy?”
Evaṁ vutte, te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “idha, bhante, amhākaṁ acirapakkantassa bhagavato ayaṁ antarākathā udapādi: ‘acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Yatra hi nāma tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarissati, nāmatopi anussarissati, gottatopi anussarissati, āyuppamāṇatopi anussarissati, sāvakayugatopi anussarissati, sāvakasannipātatopi anussarissati: “evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī”ti. Kiṁ nu kho, āvuso, tathāgatasseva nu kho esā dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: “evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī”ti. Udāhu devatā tathāgatassa etamatthaṁ ārocesuṁ, yena tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: “evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī”’ti? Ayaṁ kho no, bhante, antarākathā vippakatā, atha bhagavā anuppatto”ti.
The mendicants told him what had happened, adding, “This was our conversation that was unfinished when the Buddha arrived.”
Khi được nói như vậy, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, ở tại nơi đây, sau khi đức Thế Tôn vừa mới đi khỏi, câu chuyện này đã được khởi lên giữa chúng con: ‘Thật là hy hữu, thưa các hiền hữu, thật là vi diệu, thưa các hiền hữu, về đại thần lực, về đại oai lực của đức Như Lai, ở đây, đức Như Lai có thể sẽ tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: “Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này.” Này các hiền hữu, thế nào nhỉ? Có phải chính đức Như Lai đã khéo thấu triệt pháp giới ấy, do vì đã khéo thấu triệt pháp giới ấy nên đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: “Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này.” Hay là chư thiên đã trình báo sự việc ấy cho đức Như Lai, do đó đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: “Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này?” Bạch ngài, đây là câu chuyện đang được bàn luận dở dang của chúng con, rồi thì đức Thế Tôn đã đến.’”
“Tathāgatassevesā, bhikkhave, dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’ti. Devatāpi tathāgatassa etamatthaṁ ārocesuṁ, yena tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati: ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’ti.
“It is because the Realized One has clearly penetrated the principle of the teachings that he can recollect all these things. And the deities also told me.
15. “Này các tỳ khưu, chính đức Như Lai đã khéo thấu triệt pháp giới ấy, do vì đã khéo thấu triệt pháp giới ấy nên đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này.’ Và chư thiên cũng đã trình báo sự việc ấy cho đức Như Lai, do đó đức Như Lai có thể tùy niệm về các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Vô Dư Niết Bàn, đã đoạn trừ các pháp hý luận, đã cắt đứt đường lối (luân hồi), đã chấm dứt vòng luân hồi, đã vượt qua tất cả khổ đau, tùy niệm về dòng dõi, tùy niệm về danh hiệu, tùy niệm về gia tộc, tùy niệm về tuổi thọ, tùy niệm về cặp đôi Thinh Văn, tùy niệm về sự hội họp của các vị Thinh Văn rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy đã có dòng dõi như thế này, đã có danh hiệu như thế này, đã có gia tộc như thế này, đã có giới hạnh như thế này, đã có các pháp như thế này, đã có tuệ như thế này, đã có sự an trú như thế này, các đức Thế Tôn ấy đã có sự giải thoát như thế này.’”
Iccheyyātha no tumhe, bhikkhave, bhiyyoso mattāya pubbenivāsapaṭisaṁyuttaṁ dhammiṁ kathaṁ sotun”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo; yaṁ bhagavā bhiyyoso mattāya pubbenivāsapaṭisaṁyuttaṁ dhammiṁ kathaṁ kareyya, bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Ito so, bhikkhave, ekanavutikappe yaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi, khattiyakule udapādi. Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asītivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Vipassī, bhikkhave, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pāṭaliyā mūle abhisambuddho. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa khaṇḍatissaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi bhikkhusatasahassaṁ, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asoko nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Vipassissa, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa bandhumā nāma rājā pitā ahosi. Bandhumatī nāma devī mātā ahosi janetti. Bandhumassa rañño bandhumatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi.
Would you like to hear a further Dhamma talk on the subject of past lives?”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha give a further Dhamma talk on the subject of past lives. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Ninety-one eons ago, the Buddha Vipassī arose in the world, perfected and fully awakened. He was born as an aristocrat into an aristocrat family. His clan was Koṇḍañña. He lived for 80,000 years. He was awakened at the root of a patala tree. He had a fine pair of chief disciples named Khaṇḍa and Tissa. He had three gatherings of disciples—one of 6,800,000, one of 100,000, and one of 80,000—all of them mendicants who had ended their defilements. He had as chief attendant a mendicant named Asoka. His father was King Bandhumā, his birth mother was Queen Bandhumatī, and their capital city was named Bandhumatī.
“Này các tỳ khưu, các ngươi có muốn nghe thêm pháp thoại liên quan đến việc nhớ lại các đời sống quá khứ không?” “Bạch Thế Tôn, nay chính là thời điểm; bạch Thiện Thệ, nay chính là thời điểm, để Thế Tôn thuyết giảng thêm pháp thoại liên quan đến việc nhớ lại các đời sống quá khứ. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này các tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Xin vâng, bạch Thế Tôn.” Các tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
2. Bodhisattadhammatā
2. What’s Normal For One Intent on Awakening
Quy luật tự nhiên về Bồ-tát
Atha kho, bhikkhave, vipassī bodhisatto tusitā kāyā cavitvā sato sampajāno mātukucchiṁ okkami. Ayamettha dhammatā.
When Vipassī, the being intent on awakening, passed away from the host of joyful gods, he was conceived in his mother’s womb, mindful and aware. This is normal in such a case.
17. “Khi ấy, này các tỳ khưu, Bồ-tát Vipassī sau khi mệnh chung từ cõi trời Tusita, đã nhập vào bụng mẹ một cách chánh niệm, tỉnh giác. Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto tusitā kāyā cavitvā mātukucchiṁ okkamati. Atha sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya appamāṇo uḷāro obhāso pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yāpi tā lokantarikā aghā asaṁvutā andhakārā andhakāratimisā, yatthapime candimasūriyā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā ābhāya nānubhonti, tatthapi appamāṇo uḷāro obhāso pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yepi tattha sattā upapannā, tepi tenobhāsena aññamaññaṁ sañjānanti: ‘aññepi kira, bho, santi sattā idhūpapannā’ti. Ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampati sampakampati sampavedhati. Appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening passes away from the host of joyful gods, he is conceived in his mother’s womb. And then—in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. Even in the boundless gloom of interstellar space—so utterly dark that even the luminosity of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. And the sentient beings reborn there recognize each other by that light: ‘So, it seems other sentient beings have been reborn here!’ And this ten-thousandfold galaxy shakes and rocks and trembles. And an immeasurable, magnificent light appears in the world, surpassing the glory of the gods. This is normal in such a case.
18. “Này các tỳ khưu, đây là quy luật tự nhiên: Khi Bồ-tát mệnh chung từ cõi trời Tusita và nhập vào bụng mẹ, khi ấy một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trong thế gian cùng với các cõi trời, cõi Ma vương, cõi Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với các vị sa-môn, bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, vượt xa cả thần lực của chư thiên. Ngay cả những cõi trung gian giữa các thế giới, trống rỗng, không được che chở, tối tăm, mờ mịt, nơi mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù có đại thần lực, đại uy lực như vậy, cũng không thể chiếu tới, thì ở đó cũng xuất hiện một ánh sáng vô lượng, huy hoàng, vượt xa cả thần lực của chư thiên. Và những chúng sanh nào đã sanh vào nơi ấy, nhờ ánh sáng đó mà nhận ra nhau: ‘Thưa các ngài, hình như cũng có những chúng sanh khác đã sanh vào nơi đây.’ Và hệ thống mười ngàn thế giới này rung chuyển, chấn động, lay động. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trong thế gian, vượt xa cả thần lực của chư thiên. Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, cattāro naṁ devaputtā catuddisaṁ rakkhāya upagacchanti: ‘mā naṁ bodhisattaṁ vā bodhisattamātaraṁ vā manusso vā amanusso vā koci vā viheṭhesī’ti. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, four godlings approach to guard the four quarters, so that no human or non-human or anyone at all shall harm the being intent on awakening or his mother. This is normal in such a case.
19. “Này các tỳ khưu, đây là quy luật tự nhiên: Khi Bồ-tát đã nhập vào bụng mẹ, bốn vị thiên tử đến từ bốn phương để bảo vệ ngài, với ý nghĩ: ‘Mong rằng không một người, phi nhân, hay bất cứ ai có thể làm hại Bồ-tát hoặc mẹ của Bồ-tát.’ Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, pakatiyā sīlavatī bodhisattamātā hoti, viratā pāṇātipātā, viratā adinnādānā, viratā kāmesumicchācārā, viratā musāvādā, viratā surāmerayamajjappamādaṭṭhānā. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she becomes naturally ethical. She refrains from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and beer, wine, and liquor intoxicants. This is normal in such a case.
20. “Này các tỳ khưu, đây là quy luật tự nhiên: Khi Bồ-tát đã nhập vào bụng mẹ, mẹ của Bồ-tát tự nhiên là người có giới hạnh, từ bỏ việc sát sanh, từ bỏ việc lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ việc nói dối, từ bỏ việc dùng các loại rượu và chất gây say, là cơ sở của sự dễ duôi. Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu purisesu mānasaṁ uppajjati kāmaguṇūpasaṁhitaṁ, anatikkamanīyā ca bodhisattamātā hoti kenaci purisena rattacittena. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she no longer thinks of men in a sexual way, and she cannot be violated by a man of lustful intent. This is normal in such a case.
21. “Này các tỳ khưu, đây là quy luật tự nhiên: Khi Bồ-tát đã nhập vào bụng mẹ, tâm ý liên quan đến dục lạc đối với người nam không khởi lên nơi mẹ của Bồ-tát, và mẹ của Bồ-tát không thể bị bất cứ người nam nào có tâm tham ái xâm phạm. Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, lābhinī bodhisattamātā hoti pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Sā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricāreti. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she obtains the five kinds of sensual stimulation and amuses herself, supplied and provided with them. This is normal in such a case.
22. “Này các tỳ khưu, đây là quy luật tự nhiên: Khi Bồ-tát đã nhập vào bụng mẹ, mẹ của Bồ-tát nhận được năm loại dục lạc. Vị ấy được cung phụng, vây quanh bởi năm loại dục lạc và tận hưởng chúng. Đây là quy luật tự nhiên trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu kocideva ābādho uppajjati. Sukhinī bodhisattamātā hoti akilantakāyā, bodhisattañca bodhisattamātā tirokucchigataṁ passati sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno. Tatrāssa suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā. Tamenaṁ cakkhumā puriso hatthe karitvā paccavekkheyya: ‘ayaṁ kho maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno. Tatridaṁ suttaṁ āvutaṁ nīlaṁ vā pītaṁ vā lohitaṁ vā odātaṁ vā paṇḍusuttaṁ vā’ti.
Evameva kho, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, na bodhisattamātu kocideva ābādho uppajjati, sukhinī bodhisattamātā hoti akilantakāyā, bodhisattañca bodhisattamātā tirokucchigataṁ passati sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, no afflictions beset her. She’s happy and free of bodily fatigue. And she sees the being intent on awakening in her womb, whole in his major and minor limbs, not deficient in any faculty. Suppose there was a beryl gem that was naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent, clear, and unclouded, endowed with all good qualities. And it was strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown. And a person with clear eyes were to take it in their hand and examine it: ‘This beryl gem is naturally lustrous, eight-faceted, well-worked, transparent, clear, and unclouded, endowed with all good qualities. And it’s strung with a thread of blue, yellow, red, white, or golden brown.’
In the same way, when the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, no afflictions beset her. She’s happy and free of bodily fatigue. And she sees the being intent on awakening in her womb, whole in his major and minor limbs, not deficient in any faculty. This is normal in such a case.
23. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, không có bệnh hoạn nào phát sanh đến thân mẫu của Bồ-tát. Thân mẫu của Bồ-tát được an lạc, thân thể không mệt mỏi. Và thân mẫu của Bồ-tát thấy được Bồ-tát ở trong bụng, với đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, các căn không bị khiếm khuyết. Này các Tỳ khưu, ví như một viên ngọc lưu ly trong suốt, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác kỹ lưỡng, trong trẻo, cực kỳ trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo về mọi phương diện. Trong đó có một sợi chỉ được xỏ qua, hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng, hoặc màu vàng nhạt. Một người có mắt sáng, cầm viên ngọc ấy trong tay, sẽ quán xét rằng: ‘Viên ngọc lưu ly này quả thật trong suốt, thuần chủng, tám cạnh, được chế tác kỹ lưỡng, trong trẻo, cực kỳ trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo về mọi phương diện. Trong đó có sợi chỉ này được xỏ qua, hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu trắng, hoặc màu vàng nhạt.’ Này các Tỳ khưu, cũng thế ấy, khi Bồ-tát đã nhập vào mẫu thai, không có bệnh hoạn nào phát sanh đến thân mẫu của Bồ-tát. Thân mẫu của Bồ-tát được an lạc, thân thể không mệt mỏi. Và thân mẫu của Bồ-tát thấy được Bồ-tát ở trong bụng, với đầy đủ các chi phần lớn nhỏ, các căn không bị khiếm khuyết. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, sattāhajāte bodhisatte bodhisattamātā kālaṁ karoti tusitaṁ kāyaṁ upapajjati. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, seven days after the being intent on awakening is born, his mother passes away and is reborn in the host of joyful gods. This is normal in such a case.
24. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát được sanh ra bảy ngày, thân mẫu của Bồ-tát mệnh chung và được sanh về cõi trời Đâu-suất. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yathā aññā itthikā nava vā dasa vā māse gabbhaṁ kucchinā pariharitvā vijāyanti, na hevaṁ bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyati. Daseva māsāni bodhisattaṁ bodhisattamātā kucchinā pariharitvā vijāyati. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, while other women carry the infant in the womb for nine or ten months before giving birth, not so the mother of the being intent on awakening. She gives birth after exactly ten months. This is normal in such a case.
25. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Giống như các người phụ nữ khác mang thai trong bụng chín tháng hoặc mười tháng rồi sanh con, thân mẫu của Bồ-tát không sanh Bồ-tát như vậy. Thân mẫu của Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng đúng mười tháng rồi mới sanh. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yathā aññā itthikā nisinnā vā nipannā vā vijāyanti, na hevaṁ bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyati. Ṭhitāva bodhisattaṁ bodhisattamātā vijāyati. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, while other women give birth while sitting or lying down, not so the mother of the being intent on awakening. She only gives birth standing up. This is normal in such a case.
26. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Giống như các người phụ nữ khác sanh con trong tư thế ngồi hoặc nằm, thân mẫu của Bồ-tát không sanh Bồ-tát như vậy. Thân mẫu của Bồ-tát sanh Bồ-tát chỉ trong tư thế đứng. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, devā paṭhamaṁ paṭiggaṇhanti, pacchā manussā. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, gods receive him first, then humans. This is normal in such a case.
27. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, chư Thiên đón nhận trước, sau đó là loài người. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, appattova bodhisatto pathaviṁ hoti, cattāro naṁ devaputtā paṭiggahetvā mātu purato ṭhapenti: ‘attamanā, devi, hohi; mahesakkho te putto uppanno’ti. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, before he reaches the ground, four godlings receive him and place him before his mother, saying: ‘Rejoice, O Queen! An illustrious son is born to you.’ This is normal in such a case.
28. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, Bồ-tát chưa chạm đến đất, bốn vị thiên tử đón nhận Ngài rồi đặt trước mặt thân mẫu và nói: ‘Thưa Hoàng hậu, xin hãy hoan hỷ! Một người con trai có đại thần lực đã được sanh ra cho ngài.’ Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, visadova nikkhamati amakkhito udena amakkhito semhena amakkhito ruhirena amakkhito kenaci asucinā suddho visado. Seyyathāpi, bhikkhave, maṇiratanaṁ kāsike vatthe nikkhittaṁ neva maṇiratanaṁ kāsikaṁ vatthaṁ makkheti, nāpi kāsikaṁ vatthaṁ maṇiratanaṁ makkheti. Taṁ kissa hetu? Ubhinnaṁ suddhattā.
Evameva kho, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, visadova nikkhamati amakkhito, udena amakkhito semhena amakkhito ruhirena amakkhito kenaci asucinā suddho visado. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, he emerges already clean, unsoiled by waters, mucus, blood, or any other kind of impurity, pure and clean. Suppose a jewel-treasure was placed on a cloth from Kāsi. The jewel would not soil the cloth, nor would the cloth soil the jewel. Why is that? Because of the cleanliness of them both.
In the same way, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, he emerges already clean, unsoiled by waters, mucus, blood, or any other kind of impurity, pure and clean. This is normal in such a case.
29. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, Ngài ra đời một cách trong sạch, không bị dính nước ối, không bị dính đờm dãi, không bị dính máu, không bị dính bất cứ thứ bất tịnh nào, trong sạch, thanh khiết. Này các Tỳ khưu, ví như một viên ngọc quý được đặt trên tấm vải Kāsī, viên ngọc không làm bẩn tấm vải Kāsī, và tấm vải Kāsī cũng không làm bẩn viên ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều trong sạch. Này các Tỳ khưu, cũng thế ấy, khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, Ngài ra đời một cách trong sạch, không bị dính nước ối, không bị dính đờm dãi, không bị dính máu, không bị dính bất cứ thứ bất tịnh nào, trong sạch, thanh khiết. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, dve udakassa dhārā antalikkhā pātubhavanti—ekā sītassa ekā uṇhassa yena bodhisattassa udakakiccaṁ karonti mātu ca. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, two showers of water appear from the sky, one cool, one warm, for bathing the being intent on awakening and his mother. This is normal in such a case.
30. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, hai dòng nước xuất hiện từ hư không, một dòng nước mát, một dòng nước ấm, để thực hiện việc tắm rửa cho Bồ-tát và cho thân mẫu. Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, sampatijāto bodhisatto samehi pādehi patiṭṭhahitvā uttarābhimukho sattapadavītihārena gacchati setamhi chatte anudhāriyamāne, sabbā ca disā anuviloketi, āsabhiṁ vācaṁ bhāsati ‘aggohamasmi lokassa, jeṭṭhohamasmi lokassa, seṭṭhohamasmi lokassa, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, as soon as he’s born, the being intent on awakening stands firm with his own feet on the ground. Facing north, he takes seven strides with a white parasol held above him, surveys all quarters, and makes this dramatic proclamation: ‘I am the foremost in the world! I am the eldest in the world! I am the first in the world! This is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’ This is normal in such a case.
31. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Vừa mới sanh, Bồ-tát đứng vững trên đôi chân bằng phẳng, mặt hướng về phương bắc, đi bảy bước, trong khi một lọng trắng được che trên đầu. Ngài nhìn khắp các phương, và thốt lên lời nói dõng dạc: ‘Ta là bậc tối thượng ở trên đời, Ta là bậc tối tôn ở trên đời, Ta là bậc tối thắng ở trên đời. Đây là lần sanh cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’ Đây là định luật trong trường hợp này.
Dhammatā esā, bhikkhave, yadā bodhisatto mātukucchimhā nikkhamati, atha sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya appamāṇo uḷāro obhāso pātubhavati, atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yāpi tā lokantarikā aghā asaṁvutā andhakārā andhakāratimisā, yatthapime candimasūriyā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā ābhāya nānubhonti, tatthapi appamāṇo uḷāro obhāso pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Yepi tattha sattā upapannā, tepi tenobhāsena aññamaññaṁ sañjānanti: ‘aññepi kira, bho, santi sattā idhūpapannā’ti. Ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampati sampakampati sampavedhati appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pātubhavati atikkammeva devānaṁ devānubhāvaṁ. Ayamettha dhammatā.
It’s normal that, when the being intent on awakening emerges from his mother’s womb, then—in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. Even in the boundless gloom of interstellar space—so utterly dark that even the luminosity of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression—an immeasurable, magnificent light appears, surpassing the glory of the gods. And the sentient beings reborn there recognize each other by that light: ‘So, it seems other sentient beings have been reborn here!’ And this ten-thousandfold galaxy shakes and rocks and trembles. And an immeasurable, magnificent light appears in the world, surpassing the glory of the gods. This is normal in such a case.
32. Này các Tỳ khưu, đây là định luật: Khi Bồ-tát ra khỏi mẫu thai, bấy giờ trong thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng sanh gồm Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện, vượt xa cả thần lực của chư Thiên. Ngay cả những cõi địa ngục giữa các thế giới, trống không, không được che chở, tối tăm, mờ mịt, nơi mà mặt trăng và mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như thế cũng không thể chiếu sáng đến được, ngay tại nơi ấy cũng xuất hiện một ánh sáng vô lượng, huy hoàng, vượt xa cả thần lực của chư Thiên. Và những chúng sanh đã sanh vào nơi ấy, nhờ ánh sáng đó mà nhận ra nhau: ‘Này các bạn, hình như cũng có những chúng sanh khác đã sanh vào nơi đây!’ Và mười ngàn thế giới này rung chuyển, chấn động, chuyển động mạnh. Và một ánh sáng vô lượng, huy hoàng xuất hiện trong thế gian, vượt xa cả thần lực của chư Thiên. Đây là định luật trong trường hợp này.
3. Dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇā
3. The Thirty-Two Marks of a Great Man
Ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân
Jāte kho pana, bhikkhave, vipassimhi kumāre bandhumato rañño paṭivedesuṁ: ‘putto te, deva, jāto, taṁ devo passatū’ti. Addasā kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassiṁ kumāraṁ, disvā nemitte brāhmaṇe āmantāpetvā etadavoca: ‘passantu bhonto nemittā brāhmaṇā kumāran’ti. Addasaṁsu kho, bhikkhave, nemittā brāhmaṇā vipassiṁ kumāraṁ, disvā bandhumantaṁ rājānaṁ etadavocuṁ: ‘attamano, deva, hohi, mahesakkho te putto uppanno, lābhā te, mahārāja, suladdhaṁ te, mahārāja, yassa te kule evarūpo putto uppanno. Ayañhi, deva, kumāro dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā. Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni sattaratanāni bhavanti. Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati. Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭacchado.
When Prince Vipassī was born, they announced it to King Bandhumā, ‘Your Majesty, your son is born! Let Your Majesty examine him!’ When the king had examined the prince, he had the brahmin soothsayers summoned and said to them, ‘Gentlemen, please examine the prince.’ When they had examined him they said to the king, ‘Rejoice, O King! An illustrious son is born to you. You are fortunate, so very fortunate, to have a son such as this born in this family! For the prince possesses the thirty-two marks of a great man. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other. If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extends to all four sides, he achieves stability in the country, and he possesses the seven treasures. He has the following seven treasures: the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander as the seventh treasure. He has over a thousand sons who are valiant and heroic, crushing the armies of his enemies. After conquering this land girt by sea, he reigns by principle, without rod or sword. But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who has cast off the veil from the world.
33. Này các Tỳ khưu, khi hoàng tử Vipassī vừa đản sanh, họ đã tâu lên vua Bandhumā rằng: ‘Tâu Đại vương, một hoàng tử đã được sanh ra cho ngài, mong Đại vương hãy đến xem mặt hoàng tử.’ Này các Tỳ khưu, vua Bandhumā đã nhìn thấy hoàng tử Vipassī, sau khi nhìn thấy, ngài cho triệu tập các vị Bà-la-môn tướng sư và nói rằng: ‘Thưa các vị Bà-la-môn tướng sư, xin hãy xem tướng cho hoàng tử.’ Này các Tỳ khưu, các vị Bà-la-môn tướng sư đã nhìn thấy hoàng tử Vipassī, sau khi nhìn thấy, họ đã tâu với vua Bandhumā rằng: ‘Tâu Đại vương, xin ngài hãy hoan hỷ, một hoàng tử có đại oai lực đã sanh ra cho ngài. Thật là lợi ích cho ngài, tâu Đại vương, thật là lợi ích lớn lao cho ngài, tâu Đại vương, vì một hoàng tử như thế này đã sanh ra trong hoàng tộc của ngài. Tâu Đại vương, hoàng tử này được trang bị ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, và bậc đại nhân nào được trang bị các tướng tốt này thì chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia, vị ấy sẽ trở thành một vị vua Chuyển Luân Vương, một vị vua đúng Pháp, một vị Pháp vương, cai trị bốn phương, một người chiến thắng, người đã đạt được sự ổn định trong xứ sở, người sở hữu bảy báu vật. Bảy báu vật của vị ấy là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy sẽ có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh, có hình dáng anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của kẻ thù. Vị ấy cai trị trái đất này cho đến tận bờ đại dương, sau khi đã chinh phục bằng Chánh pháp, không dùng đến roi gậy, không dùng đến gươm đao. Nhưng nếu vị ấy từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị ấy sẽ trở thành một vị A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác trên thế gian, người đã vén mở bức màn che.’
Katamehi cāyaṁ, deva, kumāro dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā. Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni sattaratanāni bhavanti. Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭacchado. Ayañhi, deva, kumāro suppatiṭṭhitapādo. Yaṁ pāyaṁ, deva, kumāro suppatiṭṭhitapādo. Idampissa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
And what are the marks which he possesses?
He has well-planted feet.
34. ‘Tâu Đại vương, hoàng tử này được trang bị ba mươi hai tướng tốt nào của bậc đại nhân, mà bậc đại nhân nào được trang bị các tướng tốt này thì chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác? Nếu sống tại gia, vị ấy sẽ trở thành một vị vua Chuyển Luân Vương, một vị vua đúng Pháp, một vị Pháp vương, cai trị bốn phương, một người chiến thắng, người đã đạt được sự ổn định trong xứ sở, người sở hữu bảy báu vật. Bảy báu vật của vị ấy là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và thứ bảy là tướng quân báu. Vị ấy sẽ có hơn một ngàn người con trai dũng mãnh, có hình dáng anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của kẻ thù. Vị ấy cai trị trái đất này cho đến tận bờ đại dương, sau khi đã chinh phục bằng Chánh pháp, không dùng đến roi gậy, không dùng đến gươm đao. Nhưng nếu vị ấy từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị ấy sẽ trở thành một vị A-la-hán, một bậc Chánh Đẳng Giác trên thế gian, người đã vén mở bức màn che.’
Imassa, deva, kumārassa heṭṭhā pādatalesu cakkāni jātāni sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni. Yampi imassa, deva, kumārassa heṭṭhā pādatalesu cakkāni jātāni sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni, idampissa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Ayañhi, deva, kumāro āyatapaṇhī …pe…
Ayañhi, deva, kumāro dīghaṅgulī …pe…
On the soles of his feet there are thousand-spoked wheels, with rims and hubs, complete in every detail.
He has stretched heels.
He has long fingers.
‘Tâu Đại vương, dưới lòng bàn chân của hoàng tử này có hiện ra các bánh xe với ngàn căm, có niềng, có trục, đầy đủ mọi phương diện. Việc dưới lòng bàn chân của hoàng tử này, tâu Đại vương, có hiện ra các bánh xe với ngàn căm, có niềng, có trục, đầy đủ mọi phương diện, đây cũng là một tướng tốt của bậc đại nhân này.
Ayañhi, deva, kumāro mudutalunahatthapādo …pe…
Ayañhi, deva kumāro jālahatthapādo …pe…
Ayañhi, deva, kumāro ussaṅkhapādo …pe…
Ayañhi, deva, kumāro eṇijaṅgho …pe…
Ayañhi, deva, kumāro ṭhitakova anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati …pe…
Ayañhi, deva, kumāro kosohitavatthaguyho …pe…
Ayañhi, deva, kumāro suvaṇṇavaṇṇo kañcanasannibhattaco …pe…
Ayañhi, deva, kumāro sukhumacchavī; sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati …pe…
Ayañhi, deva, kumāro ekekalomo; ekekāni lomāni lomakūpesu jātāni …pe…
His hands and feet are soft and tender.
He has serried hands and feet.
The tops of his feet are arched.
His calves are like those of an antelope.
When standing upright and not bending over, the palms of both hands touch the knees.
His private parts are sheathed in a foreskin.
He is golden colored; his skin shines like lustrous gold.
He has delicate skin, so delicate that dust and dirt don’t stick to his body.
His hairs grow one per pore.
35. ‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có đôi bàn chân đặt xuống bằng phẳng. Việc hoàng tử này, tâu Đại vương, có đôi bàn chân đặt xuống bằng phẳng, đây cũng là một tướng tốt của bậc đại nhân này.
Ayañhi, deva, kumāro uddhaggalomo; uddhaggāni lomāni jātāni nīlāni añjanavaṇṇāni kuṇḍalāvaṭṭāni dakkhiṇāvaṭṭakajātāni …pe…
His hairs stand up; they’re blue-black and curl clockwise.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có các sợi lông mọc hướng lên trên; các sợi lông mọc lên có ngọn hướng lên, màu xanh biếc như thuốc xức mắt, xoắn lại thành vòng, và xoay về phía bên phải…
Ayañhi, deva, kumāro brahmujugatto …pe…
His body is tall and straight-limbed.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có làn da mịn màng; do làn da mịn màng nên bụi bẩn không bám vào thân thể…
Ayañhi, deva, kumāro sattussado …pe…
He has bulging muscles in seven places.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có mã âm tàng được bao bọc trong vỏ…
Ayañhi, deva, kumāro sīhapubbaddhakāyo …pe…
His chest is like that of a lion.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có bắp chân như của loài nai eṇi…
Ayañhi, deva, kumāro citantaraṁso …pe…
He is filled out between the shoulders.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có tay chân như màng lưới…
Ayañhi, deva, kumāro nigrodhaparimaṇḍalo yāvatakvassa kāyo tāvatakvassa byāmo, yāvatakvassa byāmo, tāvatakvassa kāyo …pe…
He has the proportional circumference of a banyan tree: the span of his arms equals the height of his body.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có thân hình cân đối như cây đa; chiều cao của thân thể bằng sải tay, và sải tay bằng chiều cao của thân thể…
Ayañhi, deva, kumāro samavaṭṭakkhandho …pe…
His torso is cylindrical.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có nửa thân trên như của sư tử…
Ayañhi, deva, kumāro rasaggasaggī …pe…
He has ridged taste buds.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có thân hình thẳng đứng như Phạm Thiên…
Ayañhi, deva, kumāro sīhahanu …pe…
His jaw is like that of a lion.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có mỗi lỗ chân lông chỉ mọc một sợi lông; mỗi sợi lông mọc trong một lỗ chân lông…
Ayañhi, deva, kumāro cattālīsadanto …pe…
He has forty teeth.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có màu da như vàng, làn da tựa như vàng ròng…
Ayañhi, deva, kumāro samadanto …pe…
His teeth are even.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này khi đứng thẳng, không cần cúi xuống, có thể dùng cả hai lòng bàn tay để chạm và xoa đầu gối…
Ayañhi, deva, kumāro aviraḷadanto …pe…
His teeth have no gaps.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có mắt cá chân cao…
Ayañhi, deva, kumāro susukkadāṭho …pe…
His teeth are perfectly white.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có bàn tay và bàn chân mềm mại, mịn màng…
Ayañhi, deva, kumāro pahūtajivho …pe…
Ayañhi, deva, kumāro brahmassaro karavīkabhāṇī …pe…
Ayañhi, deva, kumāro abhinīlanetto …pe…
Ayañhi, deva, kumāro gopakhumo …pe…
He has a large tongue.
He has the voice of the Divinity, like a cuckoo’s call.
His eyes are indigo.
He has eyelashes like a cow’s.
‘Tâu Đại vương, hoàng tử này có gót chân dài… v.v…
Imassa, deva, kumārassa uṇṇā bhamukantare jātā odātā mudutūlasannibhā. Yampi imassa, deva, kumārassa uṇṇā bhamukantare jātā odātā mudutūlasannibhā, idampimassa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Between his eyebrows there grows a tuft, soft and white like cotton-wool.
‘Tâu Đại vương, ở giữa hai hàng lông mày của vị vương tử này có một sợi lông trắng (uṇṇā) mọc lên, trắng tinh, mềm mại như bông gòn. Tâu Đại vương, việc vương tử có một sợi lông trắng mọc lên ở giữa hai hàng lông mày, trắng tinh, mềm mại như bông gòn, đây cũng là một tướng hảo của bậc đại nhân.’
Ayañhi, deva, kumāro uṇhīsasīso. Yaṁ pāyaṁ, deva, kumāro uṇhīsasīso, idampissa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
The crown of his head is like a turban.
‘Tâu Đại vương, vị vương tử này có tướng đầu như đội khăn vành. Tâu Đại vương, việc vương tử có tướng đầu như đội khăn vành, đây cũng là một tướng hảo của bậc đại nhân.’
Imehi kho ayaṁ, deva, kumāro dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā. Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato. Tassimāni sattaratanāni bhavanti. Seyyathidaṁ—cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanameva sattamaṁ. Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā. So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati. Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭacchado’ti.
These are the thirty-two marks of a great man that the prince has. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other. If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch. But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who has cast off the veil from the world.’
36. ‘Tâu Đại vương, vị vương tử này đã hội đủ ba mươi hai tướng hảo của bậc đại nhân này, và bậc đại nhân hội đủ các tướng hảo ấy chỉ có hai con đường chứ không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia, ngài sẽ là vị vua Chuyển Luân Vương, một vị vua đúng theo Chánh pháp, một vị vua của Chánh pháp, chinh phục bốn phương, chiến thắng, đạt được sự ổn định trong xứ sở, hội đủ bảy báu vật. Bảy báu vật của ngài là: báu vật bánh xe, báu vật voi, báu vật ngựa, báu vật ngọc, báu vật nữ, báu vật gia chủ, và thứ bảy là báu vật tướng quân. Ngài sẽ có hơn một ngàn người con trai, dũng mãnh, có hình dáng anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của đối phương. Vị ấy chinh phục trái đất cho đến tận bờ đại dương này, không dùng đến roi gậy, không dùng đến vũ khí, mà bằng Chánh pháp, rồi an trú. Còn nếu từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ngài sẽ trở thành một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vén mở màn che vô minh trong thế gian.’
4. Vipassīsamaññā
4. How He Came to be Known as Vipassī
Danh hiệu Vipassī
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā nemitte brāhmaṇe ahatehi vatthehi acchādāpetvā sabbakāmehi santappesi. Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassissa kumārassa dhātiyo upaṭṭhāpesi. Aññā khīraṁ pāyenti, aññā nhāpenti, aññā dhārenti, aññā aṅkena pariharanti. Jātassa kho pana, bhikkhave, vipassissa kumārassa setacchattaṁ dhārayittha divā ceva rattiñca: ‘mā naṁ sītaṁ vā uṇhaṁ vā tiṇaṁ vā rajo vā ussāvo vā bādhayitthā’ti. Jāto kho pana, bhikkhave, vipassī kumāro bahuno janassa piyo ahosi manāpo. Seyyathāpi, bhikkhave, uppalaṁ vā padumaṁ vā puṇḍarīkaṁ vā bahuno janassa piyaṁ manāpaṁ; evameva kho, bhikkhave, vipassī kumāro bahuno janassa piyo ahosi manāpo. Svāssudaṁ aṅkeneva aṅkaṁ parihariyati.
Jāto kho pana, bhikkhave, vipassī kumāro mañjussaro ca ahosi vaggussaro ca madhurassaro ca pemaniyassaro ca.
Then King Bandhumā had the brahmin soothsayers dressed in unworn clothes and satisfied all their needs. Then the king appointed nursemaids for Prince Vipassī. Some suckled him, some bathed him, some held him, and some carried him on their hip. From when he was born, a white parasol was held over him night and day, with the thought, ‘Don’t let cold, heat, grass, dust, or damp bother him.’ He was dear and beloved by many people, like a blue water lily, or a pink or white lotus. He was always passed from hip to hip.
From when he was born, his voice was charming, graceful, sweet, and endearing.
37. ‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Bandhumā đã choàng các Bà la môn tướng sư bằng những tấm vải mới và làm cho họ hài lòng với tất cả các dục lạc. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Bandhumā đã sắp đặt các bảo mẫu cho vương tử Vipassī. Có người cho bú sữa, có người tắm rửa, có người bồng ẵm, có người ôm vào lòng. Này các Tỳ khưu, đối với vương tử Vipassī vừa mới sinh, người ta đã che một chiếc lọng trắng cả ngày lẫn đêm, với ý nghĩ: ‘Mong rằng vương tử không bị lạnh, nóng, cỏ, bụi, hay sương làm phiền.’ Này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī vừa mới sinh đã được nhiều người yêu mến và quý trọng. Này các Tỳ khưu, cũng như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hay hoa sen trắng được nhiều người yêu mến và quý trọng; này các Tỳ khưu, cũng vậy, vương tử Vipassī được nhiều người yêu mến và quý trọng. Ngài được chuyền từ lòng người này sang lòng người khác.’
38. ‘Này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī vừa mới sinh đã có giọng nói trong trẻo, rõ ràng, ngọt ngào, và đáng yêu. Này các Tỳ khưu, cũng như ở núi Hy Mã Lạp Sơn có một loài chim tên là karavīka có giọng hót trong trẻo, rõ ràng, ngọt ngào, và đáng yêu; này các Tỳ khưu, cũng vậy, vương tử Vipassī có giọng nói trong trẻo, rõ ràng, ngọt ngào, và đáng yêu.’
Jātassa kho pana, bhikkhave, vipassissa kumārassa kammavipākajaṁ dibbacakkhu pāturahosi yena sudaṁ samantā yojanaṁ passati divā ceva rattiñca.
From when he was born, Prince Vipassī had the power of clairvoyance which manifested as a result of past deeds, by which he could see for a league all around both by day and by night.
39. ‘Này các Tỳ khưu, đối với vương tử Vipassī vừa mới sinh, thiên nhãn do quả của nghiệp đã khởi lên, nhờ đó ngài có thể nhìn thấy một do tuần xung quanh, cả ngày lẫn đêm.’
Jāto kho pana, bhikkhave, vipassī kumāro animisanto pekkhati seyyathāpi devā tāvatiṁsā. ‘Animisanto kumāro pekkhatī’ti kho, bhikkhave, vipassissa kumārassa ‘vipassī vipassī’ tveva samaññā udapādi.
And he was unblinkingly watchful, like the gods of the thirty-three. And because it was said that he was unblinkingly watchful, he came to be known as ‘Vipassī’.
40. ‘Này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī vừa mới sinh đã nhìn mà không chớp mắt, giống như các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba. Này các Tỳ khưu, vì vương tử nhìn mà không chớp mắt, nên danh hiệu ‘Vipassī, Vipassī’ đã được đặt cho vương tử Vipassī.’
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā atthakaraṇe nisinno vipassiṁ kumāraṁ aṅke nisīdāpetvā atthe anusāsati. Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro pituaṅke nisinno viceyya viceyya atthe panāyati ñāyena. Viceyya viceyya kumāro atthe panāyati ñāyenāti kho, bhikkhave, vipassissa kumārassa bhiyyoso mattāya ‘vipassī vipassī’ tveva samaññā udapādi.
Then while King Bandhumā was sitting in court, he’d sit Prince Vipassī in his lap and explain the case to him. And sitting there in his father’s lap, Vipassī would thoroughly consider the case and draw a conclusion using a logical system. So this was all the more reason for him to be known as ‘Vipassī’.
41. ‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Bandhumā, trong lúc ngồi xử án, đã đặt vương tử Vipassī ngồi trong lòng và dạy bảo về các vụ việc. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Vipassī, ngồi trong lòng vua cha, đã suy xét, suy xét và hiểu rõ các vụ việc một cách đúng đắn. Này các Tỳ khưu, vì vương tử đã suy xét, suy xét và hiểu rõ các vụ việc một cách đúng đắn, nên danh hiệu ‘Vipassī, Vipassī’ lại càng được xác lập vững chắc hơn cho vương tử Vipassī.’
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassissa kumārassa tayo pāsāde kārāpesi, ekaṁ vassikaṁ ekaṁ hemantikaṁ ekaṁ gimhikaṁ; pañca kāmaguṇāni upaṭṭhāpesi. Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro vassike pāsāde cattāro māse nippurisehi tūriyehi paricārayamāno na heṭṭhāpāsādaṁ orohatīti.
Then King Bandhumā had three stilt longhouses built for him—one for the winter, one for the summer, and one for the rainy season, and provided him with the five kinds of sensual stimulation. Prince Vipassī stayed in a stilt longhouse without coming downstairs for the four months of the rainy season, where he was entertained by musicians—none of them men.
42. ‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Bandhumā đã cho xây ba cung điện cho vương tử Vipassī, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, và một cho mùa hè; và đã sắp đặt năm loại dục lạc. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Vipassī, trong cung điện mùa mưa, suốt bốn tháng, được các nữ nhạc công phục vụ, và không đi xuống tầng dưới của cung điện.’
Paṭhamabhāṇavāro.
5. Jiṇṇapurisa
The first recitation section.
5. The Old Man
Phẩm thứ nhất.
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena sārathiṁ āmantesi: ‘yojehi, samma sārathi, bhaddāni bhaddāni yānāni uyyānabhūmiṁ gacchāma subhūmidassanāyā’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā bhaddāni bhaddāni yānāni yojetvā vipassissa kumārassa paṭivedesi: ‘yuttāni kho te, deva, bhaddāni bhaddāni yānāni, yassadāni kālaṁ maññasī’ti. Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi uyyānabhūmiṁ niyyāsi.
Addasā kho, bhikkhave, vipassī kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto purisaṁ jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyanaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ. Disvā sārathiṁ āmantesi: ‘ayaṁ pana, samma sārathi, puriso kiṅkato? Kesāpissa na yathā aññesaṁ, kāyopissa na yathā aññesan’ti.
‘Eso kho, deva, jiṇṇo nāmā’ti.
‘Kiṁ paneso, samma sārathi, jiṇṇo nāmā’ti?
‘Eso kho, deva, jiṇṇo nāma. Na dāni tena ciraṁ jīvitabbaṁ bhavissatī’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, ahampi jarādhammo, jaraṁ anatīto’ti?
‘Tvañca, deva, mayañcamha sabbe jarādhammā, jaraṁ anatītā’ti.
‘Tena hi, samma sārathi, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā. Itova antepuraṁ paccaniyyāhī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā tatova antepuraṁ paccaniyyāsi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro antepuraṁ gato dukkhī dummano pajjhāyati: ‘dhiratthu kira, bho, jāti nāma, yatra hi nāma jātassa jarā paññāyissatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā sārathiṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha? Kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti?
‘Na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha, na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, addasa kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto’ti? ‘Addasā kho, deva, kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto purisaṁ jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyanaṁ pavedhamānaṁ gacchantaṁ āturaṁ gatayobbanaṁ. Disvā maṁ etadavoca: “ayaṁ pana, samma sārathi, puriso kiṅkato, kesāpissa na yathā aññesaṁ, kāyopissa na yathā aññesan”ti? “Eso kho, deva, jiṇṇo nāmā”ti. “Kiṁ paneso, samma sārathi, jiṇṇo nāmā”ti? “Eso kho, deva, jiṇṇo nāma na dāni tena ciraṁ jīvitabbaṁ bhavissatī”ti. “Kiṁ pana, samma sārathi, ahampi jarādhammo, jaraṁ anatīto”ti? “Tvañca, deva, mayañcamha sabbe jarādhammā, jaraṁ anatītā”ti.
“Tena hi, samma sārathi, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā, itova antepuraṁ paccaniyyāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho ahaṁ, deva, vipassissa kumārassa paṭissutvā tatova antepuraṁ paccaniyyāsiṁ. So kho, deva, kumāro antepuraṁ gato dukkhī dummano pajjhāyati: “dhiratthu kira, bho, jāti nāma, yatra hi nāma jātassa jarā paññāyissatī”’ti.
6. Byādhitapurisa
Atha kho, bhikkhave, bandhumassa rañño etadahosi: ‘Mā heva kho vipassī kumāro na rajjaṁ kāresi, mā heva vipassī kumāro agārasmā anagāriyaṁ pabbaji, mā heva nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ saccaṁ assa vacanan’ti. Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassissa kumārassa bhiyyoso mattāya pañca kāmaguṇāni upaṭṭhāpesi: ‘yathā vipassī kumāro rajjaṁ kareyya, yathā vipassī kumāro na agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyya, yathā nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ micchā assa vacanan’ti.
Then, after many years, many hundred years, many thousand years had passed, Prince Vipassī addressed his charioteer, ‘My dear charioteer, harness the finest chariots. We will go to a park and see the scenery.’
‘Yes, sir,’ replied the charioteer. He harnessed the chariots and informed the prince, ‘Your Majesty, the finest chariots are harnessed. Please go at your convenience.’ Then Prince Vipassī mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out for the park.
Along the way he saw an elderly man, bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as he walked, ailing, past his prime. He addressed his charioteer, ‘My dear charioteer, what has that man done? For his hair and his body are unlike those of other men.’
‘That, Your Majesty, is called an old man.’
‘But why is he called an old man?’
‘He’s called an old man because now he has not long to live.’
‘But my dear charioteer, am I liable to grow old? Am I not exempt from old age?’
‘Everyone is liable to grow old, Your Majesty, including you. No one is exempt from old age.’
‘Well then, my dear charioteer, that’s enough of the park for today. Let’s return to the royal compound.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer and did so.
Back at the royal compound, the prince brooded, miserable and sad: ‘Curse this thing called rebirth, since old age will come to anyone who’s born.’
Then King Bandhumā summoned the charioteer and said, ‘My dear charioteer, I hope the prince enjoyed himself at the park? I hope he was happy there?’
‘No, Your Majesty, the prince didn’t enjoy himself at the park.’
‘But what did he see on the way to the park?’ And the charioteer told the king about seeing the old man and the prince’s reaction.
6. The Sick Man
Then King Bandhumā thought, ‘Prince Vipassī must not renounce the throne. He must not go forth from the lay life to homelessness. And the words of the brahmin soothsayers must not come true.’ To this end he provided the prince with even more of the five kinds of sensual stimulation,
43. ‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trôi qua, vương tử Vipassī đã gọi người đánh xe và nói: ‘Này người đánh xe, hãy chuẩn bị những cỗ xe tốt đẹp. Chúng ta sẽ đi đến công viên để ngắm cảnh đẹp.’ ‘Vâng, thưa điện hạ,’ này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lời vương tử Vipassī, rồi chuẩn bị những cỗ xe tốt đẹp và báo cho vương tử Vipassī: ‘Thưa điện hạ, những cỗ xe tốt đẹp đã được chuẩn bị sẵn sàng. Bây giờ là lúc ngài cho là thích hợp.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Vipassī đã lên một cỗ xe tốt đẹp và đi ra công viên với những cỗ xe tốt đẹp.’
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bahūnaṁ vassānaṁ …pe…
Addasā kho, bhikkhave, vipassī kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto purisaṁ ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ aññehi saṁvesiyamānaṁ. Disvā sārathiṁ āmantesi: ‘ayaṁ pana, samma sārathi, puriso kiṅkato? Akkhīnipissa na yathā aññesaṁ, saropissa na yathā aññesan’ti?
‘Eso kho, deva, byādhito nāmā’ti.
‘Kiṁ paneso, samma sārathi, byādhito nāmā’ti?
‘Eso kho, deva, byādhito nāma appeva nāma tamhā ābādhā vuṭṭhaheyyā’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, ahampi byādhidhammo, byādhiṁ anatīto’ti?
‘Tvañca, deva, mayañcamha sabbe byādhidhammā, byādhiṁ anatītā’ti.
‘Tena hi, samma sārathi, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā, itova antepuraṁ paccaniyyāhī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā tatova antepuraṁ paccaniyyāsi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro antepuraṁ gato dukkhī dummano pajjhāyati: ‘dhiratthu kira, bho, jāti nāma, yatra hi nāma jātassa jarā paññāyissati, byādhi paññāyissatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā sārathiṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha, kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti?
‘Na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha, na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, addasa kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto’ti? ‘Addasā kho, deva, kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto purisaṁ ābādhikaṁ dukkhitaṁ bāḷhagilānaṁ sake muttakarīse palipannaṁ semānaṁ aññehi vuṭṭhāpiyamānaṁ aññehi saṁvesiyamānaṁ. Disvā maṁ etadavoca:
Then, after many thousand years had passed, Prince Vipassī had his charioteer drive him to the park once more.
Along the way he saw a man who was sick, suffering, gravely ill, collapsed in his own urine and feces, being picked up by some and put down by others. He addressed his charioteer, ‘My dear charioteer, what has that man done? For his eyes and his voice are unlike those of other men.’
‘That, Your Majesty, is called a sick man.’
‘But why is he called a sick man?’
‘He’s called a sick man; hopefully he will recover from that illness.’
‘But my dear charioteer, am I liable to fall sick? Am I not exempt from sickness?’
‘Everyone is liable to fall sick, Your Majesty, including you. No one is exempt from sickness.’
‘Well then, my dear charioteer, that’s enough of the park for today. Let’s return to the royal compound.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer and did so.
Back at the royal compound, the prince brooded, miserable and sad: ‘Curse this thing called rebirth, since old age and sickness will come to anyone who’s born.’
Then King Bandhumā summoned the charioteer and said, ‘My dear charioteer, I hope the prince enjoyed himself at the park? I hope he was happy there?’
‘No, Your Majesty, the prince didn’t enjoy himself at the park.’
‘But what did he see on the way to the park?’ And the charioteer told the king about seeing the sick man and the prince’s reaction.
52. “Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức vua Bandhumā đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Mong rằng hoàng tử Vipassī sẽ không phải là không trị vì vương quốc! Mong rằng hoàng tử Vipassī sẽ không từ bỏ gia đình để sống không gia đình! Mong rằng lời nói của các vị Bà-la-môn tướng số sẽ không trở thành sự thật!’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức vua Bandhumā đã cho sắp đặt thêm nhiều hơn nữa năm loại dục lạc cho hoàng tử Vipassī, với ý định: ‘Để hoàng tử Vipassī sẽ trị vì vương quốc, để hoàng tử Vipassī sẽ không từ bỏ gia đình để sống không gia đình, để lời nói của các vị Bà-la-môn tướng số sẽ trở thành sai sự thật.’”
7. Kālaṅkatapurisa
Atha kho, bhikkhave, bandhumassa rañño etadahosi: ‘mā heva kho vipassī kumāro na rajjaṁ kāresi, mā heva vipassī kumāro agārasmā anagāriyaṁ pabbaji, mā heva nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ saccaṁ assa vacanan’ti. Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassissa kumārassa bhiyyoso mattāya pañca kāmaguṇāni upaṭṭhāpesi: ‘yathā vipassī kumāro rajjaṁ kareyya, yathā vipassī kumāro na agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyya, yathā nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ micchā assa vacanan’ti. Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bahūnaṁ vassānaṁ …pe…
Addasā kho, bhikkhave, vipassī kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto mahājanakāyaṁ sannipatitaṁ nānārattānañca dussānaṁ vilātaṁ kayiramānaṁ. Disvā sārathiṁ āmantesi: ‘kiṁ nu kho so, samma sārathi, mahājanakāyo sannipatito nānārattānañca dussānaṁ vilātaṁ kayiratī’ti?
‘Eso kho, deva, kālaṅkato nāmā’ti.
‘Tena hi, samma sārathi, yena so kālaṅkato tena rathaṁ pesehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā yena so kālaṅkato tena rathaṁ pesesi.
Addasā kho, bhikkhave, vipassī kumāro petaṁ kālaṅkataṁ, disvā sārathiṁ āmantesi: ‘kiṁ panāyaṁ, samma sārathi, kālaṅkato nāmā’ti?
‘Eso kho, deva, kālaṅkato nāma. Na dāni taṁ dakkhanti mātā vā pitā vā aññe vā ñātisālohitā, sopi na dakkhissati mātaraṁ vā pitaraṁ vā aññe vā ñātisālohite’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, ahampi maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto; mampi na dakkhanti devo vā devī vā aññe vā ñātisālohitā; ahampi na dakkhissāmi devaṁ vā deviṁ vā aññe vā ñātisālohite’ti?
‘Tvañca, deva, mayañcamha sabbe maraṇadhammā maraṇaṁ anatītā; tampi na dakkhanti devo vā devī vā aññe vā ñātisālohitā; tvampi na dakkhissasi devaṁ vā deviṁ vā aññe vā ñātisālohite’ti.
‘Tena hi, samma sārathi, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā, itova antepuraṁ paccaniyyāhī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā tatova antepuraṁ paccaniyyāsi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī kumāro antepuraṁ gato dukkhī dummano pajjhāyati: ‘dhiratthu kira, bho, jāti nāma, yatra hi nāma jātassa jarā paññāyissati, byādhi paññāyissati, maraṇaṁ paññāyissatī’ti.
7. The Dead Man
Then King Bandhumā thought, ‘Prince Vipassī must not renounce the throne. He must not go forth from the lay life to homelessness. And the words of the brahmin soothsayers must not come true.’ To this end he provided the prince with even more of the five kinds of sensual stimulation, with which the prince amused himself.
Then, after many thousand years had passed, Prince Vipassī had his charioteer drive him to the park once more.
Along the way he saw a large crowd gathered making a bier out of garments of different colors. He addressed his charioteer, ‘My dear charioteer, why is that crowd making a bier?’
‘That, Your Majesty, is for someone who’s departed.’
‘Well then, drive the chariot up to the departed.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer, and did so.
When the prince saw the corpse of the departed, he addressed the charioteer, ‘But why is he called departed?’
‘He’s called departed because now his mother and father, his relatives and kin shall see him no more, and he shall never again see them.’
‘But my dear charioteer, am I liable to die? Am I not exempt from death? Will the king and queen and my other relatives and kin see me no more? And shall I never again see them?’
‘Everyone is liable to die, Your Majesty, including you. No one is exempt from death. The king and queen and your other relatives and kin shall see you no more, and you shall never again see them.’
‘Well then, my dear charioteer, that’s enough of the park for today. Let’s return to the royal compound.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer and did so.
Back at the royal compound, the prince brooded, miserable and sad: ‘Curse this thing called rebirth, since old age, sickness, and death will come to anyone who’s born.’
50. Này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī, khi đi ra khu vườn ngự uyển, đã thấy một đám đông dân chúng tụ tập và một chiếc kiệu được làm bằng các loại vải nhiều màu sắc khác nhau. Sau khi thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe hiền lành, tại sao đám đông dân chúng kia lại tụ tập và làm một chiếc kiệu bằng các loại vải nhiều màu sắc khác nhau vậy?’ – ‘Tâu Điện hạ, đó là người được gọi là đã chết.’ – ‘Vậy thì, này người đánh xe hiền lành, hãy đánh xe đến chỗ người đã chết ấy.’ – Này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lời vương tử Vipassī rằng: ‘Vâng, thưa Điện hạ,’ rồi đánh xe đến chỗ người đã chết ấy. Này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī đã thấy người quá vãng, người đã chết. Sau khi thấy vậy, ngài hỏi người đánh xe: ‘Này người đánh xe hiền lành, người được gọi là đã chết này là sao?’ – ‘Tâu Điện hạ, đây là người được gọi là đã chết. Bây giờ, mẹ hoặc cha, hoặc những bà con huyết thống khác sẽ không còn thấy người ấy nữa, và người ấy cũng sẽ không còn thấy mẹ hoặc cha, hoặc những bà con huyết thống khác nữa.’ – ‘Này người đánh xe hiền lành, có phải ta cũng có bản chất phải chết, không vượt qua được cái chết chăng? Có phải đức vua, hoàng hậu, và những bà con huyết thống khác sẽ không còn thấy ta nữa chăng? Và có phải ta cũng sẽ không còn thấy đức vua, hoàng hậu, và những bà con huyết thống khác nữa chăng?’ – ‘Tâu Điện hạ, ngài và hạ thần, tất cả chúng ta đều có bản chất phải chết, không vượt qua được cái chết. Đức vua, hoàng hậu, và những bà con huyết thống khác cũng sẽ không còn thấy ngài nữa; và ngài cũng sẽ không còn thấy đức vua, hoàng hậu, và những bà con huyết thống khác nữa.’ – ‘Vậy thì, này người đánh xe hiền lành, hôm nay đủ rồi, không cần đến khu vườn ngự uyển nữa. Hãy quay trở về nội cung ngay từ đây.’ – Này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lời vương tử Vipassī rằng: ‘Vâng, thưa Điện hạ,’ rồi đã quay trở về nội cung ngay từ đó. Này các Tỳ khưu, ở nơi ấy, vương tử Vipassī, sau khi vào nội cung, đã đau khổ, ưu phiền, và suy tư rằng: ‘Thật đáng khinh thay, này các bạn, cái gọi là sự sanh! Vì rằng đối với người đã được sanh ra, sự già sẽ được biết đến, bệnh tật sẽ được biết đến, cái chết sẽ được biết đến.’
Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā sārathiṁ āmantāpetvā etadavoca: ‘kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha, kacci, samma sārathi, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti?
‘Na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā abhiramittha, na kho, deva, kumāro uyyānabhūmiyā attamano ahosī’ti.
‘Kiṁ pana, samma sārathi, addasa kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto’ti? ‘Addasā kho, deva, kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto mahājanakāyaṁ sannipatitaṁ nānārattānañca dussānaṁ vilātaṁ kayiramānaṁ. Disvā maṁ etadavoca: “kiṁ nu kho so, samma sārathi, mahājanakāyo sannipatito nānārattānañca dussānaṁ vilātaṁ kayiratī”ti? “Eso kho, deva, kālaṅkato nāmā”ti. “Tena hi, samma sārathi, yena so kālaṅkato tena rathaṁ pesehī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho ahaṁ, deva, vipassissa kumārassa paṭissutvā yena so kālaṅkato tena rathaṁ pesesiṁ. Addasā kho, deva, kumāro petaṁ kālaṅkataṁ, disvā maṁ etadavoca: “kiṁ panāyaṁ, samma sārathi, kālaṅkato nāmā”ti? “Eso kho, deva, kālaṅkato nāma. Na dāni taṁ dakkhanti mātā vā pitā vā aññe vā ñātisālohitā, sopi na dakkhissati mātaraṁ vā pitaraṁ vā aññe vā ñātisālohite”ti. “Kiṁ pana, samma sārathi, ahampi maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto; mampi na dakkhanti devo vā devī vā aññe vā ñātisālohitā; ahampi na dakkhissāmi devaṁ vā deviṁ vā aññe vā ñātisālohite”ti? “Tvañca, deva, mayañcamha sabbe maraṇadhammā maraṇaṁ anatītā; tampi na dakkhanti devo vā devī vā aññe vā ñātisālohitā, tvampi na dakkhissasi devaṁ vā deviṁ vā aññe vā ñātisālohite”ti. “Tena hi, samma sārathi, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā, itova antepuraṁ paccaniyyāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho ahaṁ, deva, vipassissa kumārassa paṭissutvā tatova antepuraṁ paccaniyyāsiṁ. So kho, deva, kumāro antepuraṁ gato dukkhī dummano pajjhāyati: “dhiratthu kira, bho, jāti nāma, yatra hi nāma jātassa jarā paññāyissati, byādhi paññāyissati, maraṇaṁ paññāyissatī”’ti.
8. Pabbajita
Atha kho, bhikkhave, bandhumassa rañño etadahosi: ‘mā heva kho vipassī kumāro na rajjaṁ kāresi, mā heva vipassī kumāro agārasmā anagāriyaṁ pabbaji, mā heva nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ saccaṁ assa vacanan’ti. Atha kho, bhikkhave, bandhumā rājā vipassissa kumārassa bhiyyoso mattāya pañca kāmaguṇāni upaṭṭhāpesi: ‘yathā vipassī kumāro rajjaṁ kareyya, yathā vipassī kumāro na agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyya, yathā nemittānaṁ brāhmaṇānaṁ micchā assa vacanan’ti.
Then King Bandhumā summoned the charioteer and said, ‘My dear charioteer, I hope the prince enjoyed himself at the park? I hope he was happy there?’
‘No, Your Majesty, the prince didn’t enjoy himself at the park.’
‘But what did he see on the way to the park?’ And the charioteer told the king about seeing the dead man and the prince’s reaction.
8. The Renunciate
Then King Bandhumā thought, ‘Prince Vipassī must not renounce the throne. He must not go forth from the lay life to homelessness. And the words of the brahmin soothsayers must not come true.’ To this end he provided the prince with even more of the five kinds of sensual stimulation,
51. “Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức vua Bandhumā cho gọi người đánh xe đến và nói rằng: ‘Này người đánh xe, có phải hoàng tử đã vui thích ở khu vườn ngự uyển không? Này người đánh xe, có phải hoàng tử đã hoan hỷ ở khu vườn ngự uyển không?’ ‘Tâu Đại vương, hoàng tử đã không vui thích ở khu vườn ngự uyển. Tâu Đại vương, hoàng tử đã không hoan hỷ ở khu vườn ngự uyển.’ ‘Này người đánh xe, vậy hoàng tử đã thấy gì khi đi ra khu vườn ngự uyển?’ ‘Tâu Đại vương, khi đi ra khu vườn ngự uyển, hoàng tử đã thấy một đám đông dân chúng tụ tập và một chiếc kiệu được làm bằng những tấm vải nhiều màu sắc khác nhau đang được khiêng đi. Sau khi thấy vậy, ngài đã hỏi thần rằng: “Này người đánh xe, tại sao đám đông dân chúng kia lại tụ tập và tại sao chiếc kiệu làm bằng những tấm vải nhiều màu sắc khác nhau lại được khiêng đi như vậy?” “Tâu Điện hạ, đó là người đã qua đời.” “Vậy thì, này người đánh xe, hãy đánh xe đến nơi có người đã qua đời ấy.” Tâu Đại vương, thần đã vâng lệnh hoàng tử Vipassī rằng: “Vâng, tâu Điện hạ,” rồi đã đánh xe đến nơi có người đã qua đời ấy. Tâu Đại vương, hoàng tử đã thấy người chết, người đã qua đời. Sau khi thấy vậy, ngài đã hỏi thần rằng: “Này người đánh xe, người đã qua đời này là sao?” “Tâu Điện hạ, đó là người đã qua đời. Giờ đây, mẹ hoặc cha, hoặc những bà con huyết thống khác sẽ không còn thấy người ấy nữa, và người ấy cũng sẽ không còn thấy mẹ hoặc cha, hoặc những bà con huyết thống khác nữa.” “Này người đánh xe, vậy ta cũng có sanh pháp phải chết, không vượt qua được cái chết hay sao? Phụ vương, mẫu hậu, và những bà con huyết thống khác cũng sẽ không còn thấy ta nữa hay sao? Và ta cũng sẽ không còn thấy phụ vương, mẫu hậu, và những bà con huyết thống khác nữa hay sao?” “Tâu Điện hạ, ngài và cả thần, tất cả chúng ta đều có sanh pháp phải chết, không vượt qua được cái chết. Phụ vương, mẫu hậu, và những bà con huyết thống khác cũng sẽ không còn thấy ngài nữa, và ngài cũng sẽ không còn thấy phụ vương, mẫu hậu, và những bà con huyết thống khác nữa.” “Vậy thì, này người đánh xe, hôm nay đủ rồi, không cần đến khu vườn ngự uyển nữa. Hãy quay xe trở về nội cung ngay từ đây.” Tâu Đại vương, thần đã vâng lệnh hoàng tử Vipassī rằng: “Vâng, tâu Điện hạ,” rồi đã quay xe trở về nội cung ngay từ đó. Tâu Đại vương, sau khi về đến nội cung, hoàng tử đã đau khổ, ưu phiền, và suy tư rằng: ‘Thật đáng ghê tởm thay, này các bạn, cái gọi là sự sanh! Vì rằng, đối với người đã sanh, sự già sẽ được biết đến, bệnh tật sẽ được biết đến, sự chết sẽ được biết đến.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bahūnaṁ vassānaṁ bahūnaṁ vassasatānaṁ bahūnaṁ vassasahassānaṁ accayena sārathiṁ āmantesi: ‘yojehi, samma sārathi, bhaddāni bhaddāni yānāni, uyyānabhūmiṁ gacchāma subhūmidassanāyā’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā bhaddāni bhaddāni yānāni yojetvā vipassissa kumārassa paṭivedesi: ‘yuttāni kho te, deva, bhaddāni bhaddāni yānāni, yassadāni kālaṁ maññasī’ti. Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi uyyānabhūmiṁ niyyāsi.
Then, after many thousand years had passed, Prince Vipassī had his charioteer drive him to the park once more.
“Này các Tỳ khưu, khi ấy, hoàng tử Vipassī được cung phụng, được hầu hạ, và hưởng thụ năm loại dục lạc. Này các Tỳ khưu, sau khi nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm đã trôi qua, hoàng tử Vipassī gọi người đánh xe và nói: ‘Này người đánh xe, hãy thắng những cỗ xe tốt đẹp. Chúng ta sẽ đến khu vườn ngự uyển để ngắm cảnh đẹp.’ Này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lệnh hoàng tử Vipassī rằng: ‘Vâng, tâu Điện hạ,’ rồi cho thắng những cỗ xe tốt đẹp và báo lại cho hoàng tử Vipassī: ‘Tâu Điện hạ, những cỗ xe tốt đẹp đã được thắng sẵn cho ngài. Bây giờ là thời điểm mà ngài cho là thích hợp.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, hoàng tử Vipassī lên một cỗ xe tốt đẹp và cùng với những cỗ xe tốt đẹp khác đi ra khu vườn ngự uyển.”
Addasā kho, bhikkhave, vipassī kumāro uyyānabhūmiṁ niyyanto purisaṁ bhaṇḍuṁ pabbajitaṁ kāsāyavasanaṁ. Disvā sārathiṁ āmantesi: ‘ayaṁ pana, samma sārathi, puriso kiṅkato? Sīsampissa na yathā aññesaṁ, vatthānipissa na yathā aññesan’ti?
‘Eso kho, deva, pabbajito nāmā’ti.
‘Kiṁ paneso, samma sārathi, pabbajito nāmā’ti?
‘Eso kho, deva, pabbajito nāma sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā sādhu kusalakiriyā sādhu puññakiriyā sādhu avihiṁsā sādhu bhūtānukampā’ti.
‘Sādhu kho so, samma sārathi, pabbajito nāma, sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā sādhu kusalakiriyā sādhu puññakiriyā sādhu avihiṁsā sādhu bhūtānukampā. Tena hi, samma sārathi, yena so pabbajito tena rathaṁ pesehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā yena so pabbajito tena rathaṁ pesesi.
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro taṁ pabbajitaṁ etadavoca: ‘tvaṁ pana, samma, kiṅkato, sīsampi te na yathā aññesaṁ, vatthānipi te na yathā aññesan’ti?
‘Ahaṁ kho, deva, pabbajito nāmā’ti.
‘Kiṁ pana tvaṁ, samma, pabbajito nāmā’ti?
‘Ahaṁ kho, deva, pabbajito nāma, sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā sādhu kusalakiriyā sādhu puññakiriyā sādhu avihiṁsā sādhu bhūtānukampā’ti.
‘Sādhu kho tvaṁ, samma, pabbajito nāma sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā sādhu kusalakiriyā sādhu puññakiriyā sādhu avihiṁsā sādhu bhūtānukampā’ti.
Along the way he saw a man, a renunciate with shaven head, wearing an ocher robe. He addressed his charioteer, ‘My dear charioteer, what has that man done? For his head and his clothes are unlike those of other men.’
‘That, Your Majesty, is called a renunciate.’
‘But why is he called a renunciate?’
‘He is called a renunciate because he celebrates principled and fair conduct, skillful actions, good deeds, harmlessness, and sympathy for living creatures.’
‘Then I celebrate the one called a renunciate, who celebrates principled and fair conduct, skillful actions, good deeds, harmlessness, and sympathy for living creatures! Well then, drive the chariot up to that renunciate.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer, and did so.
Then Prince Vipassī said to that renunciate, ‘My dear, what have you done? For your head and your clothes are unlike those of other men.’
‘Your Majesty, I am what is called a renunciate.’
‘But why are you called a renunciate?’
‘I am called a renunciate because I celebrate principled and fair conduct, skillful actions, good deeds, harmlessness, and sympathy for living creatures.’
‘Then I celebrate the one called a renunciate, who celebrates principled and fair conduct, skillful actions, good deeds, harmlessness, and sympathy for living creatures!’
53. Này các Tỳ khưu, trong khi đi đến khu vườn ngự uyển, vương tử Vipassī đã nhìn thấy một người đàn ông đầu trọc, là một vị xuất gia, mặc y cà sa. Sau khi nhìn thấy, ngài gọi người đánh xe và hỏi: ‘Này bạn đánh xe, người đàn ông này là người thế nào vậy? Đầu của ông ta cũng không giống như của những người khác, y phục của ông ta cũng không giống như của những người khác.’ – ‘Tâu điện hạ, vị này được gọi là người xuất gia.’ – ‘Này bạn đánh xe, người xuất gia này là thế nào?’ – ‘Tâu điện hạ, người được gọi là xuất gia này (cho rằng): thực hành đúng Chánh pháp là tốt lành, thực hành hòa ái là tốt lành, hành vi thiện xảo là tốt lành, hành vi phước thiện là tốt lành, không làm hại là tốt lành, có lòng thương tưởng đến chúng sanh là tốt lành.’ – ‘Này bạn đánh xe, người được gọi là xuất gia ấy thật tốt lành, thực hành đúng Chánh pháp là tốt lành, thực hành hòa ái là tốt lành, hành vi thiện xảo là tốt lành, hành vi phước thiện là tốt lành, không làm hại là tốt lành, có lòng thương tưởng đến chúng sanh là tốt lành. Này bạn đánh xe, vậy thì hãy đánh xe đến chỗ vị xuất gia ấy.’ Này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lời vương tử Vipassī: ‘Vâng, tâu điện hạ,’ rồi đã đánh xe đến chỗ vị xuất gia ấy. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī đã nói với vị xuất gia ấy điều này: ‘Này bạn, bạn là người thế nào vậy, đầu của bạn cũng không giống như của những người khác, y phục của bạn cũng không giống như của những người khác?’ – ‘Tâu điện hạ, tôi được gọi là người xuất gia.’ – ‘Này bạn, bạn là người xuất gia như thế nào?’ – ‘Tâu điện hạ, tôi là người được gọi là xuất gia, (cho rằng): thực hành đúng Chánh pháp là tốt lành, thực hành hòa ái là tốt lành, hành vi thiện xảo là tốt lành, hành vi phước thiện là tốt lành, không làm hại là tốt lành, có lòng thương tưởng đến chúng sanh là tốt lành.’ – ‘Này bạn, bạn là người được gọi là xuất gia thật tốt lành, thực hành đúng Chánh pháp là tốt lành, thực hành hòa ái là tốt lành, hành vi thiện xảo là tốt lành, hành vi phước thiện là tốt lành, không làm hại là tốt lành, có lòng thương tưởng đến chúng sanh là tốt lành.’
9. Bodhisattapabbajjā
9. The Going Forth
Sự Xuất Gia Của Vị Bồ Tát
Atha kho, bhikkhave, vipassī kumāro sārathiṁ āmantesi: ‘tena hi, samma sārathi, rathaṁ ādāya itova antepuraṁ paccaniyyāhi. Ahaṁ pana idheva kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, sārathi vipassissa kumārassa paṭissutvā rathaṁ ādāya tatova antepuraṁ paccaniyyāsi.
Vipassī pana kumāro tattheva kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbaji.
Then the prince addressed the charioteer, ‘Well then, my dear charioteer, take the chariot and return to the royal compound. I shall shave off my hair and beard right here, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’
‘Yes, Your Majesty,’ replied the charioteer and did so.
Then Prince Vipassī shaved off his hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
54. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, vương tử Vipassī gọi người đánh xe và nói: ‘Này bạn đánh xe, vậy thì hãy lấy xe và từ đây quay trở về nội cung. Còn ta, ngay tại đây, ta sẽ cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.’ Này các Tỳ khưu, người đánh xe đã vâng lời vương tử Vipassī: ‘Vâng, tâu điện hạ,’ rồi đã lấy xe và từ đó quay trở về nội cung. Còn vương tử Vipassī, ngay tại nơi ấy, ngài đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.
10. Mahājanakāyaanupabbajjā
10. A Great Crowd Goes Forth
Đại Chúng Xuất Gia Theo
Assosi kho, bhikkhave, bandhumatiyā rājadhāniyā mahājanakāyo caturāsītipāṇasahassāni: ‘vipassī kira kumāro kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito’ti. Sutvāna tesaṁ etadahosi: ‘na hi nūna so orako dhammavinayo, na sā orakā pabbajjā, yattha vipassī kumāro kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Vipassīpi nāma kumāro kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissati, kimaṅgaṁ pana mayan’ti.
A large crowd of 84,000 people in the capital of Bandhumatī heard that Vipassī had gone forth. It occurred to them, ‘This must be no ordinary teaching and training, no ordinary going forth in which Prince Vipassī has gone forth. If even the prince goes forth, why don’t we do the same?’
55. Này các Tỳ khưu, tại kinh thành Bandhumatī, một đại chúng gồm tám mươi bốn ngàn người đã nghe rằng: ‘Vương tử Vipassī được cho là đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.’ Sau khi nghe, họ đã nghĩ như sau: ‘Chắc chắn Pháp và Luật ấy không phải là thấp kém, sự xuất gia ấy không phải là thấp kém, nơi mà vương tử Vipassī đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình. Ngay cả vương tử Vipassī còn cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình, huống nữa là chúng ta.’
Atha kho, so bhikkhave, mahājanakāyo caturāsītipāṇasahassāni kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā vipassiṁ bodhisattaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajitaṁ anupabbajiṁsu. Tāya sudaṁ, bhikkhave, parisāya parivuto vipassī bodhisatto gāmanigamajanapadarājadhānīsu cārikaṁ carati.
Then that great crowd of 84,000 people shaved off their hair and beard, dressed in ocher robes, and followed the one intent on awakening, Vipassī, by going forth from the lay life to homelessness. Escorted by that assembly, Vipassī wandered on tour among the villages, towns, and capital cities.
Bấy giờ, này các Tỳ khưu, đại chúng gồm tám mươi bốn ngàn người ấy đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, và đã xuất gia theo vị Bồ tát Vipassī, người đã từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình. Này các Tỳ khưu, được hội chúng ấy vây quanh, vị Bồ tát Vipassī du hành qua các làng mạc, thị trấn, các xứ và kinh thành.
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ ākiṇṇo viharāmi, yannūnāhaṁ eko gaṇamhā vūpakaṭṭho vihareyyan’ti. Atha kho, bhikkhave, vipassī bodhisatto aparena samayena eko gaṇamhā vūpakaṭṭho vihāsi, aññeneva tāni caturāsītipabbajitasahassāni agamaṁsu, aññena maggena vipassī bodhisatto.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, ‘It’s not appropriate for me to live in a crowd. Why don’t I live alone, withdrawn from the group?’ After some time he withdrew from the group to live alone. The 84,000 went one way, but Vipassī went another.
56. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, khi vị Bồ tát Vipassī ở nơi hẻo lánh, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm ngài: ‘Việc ta sống chung đụng với đám đông này không thích hợp. Hay là ta nên sống một mình, tách khỏi hội chúng.’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, vào một thời gian sau, vị Bồ tát Vipassī đã sống một mình, tách khỏi hội chúng. Tám mươi bốn ngàn vị xuất gia ấy đã đi một đường khác, và vị Bồ tát Vipassī đã đi một đường khác.
11. Bodhisattaabhinivesa
11. Vipassī’s Reflections
Sự Chuyên Tâm Của Vị Bồ Tát
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa vāsūpagatassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘kicchaṁ vatāyaṁ loko āpanno, jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca, atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṁ nappajānāti jarāmaraṇassa, kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṁ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti?
Then as Vipassī, the one intent on awakening, was in private retreat in his dwelling, this thought came to his mind, ‘Alas, this world has fallen into trouble. It’s born, grows old, dies, passes away, and is reborn, yet it doesn’t understand how to escape from this suffering, from old age and death. Oh, when will an escape be found from this suffering, from old age and death?’
57. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, khi vị Bồ tát Vipassī đang an cư, ở nơi hẻo lánh, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm ngài: ‘Thế gian này thật đã rơi vào cảnh khốn khổ, vừa phải sanh, vừa phải già, vừa phải chết, vừa phải hoại diệt, vừa phải tái sanh. Thế mà lại không biết được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết. Đến bao giờ mới có thể biết được lối thoát khỏi khổ đau này, khỏi sự già và chết?’
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there old age and death? What is a requirement for old age and death?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When rebirth exists there’s old age and death. Rebirth is a requirement for old age and death.’
Bấy giờ, này các Tỳ khưu, vị Bồ tát Vipassī đã suy nghĩ như sau: ‘Khi có cái gì, thì có già và chết? Do duyên gì mà có già và chết?’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, nhờ sự tác ý như lý, sự thấu hiểu bằng trí tuệ đã khởi lên cho vị Bồ tát Vipassī: ‘Khi có sanh, thì có già và chết; do duyên sanh mà có già và chết.’
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati jāti hoti, kiṁpaccayā jātī’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘bhave kho sati jāti hoti, bhavapaccayā jātī’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there rebirth? What is a requirement for rebirth?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When continued existence exists there’s rebirth. Continued existence is a requirement for rebirth.’
Bấy giờ, này các Tỳ khưu, vị Bồ tát Vipassī đã suy nghĩ như sau: ‘Khi có cái gì, thì có sanh? Do duyên gì mà có sanh?’ Bấy giờ, này các Tỳ khưu, nhờ sự tác ý như lý, sự thấu hiểu bằng trí tuệ đã khởi lên cho vị Bồ tát Vipassī: ‘Khi có hữu, thì có sanh; do duyên hữu mà có sanh.’
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati bhavo hoti, kiṁpaccayā bhavo’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘upādāne kho sati bhavo hoti, upādānapaccayā bhavo’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there continued existence? What is a requirement for continued existence?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When grasping exists there’s continued existence. Grasping is a requirement for continued existence.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, hữu hiện hữu? Do duyên gì, hữu hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có thủ, hữu hiện hữu; do duyên thủ, hữu hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati upādānaṁ hoti, kiṁpaccayā upādānan’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘taṇhāya kho sati upādānaṁ hoti, taṇhāpaccayā upādānan’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there grasping? What is a requirement for grasping?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When craving exists there’s grasping. Craving is a requirement for grasping.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, thủ hiện hữu? Do duyên gì, thủ hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có ái, thủ hiện hữu; do duyên ái, thủ hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati taṇhā hoti, kiṁpaccayā taṇhā’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘vedanāya kho sati taṇhā hoti, vedanāpaccayā taṇhā’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there craving? What is a requirement for craving?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When feeling exists there’s craving. Feeling is a requirement for craving.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, ái hiện hữu? Do duyên gì, ái hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có thọ, ái hiện hữu; do duyên thọ, ái hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati vedanā hoti, kiṁpaccayā vedanā’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘phasse kho sati vedanā hoti, phassapaccayā vedanā’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there feeling? What is a requirement for feeling?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When contact exists there’s feeling. Contact is a requirement for feeling.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, thọ hiện hữu? Do duyên gì, thọ hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có xúc, thọ hiện hữu; do duyên xúc, thọ hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati phasso hoti, kiṁpaccayā phasso’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘saḷāyatane kho sati phasso hoti, saḷāyatanapaccayā phasso’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there contact? What is a requirement for contact?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When the six sense fields exist there’s contact. The six sense fields are requirements for contact.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, xúc hiện hữu? Do duyên gì, xúc hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có sáu xứ, xúc hiện hữu; do duyên sáu xứ, xúc hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati saḷāyatanaṁ hoti, kiṁpaccayā saḷāyatanan’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘nāmarūpe kho sati saḷāyatanaṁ hoti, nāmarūpapaccayā saḷāyatanan’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists are there the six sense fields? What is a requirement for the six sense fields?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When name and form exist there are the six sense fields. Name and form are requirements for the six sense fields.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, sáu xứ hiện hữu? Do duyên gì, sáu xứ hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có danh-sắc, sáu xứ hiện hữu; do duyên danh-sắc, sáu xứ hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati nāmarūpaṁ hoti, kiṁpaccayā nāmarūpan’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘viññāṇe kho sati nāmarūpaṁ hoti, viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists are there name and form? What is a requirement for name and form?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When consciousness exists there are name and form. Consciousness is a requirement for name and form.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, danh-sắc hiện hữu? Do duyên gì, danh-sắc hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có thức, danh-sắc hiện hữu; do duyên thức, danh-sắc hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho sati viññāṇaṁ hoti, kiṁpaccayā viññāṇan’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘nāmarūpe kho sati viññāṇaṁ hoti, nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what exists is there consciousness? What is a requirement for consciousness?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When name and form exist there’s consciousness. Name and form are requirements for consciousness.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi có cái gì, thức hiện hữu? Do duyên gì, thức hiện hữu?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi có danh-sắc, thức hiện hữu; do duyên danh-sắc, thức hiện hữu.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘paccudāvattati kho idaṁ viññāṇaṁ nāmarūpamhā, nāparaṁ gacchati. Ettāvatā jāyetha vā jiyyetha vā miyyetha vā cavetha vā upapajjetha vā, yadidaṁ nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’.
Then Vipassī thought, ‘This consciousness turns back from name and form, and doesn’t go beyond that.’ This is the extent to which one may be reborn, grow old, die, pass away, or reappear. That is: Name and form are requirements for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.’
58. “Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Thức này quay trở lại từ danh-sắc, không đi xa hơn. Chỉ đến chừng ấy mà có sự sinh, sự già, sự chết, sự diệt, sự tái sinh, tức là: do duyên danh-sắc, thức hiện hữu; do duyên thức, danh-sắc hiện hữu; do duyên danh-sắc, sáu xứ hiện hữu; do duyên sáu xứ, xúc hiện hữu; do duyên xúc, thọ hiện hữu; do duyên thọ, ái hiện hữu; do duyên ái, thủ hiện hữu; do duyên thủ, hữu hiện hữu; do duyên hữu, sinh hiện hữu; do duyên sinh, già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.’”
‘Samudayo samudayo’ti kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘Origination, origination.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in Vipassī, the one intent on awakening, regarding teachings not learned before from another.
59. “Này các Tỳ khưu, ‘Tập khởi, tập khởi,’ đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã khởi lên, trí đã khởi lên, tuệ đã khởi lên, minh đã khởi lên, ánh sáng đã khởi lên nơi Bồ tát Vipassī.”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘jātiyā kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no old age and death? When what ceases do old age and death cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When rebirth doesn’t exist there’s no old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease.’
60. “Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi không có cái gì, già-chết không hiện hữu? Do sự diệt của cái gì, già-chết diệt?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi không có sinh, già-chết không hiện hữu; do sinh diệt, già-chết diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati jāti na hoti, kissa nirodhā jātinirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘bhave kho asati jāti na hoti, bhavanirodhā jātinirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no rebirth? When what ceases does rebirth cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When continued existence doesn’t exist there’s no rebirth. When continued existence ceases, rebirth ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi không có cái gì, sinh không hiện hữu? Do sự diệt của cái gì, sinh diệt?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi không có hữu, sinh không hiện hữu; do hữu diệt, sinh diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati bhavo na hoti, kissa nirodhā bhavanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘upādāne kho asati bhavo na hoti, upādānanirodhā bhavanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no continued existence? When what ceases does continued existence cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When grasping doesn’t exist there’s no continued existence. When grasping ceases, continued existence ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi không có cái gì, hữu không hiện hữu? Do sự diệt của cái gì, hữu diệt?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi không có thủ, hữu không hiện hữu; do thủ diệt, hữu diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati upādānaṁ na hoti, kissa nirodhā upādānanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘taṇhāya kho asati upādānaṁ na hoti, taṇhānirodhā upādānanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no grasping? When what ceases does grasping cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When craving doesn’t exist there’s no grasping. When craving ceases, grasping ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ như vầy: ‘Khi không có cái gì, thủ không hiện hữu? Do sự diệt của cái gì, thủ diệt?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ tát Vipassī, nhờ như lý tác ý, đã có sự thấu hiểu bằng trí tuệ rằng: ‘Khi không có ái, thủ không hiện hữu; do ái diệt, thủ diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati taṇhā na hoti, kissa nirodhā taṇhānirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘vedanāya kho asati taṇhā na hoti, vedanānirodhā taṇhānirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no craving? When what ceases does craving cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When feeling doesn’t exist there’s no craving. When feeling ceases, craving ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì ái không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của ái?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi thọ không có thì ái không sanh khởi, do thọ diệt nên ái diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati vedanā na hoti, kissa nirodhā vedanānirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘phasse kho asati vedanā na hoti, phassanirodhā vedanānirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no feeling? When what ceases does feeling cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When contact doesn’t exist there’s no feeling. When contact ceases, feeling ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì thọ không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của thọ?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi xúc không có thì thọ không sanh khởi, do xúc diệt nên thọ diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati phasso na hoti, kissa nirodhā phassanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘saḷāyatane kho asati phasso na hoti, saḷāyatananirodhā phassanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no contact? When what ceases does contact cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When the six sense fields don’t exist there’s no contact. When the six sense fields cease, contact ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì xúc không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của xúc?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi sáu xứ không có thì xúc không sanh khởi, do sáu xứ diệt nên xúc diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati saḷāyatanaṁ na hoti, kissa nirodhā saḷāyatananirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘nāmarūpe kho asati saḷāyatanaṁ na hoti, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist are there no six sense fields? When what ceases do the six sense fields cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When name and form don’t exist there are no six sense fields. When name and form cease, the six sense fields cease.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì sáu xứ không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của sáu xứ?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi danh sắc không có thì sáu xứ không sanh khởi, do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati nāmarūpaṁ na hoti, kissa nirodhā nāmarūpanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘viññāṇe kho asati nāmarūpaṁ na hoti, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist are there no name and form? When what ceases do name and form cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When consciousness doesn’t exist there are no name and form. When consciousness ceases, name and form cease.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì danh sắc không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của danh sắc?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi thức không có thì danh sắc không sanh khởi, do thức diệt nên danh sắc diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘kimhi nu kho asati viññāṇaṁ na hoti, kissa nirodhā viññāṇanirodho’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo: ‘nāmarūpe kho asati viññāṇaṁ na hoti, nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho’ti.
Then Vipassī thought, ‘When what doesn’t exist is there no consciousness? When what ceases does consciousness cease?’ Then, through rational application of mind, Vipassī penetrated with wisdom, ‘When name and form don’t exist there’s no consciousness. When name and form cease, consciousness ceases.’
“Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Khi cái gì không có thì thức không sanh khởi, do sự diệt của cái gì mà có sự diệt của thức?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, do như lý tác ý, Bồ-tát Vipassī đã có sự thấu triệt bằng trí tuệ rằng: ‘Khi danh sắc không có thì thức không sanh khởi, do danh sắc diệt nên thức diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa etadahosi: ‘adhigato kho myāyaṁ maggo sambodhāya yadidaṁ—nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’.
Then Vipassī thought, ‘I have discovered the path to awakening. That is: When name and form cease, consciousness ceases. When consciousness ceases, name and form cease. When name and form cease, the six sense fields cease. When the six sense fields cease, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.’
61. “Này các Tỳ khưu, khi ấy Bồ-tát Vipassī đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Ta đã chứng đắc con đường này để giác ngộ, đó là: do danh sắc diệt nên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt, do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt, do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt nên ái diệt, do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sanh diệt, do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy có sự diệt của toàn bộ khối khổ này.’”
‘Nirodho nirodho’ti kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘Cessation, cessation.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in Vipassī, the one intent on awakening, regarding teachings not learned before from another.
62. “Này các Tỳ khưu, đối với Bồ-tát Vipassī, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi với (sự nhận biết): ‘Diệt, diệt.’”
Atha kho, bhikkhave, vipassī bodhisatto aparena samayena pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī vihāsi: ‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā, iti vedanāya samudayo, iti vedanāya atthaṅgamo; iti saññā, iti saññāya samudayo, iti saññāya atthaṅgamo; iti saṅkhārā, iti saṅkhārānaṁ samudayo, iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo; iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti, tassa pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato na cirasseva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccīti.
After some time he meditated observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ Meditating like this his mind was soon freed from defilements by not grasping.
63. “Này các Tỳ khưu, khi ấy, vào một thời gian sau, Bồ-tát Vipassī đã an trú quán chiếu sự sanh và diệt trong năm thủ uẩn: ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ, đây là sự sanh khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ; đây là tưởng, đây là sự sanh khởi của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng; đây là các hành, đây là sự sanh khởi của các hành, đây là sự đoạn diệt của các hành; đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Trong khi vị ấy an trú quán chiếu sự sanh và diệt trong năm thủ uẩn, không bao lâu sau, tâm của vị ấy, do không còn chấp thủ, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.”
Dutiyabhāṇavāro.
The second recitation section.
Phẩm thứ hai.
12. Brahmayācanakathā
12. The Appeal of the Divinity
Câu chuyện về lời thỉnh cầu của Phạm Thiên
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa etadahosi: ‘yannūnāhaṁ dhammaṁ deseyyan’ti.
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa etadahosi: ‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ idappaccayatāpaṭiccasamuppādo. Idampi kho ṭhānaṁ duddasaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ; so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’ti.
Then it occurred to the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, ‘Why don’t I teach the Dhamma?’
Then he thought, ‘This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. But people like clinging, they love it and enjoy it. It’s hard for them to see this topic; that is, specific conditionality, dependent origination. It’s also hard for them to see this topic; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment. And if I were to teach this principle, others might not understand me, which would be wearying and troublesome for me.’
64. “Này các Tỳ khưu, khi ấy Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Hay là ta nên thuyết Pháp chăng?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lại khởi lên suy nghĩ này: ‘Pháp này do ta chứng ngộ thật sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao thượng, vượt ngoài tầm tư duy, vi tế, chỉ người trí mới có thể biết. Nhưng chúng sanh này lại ưa thích nơi trú ẩn, vui thích nơi trú ẩn, hoan hỷ nơi trú ẩn. Đối với chúng sanh ưa thích nơi trú ẩn, vui thích nơi trú ẩn, hoan hỷ nơi trú ẩn, thật khó thấy xứ này, tức là Y Tánh Duyên Khởi Pháp. Xứ này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu ta thuyết Pháp, mà những người khác không hiểu được, đó sẽ là sự mệt nhọc cho ta, đó sẽ là sự phiền hà cho ta.’”
Apissu, bhikkhave, vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṁsu pubbe assutapubbā:
And then these verses, which were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past, occurred to him:
65. “Hơn nữa, này các Tỳ khưu, những bài kệ kỳ diệu này, chưa từng được nghe trước đây, đã khởi lên trong tâm của Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác:”
‘Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
‘I’ve struggled hard to realize this, there’s no need to reveal it now! Those mired in greed and hate can’t really understand this teaching.
“‘Pháp do ta chứng ngộ một cách khó khăn, nay không nên tuyên thuyết; bởi những kẻ bị tham và sân chi phối, Pháp này không dễ hiểu.’”
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā’ti.
It goes against the stream, subtle, deep, obscure, and very fine. Those besotted by greed cannot see, for they’re cloaked in a mass of darkness.’
“‘(Pháp) đi ngược dòng, vi tế, sâu sắc, khó thấy, vi diệu; những kẻ bị tham ái nhuộm, bị khối u minh che lấp, sẽ không thấy được.’”
Itiha, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya.
So, as the Buddha Vipassī reflected like this, his mind inclined to remaining passive, not to teaching the Dhamma.
“Này các Tỳ-khưu, như thế đó, khi Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang suy xét, tâm của Ngài đã hướng về sự ít nỗ lực (không thuyết pháp), không hướng về việc thuyết Pháp.”
Atha kho, bhikkhave, aññatarassa mahābrahmuno vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya etadahosi: ‘nassati vata bho loko, vinassati vata bho loko, yatra hi nāma vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāyā’ti. Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa purato pāturahosi. Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇaṁ jāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenañjaliṁ paṇāmetvā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ, santi sattā apparajakkhajātikā; assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho taṁ mahābrahmānaṁ etadavoca: ‘mayhampi kho, brahme, etadahosi:
Then, knowing the Buddha Vipassī’s train of thought, it occurred to a certain Great Divinity, ‘Oh lord! The world will be lost, the world will perish! For the mind of the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, inclines to remaining passive, not to teaching the Dhamma.’ Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha Vipassī. He arranged his robe over one shoulder, knelt on his right knee, raised his cupped palms toward the Buddha Vipassī, and said, ‘Sir, let the Blessed One teach the Dhamma! Let the Holy One teach the Dhamma! There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching!’
When he said this, the Buddha Vipassī said to him, ‘I too thought this, Divinity,
66. Này các Tỳ khưu, khi ấy, một vị Đại Phạm Thiên nào đó, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Ôi, thế gian thật sự bị hoại vong! Ôi, thế gian thật sự bị hủy diệt! Bởi vì tâm của đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết Pháp.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị Đại Phạm Thiên ấy, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm Thiên và hiện ra trước mặt đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị Đại Phạm Thiên ấy đắp thượng y vắt qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và bạch với đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lời này: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pháp! Bạch Thiện Thệ, mong Ngài hãy thuyết Pháp! Có những chúng sanh thuộc hạng ít bụi trong mắt; vì không được nghe Pháp nên họ bị hao tổn. Sẽ có những người liễu tri Chánh Pháp.’
68. Này các Tỳ khưu, lần thứ hai, vị Đại Phạm Thiên ấy... Này các Tỳ khưu, lần thứ ba, vị Đại Phạm Thiên ấy đã bạch với đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, lời này: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết Pháp! Bạch Thiện Thệ, mong Ngài hãy thuyết Pháp! Có những chúng sanh thuộc hạng ít bụi trong mắt; vì không được nghe Pháp nên họ bị hao tổn. Sẽ có những người liễu tri Chánh Pháp.’
67. Này các Tỳ khưu, khi được nói vậy, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói với vị Đại Phạm Thiên ấy lời này: ‘Này Phạm Thiên, Ta cũng đã có ý nghĩ này: “Chắc chắn Ta nên thuyết Pháp.” Này Phạm Thiên, rồi Ta lại có ý nghĩ này: “Pháp này do Ta chứng ngộ quả là thâm sâu, khó thấy, khó liễu tri, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới có thể thấu hiểu. Còn chúng sanh này thì ưa thích ái luyến, ham thích ái luyến, vui mừng trong ái luyến. Đối với chúng sanh ưa thích ái luyến, ham thích ái luyến, vui mừng trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Y Tương Đối Duyên Khởi. Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết Pháp mà những người khác không liễu tri được Pháp của Ta, điều ấy sẽ là sự mệt nhọc cho Ta, điều ấy sẽ là sự phiền não cho Ta.” Này Phạm Thiên, hơn nữa, những câu kệ phi thường, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi trong Ta:
“Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
Pháp mà Ta đã chứng ngộ với gian khổ, nay không nên tuyên thuyết; Pháp này không dễ liễu tri bởi những kẻ bị tham và sân chi phối.
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā”ti.
Pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, tế nhị; những kẻ bị tham ái nhuộm đỏ, bị khối u minh che lấp, sẽ không thể thấy được.
Itiha me, brahme, paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave, so mahābrahmā …pe… tatiyampi kho, bhikkhave, so mahābrahmā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ, santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro’ti.
So, as I reflected like this, my mind inclined to remaining passive, not to teaching the Dhamma.’
For a second time … For a third time that Great Divinity begged the Buddha to teach.
Này Phạm Thiên, như vậy, trong khi Ta suy xét, tâm của Ta đã hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết Pháp.
Atha kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho brahmuno ca ajjhesanaṁ viditvā sattesu ca kāruññataṁ paṭicca buddhacakkhunā lokaṁ volokesi. Addasā kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho buddhacakkhunā lokaṁ volokento satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni. Appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni samodakaṁ ṭhitāni. Appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakā accuggamma ṭhitāni anupalittāni udakena.
Evameva kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho buddhacakkhunā lokaṁ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante.
Then, understanding the Divinity’s invitation, the Buddha Vipassī surveyed the world with the eye of a Buddha, out of his compassion for sentient beings. And he saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes; with keen faculties and with weak faculties, with good qualities and with bad qualities, easy to teach and hard to teach. And some of them lived seeing the danger in the fault to do with the next world, while others did not. It’s like a pool with blue water lilies, or pink or white lotuses. Some of them sprout and grow in the water without rising above it, thriving underwater. Some of them sprout and grow in the water reaching the water’s surface. And some of them sprout and grow in the water but rise up above the water and stand with no water clinging to them.
In the same way, the Buddha Vipassī saw sentient beings with little dust in their eyes, and some with much dust in their eyes.
69. Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sau khi biết được lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh, đã dùng Phật nhãn quan sát thế gian. Này các Tỳ khưu, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi dùng Phật nhãn quan sát thế gian, đã thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, có các căn lanh lợi, có các căn đần độn, có thiện tướng, có ác tướng, dễ dạy, khó dạy, có một số sống thấy sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, và có một số không sống thấy sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia. Ví như trong hồ sen xanh, hoặc hồ sen hồng, hoặc hồ sen trắng, có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, chưa vươn khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ngập trong nước. Có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang bằng mặt nước. Có một số hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, đã vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm ô nhiễm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi dùng Phật nhãn quan sát thế gian, đã thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, có các căn lanh lợi, có các căn đần độn, có thiện tướng, có ác tướng, dễ dạy, khó dạy, có một số sống thấy sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, và có một số không sống thấy sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia.
Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then that Great Divinity, knowing the Buddha Vipassī’s train of thought, addressed him in verse:
70. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị Đại Phạm Thiên ấy, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói với đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bằng những câu kệ:
‘Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu;
‘Standing high on a rocky mountain, you can see the people all around. In just the same way, All-seer, so intelligent, having ascended the Temple of Truth,
Ví như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy dân chúng khắp bốn phương; cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, xin hãy lên lầu cao được làm bằng Chánh Pháp.
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī’ti.
Rise, hero! Victor in battle, caravan leader, wander the world free of debt. Let the Blessed One teach the Dhamma! There will be those who understand!’
Ngài là bậc đã thoát khỏi sầu muộn, xin hãy nhìn đến chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, đang bị sanh và già chinh phục. Xin hãy đứng lên, hỡi bậc Anh Hùng, bậc đã chiến thắng cuộc chiến. Hỡi bậc Thương Chủ, bậc Vô Nợ, xin hãy du hành trong thế gian. Bạch Thế Tôn, xin hãy thuyết Pháp, sẽ có những người liễu tri được.
Atha kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho taṁ mahābrahmānaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then the Buddha Vipassī addressed that Great Divinity in verse:
71. Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói với vị Đại Phạm Thiên ấy bằng một bài kệ rằng:
‘Apārutā tesaṁ amatassa dvārā, Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ; Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ, Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme’ti.
‘Flung open are the doors to freedom from death! Let those with ears to hear commit to faith. Thinking it would be troublesome, Divinity, <j>I did not teach the sophisticated, sublime Dhamma among mankind.’
Cánh cửa bất tử đã được mở ra cho những ai có tai lắng nghe, hãy để họ phát khởi niềm tin. Này Phạm Thiên, vì nhận thấy sự mệt nhọc, Ta đã không thuyết giảng giáo pháp cao siêu, thiện xảo cho loài người.
Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā: ‘katāvakāso khomhi vipassinā bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammadesanāyā’ti vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tattheva antaradhāyi.
Then the Great Divinity, knowing that his request for the Buddha Vipassī to teach the Dhamma had been granted, bowed and respectfully circled him, keeping him on his right, before vanishing right there.
Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị Đại Phạm Thiên ấy nghĩ rằng: ‘Ta đã được đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cho phép thuyết pháp,’ rồi đảnh lễ đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, và biến mất ngay tại chỗ ấy.
13. Aggasāvakayuga
13. The Chief Disciples
Cặp Thượng Thủ Thinh Văn
Atha kho, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa etadahosi: ‘kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī’ti? Atha kho, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa etadahosi: ‘ayaṁ kho khaṇḍo ca rājaputto tisso ca purohitaputto bandhumatiyā rājadhāniyā paṭivasanti paṇḍitā viyattā medhāvino dīgharattaṁ apparajakkhajātikā. Yannūnāhaṁ khaṇḍassa ca rājaputtassa, tissassa ca purohitaputtassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, te imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissantī’ti.
Then it occurred to the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, ‘Who should I teach first of all? Who will quickly understand this teaching?’ Then he thought, ‘That Khaṇḍa, the king’s son, and Tissa, the high priest’s son, are astute, competent, intelligent, and have long had little dust in their eyes. Why don’t I teach them first of all? They will quickly understand this teaching.’
72. Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Ta nên thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ liễu tri giáo pháp này một cách nhanh chóng?’ Rồi này các Tỳ khưu, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác lại khởi lên suy nghĩ này: ‘Vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa này đang sống ở kinh thành Bandhumatī, họ là những người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, từ lâu đã là những người ít bụi trong mắt. Ta nên thuyết pháp trước tiên cho vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa. Họ sẽ liễu tri giáo pháp này một cách nhanh chóng.’
Atha kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—bodhirukkhamūle antarahito bandhumatiyā rājadhāniyā kheme migadāye pāturahosi.
Atha kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dāyapālaṁ āmantesi: ‘ehi tvaṁ, samma dāyapāla, bandhumatiṁ rājadhāniṁ pavisitvā khaṇḍañca rājaputtaṁ tissañca purohitaputtaṁ evaṁ vadehi—vipassī, bhante, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bandhumatiṁ rājadhāniṁ anuppatto kheme migadāye viharati, so tumhākaṁ dassanakāmo’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho, bhikkhave, dāyapālo vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭissutvā bandhumatiṁ rājadhāniṁ pavisitvā khaṇḍañca rājaputtaṁ tissañca purohitaputtaṁ etadavoca: ‘vipassī, bhante, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bandhumatiṁ rājadhāniṁ anuppatto kheme migadāye viharati; so tumhākaṁ dassanakāmo’ti.
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the tree of awakening and reappeared near the capital city of Bandhumatī, in the deer park named Sanctuary.
Then the Buddha Vipassī addressed the park keeper, ‘My dear park keeper, please enter the city and say this to the king’s son Khaṇḍa and the high priest’s son Tissa: “Sirs, the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, has arrived at Bandhumatī and is staying in the deer park named Sanctuary. He wishes to see you.”’
‘Yes, sir,’ replied the park keeper, and did as he was asked.
73. Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ví như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hoặc co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, ngài biến mất từ cội cây Bồ-đề và hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khemā gần kinh thành Bandhumatī. Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã gọi người giữ vườn và nói: ‘Này bạn giữ vườn, hãy đến đây. Bạn hãy vào kinh thành Bandhumatī và nói với vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa như sau: ‘Thưa các ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatī và đang trú tại vườn Lộc Uyển Khemā. Ngài muốn gặp các ngài.’ ‘Thưa vâng, bạch ngài,’ này các Tỳ khưu, người giữ vườn đã vâng theo lời của đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi vào kinh thành Bandhumatī và nói với vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa rằng: ‘Thưa các ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatī và đang trú tại vườn Lộc Uyển Khemā; ngài muốn gặp các ngài.’
Atha kho, bhikkhave, khaṇḍo ca rājaputto tisso ca purohitaputto bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi bandhumatiyā rājadhāniyā niyyiṁsu. Yena khemo migadāyo tena pāyiṁsu. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikāva yena vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu. upasaṅkamitvā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Then the king’s son Khaṇḍa and the high priest’s son Tissa had the finest carriages harnessed. Then they mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out from Bandhumatī for the Sanctuary. They went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached the Buddha Vipassī on foot. They bowed and sat down to one side.
74. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, lên một cỗ xe tốt đẹp, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp khác rời khỏi kinh thành Bandhumatī. Họ đi đến vườn Lộc Uyển Khemā. Đi xe đến hết đoạn đường có thể đi xe, họ xuống xe và đi bộ đến nơi đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ngự. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và ngồi xuống một bên.
Tesaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva khaṇḍassa ca rājaputtassa tissassa ca purohitaputtassa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: ‘yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman’ti.
The Buddha Vipassī taught them step by step, with a talk on giving, ethical conduct, and heaven. He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. And when he knew that their minds were ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the king’s son Khaṇḍa and the high priest’s son Tissa: ‘Everything that is liable to arise is liable to cease.’
75. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã thuyết cho họ một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và lợi ích của sự xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của họ đã sẵn sàng, mềm mại, không còn chướng ngại, hân hoan, và trong sáng, ngài đã thuyết giảng bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, đó là: khổ, tập, diệt, đạo. Ví như một tấm vải trong sạch, không còn vết đen, sẽ dễ dàng thấm thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không bụi, không uế đã khởi lên cho vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế sư là Tissa rằng: ‘Bất cứ cái gì có sanh khởi, tất cả cái đó đều có diệt tận.’
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavocuṁ: ‘abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: “cakkhumanto rūpāni dakkhantī”ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca. Labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan’ti.
They saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. They went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. They said to the Buddha Vipassī, ‘Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the Blessed One and to the teaching. Sir, may we receive the going forth and ordination in the Buddha’s presence?’
76. Họ, những người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập vào Pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã hết phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc. Cũng vậy, giáo pháp đã được Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới trong sự hiện diện của Thế Tôn.’
Alatthuṁ kho, bhikkhave, khaṇḍo ca rājaputto, tisso ca purohitaputto vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ alatthuṁ upasampadaṁ. Te vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi; saṅkhārānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nibbāne ānisaṁsaṁ pakāsesi. Tesaṁ vipassinā bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassiyamānānaṁ samādapiyamānānaṁ samuttejiyamānānaṁ sampahaṁsiyamānānaṁ nacirasseva anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu.
14. Mahājanakāyapabbajjā
Assosi kho, bhikkhave, bandhumatiyā rājadhāniyā mahājanakāyo caturāsītipāṇasahassāni: ‘vipassī kira bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bandhumatiṁ rājadhāniṁ anuppatto kheme migadāye viharati.
And they received the going forth, the ordination in the Buddha Vipassī’s presence. Then the Buddha Vipassī educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk. He revealed the drawbacks of conditioned phenomena, so sordid and corrupt, and the benefit of extinguishment. Being taught like this their minds were soon freed from defilements by not grasping.
14. The Going Forth of the Large Crowd
A large crowd of 84,000 people in the capital of Bandhumatī heard that the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, had arrived at Bandhumatī and was staying in the deer park named Sanctuary.
77. Này các Tỳ khưu, vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế tư Tissa đã được xuất gia, đã được thọ cụ túc giới ở gần đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ những vị ấy bằng bài pháp thoại; Ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các pháp hữu vi và về lợi ích của Niết-bàn. Trong khi được đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, không bao lâu sau, tâm của những vị ấy đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.
82. Này các Tỳ khưu, tám mươi bốn ngàn vị xuất gia trước đây đã nghe rằng: ‘Nghe nói, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đi đến kinh thành Bandhumatī, đang trú ở vườn Lộc Uyển Khemā, và nghe nói, Ngài đang thuyết Pháp.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, tám mươi bốn ngàn vị xuất gia ấy đã đi đến kinh thành Bandhumatī, đến vườn Lộc Uyển Khemā, đến nơi đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ở; sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rồi ngồi xuống một bên.
78. Này các Tỳ khưu, đại chúng gồm tám mươi bốn ngàn người ở kinh thành Bandhumatī đã nghe rằng: ‘Nghe nói, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đi đến kinh thành Bandhumatī và đang trú ở vườn Lộc Uyển Khemā. Nghe nói, vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế tư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia ở gần đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.’ Sau khi nghe, họ đã suy nghĩ như sau: ‘Chắc chắn Giáo pháp và Luật ấy không phải là thấp kém, sự xuất gia ấy không phải là thấp kém, nơi mà vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế tư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Nếu vương tử Khaṇḍa và con trai vị tế tư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì tại sao chúng ta lại không chứ?’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, đại chúng gồm tám mươi bốn ngàn người ấy đã đi ra khỏi kinh thành Bandhumatī, đi đến vườn Lộc Uyển Khemā, đến nơi đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang ở; sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rồi ngồi xuống một bên.
Tesaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho anupubbiṁ kathaṁ kathesi. Seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tesaṁ caturāsītipāṇasahassānaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: ‘yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman’ti.
The Buddha Vipassī taught them step by step, with a talk on giving, ethical conduct, and heaven. He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. And when he knew that their minds were ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in those 84,000 people: ‘Everything that is liable to arise is liable to cease.’
79. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã thuyết bài pháp tuần tự cho họ. Tức là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết rằng tâm của họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại, phấn chấn, và trong sạch, khi ấy Ngài đã tuyên thuyết bài pháp cao diệu của chư Phật, tức là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết bẩn, sẽ dễ dàng thấm thuốc nhuộm; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho tám mươi bốn ngàn người ấy rằng: ‘Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái ấy đều có bản chất đoạn diệt.’
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavocuṁ: ‘abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: “cakkhumanto rūpāni dakkhantī”ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ labheyyāma upasampadan’ti.
They saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. They went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. They said to the Buddha Vipassī, ‘Excellent, sir! Excellent!’ And just like Khaṇḍa and Tissa they asked for and received ordination. Then the Buddha taught them further.
80. Họ đã thấy Pháp, đã đạt được Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết do dự, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, và đã bạch với đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hoặc mở ra vật bị che kín, hoặc chỉ đường cho người bị lạc, hoặc cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các hình sắc. Tương tự như thế, Chánh pháp đã được đức Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn Tỳ khưu. Bạch Thế Tôn, mong rằng chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới ở gần đức Thế Tôn.’
Alatthuṁ kho, bhikkhave, tāni caturāsītipāṇasahassāni vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ, alatthuṁ upasampadaṁ. Te vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi; saṅkhārānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nibbāne ānisaṁsaṁ pakāsesi. Tesaṁ vipassinā bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassiyamānānaṁ samādapiyamānānaṁ samuttejiyamānānaṁ sampahaṁsiyamānānaṁ nacirasseva anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu.
Being taught like this their minds were soon freed from defilements by not grasping.
81. Này các Tỳ khưu, tám mươi bốn ngàn người ấy đã được xuất gia, đã được thọ cụ túc giới ở gần đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ những vị ấy bằng bài pháp thoại; Ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các pháp hữu vi và về lợi ích của Niết-bàn. Trong khi được đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, không bao lâu sau, tâm của những vị ấy đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ.
15. Purimapabbajitānaṁ dhammābhisamaya
Assosuṁ kho, bhikkhave, tāni purimāni caturāsītipabbajitasahassāni: ‘vipassī kira bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bandhumatiṁ rājadhāniṁ anuppatto kheme migadāye viharati, dhammañca kira desetī’ti. Atha kho, bhikkhave, tāni caturāsītipabbajitasahassāni yena bandhumatī rājadhānī yena khemo migadāyo yena vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
15. The 84,000 Who Had Gone Forth Previously
The 84,000 people who had gone forth previously also heard: ‘It seems the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, has arrived at Bandhumatī and is staying in the deer park named Sanctuary. And he is teaching the Dhamma!’ Then they too went to the Buddha Vipassī, realized the Dhamma, went forth, and became freed from defilements.
Sự chứng ngộ Chánh pháp của những người xuất gia trước
Tesaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho anupubbiṁ kathaṁ kathesi. Seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tesaṁ caturāsītipabbajitasahassānaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: ‘yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman’ti.
83. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thuyết pháp tuần tự cho họ. Ấy là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp hèn, sự ô uế của các dục, và về lợi ích của sự xuất ly. Khi Đức Thế Tôn biết rằng tâm của họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn triền cái, hân hoan, tịnh tín, bấy giờ Ngài thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình liễu tri, tức là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải thanh tịnh, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã sanh khởi cho tám mươi bốn ngàn vị xuất gia ấy rằng: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.’”
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavocuṁ: ‘abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: “cakkhumanto rūpāni dakkhantī”ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ labheyyāma upasampadan’ti.
84. Họ là những người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã liễu tri Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vô úy, không còn duyên vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác rằng: ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che đậy, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-khưu. Mong rằng chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.’”
Alatthuṁ kho, bhikkhave, tāni caturāsītipabbajitasahassāni vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ alatthuṁ upasampadaṁ. Te vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi; saṅkhārānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nibbāne ānisaṁsaṁ pakāsesi. Tesaṁ vipassinā bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassiyamānānaṁ samādapiyamānānaṁ samuttejiyamānānaṁ sampahaṁsiyamānānaṁ nacirasseva anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu.
85. Này các Tỳ-khưu, tám mươi bốn ngàn vị xuất gia ấy đã được xuất gia, đã được thọ cụ túc giới dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp hèn, sự ô uế của các pháp hữu vi, và về lợi ích của Niết-bàn. Khi họ được Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi, không bao lâu, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
16. Cārikāanujānana
16. The Allowance to Wander
Sự Cho Phép Du Hành
Tena kho pana, bhikkhave, samayena bandhumatiyā rājadhāniyā mahābhikkhusaṅgho paṭivasati aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ. Atha kho, bhikkhave, vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘mahā kho etarahi bhikkhusaṅgho bandhumatiyā rājadhāniyā paṭivasati aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ, yannūnāhaṁ bhikkhū anujāneyyaṁ:
“caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ; mā ekena dve agamittha; desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetha. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro. Api ca channaṁ channaṁ vassānaṁ accayena bandhumatī rājadhānī upasaṅkamitabbā pātimokkhuddesāyā”’ti.
Now at that time a large Saṅgha of 6,800,000 mendicants were residing at Bandhumatī. As the Buddha Vipassī was in private retreat this thought came to his mind, ‘The Saṅgha residing at Bandhumatī now is large. What if I was to urge them:
“Wander forth, mendicants, for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. Let not two go by one road. Teach the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching! But when six years have passed, you must all come to Bandhumatī to recite the monastic code.”’
86. Này các Tỳ-khưu, vào lúc bấy giờ, tại kinh thành Bandhumatī, có một đại chúng Tỳ-khưu gồm một trăm sáu mươi tám ngàn vị đang trú ngụ. Này các Tỳ-khưu, bấy giờ, khi Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang ở nơi thanh vắng, độc cư, ý nghĩ này đã khởi lên trong tâm Ngài: ‘Hiện nay, tại kinh thành Bandhumatī, có một đại chúng Tỳ-khưu gồm một trăm sáu mươi tám ngàn vị đang trú ngụ. Ta nên cho phép các Tỳ-khưu rằng: ‘Này các Tỳ-khưu, hãy du hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Chớ đi hai người trên một con đường. Này các Tỳ-khưu, hãy thuyết giảng Chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; hãy tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Có những chúng sanh có ít bụi trong mắt; vì không được nghe Pháp nên họ bị tổn thất. Sẽ có những người hiểu được Pháp. Và sau mỗi sáu năm, phải trở về kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’”
Atha kho, bhikkhave, aññataro mahābrahmā vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito vipassissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa purato pāturahosi. Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenañjaliṁ paṇāmetvā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Mahā kho, bhante, etarahi bhikkhusaṅgho bandhumatiyā rājadhāniyā paṭivasati aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ, anujānātu, bhante, bhagavā bhikkhū: “caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ; mā ekena dve agamittha; desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetha. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro”ti. Api ca, bhante, mayaṁ tathā karissāma yathā bhikkhū channaṁ channaṁ vassānaṁ accayena bandhumatiṁ rājadhāniṁ upasaṅkamissanti pātimokkhuddesāyā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, so mahābrahmā. Idaṁ vatvā vipassiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tattheva antaradhāyi.
Then a certain Great Divinity, knowing the Buddha Vipassī’s train of thought, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha Vipassī. He arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha Vipassī, and said, ‘That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One! The Saṅgha residing at Bandhumatī now is large. Please urge them to wander, as you thought. And sir, I’ll make sure that when six years have passed the mendicants will return to Bandhumatī to recite the monastic code.’
That is what that Great Divinity said. Then he bowed and respectfully circled the Buddha Vipassī, keeping him on his right, before vanishing right there.
87. Này các Tỳ-khưu, bấy giờ, một vị Đại Phạm thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ-khưu, bấy giờ, vị Đại Phạm thiên ấy đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và bạch với Ngài rằng: ‘Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, hiện nay tại kinh thành Bandhumatī, có một đại chúng Tỳ-khưu gồm một trăm sáu mươi tám ngàn vị đang trú ngụ. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho phép các Tỳ-khưu: ‘Này các Tỳ-khưu, hãy du hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Chớ đi hai người trên một con đường. Này các Tỳ-khưu, hãy thuyết giảng Chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; hãy tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Có những chúng sanh có ít bụi trong mắt; vì không được nghe Pháp nên họ bị tổn thất. Sẽ có những người hiểu được Pháp.’ Bạch Thế Tôn, còn chúng con, chúng con sẽ làm sao để sau mỗi sáu năm, các Tỳ-khưu sẽ trở về kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Này các Tỳ-khưu, vị Đại Phạm thiên ấy đã nói như vậy. Sau khi nói xong, vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đi nhiễu bên phải rồi biến mất tại chỗ.
Atha kho, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi: ‘idha mayhaṁ, bhikkhave, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “mahā kho etarahi bhikkhusaṅgho bandhumatiyā rājadhāniyā paṭivasati aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ. Yannūnāhaṁ bhikkhū anujāneyyaṁ—caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ; mā ekena dve agamittha; desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetha. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro. Api ca channaṁ channaṁ vassānaṁ accayena bandhumatī rājadhānī upasaṅkamitabbā pātimokkhuddesāyā”’ti.
Then in the late afternoon, the Buddha Vipassī came out of retreat and addressed the mendicants, telling them all that had happened. Then he said,
88. “Này các Tỳ khưu, khi ấy, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vào buổi chiều, sau khi đứng dậy từ nơi độc cư đã gọi các vị Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, trong khi ta ở nơi vắng vẻ, độc cư, tâm tư như vầy đã khởi lên: ‘Hiện nay, chúng Tỳ khưu thật là đông đảo, một trăm sáu mươi tám ngàn vị đang trú tại kinh thành Bandhumatī. Hay là ta nên cho phép các vị Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, hãy du hành vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Chớ có hai người đi chung một đường. Này các Tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối; hãy tuyên thuyết phạm hạnh có ý nghĩa, có văn cú, hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, do không được nghe Giáo Pháp nên bị thiệt thòi, sẽ có những người thấu hiểu Giáo Pháp. Hơn nữa, sau mỗi sáu năm, nên đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’”
Atha kho, bhikkhave, aññataro mahābrahmā mama cetasā cetoparivitakkamaññāya seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho so, bhikkhave, mahābrahmā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yenāhaṁ tenañjaliṁ paṇāmetvā maṁ etadavoca: ‘evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata. Mahā kho, bhante, etarahi bhikkhusaṅgho bandhumatiyā rājadhāniyā paṭivasati aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ. Anujānātu, bhante, bhagavā bhikkhū—caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ; mā ekena dve agamittha; desetha, bhikkhave, dhammaṁ …pe… santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāroti. Api ca, bhante, mayaṁ tathā karissāma, yathā bhikkhū channaṁ channaṁ vassānaṁ accayena bandhumatiṁ rājadhāniṁ upasaṅkamissanti pātimokkhuddesāyā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, so mahābrahmā. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tattheva antaradhāyi.
“‘Này các Tỳ khưu, khi ấy, một vị Đại Phạm Thiên, do biết được tâm tư của ta bằng tâm của mình, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, vị ấy đã biến mất khỏi cõi Phạm Thiên và hiện ra trước mặt ta. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vị Đại Phạm Thiên ấy đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về phía ta, và đã nói với ta lời này: ‘Bạch đức Thế Tôn, đúng là như vậy. Bạch đức Thiện Thệ, đúng là như vậy. Bạch ngài, hiện nay, chúng Tỳ khưu thật là đông đảo, một trăm sáu mươi tám ngàn vị đang trú tại kinh thành Bandhumatī. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy cho phép các vị Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, hãy du hành vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Chớ có hai người đi chung một đường. Này các Tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp ... (như trên) ... Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, do không được nghe Giáo Pháp nên bị thiệt thòi, sẽ có những người thấu hiểu Giáo Pháp.’ Hơn nữa, bạch ngài, chúng con sẽ làm như vậy để các vị Tỳ khưu sau mỗi sáu năm sẽ đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Này các Tỳ khưu, vị Đại Phạm Thiên ấy đã nói lời này, sau khi nói lời này, đã đảnh lễ ta, đi nhiễu quanh bên phải, và đã biến mất ngay tại chỗ ấy.”
‘Anujānāmi, bhikkhave, caratha cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ; mā ekena dve agamittha; desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetha. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro. Api ca, bhikkhave, channaṁ channaṁ vassānaṁ accayena bandhumatī rājadhānī upasaṅkamitabbā pātimokkhuddesāyā’ti.
Atha kho, bhikkhave, bhikkhū yebhuyyena ekāheneva janapadacārikaṁ pakkamiṁsu.
‘Wander forth, mendicants, for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans. Let not two go by one road. Teach the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. There are beings with little dust in their eyes. They’re in decline because they haven’t heard the teaching. There will be those who understand the teaching! But when six years have passed, you must all come to Bandhumatī to recite the monastic code.’
Then most of the mendicants left to wander the country that very day.
“‘Này các Tỳ khưu, ta cho phép, hãy du hành vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Chớ có hai người đi chung một đường. Này các Tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối; hãy tuyên thuyết phạm hạnh có ý nghĩa, có văn cú, hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, do không được nghe Giáo Pháp nên bị thiệt thòi, sẽ có những người thấu hiểu Giáo Pháp. Hơn nữa, này các Tỳ khưu, sau mỗi sáu năm, nên đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, các vị Tỳ khưu phần lớn đã khởi hành du hành đến các miền quê chỉ trong một ngày.
Tena kho pana samayena jambudīpe caturāsīti āvāsasahassāni honti. Ekamhi hi vasse nikkhante devatā saddamanussāvesuṁ: ‘nikkhantaṁ kho, mārisā, ekaṁ vassaṁ; pañca dāni vassāni sesāni; pañcannaṁ vassānaṁ accayena bandhumatī rājadhānī upasaṅkamitabbā pātimokkhuddesāyā’ti.
Dvīsu vassesu nikkhantesu … tīsu vassesu nikkhantesu … catūsu vassesu nikkhantesu … pañcasu vassesu nikkhantesu devatā saddamanussāvesuṁ: ‘nikkhantāni kho, mārisā, pañcavassāni; ekaṁ dāni vassaṁ sesaṁ; ekassa vassassa accayena bandhumatī rājadhānī upasaṅkamitabbā pātimokkhuddesāyā’ti.
Chasu vassesu nikkhantesu devatā saddamanussāvesuṁ: ‘nikkhantāni kho, mārisā, chabbassāni, samayo dāni bandhumatiṁ rājadhāniṁ upasaṅkamituṁ pātimokkhuddesāyā’ti. Atha kho te, bhikkhave, bhikkhū appekacce sakena iddhānubhāvena appekacce devatānaṁ iddhānubhāvena ekāheneva bandhumatiṁ rājadhāniṁ upasaṅkamiṁsu pātimokkhuddesāyāti.
Now at that time there were 84,000 monasteries in the Black Plum Tree Land. And when the first year came to an end the deities raised the cry: ‘Good fellows, the first year has ended. Now five years are left. When five years have passed, you must all go to Bandhumatī to recite the monastic code.’
And when the second year … the third year … the fourth year … the fifth year came to an end, the deities raised the cry: ‘Good fellows, the fifth year has ended. Now one year is left. When one year has passed, you must all go to Bandhumatī to recite the monastic code.’
And when the sixth year came to an end the deities raised the cry: ‘Good fellows, the sixth year has ended. Now is the time that you must go to Bandhumatī to recite the monastic code.’ Then that very day the mendicants went to Bandhumatī to recite the monastic code. Some went by their own psychic power, and some by the psychic power of the deities.
89. “Vào lúc bấy giờ, ở cõi Diêm Phù Đề có tám mươi bốn ngàn trú xứ. Khi một năm đã trôi qua, chư thiên đã loan báo: ‘Thưa các hiền giả, một năm đã trôi qua, nay còn lại năm năm; sau năm năm, nên đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Khi hai năm đã trôi qua... khi ba năm đã trôi qua... khi bốn năm đã trôi qua... khi năm năm đã trôi qua, chư thiên đã loan báo: ‘Thưa các hiền giả, năm năm đã trôi qua, nay còn lại một năm; sau một năm, nên đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Khi sáu năm đã trôi qua, chư thiên đã loan báo: ‘Thưa các hiền giả, sáu năm đã trôi qua, nay đã đến lúc đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, các vị Tỳ khưu ấy, một số vị bằng thần thông của chính mình, một số vị bằng thần thông của chư thiên, chỉ trong một ngày đã đi đến kinh thành Bandhumatī để tụng đọc Pātimokkha.”
Tatra sudaṁ, bhikkhave, vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhusaṅghe evaṁ pātimokkhaṁ uddisati:
And there the Blessed One Vipassī, the perfected one, the fully awakened Buddha, recited the monastic code thus:
90. “Này các Tỳ khưu, tại nơi ấy, đức Thế Tôn Tỳ Bà Thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã tụng đọc Pātimokkha giữa chúng Tỳ khưu như vầy:
‘Khantī paramaṁ tapo titikkhā, Nibbānaṁ paramaṁ vadanti buddhā; Na hi pabbajito parūpaghātī, Na samaṇo hoti paraṁ viheṭhayanto.
‘Patient acceptance is the ultimate fervor. Extinguishment is the ultimate, say the Buddhas. No true renunciate injures another, nor does an ascetic hurt another.
“‘Nhẫn nại, sự chịu đựng, là khổ hạnh tối thượng. Chư Phật nói rằng Niết-bàn là tối thượng. Người xuất gia không phải là người làm hại kẻ khác, người làm não hại kẻ khác không phải là sa-môn.
Sabbapāpassa akaraṇaṁ, kusalassa upasampadā; Sacittapariyodapanaṁ, etaṁ buddhānasāsanaṁ.
Not to do any evil; to embrace the good; to purify one’s mind: this is the instruction of the Buddhas.
“‘Không làm mọi điều ác, thành tựu các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời dạy của chư Phật.
Anūpavādo anūpaghāto, Pātimokkhe ca saṁvaro; Mattaññutā ca bhattasmiṁ, Pantañca sayanāsanaṁ; Adhicitte ca āyogo, Etaṁ buddhānasāsanan’ti.
Not speaking ill nor doing harm; restraint in the monastic code; moderation in eating; staying in remote lodgings; commitment to the higher mind—this is the instruction of the Buddhas.’
“‘Không phỉ báng, không làm hại, và thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, và biết đủ trong vật thực, và chỗ ở vắng lặng, và chuyên tâm vào tăng thượng tâm, đó là lời dạy của chư Phật.’”
17. Devatārocana
17. Being Informed by Deities
Sự Loan Báo của Chư Thiên
Ekamidāhaṁ, bhikkhave, samayaṁ ukkaṭṭhāyaṁ viharāmi subhagavane sālarājamūle. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘na kho so sattāvāso sulabharūpo, yo mayā anāvutthapubbo iminā dīghena addhunā aññatra suddhāvāsehi devehi. Yannūnāhaṁ yena suddhāvāsā devā tenupasaṅkameyyan’ti.
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—ukkaṭṭhāyaṁ subhagavane sālarājamūle antarahito avihesu devesu pāturahosiṁ.
Tasmiṁ, bhikkhave, devanikāye anekāni devatāsahassāni anekāni devatāsatasahassāni yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘ito so, mārisā, ekanavutikappe yaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi, khattiyakule udapādi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asītivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pāṭaliyā mūle abhisambuddho. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa khaṇḍatissaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi bhikkhusatasahassaṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asoko nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa bandhumā nāma rājā pitā ahosi. Bandhumatī nāma devī mātā ahosi janetti. Bandhumassa rañño bandhumatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa evaṁ abhinikkhamanaṁ ahosi evaṁ pabbajjā evaṁ padhānaṁ evaṁ abhisambodhi evaṁ dhammacakkappavattanaṁ. Te mayaṁ, mārisā, vipassimhi bhagavati brahmacariyaṁ caritvā kāmesu kāmacchandaṁ virājetvā idhūpapannā’ti …
pe…
This one time, mendicants, I was staying near Ukkaṭṭhā in the Subhaga Forest at the root of a magnificent sal tree. As I was in private retreat this thought came to mind, ‘It’s not easy to find an abode of sentient beings where I haven’t previously abided in all this long time, except the gods of the pure abodes. Why don’t I go to see them?’
Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, I vanished from the Subhaga Forest and reappeared with the gods of Aviha.
In that order of gods, many thousands, many hundreds of thousands of deities approached me, bowed, stood to one side, and said to me, ‘Ninety-one eons ago, good fellow, the Buddha Vipassī arose in the world, perfected and fully awakened. He was born as an aristocrat into an aristocrat family. Koṇḍañña was his clan. He lived for 80,000 years. He was awakened at the root of a patala tree. He had a fine pair of chief disciples named Khaṇḍa and Tissa. He had three gatherings of disciples—one of 6,800,000, one of 100,000, and one of 80,000—all of them mendicants who had ended their defilements. He had as chief attendant a mendicant named Asoka. His father was King Bandhumā, his birth mother was Queen Bandhumatī, and their capital city was named Bandhumatī. And such was his renunciation, such his going forth, such his striving, such his awakening, and such his rolling forth of the Wheel of Dhamma. And good fellow, after leading the spiritual life under that Buddha Vipassī we lost our desire for sensual pleasures and were reborn here.’
And other deities came and similarly recounted the details of the Buddhas Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana, and Kassapa.
91. “Này các Tỳ khưu, một thời ta trú ở Ukkaṭṭhā, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây sala chúa. Này các Tỳ khưu, khi ta đang độc cư thiền tịnh, tâm tư này đã khởi lên trong tâm ta: ‘Trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng này, ngoại trừ các vị trời ở Tịnh Cư Thiên, thật khó tìm được một trú xứ nào của chúng sanh mà ta chưa từng trú ngụ. Hay là ta nên đi đến nơi các vị trời ở Tịnh Cư Thiên đang ở.’ Rồi này các Tỳ khưu, cũng như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ta biến mất khỏi gốc cây sala chúa trong rừng Subhaga ở Ukkaṭṭhā và hiện ra ở cõi trời Vô Phiền. Này các Tỳ khưu, trong chúng chư thiên ấy, nhiều ngàn vị trời, nhiều trăm ngàn vị trời đã đến gần ta; sau khi đến gần, họ đảnh lễ ta rồi đứng sang một bên. Này các Tỳ khưu, đứng sang một bên, các vị trời ấy bạch với ta rằng: ‘Thưa ngài, cách đây chín mươi mốt kiếp, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng dõi Sát-đế-lợi, sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lợi. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng họ Koṇḍañña. Thưa ngài, tuổi thọ của đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là tám mươi ngàn năm. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã giác ngộ dưới gốc cây pāṭali. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có cặp đệ tử thượng thủ, cặp đệ tử tốt lành tên là Khaṇḍa và Tissa. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội họp các vị đệ tử. Một lần hội họp có một trăm sáu mươi tám ngàn vị Tỳ khưu. Một lần hội họp có một trăm ngàn vị Tỳ khưu. Một lần hội họp có tám mươi ngàn vị Tỳ khưu. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội họp các vị đệ tử này, tất cả đều là các bậc lậu tận. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vị Tỳ khưu thị giả tên là Asoka, là vị thị giả thượng thủ. Thưa ngài, đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vua cha tên là Bandhumā. Hoàng hậu mẹ, người đã sanh ra ngài, tên là Bandhumatī. Kinh thành của vua Bandhumā là thành phố tên là Bandhumatī. Thưa ngài, sự xuất gia của đức Thế Tôn Vipassī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là như vậy, sự tu hành là như vậy, sự tinh tấn là như vậy, sự giác ngộ là như vậy, sự chuyển pháp luân là như vậy. Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn Vipassī, đã ly tham ái trong các dục, và được sanh về cõi này.’ …v.v…
Tasmiṁyeva kho, bhikkhave, devanikāye anekāni devatāsahassāni anekāni devatāsatasahassāni yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘imasmiṁyeva kho, mārisā, bhaddakappe bhagavā etarahi arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno. Bhagavā, mārisā, khattiyo jātiyā khattiyakule uppanno. Bhagavā, mārisā, gotamo gottena. Bhagavato, mārisā, appakaṁ āyuppamāṇaṁ parittaṁ lahukaṁ yo ciraṁ jīvati, so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo. Bhagavā, mārisā, assatthassa mūle abhisambuddho. Bhagavato, mārisā, sāriputtamoggallānaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Bhagavato, mārisā, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni. Bhagavato, mārisā, ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ. Bhagavato, mārisā, ānando nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Bhagavato, mārisā, suddhodano nāma rājā pitā ahosi. Māyā nāma devī mātā ahosi janetti. Kapilavatthu nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi. Bhagavato, mārisā, evaṁ abhinikkhamanaṁ ahosi evaṁ pabbajjā evaṁ padhānaṁ evaṁ abhisambodhi evaṁ dhammacakkappavattanaṁ. Te mayaṁ, mārisā, bhagavati brahmacariyaṁ caritvā kāmesu kāmacchandaṁ virājetvā idhūpapannā’ti.
In that order of gods, many thousands, many hundreds of thousands of deities approached me, bowed, stood to one side, and said to me, ‘In the present fortunate eon, good fellow, you have arisen in the world, perfected and fully awakened. You were born as an aristocrat into an aristocrat family. Gotama is your clan. For you the lifespan is short, brief, and fleeting. A long life is a hundred years or a little more. You were awakened at the root of a peepal tree. You have a fine pair of chief disciples named Sāriputta and Moggallāna. You have had one gathering of disciples—1,250 mendicants who had ended their defilements. You have as chief attendant a mendicant named Ānanda. Your father was King Suddhodana, your birth mother was Queen Māyā, and your capital city was Kapilavatthu. And such was your renunciation, such your going forth, such your striving, such your awakening, and such your rolling forth of the Wheel of Dhamma. And good fellow, after leading the spiritual life under you we lost our desire for sensual pleasures and were reborn here.’
“Này các Tỳ khưu, cũng trong chúng chư thiên ấy, nhiều ngàn vị trời, nhiều trăm ngàn vị trời đã đến gần ta; sau khi đến gần, họ đảnh lễ ta rồi đứng sang một bên. Này các Tỳ khưu, đứng sang một bên, các vị trời ấy bạch với ta rằng: ‘Thưa ngài, cũng chính trong hiền kiếp này, hiện nay, một vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, đức Thế Tôn thuộc dòng dõi Sát-đế-lợi, sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lợi. Thưa ngài, đức Thế Tôn thuộc dòng họ Gotama. Thưa ngài, tuổi thọ của đức Thế Tôn thì ít ỏi, ngắn ngủi, chóng qua; người nào sống lâu thì cũng chỉ được một trăm năm, ít hơn hoặc nhiều hơn một chút. Thưa ngài, đức Thế Tôn đã giác ngộ dưới gốc cây assattha. Thưa ngài, đức Thế Tôn có cặp đệ tử thượng thủ, cặp đệ tử tốt lành tên là Sāriputta và Moggallāna. Thưa ngài, đức Thế Tôn có một lần hội họp các vị đệ tử, gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu. Thưa ngài, đức Thế Tôn có một lần hội họp các vị đệ tử này, tất cả đều là các bậc lậu tận. Thưa ngài, đức Thế Tôn có vị Tỳ khưu thị giả tên là Ānanda, là vị thị giả thượng thủ. Thưa ngài, đức Thế Tôn có vua cha tên là Suddhodana. Hoàng hậu mẹ, người đã sanh ra ngài, tên là Māyā. Kinh thành là thành phố tên là Kapilavatthu. Thưa ngài, sự xuất gia của đức Thế Tôn là như vậy, sự tu hành là như vậy, sự tinh tấn là như vậy, sự giác ngộ là như vậy, sự chuyển pháp luân là như vậy. Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn, đã ly tham ái trong các dục, và được sanh về cõi này.’”
Atha khvāhaṁ, bhikkhave, avihehi devehi saddhiṁ yena atappā devā tenupasaṅkamiṁ …pe… atha khvāhaṁ, bhikkhave, avihehi ca devehi atappehi ca devehi saddhiṁ yena sudassā devā tenupasaṅkamiṁ. Atha khvāhaṁ, bhikkhave, avihehi ca devehi atappehi ca devehi sudassehi ca devehi saddhiṁ yena sudassī devā tenupasaṅkamiṁ. Atha khvāhaṁ, bhikkhave, avihehi ca devehi atappehi ca devehi sudassehi ca devehi sudassīhi ca devehi saddhiṁ yena akaniṭṭhā devā tenupasaṅkamiṁ. Tasmiṁ, bhikkhave, devanikāye anekāni devatāsahassāni anekāni devatāsatasahassāni yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ:
Then together with the gods of Aviha I went to see the gods of Atappa … the gods fair to see … and the fair seeing gods. Then together with all these gods I went to see the gods of Akaniṭṭha, where we had a similar conversation.
92. Này các Tỳ khưu, rồi Như Lai cùng với các vị trời Vô Phiền đi đến nơi có các vị trời Vô Nhiệt... (lược)... Này các Tỳ khưu, rồi Như Lai cùng với các vị trời Vô Phiền đi đến nơi có các vị trời Thiện Kiến. Này các Tỳ khưu, rồi Như Lai cùng với các vị trời Vô Phiền, các vị trời Vô Nhiệt, và các vị trời Thiện Kiến đi đến nơi có các vị trời Thiện Hiện. Này các Tỳ khưu, rồi Như Lai cùng với các vị trời Vô Phiền, các vị trời Vô Nhiệt, các vị trời Thiện Kiến, và các vị trời Thiện Hiện đi đến nơi có các vị trời Sắc Cứu Cánh. Này các Tỳ khưu, trong cõi trời ấy, nhiều ngàn chư thiên, nhiều trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ Như Lai; sau khi đến, đã đảnh lễ Như Lai và đứng sang một bên.
‘ito so, mārisā, ekanavutikappe yaṁ vipassī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke udapādi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho khattiyo jātiyā ahosi. Khattiyakule udapādi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho koṇḍañño gottena ahosi. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asītivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi. Vipassī, mārisā, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pāṭaliyā mūle abhisambuddho. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa khaṇḍatissaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aṭṭhasaṭṭhibhikkhusatasahassaṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi bhikkhusatasahassaṁ. Eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi asītibhikkhusahassāni. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa ime tayo sāvakānaṁ sannipātā ahesuṁ sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa asoko nāma bhikkhu upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa bandhumā nāma rājā pitā ahosi bandhumatī nāma devī mātā ahosi janetti. Bandhumassa rañño bandhumatī nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi. Vipassissa, mārisā, bhagavato arahato sammāsambuddhassa evaṁ abhinikkhamanaṁ ahosi evaṁ pabbajjā evaṁ padhānaṁ evaṁ abhisambodhi, evaṁ dhammacakkappavattanaṁ. Te mayaṁ, mārisā, vipassimhi bhagavati brahmacariyaṁ caritvā kāmesu kāmacchandaṁ virājetvā idhūpapannā’ti. Tasmiṁyeva kho, bhikkhave, devanikāye anekāni devatāsahassāni anekāni devatāsatasahassāni yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘ito so, mārisā, ekatiṁse kappe yaṁ sikhī bhagavā …pe… te mayaṁ, mārisā, sikhimhi bhagavati tasmiññeva kho, mārisā, ekatiṁse kappe yaṁ vessabhū bhagavā …pe… te mayaṁ, mārisā, vessabhumhi bhagavati …pe… imasmiṁyeva kho, mārisā, bhaddakappe kakusandho koṇāgamano kassapo bhagavā …pe… te mayaṁ, mārisā, kakusandhamhi koṇāgamanamhi kassapamhi bhagavati brahmacariyaṁ caritvā kāmesu kāmacchandaṁ virājetvā idhūpapannā’ti.
Này các Tỳ khưu, các vị trời ấy đứng một bên rồi bạch với Như Lai rằng: – ‘Thưa ngài, cách đây chín mươi mốt kiếp, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện ở đời. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, sanh trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuộc dòng họ Kiều-trần-như. Thưa ngài, tuổi thọ của đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là tám mươi ngàn năm. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã giác ngộ dưới cội cây Pāṭali. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có cặp thinh văn thượng thủ, cặp thinh văn tốt lành tên là Khaṇḍa và Tissa. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội chúng thinh văn. Một lần hội chúng thinh văn có một trăm sáu mươi tám ngàn vị Tỳ khưu. Một lần hội chúng thinh văn có một trăm ngàn vị Tỳ khưu. Một lần hội chúng thinh văn có tám mươi ngàn vị Tỳ khưu. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có ba lần hội chúng thinh văn này, tất cả đều là các bậc A-la-hán. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vị Tỳ khưu thị giả tên là Asoka, là vị thị giả thượng thủ. Thưa ngài, đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có vua cha tên là Bandhumā, có hoàng hậu mẹ tên là Bandhumatī. Kinh thành của vua Bandhumā là thành phố tên Bandhumatī. Thưa ngài, sự xuất gia của đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là như vậy, sự đi tu là như vậy, sự tinh tấn là như vậy, sự giác ngộ là như vậy, sự chuyển pháp luân là như vậy. Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, đã ly tham ái trong các dục, và được sanh về đây.’ Này các Tỳ khưu, cũng trong cõi trời ấy, nhiều ngàn chư thiên, nhiều trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ Như Lai; sau khi đến, đã đảnh lễ Như Lai và đứng sang một bên. Này các Tỳ khưu, các vị trời ấy đứng một bên rồi bạch với Như Lai rằng: – ‘Thưa ngài, cách đây ba mươi mốt kiếp, đức Thế Tôn Thi-khí... (lược)... Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn Thi-khí... Thưa ngài, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, đức Thế Tôn Tỳ-xá-bà... (lược)... Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn Tỳ-xá-bà... (lược)... Thưa ngài, cũng trong hiền kiếp này, các đức Thế Tôn Câu-lâu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp... (lược)... Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời các đức Thế Tôn Câu-lâu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp, đã ly tham ái trong các dục, và được sanh về đây.’
Tasmiṁyeva kho, bhikkhave, devanikāye anekāni devatāsahassāni anekāni devatāsatasahassāni yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ: ‘imasmiṁyeva kho, mārisā, bhaddakappe bhagavā etarahi arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno. Bhagavā, mārisā, khattiyo jātiyā, khattiyakule uppanno. Bhagavā, mārisā, gotamo gottena. Bhagavato, mārisā, appakaṁ āyuppamāṇaṁ parittaṁ lahukaṁ yo ciraṁ jīvati, so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo. Bhagavā, mārisā, assatthassa mūle abhisambuddho. Bhagavato, mārisā, sāriputtamoggallānaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ. Bhagavato, mārisā, eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni. Bhagavato, mārisā, ayaṁ eko sāvakānaṁ sannipāto ahosi sabbesaṁyeva khīṇāsavānaṁ. Bhagavato, mārisā, ānando nāma bhikkhu upaṭṭhāko aggupaṭṭhāko ahosi. Bhagavato, mārisā, suddhodano nāma rājā pitā ahosi. Māyā nāma devī mātā ahosi janetti. Kapilavatthu nāma nagaraṁ rājadhānī ahosi. Bhagavato, mārisā, evaṁ abhinikkhamanaṁ ahosi, evaṁ pabbajjā, evaṁ padhānaṁ, evaṁ abhisambodhi, evaṁ dhammacakkappavattanaṁ. Te mayaṁ, mārisā, bhagavati brahmacariyaṁ caritvā kāmesu kāmacchandaṁ virājetvā idhūpapannā’ti.
93. Này các Tỳ khưu, cũng trong cõi trời ấy, nhiều ngàn chư thiên, nhiều trăm ngàn chư thiên đã đi đến chỗ Như Lai; sau khi đến, đã đảnh lễ Như Lai và đứng sang một bên. Này các Tỳ khưu, các vị trời ấy đứng một bên rồi bạch với Như Lai rằng: – ‘Thưa ngài, cũng trong hiền kiếp này, đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hiện đang xuất hiện ở đời. Thưa ngài, đức Thế Tôn thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ, sanh trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Thưa ngài, đức Thế Tôn thuộc dòng họ Cồ-đàm. Thưa ngài, tuổi thọ của đức Thế Tôn ngắn ngủi, ít ỏi, chóng qua. Người nào sống lâu thì sống được một trăm năm, ít hơn hoặc nhiều hơn một chút. Thưa ngài, đức Thế Tôn đã giác ngộ dưới cội cây Assattha. Thưa ngài, đức Thế Tôn có cặp thinh văn thượng thủ, cặp thinh văn tốt lành tên là Sāriputta và Moggallāna. Thưa ngài, đức Thế Tôn có một lần hội chúng thinh văn gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu. Thưa ngài, lần hội chúng thinh văn duy nhất này của đức Thế Tôn tất cả đều là các bậc A-la-hán. Thưa ngài, đức Thế Tôn có vị Tỳ khưu thị giả tên là Ānanda, là vị thị giả thượng thủ. Thưa ngài, đức Thế Tôn có vua cha tên là Suddhodana. Có hoàng hậu mẹ tên là Māyā. Kinh thành là thành phố tên Kapilavatthu. Thưa ngài, sự xuất gia của đức Thế Tôn là như vậy, sự đi tu là như vậy, sự tinh tấn là như vậy, sự giác ngộ là như vậy, sự chuyển pháp luân là như vậy. Thưa ngài, chúng con đã thực hành phạm hạnh dưới thời đức Thế Tôn, đã ly tham ái trong các dục, và được sanh về đây.’
Iti kho, bhikkhave, tathāgatassevesā dhammadhātu suppaṭividdhā, yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā tathāgato atīte buddhe parinibbute chinnapapañce chinnavaṭume pariyādinnavaṭṭe sabbadukkhavītivatte jātitopi anussarati, nāmatopi anussarati, gottatopi anussarati, āyuppamāṇatopi anussarati, sāvakayugatopi anussarati, sāvakasannipātatopi anussarati ‘evaṁjaccā te bhagavanto ahesuṁ’ itipi. ‘Evaṁnāmā evaṅgottā evaṁsīlā evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ’ itipīti.
And that is how the Realized One is able to recollect the birth, names, clans, lifespan, chief disciples, and gatherings of disciples of the Buddhas of the past who have become fully quenched, cut off proliferation, cut off the course, finished off the cycle, and passed beyond all suffering. It is both because I have clearly penetrated the principle of the teachings,
94. Này các Tỳ khưu, chính pháp giới này đã được Như Lai khéo thấu triệt. Do đã khéo thấu triệt pháp giới này nên Như Lai có thể nhớ lại các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Niết Bàn, đã đoạn trừ hý luận, đã cắt đứt đường luân hồi, đã chấm dứt vòng sinh tử, đã vượt qua mọi khổ đau, nhớ lại về dòng dõi, nhớ lại về danh hiệu, nhớ lại về gia tộc, nhớ lại về tuổi thọ, nhớ lại về cặp đôi Thinh văn, nhớ lại về hội chúng Thinh văn, rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy có dòng dõi như thế này.’ Và rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy có danh hiệu như thế này, có gia tộc như thế này, có giới hạnh như thế này, có pháp như thế này, có tuệ như thế này, có trú như thế này, có giải thoát như thế này.’
Chư Thiên cũng đã trình báo cho Như Lai về vấn đề này, nhờ đó Như Lai có thể nhớ lại các vị Phật trong quá khứ, đã nhập Niết Bàn, đã đoạn trừ hý luận, đã cắt đứt đường luân hồi, đã chấm dứt vòng sinh tử, đã vượt qua mọi khổ đau, nhớ lại về dòng dõi, nhớ lại về danh hiệu, nhớ lại về gia tộc, nhớ lại về tuổi thọ, nhớ lại về cặp đôi Thinh văn, nhớ lại về hội chúng Thinh văn, rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy có dòng dõi như thế này.’ Và rằng: ‘Các đức Thế Tôn ấy có danh hiệu như thế này, có gia tộc như thế này, có giới hạnh như thế này, có pháp như thế này, có tuệ như thế này, có trú như thế này, có giải thoát như thế này.’
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Mahāpadānasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Kinh Đại Bổn Sanh, phần thứ nhất, kết thúc.