- Dīgha Nikāya 13
Tevijjasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Tevijjasutta
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang du hành ở Kosala (Câu-tát-la) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đi đến một làng Bà-la-môn ở Kosala tên là Manasākata. Tại đây, ở Manasākata, Thế Tôn trú tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravatī (A-trí-la-phạt-để), phía Bắc làng Manasākata.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ, nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào ở tại Manasākata như Bà-la-môn Canki (Thường-già), Bà-la-môn Tārukkha (Ða-lê-xa) Bà-la-môn Pokkharasāti (Phí-già-la-bà-la), Bà-la-môn Jānussoni (Sanh Lậu), Bà-la-môn Todeyya (Ðạo-đề-da) và nhiều Bà-la-môn trứ danh, đại phú hào khác.
SC 3PTS cs 3 Lúc bấy giờ, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa Vāsaṭṭha (Bà-tất-sá) và Bharadvāja (Bạt-la-đà-phạn-xà) trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng, vừa đi vừa suy nghĩ tư duy.
SC 4PTS cs 4 Thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha nói
SC 5—Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy;
SC 6PTS cs 5 Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói
SC 7—Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy.
SC 8PTS cs 6 Thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja và thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja, cũng không thể thuyết phục được thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha.
SC 9PTS cs 7 Khi ấy thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha nói với thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja
SC 10—Này Bharadvāja, Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay trú ở Manasākata, tại một vườn xoài trên bờ sông Aciravatī, phía Bắc làng Manasākata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Này Bharadvāja, hãy đến Sa-môn Gotama và hỏi Sa-môn Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
- Tôn giả, xin vâng!
SC 11Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja trả lời với thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha.
SC 12PTS cs 8 Lúc bấy giờ hai thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha và Bharadvāja đến Thế Tôn, khi đã đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên, khi ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn
SC 13—Tôn giả Gotama, một cuộc nghị luận về chánh đạo và tà đạo khởi lên giữa hai chúng tôi trong khi đi bách bộ để tĩnh dưỡng vừa đi vừa suy nghĩ, tư duy. Tôi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy”. Thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy”. Tôn giả Gotama, đó là sự tranh luận, sự luận chấp, đó là sự bất đồng ý kiến.
SC 14PTS cs 9 Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo, hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Ðó là con đường do Bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy”. Còn thanh niên Bà-la-môn Bharadvāja nói như vầy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo, đó là con đường do Bà-la-môn Tārukkha giảng dạy”. Này Vāsaṭṭha, ở nơi đây tranh biện về vấn đề gì, luận chấp về vấn đề gì và bất đồng ý kiến về vấn đề gì?
SC 15PTS cs 10 - Tôn giả Gotama, về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác như các vị Bà-la-môn Addhàriyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, và các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandavà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà—tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo. Tôn giả Gotama, như gần làng hay gần trị trấn có nhiều con đường sai khác, nhưng tất cả con đường này đều dẫn đến làng. Cũng vậy, Tôn giả Gotama, nhiều Bà-la-môn thuyết dạy nhiều con đường sai khác—như các Bà-la-môn Addhariyà, các vị Bà-la-môn Tittiriyà, các vị Bà-la-môn Chandokà, các vị Bà-la-môn Chandàvà, các vị Bà-la-môn Bràhmacariyà. Tất cả con đường này hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo.
SC 16- Này Vāsaṭṭha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến?”
SC 17- Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.
SC 18- Này Vāsaṭṭha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.
SC 19- Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn đến”.
SC 20- Này Vāsaṭṭha, có phải Ngươi nói: “Chúng dẫn đến”.
SC 21- Tôn giả Gotama, vâng, tôi nói: “Chúng dẫn dến”.
SC 22PTS cs 12 - Thế nào Vāsaṭṭha? Có Bà-la-môn nào trong những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà tận mặt đã thấy Phạm thiên?
SC 23- Tôn giả Gotama, không có vị nào.
SC 24- Thế nào Vāsaṭṭha? Có tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên?
SC 25- Tôn giả Gotama, không có vị nào.
SC 26- Thế nào Vāsaṭṭha? Có Bà-la-môn nào cho đến bảy đời tôn sư và đại tôn sư của những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt nhìn thấy Phạm thiên?
SC 27- Tôn giả Gotama, không có vị nào.
SC 28PTS cs 13 - Thế nào, này Vāsaṭṭha. Những vị tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và ngâm giảng như các vị Aṭṭhaka (A-sá-ca) Vāmaka (Bà-ma), Vāmadeva (Bà-ma-đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-sá), Bharadvāja (Bạt-la-đà-phan-xà), Vāsaṭṭha (Bà-tất-sá), Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cữu), những vị này có nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy chỗ ở Phạm thiên, chỗ đến Phạm thiên, chỗ đi Phạm thiên?”
SC 29- Tôn giả Gotama, không có vị nào.
SC 30PTS cs 14 - Này Vāsaṭṭha, như vậy Ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên—không có một tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại tôn sư nào của ác Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên—không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessamitta, Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja, Vāsaṭṭha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”.
SC 31Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?
SC 32- Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.
SC 33PTS cs 15 - Này Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không thể có sự kiện ấy. Này Vāsaṭṭha, ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Như vậy, này Vāsaṭṭha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, người đầu không thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy, giống như lời nói mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như vậy là lời nói đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng.
SC 34PTS cs 16 - Này Vāsaṭṭha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác—có thể thấy mặt trăng, mặt trời không, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn?
SC 35- Thưa vâng, Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác có thể thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn.
SC 36PTS cs 17 - Này Vāsaṭṭha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà—như phần đông nhiều người khác thấy mặt trăng, mặt trời, trong khi các vị này cầu khẩn, tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng mặt trời mọc và lặn, những vị này có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời không? Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo?
SC 37- Tôn giả Gotama, không thể được!
SC 38PTS cs 18 - Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như phần đông nhiều người khác, thấy mặt trăng, mặt trời trong khi các vị này cầu khẩn tán thán, vừa đi xung quanh, vừa chấp tay và đảnh lễ chỗ mặt trăng, mặt trời mọc và lặn, những vị này không có thể thuyết dạy con đường đưa đến sự cộng trú với mặt trăng mặt trời: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cọng trú với mặt trăng, mặt trời cho những ai thực hành theo”. Ngươi cũng nói các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói trong những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy—như các vị Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessamitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bharadvāja, Vāsaṭṭha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?”
SC 39- Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy, thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.
SC 40- Lành thay, này Vāsaṭṭha! Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.
SC 41PTS cs 19 Này Vāsaṭṭha, như có người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp mà Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẩm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, ấp nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và đã ái luyến một người Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 42- Vâng phải, Tôn giả Gotama. Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh xác, hợp lý.
SC 43PTS cs 20 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Ngươi cũng nói những tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia các thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, cũng trì tụng và giảng dạy như các vị Vāmaka, Vāmadeva, Vessamitta, Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja, Vāsaṭṭha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu”. Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?
SC 44- Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý.
SC 45- Lành thay, Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”, thật không có sự kiện ấy.
SC 46PTS cs 21 Này Vāsaṭṭha, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?”. Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?”. Hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Vāsaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói người kia không chánh xác, hợp lý?
SC 47- Vâng phải, bạch Thế Tôn. Sự kiện là như vậy thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 48PTS cs 22 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha. Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các đại tôn sư các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên, các Bà-la-môn cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không thể tận mắt thấy được Phạm thiên. Người cũng nói trong những ẩn sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được bình tán và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy—như các vị Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessamitta, Yamataggi, Angirasa, Bharadvāja, Vāsaṭṭha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào đã nói: “Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu?” Như vậy các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: “Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến sự cộng trú với Phạm thiên nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Này Vāsaṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?
SC 49- Tôn giả Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chính xác hợp lý.
SC 50PTS cs 23 - Lành thay, Vāsaṭṭha. Những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: “Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo”. Thật không có sự kiện ấy.
SC 51PTS cs 24 Này Vāsaṭṭha, như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người đứng bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia, hãy lại đây! Bờ bên kia, hãy lại đây”. Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravatī đến bờ bên này không?
SC 52- Tôn giả Gotama, không thể vậy.
SC 53PTS cs 25 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, những vị này đã nói: “Chúng tôi cầu khẩn Inda (Nhân-đà-la), chúng tôi cầu khẩn Soma (Tô-ma), chúng tôi cầu khẩn Vanena (Bà-lưu-va), chúng tôi cầu khẩn Īsāna (Y-sa-na), chúng tôi cầu khẩn Pajāpati (Sanh chủ), chúng tôi cầu khẩn Brahmà (Phạm thiên), chúng tôi cầu khẩn Mahiddhi (Ma-hi-đề), chúng tôi cầu khẩn Yāma (Dạ-ma). Này Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà ấy, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn—vì kêu gọi, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, những vị ấy sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không có sự kiện ấy.
SC 54PTS cs 26 - Này Vāsaṭṭha, như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tiến đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia, và muốn lội qua bờ bên kia. Người này đứng bên bờ này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia hãy lại đây! Bờ bên kia hãy lại đây!” Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravatī đến bờ bên này không?
SC 55- Tôn giả Gotama, không thể vậy.
SC 56PTS cs 27 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha, có năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh. Năm pháp này được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Những sắc pháp do mắt cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục, ái lạc; những tiếng do tai cảm nhận … những hương do mũi cảm nhận … những vị do lưỡi cảm nhận. Những xúc do thân cảm nhận khả ái, mỹ miều, thích thú, hấp dẫn, câu hữu với dục lạc. Này Vāsaṭṭha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, được xem là sợi dây chuyền, sợi dây thắng trong giới luật của bậc Thánh. Này Vāsaṭṭha, năm pháp khiến dục lạc tăng thịnh ấy, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, đã tận hưởng năm pháp ấy.
SC 57PTS cs 28 - Này Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, chấp trước, mê đắm, bị trói buộc, không thấy nguy hiểm của chúng, không nhận thức sự không thoát ly của chúng, tận hưởng chúng, bị trói buộc bởi sự trói buộc của dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên, thật không có sự kiện ấy.
SC 58PTS cs 29 - Này Vāsaṭṭha, như sông Aciravatī này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người này ở bên bờ này trùm đầu và nằm ngủ. Này Vāsaṭṭha, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Người ấy có thể từ bên này của sông Aciravatī đến bờ bên kia không?
SC 59- Tôn giả Gotama, không có thể được.
SC 60PTS cs 30 - Cũng vậy, này Vāsaṭṭha, có năm triền cái được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược trong giới luật của bậc Thánh. Thế nào là năm? Dục cái, sân cái, hôn trầm thụy miên cái, trạo hối cái, nghi cái. Này Vāsaṭṭha, năm triền cái này được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là màn che, cũng được gọi là triền phược. Này Vāsaṭṭha, các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái này, Này Vāsaṭṭha, thật vậy, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, bị chướng ngại, bị triền phược, bị che đậy, bị trói buộc bởi năm triền cái, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.
SC 61PTS cs 31 Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, tôn sư và đại tôn sư cùng nhau nói chuyện không? Phạm thiên có dục ái hay không dục ái?
SC 62- Tôn giả Gotama, không có dục ái.
SC 63- Có hận tâm hay không hận tâm?
SC 64- Tôn giả Gotama, không có hận tâm.
SC 65- Có sân tâm hay không sân tâm?
SC 66- Tôn giả Gotama, không có sân tâm.
SC 67- Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?
SC 68- Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.
SC 69- Có tự tại hay không có tự tại?
SC 70- Tôn giả Gotama, có tự tại.
SC 71PTS cs 32 - Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái hay không dục ái?
SC 72- Tôn giả Gotama, có dục ái.
SC 73- Có hận tâm hay không hận tâm?
SC 74- Tôn giả Gotama, có hận tâm.
SC 75- Có sân tâm hay không có sân tâm?
SC 76- Tôn giả Gotama, có sân tâm.
SC 77- Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?
SC 78- Tôn giả Gotama, có nhiễm tâm.
SC 79- Có tự tại hay không có tự tại?
SC 80- Tôn giả Gotama, không có tự tại.
SC 81PTS cs 33 - Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái, Phạm thiên không có tham ái. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái với Phạm thiên không có tham ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?
SC 82- Tôn giả Gotama, không thể có được.
SC 83PTS cs 34 - Lành thay, Vāsaṭṭha. Này Vāsaṭṭha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.
SC 84PTS cs 35 - Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm, Phạm thiên không có sân tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm … các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không có tự tại, Phạm thiên có tự tại.
SC 85Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không có tự tại với Phạm thiên có tự tại có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?
SC 86- Tôn giả Gotama, không thể có được.
SC 87PTS cs 36 - Lành thay, Vāsaṭṭha. Này Vāsaṭṭha, những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên—Thật không thể có sự kiện ấy.
SC 88Này Vāsaṭṭha, ở đời các Bà-la-môn dầu có tinh thông ba tập Vedà, khi các vị này ngồi (với sự tự tín), thật sự đang chìm (trong bùn lầy), và khi đang chìm (trong bùn lầy) phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy đối với những Bà-la-môn tinh thông Vedà sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh.
SC 89PTS cs 37 Khi nghe vậy, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn
SC 90—Tôn giả Gotama, tôi có nghe nói Sa-môn Gotama biết con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
SC 91- Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Ở đây có người sinh trưởng ở Manasākata, nhưng chưa bao giờ rời khỏi chỗ này. Có người hỏi con đường đưa đến Manasākata. Này Vāsaṭṭha, đối với người ấy đã sinh trưởng ở Manasākata, chắc không có gì nghi ngờ hay khó khăn thì phải?
SC 92- Tôn giả Gotama, thật không có gì nghi ngờ hay khó khăn. Vì cớ sao? Tôn giả Gotama, người ấy sinh trưởng ở Manasākata đều biết rõ tất cả con đường đưa đến Manasākata.
SC 93PTS cs 38 - Này Vāsaṭṭha, đối với người ấy đã sinh trưởng Manasākata, còn có thể nghi ngờ và có khó khăn hỏi đến con đường đưa đến Manasākata nhưng đối với Như Lai thì không có nghi ngờ hay khó khăn gì khi hỏi đến Phạm thiên giới hay con đường đưa đến Phạm thiên giới! Này Vāsaṭṭha, Ta biết đến Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.
SC 94PTS cs 39 Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha bạch Thế Tôn
SC 95—Tôn giả Gotama, tôi đã nghe: “Sa-môn Gotama, giảng dạy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên”. Lành thay, nếu Sa-môn Gotama thuyết dạy con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên! Mong Tôn giả Gotama tế độ chúng Bà-la-môn!
SC 96- Này Vāsaṭṭha, vậy hãy lóng nghe và khéo tác ý kỹ? Ta sẽ nói:
SC 97PTS cs 40 Này Vāsaṭṭha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thượng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Người lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 98PTS cs 41 Người gia trưởng hay con vị gia trưởng, hay một người sinh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tin ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 99PTS cs 42 Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp, thân nghiệp, ngữ nghiệp, thanh tịnh. Mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm, tỉnh giác và biết tri túc.
SC 100PTS cs 43 Này Vāsaṭṭha, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh cụ túc?
SC 101Ở đây, này Vāsaṭṭha, Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh … do lạc thọ, tâm được định tĩnh … chứng và trú thiền thứ nhất, … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43–75).
SC 102PTS cs 76 Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 103PTS cs 77 Này Vāsaṭṭha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vāsaṭṭha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, câu hữu với từ. Này Vāsaṭṭha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
SC 104PTS cs 78 Lại nữa, này Vāsaṭṭha, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 105PTS cs 79 Này Vāsaṭṭha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương, không có gì khó khăn, cũng vậy này Vāsaṭṭha, đối với mọi hình thức của sự sống, không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, cùng khởi với xả. Này Vāsaṭṭha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
SC 106PTS cs 80 Này Vāsaṭṭha, Ngươi nghĩ thế nào? Tỷ-kheo an trú như vậy là có dục ái hay không dục ái?
SC 107- Tôn giả Gotama, không có dục ái.
SC 108- Có hận tâm hay không có hận tâm?
SC 109- Tôn giả Gotama, không có hận tâm.
SC 110- Có sân tâm hay không có sân tâm?
SC 111- Tôn giả Gotama, không có sân tâm.
SC 112- Có nhiễm tâm hay không có nhiễm tâm?
SC 113- Tôn giả Gotama, không có nhiễm tâm.
SC 114- Có tự tại hay không có tự tại?
SC 115- Tôn giả Gotama, có tự tại.
SC 116PTS cs 81 Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có dục ái, Phạm thiên không có dục ái. Giữa Tỷ-kheo không có dục ái với Phạm thiên không có dục ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?
SC 117- Tôn giả Gotama, có thể có được.
SC 118- Lành thay, Vāsaṭṭha. Này Vāsaṭṭha, Tỷ-kheo sau khi tâm thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Thật có thể có sự kiện ấy.
SC 119Này Vāsaṭṭha, Ngươi nói Tỷ-kheo không có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm … Tỷ-kheo không có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm. Tỷ-kheo có tự tại, Phạm Thiên có tự tại. Giữa Tỷ-kheo có tự tại với Phạm thiên có tự tại, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?
SC 120- Tôn giả Gotama, có thể có được.
SC 121- Lành thay, Vāsaṭṭha. Này Vāsaṭṭha, Tỷ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cọng trú với Phạm thiên. Sự kiện ấy thật có thể có.
SC 122PTS cs 82 Khi nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vāsaṭṭha và Bharadvāja bạch Thế Tôn
SC 123—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày.
SC 124Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
13. Kinh Tevijja
518. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, khoảng năm trăm vị, và đã đến một làng Bà-la-môn của người Kosala tên là Manasākaṭa. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Manasākaṭa, trong một khu rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, về phía bắc của Manasākaṭa.
Tena kho pana samayena sambahulā abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā manasākaṭe paṭivasanti, seyyathidaṁ—caṅkī brāhmaṇo tārukkho brāhmaṇo pokkharasāti brāhmaṇo jāṇusoṇi brāhmaṇo todeyyo brāhmaṇo aññe ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā.
Now at that time several very well-known well-to-do brahmins were residing in Manasākaṭa. They included the brahmins Caṅkī, Tārukkha, Pokkharasāti, Jānussoṇi, Todeyya, and others.
519. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Bà-la-môn đại phú, rất nổi tiếng, đang cư ngụ tại Manasākaṭa, đó là: Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, Bà-la-môn Todeyya, và các vị Bà-la-môn đại phú nổi tiếng khác.
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājānaṁ māṇavānaṁ jaṅghavihāraṁ anucaṅkamantānaṁ anuvicarantānaṁ maggāmagge kathā udapādi.
Atha kho vāseṭṭho māṇavo evamāha: “ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena pokkharasātinā”ti.
Bhāradvājopi māṇavo evamāha: “ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena tārukkhenā”ti.
Neva kho asakkhi vāseṭṭho māṇavo bhāradvājaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ, na pana asakkhi bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhaṁ māṇavaṁ saññāpetuṁ.
Then as the students Vāseṭṭha and Bhāradvāja were going for a walk they began a discussion regarding what is the path and what is not the path.
Vāseṭṭha said this: “This is the only straight path, the direct route that delivers one who applies it to the company of Divinity; namely, that explained by the brahmin Pokkharasāti.”
Bhāradvāja said this: “This is the only straight path, the direct route that delivers one who applies it to the company of Divinity; namely, that explained by the brahmin Tārukkha.”
But neither was able to persuade the other.
520. Khi ấy, trong lúc hai thanh niên Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi kinh hành tới lui để dãn gân cốt, một cuộc thảo luận đã khởi lên về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Khi ấy, thanh niên Vāseṭṭha đã nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Pokkharasāti tuyên thuyết.’ Thanh niên Bhāradvāja cũng nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Tārukkha tuyên thuyết.’ Thanh niên Vāseṭṭha đã không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja, và thanh niên Bhāradvāja cũng không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha.
“Evaṁ, bho”ti kho bhāradvājo māṇavo vāseṭṭhassa māṇavassa paccassosi.
“Yes, worthy sir,” replied Bhāradvāja.
521. Khi ấy, thanh niên Vāseṭṭha gọi thanh niên Bhāradvāja: ‘Này Bhāradvāja, có Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang trú tại Manasākaṭa, ở phía bắc Manasākaṭa, bên bờ sông Aciravatī, trong một khu rừng xoài. Tiếng đồn tốt đẹp như sau đã được lan truyền về Tôn giả Gotama ấy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Này Bhāradvāja, chúng ta hãy đi đến nơi Sa-môn Gotama đang ở; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama về vấn đề này. Sa-môn Gotama sẽ trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.’ Thanh niên Bhāradvāja đã trả lời thanh niên Vāseṭṭha: ‘Thưa vâng, Tôn giả.’
Thảo luận về chánh đạo và tà đạo
Atha kho vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho vāseṭṭho māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “idha, bho gotama, amhākaṁ jaṅghavihāraṁ anucaṅkamantānaṁ anuvicarantānaṁ maggāmagge kathā udapādi. Ahaṁ evaṁ vadāmi: ‘ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena pokkharasātinā’ti. Bhāradvājo māṇavo evamāha: ‘ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena tārukkhenā’ti. Ettha, bho gotama, attheva viggaho, atthi vivādo, atthi nānāvādo”ti.
So they went to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and Vāseṭṭha told him of their conversation, adding: “In this matter we have a dispute, a disagreement, a difference of opinion.”
522. Khi ấy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đã đi đến nơi Đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đã cùng Đức Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Vāseṭṭha đã bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, trong lúc chúng con đang đi kinh hành tới lui để dãn gân cốt, một cuộc thảo luận đã khởi lên về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Con đã nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Pokkharasāti tuyên thuyết.’ Thanh niên Bhāradvāja đã nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Tārukkha tuyên thuyết.’ Thưa Tôn giả Gotama, về vấn đề này, có sự bất đồng, có sự tranh luận, có sự khác biệt quan điểm.’
“Iti kira, vāseṭṭha, tvaṁ evaṁ vadesi: ‘ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena pokkharasātinā’ti. Bhāradvājo māṇavo evamāha: ‘ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāya, yvāyaṁ akkhāto brāhmaṇena tārukkhenā’ti. Atha kismiṁ pana vo, vāseṭṭha, viggaho, kismiṁ vivādo, kismiṁ nānāvādo”ti?
“So, Vāseṭṭha, it seems that you say that the straight path is that explained by Pokkharasāti, while Bhāradvāja says that the straight path is that explained by Tārukkha. But what exactly is your disagreement about?”
523. ‘Này Vāseṭṭha, có phải ngươi đã nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Pokkharasāti tuyên thuyết.’ Và thanh niên Bhāradvāja đã nói như sau: ‘Đây chính là con đường ngay thẳng, đây là con đường chính trực, con đường giải thoát, đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên, con đường đã được Bà-la-môn Tārukkha tuyên thuyết.’ Vậy thì, này Vāseṭṭha, các ngươi bất đồng về điều gì, tranh luận về điều gì, khác biệt quan điểm về điều gì?’
“Maggāmagge, bho gotama. Kiñcāpi, bho gotama, brāhmaṇā nānāmagge paññāpenti, addhariyā brāhmaṇā tittiriyā brāhmaṇā chandokā brāhmaṇā bavhārijjhā brāhmaṇā, atha kho sabbāni tāni niyyānikā niyyanti takkarassa brahmasahabyatāya.
“About what is the path and what is not the path, worthy Gotama. Even though brahmins describe different paths—the Adhvaryu brahmins, the Taittirīya brahmins, the Chāndogya brahmins, the Cāndrāyaṇa brahmins, and the Bahvṛca brahmins—all of them still lead someone who practices them to the company of Divinity.
524. ‘Thưa Tôn giả Gotama, về vấn đề chánh đạo và tà đạo. Thưa Tôn giả Gotama, mặc dù các Bà-la-môn tuyên thuyết nhiều con đường khác nhau, như các Bà-la-môn Addhariyā, các Bà-la-môn Tittiriyā, các Bà-la-môn Chandokā, các Bà-la-môn Bavhārijjhā, nhưng tất cả những con đường ấy đều là con đường giải thoát, đều đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên.’
Seyyathāpi, bho gotama, gāmassa vā nigamassa vā avidūre bahūni cepi nānāmaggāni bhavanti, atha kho sabbāni tāni gāmasamosaraṇāni bhavanti; evameva kho, bho gotama, kiñcāpi brāhmaṇā nānāmagge paññāpenti, addhariyā brāhmaṇā tittiriyā brāhmaṇā chandokā brāhmaṇā bavhārijjhā brāhmaṇā, atha kho sabbāni tāni niyyānikā niyyanti takkarassa brahmasahabyatāyā”ti.
It’s like a village or town that has many different roads nearby, yet all of them meet at that village. In the same way, even though brahmins describe different paths—the Adhvaryu brahmins, the Taittirīya brahmins, the Chāndogya brahmins, the Cāndrāyaṇa brahmins, and the Bahvṛca brahmins—all of them still lead someone who practices them to the company of Divinity.”
‘Thưa Tôn giả Gotama, ví như gần một ngôi làng hoặc một thị trấn, có thể có nhiều con đường khác nhau, nhưng tất cả chúng đều dẫn đến ngôi làng ấy; cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, mặc dù các Bà-la-môn tuyên thuyết nhiều con đường khác nhau, như các Bà-la-môn Addhariyā, các Bà-la-môn Tittiriyā, các Bà-la-môn Chandokā, các Bà-la-môn Bavhārijjhā, nhưng tất cả những con đường ấy đều là con đường giải thoát, đều đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên.’
Chất vấn thanh niên Vāseṭṭha
“Niyyantīti, vāseṭṭha vadesi”?
“Niyyantīti, bho gotama, vadāmi”.
“Niyyantīti, vāseṭṭha, vadesi”?
“Niyyantīti, bho gotama, vadāmi”.
“Niyyantīti, vāseṭṭha, vadesi”?
“Niyyantīti, bho gotama, vadāmi”.
“Do you say, ‘they lead someone’, Vāseṭṭha?”
“I do, worthy Gotama.”
“Do you say, ‘they lead someone’, Vāseṭṭha?”
“I do, worthy Gotama.”
“Do you say, ‘they lead someone’, Vāseṭṭha?”
“I do, worthy Gotama.”
525. ‘Này Vāseṭṭha, ngươi nói rằng chúng đều đưa đến sao?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, con nói rằng chúng đều đưa đến.’ ‘Này Vāseṭṭha, ngươi nói rằng chúng đều đưa đến sao?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, con nói rằng chúng đều đưa đến.’ ‘Này Vāseṭṭha, ngươi nói rằng chúng đều đưa đến sao?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, con nói rằng chúng đều đưa đến.’
“Kiṁ pana, vāseṭṭha, atthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekabrāhmaṇopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Well, of the brahmins who are proficient in the three Vedas, Vāseṭṭha, is there even a single one who has seen the Divinity with their own eyes?”
“No, worthy Gotama.”
‘Này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thuộc ba tập Veda, có Bà-la-môn nào đã từng tận mắt thấy Phạm thiên không?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, không có.’
“Kiṁ pana, vāseṭṭha, atthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekācariyopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Well, has even a single one of their tutors seen the Divinity with their own eyes?”
“No, worthy Gotama.”
‘Này Vāseṭṭha, trong số các vị thầy của các Bà-la-môn thông thuộc ba tập Veda, có vị thầy nào đã từng tận mắt thấy Phạm thiên không?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, không có.’
“Kiṁ pana, vāseṭṭha, atthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekācariyapācariyopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Well, has even a single one of their tutors’ tutors seen the Divinity with their own eyes?”
“No, worthy Gotama.”
‘Này Vāseṭṭha, trong số các vị thầy của các vị thầy của các Bà-la-môn thông thuộc ba tập Veda, có vị nào đã từng tận mắt thấy Phạm thiên không?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, không có.’
“Kiṁ pana, vāseṭṭha, atthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ yāva sattamā ācariyāmahayugā yena brahmā sakkhidiṭṭho”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Well, has anyone back to the seventh generation of tutors seen the Divinity with their own eyes?”
“No, worthy Gotama.”
‘Này Vāseṭṭha, trong số các Bà-la-môn thông thuộc ba tập Veda, cho đến bảy đời tổ sư, có vị nào đã từng tận mắt thấy Phạm thiên không?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, không có.’
“Kiṁ pana, vāseṭṭha, yepi tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi tevijjā brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti, tadanubhāsanti, bhāsitamanubhāsanti, vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu. Tepi evamāhaṁsu: ‘mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma, yattha vā brahmā, yena vā brahmā, yahiṁ vā brahmā’”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Well, what of the ancient seers of the brahmins proficient in the three Vedas, namely Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamadaggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, and Bhagu? They were the authors and propagators of the hymns. Their hymnal was sung and propagated and compiled in ancient times; and these days, brahmins continue to sing and chant it, chanting what was chanted and teaching what was taught. Did they say: ‘We know and see where the Divinity is or what way he lies’?”
“No, worthy Gotama.”
526. Này Vāseṭṭha, lại nữa, những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, là những người sáng tác các câu thần chú, những người truyền bá các câu thần chú, mà hiện nay các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda đang hát theo, đọc theo, đọc lại những gì đã được đọc, dạy lại những gì đã được dạy, tức là những câu thần chú cổ xưa đã được hát, được đọc, được biên soạn của họ, cụ thể là: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Những vị ấy có nói như vầy chăng: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này, nơi nào có Phạm Thiên, con đường nào dẫn đến Phạm Thiên, hoặc nơi nào Phạm Thiên ở’?” “Thưa Tôn giả Gotama, không phải vậy.”
“Iti kira, vāseṭṭha, natthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekabrāhmaṇopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho. Natthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekācariyopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho. Natthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ekācariyapācariyopi, yena brahmā sakkhidiṭṭho. Natthi koci tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ yāva sattamā ācariyāmahayugā yena brahmā sakkhidiṭṭho. Yepi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi tevijjā brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti, tadanubhāsanti, bhāsitamanubhāsanti, vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, tepi na evamāhaṁsu: ‘mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma, yattha vā brahmā, yena vā brahmā, yahiṁ vā brahmā’ti. Teva tevijjā brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘yaṁ na jānāma, yaṁ na passāma, tassa sahabyatāya maggaṁ desema. Ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyā’ti.
“So it seems that none of those brahmins have seen the Divinity with their own eyes, and not even the ancient seers claimed to know where he is. Yet the brahmins proficient in the three Vedas say: ‘We teach the path to the company of that which we neither know nor see. This is the only straight path, the direct route that delivers one who applies it to the company of Divinity.’
527. Này Vāseṭṭha, như vậy, nghe nói rằng trong số các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, không có một vị Bà-la-môn nào đã từng thấy Phạm Thiên tận mắt. Trong số các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, không có một vị thầy nào đã từng thấy Phạm Thiên tận mắt. Trong số các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, không có một vị thầy của thầy nào đã từng thấy Phạm Thiên tận mắt. Trong số các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, cho đến bảy đời thầy tổ, không có ai đã từng thấy Phạm Thiên tận mắt. Và nghe nói rằng, những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda, là những người sáng tác các câu thần chú, những người truyền bá các câu thần chú, mà hiện nay các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda đang hát theo, đọc theo, đọc lại những gì đã được đọc, dạy lại những gì đã được dạy, tức là những câu thần chú cổ xưa đã được hát, được đọc, được biên soạn của họ, cụ thể là: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu, những vị ấy cũng đã không nói như vầy: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này, nơi nào có Phạm Thiên, con đường nào dẫn đến Phạm Thiên, hoặc nơi nào Phạm Thiên ở’. Thế mà các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda ấy lại nói như vầy: ‘Vị mà chúng tôi không biết, vị mà chúng tôi không thấy, chúng tôi lại chỉ dạy con đường để được đồng hành với vị ấy. Đây chính là con đường thẳng, đây chính là con đường chính trực, có khả năng đưa đến, và người thực hành theo đó sẽ được đồng hành với Phạm Thiên’.”
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, nanu evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā yaṁ na jānanti, yaṁ na passanti, tassa sahabyatāya maggaṁ desessanti. ‘Ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyā’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
What do you think, Vāseṭṭha? This being so, doesn’t their statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
“Good, Vāseṭṭha. For it is impossible that they should teach the path to that which they neither know nor see.
528. Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Khi sự việc là như vậy, chẳng phải lời nói của các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda trở thành lời nói không có cơ sở hay sao?” “Thưa Tôn giả Gotama, chắc chắn là vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói của các vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Veda trở thành lời nói không có cơ sở.”
Seyyathāpi, vāseṭṭha, andhaveṇi paramparasaṁsattā purimopi na passati, majjhimopi na passati, pacchimopi na passati; evameva kho, vāseṭṭha, andhaveṇūpamaṁ maññe tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ bhāsitaṁ, purimopi na passati, majjhimopi na passati, pacchimopi na passati. Tesamidaṁ tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ bhāsitaṁ hassakaññeva sampajjati, nāmakaññeva sampajjati, rittakaññeva sampajjati, tucchakaññeva sampajjati.
Suppose there was a queue of blind men, each holding the one in front: the first one does not see, the middle one does not see, and the last one does not see. In the same way, it seems to me that the brahmins’ statement turns out to be comparable to a queue of blind men: the first one does not see, the middle one does not see, and the last one does not see. Their statement turns out to be a joke—mere words, vacuous and hollow.
534. ‘Này Vāseṭṭha, ví như có một người đàn ông nói rằng: ‘Tôi mong muốn, tôi yêu mến người phụ nữ đẹp nhất ở xứ này.’ Người ta có thể hỏi anh ta rằng: ‘Này bạn, người phụ nữ đẹp nhất xứ mà bạn mong muốn, yêu mến đó, bạn có biết cô ấy thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta sẽ trả lời là ‘Không.’
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, passanti tevijjā brāhmaṇā candimasūriye, aññe cāpi bahujanā, yato ca candimasūriyā uggacchanti, yattha ca ogacchanti, āyācanti thomayanti pañjalikā namassamānā anuparivattantī”ti?
“Evaṁ, bho gotama, passanti tevijjā brāhmaṇā candimasūriye, aññe cāpi bahujanā, yato ca candimasūriyā uggacchanti, yattha ca ogacchanti, āyācanti thomayanti pañjalikā namassamānā anuparivattantī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, yaṁ passanti tevijjā brāhmaṇā candimasūriye, aññe cāpi bahujanā, yato ca candimasūriyā uggacchanti, yattha ca ogacchanti, āyācanti thomayanti pañjalikā namassamānā anuparivattanti, pahonti tevijjā brāhmaṇā candimasūriyānaṁ sahabyatāya maggaṁ desetuṁ: ‘ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa candimasūriyānaṁ sahabyatāyā’”ti?
What do you think, Vāseṭṭha? Do the brahmins proficient in the three Vedas see the sun and moon just as other folk do? And do they supplicate and entreat them, following their course from where they rise to where they set with cupped palms held in worship?”
“Yes, worthy Gotama.”
“What do you think, Vāseṭṭha? Though this is so, are the brahmins proficient in the three Vedas able to teach the path to the company of the sun and moon, saying: ‘This is the only straight path, the direct route that delivers one who applies it to the company of the sun and moon’?”
537. ‘Này Vāseṭṭha, ông nghĩ thế nào? Khi sự việc là như vậy, há chẳng phải lời nói của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà trở thành vô căn cứ hay sao?’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, chắc chắn là như vậy. Khi sự việc là như vậy, lời nói của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà trở thành vô căn cứ.’
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Iti kira, vāseṭṭha, yaṁ passanti tevijjā brāhmaṇā candimasūriye, aññe cāpi bahujanā, yato ca candimasūriyā uggacchanti, yattha ca ogacchanti, āyācanti thomayanti pañjalikā namassamānā anuparivattanti, tesampi nappahonti candimasūriyānaṁ sahabyatāya maggaṁ desetuṁ: ‘ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa candimasūriyānaṁ sahabyatāyā’ti.
Iti pana na kira tevijjehi brāhmaṇehi brahmā sakkhidiṭṭho.
“No, worthy Gotama.”
“So it seems that even though the brahmins proficient in the three Vedas see the sun and moon, they are not able to teach the path to the company of the sun and moon.
But it seems that even though they have not seen the Divinity with their own eyes,
543. Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì lý do người đàn ông ấy gọi, hay van xin, hay mong ước, hay hoan hỷ mà bờ bên kia của sông Aciravatī sẽ đi đến bờ bên này không? Thưa Tôn giả Gotama, không thể được.
532. ‘Sự thật là các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Sự thật là các vị thầy của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Sự thật là các vị thầy của các vị thầy của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Sự thật là các vị thầy cho đến bảy đời của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Và sự thật là các vị ẩn sĩ thời xưa của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà, là những người sáng tác các câu thần chú, những người truyền bá các câu thần chú, mà hiện nay các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà đang hát theo, đọc theo, đọc lại những gì đã được đọc, dạy lại những gì đã được dạy, tức là những câu thần chú cổ xưa đã được hát, được đọc, được biên soạn của họ, như là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu, ngay cả những vị ấy cũng đã không nói rằng: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này, Phạm Thiên ở đâu, do đâu mà có Phạm Thiên, hay nơi nào có Phạm Thiên.’ Thế mà các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà ấy lại nói như sau: ‘Con đường mà chúng tôi chỉ dạy để được làm bạn với vị mà chúng tôi không biết, không thấy, chính là con đường thẳng tắp này, con đường trực tiếp này, con đường dẫn đến giải thoát này, nó đưa người thực hành đến chỗ được làm bạn với Phạm Thiên.’
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, nanu evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Vāseṭṭha? This being so, doesn’t their statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
536. ‘Này Vāseṭṭha, cũng tương tự như vậy, sự thật là các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà đã không tận mắt thấy Phạm Thiên, sự thật là các vị thầy của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên, sự thật là các vị thầy của các vị thầy của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Sự thật là các vị thầy cho đến bảy đời của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà cũng đã không tận mắt thấy Phạm Thiên. Và sự thật là các vị ẩn sĩ thời xưa của các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà, là những người sáng tác các câu thần chú, những người truyền bá các câu thần chú, mà hiện nay các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà đang hát theo, đọc theo, đọc lại những gì đã được đọc, dạy lại những gì đã được dạy, tức là những câu thần chú cổ xưa đã được hát, được đọc, được biên soạn của họ, như là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu, ngay cả những vị ấy cũng đã không nói rằng: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này, Phạm Thiên ở đâu, do đâu mà có Phạm Thiên, hay nơi nào có Phạm Thiên.’ Thế mà các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà ấy lại nói như sau: ‘Con đường mà chúng tôi chỉ dạy để được làm bạn với vị mà chúng tôi không biết, không thấy, chính là con đường thẳng tắp này, con đường trực tiếp này, con đường dẫn đến giải thoát này, nó đưa người thực hành đến chỗ được làm bạn với Phạm Thiên.’
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā yaṁ na jānanti, yaṁ na passanti, tassa sahabyatāya maggaṁ desessanti: ‘ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko, niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyā’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“Good, Vāseṭṭha. For it is impossible that they should teach the path to that which they neither know nor see.
‘Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, việc các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà ấy chỉ dạy một con đường để được làm bạn với vị mà họ không biết, không thấy, rằng: ‘Đây chính là con đường thẳng tắp, đây là con đường trực tiếp, con đường dẫn đến giải thoát, nó đưa người thực hành đến chỗ được làm bạn với Phạm Thiên,’ – điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, puriso evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi, taṁ kāmemī’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ—khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti?
Suppose a man were to say, ‘Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her that I desire!’
They’d say to him, ‘My man, that finest lady in the land who you desire—do you know whether she’s an aristocrat, a brahmin, a peasant, or a menial?’
538. Này Vāseṭṭha, ví như có người đàn ông dựng một cái thang ở ngã tư đường để trèo lên một tòa lâu đài. Người ta có thể hỏi anh ta như vầy: ‘Này ông kia, ông đang dựng thang để trèo lên tòa lâu đài nào vậy, ông có biết tòa lâu đài ấy ở hướng đông, hay hướng nam, hay hướng tây, hay hướng bắc, nó cao, hay thấp, hay vừa phải không?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Không’.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ—evaṁnāmā evaṅgottāti vā, dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti, amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
They’d say to him, ‘My friend, that finest lady in the land who you desire—do you know her name or clan? Whether she’s tall or short or medium? Whether her skin is black, brown, or dingy? Whether she comes from such-and-such village, town, or city?’
Asked this, he’d say, ‘No.’
They’d say to him, ‘My man, do you desire someone who you’ve never even known or seen?’
Asked this, he’d say, ‘Yes.’
Người ta có thể hỏi anh ta như vầy: ‘Này ông kia, vậy là ông đang dựng thang để trèo lên một tòa lâu đài mà ông không biết, không thấy sao?’ Khi được hỏi như vậy, anh ta trả lời: ‘Vâng’.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
What do you think, Vāseṭṭha? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
539. Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự việc là như vậy, có phải lời nói của người đàn ông ấy trở thành vô căn cứ không? Thưa Tôn giả Gotama, chắc chắn là vậy. Nếu sự việc là như vậy, lời nói của người đàn ông ấy trở thành vô căn cứ.
“Evameva kho, vāseṭṭha, na kira tevijjehi brāhmaṇehi brahmā sakkhidiṭṭho, napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ācariyehi brahmā sakkhidiṭṭho, napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ācariyapācariyehi brahmā sakkhidiṭṭho. Napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ yāva sattamā ācariyāmahayugehi brahmā sakkhidiṭṭho. Yepi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi tevijjā brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti, tadanubhāsanti, bhāsitamanubhāsanti, vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, tepi na evamāhaṁsu: ‘mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma, yattha vā brahmā, yena vā brahmā, yahiṁ vā brahmā’ti. Teva tevijjā brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘yaṁ na jānāma, yaṁ na passāma, tassa sahabyatāya maggaṁ desema—ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyā’ti.
“In the same way,
540. Cũng vậy, này Vāseṭṭha, nghe nói rằng không có vị Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà nào đã từng tận mắt thấy Phạm thiên. Nghe nói rằng không có vị thầy nào của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà đã từng tận mắt thấy Phạm thiên. Nghe nói rằng không có vị thầy của các vị thầy của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà đã từng tận mắt thấy Phạm thiên. Nghe nói rằng không có vị nào trong dòng dõi các vị thầy cho đến bảy đời của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà đã từng tận mắt thấy Phạm thiên. Và cả những vị ẩn sĩ xưa kia của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà, những người sáng tác và truyền dạy các câu thần chú – mà ngày nay các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà vẫn còn tụng đọc, truyền lại, và lặp lại những gì đã được nói, dạy lại những gì đã được dạy – tức là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu, ngay cả những vị ấy cũng không nói rằng: ‘Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, do đâu, hay nơi nào.’ Thế mà các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà ấy lại nói rằng: ‘Con đường mà chúng tôi chỉ dạy để được đồng trú với vị mà chúng tôi không biết, không thấy, chính là con đường thẳng tắp, con đường chân chính, đưa người thực hành đến chỗ đồng trú với Phạm thiên’.
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
541. Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự việc là như vậy, có phải lời nói của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà trở thành vô căn cứ không? Thưa Tôn giả Gotama, chắc chắn là vậy. Nếu sự việc là như vậy, lời nói của các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà trở thành vô căn cứ.
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā yaṁ na jānanti, yaṁ na passanti, tassa sahabyatāya maggaṁ desessanti—ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyāti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“Good, Vāseṭṭha. For it is impossible that they should teach the path to that which they neither know nor see.
Lành thay, Vāseṭṭha. Này Vāseṭṭha, việc các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà ấy lại chỉ dạy một con đường để được đồng trú với vị mà họ không biết, không thấy, và nói rằng: ‘Đây chính là con đường thẳng tắp, con đường chân chính, đưa người thực hành đến chỗ đồng trú với Phạm thiên,’ – điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, puriso cātumahāpathe nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ—puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ: ‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi, na passasi, tassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, vāseṭṭha, na kira tevijjehi brāhmaṇehi brahmā sakkhidiṭṭho, napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ācariyehi brahmā sakkhidiṭṭho, napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ ācariyapācariyehi brahmā sakkhidiṭṭho, napi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ yāva sattamā ācariyāmahayugehi brahmā sakkhidiṭṭho. Yepi kira tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi tevijjā brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti, tadanubhāsanti, bhāsitamanubhāsanti, vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, tepi na evamāhaṁsu—mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma, yattha vā brahmā, yena vā brahmā, yahiṁ vā brahmāti. Teva tevijjā brāhmaṇā evamāhaṁsu: ‘yaṁ na jānāma, yaṁ na passāma, tassa sahabyatāya maggaṁ desema, ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyā’ti. Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, nanu evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bho gotama, evaṁ sante tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
Suppose a man was to build a ladder at the crossroads for climbing up to a stilt longhouse.
They’d say to him, ‘My man, that stilt longhouse for which you’re building a ladder—do you know whether it’s to the north, south, east, or west? Or whether it’s tall or short or medium?’
Asked this, he’d say, ‘No.’
They’d say to him, ‘My man, are you building a ladder for a longhouse that you’ve never even known or seen?’
Asked this, he’d say, ‘Yes.’
What do you think, Vāseṭṭha? This being so, doesn’t that man’s statement turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
“In the same way, doesn’t the statement of those brahmins turn out to have no demonstrable basis?”
“Clearly that’s the case, worthy Gotama.”
542. Này Vāseṭṭha, ví như sông Aciravatī này nước đầy tới bờ, đến nỗi con quạ có thể đứng trên bờ mà uống được. Rồi có một người muốn qua bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, đi đến bờ bên kia, muốn vượt qua, anh ta đến. Đứng ở bờ bên này, anh ta gọi bờ bên kia: ‘Hãy lại đây, bờ bên kia! Hãy lại đây, bờ bên kia!’
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā yaṁ na jānanti, yaṁ na passanti, tassa sahabyatāya maggaṁ desessanti. Ayameva ujumaggo ayamañjasāyano niyyāniko niyyāti takkarassa brahmasahabyatāyāti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“Good, Vāseṭṭha. For it is impossible that they should teach the path to that which they neither know nor see.
‘Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, việc các vị Bà-la-môn Tam Vệ Đà ấy chỉ dạy một con đường để được làm bạn với vị mà họ không biết, không thấy, rằng: ‘Đây chính là con đường thẳng tắp, đây là con đường trực tiếp, con đường dẫn đến giải thoát, nó đưa người thực hành đến chỗ được làm bạn với Phạm Thiên,’ – điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, ayaṁ aciravatī nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha puriso āgaccheyya pāratthiko pāragavesī pāragāmī pāraṁ taritukāmo. So orime tīre ṭhito pārimaṁ tīraṁ avheyya: ‘ehi pārāpāraṁ, ehi pārāpāran’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, api nu tassa purisassa avhāyanahetu vā āyācanahetu vā patthanahetu vā abhinandanahetu vā aciravatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ orimaṁ tīraṁ āgaccheyyā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
Suppose the Aciravatī River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a person who wants to cross over to the far shore. Standing on the near shore, they’d call out to the far shore, ‘Come here, far shore! Come here, far shore!’
What do you think, Vāseṭṭha? Would the far shore of the Aciravatī River come over to the near shore because of that man’s call, request, desire, or expectation?”
“No, worthy Gotama.”
Ví dụ về sông Aciravatī
“Evameva kho, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā ye dhammā brāhmaṇakārakā te dhamme pahāya vattamānā, ye dhammā abrāhmaṇakārakā te dhamme samādāya vattamānā evamāhaṁsu: ‘indamavhayāma, somamavhayāma, varuṇamavhayāma, īsānamavhayāma, pajāpatimavhayāma, brahmamavhayāma, mahiddhimavhayāma, yamamavhayāmā’ti.
“In the same way, Vāseṭṭha, the brahmins proficient in the three Vedas proceed having given up those things that make one a true brahmin, and having undertaken those things that make one not a true brahmin. Yet they say: ‘We call upon Indra! We call upon Soma! We call upon Varuṇa! We call upon Īsāna! We call upon the Progenitor! We call upon the Divinity! We call upon Mahiddhi! We call upon Yama!’
544. Cũng vậy, này Vāseṭṭha, các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà, trong khi từ bỏ những pháp làm nên một vị Bà-la-môn và thực hành những pháp không làm nên một vị Bà-la-môn, lại nói rằng: ‘Chúng ta kêu gọi Inda, chúng ta kêu gọi Soma, chúng ta kêu gọi Varuṇa, chúng ta kêu gọi Īsāna, chúng ta kêu gọi Pajāpati, chúng ta kêu gọi Brahmā, chúng ta kêu gọi Mahiddhi, chúng ta kêu gọi Yama’.
Te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā ye dhammā brāhmaṇakārakā te dhamme pahāya vattamānā, ye dhammā abrāhmaṇakārakā te dhamme samādāya vattamānā avhāyanahetu vā āyācanahetu vā patthanahetu vā abhinandanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmānaṁ sahabyūpagā bhavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So long as they proceed in this way it’s impossible that they will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity.
Này Vāseṭṭha, việc các Bà-la-môn thông suốt Tam Phệ-đà ấy, trong khi từ bỏ những pháp làm nên một vị Bà-la-môn và thực hành những pháp không làm nên một vị Bà-la-môn, lại có thể vì lý do gọi, hay van xin, hay mong ước, hay hoan hỷ mà sau khi thân hoại mạng chung sẽ được đồng trú với Phạm thiên – điều này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, ayaṁ aciravatī nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha puriso āgaccheyya pāratthiko pāragavesī pāragāmī pāraṁ taritukāmo. So orime tīre daḷhāya anduyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ baddho.
Suppose the Aciravatī River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a person who wants to cross over to the far shore. But while still on the near shore, their arms are tied tightly behind their back with a strong chain.
545. Này Vāseṭṭha, ví như sông Aciravatī này nước đầy tới bờ, đến nỗi con quạ có thể đứng trên bờ mà uống được. Rồi có một người muốn qua bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, đi đến bờ bên kia, muốn vượt qua, anh ta đến. Anh ta bị trói chặt tay ra sau lưng bằng một sợi dây thừng chắc chắn ở bờ bên này.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, api nu so puriso aciravatiyā nadiyā orimā tīrā pārimaṁ tīraṁ gaccheyyā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
What do you think, Vāseṭṭha? Could that person cross over to the far shore?”
“No, worthy Gotama.”
Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Người đàn ông ấy có thể đi từ bờ bên này của sông Aciravatī đến bờ bên kia được không? Thưa Tôn giả Gotama, không thể được.
“Evameva kho, vāseṭṭha, pañcime kāmaguṇā ariyassa vinaye andūtipi vuccanti, bandhanantipi vuccanti. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
“In the same way, the five kinds of sensual stimulation are called ‘chains’ and ‘fetters’ in the training of the Noble One. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
546. Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm loại dục lạc này trong giới luật của bậc Thánh được gọi là dây thừng, cũng được gọi là xiềng xích. Năm loại nào? Các sắc do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Các tiếng do tai nhận biết... các mùi do mũi nhận biết... các vị do lưỡi nhận biết... các vật xúc chạm do thân nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ.
Ime kho, vāseṭṭha, pañca kāmaguṇā ariyassa vinaye andūtipi vuccanti, bandhanantipi vuccanti. Ime kho, vāseṭṭha, pañca kāmaguṇe tevijjā brāhmaṇā gadhitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjanti. Te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā ye dhammā brāhmaṇakārakā, te dhamme pahāya vattamānā, ye dhammā abrāhmaṇakārakā, te dhamme samādāya vattamānā pañca kāmaguṇe gadhitā mucchitā ajjhopannā anādīnavadassāvino anissaraṇapaññā paribhuñjantā kāmandubandhanabaddhā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmānaṁ sahabyūpagā bhavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
These are the five kinds of sensual stimulation that are called ‘chains’ and ‘fetters’ in the training of the Noble One. The brahmins proficient in the three Vedas enjoy these five kinds of sensual stimulation tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape. So long as they enjoy them it’s impossible that they will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity.
Này Vāseṭṭha, năm dục trưởng dưỡng này, trong giới luật của bậc Thánh, được gọi là cùm chân, cũng được gọi là xiềng xích. Này Vāseṭṭha, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda này tham đắm, say mê, chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí tuệ về sự xuất ly, mà hưởng thụ năm dục trưởng dưỡng. Này Vāseṭṭha, thật vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda ấy, trong khi từ bỏ các pháp tạo nên phẩm hạnh Bà la môn, và trong khi thực hành các pháp không tạo nên phẩm hạnh Bà la môn, lại tham đắm, say mê, chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí tuệ về sự xuất ly, mà hưởng thụ năm dục trưởng dưỡng, bị trói buộc bởi cùm chân và xiềng xích của dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được cộng trú với Phạm thiên, trường hợp này không thể xảy ra.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, ayaṁ aciravatī nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha puriso āgaccheyya pāratthiko pāragavesī pāragāmī pāraṁ taritukāmo. So orime tīre sasīsaṁ pārupitvā nipajjeyya.
Suppose the Aciravatī River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a person who wants to cross over to the far shore. But they’d lie down wrapped in cloth from head to foot.
547. Này Vāseṭṭha, ví như sông Aciravatī này đầy nước, bằng phẳng với bờ, quạ có thể uống được. Rồi một người đàn ông đến, muốn đến bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, mong đến bờ bên kia, muốn vượt qua bờ bên kia. Người ấy trùm kín cả đầu rồi nằm xuống ở bờ bên này.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, api nu so puriso aciravatiyā nadiyā orimā tīrā pārimaṁ tīraṁ gaccheyyā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
What do you think, Vāseṭṭha? Could that person cross over to the far shore?”
“No, worthy Gotama.”
Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Người đàn ông ấy có thể từ bờ bên này của sông Aciravatī đi đến bờ bên kia không?" "Thưa Tôn giả Gotama, không thể được."
“Evameva kho, vāseṭṭha, pañcime nīvaraṇā ariyassa vinaye āvaraṇātipi vuccanti, nīvaraṇātipi vuccanti, onāhanātipi vuccanti, pariyonāhanātipi vuccanti. Katame pañca? Kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ, uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ. Ime kho, vāseṭṭha, pañca nīvaraṇā ariyassa vinaye āvaraṇātipi vuccanti, nīvaraṇātipi vuccanti, onāhanātipi vuccanti, pariyonāhanātipi vuccanti.
“In the same way, the five hindrances are called ‘obstacles’ and ‘hindrances’ and ‘encasings’ and ‘shrouds’ in the training of the Noble One. What five? The hindrances of sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These five hindrances are called ‘obstacles’ and ‘hindrances’ and ‘encasings’ and ‘shrouds’ in the training of the Noble One.
548. Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm triền cái này, trong giới luật của bậc Thánh, được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là sự trói buộc, cũng được gọi là sự bao trùm. Năm loại nào? Triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái hoài nghi. Này Vāseṭṭha, năm triền cái này, trong giới luật của bậc Thánh, được gọi là chướng ngại, cũng được gọi là triền cái, cũng được gọi là sự trói buộc, cũng được gọi là sự bao trùm.
Imehi kho, vāseṭṭha, pañcahi nīvaraṇehi tevijjā brāhmaṇā āvuṭā nivutā onaddhā pariyonaddhā. Te vata, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā ye dhammā brāhmaṇakārakā te dhamme pahāya vattamānā, ye dhammā abrāhmaṇakārakā te dhamme samādāya vattamānā pañcahi nīvaraṇehi āvuṭā nivutā onaddhā pariyonaddhā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmānaṁ sahabyūpagā bhavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
The brahmins proficient in the three Vedas are obstructed, hindered, swathed, and enveloped by these five hindrances. So long as they are so obstructed it’s impossible that they will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity.
549. Này Vāseṭṭha, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda bị năm triền cái này che đậy, bao phủ, trói buộc, bao trùm. Này Vāseṭṭha, thật vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda ấy, trong khi từ bỏ các pháp tạo nên phẩm hạnh Bà la môn, và trong khi thực hành các pháp không tạo nên phẩm hạnh Bà la môn, bị năm triền cái này che đậy, bao phủ, trói buộc, bao trùm, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được cộng trú với Phạm thiên, trường hợp này không thể xảy ra.
Bài thuyết giảng về sự tương hợp
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, kinti te sutaṁ brāhmaṇānaṁ vuddhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ, sapariggaho vā brahmā apariggaho vā”ti?
“Apariggaho, bho gotama”.
“Saveracitto vā averacitto vā”ti?
“Averacitto, bho gotama”.
“Sabyāpajjacitto vā abyāpajjacitto vā”ti?
“Abyāpajjacitto, bho gotama”.
“Saṅkiliṭṭhacitto vā asaṅkiliṭṭhacitto vā”ti?
“Asaṅkiliṭṭhacitto, bho gotama”.
“Vasavattī vā avasavattī vā”ti?
“Vasavattī, bho gotama”.
What do you think, Vāseṭṭha? Have you heard that the brahmins who are elderly and senior, the tutors of tutors, say whether the Divinity is encumbered with possessions or not?”
“That he is not, worthy Gotama.”
“Is his heart full of enmity or not?”
“It is not.”
“Is his heart full of ill will or not?”
“It is not.”
“Is his heart corrupted or not?”
“It is not.”
“Does he wield power or not?”
“He does.”
550. Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Ngươi đã nghe các Bà la môn già cả, lớn tuổi, là thầy và thầy của thầy nói như thế nào: Phạm thiên có sở hữu hay không có sở hữu?" "Thưa Tôn giả Gotama, không có sở hữu." "Có tâm sân hận hay không có tâm sân hận?" "Thưa Tôn giả Gotama, không có tâm sân hận." "Có tâm ác ý hay không có tâm ác ý?" "Thưa Tôn giả Gotama, không có tâm ác ý." "Có tâm ô nhiễm hay không có tâm ô nhiễm?" "Thưa Tôn giả Gotama, không có tâm ô nhiễm." "Có tự chủ hay không tự chủ?" "Thưa Tôn giả Gotama, có tự chủ."
“Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, sapariggahā vā tevijjā brāhmaṇā apariggahā vā”ti?
“Sapariggahā, bho gotama”.
“Saveracittā vā averacittā vā”ti?
“Saveracittā, bho gotama”.
“Sabyāpajjacittā vā abyāpajjacittā vā”ti?
“Sabyāpajjacittā, bho gotama”.
“Saṅkiliṭṭhacittā vā asaṅkiliṭṭhacittā vā”ti?
“Saṅkiliṭṭhacittā, bho gotama”.
“Vasavattī vā avasavattī vā”ti?
“Avasavattī, bho gotama”.
“What do you think, Vāseṭṭha? Are the brahmins proficient in the three Vedas encumbered with possessions or not?”
“They are.”
“Are their hearts full of enmity or not?”
“They are.”
“Are their hearts full of ill will or not?”
“They are.”
“Are their hearts corrupted or not?”
“They are.”
“Do they wield power or not?”
“They do not.”
Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy? Các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có sở hữu hay không có sở hữu?" "Thưa Tôn giả Gotama, có sở hữu." "Có tâm sân hận hay không có tâm sân hận?" "Thưa Tôn giả Gotama, có tâm sân hận." "Có tâm ác ý hay không có tâm ác ý?" "Thưa Tôn giả Gotama, có tâm ác ý." "Có tâm ô nhiễm hay không có tâm ô nhiễm?" "Thưa Tôn giả Gotama, có tâm ô nhiễm." "Có tự chủ hay không tự chủ?" "Thưa Tôn giả Gotama, không tự chủ."
“Iti kira, vāseṭṭha, sapariggahā tevijjā brāhmaṇā apariggaho brahmā. Api nu kho sapariggahānaṁ tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ apariggahena brahmunā saddhiṁ saṁsandati sametī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, sapariggahā tevijjā brāhmaṇā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apariggahassa brahmuno sahabyūpagā bhavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
“So it seems that the brahmins proficient in the three Vedas are encumbered with possessions, but the Divinity is not. But would brahmins who are encumbered with possessions join together and converge with the Divinity, who isn’t encumbered with possessions?”
“No, worthy Gotama.”
“Good, Vāseṭṭha! It’s impossible that the brahmins who are encumbered with possessions will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity, who isn’t encumbered with possessions.
551. Này Vāseṭṭha, như vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có sở hữu, còn Phạm thiên không có sở hữu. Vậy thì các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có sở hữu có thể tương hợp hay hòa hợp với Phạm thiên không có sở hữu không?" "Thưa Tôn giả Gotama, không thể được." "Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, thật vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có sở hữu, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được cộng trú với Phạm thiên không có sở hữu, trường hợp này không thể xảy ra.
Iti kira, vāseṭṭha, saveracittā tevijjā brāhmaṇā, averacitto brahmā …pe… sabyāpajjacittā tevijjā brāhmaṇā abyāpajjacitto brahmā … saṅkiliṭṭhacittā tevijjā brāhmaṇā asaṅkiliṭṭhacitto brahmā … avasavattī tevijjā brāhmaṇā vasavattī brahmā, api nu kho avasavattīnaṁ tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ vasavattinā brahmunā saddhiṁ saṁsandati sametī”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”.
“Sādhu, vāseṭṭha, te vata, vāseṭṭha, avasavattī tevijjā brāhmaṇā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā vasavattissa brahmuno sahabyūpagā bhavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
And it seems that the brahmins have enmity, ill will, corruption, and do not wield power, while the Divinity has no enmity, ill will, or corruption, and who does wield power. But would brahmins who are opposite to the Divinity in all these things join together and converge with him?”
“No, worthy Gotama.”
“Good, Vāseṭṭha! It’s impossible that brahmins who are opposite to the Divinity in all these things will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity.
Này Vāseṭṭha, như vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có tâm sân hận, còn Phạm thiên không có tâm sân hận... các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có tâm ác ý, còn Phạm thiên không có tâm ác ý... các Bà la môn thông thạo ba tập Veda có tâm ô nhiễm, còn Phạm thiên không có tâm ô nhiễm... các Bà la môn thông thạo ba tập Veda không tự chủ, còn Phạm thiên có tự chủ. Vậy thì các Bà la môn thông thạo ba tập Veda không tự chủ có thể tương hợp hay hòa hợp với Phạm thiên có tự chủ không?" "Thưa Tôn giả Gotama, không thể được." "Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, thật vậy, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda không tự chủ, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được cộng trú với Phạm thiên có tự chủ, trường hợp này không thể xảy ra.
Idha kho pana te, vāseṭṭha, tevijjā brāhmaṇā āsīditvā saṁsīdanti, saṁsīditvā visāraṁ pāpuṇanti, sukkhataraṁ maññe taranti. Tasmā idaṁ tevijjānaṁ brāhmaṇānaṁ tevijjāiriṇantipi vuccati, tevijjāvivanantipi vuccati, tevijjābyasanantipi vuccatī”ti.
Now in this regard, Vāseṭṭha, those brahmins proficient in the three Vedas, having dived in, sink down. Having sunk down, they undergo drowning, imagining they are crossing to the dry shore. That’s why the three Vedas of the brahmins are called a ‘salted land’ and a ‘barren land’ and a ‘disaster’.”
552. Này Vāseṭṭha, ở đây, các Bà la môn thông thạo ba tập Veda, sau khi ngồi xuống, họ bị chìm đắm; sau khi bị chìm đắm, họ đi đến sự hủy hoại. Ta nghĩ rằng họ đang cố vượt qua một vùng đất khô cằn. Do đó, ba tập Veda của các Bà la môn này được gọi là vùng hoang địa ba Veda, cũng được gọi là vùng hoang dã ba Veda, cũng được gọi là sự hủy hoại ba Veda.
Evaṁ vutte, vāseṭṭho māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho gotama, samaṇo gotamo brahmānaṁ sahabyatāya maggaṁ jānātī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha. Āsanne ito manasākaṭaṁ, na ito dūre manasākaṭan”ti?
“Evaṁ, bho gotama, āsanne ito manasākaṭaṁ, na ito dūre manasākaṭan”ti.
When he said this, Vāseṭṭha said to the Buddha, “I have heard, worthy Gotama, that you know the path to company with Divinity.”
“What do you think, Vāseṭṭha? Is the village of Manasākaṭa nearby?”
“Yes it is.”
553. Khi được nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha bạch với Thế Tôn rằng: 'Thưa Tôn giả Gotama, con đã nghe rằng: 'Sa môn Gotama biết con đường để cộng trú với Phạm thiên.'' 'Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Làng Manasākaṭa có gần đây không, làng Manasākaṭa có không xa đây không?' 'Thưa Tôn giả Gotama, đúng vậy, làng Manasākaṭa gần đây, làng Manasākaṭa không xa đây.'
“Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, idhassa puriso manasākaṭe jātasaṁvaddho. Tamenaṁ manasākaṭato tāvadeva avasaṭaṁ manasākaṭassa maggaṁ puccheyyuṁ. Siyā nu kho, vāseṭṭha, tassa purisassa manasākaṭe jātasaṁvaddhassa manasākaṭassa maggaṁ puṭṭhassa dandhāyitattaṁ vā vitthāyitattaṁ vā”ti?
“No hidaṁ, bho gotama”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bho gotama, puriso manasākaṭe jātasaṁvaddho, tassa sabbāneva manasākaṭassa maggāni suviditānī”ti.
“What do you think, Vāseṭṭha? Suppose a person was born and raised in Manasākaṭa. And as soon as they left the town some people asked them for the road to Manasākaṭa. Would they be slow or hesitant to answer?”
“No, worthy Gotama. Why is that? Because they were born and raised in Manasākaṭa. They’re well acquainted with all the roads to the village.”
554. “Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào về điều này? Giả sử có một người được sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa. Người ấy vừa mới rời khỏi Manasākaṭa thì có người hỏi đường đến Manasākaṭa. Này Vāseṭṭha, người ấy, được sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa, khi được hỏi đường đến Manasākaṭa, có thể nào lại có sự chậm trễ hay do dự chăng?” “Thưa Tôn giả Gotama, không thể có chuyện đó.” “Vì sao vậy?” “Thưa Tôn giả Gotama, vì người ấy được sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa, nên tất cả các con đường của Manasākaṭa đều được người ấy biết rõ.”
“Siyā kho, vāseṭṭha, tassa purisassa manasākaṭe jātasaṁvaddhassa manasākaṭassa maggaṁ puṭṭhassa dandhāyitattaṁ vā vitthāyitattaṁ vā, na tveva tathāgatassa brahmaloke vā brahmalokagāminiyā vā paṭipadāya puṭṭhassa dandhāyitattaṁ vā vitthāyitattaṁ vā. Brahmānañcāhaṁ, vāseṭṭha, pajānāmi brahmalokañca brahmalokagāminiñca paṭipadaṁ, yathā paṭipanno ca brahmalokaṁ upapanno, tañca pajānāmī”ti.
“Still, it’s possible they might be slow or hesitant to answer. But the Realized One is never slow or hesitant when questioned about the realm of divinity or the practice that leads to the realm of divinity. I understand the Divinity, the realm of divinity, and the practice that leads to the realm of divinity, practicing in accordance with which one is reborn in the realm of divinity.”
“Này Vāseṭṭha, người ấy, được sinh ra và lớn lên tại Manasākaṭa, khi được hỏi đường đến Manasākaṭa, có thể có sự chậm trễ hay do dự; nhưng đối với Như Lai, khi được hỏi về Phạm thiên giới, hay con đường đưa đến Phạm thiên giới, thì không thể nào có sự chậm trễ hay do dự. Này Vāseṭṭha, Ta biết rõ về Phạm thiên, về Phạm thiên giới, và về con đường đưa đến Phạm thiên giới. Và Ta cũng biết rõ người đã thực hành như thế nào để được sanh vào Phạm thiên giới.”
Evaṁ vutte, vāseṭṭho māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bho gotama, samaṇo gotamo brahmānaṁ sahabyatāya maggaṁ desetī”ti. “Sādhu no bhavaṁ gotamo brahmānaṁ sahabyatāya maggaṁ desetu ullumpatu bhavaṁ gotamo brāhmaṇiṁ pajan”ti.
“Tena hi, vāseṭṭha, suṇāhi; sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho vāseṭṭho māṇavo bhagavato paccassosi.
When he said this, Vāseṭṭha said to the Buddha, “I have heard, worthy Gotama, that you teach the path to company with Divinity. Please teach us that path and elevate this generation of brahmins.”
“Well then, Vāseṭṭha, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” replied Vāseṭṭha.
555. Khi được nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa Tôn giả Gotama, con có nghe rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết giảng con đường để được chung sống với Phạm thiên.’ Lành thay, mong Tôn giả Gotama hãy thuyết giảng cho chúng con con đường để được chung sống với Phạm thiên. Mong Tôn giả Gotama hãy cứu vớt chúng sanh Bà-la-môn.” “Vậy thì, này Vāseṭṭha, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả,” thanh niên Vāseṭṭha vâng đáp Thế Tôn.
Thuyết giảng về con đường đến Phạm thiên giới
Bhagavā etadavoca:
“idha, vāseṭṭha, tathāgato loke uppajjati arahaṁ, sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, vāseṭṭha, bhikkhu sīlasampanno hoti …pe… tassime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
The Buddha said this:
“It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. … Seeing that the hindrances have been given up in them, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed.
556. Thế Tôn nói điều này: “Này Vāseṭṭha, ở đây, Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác… (nên được diễn giải như trong các đoạn 190-212). Này Vāseṭṭha, như vậy vị Tỳ-kheo đầy đủ giới hạnh… Vị ấy, khi thấy năm triền cái này đã được đoạn trừ nơi tự thân, hân hoan sanh khởi; do hân hoan nên hỷ sanh; do ý hoan hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên cảm nhận được lạc; do có lạc nên tâm được định tĩnh.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
“Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, vô biên, không hận, không sân.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, balavā saṅkhadhamo appakasireneva catuddisā viññāpeyya; evameva kho, vāseṭṭha, evaṁ bhāvitāya mettāya cetovimuttiyā yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhati. Ayampi kho, vāseṭṭha, brahmānaṁ sahabyatāya maggo.
Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, when the heart’s release by love has been developed like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there. This is a path to company with Divinity.
“Này Vāseṭṭha, ví như một người thổi tù và có sức mạnh, có thể không khó khăn gì làm cho tiếng tù và vang khắp bốn phương; cũng vậy, này Vāseṭṭha, khi tâm giải thoát bằng từ được tu tập như vậy, nghiệp nào đã được làm có giới hạn sẽ không còn tồn tại ở đấy, không còn lưu lại ở đấy. Này Vāseṭṭha, đây cũng là con đường để được chung sống với Phạm thiên.
Puna caparaṁ, vāseṭṭha, bhikkhu karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati. Tathā dutiyaṁ. Tathā tatiyaṁ. Tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of compassion …
They meditate spreading a heart full of rejoicing …
They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
“Lại nữa, này Vāseṭṭha, vị Tỳ-kheo an trú với tâm câu hữu với bi… (như trên)… với tâm câu hữu với hỷ… (như trên)… với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương. Cũng vậy phương thứ hai. Cũng vậy phương thứ ba. Cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, vô biên, không hận, không sân.
Seyyathāpi, vāseṭṭha, balavā saṅkhadhamo appakasireneva catuddisā viññāpeyya; evameva kho, vāseṭṭha, evaṁ bhāvitāya upekkhāya cetovimuttiyā yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhati. Ayampi kho, vāseṭṭha, brahmānaṁ sahabyatāya maggo.
Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, when the heart’s release by equanimity has been developed and cultivated like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there. This too is a path to company with Divinity.
“Này Vāseṭṭha, ví như một người thổi tù và có sức mạnh, có thể không khó khăn gì làm cho tiếng tù và vang khắp bốn phương. Cũng vậy, này Vāseṭṭha, khi tâm giải thoát bằng xả được tu tập như vậy, nghiệp nào đã được làm có giới hạn sẽ không còn tồn tại ở đấy, không còn lưu lại ở đấy. Này Vāseṭṭha, đây là con đường để được chung sống với Phạm thiên.
Taṁ kiṁ maññasi, vāseṭṭha, evaṁvihārī bhikkhu sapariggaho vā apariggaho vā”ti?
“Apariggaho, bho gotama”.
“Saveracitto vā averacitto vā”ti?
“Averacitto, bho gotama”.
“Sabyāpajjacitto vā abyāpajjacitto vā”ti?
“Abyāpajjacitto, bho gotama”.
“Saṅkiliṭṭhacitto vā asaṅkiliṭṭhacitto vā”ti?
“Asaṅkiliṭṭhacitto, bho gotama”.
“Vasavattī vā avasavattī vā”ti?
“Vasavattī, bho gotama”.
What do you think, Vāseṭṭha? When a mendicant meditates like this, are they encumbered with possessions or not?”
“They are not.”
“Is their heart full of enmity or not?”
“It is not.”
“Is their heart full of ill will or not?”
“It is not.”
“Is their heart corrupted or not?”
“It is not.”
“Do they wield power or not?”
“They do.”
557. “Này Vāseṭṭha, ngươi nghĩ thế nào? Vị Tỳ-kheo an trú như vậy là có sở hữu hay không có sở hữu?” “Thưa Tôn giả Gotama, là không có sở hữu.” “Là có tâm sân hận hay không có tâm sân hận?” “Thưa Tôn giả Gotama, là không có tâm sân hận.” “Là có tâm ác ý hay không có tâm ác ý?” “Thưa Tôn giả Gotama, là không có tâm ác ý.” “Là có tâm ô nhiễm hay không có tâm ô nhiễm?” “Thưa Tôn giả Gotama, là không có tâm ô nhiễm.” “Là có tự chủ hay không có tự chủ?” “Thưa Tôn giả Gotama, là có tự chủ.”
“Iti kira, vāseṭṭha, apariggaho bhikkhu, apariggaho brahmā. Api nu kho apariggahassa bhikkhuno apariggahena brahmunā saddhiṁ saṁsandati sametī”ti?
“Evaṁ, bho gotama”.
“Sādhu, vāseṭṭha, so vata vāseṭṭha apariggaho bhikkhu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apariggahassa brahmuno sahabyūpago bhavissatīti, ṭhānametaṁ vijjati.
“So it seems that that mendicant is not encumbered with possessions, and neither is the Divinity. Would a mendicant who is not encumbered with possessions join together and converge with the Divinity, who isn’t encumbered with possessions?”
“Yes, worthy Gotama.”
“Good, Vāseṭṭha! It’s quite possible that a mendicant who is not encumbered with possessions will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity, who isn’t encumbered with possessions.
“Như vậy, này Vāseṭṭha, vị Tỳ-kheo không có sở hữu, và Phạm thiên cũng không có sở hữu. Vậy vị Tỳ-kheo không có sở hữu có hòa hợp và tương ứng với Phạm thiên không có sở hữu chăng?” “Thưa Tôn giả Gotama, có ạ.” “Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, vị Tỳ-kheo không có sở hữu ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được chung sống với Phạm thiên không có sở hữu, trường hợp này có thể xảy ra.”
Iti kira, vāseṭṭha, averacitto bhikkhu, averacitto brahmā …pe… abyāpajjacitto bhikkhu, abyāpajjacitto brahmā … asaṅkiliṭṭhacitto bhikkhu, asaṅkiliṭṭhacitto brahmā … vasavattī bhikkhu, vasavattī brahmā, api nu kho vasavattissa bhikkhuno vasavattinā brahmunā saddhiṁ saṁsandati sametī”ti?
“Evaṁ, bho gotama”.
“Sādhu, vāseṭṭha, so vata, vāseṭṭha, vasavattī bhikkhu kāyassa bhedā paraṁ maraṇā vasavattissa brahmuno sahabyūpago bhavissatīti, ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
And it seems that that mendicant has no enmity, ill will, corruption, and does wield power, while the Divinity is the same in all these things. Would a mendicant who is the same as the Divinity in all things join together and converge with him?”
“Yes, worthy Gotama.”
“Good, Vāseṭṭha! It’s quite possible that that mendicant will, when the body breaks up, after death, be reborn in the company of Divinity.”
558. “Như vậy, này Vāseṭṭha, vị Tỳ-kheo không có tâm sân hận, và Phạm thiên cũng không có tâm sân hận… (như trên)… vị Tỳ-kheo không có tâm ác ý, và Phạm thiên cũng không có tâm ác ý… vị Tỳ-kheo không có tâm ô nhiễm, và Phạm thiên cũng không có tâm ô nhiễm… vị Tỳ-kheo có tự chủ, và Phạm thiên cũng có tự chủ. Vậy vị Tỳ-kheo có tự chủ có hòa hợp và tương ứng với Phạm thiên có tự chủ chăng?” “Thưa Tôn giả Gotama, có ạ.” “Lành thay, Vāseṭṭha! Này Vāseṭṭha, vị Tỳ-kheo có tự chủ ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được chung sống với Phạm thiên có tự chủ, trường hợp này có thể xảy ra.”
Evaṁ vutte, vāseṭṭhabhāradvājā māṇavā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma, dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, Vāseṭṭha and Bhāradvāja said to him, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
559. Khi được nói như vậy, các thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đã bạch với Đức Thế Tôn lời này: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, người ta lật ngửa vật bị úp xuống, hay mở ra vật bị che đậy, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem ngọn đèn dầu vào trong bóng tối với ý nghĩ: ‘Những người có mắt sẽ thấy các sắc.’ Cũng vậy, Tôn giả Gotama đã thuyết giảng Chánh Pháp bằng nhiều phương tiện. Chúng con đây xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng Tỳ khưu. Xin Tôn giả Gotama hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y Tam Bảo trọn đời kể từ hôm nay.”
Tevijjasuttaṁ niṭṭhitaṁ terasamaṁ.
Kinh Tevijja, kinh thứ mười ba, đã kết thúc.
Sīlakkhandhavaggo niṭṭhito.
Tassuddānaṁ
Phẩm Giới Uẩn đã kết thúc.
Brahmāsāmaññaambaṭṭha, Soṇakūṭamahālijālinī; Sīhapoṭṭhapādasubho kevaṭṭo, Lohiccatevijjā terasāti.
Kinh Phạm Võng, Sa Môn Quả, Ambaṭṭha, Soṇadaṇḍa, Kūṭadanta, Mahāli, Jāliya; Sư Tử Hống, Poṭṭhapāda, Subha, Kevaṭṭa, Lohicca, và Tevijja là mười ba kinh.
Sīlakkhandhavaggapāḷi niṭṭhitā.
Thánh điển về Phẩm Giới Uẩn đã kết thúc.