- Dīgha Nikāya 12
Lohiccasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Lohiccasutta
SC 1PTS cs 1 Như vậy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn đang đi du hành tại nước Kosala (Câu-tát-la) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, và đến tại Sàlavatikà (một làng có dãy cây tala bao bọc). Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca ở tại Sàlavatikà, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, ngũ cốc phong phú, vốn là đất đai của vua, sau vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cấp cho để hưởng một phần lợi tức.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca khởi lên ác kiến sau đây: “Ở đời, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng được thiện pháp, sau khi chứng được thiện pháp không nên nói cho người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được? Ví như một người sau khi cắt sợi dây cũ trói buộc, lại tự làm một sợi dây mới khác nữa. Ta nói sự thành tựu là ác pháp, tham pháp vì có ai lại làm giúp cho ai được?”.
SC 3PTS cs 3 Bà-la-môn Lohicca nghe đồn: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành tại nước Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, nay đã đến Sàlavatikà. Những tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài đã tự chứng ngộ thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, tự mình chứng ngộ với thắng trí rồi hiển thị cho mọi loài được biết. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Lành thay, nếu được yết kiến một vị A-la-hán như vậy”.
SC 4PTS cs 4 Bà-la-môn Lohicca nói với Bhesika, người hớt tóc
:SC 5 “Này thiện nhân Bhesika, hãy đi đến Sa-môn Gotama thay mặt ta hỏi thăm Sa-môn Gotama có được ít bệnh ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú không: “Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm Thế Tôn có được ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú không?” và nói thêm: “Mong Thế Tôn nhận lời của Bà-la-môn Lohicca sáng mai đến dùng cơm cùng với đại chúng Tỷ-kheo!”.
SC 6PTS cs 5 - Tôn giả, xin vâng!
SC 7Bhesika người hớt tóc vâng theo lời của Bà-la-môn Lohicca đến với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Bhesika người hớt tóc bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm “Thế Tôn có được ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn, lạc trú không?” và nói thêm: “Mong đức Thế Tôn nhận lời mời của Bà-la-môn Lohicca sáng mai đến dùng cơm với đại chúng Tỷ-kheo”.
SC 9Ðức Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 10PTS cs 6 Bhesika, người hớt tóc, được biết Thế Tôn nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, đi đến Bà-la-môn Lohicca, khi đã đến, liền thưa với Bà-la-môn Lohicca
SC 11—Tôn giả, chúng tôi đã thay mặt Tôn giả thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm Thế Tôn Gotama có được ít bệnh, ít não, khinh an, khí lực sung mãn không” và nói thêm: “Mong Thế Tôn nhận lời của Bà-la-môn Lohicca sáng mai đến dùng cơm với đại chúng Tỷ-kheo” và Thế Tôn nhận lời.
SC 12PTS cs 7 Rồi Bà-la-môn, Lohicca sau khi đêm ấy đã mãn, làm sẵn sàng tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm rồi nói với Bhesika, người hớt tóc
SC 13—Này thiện nhân Bhesika, hãy đi đến Sa-môn Gotama, khi đã đến, hãy báo giờ cho Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, cơm đã sẵn sàng”.
- Tôn giả, xin vâng!
SC 14Bhesika người hớt tóc, vâng theo lời của Bà-la-môn Lohicca, đi đến Thế Tôn, khi đã đến, liền đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Bhesika người hớt tóc báo thời giờ cho Sa-môn Gotama: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến Sàlavatikà.
SC 15PTS cs 8 Lúc bấy giờ, Bhesika, người hớt tóc, đang đi sau lưng Thế Tôn. Rồi Bhesika, người hớt tóc bạch Thế Tôn
SC 16—Bà-la-môn Lohicca có khởi lên ác kiến sau đây: “Ở đời có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng được thiện pháp, sau khi chứng được thiện pháp, không nên nói cho người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được? Ví như một người, sau khi cắt sợi dây trói buộc, lại tự làm một sợi dây mới khác nữa. Ta nói sự thành tựu là ác pháp, tham pháp. Vì có ai lại làm giúp cho ai được?” Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn có thể giúp Bà-la-môn Lohicca trừ ác kiến ấy!
SC 17- Này Bhesika, việc ấy có thể được. Này Bhesika, việc ấy có thể được.
SC 18PTS cs 9 Lúc bấy giờ, Thế Tôn đến tại cư xá của Bà-la-môn Lohicca, khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Bà-la-môn Lohicca tự tay làm cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn với những món thượng vị, loại cứng loại mềm. Bà-la-môn Lohicca, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Lohicca
SC 19—Này Lohicca, có thật chăng, Ngươi khởi lên ác kiến như sau: “Ở đời, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng được thiện pháp, sau khi chứng được thiện pháp, không nên nói cho người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được? Ví như một người sau khi cắt sợi dây cũ trói buộc, lại tự làm một sợi dây mới khác nữa. Ta nói sự thành tựu ấy là ác pháp, tham pháp. Vì có ai lại làm giúp cho ai được?”
SC 20- Vâng phải, Tôn giả Gotama!
SC 21PTS cs 10 - Này Lohicca, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải Ngươi ở tại Sàlavatikà?
SC 22- Vâng phải, Tôn giả Gotama!
SC 23- Này Lohicca, nếu có người nói: “Bà-la-môn Lohicca sống ở Sàlavatikà. Hãy để Bà-la-môn Lohicca hưởng một mình mọi sản phẩm của Sàlavatikà, không cho một ai khác”. Người nói vậy là người gây chướng ngại cho ai sống tùy thuộc vào Ngươi, có phải không?
SC 24- Tôn giả Gotama, là người gây chướng ngại.
SC 25- Này Lohicca, đã là người gây chướng ngại, người ấy có phải là người có từ tâm nghĩ đến lợi ích cho những người kia?
SC 26- Tôn giả Gotama, là người không có từ tâm nghĩ đến lợi ích.
SC 27- Ðã không có từ tâm nghĩ đến lợi ích, người ấy an trú từ tâm hay an trú hại tâm?
SC 28- Tôn giả Gotama, hại tâm!
SC 29- Khi an trú hại tâm, như vậy là chánh kiến hay tà kiến?
SC 30- Tôn giả Gotama, là tà kiến!
SC 31- Này Lohicca, Ta nói rằng, một người tà kiến sẽ sanh vào một trong hai ác thú sau đây: địa ngục hay súc sanh.
SC 32PTS cs 11 Này Lohicca, ngươi nghĩ thế nào? Có phải vua Pasenadi Kosala (Ba-tư-nặc-câu-tát-la) ở tại Kasi—Kosala (Ca-Thi Câu-tát-la) không?
SC 33- Tôn giả Gotama, vâng phải!
SC 34- Này Lohicca, nếu có người nói: “Vua Pasenadi Kosala sống ở Kasi-Kosala. Hãy để vua Pasenadi Kosala hưởng một mình mọi sản phẩm của Kasi—Kosala, không một ai khác”. Người nói như vậy có phải là người gây chướng ngại cho những ai sống tùy thuộc vào vua Pasenadi Kosala, có phải không?
SC 35- Tôn giả Gotama, là người đã gây chướng ngại.
SC 36- Này Lohicca, đã là người gây chướng ngại, người ấy có phải là người có từ tâm nghĩ đến lợi ích cho những người kia hay là người không có từ tâm nghĩ đến lợi ích cho những người kia.
SC 37- Tôn giả Gotama, là người không có từ tâm nghĩ đến lợi ích.
SC 38- Ðã không có từ tâm nghĩ đến lợi ích, người ấy an trú từ tâm hay an trú hại tâm?
SC 39- Tôn giả Gotama, hại tâm!
SC 40- Khi an trú hại tâm, như vậy là chánh kiến hay tà kiến?
SC 41- Tôn giả Gotama, là tà kiến!
SC 42- Này Lohicca, ta nói rằng, một người tà kiến sẽ sanh vào một trong hai ác thú sau đây: địa ngục hay súc sanh.
SC 43PTS cs 12 Này Lohicca, nếu có người nói: “Bà-la-môn Lohicca sống ở Sàlavatikà. Hãy để Bà-la-môn Lohicca hưởng một mình mọi sản phẩm của Sàlavatikà, không cho một ai khác”. Người nói vậy là người gây chướng ngại cho ai tùy thuộc vào Ngươi; đã là người gây chướng ngại, người ấy không có từ tâm nghĩ đến lợi ích, người ấy an trú hại tâm; và đã an trú hại tâm tức thuộc về tà kiến.
SC 44PTS cs 13 Ðã như vậy, này Lohicca, nếu có người nói: “Ở đời có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng được thiện pháp, sau khi chứng được thiện pháp, không nên nói cho người ta biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được? Ví như một người cắt sợi dây cũ trói buộc, lại tự làm một sợi dây mới khác nữa. Ta nói sự thành tựu là ác pháp, tham pháp. Vì có ai lại làm giúp cho ai được?”. Người nói vậy gây chướng ngại cho những thiện nam tử đến với pháp luật do đức Như Lai giảng dạy và chứng được những quả vị thù thắng đặc biệt như Dự lưu, Nhất lai, Bất lai hay A-la-hán quả. Người nói vậy cũng gây chướng ngại cho những vị đang làm cho thành tựu sự tái sanh lên các cõi trời để được sanh làm chư Thiên. Ðã là người gây chướng ngại, người ấy không có từ tâm nghĩ đến lợi ích, người ấy an trú hại tâm; và đã an trú hại tâm tức thuộc về tà kiến. Và này Lohicca, ta nói rằng một người có tà kiến sẽ sanh vào một trong hai ác thú sau đây: địa ngục hay súc sanh.
SC 45PTS cs 14 Này Lohicca, nếu có người nói: “Vua Pasenadi Kosala sống ở tại Kasi-Kosala. Hãy để vua Pasenadi Kosala hưởng một mình mọi sản phẩm của Kasi -Kosala, không cho một ai khác”. Người nói vậy là người gây chướng ngại cho ai sống tùy thuộc vào người ấy. Ðã là người gây nguy hiểm, người ấy không tha thiết đến hạnh phúc. Ðã không tha thiết đến hạnh phúc, người ấy an trú hại tâm; và an trú hại tâm tức thuộc về tà kiến.
SC 46PTS cs 15 Ðã như vậy, này Lohicca, nếu có ai nói: “Ở đời có vị Sa-môn chứng được thiện pháp, sau khi chứng được thiện pháp, không nên nói cho người khác, vì có ai lại làm giúp cho ai được? Ví như một người cắt sợi dây cũ trói buộc, lại tự làm một sợi dây mới khác nữa. Ta nói sự thành tựu ấy là ác pháp, tham pháp. Vì có ai lại làm giúp cho ai được?” Người nói vậy gây chướng ngại cho người thiện nam tử đến với pháp luật do đức Như Lai giảng dạy và chứng được những quả vị thù thắng đặc biệt như Dự lưu, Nhất lai, Bất lai hay A-la-hán quả. Người nói vậy gây nguy hiểm cho những vị đang làm cho thành tựu sự tái sanh lên các cõi trời để được sanh làm chư Thiên. Ðã là người gây chướng ngại, người ấy không có từ tâm nghĩ đến lợi ích, người ấy an trú hại tâm; và đã an trú hại tâm tức thuộc về tà kiến”. Và này Lohicca, Ta nói rằng một người có tà kiến sẽ sanh vào một trong hai ác thú sau đây: địa ngục hay súc sinh.
SC 47PTS cs 16 Này Lohicca, ở đời có ba vị đạo sư đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm. Thế nào là ba?
SC 48Này Lohicca, ở đời có một vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người!” Những đệ tử này không nghe lời dạy của vị ấy, không để tai ghi nhận, không trú tâm phát xuất từ hiểu biết và sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Ðạo sư như vậy cần phải được khiển trách: “Ðại đức không chứng mục đích Sa-môn quả mà Ðại đức xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả ấy, Ðại đức thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các người. Như thế này là hạnh phúc cho các người”. Những đệ tử này không nghe lời dạy của Ðại đức, không để tai ghi nhận, không trú tâm phát xuất từ hiểu biết và sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Như người tán tỉnh cô gái muốn xa mình, hay ôm hôn cô gái muốn né mặt mình, ta nói cử chỉ ấy là ác pháp, tham pháp vì có ai lại làm giúp cho ai được?”
SC 49Này Lohicca, như vậy là hạng đạo sư thứ nhất đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm.
SC 50PTS cs 17 Lại nữa, này Lohicca, ở đời có vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả ấy, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người!”. Những đệ tử này nghe lời dạy của vị ấy, lóng tai ghi nhận và trú tâm phát xuất từ hiểu biết, nhưng sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Ðạo sư như vậy cần phải được khiển trách; Ðại đức không chứng mục đích Sa-môn quả mà Ðại đức xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả ấy, Ðại đức thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người”. Những đệ tử này nghe lời dạy của Ðại đức, lóng tai ghi nhận, trú tâm phát xuất từ hiểu biết, nhưng sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Như người bỏ ruộng dưa của mình mà nghĩ đến việc nhổ cỏ cho ruộng của người. Ta nói cử chỉ ấy là ác pháp, tham pháp vì có ai lại làm giúp cho ai được?” Này Lohicca, như vậy là hạng đạo sư thứ hai đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không sai lầm.
SC 51PTS cs 18 Lại nữa, này Lohicca, ở đời có vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả ấy, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người”. Những đệ tử này không nghe lời dạy của vị ấy, không lóng tai nghi nhận, không trú tâm xuất phát từ hiểu biết, sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Ðạo sư như vậy cần phải được khiển trách: “Ðại đức không chứng được mục đích Sa-môn quả mà Ðại đức xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến. Không chứng được mục đích Sa-môn quả ấy, Ðại đức thuyết pháp cho các đệ tử: “Như thế này là lợi ích cho các ngươi! Như thế này là hạnh phúc cho các ngươi!” Những đệ tử này nghe lời dạy của Ðại đức, lóng tai ghi nhận, trú tâm phát xuất từ hiểu biết, sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư. Như người cắt sợi dây cũ trói buộc, lại tự làm một sợi mới khác né mặt mình, ta nói cử chỉ ấy là ác pháp, tham pháp vì có ai lại làm giúp cho ai được?”
SC 52Này Lohicca, như vậy là hạng đạo sư thứ ba đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm.
SC 53PTS cs 19 Khi nghe nói như vậy, Bà-la-môn Lohicca bạch đức Thế Tôn
SC 54—Tôn giả Gotama, ở đời có vị đạo sư nào không đáng bị chỉ trích?
SC 55- Này Lohicca, ở đời có vị đạo sư không đáng bị chỉ trích.
SC 56- Tôn giả Gotama, ở đời, thế nào là đạo sư không đáng bị chỉ trích?
SC 57PTS cs 20 - Này Lohicca, ở đời, đức Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40—74, với những thay đổi cần thiết).
SC 58PTS cs 54 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh, do hân hoan, nên hoan hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an, do thân khinh an, lạc thọ sanh, do lạc thọ, tâm được định tĩnh Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 59PTS cs 55 Này Lohicca, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột ấy thấm nhuần nước ướt nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt—cũng vậy này Lohicca, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy trên thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 60Này Lohicca, đệ tử của vị đạo sư nào chứng được quả vị thù thắng đặc biệt ấy, thời này Lohicca, vị đạo sư không đáng bị chỉ trích. Và ai chỉ trích một vị đạo sư như vậy, sự chỉ trích ấy sẽ không xác thực, không chân chánh, không hợp pháp, và có lỗi lầm.
SC 61PTS cs 56 Này Lohicca, lại nữa, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm … thiền thứ ba … chứng và trú thiền thứ tư (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77—84, với những thay đổi cần thiết).
SC 62Này Lohicca, đệ tử của vị đạo sư nào chứng được quả vị thù thắng đặc biệt ấy, thời này Lohicca, vị đạo sư như vậy không đáng bị chỉ trích, và ai chỉ trích một vị đạo sư như vậy, sự chỉ trích ấy sẽ không xác thật, không chân chánh, không hợp pháp, và có lỗi lầm.
SC 63PTS cs 62 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật, “Ðây là khổ” … không có đời sống nào khác nữa (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 97—98).
SC 64Này Lohicca, đệ tử của vị đạo sư nào chứng được quả vị thù thắng đặc biệt ấy, này Lohicca, vị đạo sư như vậy không đáng bị chỉ trích, và ai chỉ trích một đạo sư như vậy, sự chỉ trích ấy sẽ không xác thật, không chơn chánh, không hợp pháp, và có lỗi lầm!
SC 65PTS cs 78 Khi nghe như vậy, Bà-la-môn Lohicca bạch đức Thế Tôn
SC 66—Như người nắm được tóc của một người sắp sửa rơi vào vực thẳm của địa ngục, nhắc bổng và đặt người ấy trên đất liền, cũng vậy Tôn giả Gotama đã nắm được tóc khi con sắp sửa rơi vào vực thẳm của địa ngục, nhắc bổng và đặt con trên đất liền. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, nay con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong đức Thế Tôn nhận con làm đệ tử từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–06–2007 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
12. Kinh Lohicca
Tena kho pana samayena lohicco brāhmaṇo sālavatikaṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā pasenadinā kosalena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ.
Now at that time the brahmin Lohicca was living in Sālavatikā. It was a crown property given by King Pasenadi of Kosala, teeming with living creatures, full of hay, wood, water, and grain, a royal park endowed to a brahmin.
501. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn, trong khi du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị Tỳ khưu, đã đi đến Sālavatikā. Và vào lúc bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca đang cư ngụ tại Sālavatikā, một nơi đông đúc dân cư, có cỏ, củi, và nước dồi dào, có nhiều lúa gạo, là tài sản của vua, là quà tặng của vua, một tặng phẩm cao quý do vua Pasenadi của xứ Kosala ban cho.
Tena kho pana samayena lohiccassa brāhmaṇassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: “idha samaṇo vā brāhmaṇo vā kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyya, kusalaṁ dhammaṁ adhigantvā na parassa āroceyya, kiñhi paro parassa karissati. Seyyathāpi nāma purāṇaṁ bandhanaṁ chinditvā aññaṁ navaṁ bandhanaṁ kareyya; evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi, kiñhi paro parassa karissatī”ti.
Now at that time Lohicca had the following harmful misconception: “Should an ascetic or brahmin achieve some skillful quality, they ought not inform anyone else. For what can one person do for another? Suppose someone cut off an old bond, only to create another new bond. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one person do for another?”
502. Và vào lúc bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca đã khởi lên một tà kiến xấu ác như thế này: ‘Ở đời, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào chứng đắc được một thiện pháp, sau khi chứng đắc thiện pháp ấy, không nên nói cho người khác. Vì người này có thể làm gì được cho người kia? Ví như một người chặt đứt một ràng buộc cũ rồi lại tạo ra một ràng buộc mới, ta nói rằng đây là một pháp tham lam xấu ác. Vì người này có thể làm gì được cho người kia?’
Assosi kho lohicco brāhmaṇo:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sālavatikaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Lohicca heard:
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Sālavatikā, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
503. Bà-la-môn Lohicca nghe được như sau: “Này các ngài, nghe nói Sa-môn Gotama, một Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ-khưu, với khoảng năm trăm vị Tỳ-khưu, đã đến Sālavatikā. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama như sau: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài tuyên dương phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật tốt lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.”
Atha kho lohicco brāhmaṇo rosikaṁ nhāpitaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, samma rosike, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena samaṇaṁ gotamaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha: ‘lohicco, bho gotama, brāhmaṇo bhavantaṁ gotamaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti; evañca vadehi—adhivāsetu kira bhavaṁ gotamo lohiccassa brāhmaṇassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho rosikā nhāpito lohiccassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rosikā nhāpito bhagavantaṁ etadavoca:
Then Lohicca addressed his barber Rosika, “Here, dear Rosika, go to the ascetic Gotama and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. And then ask him whether he, together with the mendicant Saṅgha, would please accept tomorrow’s meal from the brahmin Lohicca.”
“Yes, worthy sir,” Rosika replied. He did as he was asked, and
504. Rồi Bà-la-môn Lohicca gọi người thợ cạo tên là Rosika và nói: “Này bạn Rosika, hãy đến chỗ Sa-môn Gotama. Sau khi đến, hãy nhân danh ta hỏi thăm Sa-môn Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không: ‘Thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm Tôn giả Gotama có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không.’ Và hãy nói thêm như vầy: ‘Mong Tôn giả Gotama cùng với chúng Tỳ-khưu nhận lời mời dùng bữa tại nhà Bà-la-môn Lohicca vào ngày mai.’”
505. “Vâng, thưa ngài,” người thợ cạo Rosika vâng lời Bà-la-môn Lohicca, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đến, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người thợ cạo Rosika bạch với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm Đức Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không; và ông ấy có lời như sau: ‘Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ-khưu nhận lời mời dùng bữa tại nhà Bà-la-môn Lohicca vào ngày mai.’” Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời.
Atha kho rosikā nhāpito bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena lohicco brāhmaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā lohiccaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca: “avocumhā kho mayaṁ bhoto vacanena taṁ bhagavantaṁ: ‘lohicco, bhante, brāhmaṇo bhagavantaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati; evañca vadeti—adhivāsetu kira, bhante, bhagavā lohiccassa brāhmaṇassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti. Adhivutthañca pana tena bhagavatā”ti.
Then, knowing that the Buddha had consented, Rosika rose from his seat, went to Lohicca, and said to him, “I gave the Buddha your message, and he accepted.”
506. Bấy giờ, người thợ cạo Rosika, biết được sự nhận lời của Đức Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải, rồi đi đến chỗ Bà-la-môn Lohicca. Sau khi đến, ông nói với Bà-la-môn Lohicca: “Chúng tôi đã nhân danh ngài bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Lohicca hỏi thăm Đức Thế Tôn có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và an trú thoải mái không; và ông ấy có lời như sau: Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ-khưu nhận lời mời dùng bữa tại nhà Bà-la-môn Lohicca vào ngày mai.’ Và Đức Thế Tôn đã nhận lời.”
Atha kho lohicco brāhmaṇo tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā rosikaṁ nhāpitaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, samma rosike, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇassa gotamassa kālaṁ ārocehi—kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho rosikā nhāpito lohiccassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rosikā nhāpito bhagavato kālaṁ ārocesi: “kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
And when the night had passed Lohicca had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “Here, dear Rosika, go to the ascetic Gotama and announce the time, saying: ‘It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.’”
“Yes, worthy sir,” Rosika replied. He did as he was asked.
507. Bấy giờ, Bà-la-môn Lohicca, sau khi đêm ấy đã qua, cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại nhà của mình, rồi gọi người thợ cạo Rosika: “Này bạn Rosika, hãy đến chỗ Sa-môn Gotama. Sau khi đến, hãy báo giờ cho Sa-môn Gotama: ‘Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’” “Vâng, thưa ngài,” người thợ cạo Rosika vâng lời Bà-la-môn Lohicca, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đến, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, người thợ cạo Rosika báo giờ với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sālavatikā tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena rosikā nhāpito bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandho hoti. Atha kho rosikā nhāpito bhagavantaṁ etadavoca: “lohiccassa, bhante, brāhmaṇassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘idha samaṇo vā brāhmaṇo vā kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyya, kusalaṁ dhammaṁ adhigantvā na parassa āroceyya—kiñhi paro parassa karissati. Seyyathāpi nāma purāṇaṁ bandhanaṁ chinditvā aññaṁ navaṁ bandhanaṁ kareyya; evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi—kiñhi paro parassa karissatī’ti. Sādhu, bhante, bhagavā lohiccaṁ brāhmaṇaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetū”ti.
“Appeva nāma siyā, rosike, appeva nāma siyā, rosike”ti.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Sālavatikā together with the Saṅgha of mendicants. Now, Rosika was following behind the Buddha, and told him of Lohicca’s views, adding, “Sir, please dissuade him from that harmful misconception.”
“Hopefully that’ll happen, Rosika, hopefully that’ll happen.”
508. Bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y, cùng với chúng Tỳ-khưu đi đến Sālavatikā. Lúc bấy giờ, người thợ cạo Rosika đi theo sát phía sau Đức Thế Tôn. Rồi người thợ cạo Rosika bạch với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Lohicca đã khởi lên tà kiến xấu ác như sau: ‘Ở đây, nếu một Sa-môn hay Bà-la-môn chứng đắc một thiện pháp nào, sau khi chứng đắc, không nên nói cho người khác biết. Vì người này có thể làm gì được cho người kia? Ví như người ta chặt đứt một ràng buộc cũ rồi lại tạo ra một ràng buộc mới, ta nói rằng đây là một pháp tham lam xấu ác. Vì người này có thể làm gì được cho người kia?’ Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hãy giúp Bà-la-môn Lohicca thoát khỏi tà kiến xấu ác này.” “Có thể được như vậy, này Rosika, có thể được như vậy.”
Atha kho bhagavā yena lohiccassa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho lohicco brāhmaṇo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Then the Buddha approached Lohicca’s home, where he sat down on the seat spread out. Then Lohicca served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn đi đến nhà của Bà-la-môn Lohicca. Sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Bà-la-môn Lohicca tự tay dâng cúng và làm cho chúng Tỳ-khưu với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.
Chất vấn Bà-la-môn Lohicca
Atha kho lohicco brāhmaṇo bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho lohiccaṁ brāhmaṇaṁ bhagavā etadavoca: “saccaṁ kira te, lohicca, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ: ‘idha samaṇo vā brāhmaṇo vā kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyya, kusalaṁ dhammaṁ adhigantvā na parassa āroceyya, kiñhi paro parassa karissati. Seyyathāpi nāma purāṇaṁ bandhanaṁ chinditvā aññaṁ navaṁ bandhanaṁ kareyya; evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi, kiñhi paro parassa karissatī’”ti?
“Evaṁ, bho gotama”.
“Taṁ kiṁ maññasi, lohicca, nanu tvaṁ sālavatikaṁ ajjhāvasasī”ti?
“Evaṁ, bho gotama”.
“Yo nu kho, lohicca, evaṁ vadeyya: ‘lohicco brāhmaṇo sālavatikaṁ ajjhāvasati. Yā sālavatikāya samudayasañjāti lohiccova taṁ brāhmaṇo ekako paribhuñjeyya, na aññesaṁ dadeyyā’ti. Evaṁ vādī so ye taṁ upajīvanti, tesaṁ antarāyakaro vā hoti, no vā”ti?
When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, Lohicca took a low seat and sat to one side.
The Buddha said to him, “Is it really true, Lohicca, that you have such a harmful misconception: ‘Should an ascetic or brahmin achieve some skillful quality, they ought not inform anyone else. For what can one person do for another? Suppose someone cut off an old bond, only to create another new bond. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one person do for another?’”
“Yes, worthy Gotama.”
“What do you think, Lohicca? Do you reside in Sālavatikā?”
“Yes, worthy Gotama.”
“Lohicca, suppose someone were to say: ‘The brahmin Lohicca resides in Sālavatikā. He alone should enjoy the revenues produced in Sālavatikā and not share them with anyone else.’ Would the one who spoke like that make it difficult for those whose living depends on you or not?”
509. Bấy giờ, sau khi Thế Tôn dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, bà-la-môn Lohicca lấy một chỗ ngồi thấp rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với bà-la-môn Lohicca đang ngồi một bên như sau: 'Này Lohicca, có thật chăng ông đã khởi lên tà kiến xấu ác như thế này: 'Ở đây, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chứng đắc được thiện pháp, sau khi chứng đắc thiện pháp thì không nên thuyết giảng cho người khác. Vì người khác có thể làm gì được cho người khác? Ví như người kia chặt đứt dây trói cũ rồi lại tạo ra dây trói mới, Ta nói rằng đây là một pháp tham lam xấu ác tương tự như vậy. Vì người khác có thể làm gì được cho người khác?'?' 'Thưa vâng, Tôn giả Gotama.' 'Này Lohicca, ông nghĩ thế nào về điều này? Có phải ông đang cai quản làng Sālavatikā không?' 'Thưa vâng, Tôn giả Gotama.' 'Này Lohicca, nếu có người nói như vầy: 'Bà-la-môn Lohicca cai quản làng Sālavatikā. Tất cả lợi tức phát sanh từ Sālavatikā, chỉ một mình bà-la-môn Lohicca nên hưởng dụng, không nên chia cho những người khác.' Người nói như vậy có phải là người gây chướng ngại cho những người sống nương tựa vào ông hay không?'
“Antarāyakaro, bho gotama”.
“Antarāyakaro samāno hitānukampī vā tesaṁ hoti ahitānukampī vā”ti?
“Ahitānukampī, bho gotama”.
“Ahitānukampissa mettaṁ vā tesu cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sapattakaṁ vā”ti?
“Sapattakaṁ, bho gotama”.
“Sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi vā hoti sammādiṭṭhi vā”ti?
“Micchādiṭṭhi, bho gotama”.
“Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, lohicca, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
“They would, worthy Gotama.”
“But is someone who creates difficulties for others acting kindly or unkindly?”
“Unkindly, sir.”
“But does an unkind person have love in their heart or hostility?”
“Hostility, sir.”
“And when the heart is full of hostility, is there right view or wrong view?”
“Wrong view, worthy Gotama.”
“An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
'Thưa Tôn giả Gotama, là người gây chướng ngại.' 'Khi là người gây chướng ngại, người ấy có lòng thương tưởng đến lợi ích của họ hay không có lòng thương tưởng đến lợi ích của họ?' 'Thưa Tôn giả Gotama, là không có lòng thương tưởng đến lợi ích.' 'Đối với người không có lòng thương tưởng đến lợi ích, tâm từ có được thiết lập đối với họ hay là tâm thù nghịch?' 'Thưa Tôn giả Gotama, là tâm thù nghịch.' 'Khi tâm thù nghịch được thiết lập, đó là tà kiến hay là chánh kiến?' 'Thưa Tôn giả Gotama, là tà kiến.' 'Này Lohicca, đối với người có tà kiến, Ta tuyên bố một trong hai cảnh giới: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh.'
Taṁ kiṁ maññasi, lohicca, nanu rājā pasenadi kosalo kāsikosalaṁ ajjhāvasatī”ti?
“Evaṁ, bho gotama”.
“Yo nu kho, lohicca, evaṁ vadeyya: ‘rājā pasenadi kosalo kāsikosalaṁ ajjhāvasati; yā kāsikosale samudayasañjāti, rājāva taṁ pasenadi kosalo ekako paribhuñjeyya, na aññesaṁ dadeyyā’ti. Evaṁ vādī so ye rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ upajīvanti tumhe ceva aññe ca, tesaṁ antarāyakaro vā hoti, no vā”ti?
What do you think, Lohicca? Does King Pasenadi reign over Kāsi and Kosala?”
“Yes, worthy Gotama.”
“Lohicca, suppose someone were to say: ‘King Pasenadi reigns over Kāsi and Kosala. He alone should enjoy the revenues produced in Kāsi and Kosala and not share them with anyone else.’ Would the one who spoke like that make it difficult for yourself and others whose living depends on King Pasenadi or not?”
510. 'Này Lohicca, ông nghĩ thế nào về điều này? Có phải vua Pasenadi của xứ Kosala đang cai trị xứ Kāsi-Kosala không?' 'Thưa vâng, Tôn giả Gotama.' 'Này Lohicca, nếu có người nói như vầy: 'Vua Pasenadi của xứ Kosala cai trị xứ Kāsi-Kosala. Tất cả lợi tức phát sanh từ Kāsi-Kosala, chỉ một mình vua Pasenadi của xứ Kosala nên hưởng dụng, không nên chia cho những người khác.' Người nói như vậy có phải là người gây chướng ngại cho những người sống nương tựa vào vua Pasenadi của xứ Kosala, tức là chính ông và những người khác, hay không?'
“Antarāyakaro, bho gotama”.
“Antarāyakaro samāno hitānukampī vā tesaṁ hoti ahitānukampī vā”ti?
“Ahitānukampī, bho gotama”.
“Ahitānukampissa mettaṁ vā tesu cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sapattakaṁ vā”ti?
“Sapattakaṁ, bho gotama”.
“Sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi vā hoti sammādiṭṭhi vā”ti?
“Micchādiṭṭhi, bho gotama”.
“Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, lohicca, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
“They would, worthy Gotama.”
“But is someone who creates difficulties for others acting kindly or unkindly?”
“Unkindly, sir.”
“But does an unkind person have love in their heart or hostility?”
“Hostility, sir.”
“And when the heart is full of hostility, is there right view or wrong view?”
“Wrong view, worthy Gotama.”
“An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
“Thưa Tôn giả Gotama, người ấy là người gây chướng ngại.” “Khi là người gây chướng ngại, người ấy là người mong mỏi lợi ích hay không mong mỏi lợi ích cho họ?” “Thưa Tôn giả Gotama, là không mong mỏi lợi ích.” “Với người không mong mỏi lợi ích, tâm từ khởi lên nơi người ấy đối với những người đó hay là tâm thù nghịch?” “Thưa Tôn giả Gotama, là tâm thù nghịch.” “Khi tâm thù nghịch khởi lên, đó là tà kiến hay là chánh kiến?” “Thưa Tôn giả Gotama, là tà kiến.” “Này Lohicca, đối với kẻ có tà kiến, Ta tuyên bố một trong hai cảnh giới: hoặc là địa ngục, hoặc là loài bàng sanh.”
Iti kira, lohicca, yo evaṁ vadeyya: ‘lohicco brāhmaṇo sālavatikaṁ ajjhāvasati; yā sālavatikāya samudayasañjāti, lohiccova taṁ brāhmaṇo ekako paribhuñjeyya, na aññesaṁ dadeyyā’ti. Evaṁvādī so ye taṁ upajīvanti, tesaṁ antarāyakaro hoti. Antarāyakaro samāno ahitānukampī hoti, ahitānukampissa sapattakaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti, sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi hoti.
Evameva kho, lohicca, yo evaṁ vadeyya: ‘idha samaṇo vā brāhmaṇo vā kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyya, kusalaṁ dhammaṁ adhigantvā na parassa āroceyya, kiñhi paro parassa karissati. Seyyathāpi nāma purāṇaṁ bandhanaṁ chinditvā aññaṁ navaṁ bandhanaṁ kareyya …pe… karissatī’ti.
Evaṁvādī so ye te kulaputtā tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchanti, sotāpattiphalampi sacchikaronti, sakadāgāmiphalampi sacchikaronti, anāgāmiphalampi sacchikaronti, arahattampi sacchikaronti, ye cime dibbā gabbhā paripācenti dibbānaṁ bhavānaṁ abhinibbattiyā, tesaṁ antarāyakaro hoti, antarāyakaro samāno ahitānukampī hoti, ahitānukampissa sapattakaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti, sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi hoti. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, lohicca, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
So it seems, Lohicca, that should someone say such a thing either of Lohicca or of King Pasenadi, that is wrong view.
In the same way, suppose someone were to say: ‘Should an ascetic or brahmin achieve some skillful quality, they ought not inform anyone else. For what can one person do for another? Suppose someone cut off an old bond, only to create another new bond. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one person do for another?’
Now, there are gentlemen who, relying on the teaching and training proclaimed by the Realized One, achieve a high distinction such as the following: they realize the fruit of stream-entry, the fruit of once-return, the fruit of non-return, or perfection. And in addition, there are those who ripen the seeds for rebirth in a heavenly state. The person who spoke like that makes it difficult for them. They’re acting unkindly, their heart is full of hostility, and they have wrong view. An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
511. Này Lohicca, như vậy, người nào nói rằng: 'Bà-la-môn Lohicca cai quản làng Sālavatikā; tất cả lợi tức phát sanh từ Sālavatikā, chỉ một mình bà-la-môn Lohicca nên hưởng dụng, không nên chia cho những người khác.' Người nói như vậy là người gây chướng ngại cho những người sống nương tựa vào ông. Khi là người gây chướng ngại, người ấy không có lòng thương tưởng đến lợi ích; đối với người không có lòng thương tưởng đến lợi ích, tâm thù nghịch được thiết lập; khi tâm thù nghịch được thiết lập, đó là tà kiến. Cũng thế ấy, này Lohicca, người nào nói rằng: 'Ở đây, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chứng đắc được thiện pháp, sau khi chứng đắc thiện pháp thì không nên thuyết giảng cho người khác. Vì người khác có thể làm gì được cho người khác? Ví như người kia chặt đứt dây trói cũ rồi lại tạo ra dây trói mới... (v.v.)... Vì người khác có thể làm gì được cho người khác?' Người nói như vậy là người gây chướng ngại cho các thiện gia nam tử, những người nương theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết mà chứng đắc được sự thù thắng cao thượng như thế này, tức là họ thực chứng được quả Tu-đà-hoàn, thực chứng được quả Tư-đà-hàm, thực chứng được quả A-na-hàm, thực chứng được quả A-la-hán; và cũng là người gây chướng ngại cho những vị đang làm cho các thai tạng cõi trời được viên mãn để tái sanh vào các cảnh giới chư thiên. Khi là người gây chướng ngại, người ấy không có lòng thương tưởng đến lợi ích; đối với người không có lòng thương tưởng đến lợi ích, tâm thù nghịch được thiết lập; khi tâm thù nghịch được thiết lập, đó là tà kiến. Này Lohicca, đối với người có tà kiến, Ta tuyên bố một trong hai cảnh giới: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh.
Iti kira, lohicca, yo evaṁ vadeyya: ‘rājā pasenadi kosalo kāsikosalaṁ ajjhāvasati; yā kāsikosale samudayasañjāti, rājāva taṁ pasenadi kosalo ekako paribhuñjeyya, na aññesaṁ dadeyyā’ti. Evaṁvādī so ye rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ upajīvanti tumhe ceva aññe ca, tesaṁ antarāyakaro hoti. Antarāyakaro samāno ahitānukampī hoti, ahitānukampissa sapattakaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti, sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi hoti.
Evameva kho, lohicca, yo evaṁ vadeyya: ‘idha samaṇo vā brāhmaṇo vā kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyya, kusalaṁ dhammaṁ adhigantvā na parassa āroceyya, kiñhi paro parassa karissati. Seyyathāpi nāma …pe… kiñhi paro parassa karissatī’ti. Evaṁvādī so ye te kulaputtā tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchanti, sotāpattiphalampi sacchikaronti, sakadāgāmiphalampi sacchikaronti, anāgāmiphalampi sacchikaronti, arahattampi sacchikaronti. Ye cime dibbā gabbhā paripācenti dibbānaṁ bhavānaṁ abhinibbattiyā, tesaṁ antarāyakaro hoti, antarāyakaro samāno ahitānukampī hoti, ahitānukampissa sapattakaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti, sapattake citte paccupaṭṭhite micchādiṭṭhi hoti. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, lohicca, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
512. “Này Lohicca, ví như có người nói như sau: ‘Vua Pasenadi xứ Kosala cai trị xứ Kāsi và Kosala; tất cả thuế má thu được từ xứ Kāsi và Kosala, chỉ một mình vua Pasenadi xứ Kosala nên hưởng, không nên cho người khác.’ Người nói như vậy là người gây trở ngại cho những ai sống nương nhờ vào vua Pasenadi xứ Kosala, tức là các ông và những người khác. Là người gây trở ngại, nên là người không có lòng thương xót đến lợi ích (của người khác); người không có lòng thương xót đến lợi ích (của người khác) thì tâm thù nghịch khởi lên; khi tâm thù nghịch khởi lên thì có tà kiến. Cũng vậy, này Lohicca, người nào nói như sau: ‘Ở đây, Sa-môn hay Bà-la-môn có thể chứng đắc thiện pháp; sau khi chứng đắc thiện pháp, không nên thuyết giảng cho người khác. Người khác có thể làm gì cho người khác được chứ? Ví như... ... Người khác có thể làm gì cho người khác được chứ?’ Người nói như vậy là người gây trở ngại cho những thiện nam tử, những người nhờ vào Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết mà chứng đắc được pháp thù thắng cao thượng như vậy, chứng ngộ được quả Tu-đà-hoàn, chứng ngộ được quả Tư-đà-hàm, chứng ngộ được quả A-na-hàm, và chứng ngộ được quả A-la-hán; và cho những người làm cho các thai tạng cõi trời được chín muồi để tái sanh vào các cõi trời. Là người gây trở ngại, nên là người không có lòng thương xót đến lợi ích (của người khác); người không có lòng thương xót đến lợi ích (của người khác) thì tâm thù nghịch khởi lên; khi tâm thù nghịch khởi lên thì có tà kiến. Này Lohicca, đối với người có tà kiến, Ta tuyên bố một trong hai cảnh giới: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh.”
Ba Vị Thầy Đáng Bị Khiển Trách
Tayo khome, lohicca, satthāro, ye loke codanārahā; yo ca panevarūpe satthāro codeti, sā codanā bhūtā tacchā dhammikā anavajjā. Katame tayo?
Idha, lohicca, ekacco satthā yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, svāssa sāmaññattho ananuppatto hoti. So taṁ sāmaññatthaṁ ananupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti: ‘idaṁ vo hitāya idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. So evamassa codetabbo: ‘āyasmā kho yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, so te sāmaññattho ananuppatto, taṁ tvaṁ sāmaññatthaṁ ananupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ desesi: “idaṁ vo hitāya idaṁ vo sukhāyā”ti. Tassa te sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. Seyyathāpi nāma osakkantiyā vā ussakkeyya, parammukhiṁ vā āliṅgeyya; evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi—kiñhi paro parassa karissatī’ti. Ayaṁ kho, lohicca, paṭhamo satthā, yo loke codanāraho; yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā bhūtā tacchā dhammikā anavajjā.
Lohicca, there are three kinds of teachers in the world who deserve to be reprimanded. When someone reprimands such teachers, the reprimand is true, correct, legitimate, and blameless. What three?
Firstly, take a teacher who has not reached the goal of the ascetic life for which they went forth from the lay life to homelessness. They teach their disciples: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ But their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the teacher’s instruction. That teacher deserves to be reprimanded: ‘Venerable, you haven’t reached the goal of the ascetic life; and when you teach disciples they proceed having turned away from the teacher’s instruction. It’s like a man who makes advances on a woman though she pulls away, or embraces her though she turns her back. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one do for another?’ This is the first kind of teacher who deserves to be reprimanded.
513. “Này Lohicca, có ba hạng đạo sư ở trên đời đáng bị khiển trách; và nếu ai khiển trách những hạng đạo sư như vậy, sự khiển trách đó là có thật, đúng sự thật, hợp pháp, và không có lỗi. Ba hạng đó là những ai? Này Lohicca, ở đây, có vị đạo sư xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì mục đích nào đó, nhưng mục đích của đời sống Sa-môn ấy vị ấy vẫn chưa đạt được. Vị ấy, chưa đạt được mục đích của đời sống Sa-môn, lại thuyết pháp cho các đệ tử rằng: ‘Điều này vì lợi ích cho các ông, điều này vì hạnh phúc cho các ông.’ Các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không khởi tâm muốn hiểu biết, và đi ngược lại lời giáo huấn của thầy. Vị ấy đáng bị khiển trách như sau: ‘Thưa Tôn giả, ngài đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì mục đích nào đó, nhưng mục đích của đời sống Sa-môn ấy ngài vẫn chưa đạt được. Ngài, chưa đạt được mục đích của đời sống Sa-môn, lại thuyết pháp cho các đệ tử rằng: “Điều này vì lợi ích cho các ông, điều này vì hạnh phúc cho các ông.” Các đệ tử của ngài không muốn nghe, không lắng tai, không khởi tâm muốn hiểu biết, và đi ngược lại lời giáo huấn của thầy. Ví như một người đeo bám một người phụ nữ đang rút lui, hay ôm choàng một người phụ nữ đang quay mặt đi, ta nói rằng pháp tham lam xấu xa này cũng tương tự như vậy – người khác có thể làm gì cho người khác được chứ?’ Này Lohicca, đây là vị đạo sư thứ nhất ở trên đời đáng bị khiển trách; và nếu ai khiển trách vị đạo sư như vậy, sự khiển trách đó là có thật, đúng sự thật, hợp pháp, và không có lỗi.”
Puna caparaṁ, lohicca, idhekacco satthā yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, svāssa sāmaññattho ananuppatto hoti. So taṁ sāmaññatthaṁ ananupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. So evamassa codetabbo: ‘āyasmā kho yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, so te sāmaññattho ananuppatto. Taṁ tvaṁ sāmaññatthaṁ ananupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ desesi: “idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā”ti. Tassa te sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. Seyyathāpi nāma sakaṁ khettaṁ ohāya paraṁ khettaṁ niddāyitabbaṁ maññeyya, evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi—kiñhi paro parassa karissatī’ti. Ayaṁ kho, lohicca, dutiyo satthā, yo, loke codanāraho; yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā bhūtā tacchā dhammikā anavajjā.
Furthermore, take a teacher who has not reached the goal of the ascetic life for which they went forth from the lay life to homelessness. They teach their disciples: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ Their disciples do want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the teacher’s instruction. That teacher deserves to be reprimanded: ‘Venerable, you haven’t reached the goal of the ascetic life; and when you teach disciples they don’t proceed having turned away from the teacher’s instruction. It’s like someone who abandons their own field and presumes to weed someone else’s field. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one do for another?’ This is the second kind of teacher who deserves to be reprimanded.
514. “Lại nữa, này Lohicca, ở đây, có vị đạo sư xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì mục đích nào đó, nhưng mục đích của đời sống Sa-môn ấy vị ấy vẫn chưa đạt được. Vị ấy, chưa đạt được mục đích của đời sống Sa-môn, lại thuyết pháp cho các đệ tử rằng: ‘Điều này vì lợi ích cho các ông, điều này vì hạnh phúc cho các ông.’ Các đệ tử của vị ấy lắng nghe, lắng tai, khởi tâm muốn hiểu biết, và không đi ngược lại lời giáo huấn của thầy. Vị ấy đáng bị khiển trách như sau: ‘Thưa Tôn giả, ngài đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì mục đích nào đó, nhưng mục đích của đời sống Sa-môn ấy ngài vẫn chưa đạt được. Ngài, chưa đạt được mục đích của đời sống Sa-môn, lại thuyết pháp cho các đệ tử rằng: “Điều này vì lợi ích cho các ông, điều này vì hạnh phúc cho các ông.” Các đệ tử của ngài lắng nghe, lắng tai, khởi tâm muốn hiểu biết, và không đi ngược lại lời giáo huấn của thầy. Ví như một người bỏ bê ruộng của mình mà lại nghĩ rằng nên đi nhổ cỏ cho ruộng người khác, ta nói rằng pháp tham lam xấu xa này cũng tương tự như vậy – người khác có thể làm gì cho người khác được chứ?’ Này Lohicca, đây là vị đạo sư thứ hai ở trên đời đáng bị khiển trách; và nếu ai khiển trách vị đạo sư như vậy, sự khiển trách đó là có thật, đúng sự thật, hợp pháp, và không có lỗi.”
Puna caparaṁ, lohicca, idhekacco satthā yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, svāssa sāmaññattho anuppatto hoti. So taṁ sāmaññatthaṁ anupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. So evamassa codetabbo: ‘āyasmā kho yassatthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, so te sāmaññattho anuppatto. Taṁ tvaṁ sāmaññatthaṁ anupāpuṇitvā sāvakānaṁ dhammaṁ desesi: “idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā”ti. Tassa te sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti. Seyyathāpi nāma purāṇaṁ bandhanaṁ chinditvā aññaṁ navaṁ bandhanaṁ kareyya; evaṁ sampadamidaṁ pāpakaṁ lobhadhammaṁ vadāmi, kiñhi paro parassa karissatī’ti. Ayaṁ kho, lohicca, tatiyo satthā, yo loke codanāraho; yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā bhūtā tacchā dhammikā anavajjā.
Ime kho, lohicca, tayo satthāro, ye loke codanārahā, yo ca panevarūpe satthāro codeti, sā codanā bhūtā tacchā dhammikā anavajjā”ti.
Furthermore, take a teacher who has reached the goal of the ascetic life for which they went forth from the lay life to homelessness. They teach their disciples: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ But their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the teacher’s instruction. That teacher deserves to be reprimanded: ‘Venerable, you have reached the goal of the ascetic life; yet when you teach disciples they proceed having turned away from the teacher’s instruction. Suppose someone cut off an old bond, only to create another new bond. That’s the consequence of such a wicked, greedy deed, I say. For what can one person do for another?’ This is the third kind of teacher who deserves to be reprimanded.
These are the three kinds of teachers in the world who deserve to be reprimanded. When someone reprimands such teachers, the reprimand is true, correct, legitimate, and blameless.”
515. Này Lohicca, lại nữa, ở đời có một vị đạo sư, vì mục đích nào đó đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, và mục đích sa-môn ấy của vị ấy đã được thành tựu. Sau khi đã thành tựu mục đích sa-môn ấy, vị ấy thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích cho các ngươi, điều này vì hạnh phúc cho các ngươi.’ Các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, và đi ngược lại lời giáo huấn của đạo sư. Vị ấy đáng bị khiển trách như sau: ‘Thưa ngài, vì mục đích nào đó ngài đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình, và mục đích sa-môn ấy của ngài đã được thành tựu. Sau khi đã thành tựu mục đích sa-môn ấy, ngài thuyết pháp cho các đệ tử: ‘Điều này vì lợi ích cho các ngươi, điều này vì hạnh phúc cho các ngươi.’ Các đệ tử của ngài không muốn nghe, không lắng tai, không an trú tâm để hiểu biết, và đi ngược lại lời giáo huấn của đạo sư. Ví như một người chặt đứt một ràng buộc cũ rồi lại tạo ra một ràng buộc mới, ta nói rằng đây là một pháp tham lam xấu xa. Người khác có thể làm gì cho người khác được chứ?’ Này Lohicca, đây là vị đạo sư thứ ba ở trên đời đáng bị khiển trách. Và bất cứ ai khiển trách một vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là có thật, đúng sự thật, hợp pháp, và không có lỗi. Này Lohicca, đây là ba hạng đạo sư ở trên đời đáng bị khiển trách. Và bất cứ ai khiển trách những vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là có thật, đúng sự thật, hợp pháp, và không có lỗi.
Vị Đạo Sư Không Đáng Bị Khiển Trách
Evaṁ vutte, lohicco brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “atthi pana, bho gotama, koci satthā, yo loke nacodanāraho”ti?
“Atthi kho, lohicca, satthā, yo loke nacodanāraho”ti.
“Katamo pana so, bho gotama, satthā, yo loke nacodanāraho”ti?
When he had spoken, Lohicca said to the Buddha, “But worthy Gotama, is there a teacher in the world who does not deserve to be reprimanded?”
“There is, Lohicca.”
“But who is that teacher?”
516. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Lohicca bạch với Đức Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, có vị đạo sư nào ở trên đời không đáng bị khiển trách không?’ ‘Này Lohicca, có vị đạo sư ở trên đời không đáng bị khiển trách.’ ‘Thưa Tôn giả Gotama, vậy vị đạo sư nào ở trên đời không đáng bị khiển trách?’
“Idha, lohicca, tathāgato loke uppajjati arahaṁ, sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, lohicca, bhikkhu sīlasampanno hoti …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati … yasmiṁ kho, lohicca, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchati, ayampi kho, lohicca, satthā, yo loke nacodanāraho. Yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā abhūtā atacchā adhammikā sāvajjā.
…pe… Dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Yasmiṁ kho, lohicca, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchati, ayampi kho, lohicca, satthā, yo loke nacodanāraho, yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā abhūtā atacchā adhammikā sāvajjā.
…pe… Ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti … yasmiṁ kho, lohicca, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchati, ayampi kho, lohicca, satthā, yo loke nacodanāraho, yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā abhūtā atacchā adhammikā sāvajjā.
…pe… Nāparaṁ itthattāyāti pajānāti. Yasmiṁ kho, lohicca, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāraṁ visesaṁ adhigacchati, ayampi kho, lohicca, satthā, yo loke nacodanāraho, yo ca panevarūpaṁ satthāraṁ codeti, sā codanā abhūtā atacchā adhammikā sāvajjā”ti.
“It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. … They enter and remain in the first absorption … A teacher under whom a disciple achieves such a high distinction is one who does not deserve to be reprimanded. When someone reprimands such a teacher, the reprimand is false, baseless, illegitimate, and blameworthy.
They enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. A teacher under whom a disciple achieves such a high distinction is one who does not deserve to be reprimanded. …
They project and extend the mind toward knowledge and vision … A teacher under whom a disciple achieves such a high distinction is one who does not deserve to be reprimanded. …
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’ A teacher under whom a disciple achieves such a high distinction is one who does not deserve to be reprimanded. When someone reprimands such a teacher, the reprimand is false, baseless, illegitimate, and blameworthy.”
‘Này Lohicca, ở đây, Như Lai xuất hiện trên đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác... (nên được diễn giải chi tiết như trong kinh Sa Môn Quả). Này Lohicca, như vậy vị tỳ khưu được đầy đủ giới hạnh... cho đến... chứng và trú thiền thứ nhất... Này Lohicca, vị đạo sư nào mà người đệ tử dưới sự chỉ dạy của vị ấy đạt được sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy, này Lohicca, đây cũng là vị đạo sư ở trên đời không đáng bị khiển trách. Và bất cứ ai khiển trách một vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là không có thật, không đúng sự thật, không hợp pháp, và có lỗi... cho đến... thiền thứ hai... cho đến... thiền thứ ba... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư. Này Lohicca, vị đạo sư nào mà người đệ tử dưới sự chỉ dạy của vị ấy đạt được sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy, này Lohicca, đây cũng là vị đạo sư ở trên đời không đáng bị khiển trách, và bất cứ ai khiển trách một vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là không có thật, không đúng sự thật, không hợp pháp, và có lỗi... hướng tâm, dẫn tâm đến trí kiến... cho đến... Này Lohicca, vị đạo sư nào mà người đệ tử dưới sự chỉ dạy của vị ấy đạt được sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy, này Lohicca, đây cũng là vị đạo sư ở trên đời không đáng bị khiển trách, và bất cứ ai khiển trách một vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là không có thật, không đúng sự thật, không hợp pháp, và có lỗi... vị ấy biết rõ: ‘Không còn một trạng thái nào khác sau đời này nữa.’ Này Lohicca, vị đạo sư nào mà người đệ tử dưới sự chỉ dạy của vị ấy đạt được sự chứng đắc thù thắng cao thượng như vậy, này Lohicca, đây cũng là vị đạo sư ở trên đời không đáng bị khiển trách. Và bất cứ ai khiển trách một vị đạo sư như vậy, lời khiển trách đó là không có thật, không đúng sự thật, không hợp pháp, và có lỗi.’
Evaṁ vutte, lohicco brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“seyyathāpi, bho gotama, puriso purisaṁ narakapapātaṁ patantaṁ kesesu gahetvā uddharitvā thale patiṭṭhapeyya; evamevāhaṁ bhotā gotamena narakapapātaṁ papatanto uddharitvā thale patiṭṭhāpito.
Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, Lohicca said to the Buddha:
“Suppose, Worthy Gotama, a person was falling over a cliff, and another person were to grab them by the hair, pull them up, and place them on solid ground. In the same way, when I was falling off a cliff Worthy Gotama pulled me up and placed me on solid ground.
Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
517. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Lohicca bạch với Đức Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, ví như một người nắm tóc kéo một người khác đang rơi xuống vực thẳm của địa ngục lên và đặt người ấy trên đất liền, cũng vậy, con đang rơi xuống vực thẳm của địa ngục đã được Tôn giả Gotama kéo lên và đặt trên đất liền. Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm một người cận sự nam, đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Lohiccasuttaṁ niṭṭhitaṁ dvādasamaṁ.
Kinh Lohicca, thứ mười hai, kết thúc.