- Dīgha Nikāya 11
Kevaṭṭasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kevaṭṭasutta
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Nalandà trong vườn Pavārikamba. Lúc bấy giờ cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn
SC 2—Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa.
SC 3Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha
SC 4—Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: “Này các Tỷ-kheo các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng”.
SC 5PTS cs 2 Lần thứ hai, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: “Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa”.
SC 7Lần thứ hai, Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha
SC 8—Này Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: “Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa cho các cư sĩ áo trắng”.
SC 9PTS cs 3 Lần thứ ba, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha Bạch Thế Tôn
SC 10—Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: “Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa”.
SC 11- Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
SC 12PTS cs 4 Này Kevaddha, thế nào là biến hóa thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo chứng được các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết—già đi trên hư không như con chim; với hai bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Có người tín thành thấy Tỷ-kheo ấy chứng hiện các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân: hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
SC 13PTS cs 5 Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: “Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay, đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy vị Tỷ-kheo chứng các thần thông, “một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, … có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”. Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: “Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Gandhhàrì. Nhờ chú thuật hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân … có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên”. Này Kevaddha, ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành như vậy không?
SC 14- Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy.
SC 15- Này Kevaddha chính vì ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông mà ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông.
SC 16PTS cs 6 Này Kevaddha, thế nào là tha tâm thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của Ngươi”. Có người có lòng tín thành thấy Tỷ-kheo nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của Ngươi, thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi”.
SC 17PTS cs 7 Người có lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: “Này Tôn giả, thật vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay đại thần thông, đại oai đức của vị Sa-môn! Chính tôi đã thấy Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác: “Như vậy là ý của ngươi, thế này là ý của ngươi, như vậy là tâm của ngươi”. Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành: “Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Maṇika, nhờ chú thuật này, Tỷ-kheo nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm, và nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của các người khác … “Thế này là ý của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi”. Này Kevaddha, Ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với Ngươi có lòng tín thành như vậy không?
SC 18- Bạch Thế Tôn, có thể nói như vậy?
SC 19- Này Kevaddha chính Ta thấy sự nguy hiểm trong sự tha tâm thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ tha tâm thần thông.
SC 20PTS cs 8 Này Kevaddha, thế nào là giáo hóa thần thông? Ở đời có Tỷ-kheo giáo hóa như sau: “Hãy suy tư như thế này, chớ có suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ có tác ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia”.
SC 21Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.
SC 22PTS cs 9 Này Kevaddha, nay ở đời đức Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán Chánh Biến Tri … (đoạn kinh 9–43 tương tự như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40—74).
SC 23PTS cs 44 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị Tỷ-kheo, ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
SC 24PTS cs 45 Này Kevaddha, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Kevaddha, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.
SC 25PTS cs 50… chứng và trú thiền thứ tư … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 77—81, trừ câu kết sau chót mỗi chương). Này Kevaddha như vậy gọi là giáo hóa thần thông.
SC 26PTS cs 52 Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ xử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 83) … Này Kevaddha, như vậy gọi là giáo hóa thần thông.
SC 27PTS cs 53… sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa … (xem kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 84—98), trừ câu kết sau chót của mỗi chương). Này Kevaddha, như vậy là giáo hóa thần thông.
SC 28PTS cs 67 Này Kevaddha, ba pháp thần thông này, Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Này Kevaddha thuở xưa, chính một Tỷ-kheo có khởi nghi vấn như sau: “Trong Tỷ-kheo chúng này—địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?” Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Thiên giới hiện ra.
SC 29PTS cs 68 Này Kevaddha, lúc bấy giờ vị Tỷ-kheo ấy đi đến Bốn Thiên vương thiên, khi đến xong, liền nói với các vị Bốn Thiên vương thiên: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 30Này Kevaddha, được nghe nói vậy Bốn Thiên vương thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”. Này Tỷ-kheo, có bốn Ðại vương ưu thế hơn và thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.
SC 31PTS cs 69 Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo đi đến bốn vị Ðại vương, khi đến xong liền hỏi bốn vị Ðại Thiên vương: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 32Này Kevaddha, được nghe nói vậy, cả bốn vị Ðại vương nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn. Này vị Tỷ-kheo, có Ba mươi ba thiên ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 33PTS cs 70 Này Kevaddha, vị Tỷ-kheo ấy đi đến các vị Ba mươi ba thiên, khi đến xong, liền hỏi các vị Ba mươi ba thiên, “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 34Này Kevaddha, được nghe nói vậy, các vị Ba mươi ba thiên nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có vị Ðế thích chư thiên tên là Sakka ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn.”
SC 35PTS cs 71 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Ðế thích chư thiên tên là Sakka, khi đến xong, liền hỏi Ðế thích chư thiên tên là Sakka: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 36Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðế thích chư Thiên tên là Sakka nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên tên là Yāma (Dạ-ma) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 37PTS cs 72 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên tên là Yāma (Dạ-ma) xong, liền hỏi chư Thiên Dạ-ma: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 38Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Yāma (Dạ-ma) nói với Tỷ-kheo. “Chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Suyāma ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.”
SC 39PTS cs 73 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Suyāma, sau khi đến liền hỏi Thiên tử Suyāma: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”
SC 40Này Kevaddha, được nghe nói vậy Thiên tử Suyāma nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Tusità ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn.”
SC 41PTS cs 74 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Tusità. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Tusità: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 42Này Kevaddha, được nói vậy chư Thiên Tusità nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có Thiên tử tên là Santusita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 43PTS cs 75 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Santusita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Santusita: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 44Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Santusita nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này vị Tỷ-kheo có chư Thiên tên là Nimmānarati (Hóa lạc thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 45PTS cs 76 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Nimmānarati. Khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Nimmānarati: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 46Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Nimmānarati nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Sunimmita ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 47PTS cs 77 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Sunimmita. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Sunimmita. “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 48Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Sunimmita nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có chư thiên gọi là Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên) ưu thế hơn, thù thắng hơn tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 49PTS cs 78 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Paranimmitavasavatti, khi đến xong, liền hỏi chư Thiên Paranimmitavasavatti (Tha hóa tự tại thiên): “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 50Này Kevaddha, được nghe nói vậy chư Thiên Paranimmitavasavatti nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, tôi không được biết—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo có Thiên tử tên là Vasavattī ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 51PTS cs 79 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến Thiên tử Vasavattī. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Vasavattī: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 52Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Thiên tử Vasavattī nói với Tỷ-kheo ấy. “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên gọi là Brahmà Kayikà ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị này có thể biết bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 53PTS cs 80 Này Kevaddha, lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Phạm thiên giới hiện ra.
SC 54Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến chư Thiên Brahmà Kayikà: “Này các Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 55Này Kevaddha, được nghe nói vậy, chư Thiên Brahmà Kayikà nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, chúng tôi không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có vị Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Vị này ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn đại chủng này địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”.
SC 56- Này Hiền giả, hiện nay Ðại Phạm thiên ấy ở đâu?
SC 57- Này Tỷ-kheo, chúng tôi không biết Phạm thiên ở đâu, vì sao có Phạm thiên và Phạm thiên từ đâu đến. Nhưng này Tỷ-kheo, khi nào triệu tướng hiện, khi nào ánh sáng sanh, khi nào hào quang hiển, thời Phạm thiên xuất hiện. Ánh sáng xanh, hào quang hiển là tướng Phạm thiên xuất hiện từ trước là như vậy.
SC 58PTS cs 81 Này Kevaddha, không bao lâu, Ðại Phạm thiên xuất hiện. Lúc bấy giờ, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đến Ðại Phạm thiên. Khi đến xong, liền hỏi Phạm thiên: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?” —Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ðại Phạm thiên nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”.
SC 59PTS cs 82 Này Kevaddha, lần thứ hai Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: “Này Hiền giả, tôi không hỏi: “Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”. Này Hiền giả, tôi hỏi: “Này Hiền giả, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 60Này Kevaddha, lần thứ hai, Ðại Phạm thiên ấy nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”.
SC 61PTS cs 83 Này Kevaddha, lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: “Này Hiền giả, tôi không hỏi: “Ngài có phải là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh”. Này Hiền giả, tôi hỏi: “Này Hiền giả, bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 62Này Kevaddha, khi bấy giờ Ðại Phạm thiên cầm tay Tỷ-kheo ấy, kéo ra một bên rồi nói với Tỷ-kheo: “Này Tỷ-kheo, chư Thiên Brahmà Kayikà xem rằng không có gì Phạm thiên không thấy, không có gì Phạm thiên không hiểu, không có gì Phạm thiên không chứng. Do vậy, trước mặt chúng, ta không có trả lời: “Này Tỷ-kheo, ta không được biết bốn đại chủng ấy—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn”. Do vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã làm sai, Ngươi đã lầm lẫn, khi Ngươi bỏ qua Thế Tôn, hướng đến người khác để trả lời câu hỏi ấy. Này Tỷ-kheo, Ngươi hãy đi đến Thế Tôn hỏi câu hỏi ấy, và hãy thọ trì những gì Thế Tôn trả lời”.
SC 63PTS cs 84 Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy, như nhà đại lực sĩ duỗi ra cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay đã duỗi ra, biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Ta. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này—địa đại … phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”.
SC 64PTS cs 85 Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Ta nói với Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Ðông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền”. Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đã tìm cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta. Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy—địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại—đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”. Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:
SC 65“Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?” và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:
SC 66“Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.
SC 67Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế, thô, tịnh và bất tịnh.
SC 68Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn.
SC 69Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận”.
SC 70Thế Tôn thuyết như vậy. Kevaddha, cư sĩ trẻ tuổi hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt [Bản dịch Anh ngữ] Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. (Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ “The Long Discourses of the Buddha”, Maurice Walshe dịch, 1987). Hiệu đính: 16–04–2004 Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
11. Kinh Kevaṭṭa
Atha kho kevaṭṭo gahapatiputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. Sādhu, bhante, bhagavā ekaṁ bhikkhuṁ samādisatu, yo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati; evāyaṁ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā kevaṭṭaṁ gahapatiputtaṁ etadavoca: “na kho ahaṁ, kevaṭṭa, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desemi: ‘etha tumhe, bhikkhave, gihīnaṁ odātavasanānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karothā’”ti.
Then the householder Kevaḍḍha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, this Nāḷandā is successful and prosperous, populous and full of people. Please direct a mendicant to perform a superhuman demonstration of psychic power. Then Nāḷandā will become even more devoted to the Buddha!”
When he said this, the Buddha said, “Kevaḍḍha, I do not teach Dhamma to the mendicants like this: ‘Come now, mendicants, perform a superhuman demonstration of psychic power for the white-clothed laypeople.’”
Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Nāḷandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, con trai gia chủ Kevaṭṭa đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, con trai gia chủ Kevaṭṭa bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, thành Nāḷandā này thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người qua lại tấp nập, và rất có lòng tin nơi Thế Tôn. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy chỉ định một vị tỳ khưu nào đó thực hiện thần thông, một pháp siêu nhân; như vậy, thành Nāḷandā này sẽ càng có lòng tin nơi Thế Tôn hơn nữa’. Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với con trai gia chủ Kevaṭṭa rằng: ‘Này Kevaṭṭa, Ta không thuyết pháp cho các tỳ khưu như vầy: ‘Này các tỳ khưu, hãy đến, các ông hãy thực hiện thần thông, một pháp siêu nhân, cho các người tại gia mặc áo trắng’.
Dutiyampi kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca: “nāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dhaṁsemi; api ca evaṁ vadāmi: ‘ayaṁ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. Sādhu, bhante, bhagavā ekaṁ bhikkhuṁ samādisatu, yo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati; evāyaṁ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī’”ti. Dutiyampi kho bhagavā kevaṭṭaṁ gahapatiputtaṁ etadavoca: “na kho ahaṁ, kevaṭṭa, bhikkhūnaṁ evaṁ dhammaṁ desemi: ‘etha tumhe, bhikkhave, gihīnaṁ odātavasanānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karothā’”ti.
For a second time, Kevaḍḍha made the same request, “Sir, I am not teaching you the Dhamma, but nonetheless I say: ‘Sir, this Nāḷandā is successful and prosperous, populous and full of people. Please direct a mendicant to perform a superhuman demonstration of psychic power. Then Nāḷandā will become even more devoted to the Buddha!’” But for a second time, the Buddha gave the same answer.
482. Lần thứ hai, người con trai của gia chủ Kevaṭṭa lại bạch với đức Thế Tôn lời này: – ‘Bạch ngài, con không có ý làm hại đức Thế Tôn; nhưng con nói như vầy: ‘Bạch ngài, xứ Nāḷandā này vừa thịnh vượng, vừa phồn vinh, đông dân, người qua lại tấp nập, và rất có tịnh tín nơi đức Thế Tôn. Lành thay, bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy chỉ định một vị tỳ khưu, vị nào sẽ thực hiện thần thông biến hóa siêu nhân; như vậy, xứ Nāḷandā này sẽ càng có tịnh tín nơi đức Thế Tôn hơn nữa.’ Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại nói với người con trai của gia chủ Kevaṭṭa lời này: – ‘Này Kevaṭṭa, Như Lai không thuyết pháp cho các tỳ khưu như vầy: – Này các tỳ khưu, các ngươi hãy đến, hãy thực hiện thần thông biến hóa siêu nhân cho các hàng tại gia mặc y phục trắng.’
Tatiyampi kho kevaṭṭo gahapatiputto bhagavantaṁ etadavoca: “nāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ dhaṁsemi; api ca evaṁ vadāmi: ‘ayaṁ, bhante, nāḷandā iddhā ceva phītā ca bahujanā ākiṇṇamanussā bhagavati abhippasannā. Sādhu, bhante, bhagavā ekaṁ bhikkhuṁ samādisatu, yo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati. Evāyaṁ nāḷandā bhiyyoso mattāya bhagavati abhippasīdissatī’”ti.
For a third time, Kevaḍḍha made the same request, at which the Buddha said the following.
Lần thứ ba, người con trai của gia chủ Kevaṭṭa lại bạch với đức Thế Tôn lời này: – ‘Bạch ngài, con không có ý làm hại đức Thế Tôn; nhưng con nói như vầy: ‘Bạch ngài, xứ Nāḷandā này vừa thịnh vượng, vừa phồn vinh, đông dân, người qua lại tấp nập, và rất có tịnh tín nơi đức Thế Tôn. Lành thay, bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy chỉ định một vị tỳ khưu, vị nào sẽ thực hiện thần thông biến hóa siêu nhân. Như vậy, xứ Nāḷandā này sẽ càng có tịnh tín nơi đức Thế Tôn hơn nữa.’
Thần thông biến hóa
“Tīṇi kho imāni, kevaṭṭa, pāṭihāriyāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni tīṇi? Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
“Kevaḍḍha, there are three kinds of demonstration, which I declare having realized them with my own insight. What three? The demonstration of psychic power, the demonstration of revealing, and the demonstration of instruction.
483. ‘Này Kevaṭṭa, có ba loại biến hóa này đã được Như Lai tự mình tuyên thuyết sau khi đã chứng ngộ bằng thắng trí. Ba loại ấy là gì? Thần thông biến hóa, biến hóa về việc đoán biết, và biến hóa về việc giáo huấn.
Katamañca, kevaṭṭa, iddhipāṭihāriyaṁ? Idha, kevaṭṭa, bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁ mahiddhike evaṁ mahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
And what is the demonstration of psychic power? It’s a mendicant who wields the many kinds of psychic power: multiplying themselves and becoming one again; materializing and dematerializing; going unobstructed through a wall, a rampart, or a mountain as if through space; diving in and out of the earth as if it were water; walking on water as if it were earth; flying cross-legged through the sky like a bird; touching and stroking with the hand the sun and moon, so mighty and powerful; controlling the body as far as the realm of divinity.
484. ‘Và này Kevaṭṭa, thế nào là thần thông biến hóa? Ở đây, này Kevaṭṭa, vị tỳ khưu trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau. Từ một thân, vị ấy hiện ra nhiều thân; từ nhiều thân, vị ấy hiện ra một thân; hiện ra, biến mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; vị ấy trồi lên lặn xuống trong đất liền như ở trong nước; vị ấy đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; vị ấy ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh; vị ấy chạm đến và vuốt ve mặt trăng và mặt trời này, những vật có đại thần lực, có đại oai lực như thế, bằng bàn tay của mình; vị ấy dùng thân để điều khiển quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên.
Tamenaṁ aññataro saddho pasanno passati taṁ bhikkhuṁ anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhontaṁ—ekopi hutvā bahudhā hontaṁ, bahudhāpi hutvā eko hontaṁ; āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamānaṁ gacchantaṁ seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karontaṁ seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchantaṁ seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamantaṁ seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁ mahiddhike evaṁ mahānubhāve pāṇinā parāmasantaṁ parimajjantaṁ yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattentaṁ.
Someone with faith and confidence sees that mendicant performing those superhuman feats.
‘Một người nào đó có đức tin, có tịnh tín, thấy vị tỳ khưu ấy đang trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau – từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện ra, biến mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không như loài chim có cánh; chạm đến và vuốt ve mặt trăng và mặt trời này, những vật có đại thần lực, có đại oai lực như thế, bằng bàn tay của mình; dùng thân để điều khiển quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên.
Tamenaṁ so saddho pasanno aññatarassa assaddhassa appasannassa āroceti: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Amāhaṁ bhikkhuṁ addasaṁ anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhontaṁ—ekopi hutvā bahudhā hontaṁ, bahudhāpi hutvā eko hontaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattentan’ti.
They tell someone else who lacks faith and confidence: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! The ascetic has such psychic power and might! I saw him myself, performing all these superhuman feats!’
‘Người có đức tin, có tịnh tín ấy kể lại cho một người khác không có đức tin, không có tịnh tín: – ‘Thật kỳ diệu thay, thưa ông, thật hy hữu thay, thưa ông, về đại thần lực, đại oai lực của vị sa-môn. Tôi đã thấy vị tỳ khưu đang trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau – từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân… vân vân… dùng thân để điều khiển quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên.’
Tamenaṁ so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ evaṁ vadeyya: ‘atthi kho, bho, gandhārī nāma vijjā. Tāya so bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetī’ti.
But the one lacking faith and confidence would say to them: ‘There’s a spell named Gandhārī. Using that a mendicant can perform such superhuman feats.’
‘Người không có đức tin, không có tịnh tín ấy có thể nói với người có đức tin, có tịnh tín ấy như vầy: – ‘Thưa ông, có một loại minh chú tên là Gandhārī. Nhờ minh chú ấy, vị tỳ khưu kia trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau – từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân… vân vân… dùng thân để điều khiển quyền năng cho đến cõi Phạm Thiên.’
Taṁ kiṁ maññasi, kevaṭṭa, api nu so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ evaṁ vadeyyā”ti?
“Vadeyya, bhante”ti.
“Imaṁ kho ahaṁ, kevaṭṭa, iddhipāṭihāriye ādīnavaṁ sampassamāno iddhipāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi.
What do you think, Kevaḍḍha? Wouldn’t someone lacking faith speak like that?”
“They would, sir.”
“Seeing this drawback in psychic power, I’m horrified, repelled, and disgusted by demonstrations of psychic power.
‘Này Kevaṭṭa, ngươi nghĩ thế nào về điều ấy, chẳng phải người không có đức tin, không có tịnh tín ấy có thể nói với người có đức tin, có tịnh tín ấy như vậy hay sao?’ – ‘Bạch ngài, có thể nói như vậy.’ – ‘Này Kevaṭṭa, chính vì Như Lai thấy rõ sự nguy hại này trong thần thông biến hóa nên Như Lai bực bội, hổ thẹn, và ghê tởm đối với thần thông biến hóa.’
Biến hóa về việc đoán biết
Katamañca, kevaṭṭa, ādesanāpāṭihāriyaṁ? Idha, kevaṭṭa, bhikkhu parasattānaṁ parapuggalānaṁ cittampi ādisati, cetasikampi ādisati, vitakkitampi ādisati, vicāritampi ādisati: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
And what is the demonstration of revealing? It’s when a mendicant reveals the mind, mentality, thoughts, and reflections of other beings and individuals: ‘This is what you’re thinking, such is your thought, and thus is your state of mind.’
485. ‘Và này Kevaṭṭa, thế nào là biến hóa về việc đoán biết? Ở đây, này Kevaṭṭa, vị tỳ khưu đoán biết được tâm, đoán biết được tâm sở, đoán biết được tầm, đoán biết được tứ của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác: – ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý của ông là như thế này.’
Tamenaṁ aññataro saddho pasanno passati taṁ bhikkhuṁ parasattānaṁ parapuggalānaṁ cittampi ādisantaṁ, cetasikampi ādisantaṁ, vitakkitampi ādisantaṁ, vicāritampi ādisantaṁ: ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti. Tamenaṁ so saddho pasanno aññatarassa assaddhassa appasannassa āroceti: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā. Amāhaṁ bhikkhuṁ addasaṁ parasattānaṁ parapuggalānaṁ cittampi ādisantaṁ, cetasikampi ādisantaṁ, vitakkitampi ādisantaṁ, vicāritampi ādisantaṁ: “evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan”’ti.
Someone with faith and confidence sees that mendicant revealing another individual’s thoughts. They tell someone else who lacks faith and confidence: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! The ascetic has such psychic power and might! I saw him myself, revealing the thoughts of another individual!’
‘Một người nào đó có đức tin, có tịnh tín, thấy vị tỳ khưu ấy đang đoán biết được tâm, đoán biết được tâm sở, đoán biết được tầm, đoán biết được tứ của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác: – ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý của ông là như thế này.’ Người có đức tin, có tịnh tín ấy kể lại cho một người khác không có đức tin, không có tịnh tín: – ‘Thật kỳ diệu thay, thưa ông, thật hy hữu thay, thưa ông, về đại thần lực, đại oai lực của vị sa-môn. Tôi đã thấy vị tỳ khưu đang đoán biết được tâm, đoán biết được tâm sở, đoán biết được tầm, đoán biết được tứ của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác: – ‘Tâm của ông là như thế này, tâm của ông là như thế kia, ý của ông là như thế này.’
Tamenaṁ so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ evaṁ vadeyya: ‘atthi kho, bho, maṇikā nāma vijjā; tāya so bhikkhu parasattānaṁ parapuggalānaṁ cittampi ādisati, cetasikampi ādisati, vitakkitampi ādisati, vicāritampi ādisati: “evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan”’ti.
But the one lacking faith and confidence would say to them: ‘There’s a spell named Māṇikā. Using that a mendicant can reveal another individual’s thoughts.’
Người không có đức tin, không có tịnh tín ấy có thể nói với người có đức tin, có tịnh tín như vầy: ‘Này bạn, có một loại minh chú tên là maṇikā; nhờ minh chú ấy, vị tỳ khưu kia có thể nói lên tâm của các chúng sanh khác, của các người khác, có thể nói lên tâm hành, có thể nói lên tầm, có thể nói lên tứ: ‘Tâm của bạn như thế này, tâm của bạn như thế kia, ý của bạn là như vậy.’”
Taṁ kiṁ maññasi, kevaṭṭa, api nu so assaddho appasanno taṁ saddhaṁ pasannaṁ evaṁ vadeyyā”ti?
“Vadeyya, bhante”ti.
“Imaṁ kho ahaṁ, kevaṭṭa, ādesanāpāṭihāriye ādīnavaṁ sampassamāno ādesanāpāṭihāriyena aṭṭīyāmi harāyāmi jigucchāmi.
What do you think, Kevaḍḍha? Wouldn’t someone lacking faith speak like that?”
“They would, sir.”
“Seeing this drawback in revealing, I’m horrified, repelled, and disgusted by demonstrations of revealing.
Này Kevaṭṭa, ngươi nghĩ thế nào? Người không có đức tin, không có tịnh tín ấy lại không nói với người có đức tin, có tịnh tín như vậy hay sao?” “Bạch Thế Tôn, người ấy có thể nói như vậy.” “Này Kevaṭṭa, vì thấy sự nguy hại này trong tha tâm thông thần biến, nên Ta bực dọc, hổ thẹn, và ghê tởm đối với tha tâm thông thần biến.”
Giáo hóa thần biến
Katamañca, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ? Idha, kevaṭṭa, bhikkhu evamanusāsati: ‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha, evaṁ manasikarotha, mā evaṁ manasākattha, idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti. Idaṁ vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
And what is the demonstration of instruction? It’s when a mendicant instructs others like this: ‘Think like this, not like that. Focus your mind like this, not like that. Give up this, and live having achieved that.’ This is called the demonstration of instruction.
486. Này Kevaṭṭa, thế nào là giáo hóa thần biến? Này Kevaṭṭa, ở đây, vị tỳ khưu giáo huấn như vầy: ‘Hãy suy nghĩ như thế này, đừng suy nghĩ như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này; hãy thành tựu và an trú trong điều này.’ Này Kevaṭṭa, đây được gọi là giáo hóa thần biến.
Puna caparaṁ, kevaṭṭa, idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho …pe… Evaṁ kho, kevaṭṭa, bhikkhu sīlasampanno hoti …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe…
dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe…
ñāṇadassanāya cittaṁ abhinīharati abhininnāmeti …pe… idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti …pe… idampi vuccati, kevaṭṭa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Furthermore, a Realized One arises in the world … That’s how a mendicant is accomplished in ethics. … They enter and remain in the first absorption … This is called the demonstration of instruction.
They enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. This too is called the demonstration of instruction.
They project and extend the mind toward knowledge and vision … This too is called the demonstration of instruction.
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’ This too is called the demonstration of instruction.
Lại nữa, này Kevaṭṭa, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (nên được diễn giải như trong các đoạn 190-212). Này Kevaṭṭa, như vậy vị tỳ khưu thành tựu giới hạnh... thành tựu và an trú trong sơ thiền. Này Kevaṭṭa, đây cũng được gọi là giáo hóa thần biến... thành tựu và an trú trong nhị thiền... tam thiền... tứ thiền. Này Kevaṭṭa, đây cũng được gọi là giáo hóa thần biến... vị ấy hướng tâm, dẫn tâm đến trí kiến... Này Kevaṭṭa, đây cũng được gọi là giáo hóa thần biến... vị ấy biết rõ: ‘... không còn trở lại trạng thái này nữa.’... Này Kevaṭṭa, đây cũng được gọi là giáo hóa thần biến.
Imāni kho, kevaṭṭa, tīṇi pāṭihāriyāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
These, Kevaḍḍha, are the three kinds of demonstration, which I declare having realized them with my own insight.
Này Kevaṭṭa, chính ba loại thần biến này đã được Ta tuyên thuyết sau khi tự mình chứng ngộ và chứng đắc bằng thắng trí.
Câu chuyện về vị tỳ khưu tìm kiếm nơi đoạn diệt của các đại chủng
Bhūtapubbaṁ, kevaṭṭa, imasmiññeva bhikkhusaṅghe aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘kattha nu kho ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?
Once upon a time, Kevaḍḍha, a mendicant in this very Saṅgha had the following thought, ‘Where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?’
487. Này Kevaṭṭa, thuở xưa, trong chính Tăng chúng này, một vị tỳ khưu đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như sau: ‘Bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’”
Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu tathārūpaṁ samādhiṁ samāpajji, yathāsamāhite citte devayāniyo maggo pāturahosi. Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena cātumahārājikā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cātumahārājike deve etadavoca: ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?
Then that mendicant attained a state of immersion such that a path to the gods appeared. Then he approached the gods of the four great kings and said, ‘Respectable sirs, where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?’
488. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nhập một loại định, mà khi tâm đã định tĩnh trong định ấy, con đường dẫn đến cõi trời hiện ra. Rồi, này Kevaṭṭa, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi ở của chư thiên Tứ Đại Thiên Vương; sau khi đến, vị ấy nói với chư thiên Tứ Đại Thiên Vương rằng: ‘Này chư hiền, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’”
Evaṁ vutte, kevaṭṭa, cātumahārājikā devā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ: ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti. Atthi kho, bhikkhu, cattāro mahārājāno amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. Te kho etaṁ jāneyyuṁ: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”’ti.
When he said this, those gods said to him, ‘Mendicant, we too do not know this. But the four great kings are our superiors. They might know.’
Này Kevaṭṭa, khi được hỏi như vậy, chư thiên Tứ Đại Thiên Vương nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, chúng tôi cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn. Nhưng này tỳ khưu, có Tứ Đại Thiên Vương, những vị cao cấp và ưu việt hơn chúng tôi. Các vị ấy có thể biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn.’”
Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena cattāro mahārājāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā cattāro mahārāje etadavoca: ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? Evaṁ vutte, kevaṭṭa, cattāro mahārājāno taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ: ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu, āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti. Atthi kho, bhikkhu, tāvatiṁsā nāma devā amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca. Te kho etaṁ jāneyyuṁ: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”’ti.
Then he approached the four great kings and asked the same question. But they also said to him, ‘Mendicant, we too do not know this. But the gods of the thirty-three …
489. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi ở của Tứ Đại Thiên Vương; sau khi đến, vị ấy nói với Tứ Đại Thiên Vương rằng: ‘Này chư hiền, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Khi được hỏi như vậy, này Kevaṭṭa, Tứ Đại Thiên Vương nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, chúng tôi cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn. Nhưng này tỳ khưu, có chư thiên tên là Tāvatiṃsā (Đao Lợi), những vị cao cấp và ưu việt hơn chúng tôi. Các vị ấy có thể biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn.’”
490. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị tỳ khưu ấy đi đến nơi ở của chư thiên Tāvatiṃsā; sau khi đến, vị ấy nói với chư thiên Tāvatiṃsā rằng: ‘Này chư hiền, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, sẽ đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Khi được hỏi như vậy, này Kevaṭṭa, chư thiên Tāvatiṃsā nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, chúng tôi cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn. Nhưng này tỳ khưu, có vị Sakka, vua của chư thiên, là vị cao cấp và ưu việt hơn chúng tôi. Vị ấy có thể biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại, đoạn diệt không còn dư tàn.’”
491. Này Kevaṭṭa, khi ấy vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ của Sakka, vua của chư thiên; sau khi đến, vị ấy nói với Sakka, vua của chư thiên rằng: ‘Thưa hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Này Kevaṭṭa, khi được nói như vậy, Sakka, vua của chư thiên, nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, ta cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn. Này tỳ khưu, có các vị trời tên là Yāmā... (v.v.)... có vị thiên tử tên là Suyāma... có các vị trời tên là Tusitā... có vị thiên tử tên là Santussita... có các vị trời tên là Nimmānaratī... có vị thiên tử tên là Sunimmita... có các vị trời tên là Paranimmitavasavattī... có vị thiên tử tên là Vasavattī, vị ấy siêu việt hơn và cao thượng hơn chúng ta. Vị ấy có thể biết được nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn.’
492. Này Kevaṭṭa, khi ấy vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ của thiên tử Vasavattī; sau khi đến, vị ấy nói với thiên tử Vasavattī rằng: ‘Thưa hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Này Kevaṭṭa, khi được nói như vậy, thiên tử Vasavattī nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, ta cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn. Này tỳ khưu, có các vị trời thuộc chúng Phạm Thiên, các vị ấy siêu việt hơn và cao thượng hơn chúng ta. Các vị ấy có thể biết được nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn.’
Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu tathārūpaṁ samādhiṁ samāpajji, yathāsamāhite citte brahmayāniyo maggo pāturahosi. Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena brahmakāyikā devā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā brahmakāyike deve etadavoca: ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? Evaṁ vutte, kevaṭṭa, brahmakāyikā devā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ: ‘mayampi kho, bhikkhu, na jānāma: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti. Atthi kho, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ amhehi abhikkantataro ca paṇītataro ca. So kho etaṁ jāneyya: “yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”’ti.
Then that mendicant attained a state of immersion such that a path to divinity appeared. Then he approached the gods of the Divinity’s host and said, ‘Respectable sirs, where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?’ But they also said to him, ‘Mendicant, we too do not know this. But there is the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. He is our superior. He might know.’
493. Này Kevaṭṭa, khi ấy vị tỳ khưu ấy đã nhập vào loại định tâm mà khi tâm được định tĩnh, con đường dẫn đến cõi Phạm Thiên hiện ra. Này Kevaṭṭa, khi ấy vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ của các vị trời thuộc chúng Phạm Thiên; sau khi đến, vị ấy nói với các vị trời thuộc chúng Phạm Thiên rằng: ‘Thưa các hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Này Kevaṭṭa, khi được nói như vậy, các vị trời thuộc chúng Phạm Thiên nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, chúng tôi cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn. Này tỳ khưu, có vị Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, là đấng chiến thắng, không bị ai chiến thắng, là đấng thấy được tất cả, đấng tự tại, đấng chúa tể, đấng tác tạo, đấng hóa chủ, đấng tối thượng, đấng an bài, đấng quyền uy, là cha của những gì đã sanh và sẽ sanh, vị ấy siêu việt hơn và cao thượng hơn chúng tôi. Vị ấy có thể biết được nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn.’
‘Kahaṁ panāvuso, etarahi so mahābrahmā’ti? ‘Mayampi kho, bhikkhu, na jānāma, yattha vā brahmā yena vā brahmā yahiṁ vā brahmā; api ca, bhikkhu, yathā nimittā dissanti, āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā pātubhavissati, brahmuno hetaṁ pubbanimittaṁ pātubhāvāya, yadidaṁ āloko sañjāyati, obhāso pātubhavatī’ti. Atha kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā nacirasseva pāturahosi.
‘But respectable sirs, where is that divinity now?’ ‘We also don’t know where he is or what way he lies. But by the signs that are seen—light arising and radiance appearing—we know that divinity will appear. For this is the harbinger for the appearance of the Divinity, namely light arising and radiance appearing.’ Not long afterwards, the Great Divinity appeared.
‘Thưa các hiền giả, vậy bây giờ vị Đại Phạm Thiên ấy ở đâu?’ ‘Này tỳ khưu, chúng tôi cũng không biết Phạm Thiên ở đâu, hay Phạm Thiên ở ngả nào, hay Phạm Thiên ở chốn nào. Tuy nhiên, này tỳ khưu, khi các điềm tướng được thấy, ánh sáng sanh khởi, hào quang xuất hiện, thì Phạm Thiên sẽ xuất hiện. Vì đây là điềm báo trước cho sự xuất hiện của Phạm Thiên, tức là ánh sáng sanh khởi, hào quang xuất hiện.’ Này Kevaṭṭa, khi ấy, không bao lâu sau, vị Đại Phạm Thiên ấy đã xuất hiện.
Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu yena so mahābrahmā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ mahābrahmānaṁ etadavoca: ‘kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti? Evaṁ vutte, kevaṭṭa, so mahābrahmā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: ‘ahamasmi, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan’ti.
Then that mendicant approached the Great Divinity and said to him, ‘Respectable sir, where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?’ The Great Divinity said to him, ‘I am the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born.’
494. Này Kevaṭṭa, khi ấy vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ của vị Đại Phạm Thiên ấy; sau khi đến, vị ấy nói với vị Đại Phạm Thiên ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?’ Này Kevaṭṭa, khi được nói như vậy, vị Đại Phạm Thiên ấy nói với vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Này tỳ khưu, ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, là đấng chiến thắng, không bị ai chiến thắng, là đấng thấy được tất cả, đấng tự tại, đấng chúa tể, đấng tác tạo, đấng hóa chủ, đấng tối thượng, đấng an bài, đấng quyền uy, là cha của những gì đã sanh và sẽ sanh.’
Dutiyampi kho so, kevaṭṭa, bhikkhu taṁ mahābrahmānaṁ etadavoca: ‘na khohaṁ taṁ, āvuso, evaṁ pucchāmi: “tvamasi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti. Evañca kho ahaṁ taṁ, āvuso, pucchāmi: “kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”’ti?
For a second time, that mendicant said to the Great Divinity, ‘Respectable sir, I am not asking you whether you are the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. I am asking where these four principal states cease without remainder.’
Này Kevaṭṭa, lần thứ hai, vị tỳ khưu ấy nói với vị Đại Phạm Thiên ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tôi không hỏi ngài rằng: “Ngài có phải là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, là đấng chiến thắng, không bị ai chiến thắng, là đấng thấy được tất cả, đấng tự tại, đấng chúa tể, đấng tác tạo, đấng hóa chủ, đấng tối thượng, đấng an bài, đấng quyền uy, là cha của những gì đã sanh và sẽ sanh” hay không. Mà thưa hiền giả, tôi hỏi ngài như thế này: “Thưa hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu?”’
Dutiyampi kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: ‘ahamasmi, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan’ti. Tatiyampi kho so, kevaṭṭa, bhikkhu taṁ mahābrahmānaṁ etadavoca: ‘na khohaṁ taṁ, āvuso, evaṁ pucchāmi: “tvamasi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti. Evañca kho ahaṁ taṁ, āvuso, pucchāmi: “kattha nu kho, āvuso, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”’ti?
For a second time, the Great Divinity said to him, ‘I am the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born.’ For a third time, that mendicant said to the Great Divinity, ‘Respectable sir, I am not asking you whether you are the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born. I am asking where these four principal states cease without remainder.’
Này Kevaṭṭa, lần thứ hai, vị Đại Phạm thiên ấy nói với vị Tỳ khưu ấy điều này: ‘Này Tỳ khưu, ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, đấng Vô năng thắng, đấng Biến nhãn, đấng Tự tại, đấng Sáng tạo, đấng Hóa công, đấng Tối thượng, đấng Điều ngự, đấng Tự chủ, là Cha của mọi loài đã sanh và sẽ sanh’. Này Kevaṭṭa, lần thứ ba, vị Tỳ khưu ấy nói với vị Đại Phạm thiên ấy điều này: ‘Thưa hiền giả, tôi không hỏi ngài như thế này: ‘Ngài có phải là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, đấng Vô năng thắng, đấng Biến nhãn, đấng Tự tại, đấng Sáng tạo, đấng Hóa công, đấng Tối thượng, đấng Điều ngự, đấng Tự chủ, là Cha của mọi loài đã sanh và sẽ sanh’ hay không? Mà thưa hiền giả, tôi hỏi ngài như thế này: ‘Thưa hiền giả, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, sẽ được đoạn diệt hoàn toàn không còn dư tàn ở đâu?’
Atha kho so, kevaṭṭa, mahābrahmā taṁ bhikkhuṁ bāhāyaṁ gahetvā ekamantaṁ apanetvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca: ‘ime kho maṁ, bhikkhu, brahmakāyikā devā evaṁ jānanti, “natthi kiñci brahmuno aññātaṁ, natthi kiñci brahmuno adiṭṭhaṁ, natthi kiñci brahmuno aviditaṁ, natthi kiñci brahmuno asacchikatan”ti. Tasmāhaṁ tesaṁ sammukhā na byākāsiṁ. Ahampi kho, bhikkhu, na jānāmi yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. Tasmātiha, bhikkhu, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ, yaṁ tvaṁ taṁ bhagavantaṁ atidhāvitvā bahiddhā pariyeṭṭhiṁ āpajjasi imassa pañhassa veyyākaraṇāya. Gaccha tvaṁ, bhikkhu, tameva bhagavantaṁ upasaṅkamitvā imaṁ pañhaṁ puccha, yathā ca te bhagavā byākaroti, tathā naṁ dhāreyyāsī’ti.
Then the Great Divinity took that mendicant by the arm, led him off to one side, and said to him, ‘Mendicant, these gods think that there is nothing at all that I don’t know and see and understand and realize. That’s why I didn’t answer in front of them. But I too do not know where these four principal states cease with no residue left behind. Therefore, mendicant, the misdeed is yours alone, the mistake is yours alone, in that you passed over the Buddha and searched elsewhere for an answer to this question. Mendicant, go to the Buddha and ask him this question. You should remember it in line with his answer.’
495. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị Đại Phạm thiên ấy nắm tay vị Tỳ khưu ấy, dẫn ra một nơi riêng, rồi nói với vị Tỳ khưu ấy điều này: ‘Này Tỳ khưu, các vị chư thiên ở cõi Phạm thiên này biết về ta như vầy: ‘Không có điều gì mà Phạm thiên không biết, không có điều gì mà Phạm thiên không thấy, không có điều gì mà Phạm thiên không tường tri, không có điều gì mà Phạm thiên không chứng ngộ’. Vì thế, ta đã không trả lời trước mặt họ. Này Tỳ khưu, chính ta cũng không biết nơi mà bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt hoàn toàn không còn dư tàn. Do đó, này Tỳ khưu, chính thầy đã làm điều không đúng, chính thầy đã phạm lỗi lầm, khi thầy đã vượt qua Thế Tôn mà đi tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề này ở bên ngoài. Này Tỳ khưu, thầy hãy đi, hãy đến đảnh lễ chính đức Thế Tôn và hỏi vấn đề này. Và như thế nào đức Thế Tôn trả lời cho thầy, thầy hãy ghi nhớ như vậy’.
Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho so, kevaṭṭa, bhikkhu maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho, kevaṭṭa, so bhikkhu maṁ etadavoca: ‘kattha nu kho, bhante, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?
Then that mendicant, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from the realm of divinity and reappeared in front of me. Then he bowed, sat down to one side, and said to me, ‘Sir, where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?’
496. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị Tỳ khưu ấy – ví như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra – cũng thế ấy, đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt ta. Này Kevaṭṭa, khi ấy, vị Tỳ khưu ấy đảnh lễ ta rồi ngồi xuống một bên. Này Kevaṭṭa, sau khi ngồi xuống một bên, vị Tỳ khưu ấy nói với ta điều này: ‘Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt hoàn toàn không còn dư tàn ở đâu?’
Ví dụ con chim thấy bờ
Evaṁ vutte, ahaṁ, kevaṭṭa, taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ—
bhūtapubbaṁ, bhikkhu, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti. Te atīradakkhiniyā nāvāya tīradassiṁ sakuṇaṁ muñcanti. So gacchateva puratthimaṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ disaṁ, gacchati anudisaṁ. Sace so samantā tīraṁ passati, tathāgatakova hoti. Sace pana so samantā tīraṁ na passati, tameva nāvaṁ paccāgacchati.
Evameva kho tvaṁ, bhikkhu, yato yāva brahmalokā pariyesamāno imassa pañhassa veyyākaraṇaṁ nājjhagā, atha mamaññeva santike paccāgato. Na kho eso, bhikkhu, pañho evaṁ pucchitabbo: ‘kattha nu kho, bhante, ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṁ—pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū’ti?
When he said this, I said to him:
‘Once upon a time, mendicant, some sea-merchants set sail for the ocean deeps, taking with them a land-spotting bird. When their ship was out of sight of land, they released the bird. It flew right away to the east, the west, the north, the south, upwards, and in-between. If it saw land on any side, it went there and stayed. But if it saw no land on any side it returned to the ship.
In the same way, after failing to get an answer to this question even after searching as far as the realm of divinity, you’ve returned to me. Mendicant, this is not how the question should be asked: “Sir, where do these four principal states cease without remainder, namely, the elements of earth, water, fire, and air?”
497. Này Kevaṭṭa, khi được nói vậy, ta đã nói với vị Tỳ khưu ấy điều này: ‘Này Tỳ khưu, thuở xưa, có những nhà buôn đi biển mang theo một con chim thấy bờ, rồi dùng thuyền đi vào đại dương. Khi thuyền của họ không còn thấy bờ, họ thả con chim thấy bờ ra. Nó bay về phương đông, bay về phương nam, bay về phương tây, bay về phương bắc, bay lên trên, bay về các phương phụ. Nếu nó thấy bờ ở xung quanh, nó cứ thế bay đi. Nhưng nếu nó không thấy bờ ở xung quanh, nó liền quay trở lại chính chiếc thuyền ấy. Cũng thế ấy, này Tỳ khưu, thầy đã tìm kiếm cho đến tận cõi Phạm thiên mà không tìm được câu trả lời cho vấn đề này, nên cuối cùng đã quay trở lại chính nơi ta. Này Tỳ khưu, câu hỏi này không nên được hỏi như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, được đoạn diệt hoàn toàn không còn dư tàn ở đâu?’
Evañca kho eso, bhikkhu, pañho pucchitabbo:
This is how the question should be asked:
498. Mà này Tỳ khưu, câu hỏi này nên được hỏi như thế này:
‘Kattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati; Kattha dīghañca rassañca, aṇuṁ thūlaṁ subhāsubhaṁ; Kattha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhatī’ti.
“Where do water and earth, fire and air have no footing; where long and short, tiny and huge, beautiful and ugly? Where do name and form cease no residue left behind?”
‘Nơi nào nước, đất, lửa, gió không thể đứng vững? Nơi nào dài và ngắn, nhỏ và lớn, đẹp và xấu? Nơi nào danh và sắc được đoạn diệt hoàn toàn không dư sót?’
Tatra veyyākaraṇaṁ bhavati:
And the answer to that is:
499. Ở đây, câu trả lời là:
‘Viññāṇaṁ anidassanaṁ, anantaṁ sabbatopabhaṁ;
Ettha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.
“‘Consciousness where no form appears, infinite, luminous all-round.’
Here water and earth, fire and air have no footing;
‘Niết-bàn là nơi cần phải được biết đến, không thể nhìn thấy bằng mắt thường, vô biên, có bến bờ ở khắp mọi nơi; tại đó nước, đất, lửa và gió không thể đứng vững.
Ettha nāmañca rūpañca, asesaṁ uparujjhati; Viññāṇassa nirodhena, etthetaṁ uparujjhatī’”ti.
Here name and form cease with no residue left behind—with the cessation of consciousness, here they cease.”’”
Tại đó dài và ngắn, nhỏ và lớn, đẹp và xấu; tại đó danh và sắc được đoạn diệt hoàn toàn không dư sót. Với sự diệt tận của thức, tại nơi đó danh sắc này được đoạn diệt.’
Idamavoca bhagavā. Attamano kevaṭṭo gahapatiputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the householder Kevaḍḍha approved what the Buddha said.
500. Thế Tôn đã nói điều này. Gia chủ tử Kevaṭṭa hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Kevaṭṭasuttaṁ niṭṭhitaṁ ekādasamaṁ.
Kinh Kevaṭṭa, thứ mười một, chấm dứt.