- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 9
Vessantaracariya
“Yā me ahosi janikā, phussatī nāma khattiyā; Sā atītāsu jātīsu, sakkassa mahesī piyā.
Bản dịch
Vessantaracariya
BJT 67Người mẹ ruột của ta là nữ nhân dòng Sát-đế-lỵ tên Phusatī. Bà ấy là hoàng hậu yêu quý của (Chúa Trời) Sakka vào những kiếp sống trước.
BJT 68Nhìn thấy sự dứt tuổi thọ của bà ấy, vị Chúa Trời đã nói điều này: “Này quý phi, trẫm ban cho khanh mười điều ân huệ, hãy chọn lựa theo như ý thích.”
BJT 69Và khi được nói như vậy, bà hoàng hậu ấy đã đáp lại (Chúa Trời) Sakka điều này: “Thiếp có lỗi lầm gì vậy? Phải chăng thiếp bị ngài ghét bỏ khiến ngài lưu đày thiếp khỏi chốn bồng lai như là ngọn gió thổi trốc gốc cây vậy?”
BJT 70Và khi được nói như vậy, vị (Chúa Trời) Sakka ấy đã đáp lại bà ta điều này: “Chẳng phải khanh đã làm điều sai trái và cũng chẳng phải là ta không yêu quý khanh.
BJT 71Sở dĩ như thế ấy chính là vì tuổi thọ của khanh, thời điểm tử vong sắp đến. Hãy tiếp nhận mười điều ân huệ quý báu tối cao đã được trẫm ban thưởng.”
BJT 72Với mười điều ân huệ được (Chúa Trời) Sakka ban thưởng, bà Phusatī ấy, hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, đã lựa chọn mười điều ân huệ sau khi đã tính gộp luôn cả ta (vào các điều ân huệ ấy).
BJT 73Mệnh chung từ nơi đó, bà Phusatī ấy đã sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ ở thành phố Jetuttara và đã kết hôn với Sañjaya.
BJT 74Khi ấy, ta đã hạ sanh vào lòng bà Phusatī, người mẹ yêu quý. Do nhờ oai lực của ta, người mẹ của ta đã luôn luôn hứng thú trong việc bố thí.
BJT 75Bà bố thí cho những người không có tài sản, người không có của cải, người bệnh hoạn, người già cả, người ăn xin, người đi đường, các vị Sa-môn, các Bà-la-môn, và những người bị khánh tận.
BJT 76Sau khi mang thai ta được mười tháng, bà Phusatī trong lúc đang đi quanh thành phố đã sanh ta ở giữa đường phố của những người thương buôn.
BJT 77Tên của ta không liên quan đến họ mẹ, cũng không xuất phát từ họ cha. Ta đã được sanh ra ở đường phố của những người thương buôn, vì thế ta đã là Vessantara.
BJT 78Đến khi ta đã trở thành đứa bé trai được tám tuổi tính từ lúc sanh, khi ấy ta đã ngồi ở tòa lâu đài và đã suy nghĩ về việc bố thí tặng vật.
BJT 79Ta có thể bố thí tim, mắt, luôn cả thịt và máu của mình. Ta đã thông báo là ta có thể bố thí xác thân của mình nếu có người van xin.
BJT 80Trong khi ta đang suy xét về bản tánh không dao động không hẹp hòi, tại nơi ấy trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru đã rúng động.
BJT 81Mỗi nửa tháng, vào ngày mười lăm và ngày cuối tháng là ngày trai giới, ta đã cưỡi lên con voi Paccaya và đã đi đến để bố thí tặng phẩm.
BJT 82Những người Bà-la-môn từ lãnh thổ vương quốc Kaliṅga đã đi đến gặp ta. Họ đã cầu xin ta con long tượng được xem là biểu hiện của sự thịnh vượng và may mắn:
BJT 83“Xứ sở chúng tôi không có mưa, thức ăn hiếm hoi, đói kém trầm trọng. Xin ngài hãy ban cho con long tượng cao quý, toàn màu trắng, tối thắng của loài voi.”
BJT 84Ta bố thí điều mà những người Bà-la-môn yêu cầu ta; ta không rung động. Ta không thu giấu vật đang sở hữu. Tâm ý của ta hoan hỉ trong việc bố thí.
BJT 85(Nghĩ rằng): “Đối với ta, khi có được người cầu xin thì sự từ chối là điều không đúng đắn. Sự thọ trì của ta chớ có bị đổ vỡ. Ta sẽ bố thí con voi vĩ đại.”
BJT 86Sau khi nắm lấy con voi ở chiếc ngà và rưới nước từ chiếc bình làm bằng ngọc quý lên bàn tay, ta đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.
BJT 87Lại một lần nữa, trong khi ta đang bố thí con voi tối thắng toàn màu trắng, khi ấy trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 88Do việc bố thí con voi ấy, những người dân xứ Sivi giận dữ đã tụ họp lại và đã trục xuất (ta) ra khỏi vương quốc của ta (nói rằng): “Hãy cho ông ta đi đến ngọn núi Vaṅka.”
BJT 89Trong khi bọn họ xua đuổi, ta đã yêu cầu một ân huệ để tiến hành cuộc đại thí, không dao động, không hẹp hòi.
BJT 90Khi được yêu cầu, tất cả những người dân xứ Sivi đã ban cho ta một ân huệ. Sau khi cho vỗ kêu hai chiếc trống lớn, ta đã trao tặng món quà vĩ đại.
BJT 91Lúc bấy giờ, tại nơi ấy có âm thanh ầm ĩ, ồn ào, ghê rợn vang lên. Bởi sự bố thí (này), họ đã lôi kéo ta đi; một lần nữa ta đã trao tặng món quà vĩ đại.
BJT 92Sau khi đã bố thí voi, ngựa, xe cộ, tôi trai, tớ gái, trâu bò, của cải, và đã ban phát cuộc đại thí, vào khi ấy ta đã rời khỏi thành phố.
BJT 93Sau khi rời khỏi thành phố, ta đã quay người lại quan sát, khi ấy trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 94Sau khi bố thí cỗ xe bốn ngựa kéo, ta đứng ở ngã tư đường, chỉ một mình không người hầu cận, và ta đã nói với Hoàng Hậu Maddī điều này:
BJT 95“Này Maddī, nàng hãy ẵm Kaṇhā(jinā), con bé nhẹ và là em gái. Ta sẽ ẵm Jāli bởi vì nó nặng và là anh trai.”
BJT 96Maddī đã ôm lấy Kaṇhājinā như thể ôm lấy đóa sen xanh hoặc đóa sen trắng. Ta đã ôm lấy vị Sát-đế-lỵ Jāli như thể ôm lấy bầu đựng nước bằng vàng.
BJT 97Bốn người Sát-đế-lỵ, dòng dõi quý tộc, có vóc dáng mảnh mai, tiến bước trên mặt đất lúc gồ ghề lúc bằng phẳng đi về hướng ngọn núi Vaṅka.
BJT 98Chúng tôi đã hỏi những người đi cùng đường hoặc theo hướng ngược lại về lộ trình: “Ngọn núi Vaṅka ở nơi nào?”
BJT 99Nhìn thấy chúng tôi ở nơi ấy, họ đã thốt lên lời thương xót. Họ bày tỏ nỗi đau xót (nói rằng): “Ngọn núi Vaṅka ở xa lắm.”
BJT 100Nếu hai đứa trẻ nhìn thấy những cây có trái ở trong khu rừng, hai đứa trẻ bật khóc vì nguyên nhân của những trái cây ấy.
BJT 101Trông thấy hai đứa trẻ khóc lóc, những cội cây cao lớn xum xuê tự động khom mình xuống đến gần hai đứa trẻ.
BJT 102Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu phi thường khiến lông tóc rởn ốc này, (hoàng hậu) Maddī, với sự rạng rỡ ở toàn thân, đã thốt lên lời tán thán (rằng):
BJT 103“Quả thật là điều kỳ diệu phi thường ở thế gian khiến lông tóc rởn ốc. Những cội cây đã tự động khom mình xuống bởi vì oai lực của Vessantara.”
BJT 104Vì lòng thương xót hai đứa trẻ, các hàng Dạ-xoa đã thâu ngắn đường đi; chỉ nội trong ngày khởi hành họ đã đi đến vương quốc Ceta.
BJT 105Lúc bấy giờ có sáu mươi ngàn vị vua cư ngụ ở Mātulā. Tất cả đã chắp tay lên, than khóc, và đã đi đến gần.
BJT 106Ở tại nơi ấy, sau khi trao đổi trò chuyện cùng với các vị vương tử xứ Ceta ấy, rồi từ đó bốn người đã đi đến ngọn núi Vaṅka.
BJT 107Chúa Trời đã triệu tập vị Vissakamma có đại thần lực (ra lệnh rằng): “Khanh hãy khéo biến hóa ra một khu ẩn cư được xây dựng tốt đẹp có gian nhà lá xinh xắn.”
BJT 108Nghe theo lời của (Chúa Trời) Sakka, vị Vissakamma có đại thần lực đã khéo biến hóa ra một khu ẩn cư được xây dựng tốt đẹp có gian nhà lá xinh xắn.
BJT 109Sau khi đã đi sâu vào khu rừng có ít tiếng động không có xáo trộn, bốn người chúng tôi đã sống ở tại nơi ấy, phía bên trong ngọn núi.
BJT 110Khi ấy, ta và Hoàng Hậu Maddī cùng với hai con là Jāli và Kaṇhājinā đã sống ở khu ẩn cư giúp nhau xóa tan nỗi niềm sầu muộn.
BJT 111Trong khi chăm nom hai đứa trẻ, ta không có đơn độc ở khu ẩn cư. Nàng Maddī mang về trái cây; nàng ấy nuôi dưỡng ba người.
BJT 112Khi ta đang sống ở trong khu rừng, có người khách đi đường đã đến gặp ta và đã cầu xin cả hai người con của ta là Jāli và Kaṇhājinā.
BJT 113Khi trông thấy người cầu xin đi đến gần, sự mừng rỡ đã sanh khởi ở ta. Khi ấy, ta đã dắt cả hai người con và đã trao tặng cho vị Bà-la-môn.
BJT 114Khi ta dứt bỏ hai người con của chính bản thân cho vị Bà-la-môn Jūjaka, khi ấy trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 115Hơn thế nữa, (Chúa Trời) Sakka, sau khi ngự xuống với dáng vóc vị Bà-la-môn, đã cầu xin ta Hoàng Hậu Maddī là người vợ có giới hạnh và chung thủy.
BJT 116Sau khi nắm lấy nàng Maddī ở cánh tay và làm đầy hai bàn tay bụm lại với nước, ta đã ban bố nàng Maddī cho vị ấy với tâm ý và tư duy hoan hỷ.
BJT 117Khi nàng Maddī đang được bố thí, chư thiên ở cõi trời đã mừng rỡ. Khi ấy, trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 118Trong khi dứt bỏ (người con trai) Jāli, người con gái Kaṇhājinā, và Hoàng Hậu Maddī người vợ chung thủy, ta đã không phải nghĩ ngợi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 119Cả hai người con không có bị ta ghét bỏ, Hoàng Hậu Maddī không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí những người thân yêu.
BJT 120Vào một dịp khác nữa, khi hội ngộ cùng cha mẹ ở tại khu rừng bao la, trong khi bọn họ đang than khóc bi thảm nói về nỗi niềm hạnh phúc và khổ đau.
BJT 121Do sự tôn kính, ta đã đến gặp song thân với sự hổ thẹn và ái ngại. Khi ấy trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 122Vào một dịp khác nữa, ta cùng với thân quyến đã lìa khỏi khu rừng bao la và đi vào thành phố tráng lệ là kinh thành Jetuttara.
BJT 123Khi ấy, bảy loại châu báu đã đổ xuống cơn mưa, có đám mây lớn đã đổ tuôn mưa. Lúc bấy giờ, trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
BJT 124Ngay cả trái đất vô tư này không nhận thức được nỗi niềm hạnh phúc và khổ đau, nó cũng đã rung chuyển bảy lần bởi vì năng lực bố thí của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Vessantara là phần thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yā me ahosi janikā, phussatī nāma khattiyā; Sā atītāsu jātīsu, sakkassa mahesī piyā.
“She who was my mother, the aristocrat lady named Phussatī, was Sakka’s beloved queen in past lives.
“Vị công chúa tên là Phussatī đã là mẹ của Ta. Trong các kiếp quá khứ, vị ấy đã là hoàng hậu được yêu quý của vua Sakka.
Tassā āyukkhayaṁ ñatvā, devindo etadabravi; ‘Dadāmi te dasa vare, varabhadde yadicchasi’.
Knowing that she was at the end of life, the lord of gods said this: ‘I grant you ten favors, my dear, whatever favor you wish.’
“Biết được tuổi thọ của bà ấy sắp cạn, vua chư thiên đã nói điều này: ‘Hỡi nàng hiền đức, Ta ban cho nàng mười điều ước, bất cứ điều gì nàng mong muốn’.
Evaṁ vuttā ca sā devī, sakkaṁ punidamabravi; ‘Kiṁ nu me aparādhatthi, kiṁ nu dessā ahaṁ tava; Rammā cāvesi maṁ ṭhānā, vātova dharaṇīruhaṁ’.
When he said this the queen replied to Sakka: ‘In what way am I deficient? How am I displeasing to you? You send me from this lovely place, like the wind a feeble tree.’
“Và khi được nói như vậy, vị thiên nữ ấy lại nói điều này với Sakka: ‘Con có lỗi lầm gì chăng? Có phải chăng con là người bị ngài ghét bỏ? Ngài muốn dời con đi khỏi nơi khả ái này, như cơn gió (làm lay động) cái cây sao?’
Evaṁ vutto ca so sakko, puna tassidamabravi; ‘Na ceva te kataṁ pāpaṁ, na ca me tvaṁsi appiyā.
When she said this Sakka replied to her: ‘You have done nothing wrong, nor are you not beloved to me.
Khi được nói như vậy, trời Đế Thích lại nói với nàng lời này: ‘Nàng chẳng hề làm điều ác, và nàng cũng chẳng phải là người Ta không thương mến.
Ettakaṁyeva te āyu, cavanakālo bhavissati; Paṭiggaṇha mayā dinne, vare dasa varuttame’.
But your life lasts only so long, your time of death will come. Accept the ten supreme favors I offer to you.’
‘Tuổi thọ của nàng chỉ còn chừng ấy, thời điểm mệnh chung sẽ đến. Hãy nhận lấy mười điều ước tối thượng do Ta ban cho’.
Sakkena sā dinnavarā, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā; Mamaṁ abbhantaraṁ katvā, phussatī dasa vare varī.
She accepted the offerings of Sakka, full of joy and happiness. Having conceived me, Phussatī was blessed with the ten favors.
Nàng Phussatī, được trời Đế Thích ban cho các điều ước, lòng đầy hoan hỷ, vui mừng phấn khởi, đã chọn lấy mười điều ước, trong đó có liên quan đến Ta.
Tato cutā sā phussatī, khattiye upapajjatha; Jetuttaramhi nagare, sañjayena samāgami.
Then Phussatī, having passed from there, was reborn as an aristocrat in the city of Jetuttara, where she married Sañjaya.
Sau khi mệnh chung từ cõi trời ấy, nàng Phussatī tái sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ. Tại thành Jetuttara, nàng đã kết duyên cùng vua Sañjaya.
Yadāhaṁ phussatiyā kucchiṁ, okkanto piyamātuyā; Mama tejena me mātā, sadā dānaratā ahu.
Once I was conceived in the womb of my dear mother Phussatī, because of my power, my mother always delighted in giving.
Khi Ta nhập vào thai của mẫu thân thân yêu, nàng Phussatī, thì do oai lực của Ta, mẫu thân của Ta luôn luôn ưa thích việc bố thí.
Adhane āture jiṇṇe, yācake addhike jane; Samaṇe brāhmaṇe khīṇe, deti dānaṁ akiñcane.
She gave to the destitute, the ailing and aging, to beggars, travelers, and folk, to ascetics and brahmins, and the dispossessed, and to those who had nothing.
Nàng bố thí cho người nghèo khó, bệnh tật, già yếu, người ăn xin, khách lữ hành, Sa-môn, Bà-la-môn, người khánh kiệt, và người không có tài sản.
Dasa māse dhārayitvāna, karonte puraṁ padakkhiṇaṁ; Vessānaṁ vīthiyā majjhe, janesi phussatī mamaṁ.
Having carried me for ten months, she was proceeding around the city when Phussatī gave birth to me in the middle of the peasant’s street.
Sau khi mang thai Ta mười tháng, trong lúc đang đi nhiễu quanh kinh thành, hoàng hậu Phussatī đã hạ sanh Ta ngay giữa con đường của giới thương nhân.
Na mayhaṁ mattikaṁ nāmaṁ, napi pettikasambhavaṁ; Jātettha vessavīthiyā, tasmā vessantaro ahu.
My name was not from my mother’s side, nor from my father’s. I was born there in the peasant’s street, and that’s why I’m called Vessantara.
Tên của Ta không phải là tên theo họ mẹ, cũng không phải do bên họ cha mà có. Ta được sanh ra trên con đường của giới thương nhân, vì thế Ta có tên là Vessantara.
Yadāhaṁ dārako homi, jātiyā aṭṭhavassiko; Tadā nisajja pāsāde, dānaṁ dātuṁ vicintayiṁ.
When I was a boy of only eight years old, sitting in the stilt longhouse, I thought of giving gifts.
Khi Ta là một đứa trẻ lên tám tuổi, lúc ấy, trong khi đang ngồi trên lầu đài, Ta đã suy tư về việc thực hành bố thí.
‘Hadayaṁ dadeyyaṁ cakkhuṁ, maṁsampi rudhirampi ca; Dadeyyaṁ kāyaṁ sāvetvā, yadi koci yācaye mamaṁ’.
‘I would give my heart and my eyes, my flesh and blood too.’ I announced that I would give my body, if anyone asked me.
‘Nếu có ai đến xin Ta, Ta sẽ cho đi trái tim, cho đi đôi mắt, cho cả thịt và máu. Ta sẽ cho đi thân này, tuyên bố làm người phục dịch, nếu có ai đến xin Ta’.
Sabhāvaṁ cintayantassa, akampitamasaṇṭhitaṁ; Akampi tattha pathavī, sineruvanavaṭaṁsakā.
Reflecting on my state of mind, so undisturbed and steadfast, the earth quaked there, and Mount Sineru, wreathed in forests.
Khi Ta đang suy tư về bản chất chân thật, không dao động, không do dự, lúc ấy mặt đất, với núi Sineru là vành hoa trang điểm, đã rung chuyển.
Anvaddhamāse pannarase, puṇṇamāse uposathe; Paccayaṁ nāgamāruyha, dānaṁ dātuṁ upāgamiṁ.
Every fortnight, the fifteenth, and the sabbath when the moon was full, I mounted the tusker Paccaya and went to give gifts.
Vào mỗi nửa tháng, vào ngày rằm, ngày trăng tròn Uposatha, Ta cưỡi voi báu Paccaya và đi đến để thực hành bố thí.
Kaliṅgaraṭṭhavisayā, brāhmaṇā upagañchu maṁ; Ayācuṁ maṁ hatthināgaṁ, dhaññaṁ maṅgalasammataṁ.
From the country of Kaliṅga, the brahmins came to me, requesting the royal elephant, that was lucky and deemed as auspicious.
Các vị Bà-la-môn từ xứ Kaliṅga đã đến gặp Ta; họ xin Ta con voi chúa, con vật mang lại thịnh vượng, được xem là voi báu cát tường.
‘Avuṭṭhiko janapado, dubbhikkho chātako mahā; Dadāhi pavaraṁ nāgaṁ, sabbasetaṁ gajuttamaṁ’.
‘Our nation is suffering from drought, food is scarce and famine abounds, please give the noble elephant the all-white supreme elephant.’
‘Xứ sở của chúng tôi không có mưa, bị nạn đói, dân chúng rất khổ sở. Xin hãy ban cho con voi quý, con voi chúa toàn thân màu trắng’.
Dadāmi na vikampāmi, yaṁ maṁ yācanti brāhmaṇā; Santaṁ nappatigūhāmi, dāne me ramate mano.
‘I give without hesitation what you ask of me, brahmins. I do not hide what I have, for my heart is happy to give.
Ta sẽ cho, Ta không dao động, bất cứ điều gì các vị Bà-la-môn xin Ta. Ta không che giấu những gì mình có, tâm Ta vui thích trong sự bố thí.
Na me yācakamanuppatte, paṭikkhepo anucchavo; Mā me bhijji samādānaṁ, dassāmi vipulaṁ gajaṁ.
When supplicants come to me it is unbefitting to refuse. Let not my vow be broken, I shall give the mighty elephant.’
Đối với Ta, việc từ chối người đến xin là không thích hợp. ‘Nguyện cho sự quyết tâm của Ta không bị phá vỡ, Ta sẽ bố thí con voi to lớn này’.
Nāgaṁ gahetvā soṇḍāya, bhiṅgāre ratanāmaye; Jalaṁ hatthe ākiritvā, brāhmaṇānaṁ adaṁ gajaṁ.
Taking the elephant by the trunk, and a bejeweled ceremonial vessel, I sprinkled water on the hand, and gave the elephant to the brahmins.
Ta nắm lấy vòi voi, dùng bình nước bằng bảo vật, rưới nước lên tay các vị Bà-la-môn và trao cho họ con voi.
Punāparaṁ dadantassa, sabbasetaṁ gajuttamaṁ; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
Then again when I was giving the all-white supreme elephant, the earth quaked again, and Mount Sineru, wreathed in forests.
Lại nữa, khi Ta đang bố thí con voi chúa toàn thân màu trắng, lúc ấy mặt đất, với núi Sineru là vành hoa trang điểm, lại một lần nữa rung chuyển.
Tassa nāgassa dānena, sivayo kuddhā samāgatā; Pabbājesuṁ sakā raṭṭhā, ‘vaṅkaṁ gacchatu pabbataṁ’.
At the gift of the tusker, angry Sivian folk gathered and banished me from my kingdom, saying: ‘Go to Crooked Mountain.’
Vì việc bố thí con voi ấy, dân chúng xứ Sivi phẫn nộ, tập hợp lại và trục xuất Ta ra khỏi xứ sở của họ, nói rằng: ‘Hãy đi đến núi Vaṅka’.
Tesaṁ nicchubhamānānaṁ, akampitamasaṇṭhitaṁ; Mahādānaṁ pavattetuṁ, ekaṁ varamayācisaṁ.
While they were ejecting me, I was undisturbed and steadfast, I asked one favor: to perform a great offering.
Trong khi họ đang trục xuất Ta, Ta vẫn không dao động, không do dự, và đã xin một ân huệ: được thực hiện một cuộc đại bố thí.
Yācitā sivayo sabbe, ekaṁ varamadaṁsu me; Sāvayitvā kaṇṇabheriṁ, mahādānaṁ dadāmahaṁ.
When I asked, all the Sivian folk granted me that one favor. Sounding the drums, I gave a great offering.
Tất cả dân chúng xứ Sivi, khi được Ta thỉnh cầu, đã ban cho Ta một ân huệ. Ta cho đánh trống loan báo và thực hiện một cuộc đại bố thí.
Athettha vattatī saddo, tumulo bheravo mahā; Dānenimaṁ nīharanti, puna dānaṁ dadātayaṁ.
And as the sound went forth, there was a great tumult and upset. They drove me out because of giving, but I just gave again.
Bấy giờ, một tiếng động lớn, vang dội, kinh khiếp nổi lên tại đó: ‘Họ trục xuất người này vì việc bố thí, mà người này lại tiếp tục bố thí!’
Hatthiṁ asse rathe datvā, dāsiṁ dāsaṁ gavaṁ dhanaṁ; Mahādānaṁ daditvāna, nagarā nikkhamiṁ tadā.
Elephants, horses, chariots, male and female slaves, cattle, and riches: after giving this great gift I then left the city.
Sau khi bố thí voi, ngựa, xe, tôi trai, tớ gái, bò, và tài sản, thực hiện cuộc đại bố thí, bấy giờ Ta rời khỏi kinh thành.
Nikkhamitvāna nagarā, nivattitvā vilokite; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
After leaving the city, I turned back to look, at which the earth quaked, and Mount Sineru, wreathed in forests.
Sau khi ra khỏi kinh thành, lúc quay lại nhìn, lúc ấy mặt đất, với núi Sineru là vành hoa trang điểm, lại một lần nữa rung chuyển.
Catuvāhiṁ rathaṁ datvā, ṭhatvā cātummahāpathe; Ekākiyo adutiyo, maddideviṁ idamabraviṁ.
Having given away my four-horse chariot, I was standing at the crossroads alone with no partner, and I said to Queen Maddī:
Sau khi bố thí cỗ xe tứ mã, Ta đứng lại ở ngã tư đường, một mình, không người bạn đồng hành, và nói với hoàng hậu Maddī lời này.
‘Tvaṁ maddi kaṇhaṁ gaṇhāhi, lahukā esā kaniṭṭhikā; Ahaṁ jāliṁ gahessāmi, garuko bhātiko hi so’.
‘Maddī, you take Kaṇhā, for she, as the younger sister, is the lighter. I shall take Jāli, for he, as the brother, is heavier.’
‘Này Maddī, nàng hãy bế Kaṇhā, con bé nhẹ hơn vì là em gái. Ta sẽ bế Jāli, con nặng hơn vì là anh trai’.
Padumaṁ puṇḍarīkaṁva, maddī kaṇhājinaggahī; Ahaṁ suvaṇṇabimbaṁva, jāliṁ khattiyamaggahiṁ.
Like a pink or white lotus, Maddī picked up Kaṇhājinā. Like a golden statue, I picked up Jāli, the aristocrat.
Nàng Maddī bế Kaṇhājinā, tựa như đóa sen hồng, sen trắng. Ta bế hoàng tử Jāli, tựa như một pho tượng vàng.
Abhijātā sukhumālā, khattiyā caturo janā; Visamaṁ samaṁ akkamantā, vaṅkaṁ gacchāma pabbataṁ.
High-born and delicate, four aristocrat folk traveled ground even and uneven, going to Crooked Mountain.
Bốn người chúng ta, thuộc dòng dõi cao quý, thân thể mịn màng, thuộc dòng Sát-đế-lỵ, cùng nhau đi đến núi Vaṅka, bước đi trên những con đường bằng phẳng và gồ ghề.
Ye keci manujā enti, anumagge paṭippathe; Maggante paṭipucchāma,
Whenever men would come along, coming the other way along the road, we asked them in the middle of the street,
Bất cứ người nào đi đến, dù ở trên đường hay ngược lối, chúng ta đều hỏi đường họ: ‘Núi Vaṅkanta ở đâu?’
Te tattha amhe passitvā, karuṇaṁ giramudīrayuṁ; Dukkhante paṭivedenti, dūre vaṅkantapabbato.
Seeing us there, they spoke to us kindly, ‘It will be hard for you,’ they explained, ‘for Crooked Mountain is far.’
Những người ấy, khi thấy chúng ta ở đó, đã thốt lên những lời bi mẫn. Họ cảm thấy đau khổ và cho biết: ‘Núi Vaṅkanta còn xa lắm’.
Yadi passanti pavane, dārakā phaline dume; Tesaṁ phalānaṁ hetumhi, uparodanti dārakā.
If the children saw fruit on a tree in the forest, then for the sake of that fruit, the children cried.
“Nếu trong rừng, các con trẻ nhìn thấy những cây có trái; vì cớ những trái cây ấy, các con trẻ đã khóc than.
Rodante dārake disvā, ubbiddhā vipulā dumā; Sayamevoṇamitvāna, upagacchanti dārake.
Seeing the children cry, the tall, massive trees bent down of their own accord, within reach of the children.
“Nhìn thấy các con trẻ đang khóc, những cây cao lớn và vĩ đại đã tự mình cúi xuống và đến gần các con trẻ.
Idaṁ acchariyaṁ disvā, abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ; Sāhukāraṁ pavattesi, maddī sabbaṅgasobhanā.
Seeing this marvel, so astonishing and hair-raising, Maddī, beautiful in every limb, exclaimed in celebration:
“Nhìn thấy điều kỳ diệu, chưa từng có, và làm dựng tóc gáy này, nàng Maddī, người có dung sắc toàn hảo, đã thốt lên lời tán thán.
Accheraṁ vata lokasmiṁ, abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ; Vessantarassa tejena, sayamevoṇatā dumā.
‘Such a marvel in the world, so astonishing and hair-raising, due to the power of Vessantara, the trees bent down of their own accord.’
“Thật kỳ diệu thay ở trên đời, thật chưa từng có, thật làm dựng tóc gáy! Do oai lực của Vessantara, các cây đã tự mình cúi xuống.”
Saṅkhipiṁsu pathaṁ yakkhā, anukampāya dārake; Nikkhantadivaseneva, cetaraṭṭhamupāgamuṁ.
Native spirits, out of compassion, shortened the path, so that on the very day they set out, they arrived at the kingdom of Ceta.
“Do lòng thương xót các con trẻ, chư thiên đã rút ngắn con đường. Ngay trong ngày khởi hành, họ đã đến được xứ Ceta.
Saṭṭhirājasahassāni, tadā vasanti mātule; Sabbe pañjalikā hutvā, rodamānā upāgamuṁ.
Sixty thousand kings were living at Mātula then. All raised their cupped palms, and approached, weeping.
“Khi ấy, có sáu mươi ngàn vị vua, là những người cậu, đang trú ngụ ở đó. Tất cả đã chắp tay lại, vừa khóc vừa đi đến.
Tattha vattetvā sallāpaṁ, cetehi cetaputtehi; Te tato nikkhamitvāna, vaṅkaṁ agamu pabbataṁ.
There they held conversation with the folks of Ceta and their children. Then, leaving that place, they arrived at Crooked Mountain.
“Tại đó, sau khi trò chuyện cùng với các vị vua xứ Ceta và các hoàng tử Ceta, chúng tôi đã rời khỏi nơi ấy và đi đến núi Vaṅka.
Āmantayitvā devindo, vissakammaṁ mahiddhikaṁ; Assamaṁ sukataṁ rammaṁ, paṇṇasālaṁ sumāpaya.
The lord of gods addressed Vissakamma of great psychic power: ‘Build a hermitage, well-made and delightful, with a hall of leaves.’
“Vua trời Đế Thích đã gọi vị trời Vissakamma có đại thần lực và truyền rằng: ‘Hãy tạo dựng một am thất và một cốc lợp lá, được làm khéo léo và khả ái’.
Sakkassa vacanaṁ sutvā, vissakammo mahiddhiko; Assamaṁ sukataṁ rammaṁ, paṇṇasālaṁ sumāpayi.
After hearing Sakka’s words, Vissakamma of great psychic power built a hermitage, well-made and delightful, with a hall of leaves.
“Nghe lời của vua trời Đế Thích, vị trời Vissakamma có đại thần lực đã tạo dựng một am thất và một cốc lợp lá, được làm khéo léo và khả ái.
Ajjhogāhetvā pavanaṁ, appasaddaṁ nirākulaṁ; Caturo janā mayaṁ tattha, vasāma pabbatantare.
Having plunged into the forest, quiet and undisturbed, we four persons lived there in the mountains.
“Sau khi đi sâu vào khu rừng vắng lặng, không bị khuấy nhiễu, bốn người chúng tôi đã trú ngụ ở đó, giữa vùng núi non.
Ahañca maddidevī ca, jālī kaṇhājinā cubho; Aññamaññaṁ sokanudā, vasāma assame tadā.
Myself and Queen Maddī, with both Jāli and Kaṇhājinā, dispelling each other’s sorrow lived then in that hermitage.
“Khi ấy, ta, hoàng hậu Maddī, và cả hai con là Jāli và Kaṇhājinā, đã sống trong am thất, cùng nhau xua tan sầu muộn cho nhau.
Dārake anurakkhanto, asuñño homi assame; Maddī phalaṁ āharitvā, poseti sā tayo jane.
While caring for the children, I was not idle in the hermitage. Maddī gathered fruit, and provided for three people.
“Ta trông nom các con trẻ, làm cho am thất không trống vắng. Nàng Maddī ấy, sau khi mang trái cây về, đã nuôi dưỡng ba người.
Pavane vasamānassa, addhiko maṁ upāgami; Āyāci puttake mayhaṁ, jāliṁ kaṇhājinaṁ cubho.
While I was living in the forest, a traveler came to me and asked for my children, both Jāli and Kaṇhājinā.
“Trong khi ta đang sống trong rừng, một người bộ hành đã đến gần ta. Vị ấy đã xin cả hai đứa con của ta, là Jāli và Kaṇhājinā.
Yācakaṁ upagataṁ disvā, hāso me upapajjatha; Ubho putte gahetvāna, adāsiṁ brāhmaṇe tadā.
When I saw the supplicant approaching, I felt so full of joy. Taking both my children, I gave them to the brahmin then.
“Nhìn thấy người hành khất đến gần, niềm hoan hỷ đã phát sinh nơi ta. Khi ấy, ta đã dắt cả hai đứa con và trao cho vị Bà-la-môn.
Sake putte cajantassa, jūjake brāhmaṇe yadā; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
When I gave away my own children, to the brahmin Jūjaka, the earth quaked again, and Mount Sineru, wreathed in forests.
“Khi ta đang từ bỏ các con của mình cho Bà-la-môn Jūjaka, ngay cả lúc ấy, quả đất với núi Sineru làm đỉnh trang sức cũng đã rung chuyển.
Punadeva sakko oruyha, hutvā brāhmaṇasannibho; Āyāci maṁ maddideviṁ, sīlavantiṁ patibbataṁ.
And then Sakka descended in the guise of a brahmin. He asked me for Queen Maddī, virtuous, and devoted.
“Lại một lần nữa, vua trời Đế Thích đã đi xuống, hiện thành hình dạng một vị Bà-la-môn, và đã đến xin ta hoàng hậu Maddī, người có giới hạnh và hết lòng với chồng.
Maddiṁ hatthe gahetvāna, udakañjali pūriya; Pasannamanasaṅkappo, tassa maddiṁ adāsahaṁ.
Taking Maddī by the hand, filling clasped hands with water, with a confident heart, I gave Maddī to him.
“Ta đã nắm tay Maddī, đổ đầy nước vào lòng bàn tay (của vị ấy), với tâm ý trong sáng và hoan hỷ, ta đã trao Maddī cho vị ấy.
Maddiyā dīyamānāya, gagane devā pamoditā; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
As Maddī was being given, gods applauded in the welkin, and the earth quaked again, and Mount Sineru, wreathed in forests.
“Trong khi Maddī đang được cho đi, chư thiên ở trên trời đã hoan hỷ. Ngay cả lúc ấy, quả đất với núi Sineru làm đỉnh trang sức cũng đã rung chuyển.
Jāliṁ kaṇhājinaṁ dhītaṁ, maddideviṁ patibbataṁ; Cajamāno na cintesiṁ, bodhiyāyeva kāraṇā.
Jāli and Kaṇhājinā my daughter, and Queen Maddī my devoted wife: I gave them up without a second thought, because it was solely for awakening.
“Khi từ bỏ Jāli, con gái Kaṇhājinā, và hoàng hậu Maddī, người hết lòng với chồng, ta đã không do dự, chỉ vì mục đích giác ngộ.
Na me dessā ubho puttā, maddidevī na dessiyā; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā piye adāsahaṁ.
I had no dislike of my children, nor for Queen Maddī. But because omniscience is precious to me, I gave my loved ones away.
“Không phải ta không thương hai con, không phải hoàng hậu Maddī không đáng yêu. Trí tuệ toàn giác là điều ta yêu quý, vì thế ta đã cho đi những người thân yêu.
Punāparaṁ brahāraññe, mātāpitusamāgame; Karuṇaṁ paridevante, sallapante sukhaṁ dukhaṁ.
Later on in the mighty forest, we were reunited by my mother and father. Crying pitifully, they spoke of my happiness and sadness.
“Lại một lần nữa, trong khu rừng lớn, khi đoàn tụ với cha mẹ, trong lúc các ngài đang than khóc một cách bi thương và trò chuyện về khổ vui.
Hirottappena garunā, ubhinnaṁ upasaṅkami; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
With deep conscience and prudence, I approached them, at which the earth quaked, and Mount Sineru, wreathed in forests.
“Ta đã đến gần cả hai vị, những bậc đáng kính, với lòng tàm quý. Ngay cả lúc ấy, quả đất với núi Sineru làm đỉnh trang sức cũng đã rung chuyển.
Punāparaṁ brahāraññā, nikkhamitvā sañātibhi; Pavisāmi puraṁ rammaṁ, jetuttaraṁ puruttamaṁ.
Later on in the mighty forest, having left the forest with my family, I entered the delightful city Jetuttara, the capital city.
“Lại một lần nữa, sau khi rời khỏi khu rừng lớn cùng với quyến thuộc, ta đã đi vào thành phố Jetuttara khả ái, là đô thị tối thượng.
Ratanāni satta vassiṁsu, mahāmegho pavassatha; Tadāpi pathavī kampi, sineruvanavaṭaṁsakā.
The seven gems rained down, raining forth from a mighty cloud, and the earth quaked again, and Mount Sineru, wreathed in forests.
“Bảy loại bảo vật đã tuôn mưa xuống, một đám mây lớn đã trút mưa. Ngay cả lúc ấy, quả đất với núi Sineru làm đỉnh trang sức cũng đã rung chuyển.
Acetanāyaṁ pathavī, aviññāya sukhaṁ dukhaṁ; Sāpi dānabalā mayhaṁ, sattakkhattuṁ pakampathā”ti.
Even this insentient earth, with no knowledge of happiness or sadness, quaked seven times at the power of my giving.”
“Quả đất này vốn vô tri, không biết đến khổ và vui. Ngay cả nó, do năng lực bố thí của ta, cũng đã rung chuyển bảy lần.”
Vessantaracariyaṁ navamaṁ.
Hạnh Vessantara, thứ chín.