- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 8
Sivirājacariya
“Ariṭṭhasavhaye nagare, sivināmāsi khattiyo; Nisajja pāsādavare, evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yaṁ kiñci mānusaṁ dānaṁ, adinnaṁ me na vijjati; Yopi yāceyya maṁ cakkhuṁ, dadeyyaṁ avikampito’.
Bản dịch
Sivirājacariya
BJT 51Ở tại thành phố có tên gọi là Ariṭṭha, ta đã là vị Sát-đế-lỵ tên Sivi. Vào lúc ngồi ở tòa lâu đài quý báu, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 52“Không có bất cứ vật thí nào thuộc về nhân loại mà ta chưa từng bố thí. Thậm chí người nào yêu cầu ta về con mắt thì ta cũng có thể bố thí, không bị dao động.”
BJT 53Biết được tâm tư của ta, vị Chúa Trời Sakka ngồi ở giữa tập thể chư thiên đã nói lên lời này:
BJT 54“Đức vua Sivi có đại oai lực trong khi ngồi ở tòa lâu đài quý báu suy nghĩ về vật bố thí đủ các loại, vị ấy không nhìn thấy vật chưa từng được bố thí.
BJT 55Điều này là đúng hay không đúng sự thật? Vậy hãy để ta thử thách vị ấy. Các người hãy chờ một chốc lát đến khi ta biết được tâm ý ấy.”
BJT 56Sau khi biến thành dáng vóc người mù lòa, đang run rẩy, có đầu tóc bạc phơ, cơ thể nhăn nheo, già yếu, bệnh hoạn, (Chúa Trời Sakka) đã đi đến gặp đức vua.
BJT 57Khi ấy, ông ta đã giơ cánh tay trái và cánh tay phải lên chắp lại ở đầu, rồi đã nói lời này:
BJT 58“Tâu đại vương, tôi cầu xin ngài. Ôi vị làm tiến triển vương quốc về phương diện đạo đức, danh tiếng của ngài về sự hoan hỉ trong bố thí đã vang khắp chốn nhân thiên.
BJT 59Cả hai con mắt dẫn đường của tôi bị mù lòa, hư hỏng. Hãy bố thí cho tôi một con mắt, ngài cũng hãy còn sống với một con mắt vậy.”
BJT 60Nghe được lời nói của người ấy, ta đã mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Tràn ngập niềm phấn khởi, ta đã chắp tay lại rồi đã nói lời này:
BJT 61“Lúc này đây, sau khi suy nghĩ trẫm đã rời tòa lâu đài đi đến nơi đây. Còn ngươi, sau khi biết được tâm của trẫm đã đi đến để cầu xin con mắt.
BJT 62Ôi, ý định của ta đã được thành tựu, điều ước mong đã được vẹn toàn! Hôm nay, ta sẽ ban cho người hành khất tặng vật cao quý chưa từng được bố thí trước đây.
BJT 63Này Sīvaka, hãy lại gần. Hãy mạnh dạn lên, đừng chần chờ, chớ có run rẩy. Hãy móc ra cả hai con mắt và trao cho người cầu thỉnh.”
BJT 64Sau đó, bị ta thúc giục vị Sīvaka ấy là người thi hành mệnh lệnh đã lấy ra (hai con mắt) giống như nạo cơm dừa, rồi đã trao cho cho người hành khất.
BJT 65Trong khi chuẩn bị bố thí, khi đang bố thí, khi tặng vật đã được ta bố thí, tâm không có thay đổi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 66Hai con mắt không có bị ta ghét bỏ, bản thân không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con mắt.
Hạnh của Đức Vua Sivi là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ariṭṭhasavhaye nagare, sivināmāsi khattiyo; Nisajja pāsādavare, evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yaṁ kiñci mānusaṁ dānaṁ, adinnaṁ me na vijjati; Yopi yāceyya maṁ cakkhuṁ, dadeyyaṁ avikampito’.
“In the city called Ariṭṭha I was the aristocrat named Sivi. Seated in my finest longhouse, I then had the following thought:
‘Whatever human gifts there are, none may be found that I have not given. Even if someone were to ask for my eye, I would give it without wavering.’
“‘Bất cứ vật thí nào của loài người mà Ta chưa cho là không có. Nếu có người nào xin mắt của Ta, Ta sẽ cho mà không dao động’.
Mama saṅkappamaññāya, sakko devānamissaro; Nisinno devaparisāya, idaṁ vacanamabravi.
Knowing my thoughts, Sakka the lord of gods, sitting in the assembly of gods said the following.
“Biết được ý định của Ta, Sakka, chúa của chư thiên, đang ngồi giữa hội chúng chư thiên, đã nói lời này:
‘Nisajja pāsādavare, sivirājā mahiddhiko; Cintento vividhaṁ dānaṁ, adeyyaṁ so na passati.
‘Seated in his finest longhouse, the mighty King Sivi is thinking of manifold gifts and cannot see any he would not give.
“‘Vua Sivi có đại thần lực, đang ngồi trên lầu đài cao quý, suy tư về các loại bố thí, vị ấy không thấy vật gì chưa cho.
Tathaṁ nu vitathaṁ netaṁ, handa vīmaṁsayāmi taṁ; Muhuttaṁ āgameyyātha, yāva jānāmi taṁ manaṁ’.
Is this true or not? Come, let us test him. Wait a while until I know his mind.’
“‘Điều này có thật chăng, hay không thật? Nào, ta sẽ thử nghiệm điều ấy. Các vị hãy chờ một chốc, cho đến khi ta biết được tâm của vị ấy’.
Pavedhamāno palitasiro, Valigatto jarāturo; Andhavaṇṇova hutvāna, Rājānaṁ upasaṅkami.
Appearing as a frail old man, with grey hair and wrinkled skin, feeble and blind, he approached the king.
“Run rẩy, đầu tóc bạc, thân da nhăn, đau ốm vì già, sau khi hóa thành người mù, (vị ấy) đã đến gần đức vua.
So tadā paggahetvāna, vāmaṁ dakkhiṇabāhu ca; Sirasmiṁ añjaliṁ katvā, idaṁ vacanamabravi.
Then, stretching out his left and right arms, he raised his cupped palms to his head and said the following.
“Khi ấy, vị ấy giơ cả hai cánh tay trái và phải lên, chắp tay trên đầu, và đã nói lời này:
‘Yācāmi taṁ mahārāja, dhammika raṭṭhavaḍḍhana; Tava dānaratā kitti, uggatā devamānuse.
‘Great king, I have a request for you. Under your just rule the kingdom has flourished, and the renown of your love of giving has risen among gods and humans.
“‘Con xin ngài, tâu đại vương, bậc hành pháp, bậc làm cho quốc độ phồn vinh. Tiếng tăm của ngài là người hoan hỷ trong bố thí đã vang lừng trong cõi trời và người.
Ubhopi nettā nayanā, andhā upahatā mama; Ekaṁ me nayanaṁ dehi, tvampi ekena yāpaya’.
Both my eyes, by which I find my way, are ruined and become blind. Give me just one eye, while you too get by with one.’
“‘Cả hai con mắt của con đã mù, đã bị hư hoại. Xin hãy cho con một con mắt, ngài cũng hãy sống với một con’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā, haṭṭho saṁviggamānaso; Katañjalī vedajāto, idaṁ vacanamabraviṁ.
After hearing his words I was thrilled, my mind elated, so with cupped palms, inspired, I said the following.
“Sau khi nghe lời của người ấy, Ta hoan hỷ, tâm kinh cảm, sanh niềm hân hoan, chắp tay và đã nói lời này:
‘Idānāhaṁ cintayitvāna, pāsādato idhāgato; Tvaṁ mama cittamaññāya, nettaṁ yācitumāgato.
‘Just now I was reflecting on this when I came here from the longhouse. Understanding my mind, you have come to ask for an eye.
“‘Chính bây giờ, sau khi suy nghĩ, Ta đã từ lầu đài đến đây. Ngươi biết được tâm của Ta, đã đến để xin con mắt.
Aho me mānasaṁ siddhaṁ, saṅkappo paripūrito; Adinnapubbaṁ dānavaraṁ, ajja dassāmi yācake.
Oh! My wish has come true! My intention is fulfilled! Today I shall give to a supplicant a fine gift never before given.’
“‘Ô hay, tâm nguyện của Ta đã thành tựu, ý định đã viên mãn! Hôm nay, Ta sẽ cho đến người xin vật thí cao thượng chưa từng cho trước đây.
Ehi sivaka uṭṭhehi, mā dandhayi mā pavedhayi; Ubhopi nayanaṁ dehi, uppāṭetvā vaṇibbake’.
‘Come Sivaka, stand up, do not hesitate or waver. Pluck out even both eyes and give them to the supplicant.’
“‘Này Sivaka, hãy đến đây, hãy đứng dậy! Đừng chậm trễ, đừng run sợ! Sau khi móc ra cả hai con mắt, hãy cho đến người hành khất’.
Tato so codito mayhaṁ, sivako vacanaṁ karo; Uddharitvāna pādāsi, tālamiñjaṁva yācake.
And then, urged on by me, Sivaka did as I said. Extracting both eyes, he presented them to the trembling supplicant.
“Sau đó, được Ta thúc giục, Sivaka ấy đã làm theo lời, sau khi móc ra (đôi mắt) như lấy lõi cây thốt nốt, đã cho đến người xin.
Dadamānassa dentassa, dinnadānassa me sato; Cittassa aññathā natthi, bodhiyāyeva kāraṇā.
‘While planning to give, while giving, and after I had given, my mind did not falter, because it was solely for awakening.
“Trong khi đang cho, trong khi đang trao, và sau khi đã cho, tâm của Ta, bậc chánh niệm, không có sự thay đổi, chỉ vì lý do là quả vị Bồ-đề.
Na me dessā ubho cakkhū, attā na me na dessiyo; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā cakkhuṁ adāsahan”ti.
It was not because I disliked my eyes, or that I disliked myself, but because omniscience is precious to me, that is why I gave away my eyes.’”
“Không phải Ta không yêu quý cả hai con mắt, không phải Ta không yêu quý tự ngã. Trí tuệ toàn giác là điều Ta yêu quý, do đó Ta đã cho đi đôi mắt.”
Sivirājacariyaṁ aṭṭhamaṁ.
Hạnh vua Sivi, thứ tám.