- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 10
Sasapaṇḍitacariya
“Punāparaṁ yadā homi, Sasako pavanacārako; Tiṇapaṇṇasākaphalabhakkho, Paraheṭhanavivajjito.
Bản dịch
Sasapaṇḍitacariya
BJT 125Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là con thỏ lang thang ở trong rừng, có thức ăn là cỏ, lá cây, rau cải, và quả củ. Ta lánh xa việc hãm hại các kẻ khác.
BJT 126Lúc bấy giờ, có một con khỉ, một con chó rừng, một con rái cá nhỏ, và ta sống trong cùng một khu vực, gặp gỡ nhau sáng chiều.
BJT 127Ta giảng dạy cho chúng về các hành động lành dữ: “Các ngươi hãy xa lìa các điều ác, các ngươi hãy gắn bó với các việc thiện.”
BJT 128Sau khi nhìn thấy mặt trăng đã tròn vào ngày trai giới, tại nơi ấy ta đã chỉ bảo chúng rằng: “Hôm nay là ngày trai giới.
BJT 129Các ngươi hãy chuẩn bị những tặng phẩm để bố thí đến bậc xứng đáng được dâng cúng. Sau khi đã bố thí tặng phẩm đến bậc xứng đáng được dâng cúng, các ngươi hãy thực hành ngày trai giới.”
BJT 130Chúng đã nói với ta rằng: “Sādhu, lành thay!” Rồi tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, sau khi chuẩn bị các tặng phẩm chúng đã đi tìm bậc xứng đáng được dâng cúng.
BJT 131Ta đã ngồi xuống và suy nghĩ về tặng phẩm thích hợp với bậc xứng đáng được dâng cúng: “Nếu ta đạt được một bậc xứng đáng được dâng cúng thì tặng phẩm của ta sẽ là gì?
BJT 132Ta không có mè, đậu xanh, đậu tây, gạo, hay bơ. Ta sống bằng cỏ nhưng bố thí cỏ là không thể được.
BJT 133Nếu có người là bậc xứng đáng được dâng cúng đi đến nơi ta để khất thực, ta sẽ cúng dường bản thân của mình; người ấy sẽ không (phải) ra đi mà không có gì.
BJT 134Biết được ý định của ta, (Chúa Trời) Sakka với dáng vóc của vị Bà-la-môn đã đi đến chổ ngụ của ta nhằm việc xác định việc bố thí của ta.
BJT 135Khi nhìn thấy vị ấy, ta đã hớn hở nói lên điều này: “Quả thật là tốt đẹp về việc ông đã đi đến chỗ tôi vì nguyên nhân thực phẩm.
BJT 136Hôm nay, tôi sẽ biếu ông tặng phẩm cao quí chưa từng được bố thí trước đây. Ông là con người thành tựu giới đức nên việc hãm hại kẻ khác là không thích hợp đối với ông.
BJT 137Ông hãy đi đến và đốt lên ngọn lửa. Hãy đem lại nhiều cây củi. Tôi sẽ nướng chín bản thân. Ông sẽ thọ thực vật đã được nấu chín.”
BJT 138Vị ấy, với tâm ý mừng rỡ, (nói rằng): “Sādhu, lành thay!” rồi đã đem lại nhiều cây củi đốt lên đống lửa lớn và đã tạo nên một cụm than hồng.
BJT 139Vị ấy đã đốt lên ngọn lửa ở tại nơi ấy và ngọn lửa ấy đã mau chóng trở nên mãnh liệt như thế. Sau khi rủ sạch các chi thể bị lấm bụi, ta đã tiến vào một bên (đống lửa).
BJT 140Khi đống cây củi to lớn đã phát cháy bùng lên mạnh mẽ, ta đã nhảy lên và rơi vào ở chính giữa ngọn lửa.
BJT 141Giống như bất cứ ai đã đi vào trong làn nước mát lạnh thì được dịu đi nỗi bực bội và cơn phiền muộn (của mình) đồng thời làm sanh khởi sự hứng thú và phỉ lạc.
BJT 142Tương tợ y như thế, khi ta đi vào ngọn lửa đang cháy rực, tất cả nỗi bực bội đã được dịu đi, tợ như (đi vào) làn nước mát lạnh vậy.
BJT 143Ta đã bố thí đến vị Bà-la-môn hết thảy toàn bộ thân thể gồm có lớp da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, và cơ tim.
Hạnh của Con Thỏ Hiền Triết là phần thứ mười.
BJT 144Bà-la-môn Akitti, Saṅkha, Dhañanjaya vua xứ Kuru, đức vua Mahāsudassana, Bà-la-môn Mahāgovinda.
BJT 145Nimi, hoàng tử Canda, Sivi, Vessantara, và con thỏ chính là ta vào lúc bấy giờ, và là người đã bố thí những tặng phẩm cao quý.
BJT 146Những hạnh này là những phần cơ bản của sự bố thí. Những hạnh này là các sự toàn hảo của sự bố thí. Sau khi bố thí mạng sống đến người cầu xin, ta đã làm đầy đủ sự toàn hảo (về bố thí) này.
BJT 147Sau khi nhìn thấy người đi đến gần để khất thực, ta đã xả bỏ bản thân mình. Không có ai bằng ta về sự bố thí; đây là sự toàn hảo về bố thí của ta.
Dứt sự toàn hảo về bố thí.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, Sasako pavanacārako; Tiṇapaṇṇasākaphalabhakkho, Paraheṭhanavivajjito.
“Then again when I was a hare who roamed the forest, eating grass, leaves, vegetables, and fruit, refraining from harming others,
“Lại một lần nữa, khi ta là một con thỏ, sống trong rừng, ăn cỏ, lá, rau, và trái cây, và tránh làm hại chúng sinh khác.
Makkaṭo ca siṅgālo ca, suttapoto cahaṁ tadā; Vasāma ekasāmantā, sāyaṁ pāto ca dissare.
a monkey, a jackal, a young otter and I lived in the same neighborhood and were seen together morning and evening.
“Khi ấy, có con khỉ, con chó rừng, con rái cá, và ta. Chúng ta đã sống cùng nhau trong một khu vực, và gặp nhau vào buổi sáng và buổi chiều.
Ahaṁ te anusāsāmi, kiriye kalyāṇapāpake; ‘Pāpāni parivajjetha, kalyāṇe abhinivissatha’.
I advised them regarding good and bad deeds: ‘Shun bad deeds, and cling to the good.’
“Ta đã khuyên dạy chúng về các hành vi thiện và ác: ‘Hãy từ bỏ các điều ác, hãy chuyên tâm vào điều thiện’.
Uposathamhi divase, candaṁ disvāna pūritaṁ; Etesaṁ tattha ācikkhiṁ, ‘divaso ajjuposatho.
Seeing the full moon on the sabbath day, I pointed it out to them, saying, ‘Today is the sabbath.
Vào ngày Uposatha, sau khi thấy mặt trăng tròn đầy, ta đã nói với ba người họ rằng: 'Hôm nay là ngày Uposatha'.
Dānāni paṭiyādetha, dakkhiṇeyyassa dātave; Datvā dānaṁ dakkhiṇeyye, upavassathuposathaṁ’.
Prepare gifts for one worthy of offerings. Having given to one worthy of offerings, observe the sabbath day.’
Hãy chuẩn bị các vật thí để cúng dường cho người đáng cúng dường. Sau khi đã cúng dường cho người đáng cúng dường, hãy thọ trì giới Uposatha.
Te me sādhūti vatvāna, yathāsatti yathābalaṁ; Dānāni paṭiyādetvā, dakkhiṇeyyaṁ gavesisuṁ.
Saying ‘good!’ to me, they prepared gifts according to their capacity and means, and sought out one worthy of offerings.
Ba người họ, sau khi nói 'lành thay' với lời của ta, đã chuẩn bị các vật thí tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, rồi tìm kiếm người đáng cúng dường.
Ahaṁ nisajja cintesiṁ, dānaṁ dakkhiṇanucchavaṁ; ‘Yadihaṁ labhe dakkhiṇeyyaṁ, kiṁ me dānaṁ bhavissati.
As I was sitting I thought about what sort of gift would suit one worthy of offerings: ‘If I were to find a worthy recipient, what gift would i give?
Ta, sau khi ngồi, đã suy nghĩ về vật thí thích hợp cho người đáng cúng dường: 'Nếu ta gặp được người đáng cúng dường, vật thí của ta sẽ là gì?'
Na me atthi tilā muggā, māsā vā taṇḍulā ghataṁ; Ahaṁ tiṇena yāpemi, na sakkā tiṇa dātave.
I have no sesame or mung beans, no beans or rice or ghee. I feed only on grass, but that’s not something I can give.
'Ta không có hạt vừng, đậu xanh, đậu muồng, hay gạo, bơ sữa. Ta sống bằng cỏ, và không thể đem cỏ ra cúng dường được.'
Yadi koci eti dakkhiṇeyyo, Bhikkhāya mama santike; Dajjāhaṁ sakamattānaṁ, Na so tuccho gamissati’.
If someone worthy of gifts comes, seeking alms near me, I shall give my own self: they shall not leave empty-handed.’
'Nếu có người đáng cúng dường nào đến gần ta để khất thực, ta sẽ cúng dường chính thân ta, người ấy sẽ không ra đi tay không'.
Mama saṅkappamaññāya, sakko brāhmaṇavaṇṇinā; Āsayaṁ me upāgacchi, dānavīmaṁsanāya me.
Knowing my thoughts, Sakka in the guise of a brahmin approached my lair in order to test my giving.
Đế Thích, biết được ý định của ta, đã hiện thành hình dạng Bà-la-môn, đến gần nơi ở của ta để thử lòng bố thí của ta.
Tamahaṁ disvāna santuṭṭho, idaṁ vacanamabraviṁ; ‘Sādhu khosi anuppatto, ghāsahetu mamantike.
Seeing him I was elated, and said the following. ‘It is so good that you have come to me looking for food.
Ta, sau khi thấy vị ấy, đã hoan hỷ và nói lời này: 'Thật tốt lành thay, ngài đã đến gần ta vì thức ăn.'
Adinnapubbaṁ dānavaraṁ, ajja dassāmi te ahaṁ; Tuvaṁ sīlaguṇūpeto, ayuttaṁ te paraheṭhanaṁ.
Today I shall give to you a fine gift never before given. You are furnished with virtue, unattached to harming others.
'Hôm nay, ta sẽ cúng dường cho ngài một vật thí cao thượng chưa từng cúng dường trước đây. Ngài là người có đầy đủ giới đức, việc làm hại người khác là không thích hợp với ngài.'
Ehi aggiṁ padīpehi, nānākaṭṭhe samānaya; Ahaṁ pacissamattānaṁ, pakkaṁ tvaṁ bhakkhayissasi’.
Come, light a fire, having gathered different sticks. I shall cook myself, you shall eat me roasted.’
'Hãy đến đây, hãy thu gom các loại củi khác nhau và nhóm lửa lên. Ta sẽ tự nướng thân mình, ngài sẽ được ăn thịt đã chín'.
‘Sādhū’ti so haṭṭhamano, nānākaṭṭhe samānayi; Mahantaṁ akāsi citakaṁ, katvā aṅgāragabbhakaṁ.
‘Good!’ he said happily, and gathered different sticks. Building a great pyre, he placed an ember in the recess.
Vị ấy, với tâm hoan hỷ, nói 'lành thay' và thu gom các loại củi khác nhau. Sau khi làm một hố than hồng, vị ấy đã dựng một giàn thiêu lớn.
Aggiṁ tattha padīpesi, yathā so khippaṁ mahā bhave; Phoṭetvā rajagate gatte, ekamantaṁ upāvisiṁ.
He lit such a fire there that would quickly grow big. Shaking my dusty limbs, I withdrew to one side.
Vị ấy đã nhóm lửa ở đó để nó nhanh chóng bùng lên thành ngọn lửa lớn. Ta, sau khi phủi sạch bụi bặm trên thân, đã ngồi xuống một nơi thích hợp.
Yadā mahākaṭṭhapuñjo, āditto dhamadhamāyati; Taduppatitvā papatiṁ, majjhe jālasikhantare.
When the great pile of sticks was burning and blazing, I leapt up and fell on it, in the midst of the fiery flames.
Khi đống củi lớn bốc cháy và phát ra tiếng nổ lách tách, khi ấy ta đã nhảy lên và lao vào giữa ngọn lửa.
Yathā sītodakaṁ nāma, Paviṭṭhaṁ yassa kassaci; Sameti darathapariḷāhaṁ, Assādaṁ deti pīti ca.
Like diving into cool water, allaying distress and fever, bringing satisfaction and joy.
Giống như nước mát, khi một người nào đó bước vào, làm dịu đi sự nóng nảy và phiền muộn, và mang lại sự dễ chịu và hỷ lạc.
Tatheva jalitaṁ aggiṁ, paviṭṭhassa mamaṁ tadā; Sabbaṁ sameti darathaṁ, yathā sītodakaṁ viya.
That’s how it was when I entered the burning flame. It allayed distress and fever, just like cool water.
Cũng như vậy, khi ta bước vào ngọn lửa đang cháy, nó đã làm dịu đi tất cả sự nóng nảy của ta, giống như nước mát.
Chaviṁ cammaṁ maṁsaṁ nhāruṁ, Aṭṭhiṁ hadayabandhanaṁ; Kevalaṁ sakalaṁ kāyaṁ, Brāhmaṇassa adāsahan”ti.
Outer skin and inner, flesh and sinews, bones, and heart with cords: my whole entire body I gave to the brahmin.”
Ta đã cúng dường cho vị Bà-la-môn da mỏng, da dày, thịt, gân, xương, trái tim, và toàn bộ thân thể này một cách trọn vẹn.'
Sasapaṇḍitacariyaṁ dasamaṁ.
Hạnh của Thỏ Trí Giả, hạnh thứ mười.
Akittivaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Akitti, phẩm thứ nhất.
Akittibrāhmaṇo saṅkho, kururājā dhanañcayo; Mahāsudassano rājā, mahāgovindabrāhmaṇo.
Bà-la-môn Akitti, Saṅkha, vua xứ Kuru Dhanañcaya, vua Mahāsudassana, Bà-la-môn Mahāgovinda.
Nimi candakumāro ca, sivi vessantaro saso; Ahameva tadā āsiṁ, yo te dānavare adā.
Nimi, hoàng tử Canda, Sivi, Vessantara, Thỏ Trí Giả. Người đã cúng dường những vật thí cao thượng ấy, khi ấy chính là ta.
Ete dānaparikkhārā, ete dānassa pāramī; Jīvitaṁ yācake datvā, imaṁ pārami pūrayiṁ.
Những sự bố thí này là những vật phụ trợ cho ba-la-mật bố thí, những sự bố thí này là ba-la-mật bố thí. Sau khi cúng dường mạng sống cho người xin, ta đã làm cho viên mãn ba-la-mật này.
Bhikkhāya upagataṁ disvā, sakattānaṁ pariccajiṁ; Dānena me samo natthi, esā me dānapāramīti.
Sau khi thấy người đến gần để khất thực, ta đã từ bỏ chính thân ta. Không có sự bố thí nào sánh bằng sự bố thí của ta. Đây là ba-la-mật bố thí của ta.
Dānapāraminiddeso niṭṭhito.
Phần giải thích về Ba-la-mật Bố thí kết thúc.