- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 7
Candakumāracariya
“Punāparaṁ yadā homi, ekarājassa atrajo; Nagare pupphavatiyā, kumāro candasavhayo.
Bản dịch
Candakumāracariya
BJT 45Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị hoàng tử tên Canda, con trai của Ekaràja, ở tại thành phố Pupphavatī.
BJT 46Khi ấy, ta đã được thoát khỏi cuộc tế thần và đã rời khỏi khu vực cuộc lễ tế. Sau khi đã tạo nên niềm xúc động, ta đã tiến hành cuộc đại thí.
BJT 47(Khi) không được bố thí đến những người xứng đáng sự bố thí, ta không uống, không ăn, cũng không thọ dụng vật thực, thậm chí đến năm sáu đêm.
BJT 48Cũng giống như người thương buôn sau khi đã tích trữ hàng hóa thì sẽ đem hàng hóa ấy đến nơi nào có nhiều lợi nhuận.
BJT 49Tương tợ y như thế, ngay cả việc bố thí đến người khác vật đã được thọ dụng bởi bản thân cũng có quả báu lớn; vì thế nên bố thí đến tha nhân, sẽ có được (kết quả) gấp trăm lần.
BJT 50Biết được năng lực của chân lý ấy, ta đã ban phát vật bố thí kiếp này đến kiếp khác. Ta không suy giảm việc bố thí nhằm thành tựu quả vị Toàn Giác.
Hạnh của Hoàng Tử Canda là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, ekarājassa atrajo; Nagare pupphavatiyā, kumāro candasavhayo.
“Then again when I was the true-born son of the One King in the city of flowers, Pupphavatī, I was called Prince Canda, the Moon.
“Lại nữa, khi Ta là vương tử tên Canda, con trai của vua Ekarāja, ở tại thành Pupphavatī.
Tadāhaṁ yajanā mutto, nikkhanto yaññavāṭato; Saṁvegaṁ janayitvāna, mahādānaṁ pavattayiṁ.
Then, released from being sacrificed, I fled the sacrificial enclosure. Giving rise to a sense of urgency, I performed a great offering.
“Khi ấy, được giải thoát khỏi cuộc tế lễ, Ta đã ra khỏi hố tế đàn, sau khi làm phát sanh sự kinh cảm, Ta đã thực hiện cuộc đại bố thí.
Nāhaṁ pivāmi khādāmi, napi bhuñjāmi bhojanaṁ; Dakkhiṇeyye adatvāna, api chappañcarattiyo.
I did not drink, I did not eat, I did not enjoy any food for five or six days without offering to a worthy recipient.
“Ta đã không uống, không ăn vật cứng, cũng không dùng vật thực, vì chưa bố thí đến các bậc đáng cúng dường, dầu cho suốt năm sáu đêm.
Yathāpi vāṇijo nāma, Katvāna bhaṇḍasañcayaṁ; Yattha lābho mahā hoti, Tattha taṁ harati bhaṇḍakaṁ.
Suppose there was a merchant who had made a store of goods. They would take those goods to where they could make a large profit.
“Ví như người thương buôn, sau khi đã thu gom hàng hóa, mang món hàng ấy đến nơi nào có được nhiều lợi nhuận.
Tatheva sakabhuttāpi, pare dinnaṁ mahapphalaṁ; Tasmā parassa dātabbaṁ, satabhāgo bhavissati.
So too, even giving what one has used oneself to others is very fruitful. That is why what is to be given to others multiplies a hundredfold.
“Cũng vậy, vật đã cho đến người khác từ phần ăn của mình có quả lớn. Do đó, vật nên cho đến người khác sẽ có (quả) gấp trăm phần.
Etamatthavasaṁ ñatvā, demi dānaṁ bhavābhave; Na paṭikkamāmi dānato, sambodhimanupattiyā”ti.
Knowing the reason for this, I gave gifts in life after life. Aiming for awakening, I never backtracked from giving.”
“Sau khi biết được lợi ích này, Ta bố thí trong các kiếp sống. Ta không thối chuyển khỏi việc bố thí để chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác.”
Candakumāracariyaṁ sattamaṁ.
Hạnh Candakumāra, thứ bảy.