- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 6
Nimirājacariya
“Punāparaṁ yadā homi, mithilāyaṁ puruttame; Nimi nāma mahārājā, paṇḍito kusalatthiko.
Bản dịch
Nimirājacariya
BJT 40Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị đại vương tên Nimi, là bậc trí tuệ và là người tầm cầu thiện pháp ở tại kinh thành Mithilā.
BJT 41Khi ấy, ta đã cho thực hiện bốn sảnh đường (mỗi sảnh đường) có bốn cổng ra vào (ở bốn hướng chính). Ở tại nơi ấy, ta đã cho tiến hành việc bố thí đến các thú vật, chim chóc, loài người, v.v…
BJT 42Ta đã thực hiện không ngừng nghỉ (ngày đêm không gián đoạn đến lúc dứt tuổi thọ, CpA. 54) và đã cho tiến hành cuộc đại thí (gồm có) y phục, giường ghế, cơm ăn, nước uống, và thực phẩm (các loại).
BJT 43Cũng giống như người đầy tớ, vì lý do lương bổng, tiếp cận chủ nhân và suy tầm cách làm hài lòng bằng thân, khẩu, ý (bằng hành động, lời nói, và tư tưởng).
BJT 44Tương tợ y như thế, trong tất cả mọi kiếp sống ta cũng sẽ tầm cầu việc làm sanh khởi sự giác ngộ. Sau khi làm thỏa mãn các chúng sanh với vật bố thí, ta mong cầu quả vị giác ngộ tối thượng.
Hạnh của đức vua Nimi là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, mithilāyaṁ puruttame; Nimi nāma mahārājā, paṇḍito kusalatthiko.
“Then again when I was in the capital city of Mithilā I was the great king named Nimi, astute and seeking the good.
‘Lại nữa, khi ta là vị đại vương tên Nimi, một bậc hiền trí, người mong cầu điều thiện, ở tại Mithilā, thành phố tối thắng.’
Tadāhaṁ māpayitvāna, catussālaṁ catummukhaṁ; Tattha dānaṁ pavattesiṁ, migapakkhinarādinaṁ.
Then having had constructed four halls with four openings, I provided gifts there for beasts, birds, men, and so forth.
‘Khi ấy, sau khi cho xây dựng một ngôi nhà có bốn sảnh, bốn cổng, ta đã thực hiện việc bố thí ở đó cho các loài thú, chim, và người.’
Acchādanañca sayanaṁ, annaṁ pānañca bhojanaṁ; Abbocchinnaṁ karitvāna, mahādānaṁ pavattayiṁ.
Clothing and beds, food and drink to enjoy: I provided them without let, performing a great offering.
‘Sau khi thực hiện việc cúng dường y phục, chỗ ở, thức ăn, thức uống, và các vật thực một cách không gián đoạn, ta đã tiến hành cuộc đại bố thí.’
Yathāpi sevako sāmiṁ, dhanahetumupāgato; Kāyena vācā manasā, ārādhanīyamesati.
Suppose a servant is looking to get a raise from their boss, they’d seek to fulfill their needs by body, speech, and mind.
‘Ví như người phục vụ đến gần chủ nhân vì của cải, tìm cách làm hài lòng (chủ nhân) bằng thân, khẩu, và ý.’
Tathevāhaṁ sabbabhave, pariyesissāmi bodhijaṁ; Dānena satte tappetvā, icchāmi bodhimuttaman”ti.
In that way in every life I shall seek the wisdom born of awakening. Having pleased beings with gifts, I wish for the supreme awakening.”
‘Cũng vậy, trong tất cả các kiếp sống, ta sẽ tìm cầu những gì thuộc về sự giác ngộ. Sau khi làm chúng sanh hài lòng bằng sự bố thí, ta mong muốn sự giác ngộ tối thượng.’
Nimirājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
Hạnh của vua Nimi, thứ sáu.