- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 4
Mahāsudassanacariya
“Kusāvatimhi nagare, yadā āsiṁ mahīpati; Mahāsudassano nāma, cakkavattī mahabbalo.
Bản dịch
Mahāsudassanacariya
BJT 29Tại thành phố ấy, ta đã cho thông báo ba lần trong ngày ở khắp các nơi rằng: “Ai muốn (hoặc) mong mỏi vật gì? Của cải gì nên được ban phát? (Ban phát) đến ai?
BJT 30Ai đói? Ai khát? Ai (cần) vòng hoa? Ai (cần) dầu thoa? Có các loại vải vóc đủ màu, ai trần truồng thì sẽ mặc vào?
BJT 31Ai đi đường cần đến dù? Ai (cần đến) giày dép mềm mại, đẹp đẽ?” Ta đã cho thông báo sáng chiều ở khắp các nơi như thế.
BJT 32Của cải ấy đã được chuẩn bị cho những người cầu xin không phải chỉ ở mười địa điểm, hoặc ở một trăm địa điểm, mà ở hàng trăm địa điểm.
BJT 33Nếu có người nghèo khổ đi đến cho dù ban ngày hoặc ban đêm, họ đều được nhận lãnh tài sản theo như ý thích rồi ra đi với hai tay tràn đầy của cải.
BJT 34Ta đã bố thí những phẩm vật lớn lao có hình thức như thế cho đến trọn đời. Ta cho ra của cải không phải là vì không thích ý, cũng không phải là vì ta không có chỗ để cất giữ.
BJT 35Cũng giống như người bị bệnh, sau khi làm hài lòng vị thầy thuốc với vàng bạc cho việc chữa lành căn bệnh, thì (sẽ) được hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh.
BJT 36Tương tợ y như thế, khi biết được (điều ấy), để làm viên mãn (pháp bố thí) không bị thiếu sót và làm cho đầy đủ tâm ý còn khiếm khuyết, ta đã ban phát vật thí cho những người cầu xin, không luyến tiếc, không mong mỏi sự đền đáp nhằm thành tựu quả vị Toàn Giác.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahāsudassana là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Kusāvatimhi nagare, yadā āsiṁ mahīpati; Mahāsudassano nāma, cakkavattī mahabbalo.
“In the city of Kusāvatī, when I was Lord of the Earth, my name was Sudassana the Great, a wheel-turning monarch of great power.
‘Khi ta là đấng quốc chủ ở thành Kusāvatī, một vị Chuyển Luân Vương có đại oai lực, tên là Mahāsudassana.’
Tatthāhaṁ divase tikkhattuṁ, ghosāpemi tahiṁ tahiṁ; ‘Ko kiṁ icchati pattheti, kassa kiṁ dīyatū dhanaṁ.
There, thrice a day, I declared in one place or another: ‘Who needs what? Who wants what? To whom ought riches be given?
‘Khi ấy, mỗi ngày ba lần, ta cho rao truyền ở nơi này nơi kia rằng: ‘Ai muốn gì, mong mỏi điều gì? Của cải nào nên được ban cho ai?’
Ko chātako ko tasito, ko mālaṁ ko vilepanaṁ; Nānārattāni vatthāni, ko naggo paridahissati.
Who needs an umbrella? Who is thirsty? Who a garland? Who some makeup? What person, being naked, and will put on colorful clothes?
‘Ai đang đói? Ai đang khát? Ai muốn vòng hoa? Ai muốn vật thoa hương? Ai đang trần truồng sẽ mặc những y phục được nhuộm nhiều màu sắc?’
Ko pathe chattamādeti, kopāhanā mudū subhā’; Iti sāyañca pāto ca, ghosāpemi tahiṁ tahiṁ.
Who will take an umbrella on a highway, who needs sandals, soft and pretty?’ Thus I had it proclaimed everywhere morning and night.
‘Ai sẽ lấy cây dù trên đường? Ai (sẽ lấy) đôi dép mềm mại, đẹp đẽ?’ Như vậy, vào buổi chiều và buổi sáng, ta cho rao truyền ở nơi này nơi kia.
Na taṁ dasasu ṭhānesu, napi ṭhānasatesu vā; Anekasataṭhānesu, paṭiyattaṁ yācake dhanaṁ.
It was not just in ten places, or even a hundred, but in many hundreds of places riches were prepared for supplicants.
‘Của cải cho người xin không phải được chuẩn bị ở mười nơi, cũng không phải ở một trăm nơi, mà (được chuẩn bị) ở vô số trăm nơi.’
Divā vā yadi vā rattiṁ, yadi eti vanibbako; Laddhā yadicchakaṁ bhogaṁ, pūrahatthova gacchati.
By day or by night if a supplicant comes, then having gotten all he wants, he leaves with full hands.
‘Dù ban ngày hay ban đêm, nếu có người hành khất đến, sau khi nhận được tài sản theo ý muốn, người ấy ra đi với bàn tay đầy ắp.’
Evarūpaṁ mahādānaṁ, Adāsiṁ yāvajīvikaṁ; Napāhaṁ dessaṁ dhanaṁ dammi, Napi natthi nicayo mayi.
I gave great gifts like this for my whole life. I did not give because I disliked riches, or because I had a store set aside.
‘Ta đã thực hành sự bố thí vĩ đại như vậy suốt đời. Không phải ta cho đi của cải vì ghét bỏ nó, cũng không phải nơi ta không có của cải tích trữ.’
Yathāpi āturo nāma, rogato parimuttiyā; Dhanena vejjaṁ tappetvā, rogato parimuccati.
Suppose a person is sick. In order to be free of sickness having compensated the doctor with money, they become freed from sickness.
‘Ví như một người bệnh, để được giải thoát khỏi bệnh tật, đã dùng của cải làm hài lòng người thầy thuốc và được giải thoát khỏi căn bệnh.’
Tathevāhaṁ jānamāno, paripūretumasesato; Ūnamanaṁ pūrayituṁ, demi dānaṁ vanibbake; Nirālayo apaccāso, sambodhimanupattiyā”ti.
Thus I, knowingly, in order to fulfill without remainder, to fulfill what is lacking, gave gifts to supplicants without clinging or reward, for the attainment of awakening.”
‘Cũng vậy, ta là người hiểu biết, để làm viên mãn một cách không dư sót, để làm đầy tâm còn thiếu thốn, ta bố thí cho những người hành khất, không luyến ái, không mong cầu, vì để đạt đến sự Giác Ngộ hoàn toàn.’
Mahāsudassanacariyaṁ catutthaṁ.
Hạnh của vua Mahāsudassana, thứ tư.