- Cariyāpiṭaka
- Akittivagga
- Dānapāramī 3
Kururājacariya
“Punāparaṁ yadā homi, indapatthe puruttame; Rājā dhanañcayo nāma, kusale dasahupāgato.
Bản dịch
Kururājacariya
BJT 20Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị vua tên Dhanañjaya ở tại kinh thành Indapattha, và được thuần thục về mười thiện nghiệp.
BJT 21Những người Bà-la-môn từ lãnh thổ vương quốc Kaliṅga đã đi đến gặp ta. Họ đã cầu xin ta con long tượng được xem là biểu hiện của sự thịnh vượng và may mắn.
BJT 22(Họ đã nói rằng): “Xứ sở chúng tôi không có mưa, thức ăn hiếm hoi, đói kém trầm trọng. Xin ngài hãy ban cho con hắc long tượng cao quý có tên là Añjana.”
BJT 23(Ta nghĩ rằng): “Đối với ta, khi có được người cầu xin thì sự từ chối là điều không đúng đắn. Sự thọ trì của ta chớ có bị đổ vỡ. Ta sẽ bố thí con voi vĩ đại.”
BJT 24Sau khi nắm lấy con voi ở chiếc ngà và rưới nước từ chiếc bình làm bằng ngọc quý lên bàn tay, ta đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.
BJT 25Khi con voi ấy đã được cho đi, các quan đại thần đã nói điều này: “Sao ngài lại cho con voi quý báu của ngài đến những kẻ cầu xin?
BJT 26Con voi là tối ưu trong việc chiến thắng ở trận tiền, được thành tựu sự thịnh vượng và may mắn. Khi con voi ấy đã được cho đi thì cái gì sẽ vận hành vương quốc của ngài?”
BJT 27Ta có thể bố thí luôn cả toàn bộ vương quốc của ta. Ta có thể bố thí cả thân mạng của mình. Ðối với ta, quả vị Toàn Tri là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con long tượng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kurudhamma là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Punāparaṁ yadā homi, indapatthe puruttame; Rājā dhanañcayo nāma, kusale dasahupāgato.
“Then again when I reigned in Indapatta, the capital city, as the king named Dhanañjaya I was blessed with the ten skillful deeds.
Lại nữa, khi ta là vị vua tên Dhanañcaya ở thành Indapattha tối thượng, người đã thành tựu mười thiện pháp.
Kaliṅgaraṭṭhavisayā, brāhmaṇā upagañchu maṁ; Āyācuṁ maṁ hatthināgaṁ, dhaññaṁ maṅgalasammataṁ.
From the realm of Kaliṅga brahmins came to me requesting the royal elephant that was lucky and deemed auspicious.
Các vị Bà-la-môn từ xứ Kaliṅga đã đến gần ta; họ xin ta con voi báu, được xem là con voi may mắn, mang lại sự thịnh vượng.
‘Avuṭṭhiko janapado, dubbhikkho chātako mahā; Dadāhi pavaraṁ nāgaṁ, nīlaṁ añjanasavhayaṁ’.
‘Our nation is suffering from drought, food is scarce and famine abounds, please give the noble elephant of midnight hue named Añjana.’
‘Xứ sở không có mưa, khó kiếm được thức ăn, (dân chúng) đói khát dữ dội. Xin hãy ban cho con voi quý báu, màu xanh sẫm, tên là Añjana.’
‘Na me yācakamanuppatte, paṭikkhepo anucchavo; Mā me bhijji samādānaṁ, dassāmi vipulaṁ gajaṁ’.
‘When supplicants come to me it is unbefitting to refuse. Let not my vow be broken, I shall give the mighty elephant.’
‘Đối với ta, việc từ chối người đến xin là không thích hợp. Mong rằng sự thọ trì của ta không bị phá vỡ. Ta sẽ bố thí con voi to lớn’.
Nāgaṁ gahetvā soṇḍāya, bhiṅgāre ratanāmaye; Jalaṁ hatthe ākiritvā, brāhmaṇānaṁ adaṁ gajaṁ.
Tassa nāge padinnamhi, amaccā etadabravuṁ; ‘Kiṁ nu tuyhaṁ varaṁ nāgaṁ,
Taking the elephant by the trunk, and a bejeweled ceremonial vessel, I sprinkled water on the hand, and gave the elephant to the brahmins.
When I had given the elephant, my ministers said, ‘Why did you give the noble elephant
‘(Ta) đã nắm lấy vòi con voi, dùng bình nước bằng châu báu rưới nước lên tay của các vị Bà-la-môn, và đã bố thí con voi (cho họ).’
‘Khi con voi được bố thí cho người ấy, các vị quan đã nói lời này: ‘Tại sao ngài lại bố thí con voi quý báu của ngài cho những người đến xin?’
Dhaññaṁ maṅgalasampannaṁ, saṅgāmavijayuttamaṁ; Tasmiṁ nāge padinnamhi, kiṁ te rajjaṁ karissati’.
He was lucky and endowed with the auspicious, supreme victor in battle. Now you have given the elephant, how shall you govern the realm?’
‘(Con voi ấy) mang lại sự thịnh vượng, đầy đủ điềm lành, tối thắng trong việc chiến thắng trận mạc. Khi con voi ấy được bố thí đi, vương quốc của ngài sẽ làm được gì?’
‘Rajjampi me dade sabbaṁ, sarīraṁ dajjamattano; Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ, tasmā nāgaṁ adāsahan’”ti.
‘I would give the entire realm and my physical body as well. Omniscience is precious to me, which is why I gave away the elephant.’”
‘Ta có thể cho đi toàn bộ vương quốc, có thể cho đi thân thể của chính mình. Trí tuệ Toàn Giác là điều ta yêu quý, vì thế ta đã bố thí con voi.’
Kururājacariyaṁ tatiyaṁ.
Hạnh của vua xứ Kuru, thứ ba.